Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập37,156,761

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Xibiri

Georgy Mokeyevich Markov (Ghêorghi Markốp)

  • Chủ nhật, 11:10 Ngày 21/03/2021
  • CHƯƠNG 6

    Nước Nga... Anh đã nghĩ nhiều về nó, và giờ đây nước Nga ấy đang trải ra trước mặt anh.

    Đến ga Taiga, Akimốp chuyển sang tàu tốc hành xuyên Xibiri. Tàu này, nói thẳng ra là không hợp với túi tiền của anh, nhưng nó lại chạy nhanh hơn tất cả các tàu khác, và vì thế mà nên tiết kiệm ở những khoản khác. Cuộc vượt ngục của anh đã kéo dài, kéo dài không cứu vãn được, nên bây giờ, khi anh đã tự do, anh không thể để mất phí thêm một giờ nào nữa.

    Suốt từ rạng sáng đến tối sẩm, Akimốp mải mê nhìn ra cửa sổ. Trôi qua ngoài kia là những xóm làng chìm ngập trong những đống tuyết, với những cái mái cũ kỹ, xiêu vẹo, với những khung cửa sổ nhồi đầy xơ gai, giẻ rách hoặc chỉ đóng kín bằng các mảnh ván. Khi chiều tối buông xuống, trong các ngôi nhà gỗ thắp lên ánh sáng đom đóm lù mù, run rẩy vì gió lùa, hoặc nhấp nháy những chấm sáng của mẩu nến cũ.

    Nỗi u sầu đặc biệt tỏa ra cuối cùng là từ những nhà cửa hoang vắng đổ nát. Những ngôi nhà gỗ đứng trơ trụi, không bờ rào, gỗ bờ rào đã bị giỡ đi làm củi, không cổng, cổng đã sập xuống vì mục nát, không có mái che, nơi trước đây bầy gia súc vẫn thường vào ẩn tránh tuyết rơi và gió bão. Tất thẩy, tất thẩy đều nhắc nhở đến chiến tranh, cuộc chiến tranh như vòi rồng không chỉ quật đổ các sinh mạng con người ở đâu đó, xa xôi ngoài mặt trận, mà còn xộc cả tới đây, để lại khắp nơi những vết tích ác độc của mình.

    Đến các ga Akimốp đều xuống để không những thở hít không khí trong lành, mà còn xem xem ở đấy người ta sinh sống ra sao. Cả ở đây cũng vẫn quang cảnh hoang tàn ấy: nhà ga bẩn thỉu, các công trình của nhà ga đổ nát, trống huếch trống hoác, các toa tàu địa phương xộc xệch, ám khói đen.

    Akimốp nhớ là trước chiến tranh, trên các ga này việc buôn bán phong phú như thế nào. Các giá để bầy hàng ở chợ quanh ga trĩu xuống vì đủ thứ thức bán. Bây giờ khác hẳn - ngoài dưa chuột muối, khoai tây luộc, nấm và hành, không thể còn mua được gì khác.

    Cả bộ dạng các đám đông đi lại lăng xăng, hò la rối rít trên sân ga, cũng đã biến đổi. Phần lớn đám đông gồm những người đàn bà và lũ trẻ con. Thảng hoặc có gặp một vài người đàn ông, thì đấy là những thương binh đi nạng, tập tễnh chân giả, chống ba toong.

    Thỉnh thoảng lại có những người tàn tật mù mắt mang phong cầm xộc lên đoàn tàu, họ mặc áo capốt cắt ngắn cũn cỡn và đội mũ lông lính bẩn thỉu. Bằng những giọng gắng gượng, cảm cúm họ hát những khúc hát đau lòng, gồm một nửa lấy ở các bài hát cổ, quen thuộc và một nửa là do các nhà thơ nghiệp dư đặt thêm cho phù hợp với những hoàn cảnh mới. Rồi sau đó các ca sĩ, bíu vào người dẫn đường, cầm mũ trên tay đi lần lượt đến trước những người nghe, xin vì Chúa mà hiểu cho hoàn cảnh tuyệt vọng của họ và thông cảm với họ.

    Những người soát vé tàu cố không cho những người tàn tật lên toa, nhưng họ luôn, luôn xuất hiện bằng cách bất ngờ nhất, khi đoàn tầu vừa chuyển bánh. Trong thời gian tàu chạy từ ga này đến ga sau, họ đã kịp có khi một lần, có khi hai ba lần hát những bài hát của mình.

    Tàu tốc hành xuyên Xibiri ở các ga xép và chỗ tránh đuổi vượt các đoàn tàu quân sự. Các toa xe chở hàng nhét đầy những người mugích đứng tuổi ở cái lứa tuổi khi người ta đủ quyền gọi là các ông nội, ông ngoại. Những người mugích nhìn cau có, dữ tợn, và những gương mặt rắn đanh lại trong nỗi buồn ẩn giấu sự giận dữ kín đáo đối với số phận, cái số phận đè như một gánh nặng lên những đôi vai không còn trẻ trung, đã tiều tụy vì lao động cực nhọc của họ.

    Nhìn kỹ những người ảm đạm mặc quân phục cũ kỹ đã sử dụng một lần rồi này, Akimốp bất giác nhớ đến những người lính đào ngũ ở cái quán trọ Tsigara, và những người mugích ở làng Kuxcôvô lẩn trốn trong rừng ở Tsulưm đế tránh công việc phục dịch cảnh sát, và anh vẫn lại đi đến một kết luận ấy: «Cuộc sống này sắp sửa kết thúc rồi. Nước Nga phải quay ngoặt con đường lịch sử của mình. Đối với nước Nga sự lựa chọn duy nhất là cách mạng».

    Khi trời vừa tối, Akimốp lôi ở cái bao bạt của ông bác ra mấy tờ tạp chí và báo mà Brônhixláp Naximôvich đã cung cấp cho anh, và anh đọc từ đầu chí cuối không bỏ sót tý gì kể cả những mẩu tin mươi dòng. Anh đọc hầu như suốt cả đêm.

    Ấn tượng hình thành thật là trái ngược hết sức: quân đội bị thất bại, từ mặt trận đưa về tuyền những tin tức xấu, càng ngày càng xấu hơn, lọt về những thông báo về sự mệt mỏi tột cùng của binh lính, về sự thiếu thốn trong việc cung cấp đạn dược, lương ăn và trang bị cho các đơn vị. Nhưng về chuyện đó chỉ nói một cách qua loa, hời hợt thế nào đó, dường như tất cả cái đó không có ý nghĩa gì hết. Sự thật của hiện thực ngoài mặt trận chìm đi trong dòng từ ngữ chung chung, những câu vô nghĩa, và cảm thấy rằng những người viết về chiến tranh chỉ chăm lo đến một điều - khẳng định ngược lại với những sự thật là người lính Nga chỉ có nghĩ đến mỗi một chuyện là làm sao mau chóng xuyên lưỡi lê vào quân giặc, nằm lại bãi chiến trường vì Vua cha.

    Cùng đi trên một toa tàu có đủ hạng người khác nhau: mấy viên sĩ quan, trở về mặt trận sau khi đã chữa chạy ở các quân y viện, bọn lái buôn ở Vlađivôxtốc, hai cha đạo, mấy viên chức sở hỏa xa từ Kharbin trở về, một người đàn bà đẹp tuổi chừng ba mươi cùng với ba đứa con đi từ Iếccútxcơ, vừa mất người chồng cách đây một năm, ông ta chỉ huy trung đoàn quân đang tham chiến, bây giờ bà ta mang con về với bố mẹ đẻ ở Xamara, ông luật sư từ Tsita đi cùng với bà vợ người phốp pháp, quấn đầy lông thú, và còn hai ba hành khách nữa, một người trong số đó làm Akimốp nhớ tới cha đẻ của mình, cũng mang phù hiệu sở quản lý rừng trên ve áo chế phục.

    Mặc dù đường đi khá dài, nhưng tình thân đặc biệt không nẩy sinh giữa các hành khách. Mấy viên sĩ quan uống rượu và chơi bài liên miên. Các ông cha đạo không ngớt truyền đạo. Bọn thương gia tỉnh dậy một cái là ròn rã gẩy bàn tính, hối hả kết thúc những bản tính rắc rối nào đó trước khi về đến Pêtrôgrát. Ba đứa trẻ - con người đàn bà vợ sĩ quan góa bụa - đùa nghịch, chốc chốc lại kêu la hoặc khóc toáng cả toa. Những viên chức hỏa xa thì giống nhau đến lạ lùng - họ ngủ cả đêm, cả ngày, họ ngủ một cách thích thú và mê mải, tỉnh dậy chỉ là để tiếp nhận thức ăn.

    Akimốp thấy hài lòng với tình trạng như vậy trên toa xe. Chẳng ai tò mò căn vặn hỏi han đến anh, vả lại bản thân anh cũng cố không tỏ ra quan tâm gì đến những người khác. Kể ra thì một hai lần trên toa cũng có diễn ra cuộc tranh luận sôi nổi giữa các viên sĩ quan với mấy ông cha đạo. Đề tài rất thời sự: sự cứu vớt đối với nước Nga ở chỗ nào - tín ngưỡng hay ở sức mạnh?

    Tất nhiên cánh sĩ quan coi cội nguồn sự hùng hậu của tổ quốc là ở sức mạnh. Có thể đập vỡ trán trong khi cầu nguyện, nhưng nếu quân lính không có vũ khí hay vũ khí đó cũ rồi, mòn hỏng, lạc hậu về trình độ kỹ thuật, thì chẳng tín ngưỡng nào có thể cứu vãn được, và kẻ địch sẽ chiến thắng. Lý lẽ các lập luận của cánh sĩ quan thật thẳng thừng, gay gắt và không nhân nhượng. Tuy nhiên các cha đạo vẫn không chịu thua. Họ vẫn cho rằng tín ngưỡng là cơ sở của sức mạnh. Không có vũ khí nào có khả năng chiến thắng được con người, nếu như những con người ấy tin một cách thành kính vào Chúa thượng đế và vị toàn quyền của Người ở dưới trái đất. Bọn cha đạo rõ ràng trội hơn hẳn cánh sĩ quan về thủ thuật tranh luận, tuy vậy mọi chuyện đã kết thúc một cách hoàn toàn đáng xấu hổ đối với họ. Một trong các viên sĩ quan, trong lúc tranh cãi hăng lên đã lột phăng tấm áo cổ đứng của mình ra, đề nghị cha đạo trẻ hơn mặc vào, gia nhập quân đội và thử chứng minh được cái chân lý của mình ngoài mặt trận. Gã cha đạo trẻ ngượng ngùng, vung hai tay khuất trong hai ống tay áo thụng rộng thùng thình khua trước mặt viên sĩ quan, và im bặt. Và thế là cuộc tranh cãi không nổ ra nữa.

    Cuộc đụng chạm giữa bọn cha cố và cánh sĩ quan làm cho Akimốp mải mê. Anh nghe cuộc tranh cãi của họ, cười thầm trong bụng, thầm góp chuyện: «Không phải lòng tin vào Chúa, các cha thiêng liêng ạ, là cơ sở của sức mạnh, mà niềm tin của con người, thế giới quan của con người». «Ấy, ấy, các ngài sĩ quan, các ngài nói nhăng nói quậy, khẳng định rằng chỉ ưu thế của sức mạnh chính là con đường cứu vớt tổ quốc. Sức mạnh cần phải biết điều khiển. Chỉ có niềm tin vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh làm cho sức mạnh trở thành vũ khí sắc bén. Đấy mới là điều kiện quyết định của cuộc giao tranh». Nhưng tất nhiên Akimốp không lên tiếng, mặc dù anh cảm thấy thèm muốn được công khai tranh luận...

    Và dù Akimốp có làm gì trong những ngày đêm trên con đường dài từ Xibiri, đâu đâu và trong mọi việc Kachia đều có mặt một cách vô hình. Cả thời gian, cả những sự kiện mới đều không làm phai mờ cái cảm giác sâu sắc của niềm hạnh phúc, giống như nguồn nước rừng taiga, tuôn trào ra từ nơi thầm kín trong tri giác của Akimốp. Tất cả, tất cả những gì họ đã cùng chung sống trong những giờ phút có một không hai trong căn nhà gỗ của nhà ông triết gia rừng taiga Okenti Xvôbốtnưi, Akimốp nhớ hết cho đến những chi tiết nhỏ nhặt nhất. Và giờ đây ánh sáng đôi mắt của nàng, âm thanh giọng nói đặc biệt của nàng, hơi ấm đôi tay và đôi môi của nàng dường như đã chồng chất từng tầng từng lớp lên các suy tư lẫn cảm xúc và các hành vi của anh. Sau những giờ phút hạnh phúc vô bờ vô bến ấy anh cảm thấy rằng bây giờ anh đang sống không phải một thân một mình nữa, mà đang sống cùng với nàng. Đó là một tình cảm mới, choán ngợp anh đến mức không thể quên được, đến mức anh không thể giập tắt nó đi được. Có những phút cảm xúc đó bỗng bắt đầu dường như muốn bung Akimốp ra, và anh khó khăn lắm mới ghìm được ý muốn đi đến với người viên chức mang huy hiệu sở quản lý rừng kia và nói với ông ta rằng anh đang hạnh phúc, hạnh phúc tưng bừng... Có lẽ, trên bộ mặt anh luôn hiện ra nụ cười ngốc nghếch, và anh cố ý cau mày, bạnh quai hàm, mắm môi. Nhưng lại có những giây lát, khi bỗng nhiên không hiểu tại sao anh cảm thấy vừa lo lắng vừa u sầu. Và anh bắt đầu tự trách móc mình vì anh đã chuyện trò với nàng quá là bình thường về những mối nguy hiểm trong công việc của nàng, không ngăn ngừa nàng một cách thực sự, không nói hết những lời khuyên bảo, vô cùng cần thiết đối với mỗi một người hoạt động bí mật non trẻ.

    «Tiếc quá, mình không thể gặp Alếchxanđrơ dù chỉ một phút thôi» - anh tiếc rẻ nghĩ thầm và tưởng tượng ra cuộc gặp gỡ ấy như sau:

    «- Chào anh Alếchxanđrơ thân mến, chào Alếchxanđrơ, người anh em yêu quí của tôi!

    - Chào cậu Ivan, chào Ivan, người bạn trung thành của tôi, chào đồng chí Granhít! Chúc mừng cậu đã kết thúc thắng lợi cuộc chạy trốn kéo dài của cậu. Thế nào? Khỏe chứ?

    - Khỏe, hoàn toàn khỏe mạnh, người anh em yêu quí của tôi!

    - Mình không hiểu, ẩn dưới câu đùa của cậu là cái gì vậy: «người anh em yêu quí?»

    - Alếchxanđrơ, đó không phải là đùa! Đó là sự thật. Từ nay tôi, nô lệ của Chúa và con kiến của cách mạng, Ivan Akimốp, và cô em gái Kachia Kxênôphôntôva tuyệt vời của anh không chỉ là bạn chiến đấu, mà còn là người chồng và người vợ. Tùy anh thương cho hay cấm cửa?

    - Ai đã làm phép cưới và làm phép cưới ấy ở đâu cho các người, lũ khốn kiếp?

    - Chúng tôi được rừng cây mùa đông trong taiga Xibiri làm phép cưới cho, và bầu trời đêm sao đã tiên đoán cho chúng tôi hạnh phúc trọn đời.

    - Ivan, cậu đần độn đi rồi và bắt đầu lảm nhảm những lời khoa trương cầu kỳ chi đó. Đừng quên là cậu còn phải trải qua con đường dài đầy nguy hiểm đấy.

    - Khó khăn nguy hiểm nào đáng kể kia chứ! Khi tôi hạnh phúc, tôi chẳng sợ hãi gì hết. Anh hiểu cho, Alếchxanđrơ, là tôi đang hạnh phúc! Nhưng chẳng lẽ anh mà hiểu được ư, con người độc thân già khọm, khô cứng trong cuộc sống cô đơn của mình, như quả dưa chuột chín nẫu...»

    Mà nguy hiểm quả là có sẵn, và điều tưởng tượng là Alếchxanđrơ Kxênôphôntốp nhắc nhở về những mối nguy hiểm ấy đã làm Akimốp cảnh giác.

    Ở ga Bui có hai người đàn ông lên toa xe. Một người mặc chế phục nhân viên hỏa xa, còn người thứ hai mặc quần áo dân sự loại dân thường bậc trung. Ngay trong phút đầu đã rõ ra đó là những người soát vé của sở hỏa xa. Tuy nhiên, các hành động không hoàn toàn bình thường của họ làm Akimốp cảnh giác. Trước đây anh đã nhiều lần quan sát việc soát vé như thế này. Những người soát vé kiểm tra xem vé có đúng số chỗ không và nếu toa xe đủ số hành khách là họ bỏ đi. Bây giờ sự việc diễn ra lại khác: trên toa không có ghế trống, số vé xác nhận như vậy. Tuy nhiên bọn người soát vé, cùng đi có người coi toa, người này giữ hành khách lại chưa cho xuống ga vội, cùng đi khắp toa, kiểm tra xem mỗi vé đều có người chủ ở đúng cái chỗ mà được ghi trên giấy đi đường không. Làm việc ấy nhằm mục đích gì? Cần thiết kiểm tra như vậy để làm gì?

    Bọn người soát vé hành động quá ư là cẩn thận. Akimốp nhận thấy là họ đưa mắt chăm chú nhìn xoáy vào từng hành khách. Hơn nữa họ chỉ quan tâm đến hành khách đàn ông. Akimốp không thể không nhận thấy là chính anh đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của bọn họ. Họ lần lượt nhìn anh thật chăm chú, đồng thời cố giấu không để anh, Akimốp, nhận thấy sự chú ý của họ đối với anh. «Bọn hiến binh mặc giả, đi tìm kiếm người nào đó, và hoàn toàn có thể là tìm kiếm chính mình», - Akimốp quyết định như vậy.

    Đi qua hết cả toa xe và kết thúc việc kiểm tra, bọn soát vé chuyển sang toa bên cạnh, nhưng họ chỉ ở đó trong hai ba phút mà thôi. Akimốp nhìn thấy bọn họ ra khỏi toa bên cạnh và băn khoăn đi về tòa nhà ga. «Chúng đi báo cáo lên thượng cấp hiến binh về kết quả kiểm tra toa xe ta», - Akimốp suy nghĩ và hình dung ra sự kiện diễn biến tiếp trước khi tàu chuyển bánh, mà chắc chắn hơn là ở ga sau anh sẽ bị giữ lại để kiểm tra căn cước.

    Akimốp, như thường vẫn xảy ra với anh trước đây trong những phút nguy hiểm, bỗng nhiên trở nên bình tĩnh đến mức có thể suy nghĩ về mọi điều một cách lạnh lùng, rất lạnh lùng. Có thể anh dự đoán sai, có thể, chắc chắn hơn là anh đúng... Bây giờ thì sao, chờ đợi đến lúc sự kiện chộp lấy anh ư? Không. Cứ để cho kẻ thù không thể trông chờ gì vào sự vô tâm của anh. Anh hiểu rất rõ mánh lới của bọn chúng.

    Trong toa xe vắng người. Hành khách ùa cả vào ga - một số đi lấy nước sôi, số khác xô ra chợ, số người thứ ba đơn giản đi dạo chơi. Cả người coi toa cũng lẩn đi đâu đó. Akimốp với lấy cái bao vải bạt trên giá để đồ xuống và vội vã ra ngoài đầu toa. Vừa lúc đó anh nhận thấy đoàn tàu khách đậu ở đường bên cạnh bắt đầu khởi hành. «Mình phải bỏ đi theo nó thôi», - Akimốp quyết định và, mở cửa ngược lại phía vào ga, anh nhảy ra khỏi tàu. Người coi trên một toa của đoàn tàu bên cạnh đón lấy cái bao bạt của Akimốp và giúp anh nhảy lên bực toa.

    - Tàu đi đến Mátxcơva, thưa ngài, - người coi toa nói lấy lệ, bởi vì điều đó không còn có nghĩa gì nữa - tàu đã tăng tốc độ, và không thể nào nhảy xuống được nữa.

    - Vừa hay tôi cần như vậy, ông ạ, - Akimốp nói một cách nhã nhặn, phỉnh nịnh, bởi vì anh nào có vé đâu và sẽ còn phải bàn bạc về điểm này.

    - Vậy thì mời ông vào toa, - người phụ trách toa mời, vẫn lịch sự như trước.

    Akimốp không vội: tốt hơn là thương lượng với người phụ trách toa ngay ở đây, không có ai chứng kiến. Các công trình nhà ga loáng thoáng chạy qua, và đến khi ra tới khúc lượn thì hiện rõ quang cảnh sân ga. Và lập tức Akimốp nhìn thấy ngay là từ cửa cuối cùng của tòa nhà ga có ba người đi ra. Anh liền nhận ra hai người - đó là hai tên soát vé nọ. Trên thân hình người thứ ba xanh xanh tấm áo capốt sĩ quan hiến binh.

    «Điều quan trọng là mọi việc làm đúng lúc», - Akimốp suy nghĩ, không còn mảy may nghi ngờ gì nữa là các quan chức luôn luôn tỉnh táo đang kéo tới cái toa xe nơi chính bản thân anh vừa có mặt.

    *

    Ở Mátxcơva, Akimốp nán lại cả thảy chỉ có mấy giờ đồng hồ. Giá có thời giờ nhiều hơn, hẳn anh đã sử dụng các địa chỉ gặp gỡ bí mật. Nhưng một trong những địa chỉ ấy không phù hợp với điều kiện: không được đến trước tám giờ tối. Địa chỉ thứ hai ở quá xa, ở tận ngoại ô. Đi tới đó quả là mạo hiểm, anh có thể bị nhỡ tàu. Akimốp tiếc rẻ không gặp gỡ được các đồng chí, hỏi han họ về cuộc sống của đảng, tìm hiểu các tin tức mới nhất từ mặt trận.

    Sau khi gửi cái bao đựng tài liệu của giáo sư Likhatsiốp (anh giúi vào đó cả một số đồ vật của mình) vào kho gửi hành lý xách tay, Akimốp đi dạo quanh các phố xá của cố đô.

    Và ở đây khắp nơi anh cũng lại gặp các dấu vết của thời chiến: cố đô Mátxcơva nhợt nhạt, tiều tụy hẳn. Tháp vàng ở các nhà thờ và giáo đường Mátxcơva phai nhạt, tiếng chuông chiều các gác chuông nhà thờ lắng chìm. Dân Mátxcơva trở nên khác hẳn: nhìn đâu cũng thấy thương phế binh hoặc quân nhân, đầy những bọn đầu cơ, hành khất, những đứa bé nhem nhuốc, trên quảng trường các nhà ga giống như ngoài chợ: vẫn cảnh buôn đi bán lại. Những người lính vung vẩy những tấm áo varơi bạc phếch, những chiếc quần vá, những đôi giày thủng, còn các bà nông dân quấn khăn san ấm áp mặc váy rộng và áo bành tô ngắn bằng nhung thì mời mọc kẹo khanva làm bằng hạt hướng dương, bánh mì hình số 8 bằng bột mì đen, bánh tráng bằng khoai tây và tấm.

    Gã cảnh sát to béo, cao lớn quát tháo đám dân, hết đuổi lính lại đuổi đàn bà, nhưng, bất chấp bộ dạng hung dữ của gã, chẳng ai thèm động đậy gì hết.

    Ở một góc quảng trường hiện ra cảnh huyên náo đặc biệt của đám đông. Gã cảnh sát vội vã lao đến đấy, miệng quát tháo mọi người. Nhưng những người lính dang làm cái chuyện buôn bán, chống trả gã cảnh sát.

    - Ông chú ơi, đi đi, tôi bảo tử tế: đi đi! Còn không đi ấy à - bọn này sẽ đánh chết, đồ chuột cống hậu phương béo mầm! - người lính nói một cách lẫm liệt, và má anh ta giật giật vì bị chấn thương.

    Gã cảnh sát cố tỏ vẻ công phẫn:

    - Xin dẹp lời thóa mạ đi! Chứ không chúng tôi có thể bắt anh phải chịu trách nhiệm! - Nhưng vang lên tiếng cười và mọi người thấy rõ con chuột cống hậu phương so với cánh lính tráng - chỉ là đồ sâu bọ nhỏ nhặt, chẳng ai coi gã ra gì.

    - Cái chính quyền của ngài sắp tàn rồi, đồ sát nhân! - một ông mugích bé nhỏ nhanh nhẹn nói với theo gã cảnh sát, và gã cảnh sát rời đám đông, làm ra bộ gã không nghe thấy những lời khiêu khích đó.

    «Nếp sống đang thay đổi, - Akimốp nhận xét, - Một khi người lính muốn quay súng chống lại chế độ Sa hoàng, tư bản và cảnh sát, thì chẳng có gì ghìm giữ được anh ta. Và thời kỳ ấy đang đến gần. Đang đến gần, nhưng còn chưa đến. Cần phải tính đến cả tình huống ấy.

    Akimốp đi dạo khắp Mátxcơva, nhưng rất chú ý quan sát: liệu có «cái đuôi» nào bám theo anh không, liệu anh có bị theo dõi không. Trường hợp hôm qua ở ga Bui bắt anh một lần nữa nghĩ đến sự thận trọng.

    Khi bắt đầu mở cửa cho hành khách lên chuyến tàu đi Pêtrôgrát, Akimốp cố lần vào chính giữa dòng người. Giữa những khuôn mặt hiện ra loang loáng, giữa áo quần trăm màu nghìn vẻ, giữa cảnh tấp nập rối rít, không dễ gì tách được anh ra và ghi nhớ. Anh lên toa công cộng, trong sự chen lấn khủng khiếp anh tìm được chỗ cho bản thân cùng bao đồ ở trên ghế treo cao nhất. Chuyến đi rất tốt đẹp, mặc dù có ngột ngạt và không lấy gì làm dễ chịu cho lắm.

    Còn cách Pêtrôgrát chừng năm mươi vecxta nữa anh đã xuống tàu. Ngay từ buổi đầu của cuộc chạy trốn các đồng chí đã khuyên anh nên như vậy: đi vòng Pêtrôgrát, bỏ qua các ga chính, nơi đêm ngày có sự theo dõi cẩn mật, đừng có chui vào các toa hạng trên, phải lần vào giữa mọi người.

    Đến nửa buổi, Akimốp đã đi các chuyến tàu địa phương chuyển từ tuyến đường Nicôlaiépxeaia sang tuyến đường dẫn sang Phần Lan. Buổi tối anh lên chuyến tàu đưa anh đi xa hơn - đến Henxingforxơ, gần tới Thụy Điển. Và mọi chuyện diễn ra tốt đẹp, và không có gì báo hiệu có rắc rối chi hết...

    *

    Ấy vậy mà vẫn nảy ra chuyện rắc rối. Và không chỉ đơn giản là chuyện rắc rối, mà là sự đe dọa đổ vỡ hoàn toàn. Chuyện ấy xảy ra ở Abô, tại cảng, vào những giây phút cuối cùng nhất của Akimốp còn ở trên đất của đế quốc Nga.

    Qua tên Ôxipốpxki, sống lì ở Xtốckhôn, gần giáo sư Likhatsiốp, bọn mật vụ biết rõ việc chạy trốn của Akimốp, bọn chúng còn biết cả các mục đích của cuộc chạy trốn này. Bố trí một người bônsêvích, thêm vào đấy lại là một người mà giáo sư Likhatsiốp yêu quí và đánh giá cao, ở bên cạnh giáo sư, - điều đó có nghĩa là triệt để bứt nhà bác học ra khỏi công việc phục vụ chính phủ Sa hoàng và, hơn thế nữa, với những khuynh hướng dân chủ có tiếng tăm trong bao năm của ông, hướng ông chống lại chế độ quân chủ, vận động ông tích cực tham gia hoạt động cách mạng. Những trường hợp tương tự đã xảy ra! Chỉ cần nhớ lại tên tuổi học giả Nga nổi tiếng Ilia Metsnicốp[19]. Những người bônsêvích không chỉ lọt vào nhà ông ta, mà họ còn cấy được vào tâm hồn ông ta những tư tưởng phá hoại của họ. Rồi giáo sư Timiriadép[20] ở Mátxcơva? Truyền bá các quan điểm duy vật về thiên nhiên chưa đủ, ông ta còn có cảm tình với cách mạng, hỗ trợ cho lực lượng của cách mạng lớn mạnh lên. Thử động đến ông ta xem. Toàn thế giới sẽ phẫn nộ và lên án Sa hoàng là chỗ dựa của những lực lượng phản động đen tối. Mà ngai vàng thì không cần phải có những chuyện đó cũng đang lung lay rồi. Và đâu có phải chỉ có mình Timiriadép? Những người bônsêvích đứng đầu là Ulianốp dòng dõi quí tộc Ximbiếc mặc dù mệnh danh mình là đảng của giai cấp công nhân, nhưng không hề thờ ơ đối với việc liên minh với trí thức. Đã gióng giả khắp cả nước Nga bao nhiêu năm rồi tiếng nói của... người thợ ấy ở Nigiơni Nốpgorốt, nhà văn Alếchxây Pescốp, mà đã chọn cho mình cái bút danh với ngụ ý thật rõ ràng... Makxim Gorki[21]?!

    Các quan chức cao cấp của sở mật thám Sa hoàng, tuy căm ghét cách mạng với tất cả lòng hận thù hung tợn, và bắt buộc phải đọc các tác phẩm của Lênin và báo chí của đảng bônsêvích, nhưng chúng cũng hiểu rằng đảng này quả thực đang suy nghĩ nghiêm chỉnh về tương lai. Khác với các giai cấp cầm quyền, các nhà lý luận và các lãnh tụ của đảng này vẽ ra một bức tranh rõ ràng về cơ cấu xã hội và nhà nước mai sau, trong đó mỗi người đều có một vị trí xứng đáng của mình. Không có gì làm cho người ta giác ngộ bằng tinh thần cách mạng, không có gì thúc đẩy họ tham gia vào cuộc đấu tranh với chế độ Sa hoàng, bằng sự nhận thức rằng cách mạng sẽ mang lại sự đổi mới toàn bộ cuộc sống, cách mạng sẽ gạt bỏ cả áp chế, cả sự bất công và sẽ đem lại cho người ta một cuộc sống xứng đáng...

    Và không phải ngẫu nhiên mà những người bônsêvích tỏ ra quan tâm đối với các bộ óc như Likhatsiốp. Không có những bộ óc ấy không thể xây dựng tương lai. Họ có kiến thức. Mà không có kiến thức, hiểu biết thì xây dựng làm sao được đất nước, - không có đầu rìu thì đừng hòng mà đóng nổi cái đinh vào gỗ.

    Các quan chức cao cấp quyết định: không thể để cho Likhatsiốp rơi vào vòng tay của tên bônsêvích Akimốp, thà cứ để cho các báu vật tìm tòi khoa học chảy ra nước ngoài còn hơn là để rơi vào tay đảng của giai cấp công nhân,

    Ty hiến binh Tômxcơ và tên nhân viên mật vụ Prôskin vì tội để Akimốp trốn khỏi Xibiri đã bị nghiêm khắc khiển trách. Vì thế bắt đầu các cuộc rình mò mới, Prôskin lồng lộn khắp các toa tàu đi khỏi Xibiri. Chẳng lẽ Akimốp có thể bay qua khoảng cách dài ghê gớm từ Tômxcơ về tới Pêtrôgrát trên không trung như con chim ư?

    Và thế là xảy ra cuộc chạm trán ở Bui. Prôskin đã chậm trễ, nên Akimốp lại biến mất ngay trước mũi hắn. Các công văn hỏa tốc báo động bay ngay về Mátxcơva và Pêtrôgrát...

    Akimốp dường như cảm thấy bộ máy cảnh sát đã đưa tất cả lực lượng của mình vào guồng hoạt động. Anh xét nét bất cứ người nào lên toa xe ở các ga và ga xép của đại công quốc Phần Lan. Sa hoàng và chính phủ của hắn có lúc đã hết sức cố gắng tô vẽ Phần Lan như một nước độc lập, tự do. Nhưng qua kinh nghiệm chua xót của nhiều đồng chí, Akimốp đã biết là cánh tay của bộ máy cảnh sát của Sa hoàng dài lắm và nó đã với đến cả đây. Chính vì thế mà đã có quyết định không chuyển anh đi theo đường sắt vòng quanh vịnh Bôtnitsexki, mà qua cảng Abô. Từ Xtốckhôn tàu thuyền của Thụy Điển vẫn lui tới cảng này, tiện đường có dừng lại ở các đảo Alanđơ. Chiến tranh có làm giảm hoạt động tàu thuyền trên tuyến đường này, nhưng không làm đình trệ hẳn.

    Đến Abô, Akimốp ngay ở ga đã dò hỏi xem có tàu Thụy Điển ở cảng không. Những người đánh xe ngựa, thường am hiểu cuộc sống các thị trấn nhỏ thông thạo hơn bất cứ cơ quan quản lý nào, cho biết một tin mừng: ở cảng đang có con tàu Thụy Điển chở hàng và hành khách và sau một tiếng, một tiếng rưỡi nữa nó sẽ rời bến.

    Akimốp thuê một cỗ xe ngựa đưa ra đến bến. Người đánh xe để cái bao vải bạt vào chỗ để hàng dưới ghế ngồi, nhảy lên chỗ của mình và ra roi thúc ngựa.

    Ngồi vào xe, Akimốp nhận thấy cách đấy không xa có một người đàn ông cũng làm như anh. Người ấy vội vã không kém gì Akimốp và chẳng bao lâu đuổi vượt anh. Và sự đời mới thật oái oăm: suốt dọc đường Akimốp đã luôn cảnh giác, luôn luôn xét đoán tất cả mọi người, thấy gì cũng thầm cân nhắc phán đoán, khi ra khỏi toa tàu bao giờ cũng chú ý, vậy mà bây giờ anh lại chẳng coi vào đâu cái người đàn ông đang vội vội vàng vàng kia, bộ dạng anh ta chỉ thoáng hiện qua và không in vào tâm trí Akimốp.

    Akimốp lúc này mải mê với một suy nghĩ mà thôi: làm sao không chậm tàu, dù thế nào đi nữa cũng phải lên được tàu.

    - Xin bác cho xe đi nhanh hơn một chút. Tôi sợ là nhỡ mất, - Akimốp nói với người đánh xe, nghển dài cổ lên và mong muốn mau chóng nhìn thấy cả bến cảng cả con tàu, anh sẽ lên con tàu đó đi sang Thụy Điển.

    - Không, không đâu, ông cứ yên tâm. Chúng ta đến kịp thôi! - người đánh xe Phần Lan nói bằng thứ tiếng Nga trọ trẹ và lại thúc ngựa.

    Xe vừa dừng lại, Akimốp nhẩy xuống và chạy vào chỗ bán vé mua vé và làm các thủ tục liên quan đến việc xuất ngoại. Anh đề nghị người đánh xe đưa cái bao hàng của anh đến cầu tàu và đợi anh ở đấy. Trên boong tàu người ta đã đi lại dạo chơi, còn trên bến vắng vẻ, Akimốp hiểu là việc xếp hàng và lấy khách đã xong, và anh không được để mất một giây phút nào hết.

    Việc làm thủ tục đòi hỏi không quá mười lăm phút và trôi chẩy không chút trở ngại gì. Akimốp đi vội tới cầu tàu, tin là anh sẽ gặp người đánh xe mang cái bao của anh đứng sẵn ở đấy. Nhưng người đánh xe không thấy ở nơi hẹn trước. Có chuyện gì xẩy ra thế? Từ chỗ xe đỗ đến cầu tàu đi độ không quá ba phút. Tim Akimốp bỗng đập rộn lên lo lắng. Những linh cảm đau xót làm anh nghẹt thở. Bằng những bước thận trọng nhưng vội vã Akimốp nhẩy ra khỏi bến tàu và ngay lúc đó anh lao ngay trở lại.

    Người đánh xe với cái bao của anh đứng ở bên cỗ xe, nhưng không đứng một mình, mà bị vây giữa ba tên cảnh sát. Giữa người dân Phần Lan với mấy tên cảnh sát đang có cuộc tranh cãi kịch liệt. Hẳn là, những tên kia muốn đoạt lấy cái bao của Akimốp, còn người đánh xe không chịu đưa.

    «Biết làm thế nào nhỉ? Nên xử sự ra sao?» - một ý nghĩ thoáng qua trong đầu Akimốp, và mồ hôi toát ra bên thái dương anh. Quyết định chín muồi trong một chớp nhoáng: «cần phải tức khắc lên tàu ngay».

    Thỉnh thoảng lại ngoái lại, Akimốp lấy vé và hộ chiếu ra và trình cho các viên chức Thụy Điển. Qua một phút anh đã đứng trên cầu thang lên tàu, chiếc cầu thang bọc đồng đỏ.

    Giờ đây, khi bản thân anh đã ngoài vòng nguy hiểm, anh lại cảm thấy ân hận. Liệu anh xử sự có đúng không: để các giấy tờ của ông chú lọt vào tay bọn cảnh sát? Có thể, còn chưa muộn, chạy ngay lên bờ để cứu cái bao, tự nguyện nộp mình cho kẻ địch? Mặc cho chúng đưa anh vào tù, mặc cho chúng lại đưa anh ra tòa xử, nhưng tài liệu tìm tòi khoa học của nhà bác học đã kiếm được qua bao nhiêu năm dài lao động, sẽ còn nguyên vẹn.

    Thoáng qua hai ba giây như vậy, khi Akimốp phải vất vả mới ghìm được mình khỏi những cơn bồng bột thực chất chẳng mang lại điều gì có lợi cho ai.

    Nhưng vừa lúc hồi còi rền rĩ vang lên, những vách bằng gỗ của buồng tàu rung lên, và nghe tiếng những tảng băng bị phá vỡ lục bục mạnh hai bên thành thép của con tàu.

    - Tạm biệt, nước Nga! Hẹn sớm lại gặp nhau!

     

    CHƯƠNG 7

    Xtốckhôn đón Akimốp bằng tiết trời trở ấm. Trên thành phố chói lọi ánh mặt trời, những vũng nước lấp lánh ngời lên như vào mùa xuân, từ những mái nhà đá xám những giọt nước dài nặng nề chảy xuống, rạng rỡ đủ sắc cầu vồng.

    «Ở đây mùa xuân rồi, còn ở đấy, chỗ Kachia, băng giá đang cắt da cắt thịt và bão tuyết lồng lộn», - nheo mắt dưới ánh nắng, Akimốp nghĩ thầm và từ tốn đi đến chỗ xe ngựa chờ khách đậu. Anh còn chưa biết Xtốckhôn, anh cũng không biết cả địa chỉ của giáo sư Likhatsiốp nữa. Trong cả cái thành phố to lớn này chỉ có một con người biết về việc chạy trốn của anh và đợi chờ anh - đó là bác sĩ nhi khoa Xécgây Êgôrôvích Prôkhôrốp. Địa chỉ của bác sĩ Prôkhôrốp Akimốp nhớ thuộc lòng, anh nhắc đi nhắc lại to thành tiếng cũng như thầm trong óc không ít lần cái địa chỉ ấy ở giữa rừng taiga xa xôi, để bất ngờ không bay mất khỏi trí nhớ của anh.

    Sau nửa giờ đồng hồ, dạo xe qua khá nhiều các phố xá Xtốckhôn, những nơi nhà cửa rất giống các góc phố ở Pêtrôgrát, Akimốp đến trước ngôi nhà ở của bác sĩ Prôkhôrốp. Akimốp gặp may. Người đánh xe chỉ lấy có một nửa số tiền mà Akimốp chuẩn bị sẵn. (Anh vốn không thích mặc cả trước về giá cả phải trả cho những việc như vậy). Điều chủ yếu may mắn là mặc dù vào nửa buổi, bác sĩ Prôkhôrốp vẫn có nhà.

    - Ivan! Cuối cùng thì anh cũng đã tới! Anh ở đấy có chuyện gì vậy? - Prôkhôrốp ôm ghì Akimốp trong vòng tay, lấy bàn tay to rộng, khỏe mạnh vỗ bồm bộp vào bả vai anh.

    - Chào Xécgây! Chào cậu, Xécgây Êgôrôvích yêu mến! - Akimốp đã biết Prôkhôrốp từ lâu trong những cuộc họp mặt thời sinh viên, một vài lần đã cùng tham dự các cuộc tranh luận trong đảng, đã nghe các phát biểu của anh - những ý kiến ngắn gọn, nhưng bao giờ cũng tràn đầy tin tưởng. «Chàng trai cứng rắn. Cậu này sẽ không đi theo bọn xã hội cách mạng cũng như bọn mensêvích», - bấy giờ Akimốp đã nghĩ về anh ta như thế. Và điều đó đã không lầm, Prôkhôrốp quả thực là như vậy.

    Akimốp bỏ mũ, cái áo bành tô và khi ngồi vào bên bàn đối diện với Prôkhôrốp, qua cặp mắt xanh của anh ta, to thêm ra dưới mặt kính gọng vàng, anh hiểu: không chờ được tin gì vui ở Prôkhôrốp. Cặp mắt của anh ấy đượm vẻ buồn rầu.

    - Giáo sư Likhatsiốp thế nào, Xécgây Êgôrôvích? - Akimốp hỏi, mà vẫn sợ cái câu hỏi của mình.

    - Có chuyện đấy. Cả một câu chuyện dài, - nhìn đi chỗ khác Prôkhôrốp trả lời.

    - Cậu cho mình biết đi, - Akimốp nóng ruột đề nghị.

    - Chuyện xảy ra mới chỉ hai tuần trước đây. Mình đến chỗ ông ấy, và câu hỏi đầu tiên lại là về cậu: «Ivan ở đâu nhỉ? Không lẽ chết ở giữa băng tuyết Xibiri rồi ư?» Mình an ủi ông ấy, nhưng thế vì lời đáp, mình lại nghe lời yêu cầu, lời yêu cầu đã làm mình sửng sốt. «Ông Prôkhôrốp này, - giáo sư nói, - tôi chỉ còn sống mươi ngày nữa. Liệu ông có giúp được tôi khẩn cấp trở về Nga không? Tôi phải chết trên mảnh đất quê hương! Tôi không muốn xương cốt của tôi nằm ở nơi đất khách quê người». Tôi toan an ủi ông ấy, làm cho ông ấy yên tâm. Nhưng ông ấy ngắt lời tôi. «Ông Prôkhôrốp, ông là thầy thuốc, còn tôi là nhà tự nhiên học. Hai chúng ta đều biết rõ cuộc sống là cái gì và cái chết là thế nào. Tôi xin ông, ông đừng nói với tôi những lời trống rỗng. Tốt hơn là ông hãy giúp tôi. Tôi một thân một mình. Kể ra thì nhà khảo cổ học Nga Ôxipốpxki, người mà ông dè chừng đối với tôi, không ngớt quan tâm đối với tôi. Xin nói thành thật, điều ông dè chừng thoạt đầu tôi không tin cho lắm, nhưng bây giờ tôi đã tin là ông đúng. Ông ta đã ám chỉ trực tiếp đến việc mua tài liệu lưu trữ của tôi. Và cặp mắt của Ôxipốpxki hau háu nhòm ngó các giấy tờ của tôi, còn hai lỗ mũi ông ta cứ run lên. Ông ta đã bắt đầu đánh hơi, liệu tôi đã sắp chết đến nơi chưa? Đừng để những quân độc ác cướp đoạt giấy tờ của tôi. Tôi sẽ ra đi, còn căn buồng cùng giấy tờ tôi sẽ khóa lại. Tôi đã trả tiền nhà trước một năm». Và cậu tưởng tượng xem, Ivan, mình đã nhượng bộ những lời cầu khẩn của giáo sư. Trong vòng mấy ngày mình đã tổ chức cho ông ra đi, tiễn đưa ông ra ga, đưa lên toa xe, niêm phong căn buồng cùng với mọi giấy tờ...

    - Chà, mình không biết, không biết là Likhatsiốp ở Pêtrôgrát. Nếu biết thì dù thế nào đi nữa, dù chỉ một - hai tiếng thôi, tôi cũng phải gặp được ông, - ngắt lời Prôkhôrốp, Akimốp nói, giọng buồn rầu.

    - Không, Ivan, cậu cũng chẳng gặp được đâu. Ông mất rồi.

    - Sao lại mất là thế nào? - Akimốp thậm chí bật đứng dậy - cái tin này mới làm anh sửng sốt làm sao.

    - Mất rồi. Như tất cả mọi người chết trên thế gian này, không trừ một ai.

    - Bao giờ vậy? Tin từ đâu?

    - Được biết, Ivan ạ, từ một nguồn tin cậy nhất. Vừa mới hôm qua, theo các đường bí mật có thư của các đồng chí ở Pêtrôgrát gửi đến. Họ báo cho biết, sau khi ở Xtốckhôn về, giáo sư Likhatsiốp chỉ sống được có ba ngày. Việc giáo sư trở về tổ quốc cũng như cái chết của ông, chính quyền đều cố tình làm thinh. Không một tờ báo Pêtrôgrát nào đăng một dòng nào về giáo sư. Chúng chôn cất giáo sư một cách hết sức vội vã, ở một nghĩa trang xa xôi nào đó giữa đám thị dân và nhà buôn vô danh tiểu tốt.

    - Quân khốn nạn! Lũ đểu cáng! Đồ đê tiện! - Akimốp nắm chặt tay lại, lồng lộn bước trong gian phòng, cảm thấy là vì căm tức ánh mắt anh mờ đi.

    - Nhưng có thể đợi gì ở chúng kia chứ, Ivan? Trong mọi chuyện đều có lôgích của nó, và ở đây cũng có cái lôgích, - Prôkhôrốp nói một cách chí lý, làm cho Akimốp bình tĩnh lại một chút.

    - Phải, có lôgích, nhưng, ít ra là cũng phải có một sự đứng đắn tối thiểu nữa chứ. Làm sao có thể như thế kia chứ? Không lẽ không ai thấy cắn dứt lương tâm ư?

    - Lương tâm, Ivan ạ, là một khái niệm trừu tượng. Lương tâm đối với cậu - là một, còn đối với chúng, đối với những cột trụ của chế độ Sa hoàng, - hoàn toàn, hoàn toàn khác kia.

    - Phải, phải, cậu nói đúng, Xécgây Êgôrôvích. Khi nào thì chúng mình đến thăm phòng làm việc của giáo sư Likhatsiốp mà cậu đã niêm phong?

    - Thì ăn bữa trưa xong là ta đi.

    *

    Khó có thể tin được là Vênhêđích Pêtrôvích Likhatsiốp không còn bao giờ trở lại căn phòng làm việc này nữa, cũng như không còn trở lại nơi nào nữa. Ở đây mọi cái, tất thẩy đều làm Akimốp nhớ tới ông chú, con người ở khắp nơi đều biết cách tạo ra các tiện nghi đến mức tối đa để làm việc. Ngoài cái bàn viết rộng lớn kèm theo những cái kệ và cái giá đặc biệt kê sát bên bàn, trên đó ông rải vô số những tấm bản đồ của mình, ở khoảng tường giữa hai cửa sổ rộng, trông ra vườn cây, có kê cái bàn giấy, Likhatsiốp trước đây thường đứng làm việc sau cái bàn này. Ngay sau cái bàn là một dãy tủ chất đầy sách và các bó cặp giấy. Phía tay phải bàn làm việc một tấm bản đồ đế quốc Nga giống như tấm thảm nhiều màu treo kín cả mặt tường. Trong những phút nghỉ ngơi Likhatsiốp thường vẫn nhìn ngắm tấm bản đồ này hơi lâu, tưởng tượng khi thì đến đầu này, khi lại đến đầu kia của nước Nga.

    Bên tường, đối diện với các tủ sách, là một chiếc ghế đivăng rộng bọc da với những cái gối da, cạnh đầu đivăng là một cái bàn thấp dài dài, để đầy những báo chí Thụy Điển, Nga, Anh, Pháp. Giáo sư Likhatsiốp không bao giờ đọc báo một cách chủ định. Ông chỉ xem lướt qua trong lúc nghỉ ngơi giữa công việc nghiên cứu khoa học của mình.

    Cái bàn nhỏ thấp này, chất đầy những tờ báo nhàu nát, có gì đó nhắc nhở cho Akimốp một cách đặc biệt sinh động về sinh hoạt và tính cách thực tiễn của giáo sư Likhatsiốp. Dù đã trở thành nhà bác học lớn, về mặt tiếp thu cuộc sống, về thái độ nghiêm ngặt đối với cuộc sống, Likhatsiốp vẫn không ngừng là một người mugích Nga bình thường, bao giờ cũng nổi bật ở chỗ mưu lược, hiểu biết sâu sắc bản chất của sự việc, dù sự việc đó có được che đậy bằng những lời lẽ hào nhoáng thế nào đi nữa.

    «Ông chú vò nhàu những tờ báo kia, hẳn là không phải vô cớ. Chắc những tờ báo đó đã làm ông bực bội vì điều gì đó, không gì khác là đã bịa đặt về sự trung thành vô độ của binh lính Nga đối với ngai vua», - Akimốp thoáng nghĩ.

    - Xécgây Êgôrôvích, không lẽ ông chú mình không để lại điều ủy thác gì cho mình? - Akimốp hỏi, cuối cùng phá sự im lặng thể hiện nỗi đau buồn da diết bất ngờ đến với anh.

    - Ông không nhờ tôi chuyển gì hết. Có thể, có gì để lại trong bàn chăng, - Prôkhôrốp trả lời gần như thì thầm, cũng như chính Akimốp, anh đang nếm trải những cảm xúc đặc biệt phức tạp.

    - Ta thử xem sao, - Akimốp nói và ngập ngừng xoay chiếc chìa khóa đồng ở ngăn kéo giữa bàn.

    Trong ngăn kéo có khoảng hai chục cây bút chì màu, những thứ mà giáo sư Likhatsiốp bao giờ cũng có sẵn, thậm chí ngay trong các chuyến đi khảo sát. Ông cần đến những cây bút ấy trong công việc bản đồ và phác họa thực cảnh. Ngoài ra, ông thích chữa các bản thảo của mình bằng bút chì màu, đôi khi không chỉ đơn giản gạch bỏ từ không cần thiết, mà tô đậm mầu đè lên.

    Ở sâu trong lòng ngăn kéo, dưới mấy cuốn vở bằng vải sơn vẫn còn trắng nguyên, Akimốp sờ thấy một tờ giấy khá nhàu nát. Ở sát đầu trang tờ giấy có một dòng chữ viết bằng chì nâu: «Sự sắp đặt các tài liệu». Dưới đó là trật tự xếp sắp để trong khung, còn thứ tự các cặp và bao tài liệu đặt theo cột dọc: I. Các cuốn nhật ký Keti (hành trình lần thứ nhất). 2. Các cuốn nhật ký Keti (hành trình lần thứ hai). 3. Vùng Vaxiugan và các đồng than bùn Vaxiugan. 4. Các con sông và con đường biển Bắc. 5. Các hệ thống núi. 6. Các loại than Xibiri. 7. Các khoáng thạch Xibiri (kèm theo bản đồ). 8. Khoáng đa kim. 9. Các thảo nguyên (kèm theo bản đồ). 10. Ôbi Trung và Hạ (kèm theo bản đồ). II. Các gò mộ (không có bản đồ). 12. Vàng (kèm theo bản đồ). 13. Khảo cổ học, tập I. 14. Khảo cổ học, tập 2. 15. Rừng Xibiri (kèm theo bản đồ). 16. Các nhật ký Angara và Ênhixây. 17. Các cuốn nhật ký vùng Ngoại Baican. 18. Các núi Antai. 19. Các thảo nguyên Antai. 20. Khí đốt (quan sát và các dự đoán). 21. Dầu lửa.

    Akimốp cắm cúi nhìn vào trang giấy,

    - Chắc là, các địa chỉ nào đó hả? - ngó vào tờ giấy, Prôkhôrốp hỏi.

    - Không phải, đây là danh sách các cặp tài liệu. Có lẽ, giáo sư Likhatsiốp lập bản danh mục này để thuận tiện mỗi khi tìm đến cặp tài liệu cần dùng.

    - Cho mình xem, - Prôkhôrốp đề nghị và đưa tờ giấy lên sát cặp mục kỉnh, bắt đầu đọc. - Phải, tất nhiên, ông luôn giữ tờ giấy này bên mình. Cậu thấy là đây cũng có hệ thống của nó: số tủ, số giá để, số gói, - Prôkhôrốp nói và trả lại Akimốp tờ giấy nhàu nhịt.

    - Mà liệu chúng ta có nên kiểm tra xem mọi cái có ở nguyên chỗ không, Xécgây Êgôrôvích? - Akimốp đề nghị. Prôkhôrốp đồng ý với anh.

    Hai người đi đến những cái tủ dài dài, mà các ngăn tủ đều chất đầy sách, những cặp tài liệu riêng lẻ, các bó cặp tài liệu, các bao gói buộc chặt bằng giây chuỗi, và họ mở cái tủ ngoài cùng.

    - Có lẽ đây là tủ số một. Cậu thử ngó xem, trong đó ghi gì, - Prôkhôrốp nói.

    Akimốp xem tờ giấy.

    - Trên ngăn giá thứ nhất ở đây nói có các cuốn nhật ký của hai chuyến hành trình thứ nhất và thứ hai đến Keti.

    - Được rồi, ta thử kiểm tra xem. - Prôkhôrốp kiễng chân và, nghển lên tới tận ngăn giá trên cùng, đọc to nhãn đề trên bó vở: «Các cuốn nhật ký Keti».

    - Đúng rồi. Ở đây cũng đề đúng như vậy: «Các cuốn nhật ký Keti (hành trình lần thứ nhất)» và «Các cuốn nhật ký Keti» (hành trình lần thứ hai)».

    - Đọc tiếp đi, Ivan.

    - Mình đọc đây: tủ thứ nhất, ngăn giá thứ hai: «Vùng Vaxiugan và các đồng than bùn Vaxiugan».

    - Đúng. Đây, những cái cặp ấy đây. Cậu xem này. Kể ra thì cái tên gọi đơn giản thôi: «Vùng Vaxiugan». Đọc tiếp đi, Ivan.

    Akimốp và Prôkhôrốp kiểm tra theo bản ghi cả tủ thứ nhất cả tủ thứ hai. Mọi cái đều phù hợp. Nhưng khi họ bắt tay vào kiểm tra tủ thứ ba thì họ thất vọng đau đớn. Trong tủ không thấy có sáu cặp tài liệu, cụ thể là: «Khoáng đa kim», «Ôbi Trung và Hạ (kèm theo bản đồ)», «Các gò mộ», «Vàng» (kèm theo bản đồ), «Khảo cổ học (tập 1)», «Khảo cổ học (tập 2)».

    Cậu nghĩ thế nào, Xécgây Êgôrôvích? - Akimốp hỏi, lục tìm khắp cả tủ từ trên xuống dưới.

    - Mình nghĩ chỉ có thế này thôi: các tài liệu đã bị Ôxipốpxki và đồng bọn đánh cắp.

    - Bao giờ và bằng cách nào?

    - À, đó lại là một vấn đề. Khi Likhatsiốp còn đây chúng không thể lấy được, mà phá cửa vào phòng... như vậy thì thật là trò ăn cướp.

    - Cả việc đó mình cũng không ngạc nhiên, Xécgây Êgôrôvích. - Akimốp bẻ ngón tay, chắp tay ra sau lưng và cất bước đi lại trong căn phòng làm việc rộng lớn của Likhatsiốp - từ góc này sang góc kia, hết đi chéo lại đi dọc căn phòng. Prôkhôrốp lao ra cửa vào, xem xét sợi giây bện luồn qua lỗ khóa, mảnh dấu bằng mattit màu nâu.

    - Ivan, cậu tưởng tượng xem, không có dấu vết gì lạ, - Prôkhôrốp nói, sau khi trở lại căn phòng. - Bây giờ ta xem các cửa sổ.

    - Các cửa sổ đều đóng. Tôi vừa xem rồi, - càng ảm đạm hơn, Akimốp nói, những đột nhiên chạy vội ra sau những cái tủ.

    Prôkhôrốp đi tới chỗ các cửa sổ, giật những ổ then cài to xù, chắc chắn.

    - Xécgây Egorovich, lại đây! - từ sau dãy tủ vẳng ra giọng nói xúc động của Akimốp. Prôkhôrốp len vào khoảng giữa cái tủ cuối cùng và thành cửa sổ và trở nên kinh ngạc. Akimốp đứng ở trên chiếc thang di động mà giáo sư vẫn dùng để lấy sách và giấy tờ tài liệu xuống. Trong tay Akimốp cầm cái gậy để đẩy mành mành. Ngước nhìn lên trần, Prôkhôrốp nhìn thấy một cái hốc hé mở ở tận góc tường.

    - Thấy không, Xécgây Êgôrôvích? Ở đây đã sắp đặt đâu vào đấy cho một vụ trộm! - Akimốp bỏ cái gậy xuống, thế là cái hốc đóng kín bưng lại.

    - Lũ kẻ cướp! Những quân thấp hèn đểu giả! - Prôkhôrốp vung hai nắm tay lên, đôi mắt của anh mở to và đỏ ngầu, anh lồng lộn trong cái khe hẹp giữa những cái tủ, như một con thú nhỏ bị bắt nhốt trong lồng. - Khoan, Ivan, để mình ra ngoài xem. Thì chúng mình cần phải làm gì chứ!

    Prôkhôrốp chạy ra khỏi phòng làm việc của giáo sư Likhatsiốp, và sau hai ba phút Akimốp đã nghe tiếng chân anh trên đầu mình. Qua một phút nữa cái hốc mở ra, và đôi mục kỉnh của Prôkhôrốp lấp lánh từ trong bóng tối của gác trần nhà.

    - Tôi bị trừng phạt, Ivan ơi, vì cái tội bất cẩn của chính mình, - Prôkhôrốp nói. - Có cái thang dẫn lên gác trần nhà này. Nó để ở phía bên kia nhà. Không muốn cũng cứ leo chơi, mà một khi có ý muốn nữa, thì chẳng phải khó khăn gì cho lắm. Thôi được, tôi đi sang ngôi nhà bên cạnh thử hỏi xem liệu người ta có biết gì không về việc đột nhập của bọn trộm cướp.

    Prôkhôrốp đóng sập cửa hốc, lịch kịch trên đó một lát rồi tụt khỏi gác trần nhà. Trỏng lúc anh trò chuyện hỏi han những người hàng xóm của giáo sư Likhatsiốp, Akimốp trở lại bên bàn và bắt đầu lục lọi các ngăn kéo bên.

    Giảo sư Likhatsiốp ưa viết trên những cuốn sổ văn phòng dày cộp. Hẳn là ông thú cái thứ giấy dầy, có kẻ dòng và cái bìa cứng, cho phép giữ gìn tốt các bản thảo trong những cuộc hành trình và thời tiết xấu.

    Akimốp lôi ra năm cuốn sổ ấy, nhưng hai trong số đó từ đầu đến cuối giấy còn trắng nguyên, còn ba cuốn kia gồm các trích đoạn từ các báo cáo phân tích thí nghiệm. «Lạ lùng, rất lạ lùng, không lẽ chú không viết cho mình một lời nào ư? Bởi vì chú biết rằng mình đã chạy trốn, đang trên đường đi và vội vã đến với chú»,- Akimốp suy nghĩ, lật giở các trang sổ văn phòng dày cứng.

    Prốkhôrốp bước vào, vẫn xúc động như trước, đôi mắt giận dữ và hai tay nắm thành hai nắm đấm,

    - Điên rồ! Cá nhân chủ nghĩa đến mức đê mạt! Tâm lý của lũ nhện ăn thịt đồng loại!

    - Ở đó có chuyện gì vậy? - Akimốp hỏi.

    - Cậu hiểu không, Ivan... Không, cậu không hiểu điều ấy đâu! Thay vì lời đáp những câu hỏi vô hại của mình là các vị hàng xóm có thấy những quân sâu mọt mò vào nhà ở của giáo sư Likhatsiốp không, mình đã nghe được cái điều mà cho đến giờ mình vẫn còn lộn ruột lên. Giáo sư và bà vợ của ông ta tuyên bố với mình rằng cả trước đây, cả bây giờ, cả về sau nữa, họ đều không có ý định quan tâm đến cuộc sống của người khác. Họ đề nghị không được quấy động đến họ. Họ không liên can gì đến ai hết và đến việc gì hết! Và mình đã phải lủi thủi bỏ đi... Bây giờ ta biết làm gì đây? Không lẽ, Ivan, chúng ta bất lực?

    Akimốp đứng dậy, bối rối đến một phút đồng hồ.

    - Điều thứ nhất, Xécgây Êgôrôvích, mình sẽ làm là mình ở lại đây. Nếu không người ta sẽ ăn trộm tất cả mọi cái còn lại. Dù phải thức đêm thức hôm, nhưng mình phải thu xếp đâu vào đấy, sẽ ghi chép danh sách đầy đủ. Chúng ta sẽ hy vọng là cái bao mà cảnh sát đã đoạt của mình ở Abô, sẽ không bị hủy hoại, sớm muộn nó sẽ ở trong tay chúng ta. Mình tin là cả kiến thức, cả trí tuệ của giảo sư Likhatsiốp sẽ còn phục vụ cho tương lai của nước Nga. Còn điều thứ hai... phải không được rời mắt khỏi tên Ôxipốpxki. Cậu thử dò biết hắn ở đâu, chuyện gì đang xảy ra với hắn. Bao giờ mình cũng tin rằng cách mạng của chúng ta sẽ tóm được cả hắn nữa, dù hắn có lẩn trốn bất cứ nơi nào. Cứ để cho con côn trùng bẩn thỉu này biết rằng những người bônsêvích dân chủ xã hội biết rõ về những mưu đồ xấu xa của hắn và sẽ không quên gì đâu... Cậu thấy thế nào, Xécgây Êgôrôvích?

    - Đồng ý như vậy, Ivan. Ngay hôm nay mình sẽ trao đổi với các đồng chí.

    Lát sau Prôkhôrốp bỏ đi - anh đến làm việc ở bệnh viện, - sau khi hứa là buổi chiều, nếu các công việc cho phép, anh sẽ đến thăm Akimốp. Cửa vừa sập lại sau lưng Prôkhôrốp, Akimốp gieo người xuống chiếc ghế bành xoay được của giáo sư Likhatsiốp và lại bắt tay vào soạn các giấy tờ nằm trên bàn.

    *

    Trong tập các bài báo cắt ra và các bản in tạp chí Akimốp tìm thấy mấy tờ giấy có kẻ dòng rộng khổ được găm lại bằng chiếc kim băng bình thường. Trên tờ giấy thứ nhất có chữ đề nét to bằng mực xanh: «Xibiri (khái luận)». Dưới một chút chì màu vạch rõ ràng: «Phác thảo». Lật một trang, Akimốp đọc một câu trực tiếp quan hệ đến anh: «Ivan vẫn không thấy đâu... Cháu đi đâu mà lâu vậy?»

    Akimốp cảm thấy cổ anh nghẹn lại. Rõ là những lời ấy ông Likhatsiốp đã viết trong giây phút đau buồn cực độ. Những lời ấy đã bật ra từ đáy lòng ông như tiếng kêu tuyệt vọng. Đúng, Ivan đi đường lâu quá, nhưng phải chăng lỗi tại anh mà con đường đi hóa ra kéo dài và khó khăn chừng ấy và kết quả là đau xót chừng ấy?

    Bóng chiều xịch đến. Màn tối lúc hoàng hôn ập vào các ô cửa sổ tòa biệt thự. Ánh đèn các ngôi nhà kéo dài một dải thẳng và ngăn nắp, nhấp nháy sau hàng cây trong công viên.

    Akimốp kéo rèm cửa sổ lại, thắp bộ đèn chùm pha lê treo phía trên bàn viết, lại ngồi vào chiếc ghế bành và cặm cụi đọc. Và mặc dù bản thảo có lẽ mới là bản phác thảo đầu tiên, trong đó tác giả còn chưa đạt tới độ chính xác về ngôn ngữ, - đấy đích thị mới là các phác thảo, luận cương tác phẩm, còn đòi hỏi triển khai, nhưng các tư tưởng của Likhatsiốp từ trang đầu tiên đã lôi cuốn Akimốp.

    Trang thứ nhất:

    «Sự hùng mạnh của nước Nga sẽ tăng lên nhờ có Xibiri». Chỉ có thiên tài mới có thể nói những lời mà sự thông thái của những lời đó xuyên thấu hàng thế kỷ. Ta thử đi sâu vào ý nghĩa của những lời lẽ đó, hình dung ra cho mình toàn bộ các luận cứ đã cho phép nhà bác học vĩ đại thốt lên những lời hào hùng và tiên tri ấy.

    Đứa con của Tổ quốc, đứa con của nước Nga. Mikhain Lômônôxốp từ hơi thở đầu tiên đến hơi thở cuối cùng là người như vậy. Trong những lời ấy nói về Xibiri, trước hết tôi nghe thấy lòng tự hào của Lômônôxốp về nhân dân mình. Trong thời kỳ lịch sử ấy trên thế giới không có dân tộc nào khác có thể gánh vác một sự nghiệp to lớn phi thường như việc chinh phục Xibiri. Để đi qua những không gian mênh mông hàng ngàn vecxta chưa được nghiên cứu, để không dừng lại trước muôn vàn khó khăn trên đường đi tới, chỉ có dũng khí, lòng can đảm và ngang tàng bởi thừa thãi táo bạo là chưa đủ. Điều chủ yếu cần phải có, - đó là sự nhận thức vai trò lịch sử, thấm nhuần chí khí cao cường của bao thế kỷ và quyết tâm làm tăng niềm vinh quang của Tổ quốc.

    Tôi quì gối trước người, con người Nga, dù anh có là ai đi nữa: người cầm đầu trẻ tuổi của một đám người thuộc dòng dõi vương bá, được cha đẻ sai phái rời bỏ các căn lều ấm cúng ra đi vì lợi lộc và chiến công, hay một mugích bình thường từ sông Đông, khát vọng tự do và số phận tốt đẹp hơn, hay thầy trợ tế sắc sảo viết đơn thỉnh nguyện theo yêu cầu của các tù trưởng và thủ lĩnh gửi lên Sa hoàng, trong những lá đơn ấy lộ rõ trí tuệ kiệt xuất của những người ghi chép biên niên sử sức mạnh Nga...

    «Sự hùng mạnh của nước Nga sẽ tăng lên nhờ có Xibiri»... Mikhain Lômônôxốp, luận thức ấy của người thật vĩ đại và lớn lao đối với khoa học! Bây giờ, trong những năm tháng xa xưa của người, người đã đoán định ra điều gì đấy qua cái nhìn tưởng tượng của người quay hướng về phương mặt trời mọc? Có lẽ là, người đã nhìn thấy Xibiri trước hết là mảnh đất chứa đựng những khả năng bao la cho công việc khai khoáng. Là cha đẻ của ngành luyện kim Nga, có thể, người là người duy nhất trong tất cả các nhà bác học của thời đại đó đã hiểu rõ sắt thép có ý nghĩa lớn lao chừng nào trong việc phồn thịnh của quốc gia Nga.

    Chắc chắn là những con sông Xibiri hùng vĩ làm người phải lưu ý không phải chỉ như những con đường lưu thông, mở lối ra tới đại dương, đến với các dân tộc khác trên trái đất, mà còn như những nguồn điện lực, có khả năng cải tạo hoang mạc và núi non theo mệnh lệnh của trí tuệ con người.

    Và tất nhiên là ngày đêm suy tư về sức mạnh và sự hùng hậu của nhân dân Nga, người đã không thể không coi Xibiri là khoáng địa thích hợp để di dân từ những vùng sâu trong lòng nước Nga đến đây. Đất đai canh tác và đất rừng của Xibiri quả thực là vô bờ vô bến. Với những đất đai ấy Tổ quốc chúng ta có được niềm hạnh phúc đáng thèm muốn mà các cường quốc khác không có được: dù số đầu người có lớn nhanh đến mức nào đi nữa thì mỗi người trong số ấy cả bây giờ, cả nhiều thế kỷ sau này nữa cũng sẽ có đủ ruộng đất để gieo trồng và hái lượm trái quả, và có đủ nước, vì nếu thiếu nước thì cả cây cối, cả lúa mạ đều không lớn lên được, cỏ không đâm chồi và mọi sinh vật đều sẽ biến mất và lụi chết.

    Trang thứ hai:

    Toàn bộ lãnh thổ Xibiri rộng lớn đều bị chia cắt bởi những con sông. Chúng là những con đường nội địa rất tốt, bởi vì ở một số tỉnh chiều dài các con sông vượt quá 35 - 40 ngàn vecxta.

    Các con sông cũng có thể tạo thành một con đường thông thương từ Âu sang Á và ngược lại.

    Khi việc vận chuyển bằng sức mạnh bắp thịt cả trên những con sông nhỏ bé nhất cũng được thay thế bằng sức mạnh cơ khí, thì thậm chí những địa điểm xa xôi nhất trên các lãnh thổ này cũng sẽ trở thành như gần gũi, có thể đến được tận nơi. Điều đó không thể không kéo theo sự sôi động trong các mối quan hệ giữa người với nhau và đem lại cho nhà nước thêm của cải mới.

    Lớp phủ băng nhiều tháng trời trên mặt sông và biển Xibiri sẽ làm xuất hiện một hạm đội phá băng hùng mạnh. Đúng hơn cả là Xibiri sẽ có lối ra biển qua Ênhixây - con đường ngắn nhất tới biển.

    Tất yếu là xung quanh các con sông Xibiri sẽ có các tuyến đường sắt. Trong số những tuyến đường sắt có thể xuất hiện trong thời gian sắp tới là đường sắt từ Tômxcơ đến Turukhanxcơ. Chính phủ Sa hoàng đáng ra từ lâu đã phải lắng nghe tiếng nói của các bác học Nga và phải cân nhắc cặn kẽ những mối lợi to lớn mà con đường này sẽ mang lại cho việc phát triển kinh tế của nước Nga.

    Trong tương lai, tất nhiên, con người không thể chịu qui phục sức mạnh tự nhiên. Trước hết sẽ đạt được việc vận tải đường thủy quanh năm qua cửa sông Ênhixây. Điều đó sẽ đạt được nhờ sự nâng cao nhiệt độ nước của Ênhixây qua việc xây dựng bậc thang hồ chứa nước Angara-Ênhixây và các công trình hâm nóng nước đặc biệt, sử dụng nguồn năng lượng của các con sông và mặt trời.

    Về mặt lý thuyết, vấn đề này ngay hôm nay cũng đã được chứng minh đầy đủ, còn điều liên quan đến việc giải quyết kỹ thuật của vấn đề ấy, thì đó là công việc của thế kỷ chúng ta.

    Không chút dao động, tôi tin rằng đến năm hai nghìn toàn bộ các vấn đề ấy sẽ được thực hiện trong cuộc sống.

    Trang thứ ba:

    Từ ba phía, như hình cái móng ngựa khổng lồ, miền hạ du Tây Xibiri được bao bọc bởi các hệ núi cổ sinh đại. Phía không bị cản của cái bát cực kỳ vĩ đại này của thế giới trông ra lòng sâu của Bắc Băng Dương. Miền hạ du này đáng kinh ngạc không chỉ bởi về mặt rộng lớn, mà cả bởi chiều sâu của những lớp trầm tích xốp của trung sinh đại và tân sinh đại.

    Xét từ quan điểm các tài liệu hiện đại về sự hiện diện của khoáng sản có ích trong lớp vỏ xốp dày này, thì miền hạ du Tây Xibiri là một hoang mạc. Tôi kiên quyết lên tiếng chống lại những ai có ý coi miền hạ du vĩ đại này là hoang mạc hoàn toàn không có những tặng vật cần thiết cho loài người. Tôi xin khẳng định điều ngược lại: miền hạ du là cái kho báu khổng lồ, và tôi không ngạc nhiên nếu như ngay trong cuộc sống các thế hệ đang sống, nó sẽ làm cho thế giới phải kinh ngạc vì khối lượng khổng lồ các dự trữ khoáng sản có ích.

    Trong công trình «Xibiri», sự nghiệp của cả cuộc đời tôi, tôi xin đưa ra những dẫn chứng làm sáng tỏ luận điểm này. Cũng ở đây tôi nhận xét điều sau: thậm chí chỉ nhìn qua lịch sử địa chất khu vực này của địa cầu cũng không thể không nhận ra những hệ núi non xuất hiện thời kỳ cổ sinh đại chứa đựng trong chúng số lượng nhiều vô kể mỏ kim khoáng đủ loại. Trong vòng vài trăm triệu năm các hệ núi non đã bị phá hủy. Nhờ những dòng nước chảy, khối đất xốp cùng với các kim loại trong dạng những phần tử nhỏ bé và các dung dịch đã lắng đọng ở rốn chỗ võng. Và ở chỗ nào đó tại đây các kim loại đã trầm tích, tạo thành các khu mỏ.

    Đáy cổ sinh đại của rốn khổng lồ ở chỗ võng dao động, khi dâng lên cao, khi hạ xuống thấp, và biển từ phía bắc, khi xô lấn, khi rút lui. Cứ như vậy trong suốt cả trung sinh đại và đầu tân sinh đại. Các quá trình này phải kéo dài hàng chục và hàng trăm triệu năm.

    Cần nhấn mạnh một cách cơ bản: ở các biển nông đã có một cuộc sống hữu cơ phong phú. Các trầm tích hữu cơ, chôn vùi trong khối khoáng thạch, tất nhiên, phải tạo ra sự tích tụ sản phẩm dầu mỏ và khí đốt. Điều đó tôi không hề nghi ngờ gì, mặc dù tôi thấy rất rõ ràng, chỉ một mong muốn khám phá ra cái kho báu khổng lồ ấy chưa đủ.

    Tôi cũng lại trông cậy vào thế kỷ hai mươi và tin tưởng rằng không một sự rồ dại nào của các hoàng đế và các Sa hoàng, các chúa tể cũng như các độc tài, ghìm giữ được bước phát triển của khoa học kỹ thuật. Tôi chỉ đau xót nghĩ rằng: cuộc sống của con người ta quả là ngắn ngủi, đến mức tôi không được trải qua những giây phút toàn thắng của tư tưởng con người đối với nhiều điều bí mật hiện nay của vũ trụ.

    Trang thứ tư:

    Những khoảng rộng thảo nguyên miền nam Tây Xibiri với các lớp thổ nhưỡng đất đen và đất tro xám tạo thành những kho tàng khổng lồ cho công việc canh tác nông nghiệp. Thậm chí trí óc ta khó lường được hết là thiên nhiên đã dâng cho người Nga một tặng vật như thế nào, khi đem cho anh ta một vốn của cải như vậy. Khoa học canh nông có nhiệm vụ mở ra trước người mugích Xibiri những khả năng rộng lớn nâng cao năng suất của đất đai cày cấy. Nhưng dù đất cày Xibiri có giầu có đến đâu đi nữa, cả chúng cũng đòi hỏi phải săn sóc đến chúng. Việc cải tạo đất, phân hữu cơ và phân khoáng - là những điều kiện thiết yếu để nâng cao độ phì nhiêu của đất ruộng Xibiri.

    Việc canh tác Xibiri có những người đồng hành thuận lợi. Tôi muốn nói tới không chỉ sự dồi dào rừng và nước, mà cả những hợp phần như các khoáng thạch nông nghiệp và các đồng than bùn. Nếu sử dụng chúng một cách đúng đắn, thì việc canh tác chẳng sợ gì sự xói mòn đất do nước và gió. Việc đất bị mất vôi, cũng như việc đất bị chua, có thể điều chỉnh một cách có hiệu quả nhờ các yếu tố ấy của đất.

    Tuy nhiên việc canh tác cũng có những mối nguy hiểm của nó, cần phải nhìn thấy ngay từ bây giờ: đất trồng tỉa chuyển dịch dần lên phía bắc, việc đó là do sự xâm nhập vào địa phận của rừng rú. Việc ấy có căn cớ chăng? Đất rừng đòi hỏi đầu tư lao động và vật tư lớn vào việc duy trì năng suất của ruộng đất.

    Tôi dành cả một tập đặc biệt cho rừng, ở đây tôi chỉ phát biểu một ý kiến, khoa học rừng đã nhận xét là sự tăng thêm hàng năm của gỗ, thí dụ, ở Tây Xibiri, không kém hơn cũng trong những vĩ độ như vậy ở Âu phần của nước Nga, mặc dù nhiệt độ ở đây thấp hơn nhiều. Có lẽ, điều đó là do ở Tây Xibiri có lớp tuyết phủ dày hơn. Kinh tế lâm nghiệp ở Xibiri cần được xây dựng theo nguyên tắc quay vòng vĩnh viễn với chu kỳ 50 - 70 năm.

    Tặng vật thật kỳ lạ của thiên nhiên - đó là các rừng tuyết tùng của Xibiri. Tuyết tùng, loại cây có quả, nguồn nuôi sống thế giới động vật của rừng taiga Xibiri, ra quả hàng trăm năm. Mối lợi kinh tế dị thường là phải giữ gìn và phát triển thứ cây ấy. Nghĩa vụ thiêng liêng của các thế hệ tương lai - ít ra là mở rộng gấp ba lần diện tích rừng tuyết tùng Xibiri.

    Trang thứ năm:

    Các vật khai quật được ở trên lãnh thổ Xibiri chứng tỏ rằng con người đã sinh sống ở đây từ thuở cổ xưa của thời đại đồ đá cũ và trong tất cả các thời đại về sau của lịch sử con người. Có vô số những gò mộ và những nơi chôn cất khác. Và mặc dù một phần khá lớn những gò mộ và nơi chôn cất như vậy đã bị cướp phá từ những thế kỷ trước, các gò mộ không chỉ là những báu vật lịch sử, mà còn là những kho của cải quí mà khối lượng của chúng không ai dám liều đánh giá dù chỉ là ước chừng. Một điều không thể tranh cãi và rõ ràng là: những báu vật ấy là tài sản nhà nước của nhân dân Nga.

    Cùng với việc cho phép tư bản ngoại quốc đến khai thác hầm mỏ ở Tây Antai (Ritđer), bọn phiêu lưu và kẻ cướp quốc tế săn lùng những báu vật cổ, cũng kéo theo đến đó, những kẻ ấy đã gây biết bao nhiêu thiệt thòi mất mát cho các dân tộc và các đất nước khác rồi. Đã có tin là những con lang thèm khát làm giàu đang mò mẫm ở khắp các thung lũng vùng núi Antai, tìm đến các gò mộ và đầy lòng ham muốn đánh cắp tài sản quốc gia của chúng ta. Người ta nói rằng thậm chí trong số các nhà bác học cũng có thể gặp những tên quái thai vô đạo như vậy, những kẻ tiếp tay cho việc cướp bóc kia. Sự phản bội, không thể tìm đâu sánh được! Thật là nhục nhã!

    Lòng tôi buồn bã và đau đớn: đâu là cái chính quyền có thể chặn đứng được cuộc cướp bóc chưa từng có ấy?!

    Trang thứ sáu:

    Tôi càng suy nghĩ nhiều, rất nhiều: ai, tầng lớp xã hội nào có khả năng vực dậy những lực lượng sản xuất của Xibiri, thổi cuộc sống và hoạt động vào những đất đai rộng lớn của nó, thực sự thực hiện lời di huấn thiên tài của Mikhain Lômônôxốp: «Sự hùng mạnh của nước Nga sẽ tăng lên nhờ có Xibiri»?!

    Tôi trằn trọc và đau đớn vì những suy tư và dù có phỏng tính như thế nào đi nữa, tôi vẫn chỉ thấy có một lực lượng có khả năng đảm nhiệm công việc khổng lổ này - đó là đảng của những người bônsêvích dân chủ xã hội. Để làm việc ấy đảng này có cả trí tuệ, cả lòng dũng cảm, cả sự can đảm, và cỗi rễ của nó ăn sâu trong nhân dân, vì thế tương lai thuộc về nó.

    Trên lề trang giấy có ghi chú: «Này chú bé đáng yêu Ivan, đừng có tưởng là cháu đã thuyết phục ta tiếp nhận chính kiến của cháu. Chính ta đã tự đi được tới chính kiến ấy: đạt được tới bằng chính trí óc của ta».

    Trang thứ bảy:

    Tổ quốc của tôi đang đứng trước những chấn động xã hội. Giông tố vừa sẽ phá hủy vừa sẽ tạo ra những điều kiện cho cái sức lực mới lớn lên. Ngay cả ở những vùng bị tàn phá, rừng cũng mọc lên rậm hơn và cứng cáp hơn. Chúng ta sẽ không sợ cơn giông tố này. Cứ để nó kéo qua, như con rồng cuốn. Nếu không đất đai quê hương không sạch hết rác rưởi bẩn thỉu. Nếu không những kẻ bất tài - những kẻ vô lại và mạo nhận - sẽ tiếp tục chà đạp nhân dân tôi, nhạo báng tâm hồn vĩ đại và cao đẹp của nhân dân tôi, kìm giữ những khí thế cao quí của nhân dân tôi, bóp nghẹt những chí hướng cao cả của nhân dân tôi.

    Không, chúng ta không sợ cơn giông tố!

    *

    Akimốp đọc hết các phác thảo của Likhatsiốp và đứng dậy, sửng sốt, Anh đứng đó không rời mắt khỏi những trang giấy nhàu nhịt, và anh có cảm giác là anh nghe thấy tiếng nói oang oang, sảng khoái của ông chú:

    - Về Nga! Về nước Nga! Hạnh phúc của chúng ta là ở đó, Ivan ạ!

    «Hai tuần, nhiều nhất là một tháng, ta sẽ ở lại đây và, xếp dọn tất cả các giấy tờ đâu vào đấy, ta sẽ lao trở về nhà, bằng bất cứ giá nào, vượt qua mọi trở ngại và gian truân», - Akimốp suy nghĩ.

    ...Trong những giây phút ấy anh còn chưa biết được rằng ở giữa lòng sâu của lịch sử đang chín muồi cái tin mà chẳng bao lâu sau vang lên trên khắp hoàn cầu:

    - Nền quân chủ ở Nga đã bị lật đổ. Cuộc cách mạng mới của nước Nga đã bắt đầu.

    Chú Thích:

    [1] Đơn vị đo chiều dài cũ ở Nga, 1 vecxta ngang với 1,06km - ND.

    [2] Phate (Vater) theo tiếng Đức là bố. - ND

    [3] Xagiên: đơn vị đo chiều dài cũ ở Nga, ngang với 2,134m – ND.

    [4] Ácsin: đơn vị đo chiều dài cũ ở Nga, bằng 0,71 m. Một xagiên bằng ba ácsin - ND.

    [5] Granhít là đá hoa cương – ND.

    [6] Pút: đơn vị đo trọng lượng cũ ở Nga, bằng 16,38 kg. - ND.

    [7] Phuntơ: Đơn vị trọng lượng cũ ở Nga, bằng 409,5 gam. Một pút bằng 40 phuntơ – ND.

    [8] Robespierre (1758 - 1794) nhà hoạt động cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ XVIII, thực chất là thủ lĩnh chính phủ cách mạng Giacôbanh. - ND.

    [9] Những người quý tộc tham gia cuộc khởi nghĩa tháng Chạp năm 1825 chống chế độ Sa hoàng và chế độ nông nô. – ND.

    [10] Trường cao đẳng nữ, được thành lập ở Pêtêrburg năm 1878, trường mang tên người đứng đầu là C.N. Bêxtugiép – Riumin - ND.

    [11] Chỉ cuộc khởi nghĩa vũ trang tháng Chạp năm 1905 ở Mátxcơva. — ND.

    [12] Vecsóc: đơn vị đo chiều dài cũ ở Nga bằng 4,4 cm. — ND.

    [13] Ý nói xúp ngon quá, làm cho người ta thèm đến mức nuốt mất cả lưỡi mình. - ND.

    [14] Xtêpan Radin là một lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa nông dân ở Nga vào năm 1670 - 1671. - ND.

    [15] Dù là chữ «o» hay chữ «a» thì ở đây vẫn đọc là «a» cả, vì nếu không có trọng âm thì vần «Kan» và «Kon» phát âm như nhau. - ND.

    [16] Rôxômakha (Росомаха – chồn sói): một loại dã thú có lông quý ở miền bắc. – ND.

    [17] Phản treo cao sát trần sau bếp lò và bức tường đối diện. - ND

    [18] Kibaxia - kibax - hòn đá khâu vào vỏ cây bạch dương. Được sử dụng làm vật nặng kéo lưới chìm xuống đáy sông. - Chú thích của tác giả.

    [19] Metsnicốp Ilia Ilích (1845 - 1916) — nhà sinh vật học Nga, một trong những người đặt nền móng khoa bệnh lý học so sánh, phôi thai học tiến hóa, vi sinh vật học và miễn dịch học. — ND.

    [20] Timiriadép Kliment Arkađievích (1843 - 1920) — nhà tự nhiên học theo phái Đácuyn, một trong những người đặt nền móng trường phái sinh lý thực vật ở Nga. — ND.

    [21] Có nghĩa là cực kỳ cay đắng. — ND.

    Hết.

    Nguồn: Xibiri. Tiểu thuyết của Georgy Mokeyevich Markov (Ghêorghi Markốp). Người dịch: Chu Nga và Thúy Toàn. Nhà xuất bản Cầu vồng. Mátxcơva, 1984: in tại Liên Xô theo bản dịch của Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hà Nội.

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập37,156,761

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/