Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập35,895,122

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

VN. Mafia - Sóng lừng

Triệu Xuân

  • Thứ hai, 10:39 Ngày 15/06/2020
  • VN. Mafia - Sóng lừng

    Lại công việc quen thuộc: phụ trách trại giam. Đôn làm việc này cho đến chiến dịch Mậu Thân thì được giao công tác tiếp đón người của biệt động nội thành đưa ra. Năm một chín bảy hai, Đôn đã bốn mươi tư tuổi, móc nối được cô em út của vợ từ Sài Gòn lên căn cứ. Cô này tên Phụng, đẹp hơn chị Hai Loan tức vợ Đôn rất nhiều. Tất nhiên, vì Phụng còn trẻ, mới ba mươi tuổi. Một năm đầu, Phụng chỉ được anh rể cho làm cấp dưỡng. Nhưng đến năm bảy mươi ba, khi Hiệp định Paris được ký kết thì Phụng trực tiếp làm công việc cùng với Đôn. Từ đó, nhiều chiến sĩ biệt động bị địch bắt ngay tại nhà mình. Nhiều trận đánh được chuẩn bị rất chu đáo, nhưng gần đến giờ G thì bị lộ. Ngay cả căn cứ cũng bị ném bom, phải di chuyển hai ba lần. Không tìm được nguyên nhân. Không ai biết vì sao. Cũng như không ai biết được Phụng đã ăn ở với Đôn như vợ chồng. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Phụng đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản, tất nhiên, do Đôn giới thiệu. Sài Gòn giải phóng, vợ con Đôn vô Sài Gòn. Vợ Đôn nhận ra mối quan hệ tội lỗi của chồng với cô em út, nhưng bị Đôn áp chế, chị chỉ biết âm thầm chịu đựng đau khổ. Đôn ngày càng khi rẻ vợ. Lúc này Đôn đã là trung tá, được đi nước ngoài hai ba chuyến tu nghiệp và tham quan. Đôn đã có vây cánh. Đôn tin một cách chắc chắn rằng mình sẽ còn được thăng tiến vù vù.

    Nhưng… trớ trêu thay. Bốn năm sau ngày Sài Gòn giải phóng, tài liệu lưu trữ của cơ quan tình báo CIA đã hại Đôn. Trong một tấm ảnh cỡ 9cmx12cm chụp lễ chào cờ tại trung tâm huấn luyện “Phượng Hoàng”, người ta đã phát hiện ra gương mặt cô Phụng. Tài liệu gốc của CIA ghi rõ: Phụng với bí số A126 được tuyển vào đội quân Thiên Nga. Đội quân này có nhiệm vụ đánh phá Cộng sản từ trong đánh ra và phục vụ kế hoạch hậu chiến. Phát hiện về Phụng được báo cáo lên trên, Phụng sẽ bị bắt vào đầu giờ làm việc ngày hôm sau. Đại tá Đôn được bí mật thông báo sự kiện này. Và Đôn ra tay. Phụng không hề bị bắt. Bởi vì ngay tối hôm đó, sau khi nhận được cú điện thoại của Đôn gọi từ một nhà hàng mời Phụng đi ăn tối như thường lệ, Phụng ra khỏi nhà. Trong khi băng qua đường để kêu xích lô, như thói quen của cô mỗi lần đi chơi với Đôn, thì cô bị một chiếc xe tải cán bể sọ, chết ngay tức khắc.

    Chuyện đó xảy sau khi đại tá Đôn chuyển gia đình đến tư dinh của nhà tư sản vừa đi xuất cảnh hợp pháp được nửa năm trời. Công an Việt Nam đã từng đánh bại cả Phòng Nhì lẫn CIA, đâu phải con nít. Cái chết của Phụng được người ta xem như màn kịch nhằm bịt đầu mối… Nghĩa là… có ý kiến cho rằng Đôn “có vấn đề”. Không thể hiểu được những gì đã xảy ra cho Đôn. Chỉ biết rằng đó là thời kỳ đầy căng thẳng cho một kẻ hãnh tiến luôn luôn có khát vọng làm thủ trưởng, làm ông chủ, quyền lực giàu có. Người ta đòi truy tố Đôn. Thế nhưng, vào phút chót, Người-Diễn-Thuyết ở phiên chợ huyện năm xưa lại ra tay cứu độ. Tám Đôn được chuyển qua công tác khác, không còn ở vị trí “quyền sinh sát” như trước nữa.

    Sau cái chết đầy uẩn khúc của cô em út, bà Loan lâm bệnh trầm trọng. Căn bệnh này sẽ bám lấy bà cho đến cuối đời chăng? Bà bị bệnh tâm thần. Mỗi khi lên cơn, bà toàn nói chuyện ai đó giết người thuê, ai đó thuê người ta giết người. Nghe cứ rợn cả người. Ông Đôn đưa vợ vào nhà thương điên. Và thế là xong! Ở nhà, ông tiếp tục hái ra tiền ở cương vị mới, tiếp tục chơi bời và… đặc biệt là dành nhiều thời giờ đi sưu tập tiền cũ. Tại hẻm Bướm Vàng, Tám Đôn trở thành đối thủ của Tiền khi cả hai đều muốn mua bằng được bộ sưu tập tiền cũ của dịch giả ghiền xì ke.

    Giống như một cuộc đấu giá, bộ sưu tập đáng giá hai cây vàng đã bị hai kẻ đam mê và ganh nhau đẩy lên ba cây. Người thắng cuộc là Tám Đôn, chịu mua với giá ba cây rưỡi. Vậy mà khi bộ sưu tập đã được Tám Đôn mang lên xe hơi rồi, Tiền vụt nói:

    - Thưa ông! Tôi xin trả bốn cây để được làm chủ bộ sưu tập!

    Giọng nằng nặc khó nghe, đáp lại Tiền:

    - Này, ngông cũng ngông có độ, có hạn. Chú mày ngông quá có ngày chết!

    - Nếu ông không chịu, tôi trả ông… bốn cây rưỡi!

    - Khùng!

    - Năm cây! - Mặt Tiền như co rúm lại, năn nỉ thiểu não.

    Cửa xe đóng sập lại. Tám Đôn ra hiệu cho tài xế. Tiền nắm lấy tay Tám Đôn:

    - Sáu cây!

    - Trời đất! Chắc thằng này điên. Nào! Lên đây!

    Tiền run bắn người. Tính chọc lão già cho vui, ai dè lão bằng lòng. Vàng đâu mà trả? Bà giám đốc điên cỡ nào cũng không thể bỏ ra ngần ấy vàng.

    Cửa xe mở ra. Tám Đôn ra hiệu cho Tiền lên xe.

    - Tao cho chú mày lên xe để khoe bộ sưu tập của tao. Còn thứ này, tao vì ngông mà mua với giá đó, chớ nó đâu có đáng cao giá vậy. Chú mày thích, tao để lại cho bằng giá vốn đó.

    - Dạ, tôi không dám. Làm vậy là xúc phạm đến ông!

    Tám Đôn khoe với Tiền bộ sưu tập mà Đôn thích nhất, đi đâu cũng mang theo kè kè. Tiền xem rất chăm chú. Tiền như quên mất cả chính mình, thân phận của mình. Chợt Tiền dừng lại ở bộ sưu tập ông ta vừa mua:

    - Trời đất! Nó đây rồi! - Tiền hét lên.

    - Cái gì?

    - Đúng rồi, ký hiệu của John đây rồi!

    - Cái gì? Tại sao chú mày tái mét đi như sắp chết?

    Tiền dùng kính lúp soi thật kỹ ở mặt sau của đồng tiền thời nhà Trần. Nét khắc chữ J không thể nhầm lẫn. Đủ bộ năm chục đồng tiền cổ mà John đã tặng cho Tiền khi nhập ngũ. Tất cả đều là của giả! Là phiên bản. Bộ sưu tập này John chỉ thuê làm một bản giả, và đem tặng Tiền. Quí là quí ở chỗ đó. Tuy giả nhưng như thật. Đố kẻ nào phát hiện ra trừ khi dùng đồng vị phóng xạ. Năm bảy mươi lăm, Tiền đã bán bộ sưu tập giả này để lấy mười lăm ngàn đồng, đủ sống lay lắt trong vòng hai tuần lễ. Trái đất tròn, bây giờ gặp lại nó. Tiền kể đầu đuôi câu chuyện cho Tám Đôn nghe. Đôn lặng người không nói được câu nào. Phải mười phút sau, Đôn mới rít lên:

    - Đồ chó đẻ! Tao chưa hề bị thằng nào lừa, mà nay để cho một thằng xì ke nó lừa!

    - Xin ông bớt nóng. Tôi biết là ông xót của. Nhưng thử hỏi, trên khắp đất nước này ai có được bộ sưu tập tiền Việt cổ đầy đủ như ông?

    Đôn lại rít lên:

    - Nhưng là đồ dỏm! Đồ dỏm! Vậy mà… chú mày còn đòi trả cho tao sáu cây! Đó, ôm đi, tao chỉ cần sáu chỉ!

    - Ấy! Xin ông chớ vội vàng. Nếu gặp khách ngoại quốc, ông sẽ có cả vài ngàn đôla! Bất kỳ ai cho dù sành đồ cổ cách mấy, cũng không thể phát hiện.

    - Chú mày câm ngay! Tao là đại tá Đôn, hiểu không? Tao đâu có khùng mà chịu mất ba cây rưỡi vàng để ôm về thứ dỏm? Tiền phải đẻ ra tiền! Đây đâu phải là thứ đam mê vớ vẩn! Tao chơi tiền cổ để sau này hốt bạc triệu. Triệu đôla chứ không phải thứ bạc giấy lộn ở xứ này! Mày hiểu chứ! Tao - tao không cho phép bất cứ đứa nào gạt tao. Chú mày coi đây! Tao sẽ cho còng đầu thằng xì ke đó, bắt nó nôn ra đủ số vàng cho tao!

    Những âm về sau, Đôn gầm lên thì đúng hơn là nói. Đôn ra hiệu cho lái xe. Nhanh như cắt, Tiền lao ra khỏi xe Đôn. Tai bay vạ gió! Chuồn là thượng sách. Biết đâu, lão lại chẳng khép mình vào tội cò mồi, đồng bọn với tên lường gạt.

    Cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Tiền và đại tá Đôn là như thế. Cả hai, không ai ngờ được rằng, bảy năm sau cuộc gặp gỡ trời xui đất khiến đó, họ lại tìm đến nhau, lợi dụng nhau, cùng chung mục đích là tiền. Có tiền là coi như có thể bỏ túi cả thế giới.

    Về phần dịch giả nọ, sau khi bán bộ sưu tập được ba cây rưỡi, chàng ta trả nợ cho chủ tiệm chích tại hẻm Bướm Vàng hết nửa cây, tự tay chàng đốt cuốn sổ nợ. Hôm đó là ngày chàng chích xả láng. Từ lúc bán được bộ sưu tập đến đêm khuya, khi chàng rời ổ chích, chàng đã chơi cả thảy bốn cữ, mỗi cữ ba xê đúp(1) .

    Sớm ngày hôm sau, một nữ công nhân vệ sinh trông coi khu vực công viên Gia Long đã phát hiện ra chàng dịch giả nằm dưới gầm ghế đá. Ở cổ chàng còn hằn rõ vết bầm của sợi dây siết cổ. Chàng dịch giả ghiền xì ke chết không phải vì đói thuốc mà vì ba cây vàng trong túi mình.

    CHƯƠNG HAI

    N

    hững chiến sĩ biệt động từng tiếp xúc và làm việc với Tám Đôn, hiện còn sống không nhiều. Chỉ riêng chiến dịch Phượng Hoàng mà Út Phụng là con chim phượng nguy hiểm, đã cướp đi bao nhiêu chiến sĩ ưu tú. Trong số những người còn sống có Ba Hoành và Lữ. Giải phóng, Tám Đôn được phong quân hàm trung tá, Ba Hoành: đại úy, Lữ: thiếu úy. Lữ biết chuyện dan díu giữa Phụng và Đôn từ khi còn ở trên rừng. Nhưng Lữ là người kín tiếng. Lữ biết, Đôn là người sắt máu! Mất mạng như chơi. Trước khi Út Phụng bị phát giác là CIA ít lâu, trong một buổi trưa, tình cờ Lữ chứng kiến cảnh Đôn và Phụng đang làm tình tại xa lông ngay phòng làm việc. Vì có việc phải báo cáo gấp, Lữ đến gặp Tám Đôn. Anh đã buột miệng hỏi “Anh Tám có nhà không?” trước khi đẩy cửa bước vào. Cánh cửa không được gài chốt đã hại Lữ. Ngay chiều hôm đó, sau giờ làm việc, Tám Đôn gặp Lữ: “Chú mày nhớ nguyên tắc của anh nghe. Có mồm thì cắp, có nắp thì đậy! Chớ có dại dột”. Không ngờ, đó là cái chết đã được báo trước cho Lữ.

    Út Phụng bị xe tải cán chết vài ngày thì Lữ bị bắn chết vì tội “cướp tàu công an để tổ chức vượt biên”. Lúc đó, cuộc điều tra về Phụng đang tiếp diễn. Trên tàu có bốn chục người ra đi theo phương án “bán chính thức”. Mỗi người phải nộp năm cây vàng, phải để lại nguyên vẹn nhà cửa và tài sản mới được ra đi. Thiếu úy Lữ đang làm nhiệm vụ gìn giữ trật tự dưới tàu và kiểm tra lại danh sách người ra đi - như những chuyến trước - đó là nhiệm vụ của anh, đột nhiên có tiếng hô của thượng sĩ Thái:

    - Lữ! Mày là tên phản bội. Mày chủ mưu cướp tàu đưa người vượt biên! Giơ tay lên!

    Lữ và tất cả bốn chục người trong tàu ớ ra, chưa kịp hiểu và phản ứng thì súng nổ. Mười hai viên đạn AK. Lữ chết gục trên sàn tàu, hai tay cầm bản danh sách. Súng của Lữ vẫn ở trong bao.

    Hồ sơ về vụ Lữ cướp tàu đưa người vượt biên do Ba Hoành lập và trung tá Đôn ký để gửi lên trên ghi rõ: “Thiếu úy Lữ, khi bị phát hiện, đã dùng súng ngắn chống cự, cho nên người đến bắt Lữ buộc lòng phải nổ súng”! Lữ có vợ là cô giáo Mai, mới cưới được hai tháng. Mẹ Lữ và Mai, sau đó bị bắt, bị hỏi cung. Cô giáo Mai bị buộc thôi việc. Bốn chục người trong chuyến tàu “bán chính thức” ấy bị bắt và bị hỏi cung. Trong hồ sơ ghi rằng: “Lời khai thống nhất Lữ âm mưu cướp tàu đưa người vượt biên và đã thu của mỗi người năm cây vàng”!

    Sau khi “tên phản bội” bị trừng trị, thượng sĩ Thái được phong quân hàm thiếu úy. Ba Hoành được phong thiếu tá, giữ chức trưởng phòng. Đôn được phong đại tá và được đi nước ngoài. Cuộc điều tra về Út Phụng đã kết thúc. Mọi việc đã tưởng thế là êm. Thế nhưng… có một lá thư của thiếu úy Lữ đến được tay người bạn chí cốt của anh là thiếu úy Lê Dung. Dung đang học ở nước ngoài. Dung và Lữ là bạn thân của nhau từ khi hai người cùng học tiểu học. Lớn lên, Dung bị bắt lính, còn Lữ trốn lính, trở thành biệt động nội thành. Khi Ba Hoành được Dung cứu, Hoành đã giao cho Lữ nhiệm vụ móc nối Dung trở thành cơ sở của ta. Tình bạn của Dung và Lữ ngày càng khắng khít. Họ coi nhau như anh em ruột thịt. Trong lá thư cuối cùng của Lữ mà Dung nhận được, Lữ kể hai chuyện. Thứ nhất là chuyện Út Phụng, một điệp viên vừa được phát giác thì bị xe cán chết. Thứ hai là chuyện những người ra đi “bán chính thức” bị trấn lột lần thứ hai, trước khi lên tàu tại một hòn đảo nhỏ. Điều đau lòng nhất là Lữ nhận ra nhiều xác người trôi vào bờ sau khi tàu đưa họ nhổ neo được hai ngày: Tàu bằng gỗ đã mục hoặc cố ý để cho chìm! Cả hai chuyện này Lữ đều báo cáo với Ba Hoành nhưng đều bị Ba Hoành gạt đi. Lữ viết: “Đau lòng lắm Dung à. Mình không ăn, không ngủ được. Đêm đêm, hình ảnh những người mình đã làm thủ tục cho họ xuống tàu để ra đảo, chuyển sang tàu lớn, cứ hiện về tra vấn mình. Một cô gái hét vào mặt mình: “Quân dã man! Đồ mặt người dạ sói! Miệng thì nói nhân đạo mà tay thì trấn lột, cưỡng hiếp! Trời sẽ trừ diệt chúng mầy!”. Dung ơi! Mình không rõ chủ trương cho người đi “bán công khai”, thu mỗi người năm cây là của ai đề ra? Có phải chủ trương của Đảng và Nhà nước không? Chắc chắn là không. Liệu Nhà nước có được một chỉ vàng nào trong số năm cây đó không? Chắc chắn là không rồi, Dung à! Mình là lính, lời nói ra chẳng ai thèm nghe. Không khéo lại bị kiểm điểm thì khốn… Mình mong Dung học xong, về nước, có lẽ bạn sẽ giúp mình được nhiều. Lương tâm mình đang đầy đau khổ!”.

    Giá như Lê Dung biết được rằng thiếu úy Lữ gửi thư cho mình được hai ngày thì bị sát hại, hẳn anh sẽ đủ tỉnh táo, cảnh giác để không đem chuyện này hỏi Tám Đôn. Nhưng anh đâu có biết rằng bạn anh đã hy sinh. Khi Tám Đôn đi nước ngoài tham quan, đã đến thăm học viện nơi Dung đang theo học. Dung đem chuyện Lữ viết trong thư hỏi Tám Đôn. Tám Đôn trừng mắt báo cho Dung tin sét đánh: “Nó là một tên phản quốc”. Tám Đôn truy đòi bức thư. Lê Dung nói là mất rồi. Tám Đôn dọa: “Đồng chí muốn học xong chương trình đại học ở đây hay là muốn bị gọi về nước thì tùy. Tổ chức luôn luôn theo dõi việc học hành và tư tưởng của đồng chí. Kẻ thù đang đánh phá ta ở mọi nơi, mọi lúc. Coi chừng đồng chí mắc mưu của chúng rồi đấy”. Có thể bạn đọc thân mến của tôi sẽ trách chê Lê Dung là non kém về nghề nghiệp. Không, nếu trách chê vậy thì oan cho anh. Không phải sự non kém nghề nghiệp; mà chính là lòng tin! Lòng tin son sắt vào sự trong sáng, vẹn toàn của những đảng viên lãnh đạo, đảng viên cấp trên, đã khiến Lê Dung đem chuyện đó ra hỏi Tám Đôn. Dung không ngờ rằng từ giờ phút đó, anh đã có tên trong sổ đen của Đôn.

    Con người ta, ai mà không có lúc ấu trĩ, khờ khạo. Nhưng rất may là Dung không mù quáng. Lương tâm anh không cho phép anh quên đi hình ảnh của thằng bạn thân, hiền lành, chất phác, lập nhiều chiến công. Và rất may là vợ thiếu úy Lữ, cô giáo Mai không phản bội chồng, không hèn nhát đầu hàng. Mai đã thắt khăn tang, đội bát nhang đi thưa kiện khắp nơi. Việc làm này sẽ kéo dài suốt chín năm trời. Mãi tám năm sau mới đến được các vị lãnh đạo cao nhất nước. Và phải một năm sau đó, tức là tròn mười năm, thiếu úy Lữ mới được tòa tối cao minh oan. Nhưng đó là chuyện về sau. Ở thời điểm này, cô giáo Mai đã viết thư cho Dung. Đọc thư, Dung càng tin rằng bạn mình không phản quốc. Dung tự đặt nhiệm vụ cho mình: phải làm rõ vụ án này. Sau những lời dọa nạt của Tám Đôn, Lê Dung đã khôn ngoan hơn. Anh không thể đặt lòng tin nhầm chỗ. Sự ngờ nghệch sẽ bắt anh phải trả giá đắt.

    Khi Dung về nước thì đại tá Đôn không còn ở ngành công an nữa. Đôn bị buộc ra khỏi ngành công an. Nhưng Tám Đôn nói rằng: Cấp trên giao cho ông nhiệm vụ mới! Làm kinh tế! Tám Đôn làm Phó Tổng giám đốc Liên hiệp Vận tải phụ trách công tác bảo vệ. Người mới về, lép vế. Ông Tổng Giám đốc sắp về hưu. Phó Tổng giám đốc thứ nhất là một tay có bằng phó tiến sĩ. Nếu có hắn thì tất yếu Đôn sẽ khó bề ngoi lên cái ghế Tổng Giám đốc. Tám Đôn quyết định phải hất tay này. Từ ngày làm trại trưởng trại giam thời chống Pháp, Tám Đôn đã biết dùng thủ đoạn: ra tay cứu người để rồi dùng người đó làm tay sai. Tám Đôn xác định: phải hất tay phó tiến sĩ ra khỏi cái ghế phó tổng, nhưng sẽ cứu hắn… để dùng hắn đánh phá những thằng nào tranh giành quyền lực với ông. Quả nhiên, Tám Đôn đạt được ý đồ. Ông thí đi một cô nhân tình, dùng cô ta làm mỹ nhân kế. Phó tiến sĩ cắn câu. Đây là cô gái rất đẹp, rất giàu nhờ nghề móc nối tổ chức vượt biên bằng phương tiện của Liên hiệp Vận tải. Ngay từ khi chưa chuyển qua đây, Tám Đôn đã chỉ đạo đường dây này. Tất nhiên, dưới danh nghĩa là “đánh” người của ta ra nước ngoài hoạt động. Kết quả là sau ba tháng, ông phó tiến sĩ bị cách chức phó tổng. Nhưng Tám Đôn kiên quyết phản đối việc đảng bộ định khai trừ ông phó tiến sĩ ra khỏi Đảng. Với những lý lẽ và với sự đảm bảo của một đại tá công an, ông đã thành công! Từ đó, ông phó tiến sĩ trở thành chuyên viên dưới quyền Tám Đôn, mang ơn Tám Đôn suốt đời.

    Tám Đôn trở thành Phó tổng thứ nhất phụ trách công tác tổ chức và bảo vệ!

    Liên hiệp Vận tải có tới sáu ngàn công nhân bốc xếp; một đội tàu biển, tàu sông và đoàn xe vận tải hạng nặng. Tám Đôn biết đây là miếng đất màu mỡ, hốt bạc. Ông tiếp tục tấn công đồng thời trên hai mặt trận: mặt trận quyền lực, mặt trận... tiền và vàng. Mặt trận trước phục vụ cho mặt trận sau. Nghĩa là dùng phương tiện để đạt tới mục đích.

    Đối với sáu ngàn cán bộ công nhân trong Liên hiệp, Tám Đôn là một người sởi lởi, luôn quan tâm đến người khác, biết lắng nghe. Bằng những thủ đoạn mị dân, ông muốn quần chúng ở đây tin rằng: Trong ban lãnh đạo Liên hiệp, duy nhất có ông là người bênh vực, chăm lo quyền lợi cho họ. Trong hoàn cảnh lương của một công nhân bốc vác không đủ nuôi bản thân người đó, thì kẻ nào mị dân giỏi, kẻ ấy được lòng mọi người. Làm như tất cả sự đói nghèo, túng thiếu, năng suất thấp, tiền lương thấp, trộm cướp, ăn cắp… là do nhà nước đẻ ra, còn những người lãnh đạo như ông - Tám Đôn - không có trách nhiệm gì. Nếu quyền lãnh đạo vào tay ông, mọi chuyện sẽ khác.

    Mị dân là thuộc tính của những kẻ có quyền lực mà bất tài, vô học.

    Thế nhưng, Tám Đôn lại là người biết che đậy rất tài khía cạnh bất tài của mình.

    Trong ban lãnh đạo Liên hiệp lúc này, Tám Đôn như là người giương ngọn cờ đoàn kết. Sau khi ông phó tiến sĩ mắc mỹ nhân kế bị cách chức, người ta điều Nguyễn Thanh, Giám đốc một xí nghiệp về làm Phó Tổng giám đốc phụ trách sản xuất. Bởi vì nếu không thì ông Tổng Giám đốc chẳng biết xoay sở bằng cách nào trong khi tuổi về hưu của ông còn những một năm nữa mới đến hạn. Anh chàng Thanh, Phó tổng mới này nhỏ hơn Tám Đôn cả chục tuổi. Mặc dù cũng có bằng phó tiến sĩ, nhưng xem ra Thanh không phải là đối thủ tranh ghế tổng giám đốc của Tám Đôn. Tám Đôn quan sát rất kỹ ngoại hình của đối phương, thói quen và sở thích của đối phương. Thanh nghiện thuốc lá, ít uống rượu, và tuồng như chỉ độc cái quần không bị vá. Những khi lễ lạt tổng kết mới thấy Thanh mặc chiếc quần “vía” này. Còn hàng ngày, Thanh vẫn mặc chiếc quần “píc-kê” hai đầu gối và hai mông. Thế là, làm như tình cờ, lâu lâu Tám Đôn lại dúi vào tay Thanh một gói thuốc ba số. Lúc đầu là một, sau là năm, sau nữa là nguyên cây. Nhân một cuộc họp đảng ủy, Tám Đôn gọi Thanh vào phòng mình, ấn vào ca táp của Thanh hai khúc vải may quần tây. “Cậu lu bu chuyện vợ con, ít chú ý đến sự ăn mặc. Tớ cho rằng không ổn! Phải có tư thế của anh Phó tổng! Quan trên trông xuống, quần chúng trông lên, ăn mặc xuềnh xoàng quá, không ổn! May ngay đi nghe cha nội!”. Rất chân tình, mà lại như là mệnh lệnh.

    Sau nghĩa cử của Tám Đôn: không đồng ý việc khai trừ người bị mắc mỹ nhân kế ra khỏi Đảng, đến nghĩa cử này thì Thanh bị chinh phục hoàn toàn. Thanh coi Tám Đôn như người anh, tin cậy và quí trọng.

    Tám Đôn nhận chức Phó Tổng giám đốc của Liên hiệp Vận tải đúng vào lúc có chỉ thị làm trong sạch đội ngũ Đảng và cán bộ, công nhân. Phó tiến sĩ mắc mỹ nhân kế trong thời điểm này. Ở Liên hiệp, có tới chín chục phần trăm lực lượng công nhân là người đã làm việc cho chế độ cũ, phần lớn là sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ quân đội. Những tên do CIA cài lại, những sĩ quan có nợ máu với nhân dân là đối tượng phải thanh lọc. Tám Đôn nghiên cứu rất kỹ lai lịch của số này, lọc ra những tên có quá khứ không thể che đậy thì báo trước cho chúng để chúng bỏ trốn. Tất nhiên, ơn huệ này chúng phải trả giá cho Tám Đôn. Với những tên có thể che đậy được, Tám Đôn cho phép chúng làm lại lý lịch để được tiếp tục làm việc. Hai loại đối tượng trên, tất nhiên, Tám Đôn phải biết chắc là chúng có tiền, có nhiều tiền. Người nghèo luôn luôn phải chịu đau khổ, thiệt thòi. Gần năm trăm người, trong đó có vài chục đại úy, trung úy, thiếu úy và nhân viên hành chính của chế độ cũ đã bị sa thải vì “có tội với cách mạng, với nhân dân”. Đặc biệt có tám mươi người bị bắt vô trại cải tạo vì đã mắc tội “trốn cải tạo, chui vào cơ quan nhà nước nhằm tiếp tục âm mưu chống cách mạng”. Trong việc sa thải và bắt đi tù những người này, Tám Đôn đã được cấp trên khen là có tinh thần cảnh giác cách mạng, không khoan nhượng với kẻ thù của cách mạng. Những người được Tám Đôn cho làm lại lý lịch là những kẻ thực sự có tội với nhân dân, thì được Tám Đôn thâu nạp vào lực lượng bảo vệ do một đại úy - đệ tử ruột của Tám Đôn - chỉ huy. Lực lượng bảo vệ có quân số tới một trăm người, chuyên bảo vệ, áp tải hàng hóa, kiểm soát xe và người ra vô Liên hiệp Vận tải. Đấy là nhiệm vụ được thể chế hóa thành văn bản. Còn ba nhiệm vụ khác, chỉ có Tám Đôn và các vệ sĩ mới biết. Đó là: moi hàng nhà nước, buôn lậu, móc nối tổ chức vượt biên.

    Từ thời điểm này, bắt đầu một chiến dịch moi hàng nhà nước, tầm cỡ quốc tế, mà phải năm năm sau, các cơ quan luật pháp mới đưa tập đoàn tội phạm ra trước vành móng ngựa. Trong vụ án này, bọn tội phạm đã ăn cắp một lượng hàng hóa khổng lồ, trị giá hàng triệu đôla từ sà lan lash. Tàu Phu-xích của Công ty Vận tải biển Quốc tế Interlighter chở ba mươi sáu sà lan lash cập phao Zêrô ở cửa Thiềng Liềng. Những chiếc tàu kéo của Liên hiệp Vận tải kéo sà lan hàng xuất ra cho tàu mẹ và nhận từ tàu Phu-xích những chiếc sà lan đầy ắp hàng nhập. Mỗi tàu kéo, kéo từ một đến ba sà lan. Trên tàu kéo, ngoài thuyền trưởng, thợ máy và thủy thủ, còn có từ hai đến bốn nhân viên bảo vệ. Đó là những tay moi hàng lành nghề. Căn cứ vào đơn hàng, bọn chúng chỉ khui những sà lan chở hàng quí, hàng hiếm, có giá trị. Mỗi sà lan có hai nắp hầm nặng bốn tấn, được niêm cặp chì. Bọn chúng có nghệ thuật mở niêm chì, dùng con đội ô tô kích nắp hầm lên và moi hàng. Về sau, chủ hàng vừa niêm chì vừa niêm hàn bằng những thanh sắt hàn dính nắp hầm sà lan. Bọn tội phạm mang mỏ hàn và bình gió đá xuống, gỡ niêm hàn, moi hàng rồi hàn lại như cũ. Hàn xong, chúng thay nhau… đái vào để mối hàn han rỉ như cũ. Đã hình thành khắp tuyến vận tải đường sông của đồng bằng sông Cửu Long cũng như tuyến đi Nam Vang những trạm lên hàng và tiêu thụ hàng ăn cắp. Việc bốc dỡ và tiêu thụ hàng được cả công an và quân đội bảo vệ. Nhanh, gọn và sòng phẳng. Toàn bộ số hàng ăn cắp được chuyển thành vàng. Khi đến cảng của Campuchia, vàng biến thành hàng lậu như thuốc lá ba số năm, tivi, cát-xét, đầu vidéo… để xuôi về Sài Gòn. Ròng rã ba bốn năm trời, bọn ăn cắp làm chúa tể. Nơi nhận hàng chỉ nhận được sà lan rỗng ruột mà không làm gì được. Cái lý rất đơn giản là: sà lan đã được niêm phong từ các cảng châu Âu. Khi giao sà lan, chủ phương tiện giao đủ các dấu niêm chì và niêm hàn. Chủ phương tiện không biết gì và không chịu trách nhiệm về lượng hàng trong sà lan. Cái lý ấy đã được ghi trong hiệp định, vì thế, Tám Đôn khỏe ru! Phải mất năm năm trời, vụ án mới được phanh phui. Đây là vụ án kinh tế lớn nhất kể từ sau năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm. Trong số những tên tội phạm bị tử hình, bị tù chung thân hoặc nhẹ hơn từ mười lăm đến ba năm tù giam, không có hai nhân vật, mà đúng ra hai nhân vật này phải được lãnh án nặng nhất. Người thứ nhất là Tám Đôn. Người kia là Nguyễn Thức, tài công, sinh năm một chín bốn hai trong một gia đình có ba đời làm nghề sông nước.

    Bây giờ xin trở lại thời điểm vụ án sà lan lash chưa được phanh phui. Bọn vệ sĩ dưới trướng Tám Đôn đang còn làm chúa tể trên tất cả các tuyến đường sông. Thời điểm này, nợ nước ngoài của Việt Nam đã lên tới cả chục tỉ đôla. Cả nước đang đắm chìm trong những cơn sốt. Cơn sốt vàng, cơn sốt lương thực, cơn sốt xăng dầu, cơn sốt tiền mặt. Chiến lược kinh tế không định hướng được, lúng a lúng úng làm khổ dân, kiệt quệ tài sản quốc gia. Nạn ngăn sông cấm chợ đẻ ra một đội ngũ những tên cướp ngày - bọn này giàu lên rất nhanh chóng; đồng thời làm cho sản xuất bị tê liệt vì hàng hóa không lưu thông được. Thiên tai khiến cho các tỉnh miền Bắc mất mùa liên tiếp, nhiều nơi lâm nạn đói. Trong khi đó, lúa để thối trong các kho chứa ở vùng sâu đồng bằng sông Cửu Long. Không có phương tiện, không có xăng dầu vận chuyển lúa gạo ra cảng lớn. Không đủ tàu vận chuyển lúa gạo từ Nam ra Bắc. Liên hiệp Vận tải không hoàn thành nhiệm vụ vận chuyển lương thực. Hàng chục tàu phải nằm chết dí vì không có tiền để sửa chữa máy. Tổng Giám đốc Liên hiệp Vận tải lo lắng đến nhược cả người. Trong khi đó, Phó tổng Trần Ngọc Đôn vẫn nhởn nhơ. Làm phó có cái sướng của nó. Tội lỗi bao nhiêu trút lên đầu anh chánh chứ ai trút lên anh phó. Còn công lao, thành tích, tất phải chia đều! Đôn dành thời gian đều đặn mỗi tuần một lần đi tìm mua những bộ sưu tập tiền cổ. Ngày chủ nhật, Đôn đến thăm cấp trên - là những nơi nương tựa. Căn nhà của Đôn thường có nhiều bạn bè từ Bắc chí Nam, từ trung ương đến địa phương, từ biên giới đến hòn đảo nhỏ cực nam. Đôn tiếp họ rất hậu hĩ, tạo điều kiện cho họ vui chơi. Mọi người có cảm giác rất thật rằng Đôn không tiếc bạn một thứ gì! Có bao nhiêu, Đôn dốc ra cho bạn. Không ai có thể chê trách. Đám chức sắc ở địa phương, nơi Đôn cư ngụ, thì kính trọng Đôn đến quị lụy. Ai ai cũng coi Đôn là người mẫu mực: về cách sống, về tình nghĩa.

    Thế nhưng, không một ai trong đám bạn bè của Đôn trong đám chức sắc, kính phục Đôn bằng Nguyễn Thức. Thức là một tài công cừ khôi, thành viên của một gia đình chuyên nghề sông nước đã ba đời liên tiếp. Hẳn bạn đọc còn nhớ, khi Ngô Hữu Tiền làm rể ông chủ lò đường, đã mượn một người quen làm “ông chú họ”. Ông chú họ ấy chính là Thức. Thức là thiếu úy hải quân đã từng được thăng vượt cấp lên đại úy khi chỉ huy một giang đoàn tấn công tiêu diệt Việt Cộng ở U Minh. Trong trận càn quét phối hợp cả thủy, lục, không quân đó, Thức đã trực tiếp tra hỏi - và sau đó cho đàn em hành hạ đến chết ba Việt Cộng. Đó là ba nữ du kích còn rất trẻ.

    Sau năm bảy mươi lăm, đại úy Thức trốn cải tạo với danh nghĩa rã ngũ từ trước năm bảy lăm, và xin được vô Liên hiệp Vận tải làm việc. Trong chiến dịch thanh lọc, Thức được Tám Đôn cho làm lại lý lịch. Cái đoạn được thưởng mề đay, thăng vượt cấp từ thiếu úy lên đại úy, cái đoạn hãm hiếp tù binh đến chết đã biến mất khỏi lý lịch Thức. Thay vào đó là đoạn Thức rã ngũ, vận động được gần một chục binh sĩ rã ngũ từ đầu chiến dịch Hồ Chí Minh. Khi ông già đẻ ra Thức, một tài công nổi tiếng đã nghỉ hưu, gói năm lượng vàng cung kính dâng lên Tám Đôn, Đôn đã xua tay bảo mang về: “Tôi làm việc đó vì quí trọng tay nghề cha truyền con nối của gia đình ông!”. Tám Đôn đã nói như thế. Sau nghĩa cử ấy, Thức rập đầu xin được nhận Tám Đôn là anh mình, và nguyện sống chết phục vụ Đôn.

    Thức đã làm đúng như lời. Chiến dịch “moi ruột cá lóc” - Đôn và Thức đặt cho vụ ăn cắp hàng của sà lan lash bằng tên ấy - được Thức chỉ huy từ xa thật tuyệt vời. Thuyền trưởng muốn đi tàu lash, phải nộp trước mỗi chuyến ba chỉ; khi về nộp hai chỉ. Toàn bộ hàng lậu trên thế giới vào Việt Nam qua cổng của Liên hiệp Vận tải đều qua tay của gia đình Thức. Nhưng, bề ngoài, không ai biết được gia đình Thức là ổ chứa hàng lậu. Thức tự hào về gia đình mình với tài nghệ lái tàu bao nhiêu thì càng tự đắc về tài nghệ chỉ huy từ xa trong việc buôn hàng lậu bấy nhiêu. Cũng giống như bậc thầy của mình là Tám Đôn, Nguyễn Thức được chính quyền nơi cư ngụ đánh giá tốt. Bà con lối xóm nể vì gia đình Thức. Thức có vợ và năm đứa con gái, đứa nào cũng kháu khỉnh. Người ta thấy vợ chồng Thức sống rất hạnh phúc, ngoại trừ việc không có con trai.

    Không một ai biết rằng cả Đôn và Thức đều là những tên săn lùng gái tơ có hạng. Mỗi cô gái tơ được bán cho Đôn với giá một cây vàng trong vòng một tuần. Thức có cả một mạng lưới chuyên nghề tìm kiếm gái trinh xinh đẹp. Tất nhiên, trong tay Thức có hàng chục “bến cảng” đạt tiêu chuẩn quốc tế để thầy trò Thức thưởng thức món gái trinh.

    (còn tiếp)

    Nguồn: VN. Mafia - Sóng lừng. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. Sách bị cấm sau khi phát hành được hơn một tuần, từ tháng 5-1991 đến nay; đã post -có tóm lược một vài đoạn- trên trieuxuan.info từ nhiều năm trước. Đây là bản trọn vẹn như bản in lần đầu của NXB Giao thông Vận tải, cuối tháng Ba, đầu tháng Tư năm 1991.

    www.trieuxuan.info

     

    (1) Xê đúp (tiếng lóng): mỗi xê đúp bằng 2cc.

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập35,895,122

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/