Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập35,125,962

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Ví dụ ta yêu nhau

Đoàn Thạch Biền

  • Chủ nhật, 21:54 Ngày 22/11/2020
  • VÍ DỤ 7

    Bị thất tình với một cô nữ sinh trường Pháp, tôi đến sống với Vĩnh trên một căn gác đang xây cất dở dang phải tạm ngưng vì bất đồng ý kiến giữa thầu khoán và chủ nhà. Ngôi nhà này của một người bà con nên Vĩnh được đến ở trông coi.

    Gặp tôi, Vĩnh hỏi sao lâu nay không đến chơi. Tôi kể cho Vĩnh nghe chuyện tình của mình. Vĩnh nói giá mày giữ Mạc đã không khổ. Tôi gia? vờ không nghe và hỏi có gì ăn không. Vĩnh mỡ một hộp thịt và đưa cho tôi nửa ổ bánh mì. Tao sống như vậy, không muốn về nhà dùng cơm vì ngại lên xuống cái cầu thang dài và bấp bênh.

    Không khí trên cao làm tôi dễ chịu. Ăn xong, tôi tránh dùng cafe để có giấc ngủ ngon. Vĩnh cười chế diễu tôi khi anh tự pha cafe và uống một mình. Mày sợ đêm ngủ trằn trọc vì cô đó? Tôi nói cũng đúng, tôi muốn quên. Vĩnh nghiêm giọng an ủi, tình đầu có thất bại mới đẹp. Tôi bật cười nhìn nét mặt đột nhiên thay đổi của anh. Thật dễ dàng an ủi một người khác.

    Tối đến, Vĩnh châm thuốc ngồi một góc phòng kể cho tôi nghe những chuyện tình đã trải qua. Tất cả đều đẹp và thơ mộng dù có sự đổ vỡ chia xạ Chắc anh phải thêm thật nhiều mới khiến tôi có cảm nghĩ đó. Về khuya tôi thắp một ngọn nến nhỏ ngồi đọc một cuốn truyện Anh Ngữ loại giản lược. Từ ngoài hành lang, Vĩnh khẽ hát một đoạn nhạc. Tiếng hát làm tôi nhớ cô gái mình muốn quên. Cũng bài hát ấy tôi đã yêu cầu cô hát nhiều lần. Tôi thật sự mù tịt về âm nhạc nhưng vẫn thấy dễ thích những lời ca khiến mình nhớ đến một cái gì.

    Ôi những ngày xưa ấy đã qua

    Tôi nhìn thơ ấu ra đi

    Như nhìn ai đó xa lạ

    Một ngày một vắng mịt mờ...

    Tiếng hát Vĩnh làm tôi cay mắt cũng như tiếng hát của cô gái. Cả hai đã giúp tôi nhớ lại chuyện ngày xưa đói rét. Những ngày di cư sống bằng cơm nắm muối vừng rồi lênh đênh trên một con tàu "há mồm" vào đây. Tuổi thơ của tôi chẳng có gì đẹp nhưng sao vẫn thấy muốn giữ những hình ảnh nhạt nhòa đó. Vĩnh đổi giọng ngâm những vần thơ lục bát mới làm của anh. Tôi không chịu được ngâm thơ nên nói tránh tôi cần im lặng. Vĩnh nói vọng vào cũng được tao sợ ngồi một mình mày lại khóc.

    Tiếng còi inh ỏi của những chiếc xe vận tải chạy vào lấy hàng ở thương cảng đối diện với ngôi nhà đã khiến tôi thức giấc. Tôi thấy mình đang nằm trên sàn nhà, lưng ê ẩm vì những mảnh gạch vụn và một cái chăn đắp đến tận cổ. Đêm qua tôi thức khuya đọc sách rồi ngủ quên chẳng vào mùng, cái chăn chắc Vĩnh đã đắp cho tôi vào lúc sáng khi anh thức dậy trước. Tôi nhìn quanh chẳng thấy ai. Vĩnh đã đi mua thức ăn cho bữa trưa. Chiếc đồng hồ đeo tay anh để tại trên bàn chỉ hơn mười giờ. Không ngờ bị thất tình tui đã ngủ ngon, thường mỗi đêm tôi nhắm mắt chập chờn và rất tỉnh ngủ.

    Tôi nhận ra tiếng Hiệu đang ở thanh gác lên và cả Thức nữa, tiếng cười hì hì. Hai người chắc vừa được Vĩnh báo tin cho biết tôi ở đây. Hiệu bước vào nói sao khoẻ chưa, tao thấy mày xanh ghê. Tôi trả lời bông đùa tại ở đây thiếu nắng. Tôi đi pha cafe cho hai người và cho mình một ly sữa lớn. Hiệu kể những tác phẩm mới viết của anh. Thức nói về những người tình. Cái mau thay lòng đổi dạ của các cô gái đã khiến anh có ý định sống độc thân. Cuối cùng tôi vui vẻ đưa ý kiến con gái là người bạn tốt nhưng lại là người yêu xấu. Tất cả đều cười vì câu nói pha trò.

    Đến chiều Vĩnh vẫn chưa về. Đã uống thêm ly sữa nữa mà bụng tôi vẫn còn cồn cào. Để quên đói tôi lấy chiếc ống nhòm nhà binh đã cũ của Vĩnh ra nhìn khắp nơi. Một quãng phố hiện rõ trên mặt kính, nhà tôi cũng ở dãy này nhưng nhìn mãi không thấy, có lẽ nó nằm khuất đâu đó sau những cây bàng lá xanh mướt. Trên đường phố ít người qua lại, những chiếc xe hơi thỉnh thoảng chạy vụt qua. Mùa xuân ở đây trời mau tối và mọi người đều hối hả về nhà trước khi đèn đường bật sáng. Tôi đã di chuyển ống nhòm qua hướng khác. Trường trung học Pascal chiếm một khoảng đất rộng lớn ở phía này, trước cổng trường bằng gạch quét vôi trắng tôi đã đứng chờ cô nữ sinh mình ưa thích tan học về. Nàng đi xe Vélo với cô em nhỏ, nhiều lần tôi phải chạy hụt hơi theo chiếc xe đen xì đó để đưa cho nàng một lá thư. Bây giờ thì tôi không còn dịp để làm công việc mệt hơi tốn sức khoẻ đó nữa.

    Lúc lâu tôi mới nhận ra Vĩnh đang đi về hướng căn gác nhà tôi đang đứng. Dáng anh nhỏ nhoi đi sát những gốc cây cao trông thật buồn cười. Tôi tiếp tục theo dõi Vĩnh cho đến khi anh khuất sau nhà để lên gác. Anh hỏi tôi ngay ở cửa, đói chưa. Đi bộ xa quá vì chẳng gặp thằng nào quen nhờ chở. Anh đưa tôi ổ bánh mì thịt rồi nói tiếp, tao vừa có chuyện bực mình, chắc phải dời thành phố này nay mai. Đừng nghĩ tao tìm cảm giác mới cho Thơ. Phải sống đã, nhàn rồi mới lo chuyện đó. Anh kể lý do phải đi rồi kết luận tao trốn dư luận. Những lời đàm tiếu đối với tao chẳng nghĩa lý gì nhưng còn những người liên hệ. Đôi lúc muốn dứt bỏ mọi ràng buộc để thảnh thơi thì vẫn thấy thương những người còn thương mình, tao nghĩ đã không tạo được hạnh phúc cho ai cũng đừng phá hủy những gì tốt đẹp của họ.

    Tôi im lặng nghe anh nói. Một người vừa được an ủi không thể an ủi lại kẻ đã an ủi mình. Có một sự thật chua chát giữa chúng tôi là không sao bày tỏ được trọn vẹn những gì mình nghĩ. Im lặng để hy vọng sẽ là một thứ ngôn ngữ dễ truyền đạt cảm thông, nhưng thật ra im lặng đã chỉ gây ra những ngộ nhận. Biết vậy nhưng tôi cũng không giải bầy gì.

    Vĩnh thế nào cũng rời tôi vào buổi sáng hôm sau nên đêm đến tôi cố kéo dài giấc ngủ cho qua thời gian đó để tránh đưa tiễn nhau. Chúng tôi vẫn thường tàn nhẫn trong những tình cảm vụn vặt như vậy.

    Tôi nhắn người em gái lên thăm. Thấy tôi ăn uống cực khổ Hoa nói sao anh không về nhà. Tôi nói tôi thích không khí ở đây, em chịu khó mua giúp anh ít đồ hộp còn bánh mì anh có thể mua những người bán hàng rong. Hoa nói anh tự làm khổ anh vì chuyện không đâu. Hình như mọi người đều xem chuyện thất tình là nguyên nhân tôi sống tách rời, sự thật không phải vậy nhưng tôi vẫn dễ dãi trả lời người em "đoạn trường ai có qua cầu mới hay". Hoa nói không ai tệ bằng anh rồi chào tôi ra về.

    Tôi tiếp tục sống một mình trên căn gác. Hàng ngày đọc sách xong tôi lấy ống nhòm nhìn khắp nơi. Những bài thơ Vĩnh viết trên vách bằng gạch bạc mầu dần. Tôi không biết ngâm thơ nên thường đoán mò và đọc to cho đỡ buồn.

    Nơi thành phố này sống những ngày đã đi xa

    Người tình nhân lẻ loi suốt đời

    Và cơn hạnh phúc cực kỳ bốc sáng

    Rực rỡ những vết thương

    Tôi bàng hoàng chẳng nhớ...

    Một buổi tối nghe được tiếng hát từ chiếc xe sinh tố ở phía trước nhà vọng lên tôi nhận ra bài mình ưa thích và hát theo một cách gượng gạo. Bấy giờ mới thấy nhớ giọng ca của Vĩnh và của cô nữ sinh. Giọng hát của một người thân mới làm mình thích thú.

    Hoa đem chiếc cassette như lời tôi nhờ Hiệu nhắn lại và trao cho tôi một lá thư. Tôi hỏi qua chuyện nhà. Hoa nói chẳng có gì lạ rồi mở máy ngồi nghe nhạc. Hoa hỏi có ai đến thăm anh không. Tôi nói để yên cho tôi ăn. Hoa cười nói anh háu ăn như vậy hèn chi cô ta không ưa là phải. Bữa ăn xong một cách chậm chạp, tôi đã chán món đồ hộp nhưng không muốn phiền người em mang đến những thức ăn đã nấu sẵn. Đun cho tôi ấm nước sôi rồi Hoa chào về. Tôi nói cầm theo cái máy đi. Hoa cằn nhằn anh lạ thật, đòi đem đến cho được rồi lại bắt mang về. Tôi nói tôi tưởng mình thèm tiếng hát vì nó có ích, giờ tôi mới biết mình thèm một người bạn. Hoa bĩu môi nói hay một cô. Tôi nói cũng vậy. Cô bé lắc đầu cầm máy đi xuống gác.

    Tôi cầm lấy lá thư lên xem không thấy tên người gửi ngoài bì. Nhìn nét chữ đánh máy tôi nghĩ chắc một cái thư của ai gởi nhầm địa chỉ mình đây. Thật không ngờ là thư của Mạc. Một cô bạn ngoại quốc sinh sống và sống mười tám năm ở Việt Nam. Mạc về nước đã được ba năm. Đây là lần thứ hai cô gửi cho tôi thì phải. Lá thư đầu tôi đã vô tâm quên trả lời.

    Mạc dạn lắm. Tên của cô là Marge và tôi vẫn gọi đùa là "Ông Mạc". Những ngày ở gần nhau chúng tôi thường đối xử với nhau như những người bạn trai.

    Trong thư Mạc trách tôi đã không viết thư cho nàng và Mạc cho biết hiện đang sống ở một thành phố nhiều tuyết nên rất nhớ những ngày nắng nhiệt đới. Mạc vẫn sống một mình dù bà mẹ đã nhiều lần khuyên nhủ nàng thành hôn. Nàng viết Trịnh hiện giờ sống ra sao, lập gia đình chưa, cô ấy xinh chứ. Tôi cười thầm nghĩ đến tình cảnh của mình lúc này. Tuy không muốn thư từ với anh nhưng không thể làm ngơ với một người ở xa còn nhớ đến mình nên tôi đã viết thư trả lời Mạc. Sống một mình buồn lắm, nhất lại là con gái. Hãy cố chọn một ông chồng dù không ưng ý hoàn toàn cũng giúp cho đời sống đỡ tẻ nhạt. Về cuộc sống tôi vì không muốn ai an ủi mình nên tôi dấu diếm tôi đã đi làm, gầy và đen nhiều. Chưa lấy vợ nhưng không nhất định như Mạc là sống độc thân suốt đời.

    Cuối thư tôi viết Mạc còn nhớ bài Thu Vàng của Cung Tiến mà chúng ta thường cùng hát trong những buổi tối đi dạo quanh khu vườn nhiều bóng cây của nhà Mạc không. Riêng tôi, tôi đã quên những bản nhạc Pháp do Mạc dạy vì lâu ngày chẳng biết hát với ai. Ngoài bì thư tôi để tên người nhận là "Ông Mạc" chắc sẽ làm người phát thư bên ấy ngạc nhiên không ít.

    Căn gác sẽ có người đến nhận vào ngày mai để tiếp tục xây cất. Tôi thu xếp đồ dùng thuê xe xích lô về nhà. Mọi người không phiền trách tôi về những ngày sống riêng, trừ ba tôi như không bằng lòng. Ông nói lớn rồi hãy tìm lấy một việc làm chẳng lẽ sống nhờ gia đình. Tôi đỏ mặt vì không ngờ cuộc sống mình lại hại cho người khác., tôi cố gắng lắm mới nói được vâng, con sẽ tìm việc làm ngày mai.

    Đang ngủ ở phòng ngoài tôi bị đánh thức dậy vì những tiếng cười. Một người lạ đến. Mẹ tôi nói chú mày ở Sài Gòn mới ra đấy. Tôi không biết có phải chú mình không nhưng cũng vội gật đầu chào. Ông nói cháu còn nhớ chú không, ngày ở Cổng Hậu mới có chín mười tuổi đầu bây giờ đã lớn từng ấy. Tôi chưa kịp trả lời, mẹ tôi đã nói thằng này có nhớ đến ai ngoài nó. Khi ông bận trả lời một câu hỏi của ba tôi, tôi vội lần xuống nhà rửa mặt. Tôi gọi Hoa lấy dùm lá thư để trong tủ sách trên nhà, tôi ngại lên tiếp chuyện với một người mình không nhớ rõ.

    Trời đột ngột trở gió mấy ngày naỵ Tháng Giêng ở Đà Nẵng còn có những ngày thật rét. Ngoài phố mọi người đều mặc áo ấm, tôi vô ý chỉ mặc độc một chiếc áo sơ mi khi ra đường giờ mới cảm thấy lạnh. Nhà bưu điện nằm ở bờ sông. Gửi thư cho Mạc xong tôi phải cố gắng lắm mới giữ mình khỏi run khi ra về vì những cơn gió thổi thốc từ mặt sông lên mang theo đầy hơi nước.

    Nhớ hôm Mạc đi trời cũng rét. Mạc đến phi trường một mình, người mẹ đã vào Sài Gòn trước để cùng chồng bà làm việc trong ấy chuẩn bị giấy tờ xuất ngoại. Mạc nói với tôi nếu có ai thích Mạc, Mạc sẽ xin ba má ở lại Việt Nam ngaỵ

    Tôi biết Mạc muốn ám chỉ người nào trong tiếng "ai" đó nên lúng túng nói quanh, Mạc về bên ấy thích lắm phải không? Tôi luôn luôn xem Mạc như là một người bạn. Những cô gái mà tôi mến, tôi đều giữ bằng cách này. Tôi nhớ mình đã đưa mắt nhìn chăm chú chiếc áo ấm màu xanh lá cây (mầu len tôi đã chọn cho Mạc) rồi dừng lại ở cái cổ trắng cao ba ngấn của nàng. Tôi tránh nhìn lâu khuôn mặt Mạc bởi tôi biết mình sẽ vay mượn vẻ đẹp của nàng để làm chất liệu cho những bức tranh vẽ chân dung và như thế tôi sẽ làm nàng xấu đi vì những nét vẽ nghệch ngoạc của tôi. Vẫn còn nhớ câu nói cuối cùng của nàng, Mạc sẽ cố thích nơi mình sắp sống. Và tôi đã trả lời, tôi cũng phải cố thích nơi tôi ở lại.

    Gió thổi mạnh thêm, giật nghiêng những chòm cây trên bờ sông vắng và cơn mưa phùn đầu năm bị gió thổi tung bay lả tả như đám bụi mù. Cố nghiến chặt hàm răng xua đuổi giá rét, tôi mường tượng ra Mạc một cách khó khăn. Tiếc xưa sao không nhìn lâu khuôn mặt nàng để bây giờ chỉ còn nhớ loáng thoáng chiếc áo len xanh và cái cổ trắng cao.

    Chiếc áo len xanh. Chiếc áo len xanh có còn không Mạc?

    VÍ DỤ 8

    Tôi biết nếu không cưới nàng vào mùa xuân ấy chúng tôi rồi sẽ xa nhau. Tình yêu có thể kéo dông dài như Đoạn Trường Tân Thanh nhưng hôn nhân khi nó đến phải giữ chặc ngay tức khắc nếu không sẽ khó có dịp bắt gặp lại.

    Dịp may không đến hai lần, tôi biết nhưng tôi chẳng thể làm gì được. Chúng tôi còn quá trẻ. Nàng mới mười bảy và tôi hai mươi bảy. Tuổi tôi cứ tạm kể là được rồi chẳng cần phải đợi đến tam thập nhị lập nhưng còn nàng phải chờ đợi thêm một tuổi nữa mới có thể tự ý có quyết định mà luật pháp chấp nhận là có giá trị.

    Gia đình nàng chẳng ưa gì tôi, chẳng ưa cái tính hay nổi khùng của tôi thì đúng hơn và đấy là một trở ngại vĩ đại cho cuộc hôn nhân của cô gái mười bảy tuổi. Gia đình nàng dọa (nhưng chắc sẽ làm thật) đưa tôi ra tòa về tội dụ dỗ gái vị thành niên nếu tôi còn tìm cách gặp nàng. Kể ra tôi cũng hơi hèn nhác khi sợ lời đe dọa đó và tôi đã phải tự an ủi mình là một công dân tốt, có thẻ cử tri đi bầu nghị viên hội đồng tỉnh thì việc tôn trọng pháp luật là sự thường chẳng có gì đáng cười. Nhưng có trời mới ngăn được nàng. Con gái mười bảy bẻ gẫy sừng trâu. Gia đình, xã hội, pháp luật nàng bẻ gẫy dễ dàng như tôi bẻ những que diêm.

    - Phải làm gì chứ anh, nếu không chúng ta sẽ mãi mãi xa nhau.

    Nàng khóc mà chẳng bật lên một tiếng. Đôi môi mím chặc, mặt cương quyết, đôi môi mắt đỏ lóng lánh nước mắt nhìn thẳng vào tôi chờ đợi một quyết định.

    Tôi, thằng phải gió suốt ngày chỉ lo chiến đấu với cái chết đang len lỏi trong thân xác nên quên cả đời sống và chẳng bao giờ có quyết định nên hồn. Tôi đưa tay sờ bụng. Bố khỉ. Lá gan hôm nay không đau mà tôi cũng chẳng có chút can đảm nào để quyết định cho ra vẻ đàn ông. Tôi lắp bắp như người mới tập nói.

    - Anh sẽ cố gắng.

    Tôi chỉ nói được thế thôi rồi ngồi câm như hến.

    Như người chết đuối vớ phải cành cây mục, nàng thất vọng gục đầu, tóc rũ rượi, đôi vai rung lên và tôi nghe rõ ràng tiếng khóc của nàng lẫn trong tiếng kêu tíc tắc đều đặn của chiếc đồng hồ để bàn. Nàng đã phải nghĩ nát óc mới gạt được gia đình đang giam nàng như một tù nhân, vượt bao nhiêu cây số đến đây để gặp tôi tìm một quyết định, một chiếc phao cho đời nàng đã chỉ gặp được những giọt nước mắt của chính nàng.

    Phải làm gì chứ, tôi nghĩ. Nhưng làm gì mới được chứ? Cái đầu óc đại học của tôi hoạt động thật thối. Chỉ biết vấn đề, đặt chính vấn đề thành vấn đề và chẳng bao giờ biết giải quyết vấn đề. Chẳng còn tin tưởng vào đầu óc, tôi đánh mạnh tay vào bụng để cho lá gan đau. Kinh nghiệm cho biết thường sau những cơn đau quặn người tôi rất tỉnh táo và có những sáng kiến hay bất ngờ. Nhưng lá gan trời đánh của tôi vẫn trơ lỳ, y như thể nó được đút bằng thép nguyên chất, y như thể nó chưa bao giờ biết đau là gì và nó tin nó là lá gan khỏe nhất thế giới.

    Đồ trời đánh, tôi rủa thầm, tao đố mày đau đấy.

    Chẳng cần đợi nó đau, chỉ cần hục hặc gây hấn với nó, tôi cũng có được một sáng kiến dù dở ẹc tôi vẫn nói rạ

    - Em hãy cố gắng chờ đợi một năm nữa.

    Không ngẫng đầu lên, nàng nói lẫn trong tiếng khóc.

    - Yêu nhau đừng bao giờ nói đợi.

    Trời đất! Đến lúc này mà đầu óc nàng còn sặc mùi văn chương. Nàng nói giống hệt Jenny, sặc mùi tiểu thuyết. Tôi chúa ghét cái câu: "Yêu nhau đừng bao giờ nói...". Nhưng lúc này tôi cũng phải nhận rằng nàng nói đúng. Thôi tôi cứ nói: "Anh không còn yêu em" như thế còn dễ nghe hơn là nói nàng chờ đợi. Kẻ thù ghê gớm nhất của các cô gái là Chờ Đợi. Tôi biết thế nhưng tôi còn sống làm khỉ gì ở đời này nữa khi tôi phải nói với nàng: "Anh không còn yêu em".

    Tôi bối rối lạ lùng và khi tôi bối rối lạ lùng thì lá gan lạ lùng của tôi cũng bắt đầu đau lạ lùng. Tôi buồn nôn kinh khủng, mắt hoa lên, những chấm vàng di động và bụng tôi như bị lưỡi dao cùn đâm mạnh vào. Tôi ngồi im sững, cố tưởng tượng cơn đau không xảy rạ Tôi cần phải chiến đấu để nó không thể nào xảy ra lúc này. Không còn chửi rủa thách đố nữa, tôi bắt đầu năn nỉ: "Thôi bạn hiền đừng lên cơn trước mặt nàng. Đừng làm nàng sợ hãi, đợi nàng về rồi hãy đau. Ta sẽ dành cho nhà ngươi rất nhiều thời giờ mà". Lá gan mất dậy của tôi có bao giờ chịu nghe lời phải trái đâu. Như chiếc lò xo càng bị nén càng bung mạnh. Tôi cắn chặc hàm răng, nhíu mày chịu đựng nhưng cơn đau vẫn òa vỡ khiến người tôi giật liên hồi. Hai tay ôm chặt bụng tôi gục đầu xuống bàn thở phì phò như một con rắn và nước mắt ứa rạ

    Đôi tai lùng bùng tôi còn nghe loáng thoáng tiếng nàng kêu hốt hoảng: "Anh, anh" rồi nàng đã biết công việc phải làm. Nàng cố gắng dìu tôi đến giường nằm, đắp chiếc chăn lên bụng, đổ nước lọc vào khăn mặt đắp lên trán tôi. Nàng hỏi chổ để thuốc, tôi dơ tay run rẩy chỉ về phía kệ sách. Sau đấy nàng khẻ nâng đầu tôi lên bỏ hai viên thuốc vào miệng và bắt tôi uống ngụm nước.

    Tôi mơ mơ màng màng một lúc lâu rồi đầu óc tỉnh táo dần. Tôi nhận ra tay nàng đang nắm tay tôi và tôi xiết chặc. Tôi chẳng là chiếc phao cho đời nàng nhưng nàng đúng là chiếc phao an toàn nhất cho tôi bám vào khi trôi lênh đênh đến gần cõi chết. Chẳng bao giờ tôi nói cho nàng biết ý nghĩ đó nhưng tôi tin rằng nàng biết rất rõ qua cách xiết chặt tay đáp lại của nàng.

    Cơn đau đã qua, bbây giờ tôi có quá nhiều ý tưởng để nói. Những ý tưởng vo ve như bầy ong đang chen lấn nhau để chực bay ra khỏi miệng tôi. Nhưng lúc này tôi cần phải nói nữa không?

    Phải nói "Anh yêu em lắm lắm", thật thừa.

    Phải nói "Em hãy bỏ nhà trốn theo anh", thật thừa.

    Mọi lời nói đều thừa khi tôi chợt nhận ra lòng tôi yêu thương nàng cũng lớn bằng tình yêu tôi dành cho cái chết thường lẫn quẩn bên tôi. Nàng đã giúp tôi nở được nụ cười khi sống và cái chết đã giúp tôi biết nhỏ lệ. Nước mắt và nụ cười làm sao tôi có thể định giá hơn thua.

    Em phải về cho kịp chuyến xe, nàng nói. Chúng ta hãy can đảm đùm bọc nhau để sống.

    Can đảm, tôi nói. Lá gan khốn nạn của anh như thế đấy làm sao anh còn có can đảm đùm bọc em.

    Như đôi uyên ương, nàng nói. Chúng ta hãy nương cánh vào nhau cùng bay lên.

    Bay lên, tôi nói. Em muốn nói chúng ta cùng bay lên thiên đàng?

    Bay lên, nàng nói. Bay lên đâu cũng được.

    Rồi đôi cánh sẽ mỏi, tôi nói. Chúng ta sẽ rơi xuống rất nhanh, như thế chẳng ích lợi gì.

    Có hề gì, nàng nói. Tất cả đều mong manh.

    Một tuổi cho em không mong manh, tôi nói, ba trăm sáu mươi lăm ngày thật dài. Anh khó sống qua chuỗi ngày mênh mông đó. Một mùa xuân nữa còn quá xạ

    Ba trăm sáu mươi ngày sẽ qua mau, nàng nói. Như một mũi tên. Thần Chết gầy trơ xương, ốm yếu hơn anh nhiều và anh sẽ chiến thắng ông ta một cách dễ dàng. Một mùa xuân nữa đang đến và em dư sức chờ đợi mình thêm một tuổi để được tự do kết hôn với anh. Bây giờ em về.

    Nàng qua? là một thầy bói giỏi, nàng đoán đúng rất nhiều điều. Ba trăm sáu mươi lăm ngày qua mau như một mũi tên. Thần chết yếu hơn tôi nhiều và một mùa Xuân nữa đã đến. Nhưng thầy bói dù giỏi đến đâu cũng đoán sai về chính mình và nàng đã đoán sai về nàng.

    Nàng chẳng hề chờ đợi thêm một tuổi, ngày thứ ba trăm sáu mươi bốn nàng đã chết vì tai nạn xe cộ ở một thành phố đầy hoa trong khi đi mua mười tám đoá hoa hồng về chuẩn bị ăn mừng nàng thêm một tuổi.

    Con chim uyên đã bay lên thiên đàng (?) một mình. Lẻ loi.

    Bây giờ một triệu mùa xuân nữa có đến đối với tôi cũng vô ích.

    Bây giờ có thêm một triệu tuổi nữa cho nàng đối vối tôi cũng vô ích.

    Bây giờ có chiến thắng Thần Chết một triệu lần ba trăm sáu mươi lăm ngày đối với tôi cũng vô ích.

    Tất cả đều vô ích khi người ta đã không thể vượt qua một ngày.

    Tôi vẫn có thói quen thường đốt những lá thư đọc xong bằng một que diêm châm thuốc. Tất cả những lá thư của nàng tôi cũng đã đốt bằng cách ấy. Nhưng còn một lá thư của nàng mãi mãi tôi không đốt được vì chẳng thể đọc xong. Lá thư cuối cùng gửi cho tôi nàng đã viết bằng một thứ chữ vô hình trên một tờ giấy xanh.

    Đấy là thứ chữ của tình yêu?

    Đấy là thứ chữ hư vô?

    Đến bao giờ tôi mới đọc xong và hiểu được thứ chữ vô hình kia để có thể đốt đi lá thư?

    VÍ DỤ 9

    Như thế chỉ còn hai ngày nữa là Giáng Sinh sẽ đến, chậm rãi nhưng chẳng thể nào sảy hụt.

    Cả lớp đang rộn lên với những lời chúc mừng và mời hẹn. Tôi ngồi ở bàn giáo sư nhìn ngắm những thiệp mừng đầy những hình vẽ Chúa Hài Ðồng, máng cỏ, lễ ba vua... do chính tay các em học sinh vẽ bằng màu nước sặc sở và ngộ nghĩnh gửi tặng. Một lớp học còn nhiều tình nghĩa, tôi nghĩ vậy và vừa lúc tiếng chuông vang lên. Các em đứng dậy thẳng người và chuẩn bị đọc những lời kinh mừng Chúa ra đời mà các em đã học trong giờ giáo lý. Tôi để lại xấp thiệp trên bàn đi xuống đứng dựa lưng vào vách tường cuối lớp. Trước mặt chúng tôi, trên bảng đen, tượng Chúa đóng đinh trên thập giá chìm ngập trong ánh nắng vàng nhạt buổi chiều.

    Tôi không phải là một tín đồ Thiên Chúa giáo. Tôi quen một sư huynh làm Giám học trường nữ trung học này mời dạy, anh là một tu sĩ cấp tiến đã học chung với tôi nhiều năm tại Ðại học Văn khoa Sàigòn. Thú thật, tôi đã rất ngỡ ngàng hôm nhận được lời mời. Tôi phân trần với anh trong một ngôi trường giàu đức tin như vậy làm sao có thể dung chứa được tôi. Anh cười nói, thế càng may cho cậu. Sinh hoạt trong một môi trường giàu đức tin, biết đâu nó sẽ giúp cho cậu có được đức tin, bộ cậu không cần đến đức tin sao. Ðức tin, điều tôi chẳng bao giờ quan tâm đến. Tôi không biết khi tôi có đức tin tôi có sống khác với đời sống tôi đang sống không, có đức tin tôi sẽ sống dễ dàng hơn hay khó khăn hơn? Dù sao cũng thử xem, nên tôi đã vui vẻ nhận lời phụ trách môn Việt văn cho ngôi trường thiên về chương trình Pháp của anh.

    Vào những phút đọc kinh ở hai buổi sáng, chiều của các em, tôi cũng đứng lẩm bẩm những lời kinh còn nhớ được và khi những cánh tay của các em vừa giơ lên, tôi cũng theo các em làm dấu thánh nhanh và gọn gàng. Một em trong lớp đã buộc tôi phải làm như thế. Ngay trong giờ ra chơi buổi dạy đầu tiên, em đến hỏi tôi:

    - Thưa thầy, sao thầy không đọc kinh?

    Tôi chẳng biết nhận mình theo tôn giáo nào, còn giải thích sự thiếu đức tin trong tôi cho em hiểu thì thật phiền, vì sợ biết đâu lại chẳng gây ra mối ngờ vực tôn giáo trong em. Tôi đành nói:

    - Tôi có thể đọc thầm được chứ.

    Cô bé lắc đầu.

    - Ai mà tin thầy. Em cũng không thấy thầy làm dấu thánh.

    - Tôi cũng làm dấu ngầm trong đầu.

    - Cái gì cũng trong đầu như thế thật tiện, lần sau em sẽ bắt chước thầy.

    Tôi vội khua tay.

    - Không được, các em thì khác.

    Cô bé quay mặt đi, làm như không muốn cho tôi nghe, em đọc một câu trong sách kinh nói về sự bình đẳng của mọi người trước Thiên Chúa và tôi đã phải hứa lần sau làm như các em, cô bé mới vừa lòng.

    Ðể giử lời hứa với cô bé, khi tan học buổi sáng đó, tôi đi tìm thầy giám học nhờ anh chép hộ bài kinh các em thường đọc (bài kinh ngắn khoảng nửa trang giấy học trò, nhưng đến bây giờ tôi vẫn chưa một lần đọc thuộc trọn vẹn và nhờ anh dạy làm dấu thánh. Anh nghi ngờ hỏi tôi đã bắt đầu có đức tin rồi sao, nhanh vậy? Vì muốn giấu anh chuyện cô bé chật vấn, nên tôi trả lời là tôi muốn bắt đầu hình thức và anh gật gù nói chẳng bao lâu rồi nội dung sẽ đến sau.

    Trong giờ học kế tiếp, vào phút đọc kinh, tôi thấy rõ ràng cô bé liếc mắt nhìn tôi kiểm soát. Thật may, tôi còn nhớ những lời kinh đầu nên đọc rất to và sau cùng tôi đã làm dấu thánh rất gọn gàng. Chẳng bao giờ tôi quên được nụ cười “đắc ý” của em.

    Cô bé ấy tên Giang. Lúc đầu, tôi cũng bực mình vì tính tò mò bắt bẻ của em nhưng sau vài tháng dạy học, tôi nhận ra em rất thông minh.

    Những người thông minh (nhất là con gái) gây nên rắc rối là chuyện thường, nên dần dần tôi đã thông cảm và có thiện cảm với em. Thật thích thú được dạy những em hay chất vấn vì nhờ đó lớp học đỡ tẻ nhạt.

    Những tiếng A-men vang lên báo hiệu bài kinh dứt. Các em vội vã lấy cặp chào tôi ra về. Ðợi các em đã xuống cầu thang, tôi mới chậm rãi rời lớp học.

    Ngoài hành lang, tôi thấy bé Giang còn đứng chần chờ đợi ai. Buổi chiếu có gió nên một tay cầm cặp, một tay em phải vuốt những sợi tóc bay lõa xoã trước mặt. Khi tôi đến gần, em cúi chào và trao một phong bì nhỏ màu trắng.

    - Thưa thầy, ba má em có lời mời thầy đến dự tiệc chung vui với gia đình em đêm Noel.

    Tôi đọc qua những lời mời viết trên danh thiếp in tên một thương gia nổi tiếng, rồi nói:

    - Cảm ơn gia đình em. Trường nghỉ lễ một tuần, có thể tôi sẽ về thăm nhà ở ngoài Trung nên không chắc đến dự tiệc được.

    Cô bé có vẻ hơi buồn, ngập ngừng lúc lâu em mới nói:

    - Em kính chúc thầy mùa Giáng Sinh tốt lành.

    - Tôi cũng chúc em và gia đình có những ngày lễ thật vui.

    Tôi đi xuống cầu thang phía trái, dẫn đến phòng giáo sư. Các giáo sư đa số là sư huynh và dì phước, đang chuyện trò vui vẽ quanh chiếc bàn ngồi họp. Tôi gặp thầy giám học khi đến rửa tay ở lavabo. Anh nói với tôi những lời mời như bé Giang và tôi cũng xin lỗi không thể chung vui. Tuy vậy, anh vẫn căn dặn vào đêm Giáng Sinh nếu tôi đột nhiên đổi ý thì đừng ngại gì cả, cứ đến đây chung vui, những chai rượu nho luôn luôn có sẵn để đón tiếp tôi.

    Ngoài sân chơi không còn một học sinh nào. Những tàng cây cao và tường quét vôi xám nhạt làm nơi đây trời tối rất nhanh. Vào mùa này nắng quá yếu, buổi trưa gần như biến mất, người ta nhận ra buổi sáng quá dài, buổi chiều chỉ trong vài tiếng đồng hồ rồi buổi tối rất nhanh. Tôi đi bộ trên đường vắng, có hai hàng cây chạy dài che khuất màu trời ở phía xa. Không khí mát lạnh dần, thỉnh thoảng những con én bay lượn giữa hai chòm cây, trông như một đàn dơi đi kiếm ăn.

    Gần một ngã tư, những ống đèn màu bên ngoài một siêu thị đã bật sáng. Tôi ghé vào như thường lệ để mua những thực phảm làm sẵn. Những bữa ăn trưa, tôi đều ăn ở một quán gần nhà, nhưng bữa tối tôi thích tự tay mình làm lấy rồi ngồi ăn một mình thong thả và kiểu cách bên một ngọn nến.

    Ở trong siêu thị đã trưng bày gần tuần nay một cây thông tươi lá xanh ngắt, mắc đầy những bóng điện có hình dạng ông già Noel và những trái cầu. Cô bán hàng quen thuộc mặc áo dài đỏ hồng đến chào hỏi:

    - Hôm nay, ông có mua hột hạnh nhân về làm bánh ăn Reveillon không ạ?

    - Tiếc quá, tôi phân bua. Tôi không biết làm bánh. Nhưng biết đâu chính vì thế Chúa sẽ thương hại ban ân sủng cho cô nào đó đến giúp tôi.

    - Vậy thì tôi thành thật cầu chúc ân sủng sớm đến với ông.

    - Cô không cần phải cầu chúc. Cô có thể làm cho ân sủng đó đến ngay bây giờ được mà.

    - Ðâu được. Như thế “tai hoạ” sẽ đến với ông ngay.

    Nàng nói xong, cả hai chúng tôi đều bật cười. Tôi nhờ nàng lấy cho mấy hộp thịt, đậu, cà chua, những búp rau xà lách tươi và một hộp trái vải. Tất cả được nàng bỏ vào một túi nylon có quai xách trao cho tôi đem đến tính tiền ở quầy hàng. Khi tôi bước đi, nàng nói:

    - Ông quên chưa chúc mừng tôi.

    Tôi nghĩ, không biết phải chúc gì cho nàng, nhìn thấy trên tường có dòng chữ điện màu đỏ Merry Christmas, tôi chỉ tay.

    - Tôi chúc cô như vậy, đủ chưa?

    - Ông hà tiện lời chúc quá.

    - Tôi sợ lời chúc dài dòng của tôi không “đẹp” bằng dòng chữ ngắn gọn đó, nên sẽ kém linh nghiệm đi.

    - Vậy thì xin cảm ơn ông.

    Ðèn đường đã bật sáng khi tôi ra ngoài siêu thị. Những bóng đèn được thay có màu trắng xanh khác hẳn những bóng đèn tròn ngày xưa tỏa ánh sáng vàng đục. Ở phố chính, đèn xe và đèn các cửa hiệu bật sớm giúp bóng tối xóa nhanh chút ánh sáng vàng đỏ của buổi chạng vạng. Trong một quán kem thưa khách, dán đầy những poster các ca sĩ tóc dài và những dấu hiệu hòa bình. Tiếng nhạc Beatles thoát ra dồn dập. Get back! Get back to where you once belonged. Hãy trở về nơi anh đã một lần tùy thuộc. Tự nhiên tôi nhớ thành phố Ðà Nẵng một cách kỳ lạ.

    Thành phố ấy đã chất đầy những kỷ niệm trong trí nhớ tôi. Những ngày mưa tháng gió, những người bạn chân tình, những đam mê (như văn chương, tình yêu... ) thật nồng nàn, chua xót. Tôi không sinh ra ở nơi ấỵ Một thành phố tạm cư, chẳng có gì bắt tôi phải giữ mối dây ràng buộc khi đã có dịp rời xa. Nhưng thành phố ấy, hình như còn muốn giấu, muốn nói với tôi một điều gì, nên đã nhiều lần rời xa, tôi vẫn cố gắng tìm cách trở về. Một ảo tưởng về nơi im khuất? Hay cần phải nuôi dưỡng một nơi chốn để trở về cho kẻ xa quê hương? Có thể ta sẽ trở về ngay trong ngày mai. Tôi nhủ thầm như vậy, khi băng qua đường đầy xe cộ dừng lại chờ đèn xanh.

    Phải mất một tiếng đồng hồ, tôi mới làm xong bữa ăn gồm: một nồi cơm, tô soupe, rau sống và thịt kho. Vừa ngồi vào bàn, tôi nghe có tiếng gõ cửa dè dặt, vì lười biếng tôi ngồi yên trên ghế nói mời vào. Lạ lùng chưa Nguyên hiện ra ở cửa với chiếc va ly lớn. Tôi vội kéo ghế đứng dậy:

    - Tôi không mơ đấy chứ!

    Nàng cười nói:

    - Thì Nguyên đã viết thư báo cho anh trước rồi còn gì.

    Trong một lá thư, tôi còn nhớ đã viết: Nếu Nguyên có dịp xuống thăm thành phố ồn ào này hãy ghé thăm tôi. Chúng ta vẫn xem nhau là bạn như những ngày còn đi học và tôi hứa nhất định không “yêu” cô đâu mà sợ. Nguyên trả lời bằng lòng, nhưng không hẹn rõ ràng, nên tôi tưởng nàng sẽ đến vào dịp nghỉ hè không ngờ lại là đêm nay. Tôi chỉ mâm cơm:

    - Số bạn thật may, tôi đang đói, nếu đến trễ chừng mười phút chắc bạn chỉ có cơ hội đi rửa chén. Bây giờ hãy đi thay quần áo rồi ngồi ăn với tôi cho vui.

    Tôi đến xách va ly và chỉ cho Nguyên biết phòng ngủ và nhà tắm. Một lúc sau, nàng đã thay xong bộ quần áo có hoa lớn và mặc thêm một chiếc áo len trắng mỏng. Nàng hỏi:

    - Anh không lạnh sao mà không mặc áo len?

    Tôi lắc đầu.

    - Tôi vừa mới nấu cơm xong.

    Nàng cười lớn.

    - Tội nghiệp chưa. Ai bảo ông giáo cứ khó tánh kén chọn hiền thê mãi.

    Trong phòng chỉ có hai chiếc ghế mây, thật vừa đủ. Tôi kéo một chiếc ghế mời Nguyên và tôi ngồi xuống chiếc ghế đối diện với nàng.

    - Ăn cho no nghe bạn. Ðừng khách sáo rồi tối đến lại bắt tôi phải lặn lội đi mua bánh mì tội nghiệp.

    Chúng tôi bắt đầu bữa ăn một cách vui vẽ. Nếm qua món soupe, nàng khen tôi nấu ngon không thua gì những nhà hàng lớn. Tôi bật cười nói:

    - Nịnh vừa thôi chứ bạn. Ðịnh bắt tôi ngày mai phải nấu nướng cho bạn ăn nữa sao?

    Chợt nhớ ra câu chuyện với cô bán hàng ở siêu thị lúc chiều, tôi kể lại cho Nguyên nghe. Nàng hỏi:

    - Vậy theo anh. Nguyên đem đến cho anh ân sủng hay tai hoạ?

    - Ðàn bà thường đem đến cả hai điều đó cùng một lúc.

    - Nói chi mà dễ sợ.

    Ngọn nến trên bàn ăn sắp tắt, tôi đứng dậy đi lấy cây nến khác, châm mồi và gắn trên thân cân nến tàn.

    - Bóng điện ở phòng này bị cháy hả anh?

    - Không. Từ bữa ăn tối trở đi, tôi sợ phải nhìn ánh sáng đèn điện, nếu không có việc cần làm tôi thường để nhà tối om. Có chút bóng tối để ẩn mình, tôi thấy sống dễ dàng hơn, không tin Nguyên cứ làm thử xem.

    Nàng lắc đầu.

    - Nguyên chịu thua. Anh luôn luôn có những tính kỳ quặc. Anh nhớ không, năm cuối ở trung học một lần chúng ta cùng đi dạo chơi trong rừng thông, anh mãi đuổi theo một con sóc rồi bỏ đi luôn. Sợ đêm xuống có thể bị lạc, Nguyên đã tức tưởi khóc lần mò đi về một mình. Vào thành phố gặp lại anh ngồi ngoài hiên một quán cà phê, anh nói tỉnh bơ: Tôi đuổi theo con sóc đến đây bị mất dấu. Nguyên không nhớ anh còn nói gì nữa. Nguyên mới chịu ngồi xuống uống nước với anh, có lẽ ngay từ lần ấy Nguyên đã bị cái tính kỳ quặc của anh mê hoặc.

    Tôi khua tay.

    - Thôi chứ. Kỷ niệm, bạn nhận ra không, chỉ làm bữa ăn nguội đi.

    Nhưng rồi bữa ăn được hâm nóng bằng kỷ niệm của mỗi người. Nguyên kể lại những ngày học nội trú ở Ðà Lạt. Nàng nói trên ấy bây giời lạnh ghê lắm nếu ở trong phòng một mình, nhưng ra ngoài nhìn thấy những cây anh đào nở rộ tự nhiên mình cảm thấy ấm áp hơn. Rồi nàng tiếp tục nói về những người bạn, đặc tính của các giáo sư và các môn học.

    - “Luận lý toán học” khô khan quá, nàng nói, đầu óc Nguyên chẳng ghi nhận được gì, đến kỳ thi cuối năm không biết làm sao đây.

    Tôi nói:

    - Với đàn bà, hai với hai là năm dễ hiểu hơn hai với hai là bốn.

    Nàng nhăn mặt.

    - Ông khi dễ tôi quá vậy. Nói cho ông biết kỳ thi đệ nhất lục cá nguyệt vừa qua, tôi đã đứng nhất và trong lớp tôi không thiếu những đấng “thông minh nhất nam tử” như ông đâu. Ðùa vậy chứ, trường anh hiện dạy có dễ chịu không, tốt nghiệp xong Nguyên nhờ anh xin cho dạy với.

    - Nếu bạn dạy ở đây, tôi xin đổi đi nơi khác.

    - Bộ giận rồi sao?

    - Không phải vậy. Tôi chỉ sợ gặp bạn mãi, tôi chắc sẽ bị bạn mê hoặc mất.

    Tôi dùng hai chữ “mê hoặc” của nàng khiến Nguyên cười ngất, đến phải buông đũa xuống.

    Bữa cơm không có gì, nhưng chúng tôi cũng kéo dài khá lâu và chấm dứt bằng những trái mận vàng mọng, những trái dâu chín đỏ tươi, Nguyên mang từ Ðà Lạt xuống. Nàng nói:

    - Ở Ðà Lạt, Nguyên biết có một chỗ bán rượu dâu nguyên chất rất ngọt lịm nhưng dễ say ngầm. Ðịnh mua cho anh mấy chai, nhưng nghỉ đàn ông có rượu dễ sợ lắm nên thôi.

    Tôi ngây thơ hỏi:

    - Tại sao vậy?

    - Nguyên sợ biết đâu vì mấy chai rượu dâu anh sẽ nói “yêu” Nguyên.

    - Ô, như thế người sợ rượu phải là tôi mới đúng chứ.

    Chúng tôi pha cà phê uống và tiếp tục nói không ngớt những chuyện đâu đâu đến khuya khi những đóa hồng Nguyên mua tặng tôi, cắm vào chiếc ly lớn trên bàn toả hương thơm ngào ngạt. Tôi phải mời Nguyên đi nghỉ để còn lấy sức đi dạo chơi ngày mai.

    Ðêm Giáng Sinh đến với sự chuẩn bị nhộn nhịp của người Công giáo. Trong nhà thờ Ðức Bà đông nghẹt những con chiên đứng ở các hành lang, khiến người ta chẳng thể nào nhìn thấy Ðức Tổng Giám mục đang làm lễ trên bệ cao. Bên ngoài nhà thờ, đa số là những người tuổi trẻ. Họ chưng diện quần áo đủ mốt, đeo mặt nạ, đội mũ giấy và miệng thổi những chiếc ống có vòi thò ra thụt vào như lưỡi rắn. Họ ném hoa giấy một cách xấc xuợc vào mặt những người đi đường và tất cả đều giỡn như đang tham dự lễ mừng Chúa ra đời.

    Vì lý do an ninh, lễ nửa đêm được cử hành trước mười hai giờ khuya. Buổi lễ thiếu cái lạnh của đêm khuya và sự yên tĩnh giả tạo làm cho buổi lể như được mong cho chóng qua. Tôi còn nhớ lần dự lễ ở một ngôi làng nhỏ sát bải biển Thanh Bồ, nơi đa số dân chúng là những nguời di cư còn nghèo khổ và nghề chài lưới chưa đem lại mức sống tạm đủ cho mọi người. Nhà thờ được lợp tôn, gác chuông dựng trên những thân tre cao. Các con chiên đã phải quì gối đọc kinh ngoài sân trên cát uớt. Tiếng kinh cầu lẫn trong tiếng gió, tiếng sóng và sương lạnh đã giúp tôi thấu hiểu tại sao người ta phải tin một đấng thiêng liêng và tại sao đấng thiêng liêng cần phải hiện hữu. Tôi cũng đã tự hỏi, phải chăng tín ngưỡng đích thực chỉ có ở những người nghèo khổ. “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Tiếng đồng ca của các em nhỏ rét run trong những chiếc áo rách vải, nhưng vẫn cố gắng đứng thẳng người thành kính ngẫng mặt nhìn trời chờ mong phép lạ, đã làm tôi ứa nước mắt. Còn lúc này, ở đây, buổi lễ vừa chấm dứt bằng một hồi chuông uể oải, tiếng ồn ào đã dẩy lên điếc tai bởi những người nôn nóng di chuyển sớm.

    Tôi và Nguyên phải đi vào chỗ đậu xe hơi để đở chen lấn. Có tiếng thưa thầy khi chúng tôi đi ngang qua một chiếc xe sơn màu xanh thẩm. Bé Giang mở cửa xe bước xuống. Trong chiếc áo dài ngắn vạt màu cá vàng rực rỡ nổi bật trong đêm, trông em lạ và cao hơn ngày thường mặc đồ đầm đến trường. Em có vẻ mừng rở gặp tôi ở đây, em hỏi:

    - Thưa thầy, thầy không về ngoài Trung?

    - Không. Tôi ở lại đây.

    - A! Như vậy, thầy có thể đến dự tiệc chung vui với gia đình em rồi. Ba má em ở nhà thờ sắp ra, xin thầy đợi ít phút để em được giới thiệu.

    - Cám ơn em. Rất tiếc, tôi phải chung vui với người bạn đây.

    Tôi chỉ Nguyên. Em ngạc nhiên nhìn nàng rồi quay lại hỏi tôi:

    - Một người bạn của thầy?

    - Phải.

    Em cúi đầu chào Nguyên xong nhanh nhẹn mở cưa xe vào ngồi khuất trong bóng tối ở ghế sau.

    Tôi nắm tay Nguyên đi len lỏi giữa những chiếc xe đang rồ máy, thoát ra khỏi đám đông chen lấn, bằng một con đường nhỏ dần ra khỏi trung tâm thành phố.

     

     

     

    VÍ DỤ 9

    Như thế chỉ còn hai ngày nữa là Giáng Sinh sẽ đến, chậm rãi nhưng chẳng thể nào sảy hụt.

    Cả lớp đang rộn lên với những lời chúc mừng và mời hẹn. Tôi ngồi ở bàn giáo sư nhìn ngắm những thiệp mừng đầy những hình vẽ Chúa Hài Ðồng, máng cỏ, lễ ba vua... do chính tay các em học sinh vẽ bằng màu nước sặc sở và ngộ nghĩnh gửi tặng. Một lớp học còn nhiều tình nghĩa, tôi nghĩ vậy và vừa lúc tiếng chuông vang lên. Các em đứng dậy thẳng người và chuẩn bị đọc những lời kinh mừng Chúa ra đời mà các em đã học trong giờ giáo lý. Tôi để lại xấp thiệp trên bàn đi xuống đứng dựa lưng vào vách tường cuối lớp. Trước mặt chúng tôi, trên bảng đen, tượng Chúa đóng đinh trên thập giá chìm ngập trong ánh nắng vàng nhạt buổi chiều.

    Tôi không phải là một tín đồ Thiên Chúa giáo. Tôi quen một sư huynh làm Giám học trường nữ trung học này mời dạy, anh là một tu sĩ cấp tiến đã học chung với tôi nhiều năm tại Ðại học Văn khoa Sàigòn. Thú thật, tôi đã rất ngỡ ngàng hôm nhận được lời mời. Tôi phân trần với anh trong một ngôi trường giàu đức tin như vậy làm sao có thể dung chứa được tôi. Anh cười nói, thế càng may cho cậu. Sinh hoạt trong một môi trường giàu đức tin, biết đâu nó sẽ giúp cho cậu có được đức tin, bộ cậu không cần đến đức tin sao. Ðức tin, điều tôi chẳng bao giờ quan tâm đến. Tôi không biết khi tôi có đức tin tôi có sống khác với đời sống tôi đang sống không, có đức tin tôi sẽ sống dễ dàng hơn hay khó khăn hơn? Dù sao cũng thử xem, nên tôi đã vui vẻ nhận lời phụ trách môn Việt văn cho ngôi trường thiên về chương trình Pháp của anh.

    Vào những phút đọc kinh ở hai buổi sáng, chiều của các em, tôi cũng đứng lẩm bẩm những lời kinh còn nhớ được và khi những cánh tay của các em vừa giơ lên, tôi cũng theo các em làm dấu thánh nhanh và gọn gàng. Một em trong lớp đã buộc tôi phải làm như thế. Ngay trong giờ ra chơi buổi dạy đầu tiên, em đến hỏi tôi:

    - Thưa thầy, sao thầy không đọc kinh?

    Tôi chẳng biết nhận mình theo tôn giáo nào, còn giải thích sự thiếu đức tin trong tôi cho em hiểu thì thật phiền, vì sợ biết đâu lại chẳng gây ra mối ngờ vực tôn giáo trong em. Tôi đành nói:

    - Tôi có thể đọc thầm được chứ.

    Cô bé lắc đầu.

    - Ai mà tin thầy. Em cũng không thấy thầy làm dấu thánh.

    - Tôi cũng làm dấu ngầm trong đầu.

    - Cái gì cũng trong đầu như thế thật tiện, lần sau em sẽ bắt chước thầy.

    Tôi vội khua tay.

    - Không được, các em thì khác.

    Cô bé quay mặt đi, làm như không muốn cho tôi nghe, em đọc một câu trong sách kinh nói về sự bình đẳng của mọi người trước Thiên Chúa và tôi đã phải hứa lần sau làm như các em, cô bé mới vừa lòng.

    Ðể giử lời hứa với cô bé, khi tan học buổi sáng đó, tôi đi tìm thầy giám học nhờ anh chép hộ bài kinh các em thường đọc (bài kinh ngắn khoảng nửa trang giấy học trò, nhưng đến bây giờ tôi vẫn chưa một lần đọc thuộc trọn vẹn và nhờ anh dạy làm dấu thánh. Anh nghi ngờ hỏi tôi đã bắt đầu có đức tin rồi sao, nhanh vậy? Vì muốn giấu anh chuyện cô bé chật vấn, nên tôi trả lời là tôi muốn bắt đầu hình thức và anh gật gù nói chẳng bao lâu rồi nội dung sẽ đến sau.

    Trong giờ học kế tiếp, vào phút đọc kinh, tôi thấy rõ ràng cô bé liếc mắt nhìn tôi kiểm soát. Thật may, tôi còn nhớ những lời kinh đầu nên đọc rất to và sau cùng tôi đã làm dấu thánh rất gọn gàng. Chẳng bao giờ tôi quên được nụ cười “đắc ý” của em.

    Cô bé ấy tên Giang. Lúc đầu, tôi cũng bực mình vì tính tò mò bắt bẻ của em nhưng sau vài tháng dạy học, tôi nhận ra em rất thông minh.

    Những người thông minh (nhất là con gái) gây nên rắc rối là chuyện thường, nên dần dần tôi đã thông cảm và có thiện cảm với em. Thật thích thú được dạy những em hay chất vấn vì nhờ đó lớp học đỡ tẻ nhạt.

    Những tiếng A-men vang lên báo hiệu bài kinh dứt. Các em vội vã lấy cặp chào tôi ra về. Ðợi các em đã xuống cầu thang, tôi mới chậm rãi rời lớp học.

    Ngoài hành lang, tôi thấy bé Giang còn đứng chần chờ đợi ai. Buổi chiếu có gió nên một tay cầm cặp, một tay em phải vuốt những sợi tóc bay lõa xoã trước mặt. Khi tôi đến gần, em cúi chào và trao một phong bì nhỏ màu trắng.

    - Thưa thầy, ba má em có lời mời thầy đến dự tiệc chung vui với gia đình em đêm Noel.

    Tôi đọc qua những lời mời viết trên danh thiếp in tên một thương gia nổi tiếng, rồi nói:

    - Cảm ơn gia đình em. Trường nghỉ lễ một tuần, có thể tôi sẽ về thăm nhà ở ngoài Trung nên không chắc đến dự tiệc được.

    Cô bé có vẻ hơi buồn, ngập ngừng lúc lâu em mới nói:

    - Em kính chúc thầy mùa Giáng Sinh tốt lành.

    - Tôi cũng chúc em và gia đình có những ngày lễ thật vui.

    Tôi đi xuống cầu thang phía trái, dẫn đến phòng giáo sư. Các giáo sư đa số là sư huynh và dì phước, đang chuyện trò vui vẽ quanh chiếc bàn ngồi họp. Tôi gặp thầy giám học khi đến rửa tay ở lavabo. Anh nói với tôi những lời mời như bé Giang và tôi cũng xin lỗi không thể chung vui. Tuy vậy, anh vẫn căn dặn vào đêm Giáng Sinh nếu tôi đột nhiên đổi ý thì đừng ngại gì cả, cứ đến đây chung vui, những chai rượu nho luôn luôn có sẵn để đón tiếp tôi.

    Ngoài sân chơi không còn một học sinh nào. Những tàng cây cao và tường quét vôi xám nhạt làm nơi đây trời tối rất nhanh. Vào mùa này nắng quá yếu, buổi trưa gần như biến mất, người ta nhận ra buổi sáng quá dài, buổi chiều chỉ trong vài tiếng đồng hồ rồi buổi tối rất nhanh. Tôi đi bộ trên đường vắng, có hai hàng cây chạy dài che khuất màu trời ở phía xa. Không khí mát lạnh dần, thỉnh thoảng những con én bay lượn giữa hai chòm cây, trông như một đàn dơi đi kiếm ăn.

    Gần một ngã tư, những ống đèn màu bên ngoài một siêu thị đã bật sáng. Tôi ghé vào như thường lệ để mua những thực phảm làm sẵn. Những bữa ăn trưa, tôi đều ăn ở một quán gần nhà, nhưng bữa tối tôi thích tự tay mình làm lấy rồi ngồi ăn một mình thong thả và kiểu cách bên một ngọn nến.

    Ở trong siêu thị đã trưng bày gần tuần nay một cây thông tươi lá xanh ngắt, mắc đầy những bóng điện có hình dạng ông già Noel và những trái cầu. Cô bán hàng quen thuộc mặc áo dài đỏ hồng đến chào hỏi:

    - Hôm nay, ông có mua hột hạnh nhân về làm bánh ăn Reveillon không ạ?

    - Tiếc quá, tôi phân bua. Tôi không biết làm bánh. Nhưng biết đâu chính vì thế Chúa sẽ thương hại ban ân sủng cho cô nào đó đến giúp tôi.

    - Vậy thì tôi thành thật cầu chúc ân sủng sớm đến với ông.

    - Cô không cần phải cầu chúc. Cô có thể làm cho ân sủng đó đến ngay bây giờ được mà.

    - Ðâu được. Như thế “tai hoạ” sẽ đến với ông ngay.

    Nàng nói xong, cả hai chúng tôi đều bật cười. Tôi nhờ nàng lấy cho mấy hộp thịt, đậu, cà chua, những búp rau xà lách tươi và một hộp trái vải. Tất cả được nàng bỏ vào một túi nylon có quai xách trao cho tôi đem đến tính tiền ở quầy hàng. Khi tôi bước đi, nàng nói:

    - Ông quên chưa chúc mừng tôi.

    Tôi nghĩ, không biết phải chúc gì cho nàng, nhìn thấy trên tường có dòng chữ điện màu đỏ Merry Christmas, tôi chỉ tay.

    - Tôi chúc cô như vậy, đủ chưa?

    - Ông hà tiện lời chúc quá.

    - Tôi sợ lời chúc dài dòng của tôi không “đẹp” bằng dòng chữ ngắn gọn đó, nên sẽ kém linh nghiệm đi.

    - Vậy thì xin cảm ơn ông.

    Ðèn đường đã bật sáng khi tôi ra ngoài siêu thị. Những bóng đèn được thay có màu trắng xanh khác hẳn những bóng đèn tròn ngày xưa tỏa ánh sáng vàng đục. Ở phố chính, đèn xe và đèn các cửa hiệu bật sớm giúp bóng tối xóa nhanh chút ánh sáng vàng đỏ của buổi chạng vạng. Trong một quán kem thưa khách, dán đầy những poster các ca sĩ tóc dài và những dấu hiệu hòa bình. Tiếng nhạc Beatles thoát ra dồn dập. Get back! Get back to where you once belonged. Hãy trở về nơi anh đã một lần tùy thuộc. Tự nhiên tôi nhớ thành phố Ðà Nẵng một cách kỳ lạ.

    Thành phố ấy đã chất đầy những kỷ niệm trong trí nhớ tôi. Những ngày mưa tháng gió, những người bạn chân tình, những đam mê (như văn chương, tình yêu... ) thật nồng nàn, chua xót. Tôi không sinh ra ở nơi ấỵ Một thành phố tạm cư, chẳng có gì bắt tôi phải giữ mối dây ràng buộc khi đã có dịp rời xa. Nhưng thành phố ấy, hình như còn muốn giấu, muốn nói với tôi một điều gì, nên đã nhiều lần rời xa, tôi vẫn cố gắng tìm cách trở về. Một ảo tưởng về nơi im khuất? Hay cần phải nuôi dưỡng một nơi chốn để trở về cho kẻ xa quê hương? Có thể ta sẽ trở về ngay trong ngày mai. Tôi nhủ thầm như vậy, khi băng qua đường đầy xe cộ dừng lại chờ đèn xanh.

    Phải mất một tiếng đồng hồ, tôi mới làm xong bữa ăn gồm: một nồi cơm, tô soupe, rau sống và thịt kho. Vừa ngồi vào bàn, tôi nghe có tiếng gõ cửa dè dặt, vì lười biếng tôi ngồi yên trên ghế nói mời vào. Lạ lùng chưa Nguyên hiện ra ở cửa với chiếc va ly lớn. Tôi vội kéo ghế đứng dậy:

    - Tôi không mơ đấy chứ!

    Nàng cười nói:

    - Thì Nguyên đã viết thư báo cho anh trước rồi còn gì.

    Trong một lá thư, tôi còn nhớ đã viết: Nếu Nguyên có dịp xuống thăm thành phố ồn ào này hãy ghé thăm tôi. Chúng ta vẫn xem nhau là bạn như những ngày còn đi học và tôi hứa nhất định không “yêu” cô đâu mà sợ. Nguyên trả lời bằng lòng, nhưng không hẹn rõ ràng, nên tôi tưởng nàng sẽ đến vào dịp nghỉ hè không ngờ lại là đêm nay. Tôi chỉ mâm cơm:

    - Số bạn thật may, tôi đang đói, nếu đến trễ chừng mười phút chắc bạn chỉ có cơ hội đi rửa chén. Bây giờ hãy đi thay quần áo rồi ngồi ăn với tôi cho vui.

    Tôi đến xách va ly và chỉ cho Nguyên biết phòng ngủ và nhà tắm. Một lúc sau, nàng đã thay xong bộ quần áo có hoa lớn và mặc thêm một chiếc áo len trắng mỏng. Nàng hỏi:

    - Anh không lạnh sao mà không mặc áo len?

    Tôi lắc đầu.

    - Tôi vừa mới nấu cơm xong.

    Nàng cười lớn.

    - Tội nghiệp chưa. Ai bảo ông giáo cứ khó tánh kén chọn hiền thê mãi.

    Trong phòng chỉ có hai chiếc ghế mây, thật vừa đủ. Tôi kéo một chiếc ghế mời Nguyên và tôi ngồi xuống chiếc ghế đối diện với nàng.

    - Ăn cho no nghe bạn. Ðừng khách sáo rồi tối đến lại bắt tôi phải lặn lội đi mua bánh mì tội nghiệp.

    Chúng tôi bắt đầu bữa ăn một cách vui vẽ. Nếm qua món soupe, nàng khen tôi nấu ngon không thua gì những nhà hàng lớn. Tôi bật cười nói:

    - Nịnh vừa thôi chứ bạn. Ðịnh bắt tôi ngày mai phải nấu nướng cho bạn ăn nữa sao?

    Chợt nhớ ra câu chuyện với cô bán hàng ở siêu thị lúc chiều, tôi kể lại cho Nguyên nghe. Nàng hỏi:

    - Vậy theo anh. Nguyên đem đến cho anh ân sủng hay tai hoạ?

    - Ðàn bà thường đem đến cả hai điều đó cùng một lúc.

    - Nói chi mà dễ sợ.

    Ngọn nến trên bàn ăn sắp tắt, tôi đứng dậy đi lấy cây nến khác, châm mồi và gắn trên thân cân nến tàn.

    - Bóng điện ở phòng này bị cháy hả anh?

    - Không. Từ bữa ăn tối trở đi, tôi sợ phải nhìn ánh sáng đèn điện, nếu không có việc cần làm tôi thường để nhà tối om. Có chút bóng tối để ẩn mình, tôi thấy sống dễ dàng hơn, không tin Nguyên cứ làm thử xem.

    Nàng lắc đầu.

    - Nguyên chịu thua. Anh luôn luôn có những tính kỳ quặc. Anh nhớ không, năm cuối ở trung học một lần chúng ta cùng đi dạo chơi trong rừng thông, anh mãi đuổi theo một con sóc rồi bỏ đi luôn. Sợ đêm xuống có thể bị lạc, Nguyên đã tức tưởi khóc lần mò đi về một mình. Vào thành phố gặp lại anh ngồi ngoài hiên một quán cà phê, anh nói tỉnh bơ: Tôi đuổi theo con sóc đến đây bị mất dấu. Nguyên không nhớ anh còn nói gì nữa. Nguyên mới chịu ngồi xuống uống nước với anh, có lẽ ngay từ lần ấy Nguyên đã bị cái tính kỳ quặc của anh mê hoặc.

    Tôi khua tay.

    - Thôi chứ. Kỷ niệm, bạn nhận ra không, chỉ làm bữa ăn nguội đi.

    Nhưng rồi bữa ăn được hâm nóng bằng kỷ niệm của mỗi người. Nguyên kể lại những ngày học nội trú ở Ðà Lạt. Nàng nói trên ấy bây giời lạnh ghê lắm nếu ở trong phòng một mình, nhưng ra ngoài nhìn thấy những cây anh đào nở rộ tự nhiên mình cảm thấy ấm áp hơn. Rồi nàng tiếp tục nói về những người bạn, đặc tính của các giáo sư và các môn học.

    - “Luận lý toán học” khô khan quá, nàng nói, đầu óc Nguyên chẳng ghi nhận được gì, đến kỳ thi cuối năm không biết làm sao đây.

    Tôi nói:

    - Với đàn bà, hai với hai là năm dễ hiểu hơn hai với hai là bốn.

    Nàng nhăn mặt.

    - Ông khi dễ tôi quá vậy. Nói cho ông biết kỳ thi đệ nhất lục cá nguyệt vừa qua, tôi đã đứng nhất và trong lớp tôi không thiếu những đấng “thông minh nhất nam tử” như ông đâu. Ðùa vậy chứ, trường anh hiện dạy có dễ chịu không, tốt nghiệp xong Nguyên nhờ anh xin cho dạy với.

    - Nếu bạn dạy ở đây, tôi xin đổi đi nơi khác.

    - Bộ giận rồi sao?

    - Không phải vậy. Tôi chỉ sợ gặp bạn mãi, tôi chắc sẽ bị bạn mê hoặc mất.

    Tôi dùng hai chữ “mê hoặc” của nàng khiến Nguyên cười ngất, đến phải buông đũa xuống.

    Bữa cơm không có gì, nhưng chúng tôi cũng kéo dài khá lâu và chấm dứt bằng những trái mận vàng mọng, những trái dâu chín đỏ tươi, Nguyên mang từ Ðà Lạt xuống. Nàng nói:

    - Ở Ðà Lạt, Nguyên biết có một chỗ bán rượu dâu nguyên chất rất ngọt lịm nhưng dễ say ngầm. Ðịnh mua cho anh mấy chai, nhưng nghỉ đàn ông có rượu dễ sợ lắm nên thôi.

    Tôi ngây thơ hỏi:

    - Tại sao vậy?

    - Nguyên sợ biết đâu vì mấy chai rượu dâu anh sẽ nói “yêu” Nguyên.

    - Ô, như thế người sợ rượu phải là tôi mới đúng chứ.

    Chúng tôi pha cà phê uống và tiếp tục nói không ngớt những chuyện đâu đâu đến khuya khi những đóa hồng Nguyên mua tặng tôi, cắm vào chiếc ly lớn trên bàn toả hương thơm ngào ngạt. Tôi phải mời Nguyên đi nghỉ để còn lấy sức đi dạo chơi ngày mai.

    Ðêm Giáng Sinh đến với sự chuẩn bị nhộn nhịp của người Công giáo. Trong nhà thờ Ðức Bà đông nghẹt những con chiên đứng ở các hành lang, khiến người ta chẳng thể nào nhìn thấy Ðức Tổng Giám mục đang làm lễ trên bệ cao. Bên ngoài nhà thờ, đa số là những người tuổi trẻ. Họ chưng diện quần áo đủ mốt, đeo mặt nạ, đội mũ giấy và miệng thổi những chiếc ống có vòi thò ra thụt vào như lưỡi rắn. Họ ném hoa giấy một cách xấc xuợc vào mặt những người đi đường và tất cả đều giỡn như đang tham dự lễ mừng Chúa ra đời.

    Vì lý do an ninh, lễ nửa đêm được cử hành trước mười hai giờ khuya. Buổi lễ thiếu cái lạnh của đêm khuya và sự yên tĩnh giả tạo làm cho buổi lể như được mong cho chóng qua. Tôi còn nhớ lần dự lễ ở một ngôi làng nhỏ sát bải biển Thanh Bồ, nơi đa số dân chúng là những nguời di cư còn nghèo khổ và nghề chài lưới chưa đem lại mức sống tạm đủ cho mọi người. Nhà thờ được lợp tôn, gác chuông dựng trên những thân tre cao. Các con chiên đã phải quì gối đọc kinh ngoài sân trên cát uớt. Tiếng kinh cầu lẫn trong tiếng gió, tiếng sóng và sương lạnh đã giúp tôi thấu hiểu tại sao người ta phải tin một đấng thiêng liêng và tại sao đấng thiêng liêng cần phải hiện hữu. Tôi cũng đã tự hỏi, phải chăng tín ngưỡng đích thực chỉ có ở những người nghèo khổ. “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Tiếng đồng ca của các em nhỏ rét run trong những chiếc áo rách vải, nhưng vẫn cố gắng đứng thẳng người thành kính ngẫng mặt nhìn trời chờ mong phép lạ, đã làm tôi ứa nước mắt. Còn lúc này, ở đây, buổi lễ vừa chấm dứt bằng một hồi chuông uể oải, tiếng ồn ào đã dẩy lên điếc tai bởi những người nôn nóng di chuyển sớm.

    Tôi và Nguyên phải đi vào chỗ đậu xe hơi để đở chen lấn. Có tiếng thưa thầy khi chúng tôi đi ngang qua một chiếc xe sơn màu xanh thẩm. Bé Giang mở cửa xe bước xuống. Trong chiếc áo dài ngắn vạt màu cá vàng rực rỡ nổi bật trong đêm, trông em lạ và cao hơn ngày thường mặc đồ đầm đến trường. Em có vẻ mừng rở gặp tôi ở đây, em hỏi:

    - Thưa thầy, thầy không về ngoài Trung?

    - Không. Tôi ở lại đây.

    - A! Như vậy, thầy có thể đến dự tiệc chung vui với gia đình em rồi. Ba má em ở nhà thờ sắp ra, xin thầy đợi ít phút để em được giới thiệu.

    - Cám ơn em. Rất tiếc, tôi phải chung vui với người bạn đây.

    Tôi chỉ Nguyên. Em ngạc nhiên nhìn nàng rồi quay lại hỏi tôi:

    - Một người bạn của thầy?

    - Phải.

    Em cúi đầu chào Nguyên xong nhanh nhẹn mở cưa xe vào ngồi khuất trong bóng tối ở ghế sau.

    Tôi nắm tay Nguyên đi len lỏi giữa những chiếc xe đang rồ máy, thoát ra khỏi đám đông chen lấn, bằng một con đường nhỏ dần ra khỏi trung tâm thành phố.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Ví dụ ta yêu nhau. Truyện của Đoàn Thạch Biền. In lần đầu tháng 7-1974 tại Sài Gòn. Năm 1990 tái bản lần 1, 1996 tái bản lần 2.

     

    Mục lục: 1 2 3 4

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập35,125,962

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/