Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,066,118

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tư liệu sáng tác

Về chuyện Việt Nam Cộng hòa đưa biệt kích xâm nhập miền Bắc

Tư liệu sưu tầm

  • Thứ tư, 16:41 Ngày 24/02/2021
  • *Nhấn chuột vô đây đọc các bài về  Tình báo trong chiến tranh Việt Nam

    Trong thập niên 1960, VNCH, với sự yểm trợ tích cực về tài chính và kỹ thuật của CIA đã gửi nhiều điệp viên và các toán biệt kích ra Miền Bắc với mục đích thực hiện một số công tác về thu thập tin tức, tuyển mộ điệp viên, và phá hoại.

    Theo đánh giá của chính người Mỹ và Việt Nam Cộng hòa (VNCH), các bên tham chiến trong Chiến tranh Việt Nam, bao gồm cả Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) đều sử dụng tình báo đến “mức độ tinh vi”. Nhà nghiên cứu Lâm Vĩnh Thế, một người có điều kiện tiếp xúc nhiều nguồn tài liệu từ chế độ Sài Gòn và đồng minh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam trước đây đã có một nghiên cứu tổng hợp về vấn đề này, trong đó có nêu chi tiết về những chiến dịch tình báo thất bại mà Mỹ và VNCH đã thực hiện tại miền Bắc và chiến trường miền Nam Việt Nam.

    Trong thời gian 300 ngày chuyển tiếp của việc thi hành Hiệp Ðịnh Genève 1954, một tổ CIA, dưới sự chỉ huy của Ðại Tá Edward Lansdale, đã tuyển mộ (từ các đảng viên của 2 chính đảng có chủ trương chống Cộng là Ðại Việt và Quốc Dân Ðảng), huấn luyện và gài đặt lại một số tổ tình báo ở miền Bắc.

    Kế hoạch “trường kỳ mai phục” này của CIA tương đối thành công vì lúc đó Miền Bắc chưa kiện toàn bộ máy an ninh của họ. Các tổ tình báo này hoạt động được hơn một thập niên nhưng sau cùng cũng bị lộ, bị bắt giam, và đưa ra tòa xét xử.

    Vụ án xét xử 10 gián điệp (tất cả đều là đảng viên Quốc Dân Ðảng, với 2 bản án tử hình) tại tòa án Hải Phòng vào tháng 4-1965 đã làm chấn động miền Bắc, như chúng ta thấy trong hình sau đây:

    Tòa án Hải Phòng xét xử vụ án gián điệp tháng 4-1965. Ảnh: Lấy từ sách “Spies and Commandos"

    Trong thập niên 1960, VNCH, với sự yểm trợ tích cực về tài chính và kỹ thuật của CIA, đã gửi nhiều điệp viên và các toán biệt kích ra Miền Bắc với mục đích thực hiện một số công tác về thu thập tin tức, tuyển mộ điệp viên, và phá hoại.

    Cơ quan của VNCH hợp tác với CIA trong kế hoạch này là một đơn vị tình báo lúc đầu trực thuộc Phủ Tổng thống dưới quyền chỉ huy của Trung tá Lê Quang Tung (sau thăng lên cấp Ðại tá, Chỉ Huy trưởng Lực lượng đặc biệt), với tên gọi thay đổi nhiều lần: Phòng Liên Lạc Phủ Tổng Thống, Phòng 45, Sở Bắc, Sở Khai Thác Ðịa Hình. 

    Lê Quang Tung, Trung tá sau là Đại tá QLVNCH, chỉ huy trưởng lực lượng đặc biệt của cơ quan tình báo với cái tên Sở Khai thác địa hình.

    Sau cuộc đảo chính ngày 1-11-1963, Sở Khai thác địa hình bị giải tán, và ngày 12-2-1965, Nha Kỹ thuật được thành lập để đảm nhận công tác tình báo này và được đặt trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu QLVNCH.

    Lúc đầu, kế hoạch này chỉ gửi từng điệp viên đơn độc ra nằm vùng tại miền Bắc (trong ngữ vựng của CIA gọi là các “singletons”). Ðiệp viên đầu tiên được gửi ra Miền Bắc trong kế hoạch này là Phạm Chuyên, một cựu Đảng viên Cộng sản của tỉnh bộ Quảng Ninh, đã từ bỏ Đảng và di cư vào Nam. Chuyên được huấn luyện rất kỹ trong hơn 1 năm và sau đó được bí mật đưa ra ém ở Cẩm Phả, trong vùng Vịnh Hạ Long, vào tháng 4-1961, với bí danh là ARES. Nhưng chỉ được hơn 2 tháng thì ARES đã bị bắt.

    ARES đầu hàng, trở thành công cụ của Miền Bắc, và gửi nhiều điện văn về để lừa CIA. Lúc đó CIA vẫn chưa biết sự thật về ARES, vẫn tiếp tục chương trình ”singletons” này. Kết quả là, cũng giống như ARES, các “singletons” kế tiếp, với các bí danh HIRONDELLE, HERO, TRITON, ATHENA, đều “biến mất” hết một cách bí mật.

    Sang năm 1962, tuy vẫn chưa nghi ngờ ARES, CIA đã bắt đầu không còn tin tưởng vào hiệu quả của chương trình “singletons” nữa và bắt đầu chuyển sang chương trình cho các toán biệt kích, từ 3 đến 8 người, nhảy dù xuống Miền Bắc.

    Một toán biệt kích bị bắt ngay khi vừa nhảy dù xuống miền Bắc.

    Riêng về “singleton” ARES thì từ 1966, CIA đã bắt đầu nghi ngờ và khi họ bố trí cho ARES “trở ra” (exfiltrate) thì ARES không làm theo chỉ thị; lúc đó CIA mới biết chắc ARES đã trở thành công cụ của tình báo Bắc Việt và chấm dứt liên hệ với ARES. Tuy nhiên, tình báo Bắc Việt vẫn tiếp tục sử dụng ARES và ARES vẫn tiếp tục gửi điện về cho mãi đến tận năm 1968.

    Chương trình đưa biệt kích ra miền Bắc chính thức bắt đầu bằng NSAM 28 (NSAM = National Security Action Memorandum No. 28,) ngày 9-3-1961, theo đó Tổng thống John F. Kennedy (1961-1963) ra chỉ thị cho CIA phát động chiến tranh du kích tại Miền Bắc.

    Nhóm biệt kích VNCH được chuyên gia Mỹ huấn luyện trước khi tung ra miền Bắc.

    Tháng 4-1961, vụ đổ bộ tại Vịnh Con Heo (Bay of Pigs) ở Cuba do CIA tổ chức bị thất bại nặng nề, Tổng thống Kennedy mất tin tưởng vào khả năng tổ chức những công tác bán quân sự bí mật của CIA. Cuối tháng 6-1961, một loạt NSAM ra đời (NSAM 55, 56 và 57, cùng ngày 28-6-1961) nhằm chuyển giao loại công tác đó qua cho Bộ Quốc Phòng, trong khi CIA chỉ đóng vai trò yểm trợ mà thôi.

    Khampha.vn/ Thứ Bảy, ngày 10/02/2018

    Bi kịch cho mọi toán biệt kích khi ra miền Bắc

    Mọi toán biệt kích mà CIA và VNCH đưa ra miền Bắc đều bị bắt ngay sau khi vừa nhảy dù. Những nhóm này được miền Bắc giữ kín thân phận, coi như đã xâm nhập thành công và điện về tổng hành dinh các cuộc hành quân để “đón tiếp” những toán biệt kích tiếp theo.

    Việt Nam Cộng hòa đưa biệt kích xâm nhập miền Bắc

    CIA, thật ra, đã chuẩn bị từ trước. Họ đã tuyển người (tất cả đều là người gốc Miền Bắc), huấn luyện (tại căn cứ huấn luyện ở Long Thành, về sau trở thành Trung tâm huấn luyện Quyết Thắng) và chuẩn bị cho chuyến xuất phát đầu tiên vào ngày 27-5-1961. Toán biệt kích gồm 4 người này được đặt bí danh là CASTOR, với người chỉ huy là Trung sĩ Hà Văn Chấp, cùng 3 toán viên là Ðinh Văn, Quách Thưởng và Phạm Công Thương, được thả xuống vùng đồi 828, thuộc tỉnh Sơn La.

    Người phi công lái chiếc máy bay C-47 chở toán CASTOR đó chính là Tướng Nguyễn Cao Kỳ (lúc đó ông còn mang lon Thiếu tá và là Chỉ huy trưởng Liên đoàn vận tải của Không quân VNCH).

    Toán CASTOR không tồn tại được lâu, họ bị Công An vũ trang của miền Bắc phát hiện, bao vây và đã phải đầu hàng sau 3 ngày. Cũng như với vụ ARES, Bắc Việt cũng giữ kín vụ bắt được toán CASTOR. CIA hoàn toàn không nghi ngờ gì cả và tiếp tục gửi toán thứ nhì gồm 3 người với bí danh là ECHO vào ngày 2-6-1961.

    Còn tệ hơn toán CASTOR, cả toán ECHO 3 người này đều bị bắt vào ngay hôm sau. CIA không biết là toán ECHO đã bị địch bắt và 12 ngày sau lại gửi toán thứ ba, bí danh DIDO, gồm 4 người thuộc sắc dân thiểu số Thái Ðen, vào Lai Châu. Lần này, phi công của chiếc máy may C-47 vẫn là Thiếu Tá Nguyễn Cao Kỳ.

    Toán DIDO cũng không may mắn hơn toán ECHO. Họ bị bắt hết tại biên giới Việt-Lào vào khoảng 10 ngày sau. Khoảng hơn một tháng sau ngày toán CASTOR nhảy xuống Sơn La, ngày 29-6-1961, đài tiếp vận BUGS của CIA ở Philippines nhận được điện của CASTOR. Không biết CASTOR đã bị bắt và hàng địch, CIA rất vui mừng và thông báo cho CASTOR biết 4 ngày sau sẽ gửi đồ tiếp tế cho CASTOR.

    Máy bay C-47, chuyên chở biệt kích VNCH nhảy dù xuống miền Bắc

    Theo kế hoạch, chuyến bay này sẽ lại do Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ điều khiển nhưng vào giờ chót đã có sự thay đổi và phi công là Trung úy Phan Thanh Vân. Chiếc C-47 này đã bị đơn vị phòng không của Bắc Việt bắn hạ khi bay ngang không phận của Hòn Né, gần bờ biển của tỉnh Ninh Bình, và rớt trong một khu đồn điền cách bờ biển khoảng 20 km. Tất cả phi hành đoàn đều bị thương, sau đó có 4 người chết vì vết thương quá nặng, 3 người còn sống bị đưa ra tòa xét xử vào tháng 11-1961.

    Ðể tiếp tục đánh lừa CIA và cơ quan tình báo của VNCH về CASTOR, miền Bắc đã dàn cảnh cho 3 người này khai trước tòa là phi vụ của họ là để tiếp tế cho 1 toán biệt kích trong vùng tỉnh Hòa Bình (chứ không phải cho toán CASTOR ở Sơn La). Phòng 45 của Trung tá Lê Quang Tung và CIA tin là toán CASTOR chưa bị lộ thân phận, chương trình cài biệt kích này đã thành công nên lại tiếp tục gửi các toán biệt kích ra Bắc.

    Toán biệt kích kế tiếp mang bí danh là EUROPA và gồm 5 người gốc Mường. Lần này, phi cơ được sử dụng là loại C-54, phi công vẫn là ông Kỳ, lúc này đã thăng lên cấp Trung tá. Chiếc C-54 bay thẳng từ Sài Gòn (không cần phải ghé để được tiếp nhiên liệu như chiếc C-47 của các lần trước) ra Bắc và thả toán EUROPA xuống vùng Hòa Bình.

    Sau C-47, máy bay C-54 cũng được dùng để đưa biệt kích ra miền Bắc.

    Ngày hôm sau cả toán EUROPA 5 người Mường này đều bị bắt. Lại dùng phương thức cũ, tình báo miền Bắc lại để cho người của toán EUROPA gửi điện về. CIA và Phòng 45 lại tin là thêm một phi vụ thành công nữa.

    Việc đưa biệt kích ra Bắc lại được CIA tiếp tục với các toán ATLAS (tháng 3-1962), REMUS (tháng 4-1962), TOURBILLON (tháng 5-1962), và EROS (tháng 6-1962), và cũng như các toán trước, các toán này đều bị Công an vũ trang của miền Bắc phát hiện, truy lùng và bắt giữ hết.

    Kể từ mùa Hè năm 1962, Chính phủ Hoa Kỳ giao lại công tác thực thi NSAM 55, 56 và 57 cho Bộ Quốc phòng, và CIA chỉ còn giữ vai trò yểm trợ. Phái bộ quân sự Mỹ tại VN, MACV (thành lập ngày 8-2-1962 thay thế cho MAAG = Military Assistance Advisory Group) cho thành lập đơn vị SOG (lúc đầu mang tên là Special Operations Group, sau đổi tên lại là Studies and Observations Group).

    Thành viên của SOG hoàn toàn là người tình nguyện, phần lớn thuộc Lực Lượng Ðặc Biệt của quân đội Mỹ. Trong thời gian 1962-1963, VNCH trải qua nhiều xáo trộn chính trị nghiêm trọng. Vì những xáo trộn chính trị này của VNCH, nên mãi đến tháng 4-1964, SOG mới triển khai hoạt động với các đơn vị của cơ quan tình báo mới của QLVNCH là Nha Kỹ thuật thuộc Bộ Tổng tham mưu.

    CIA thừa nhận thất bại

    Williams Colby, người được CIA chỉ định trình bày về Chương trình đưa biệt kích xâm nhập miền Bắc đã tỏ ra rất bi quan khi cho biết, phần lớn các toán biệt kích gửi ra Miền Bắc đều “đã bị bắt hay bị giết chết.”

    Vào đầu năm 1963, Sở Khai thác địa hình được cải danh thành Bộ Tư lệnh lực lượng đặc biệt (LLÐB) và vẫn do Ðại tá Lê Quang Tung chỉ huy. Sau cuộc đảo chính 1-11-1963, LLĐB không còn đảm nhận công tác tình báo nữa. Sở Bắc (Phòng 45 đổi tên) được tách ra khỏi LLÐB, và cải danh thành Sở Khai thác và trực thuộc Bộ Tổng tham mưu (BTTM). Sau đó Sở Khai thác được đổi tên một lần nữa thành Sở Kỹ thuật, và ngày 12-2-1965 được nâng cấp lên thành Nha Kỹ thuật thuộc BTTM

    Phù hiệu Nha Kỹ thuật, Bộ Tổng tham mưu Quân lực VNCH

    Các công tác của Nha Kỹ Thuật được phân chia cho các cơn vị trực thuộc như sau:

    - Sở Công tác: đóng tại Sơn Trà, Ðà Nẵng; nhiệm vụ của các Ðoàn thuộc Sở này là xâm nhập bằng đường hàng không hay đường bộ vào lòng địch tại Miền Bắc hay các vùng biên giới với Lào và Campuchia.

    - Sở Liên lạc: đóng tại Sài Gòn; nhiệm vụ của các Chiến Ðoàn (Biệt kích Lôi Hổ) thuộc Sở này là xâm nhập vào hậu tuyến của địch trong lãnh thổ của VNCH từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam.

    - Sở Phòng Vệ duyên hải: đóng tại Tiên Sa, Ðà Nẵng; Lực Lượng Hải Tuần có trách nhiệm tuần tra, bảo vệ bờ biển, chận bắt tàu bè của địch xâm nhập vùng biển của VNCH; Lực Lượng Biệt Hải có nhiệm vụ huấn luyện và đưa người nhái xâm nhập Miền Bắc với phương tiện của Hải Tuần

    - Sở Tâm lý chiến: đóng tại Sài Gòn; với nhiệm vụ tổ chức và điều hành hai đài phát thanh Tiếng nói tự do và Gươm thiêng Ái quốc hướng về miền Bắc.

    - Sở Không yểm: đóng tại Sài Gòn; có nhiệm vụ phối hợp các phi đoàn của Không Quân VNCH trong việc thả, rút, liên lạc và hướng dẫn các toán kiệt kích xâm nhập Miền Bắc và hậu phương địch.

    - Trung Tâm huấn luyện Quyết Thắng: đóng tại Long Thành; có nhiệm vụ huấn luyện cho các toán biệt kích.

    Các biệt kích VNCH trog thời gian huấn luyện, chuẩn bị đưa ra Miền Bắc

    Sự thành lập Nha Kỹ thuật của BTTM với đầy đủ tất cả các đơn vị và phương tiện cần thiết cho việc xâm nhập miền Bắc, với sự yểm trợ tích cực của SOG về phía Hoa Kỳ, thật ra không cải thiện được hiệu quả của công tác này.

    Ngay từ cuối năm 1963, vào ngày 20 tháng 11, một cuộc họp hết sức quan trọng đã diễn ra tại Honolulu, Hawaii, với các giới chức cao cấp nhất của chính phủ Mỹ, gồm Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert S. McNamara, Bộ Trưởng Ngoại Giao Dean Rusk, Thứ Trưởng Ngoại Giao George Ball, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống Kennedy McGeorge Bundy, Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương (CINCPAC) Ðô Ðốc Harry D. Felt, Giám Ðốc CIA John McCone, Ðại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Henry Cabot Lodge và Tư Lệnh MACV Ðại Tướng Paul Harkins.

    Cuộc họp có mục đích thảo luận về việc chuyển giao công tác xâm nhập người của VNCH ra miền Bắc từ CIA sang cho MACV-SOG. William Colby, cựu Trưởng Trạm CIA tại Sài Gòn, người từng chủ trương, cổ vũ, và đích thân thực hiện công tác này tại VNCH, lúc đó đã thăng cấp và đảm nhiệm chức vụ Trưởng phận bộ Viễn Ðông (Far Eastern Division Chief) của CIA, đã được Giám Ðốc CIA McCone chỉ định thuyết trình về công tác gửi người xâm nhập Miền Bắc.

    Ông đã tỏ ra rất bi quan khi ông cho biết phần lớn các toán biệt kích gửi ra Miền Bắc đều “đã bị bắt hay đã bị giết chết.” Trong phần kết luận, ông nói trắng ra như sau: “It isn’t working, and it won’t work any better with the military in charge.” (tạm dịch: “Chuyện đó không làm được, và cũng sẽ không làm được gì khá hơn với đội quân nhận trách nhiệm”).

    Ông Williams Colby, Cựu trạm trưởng CIA tại Sài Gòn.

    Dĩ nhiên, lời cảnh báo này của Colby không được nghe theo và SOG cùng với các đơn vị của Nha Kỹ Thuật thuộc BTTM QLVNCH vẫn tiếp tục việc gửi các toán biệt kích xâm nhập ra Miền Bắc, với kết quả là “đem con bỏ chợ.” Tất cả biệt kích đều bị bắt và đưa vào các trại lao cải ở Miền Bắc trong hàng chục năm trời.

    Gia đình của một số biệt kích quân được báo tin là họ đã tử trận, một số được lãnh tiền bồi thường tử tuất. CIA và quân đội Mỹ đã hoàn toàn bỏ rơi họ. Dân quân VNCH hoàn toàn không biết gì hết về số phận của những người lính biệt kích này. Mãi đến sau năm 1975, khi một số sĩ quan QLVNCH đi học tập cải tạo ở Miền Bắc được thả về, kể lại chuyện được gặp các biệt kích quân đó trong các trại cải tạo, dân chúng Miền Nam mới có những thông tin đầu tiên về số phận của các biệt kích quân này.

    Chương trình gửi người xâm nhập Miền Bắc để thực hiện các công tác tình báo của VNCH, trong một thời gian khá dài, với những chi phí rất tốn kém, đã thất bại hoàn toàn. Có 2 lý do chính cho sự thất bại này: 1) VNCH không có được một hạ tầng cơ sở tại Miền Bắc để hỗ trợ cho loại công tác này và 2) Hệ thống an ninh của miền Bắc quá chặt chẽ khiến cho các biệt kích rất dễ bị phát hiện, truy lùng và bắt giữ.

    Những đòn nghi binh chết người

    Tại phiên họp ngày 18-2-1975, chính Tổng Thống Thiệu tái xác định khả năng địch có thể tấn công Pleiku ở Vùng II. Ðiều này càng làm cho Tướng Phú thêm tin tưởng là ông đã nghĩ đúng về mục tiêu tấn công sắp tới của miền Bắc.

    Việt Nam Cộng hòa đã chủ quan ở Buôn Ma Thuột

    Buôn Ma Thuột bất ngờ bị tấn công

    Ðầu tháng 2-1975, một đơn vị của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh QLVNCH bắt được 1 binh sĩ miền Bắc tại một địa điểm ở phía Tây tỉnh Bình Ðịnh, gần đèo An Khê. Qua thẩm vấn được biết binh sĩ này đã tháp tùng viên tư lệnh của Sư đoàn 3 miền Bắc đi thám sát đèo An Khê. Trong mình binh sĩ này có giữ một bản đồ ghi rõ các địa điểm mà Sư đoàn 3 dự định sẽ đóng chốt để cắt đứt Quốc Lộ 19 là con đường huyết mạch nối liền Qui Nhơn (tỉnh lỵ của tỉnh Bình Ðịnh) với Pleiku.

    Cùng lúc đó, phòng 2 của Quân đoàn II cũng nắm được tin Sư đoàn 968 của miền Bắc đang đóng tại Lào đã di chuyển sang lãnh thổ VNCH. Tướng Phú tin rằng những người Cộng sản đang chuẩn bị tấn công Pleiku, và ông đã ra lệnh cho Trung Ðoàn 47 của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh đến trấn giữ đèo An Khê.

    Đèo An Khê trên Quốc lộ 19 nối Quy Nhơn với Pleiku

    Lý do Trung đoàn 47 được giao cho nhiệm vụ này vì sĩ quan Trung đoàn trưởng, Trung tá Lê Cầu, là người rất quen thuộc địa hình vùng đèo An Khê. Ông đã từng chiến đấu tại đây trong trận Tổng tấn công mùa hè 1972.

    Trong suốt tháng 2-1975, các đơn vị miền Bắc hiện diện trong vùng liên tục pháo kích Kontum và Pleiku cũng như đánh phá các chốt bảo vệ đèo An Khê trên Quốc Lộ 19 của Trung Ðoàn 47.

    Các đơn vị này do 2 Sư Ðoàn F10 và 320 để lại nhằm thực hiện kế hoạch nghi binh, còn toàn bộ 2 sư đoàn này đã di chuyển xuống phía Nam để chuẩn bị tấn công Buôn Ma Thuột. Tất cả những hoạt động này của địch làm cho Tướng Phú càng thêm tin là Pleiku sẽ là mục tiêu chính của cuộc tấn công sắp tới của miền Bắc.

    Giữa tháng 2-1975, trong một cuộc phỏng vấn dành cho ký giả Nguyễn Tú của báo Chính Luận, Tướng Phú đã nói ra tất cả những gì ông suy nghĩ và phân tích về cuộc tấn công sắp tới của địch. Ṓng tin rằng địch sẽ sử dụng một lực lượng cấp sư đoàn để cắt đứt Quốc lộ 19 trước khi tấn công Pleiku.

    Lính VNCH được điều động phòng thủ Quốc lộ 19 nối Quy Nhơn và Pleiku

    Ngày 18-2-1975, Tướng Phú về Sài Gòn dự phiên họp với các tướng tư lệnh quân đoàn do Tổng Thống Thiệu triệu tập để duyệt lại kế hoạch phòng thủ cho năm 1975. Tại phiên họp này, chính Tổng Thống Thiệu tái xác định khả năng miền Bắc có thể tấn công Pleiku ở Vùng II. Ðiều này càng làm cho Tướng Phú thêm tin tưởng là ông đã nghĩ đúng về mục tiêu tấn công sắp tới của đối phương.

    Do đó, ông đã một lần nữa bác bỏ nhận định của Ðại tá Tiếu về khả năng địch sẽ tấn công Buôn Ma Thuột tại phiên họp của ban tham mưu Quân Ðoàn II ở Pleiku vào ngày hôm sau, 19-2-1975.

    Ðầu tháng 3-1975, trước một số tin tình báo về các hoạt động của đối phương xung quanh Buôn Ma Thuột làm Tướng Phú có phần nao núng. Ngày 4-3-1975, ông ra lệnh cho Trung đoàn 45 của Sư đoàn 23 Bộ binh di chuyển về Buôn Ma Thuột. Việc di chuyển này sắp bắt đầu thì vào lúc 2 giờ trưa cùng ngày, Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II tại Pleiku bị địch quân pháo kích, Tướng Phú ra lệnh hủy bỏ việc chuyển quân này.

    Các đơn vị Quân đội Nhân dân Việt Nam giải phóng Chi khu Đức Lập trong Chiến dịch Tây Nguyên

    Cùng ngày đối phương tấn công dữ dội vào các đơn vị của Trung đoàn 47 và cắt đứt Quốc lộ 19 tại hai nơi. Tướng Phú tin chắc là miền Bắc đã bắt đầu chiến dịch tấn công vào Pleiku.

    Việc chuyển quân của Sư đoàn 316 từ Bắc vào Nam cũng như của Sư đoàn 968 từ Lào sang Việt Nam, mặc dù được ngụy trang rất kỹ như đã trình bày bên trên, sau cùng vẫn bị SIGINT (tình báo tín hiệu) của QLVNCH phát hiện.

    Sau khi phân tích tín hiệu, và đánh giá, Phòng 7 BTTM QLVNCH nhận định quân đội VNDCCH sẽ tấn công Buôn Ma Thuột.

    Bản đồ của Mỹ mô tả các mũi tấn công của Quân đội Nhân dân Việt Nam vào Buôn Ma Thuột tháng 3/1975

    Ngày 7-3-1975, 3 ngày trước khi trận Buôn Ma Thuột nổ ra, Chuẩn Tướng Phạm Hữu Nhơn, Trưởng phòng 7, BTTM QLVNCH, cùng với Tom Glenn là Trưởng đơn vị của Cơ quan An ninh quốc gia (National Security Agency – NSA) của Hoa Kỳ tại Việt Nam, đã bay lên Pleiku để đích thân báo cho Thiếu Tướng Phú về nhận định của Phòng 7 là đối phương sẽ tấn công Buôn Ma Thuột (cuộc họp này có mặt cả Ðại Tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 của Quân đoàn 2) nhưng Tướng Phú vẫn không tin.

    Ngay cả vào lúc 10 giờ sáng ngày 9-3-1975, sau khi Thuần Mẫn, thuộc tỉnh Phú Bổn, đã mất, và Ðức Lập, thuộc tỉnh Quảng Ðức cũng đã bị chiếm, ông bay xuống Ban Mê Thuột để họp với các đơn vị trưởng tại đây để duyệt xét tình hình, Tướng Phú vẫn còn tiếp tục nghĩ và tin là tất cả chỉ là nghi binh. Ông vẫn chờ cuộc tấn công vào Pleiku, một cuộc tấn công chẳng bao giờ xảy ra.

    Sáng sớm ngày hôm sau, 10-3-1975, trận tấn công vào Buôn Ma Thuột nổ ra và chỉ trong 2 ngày toàn bộ thị xã này đã lọt vào tay VNDCCH.

    Ngày 11/3/1975, Quân đội Nhân dân Việt Nam giải phóng Buôn Ma Thuột

    QLVNCH thua trận Buôn Ma Thuột không phải vì tình báo yếu kém mà rõ ràng là do Tướng Phú, Tư lệnh Quân đoàn II bị định kiến quá nặng nề.

    Việc phản công tái chiếm Buôn Ma Thuột đã không thể thực hiện được. Và đó là một trong những lý do đưa đến quyết định triệt thoái Quân đoàn II rất tai hại của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trong phiên họp định mệnh ngày 14-3-1975 tại Cam Ranh.

    Khampha.vn/ Thứ Bảy, ngày 24/02/2018.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,066,118

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/