Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập37,156,638

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Tuổi hai mươi yêu dấu

Nguyễn Huy Thiệp

  • Thứ ba, 10:38 Ngày 23/03/2021
  • 23

    Bạch tuộc

    Thế lực của tối tăm. - L. Tôlstôi39

    Gần như không có rắc rối gì trong chuyến đi của tôi, trừ lúc xuống sân ga, bác Bảo Định nhờ tôi chuyển hộ mấy cái lồng chó lồng mèo nên tôi phải đặt cái xắc du lịch nặng chịch xuống ngay đường ke. Ngay lập tức, tay nhà sư đi sau huých vào vai tôi rồi nói:

    - A di đà Phật! Người nào việc nấy!

    Tôi đành xin lỗi bác Bảo Định rồi bỏ đi. Bác Bảo Định đứng ở cửa sổ chửi om lên bảo tôi:

    - Nhớ đấy nhé! Thằng lỏi! Rồi tao sẽ về mách bố mày cho!

    Thật tình tôi cũng thấy hơi áy náy vì không giúp gì cho bác Bảo Định. Nhưng nhớ đến nhiệm vụ được giao, lỡ có ai xách nhầm hoặc cướp cái xắc du lịch của tôi bỏ chạy thì tôi nguy to! Kiểu gì thì tôi cũng sẽ rắc rối! Tôi bỗng thấy tay nhà sư có nét mặt trông giống với hoà thượng Thích Thanh Mừng có lý: “Người nào việc nấy”. Đúng là trên thế gian này cũng không ai cứu được ai. Ai ai cũng là người khác, mỗi người là một riêng biệt, “một thực thể hữu hạn có cá tính”. Câu “một thực thể hữu hạn có cá tính” là tôi mượn lời của ông giáo sư trường Đảng cao cấp hôm giảng bài cho chúng tôi nghe ở trên hội trường. Vị giáo sư ba ba ấy rất hay nói chữ. Nhớ đến ông ta, tôi lại nhớ đến cái lớp học của tôi trong trường đại học. Quả thật, bọn sinh viên lớp tôi dù toàn là bọn chân đất mắt toét (ý tôi muốn nói chúng đều xuất thân từ nông thôn ra) và khá ngơ ngẩn nhưng chúng đều lương thiện và trong sáng ghê gớm. Kết luận này tôi rút ra được là sau những ngày mà tôi lang thang bụi bặm trên đường.

    Tôi tìm đến nhà ông Chu ở chợ Kỳ Lừa theo hướng dẫn của anh mặt sẹo từ dưới Hà Nội. Nhà ông Chu sát ngay gần chợ, có vẻ như một kho hàng hơn là nhà ở. Người ta dẫn tôi đi lên gác hai, ở đấy có những căn phòng thông vách với nhau, kê những cái phản cho nhiều người nằm. Trên vách, trên cột dán đầy những chữ Trung Hoa viết trên giấy hồng như “Cung chúc Tân Xuân” hay “Phát tài thịnh vượng”. Chính giữa nhà là một chữ “Phúc” treo ngược viết theo lối “triện” rất đẹp. Tôi rất ngạc nhiên thấy ông chủ nhà (chắc là ông Chu) đang ngồi với anh mặt sẹo và tay nhà sư trên tàu. Tay nhà sư đã kịp bỏ bộ đồ tu hành để mặc bộ quần áo chàm xanh của người Tày. Hóa ra đấy chính là người đi theo dõi tôi suốt dọc đường đi! Thật đúng như truyện trinh thám Hồng Kông. Bây giờ tôi mới thấy ảnh hưởng của những băng hình phim chưởng hay phim trinh thám từ ngoại quốc tuồn vào lợi hại thế nào.

    Anh mặt sẹo thấy tôi thực hiện chuyến đi an toàn thì rất hài lòng. Hóa ra trong túi xách và ba-lô toàn là tiền mặt. Cả thảy có tới hơn ba tỉ đồng! Tôi chưa bao giờ trông thấy số tiền lớn thế. Anh mặt sẹo giao số tiền cho ông Chu và một cô có vẻ như quản gia của ông ta. Xong xuôi, ông Chu và anh mặt sẹo cùng nằm xuống giường, đầu kê lên chiếc gối xếp. Một người đàn ông để râu tóc dài cùng một cô gái bưng ra hai bộ bàn đèn để hút thuốc phiện. Người đàn ông để râu tóc dài bồi tiêm thuốc phiện. Ông ta vê vê điếu thuốc ở trên hai đầu ngón tay, trộn nó với nửa viên thuốc cảm rồi hơ chúng lên lửa nhiều lần làm thành một hòn bi nhỏ dẻo và bóng nhẫy. Hai đầu ngón tay ông ta to đến gấp đôi người thường và như đã hóa thành chai. Có lẽ ông ta đã từng bồi tiêm thuốc phiện hàng chục năm trời. Cô gái nâng dọc cần tẩu và châm lửa cho hai người hút. Ông Chu và anh mặt sẹo lần lượt thay nhau mỗi người hút tám điếu, “bốn tiến, bốn lùi”. “Bốn tiến” là bốn điếu thuốc phiện nguyên chất, còn “bốn lùi” là sái của bốn điếu nguyên chất kia. Ông bồi tiêm giải thích cho tôi đấy là sái một, những con nghiện nghèo có thể còn hút đến cả sái ba, sái bốn. Sái một nhiều khi hút còn ngon hơn là điếu thuốc phiện nguyên chất. Ông ta hỏi tôi có muốn thử không nhưng tôi lắc đầu. Ông ta bảo:

    - Đúng rồi! Thanh niên bây giờ dùng “trắng” mới là sành điệu!

    Ông Chu và anh mặt sẹo ngồi dậy, “hãm” bằng một chén trà sâm nóng bỏng. Xong xuôi, cô gái đi ra bưng vào cho mỗi người một bát rượu nếp cẩm đỏ au. Bữa tiệc thuốc phiện kết thúc, lúc ấy họ mới bắt đầu trao đổi công việc với nhau.

    Ông Chu bảo người quản gia mang sổ sách ra giới thiệu mặt hàng với anh mặt sẹo. Ông Chu cố ép anh mặt sẹo lấy “hàng trắng” (tức là heroin) nhưng anh ta không chịu, nói rằng không bao giờ anh ta dính vào thứ hàng này vì muốn “”làm ăn yên ổn lâu dài”. Tôi thấy những thứ anh ta chọn lựa phần lớn đều là những hàng tiêu dùng, chủ yếu là vải vóc và những thứ cần cho nhà nông, có điều số lượng rất lớn, tựa như anh ta đảm nhiệm phân phối cho đến một nửa quốc gia!

    Ông Chu cho phép “tay nhà sư” dẫn tôi đi chơi Lạng Sơn. Hóa ra anh ta là cháu ruột ông Chu, tên là Kiều. Anh ta tốt nghiệp đại học Lâm nghiệp nhưng bỏ nghề, ở nhà đi buôn.

    - Nhiều tiền và phiêu lưu lắm! – Anh ta bảo tôi – Thú hơn cái nghề trồng rừng rất nhiều.

    Chúng tôi vào chợ Kỳ Lừa rồi đi loanh quanh các phố. Kiều có vẻ quen với tất cả những tay lái xe ôm ở đấy. Họ đều mặc áo Nato, đội mũ cối, đi xe máy Minsk, sẵn sàng đi chở hàng lậu cả đêm lẫn ngày cho các ông chủ, bà chủ. Ở một số điểm tập kết, số lượng xe ôm có tới hàng trăm chiếc, trông hệt như một tiểu đoàn quân đội. Ngay cả những người lái xe ôm cũng không biết họ chở hàng chính xác cho ông chủ, bà chủ nào. Điểm đến, điểm đi chỉ được báo trước một giây trước khi xuất phát. Ở vùng núi hiểm trở, đội quân cửu vạn có tới hàng nghìn người gồng gánh, mang vác đi bộ len lỏi qua các đường mòn cheo leo, không làm sao kiểm soát họ được. Như có một con bạch tuộc vô hình lơ lửng ở đâu trên cao, đưa những cái vòi khủng khiếp thu gom hàng lại, rồi phân tán nó đi, suốt ngày suốt đêm không hề mệt mỏi.

    Thành phố Lạng Sơn nhan nhản những khách du lịch, khách đi buôn, khách vãng lai. Tất cả đều có vẻ bí hiểm và đáng ngờ. Bề ngoài thành phố có vẻ yên bình, thậm chí còn mến khách nữa nhưng bên trong là những tính toán, những sát phạt, những âm mưu hiểm độc chết người. Cảm giác ấy rất rõ trong tôi khi đi một vòng quanh trong thành phố.

    Kiều dẫn tôi đi ăn trong một tiệm ăn của một người quen. Món thịt vịt quay Lạng Sơn thật tuyệt. Tôi chén gần hết con vịt. Ăn xong, chủ nhà đãi chúng tôi heroin như món tráng miệng. Tôi hết sức ngạc nhiên thì Kiều bảo tôi:

    - Gần như quá nửa thanh niên ở thành phố này đều nghiện.

    Lạng Sơn! Thành phố bạch tuộc biên giới! Để cứu vãn nó, chắc người ta phải tốn sức tốn của không biết chừng nào.

    Kiều còn muốn dẫn tôi đi hát karaoke. “Có em rất xinh”. Anh ta bảo thế nhưng tôi từ chối, có lẽ vì tôi đang còn phê thuốc. Tôi đã bắt đầu thấy thích cái cảm giác bâng khuâng, lâng lâng của heroin, cái cảm giác mà không có thứ gì so sánh được với nó, có lẽ đến cả đàn bà.

    CHƯƠNG 24

    Cơ hội của Chúa

    Có tôn giáo trong khôn ngoan và khôn ngoan trong tôn giáo.

    Laetence40

    Kiều đưa tôi về ngủ ở nhà ông Chu. Đêm đến, nhà ông Chu thực sự là một nhà trọ bình dân. Có tới hàng chục người nằm ngủ la liệt ở đó. Gần sáng, họ lại biến đi như bị ma bắt. Có lẽ phần lớn họ đều là những người đi buôn hay bán hàng ở chợ.

    Anh mặt sẹo đã đi khỏi nhà ông Chu từ tối hôm qua. Ông Chu gọi tôi dậy, đưa cho tôi một gói “hàng trắng ” nói rằng đó là tiền công của tôi. Ông ta bảo:

    - Mày mang nó về Hà Nội. Vứt đi cũng được chục triệu.

    Tôi không nghe nhưng ông ta không nói năng gì bỏ đi. Tôi đành giắt thứ hàng chết người ấy vào người rồi “ phắn ”.

    Lạng Sơn không có gì quyến rũ tôi nên tôi tìm đường ra bến ô tô. Trên đường đi, tôi gặp lại toán giáo dân trên tàu hôm qua nên nhập bọn với họ. Họ đi theo một ông cha đạo tên là cha Thảo. Cha Thảo chừng 50 tuổi, người gày gò thấp bé trông giống như một giáo viên cấp Một trường làng. Cha Thảo rất vui tính, vừa đi vừa giảng giải lịch sử Lạng Sơn cho mọi người nghe, ông kể sự tích nàng Tô Thị, động Tam Thanh, Nhị Thanh nghe rất lý thú. Hóa ra con sông Kỳ Cùng là con sông rất đặc biệt, đây là con sông duy nhất ở Việt Nam chảy ngược. Tất cả hàng trăm, hàng ngìn con sông ở Việt Nam đều chảy từ Tây Bắc xuống Đông Nam rồi ra biển Đông, riêng con sông Kỳ Cùng lại chảy từ Nam lên Bắc.

    Chúng tôi đi vào nhà thờ Lạng Sơn. Nhà thờ này đã bị phá hủy từ thời chiến tranh, chuông nhà thờ được treo trên một cái cây cổ thụ. Người ta đang quyên góp tiền để xây dựng lại nhà thờ. Cha xứ ở đây đón tiếp chúng tôi rất tử tế, nghe nói ông ta đã từng du học ở Vatican. Cha xứ cho xem hình vẽ phối cảnh kiến trúc của ngôi nhà thờ tương lai. Tôi rất ngạc nhiên vì nó có hình mái vòm trông giống như một khu liên hợp thể dục thể thao hiện đại, có tầng hầm để ô tô chứ không giống như các ngôi nhà thờ có kiến trúc kiểu Gôtic khác thường thấy ở Việt Nam.

    Cha Thảo thay mặt cho giáo dân địa phận Bắc Giang trao tiền cho cha xứ Lạng Sơn. Mọi người đọc kinh Kính mừng rồi cùng uống nước, ăn hoa quả, chuyện trò vui vẻ. Cha xứ Lạng Sơn xin lỗi vì nghèo, điều kiện eo hẹp nên không thể tiếp khách được chu đáo hơn.

    Mọi người lên một chiếc ô tô ca để về. Tôi cũng được mời lên xe như họ. Trên xe, mọi người cùng hát Thánh ca. Tôi đúng như một con chiên ghẻ lạc bầy, lúng túng và rất khó xử.

    Cha Thảo có vẻ nhận ra sự lúng túng của tôi. Ông bảo tôi đến ngồi gần ông. Ông hỏi han tôi về bản thân và gia đình. Tôi phịa ra rằng tôi là anh em con bác con chú với con Huyền mờ ở làng đạo Hải Khoang. Hóa ra cha Thảo biết ông trùm Thịnh. Cộng đồng Ki tô hữu ở miền Bắc Việt Nam gần như đều biết nhau cả. Mọi người trong xe hỏi han tôi về con Huyền mờ, ai cũng ngậm ngùi thương cảm cho nó. Cha Thảo mời tôi về thăm nhà thờ của ông. Tôi đồng ý ngay vì thực ra tôi cũng chẳng có việc gì để làm. Tôi giống như cánh bèo trôi dạt trên dòng sông đời, thôi thì phó mặc, kệ theo ý Chúa.

    Nhà thờ Bẩm41 là một ngôi nhà thờ mới được xây dựng lại. Di tích của ngôi nhà thờ cũ làm từ năm 1927 nay chỉ còn có ngôi nhà chung là nơi cha Thảo đang ở. Nhà nguyện bị bom, còn mỗi một cái gác chuông. Năm 1998 người ta quyên góp tiền của để xây dựng lại nhà thờ. Tất cả vật liệu xây dựng nội thất bên trong đều là hàng Trung Quốc: từ viên gạch hoa đến những cửa sổ song sắt và các hàng ghế nhựa rẻ tiền. Không thể nói đây là một ngôi nhà thờ đẹp được vì cung cách “ tân trang ” của nó có cái gì hơi trưởng giả và bóng bẩy quá. Tôi thích những ngôi nhà thờ cổ ở vùng Bùi Chu, Phát Diệm hơn. Trước đây, có lần tôi đi theo bố tôi đến vùng Bùi Chu, đi vào một số ngôi nhà thờ họ nhỏ nhắn, có ngôi làm từ nửa cuối thế kỷ XIX còn nguyên những hàng ghế gỗ ngày xưa. Những hàng ghế gỗ nứt nẻ, đen bóng vì đã chứng kiến không biết bao nhiêu lượt người ngồi đấy quỳ lạy gây cho tôi một sự xúc động ghê gớm. Những bức tường gạch mốc meo vì năm tháng, trải qua bao nhiêu thăng trầm lịch sử, lặng im một cách đớn đau khiến ai bước vào trong đấy ngắm nhìn cũng thấy mủi lòng thương cảm. Rất tiếc những ngôi nhà thờ này còn lại không nhiều, những ý định “tân trang” cho nó có thể làm mất đi sự thiêng liêng và là mất đi “màu thời gian” là những thứ không phải một sớm một chiều có được.

    Niềm tin tôn giáo thật khó hiểu và sức mạnh của nó đôi khi phi phàm. Tôi đã đến xem người ta xây dựng nhà thờ Kiên Lao. Ngôi nhà thờ này trị giá khoảng năm triệu đô la, được làm ròng rã gần chục năm trời. Giữa một vùng nông thôn nghèo xác nghèo xơ, trường học không có, y tế thì không, đường xá thì lầy lội nhưng sáng sáng khi nghe tiếng chuông nguyện, giáo dân lại lũ lượt kéo nhau đến đóng gạch, luyện thép, xây cất. Cứ thế suốt ngày. Nhà thờ Kiên Lao được xây dựng phỏng theo nhà thờ Đức Mẹ Bùi Chu, thậm chí còn to hơn, cao hơn một chút. “Kiến trúc sư” đều là những tay thợ xây ở làng, họ vẽ mô hình nhà thờ vào một tấm vải, đánh dấu kích thước bằng chữ Hán, hệt như một trăm năm trước vẫn làm. Xem bảng “công đức” xây dựng nhà thờ, tôi ngạc nhiên thấy những gia đình nông dân đóng góp tới hàng chục lượng vàng, ngoại tệ duy nhất chỉ có 400 đô la do một Việt kiều vô danh ở Pháp gửi tặng. Niềm tin tôn giáo tự phát có một cái gì thật cảm động và ngu ngốc, liều lĩnh, thậm chí còn khiêu khích nữa... Tất cả những thứ đó trộn lẫn vào nhau khiến tôi không sao hiểu được. Bố tôi nói rằng trên đời có bốn phạm trù là tôn giáo, chính trị, phụ nữ và tiền bạc, đó là bốn lực lượng xã hội siêu nhiên mà người ta vừa phải kính trọng nó, vừa phải chịu đựng nó, nó vừa ban phước vừa gây tai họa cho con người, y hệt như những hiện tượng thiên nhiên xảy ra trên trái đất này.

    Cha Thảo rất tự hào vì những việc mình làm ở đây. Ông dẫn tôi vào xem những lớp mẫu giáo do ông lập ra. Ở đấy có cả một phòng vi tính cho thanh niên học miễn phí. Trước nhà chung là một khuôn viên cây cảnh, đằng sau có dãy chuồng lợn đến hơn chục con. Ý thức tập hợp cộng đồng Kitô hữu của ông cha đạo bé nhỏ, người sắt lại như chỉ còn là biểu tượng ý chí khiến tôi sợ hãi. Cha Thảo cho biết vào năm 1956, giáo dân ở đây chỉ có 24 gia đình nhưng nay đã có tám trăm nghìn hộ với hơn một triệu tín đồ.

    Tôi kể cho cha Thảo nghe chuyện ông sư Hạnh ở một ngôi chùa ven bờ Hồ Tây Hà Nội. Sư Hạnh ít học, giỏi võ, đọc kinh còn nhịu nhưng rất biết giữ gìn đạo hạnh. Ngôi chùa cổ hoang phế nhiều năm là nơi trú ngụ của trộm cướp, có thời người ta còn dùng làm kho vật liệu của Công ty cá Hồ Tây. Sư Hạnh về chùa một mình dọn dẹp đánh nhau với dân xung quanh lấn chiếm đất chùa, một mình xách côn đi đến những ngôi chùa nội thành khá giả xin “vay” tiền công đức của các hòa thượng trụ trì ở đó. Mang tiền về, sư Hạnh thuê thợ sửa chữa lại chùa. Bảy năm trời liền ngôi chùa bỏ hoang dần dần được tu tạo lại. Sư Hạnh bị người ta chỉ trích gọi là “sư hổ mang”, “sư tử”, “sư ăn thịt chó”. Sư Hạnh chỉ cười, ngồi uống rượu suông chửi đổng.

    Cha Thảo cười bảo tôi: “ Con đường tu thân của bậc thánh nhân không phải ai cũng hiểu được. Có câu “Phật ở nơi không có Phật”. Đức Chúa Jesus Critx còn bị đầy ải ra khỏi quê hương... Thế con tưởng ta ở đây không bị mọi người rủa xả hay sao? Nhiều lần uất hận chỉ muốn liều thân nhưng rồi lại nghĩ mình cứ làm việc mình đi. Có phúc có phần. Cơ hội của Chúa chia đều trên cõi nhân gian...”

    Buổi tối, tôi dự một buổi lễ trên nhà nguyện. Giáo dân lác đác đến dự lễ. Những cô gái quê vừa đi vừa mặc vội chiếc áo dài trắng, tất tả xếp hàng vào lễ. Giữa một vùng quê yên tĩnh, những lời đọc kinh râm ran có một cái gì âm u huyền ảo lạ lùng.Tan buổi chầu, mấy người đàn ông ra sân nhà thờ ngồi lại tập kèn. Có lẽ đây là đội kèn đồng đang tập luyện cho ngày lễ trọng.

    Đêm về, cha Thảo mời tôi ăn cơm rồi nghỉ ở trong nhà khách. Tôi trằn trọc không ngủ được. Gần sáng, tôi thèm heroin ghê gớm. Tôi bèn ngồi dậy, mở gói “hàng trắng” ra xem. Tôi lấy một chút bột nhỏ rồi châm lửa để hít. Ngay lúc ấy, cửa bật mở ra, cha Thảo và hai người đàn ông lực lưỡng bước vào! Chúa không cho tôi cơ hội nào cả! Tôi bị người ta tống ra khỏi làng ngay trong đêm tối. Hai người đàn ông lực lưỡng “dẫn độ” tôi đến tận sát đường quốc lộ. Họ xỉ vả tôi thậm tệ, gọi tôi là quỷ Satan mang tai họa đến gieo rắc cho họ đạo. Tôi rất buồn rầu, không biết phân trần ra sao.

    Thì tôi vẫn nói gốc gác nguyên thủy của tôi là quỷ Satan mà lại!

    Tôi biết đi đâu về đâu trong “cõi nhân gian bé tí” này?

     CHƯƠNG 25

    Anh hùng = Thi sĩ

    Thi sĩ à? Đấy có phải là anh chàng dở hơi kia không?

    Lời người qua đường.

    Tôi ngồi ở ven đường, buồn quá lại giở heroin ra hít. Với số thuốc này, có lẽ tôi dùng đến nửa năm trời mới hết. Nửa tỉnh nửa mê, tôi có cảm giác như mình lạc vào một thế giới khác. Tôi thấy tôi đứng trên bục hội trường giảng bài cho sinh viên nghe.

    - Thưa các vị, chẳng ai hiểu cóc khô gì...

    Tôi nói như thế và mọi người vỗ tay ran lên. Tôi nói về những ngộ nhận của con người ta trong đời. Ngộ nhận thứ nhất chính là nền giáo dục tai hại ở trong gia đình, nhà trường và ngoài xã hội. Gần nửa đời người, bị những lời ru của mẹ, những lời giáo huấn của cha và chỉ dẫn của những người đi trước, cộng với những kiến thức vô bổ ở các trường học, con người tự nhiên bị khoác vào mình bao nhiêu định kiến. Thật ra những kiến thức đấy chỉ nhằm trang bị cho người ta sống phù hợp với một khuôn khổ xã hội chật hẹp đúng với cơ chế chính trị hiện hành mong muốn mà thôi. Đổi mới hoàn cảnh trong không gian khác, thời gian khác với một cơ chế chính trị khác đi, con người gần như phải làm lại từ đầu. Điều mà chúng ta tưởng bở là “kiến thức” ấy thực ra cực kỳ vớ vẩn, phiến diện, thậm chí còn hủ bại nữa. Người nào trung thành với nó thì chỉ suốt đời sống trong thế giới quan và nhân sinh quan “ giáo khoa thư”. Càng được giáo dục, con người càng bị lúng túng, bản năng tự nhiên tuyệt vời gần như bị che lấp hoàn toàn, không được bộc lộ. “Trở lại bản lai diện mục” chỉ là câu nói trăng trối nghẹn ngào nuối tiếc của người sắp chết mà thôi. Khi còn sống, không ai trong số chúng ta biết rõ “bản lai diện mục” của mình là gì, từ bậc đế vương cho đến gã dân cày đều như thế hết. Ngộ nhận thứ hai chính là ngộ nhận giới tính. Khi Thượng Đế sinh ra anh là đàn ông, chị là đàn bà tức là đã đặt giả thiết cho cuộc đời anh hay chị. Cuộc đời chúng ta là quá trình chứng minh cho cái giả thiết phiến diện kia của Thượng Đế và hầu hết đều bất cập, đều chứng minh sai. Khi còn trẻ, cái mà chúng ta gọi là tình yêu thực sự chỉ là bản năng tình dục. Do thiếu kinh nghiệm sống, người ta đã đặt vào đấy quá nhiều hy vọng hay lý tưởng sống, bởi thế bi kịch sẽ là tất yếu cho tất cả mọi tình yêu. Do luôn bất cập, bản chất của giới tính là loạn luân – và kết cục của loạn luân cũng lại là bi kịch. Kết cấu gia đình chỉ là kinh nghiệm sinh tồn cho việc duy trì nòi giống. Không phải tự dưng đạo Phật cho bố mẹ chỉ là “nhà trọ” của con cái, đây là bài học nước mắt chảy xuôi cho tất cả các bậc phụ mẫu trên thế gian này. Mặc dầu tiến hóa đến đâu nhưng riêng lĩnh vực giới tính, con người không tiến hóa được thêm bước nào so với những người nguyên thủy. Ảo tưởng về một tình yêu chung thủy vĩnh viễn là điều nực cười nhất trong các hài kịch cuộc đời. Sự hòa hợp giới tính chỉ mang tính chất tạm thời, cục bộ giống như tiếp tuyến của các đường thẳng với các đường tròn trong hình học không gian. Những giây phút hạnh phúc nhất bao giờ cũng ngắn ngủi và tạm bợ, những vectơ âm dương lại đẩy nhau ra trong cái cõi cô đơn mênh mông của mỗi kiếp người. Ngộ nhận thứ ba chính là ngộ nhận về cái chết. Khi còn trẻ, con người tưởng bở là sống vĩnh viễn, ảo tưởng về sức mạnh con người, phung phí cuộc sống. Thực ra, cái chết rình rập con người ngay từ khi bắt đầu sự sống. Nó có thể đến bất ngờ phụt tắt như bóng đèn kia. Ý thức về cái chết chỉ đến khi người ta đã nằm trong tay thần Chết. Khi người nào ý thức được nó thì coi như anh ta cũng đã chết rồi. “Người chết cai trị người sống” là một chân lý đớn đau, thảm thiết nhất mà con người chúng ta hứng chịu.

     

     Tôi đứng trên bục hội trường và nói liên miên. Mái nhà hội trường mở ra trên đầu tôi. Bọn sinh viên reo hò không ngớt. Vị giáo sư ba ba bị ấn xuống ghế, chân tay giãy giụa lung tung. Con Liên lùn chạy đến hôn tôi vào má, cái kính của nó rơi ra và bị ai đó giẫm vào.

    - Hoan hô Khuê! Hoan hô Khuê!

    Tôi bị công kênh đi khắp hội trường rồi bị vứt vuống bậc cửa ra vào. Tôi thấy đau nhói ở hông và bừng tỉnh dậy, nhận ra tôi đang nằm ở ven đường quốc lộ.

    Tôi đứng dậy, khập khiễng bước đi. Ngay lúc ấy một chiếc xe ô tô chở hàng chạy vút qua. Tôi đuổi theo, bám được vào sau thùng xe. Tôi rúc vào đấy, nằm lăn ra trên đống hàng chẳng biết là hàng gì và ngủ thiếp đi.

    Khi tôi tỉnh dậy thì thấy xe đỗ ở một ngã ba. Tôi nhìn biển hiệu bên đường và biết đây đang ở địa phận của cảng Đình Vũ Hải Phòng. Heroin đã làm tôi kiệt hết sức lực. Nó lại đòi tôi và tôi biết rằng tôi không còn kiểm soát được mình. Tôi lại ngồi dậy hít tiếp thêm một liều nữa.

    Khi tôi đang phê thuốc thì người lái xe mở cửa thùng xe, nhận ra tôi. Ngay lập tức, tôi bị kéo xuống và rất nhiều người xông vào đánh tôi nhừ tử. Gói “ hàng trắng” tung ra khiến tôi càng thêm nguy khốn.

    - Đánh chết nó đi!

    - Đánh chết thằng nghiện!

    Ngay lúc ấy một người xông vào cứu tôi. Đấy là một người đàn ông to khỏe, bặm trợn, khuôn mặt đỏ hồng như mặt Quan Công. Tôi nhận ra đó là một người quen: bác Nhan Như Ngọc42, một nhà thơ bạn của bố tôi.

    Bác Ngọc đuổi những người đánh tôi lui ra, kéo tôi ra khỏi đống bùn. Bác chửi ầm lên khi người lái xe còn định xông vào đánh tiếp.

    Về bác Nhan Như Ngọc thì đấy là một chuyện dài.

    Cách đây mười năm, bố tôi khi ấy đã là một nhà văn thành danh và rất nổi tiếng. Một hôm có một vị khách đến chơi nhà tôi. Bác ấy nói ở xa đến, nghe danh bố tôi nên muốn tìm đến đàm đạo văn chương. Bố tôi mời khách ở lại ăn cơm. Hai người cùng trò chuyện và khá tâm đắc. Đêm ấy hai người cùng thức thâu đêm. Cuộc nói chuyện nhiều khi khá gay gắt. Bác ấy xưng là nhà thơ, tên bác ấy là Nhan Như Ngọc.

    - Thế ông nghĩ thế nào là nhà thơ?

    - Có ba loại - Bố tôi đáp - Loại một là các thiên thần. Họ vụt đến vụt đi và để lại những bài thơ, những câu thơ thiên thần. “Nhưng chưa chi chiều đã tắt”. Trong đời người, ai cũng có một giai đoạn thiên thần. Đấy là khi người ta trẻ trung, là trai tân. Khi ấy, những câu thơ vụt đến như những bổng lộc thần linh.

    - Còn loại hai?

    - Là thơ của những người khởi nghĩa, của lửa, của những nhà cách mạng xã hội. Khởi nghĩa với cả tình yêu, với đàn bà, với cái ác, cái tẻ nhạt, tầm thường, dung tục... với khá nhiều thứ - để biểu dương cái chí. Đó là “thi ngôn chí”: làm thơ để nói cái chí của mình. Đa số là chí tình, chí nghĩa, chí thanh cao. Những nhà cách mạng xã hội, những anh hùng đa số đều là nhà thơ.

     -  Còn loại ba?

    -   Loại ba không nói làm gì, nó viển vông, suy đồi, điếm đàng, đểu, say rượu, đa dâm, hạ lưu.

    Bác Ngọc lại hỏi:

    - Thế thơ là gì?

    Bố tôi đáp:

    - Thơ là mẹ của mọi thể loại văn học, thậm chí là mẹ của mọi hình thức sáng tạo: của chính trị, của toán, của nấu ăn, của hội họa, của “mốt”, của rất nhiều thứ. Người nào không thơ giống như một kẻ mồ côi: “mồ côi mẹ liếm lá đầu đường”.

    - Con người trông cậy được gì vào thơ?

    - Tùy! - Bố tôi nói – Thơ không bao giờ là một sự nghiệp. Mẹ không bao giờ là một sự nghiệp của con.

    Bác Ngọc ngồi im, vẻ rất căng thẳng. Bỗng nhiên bác cười ha hả bảo với bố tôi:

    - Thơ là ma quỷ ám vào! Có tay nhà thơ suốt ngày làm thơ, cái gì cũng thơ, lúc nào cũng thơ. Vợ hắn bực tức, không sao chịu nổi. Tay nhà thơ này mới có thơ rằng:

    “ Vợ tôi nửa dại nửa khôn

    Hôm qua nó bảo: Dí l... vào thơ

    Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ

    Hôm nay lại bảo: Dí thơ vào l...”

    Cả hai cười ngất. Bác Ngọc đọc cho bố tôi nghe những bài thơ của bác. Bố tôi khuyên bác nên chọn lọc để in. Gần một tháng ròng, bác Ngọc ở luôn nhà tôi để làm việc ấy.

    Bố tôi rất quý bác Ngọc. Bác Ngọc rất ngông, nhiều khi làm cả những việc oái oăm điên rồ, có khi cãi lộn với người hàng xóm chẳng ra sao cả. Lúc ấy bố tôi lại nói:

     - Thi sĩ mà! Phải ngông chứ!

    Bố tôi nói đùa bác Ngọc có “cái mặt ăn quan”, quan chức rất sợ và nể bác ấy. Bác Ngọc đi lại trong chốn công đường, công sở như không. Rất nhiều quan chức cao cấp bạn bè với bác. Bố tôi giảng giải:

    - Phải thừa nhận đa số những tay quan chức cũng là những tay anh hùng. Họ lọc lõi, ghê gớm. Chỉ các thi sĩ mới đáng để họ trông lên. Thi sĩ với anh hùng, tuy hai mà một, tuy một mà hai. Dĩ nhiên, đây là nói đến những thi sĩ, anh hùng xịn.

    Bác Nhan Như Ngọc chơi với bố tôi, cả hai vẫn trêu nhau là Bá Nha với Tử Kỳ, khi đùa nhả lại bảo là “mèo mả gà đồng” hay “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”. Sau đó lại uống rượu say rồi cười ha hả với nhau.

    Bác Ngọc nhận ra tôi, quát nhặng xị lên. Bác bảo:

    - Con ơi... Mày dính đến ma túy là thôi mày chết! Không ai cứu được! Chỉ có tự mày phải cứu mày thôi.

     Tôi hoàn toàn không còn kiểm soát được mình. Tôi lơ lửng như ở trong mơ. Tôi thấy mình bị đẩy lên xe ô tô chở đi đâu đó. Rồi tôi thấy mình bị chuyển lên một chiếc xuồng máy tông thẳng ra biển. Trời đen như mực, tiếng sóng biển đều đều nghe rất xa xôi. Cứ thế lâu lắm. Khi tôi tỉnh dậy, tôi bỗng thấy mình trơ trọi nằm trên một hòn đảo hoang không một bóng người.

     Robinson Crusoe

     Robinson! Robinson! Robinson Crusoe! T¹i sao mµy l¹i ë ®©y?...

    Daniel DeFoe43

    Cái ông nhà thơ điên rồ thả tôi xuống giữa đảo hoang, tôi không biết đây là đâu, ở địa phận nào. Bên cạnh tôi chỉ có mấy thứ tối thiểu phục vụ sinh hoạt: một cái chăn, một cái nồi, con dao, cái bật lửa... Tiền không, gạo không, tôi chẳng có thứ gì đáng kể trên người. Nhìn ra xung quanh bốn bề chỉ là biển cả mênh mông. Tôi hiểu thế là tôi bị đẩy vào một tình thế hoặc phải chết, hoặc phải đấu tranh để tự tồn tại, để sống.

    Câu chuyện về Robinson Crusoe kích thích tôi kinh khủng. Hồi bé tôi từng đọc cuốn truyện của nhà văn Daniel DeFoe nhiều lần và tôi rất thích. Đúng là tiểu thuyết! Một chuyện bịa đặt hoàn toàn nhưng lại hấp dẫn kinh người. Số phận oái oăm, tôi không ngờ giờ đây tôi lại lâm vào tình trạng giống như anh chàng Robinson Crusoe xấu số đó.

    Giống như Robinson Crusoe, công việc đầu tiên của tôi là dạo thử một vòng xem hòn đảo này có gì. Đây là một hòn núi đá nhô lên giữa biển, hiểm trở kinh người. Trông ra xa, tôi nhận thấy có rất nhiều hòn đảo như vậy. Như thế, tức là tôi đang ở trên một hòn đảo nào đó trong khu vực vịnh Hạ Long – Cát Bà. Mặc dầu dốt về địa lý nhưng tôi cũng biết đây là một vùng vịnh biển đặc sắc nhất ở Việt Nam và thế giới, có tới hơn 1700 hòn đảo lớn nhỏ.

    Hòn đảo mà tôi đứng đây hẳn gần với khu vực đảo Cát Bà, Cát Hải hơn là vịnh Hạ Long. Buổi tối, còn nhìn thấy cả ánh đèn điện phía xa xa, có vẻ ở đó là đảo Cát Bà hoặc đảo Tuần Châu là những trung tâm du lịch sầm uất.

     Hòn đảo mà tôi ở có lẽ đúng là không có người thật. Tôi không biết bên kia đảo (tức là bên kia dãy núi đá vôi) có người hay không nhưng suốt một chặng đường dài chừng một cây số bên này thì chẳng có bóng dáng một ngôi nhà nào. Không có dấu vết canh tác gì ở đây vì đúng là núi đá thì khó mà trồng trọt được gì. Những chỗ nào có đất thì đều thấy ở đấy mọc lên vô số những cây đu đủ (sau này tôi biết dân ở vùng vịnh đảo gọi đây là cây thầu dầu). Những quả đu đủ không to lắm nhưng quả nào chín thì rất ngọt. Cây cối trên hòn đảo này không phong phú gì cho lắm, không có cây to, cổ thụ, chỉ thấy toàn những cây trông giống như cây si, cây sao. Đa số là cây thân gai, cây chó đẻ.

    Ở trên núi cao quạ nhiều vô kể. Có lẽ đây là xứ sở của quạ. Khu vực Cát Bà – Cát Hải là những cảng cá nên có rất nhiều cá chết. Chắc bọn quạ vẫn bay về đấy “đi chợ”, đánh chén no nê sau đó lại bay về đây trú ngụ.

    Gần biển có rất nhiều hang đá khá đẹp nhưng tôi rất sợ ở đấy. Có thể khi thủy triều lên hoặc khi mưa bão, những hang đá đó sẽ bị ngập trong lòng biển.

    Tôi đi lang thang, cố tìm cho được một chỗ để ngủ qua đêm rồi sẽ tính sau. Một sức mạnh sinh tồn bản năng thế nào đấy thức dậy trong tôi khiến tôi không thấy sợ, cũng không thấy tuyệt vọng. Thậm chí tôi cũng không có cảm giác thèm heroin như khi ở trên đất liền, ở “ thế giới văn minh”. Có thể vì tôi còn trẻ, mới hai mươi tuổi. Vả lại, rõ ràng là tôi vẫn đang ý thức được, ma túy không thể đánh gục nổi tôi. Gì thì gì, tôi cũng vẫn là một người được “hưởng thụ nền giáo dục cao cấp” cơ mà!

     Cuối cùng thì tôi cũng tìm được một chỗ như ý trên lưng chừng núi đá. Ở đây có thể quan sát ra xa, đồng thời xuống biển cũng gần. Điều tuyệt vời chỗ này là một hốc đá khá phẳng có thể nằm được, nếu đứng dậy thì phải đứng lom khom nhưng cũng không sao. Nhược điểm duy nhất của hốc đá này là không có “bình phong” nên gió thổi vào rất ác. Tôi phải hì hục xếp một bức tường đá để chắn trước cửa cho đỡ gió.

     Những quả đu đủ chín là thực phẩm của tôi. Bọn quạ ở đây rất dạn dĩ, nhiều khi chúng bay sà đến trước mặt tôi như khiêu khích. Nếu tôi đuổi chúng, chúng kêu lên những tiếng “quạ, quạ” đinh tai nhức óc rồi bay lên phía cao trên núi.

    Tôi không biết trên đảo này có thú hay không? Chắc núi đá như thế này thì không thể có những con thú to như hổ, gấu được... Có thể có rắn và đấy là thứ mà tôi rất sợ. Để cho cẩn thận, tôi kiểm tra xung quanh chỗ ngủ của tôi, dùng dao phát quang những cây gai và cây chó đẻ. Tôi đốt một đống lửa nhỏ rồi chui vào chăn nằm.

    Đây là lần đầu tiên trong đời tôi “tự phê phán” – nói cho văn hoa tức là “tự mình đối diện với bản thân mình”. Tôi suy nghĩ rất lung, suy nghĩ về tất cả.

    Này, nhưng có cần kể ra tất cả những suy nghĩ ấy hay không? Tôi, tôi chẳng ân hận gì về những việc tôi đã làm. Có lẽ tôi chỉ là nạn nhân của hoàn cảnh sống của tôi. Nếu con người là “tổng hòa các mối quan hệ xã hội” thì bất hạnh thay, tôi có lẽ là một cái “nốt” nhạy cảm hơi quá đáng. Do đó giờ đây tôi mới phải một mình trên hoang đảo này. “Một mình sống giữa quạnh hiu. Còn hơn hiu quạnh giữa người thân thương”. Không biết ai đã nói ra câu ấy. Tự dưng tôi hiểu ra ý nghĩa thâm thúy trong cuốn sách của Daniel DeFoe. Robinson Crusoe trên hoang đảo không phải chỉ là một truyện phiêu lưu mua vui, nó là tiếng nói “không” với thế giới con người ích kỷ, với cuộc đời tang thương của kiếp người cứ tưởng bở là có ý nghĩa gì cho lắm. Xin lỗi, kể cả bố tôi “ông nhà văn danh tiếng”, thằng anh trai tôi “nhà điêu khắc tương lai”, của bác Trạch – chuyên gia máy vi tính mặc quần sooc, của con Dung cận, con Liên lùn... hay những người mà tôi quen biết. Cái thế giới thanh bình giả tạo với ti tỉ những phong tục tập quán, với những tiện nghi, những đạo lý thành văn và bất thành văn cố gắng trói buộc con người không chóng thì chày rồi cũng bị tấn công bởi nạn khủng bố, bởi ma túy hoặc thứ gì gần giống như thế. Tự nó không bị tấn công thì nó cũng sẽ hủy hoại nó, cũng thối rữa ra... Nó phải được rửa ráy lại, tự nó phải trục độc từ trong máu nó, nó phải rà lại những giá trị mà nó có được chứ đừng tưởng bở rằng mọi thứ sẽ là bất biến, sẽ là vĩnh cửu.

    Tôi đứng đây giữa đảo hoang, trên trời xanh, giữa biển xanh. Đây là lần đầu tiên trong đời mình, tôi cảm giác được giá trị sự sống, tôi tự tin vào mình hơn hết. Mẹ khỉ, tôi đúng là Robinson Crusoe!

    CHƯƠNG 27

    Những người chất phác

    Bao nhiêu là thứ bùa mê

    Vẫn không bằng được nhà quê của mình

    Đồng Đức Bốn

    Con người tự do: luôn luôn bạn thích biển.

    Ch.Baudelaire44

    Tôi xuống biển tắm, tìm cách bắt cá vì cá rất nhiều. Tôi không có kinh nghiệm nên loay hoay cả buổi sáng mà không bắt được con cá nào. Tôi đói, không thể chén toàn đu đủ mà sống được. Nó làm tôi bị đi ngoài, bị kiệt sức. Tôi trèo lên núi, cố gắng tìm ra thứ gì ăn được. Mãi về sau, tôi mới tìm ra được mấy cây khoai sọ nhưng củ của chúng đều non. Tôi cũng tìm ra được một số tổ chim có trứng, không biết đây là tổ quạ, tổ chim sâu hay là chim gì. Tôi cóc cần, miễn là ăn vào không chết là được. Tôi cho vào nồi luộc ráo cả lên, trệu trạo nhai nuốt. Cái nồi mà ông nhà thơ vứt cho tôi chắc là xin được ở trên cái thuyền, cái bè nào đó. Nó là cái xoong nhôm cũ méo mó, được cái còn chưa bị thủng. Ở trên núi có một khe nước rất trong. Chắc đây là chỗ duy nhất có nước ngọt ở đảo. Tôi nhìn kỹ xung quanh, thấy có nhiều vết chân thú và có cả vết chân người.

    Tôi không thấy sợ bị bỏ rơi ở đây vì thỉnh thoảng tôi vẫn còn nhìn thấy có ca nô chở khách du lịch đi thăm vịnh ở phía xa xa. Có cả những thuyền câu mực và đánh cá nữa. Tôi hy vọng nếu có chiếc thuyền nào đi lại gần đảo thì họ sẽ phát hiện ra tôi. Tôi không thể chết ở đây được, trừ phi tôi gặp rủi ro như bị ngã từ trên núi đá xuống biển hoặc bị rắn cắn.

    Một buổi trưa nọ tôi ngủ thiếp đi. Đang ngủ thì tôi giật mình nghe tiếng loạt soạt xung quanh. Tôi chồm ngay dậy vớ lấy con dao. Trước mặt tôi là một ông già cao lớn tay cầm dao quắm trông rất phong trần. Ông già cười:

    - Bắt được thằng ăn trộm thầu dầu đây rồi!

    Chúng tôi làm quen nhau. Tôi rất cảm ơn vì ông già không hỏi han lí do gì mà tôi lại ở đây một mình. Ông già nói tên là Hào, làm công nhân môi trường trên đảo Cát Bà, hôm nay sang đây thu hoạch đu đủ. Hóa ra những cây đu đủ trên núi là do ông trồng.

    Ông Hào bảo tôi:

    - Chú ở đây không ổn. Mưa gió thì không ở được. Tôi có cái chòi ở bên kia đảo, ở đấy tôi thả mấy con dê. Có gì sang đấy mà ở.

    Ông Hào và tôi dọn đồ xuống cái thuyền tre mà dân ở đây gọi là cái mủng. Ông Hào chèo thuyền đưa tôi về phía bên kia đảo. Ở bên đó bằng phẳng hơn bên này, lại có cả một bãi cát nhỏ rộng chừng 200 mét vuông tuyệt đẹp. Ông Hào dựng ở đây một cái lán nhỏ, có hàng rào vây xung quanh.

    Ông Hào bảo tôi:

    - Tôi nuôi mười sáu con dê, cứ thả cho nó sống tự nhiên. Ở đây không có thú rừng nào hết nên không sợ. Tôi ở bên đảo Cát Bà, cứ vài ba ngày thì tôi lại đi ra đây một lần.

    Trong lán ông Hào cũng còn ít gạo và muối, ông Hào bảo tôi cứ lấy mà dùng. Ông Hào hỏi tôi:

    - Chú định ở đây lâu không?

    Tôi trả lời rằng tôi muốn ở đây chữa bệnh, sống với thiên nhiên một thời gian dài. Nếu khỏe hẳn lên tôi sẽ đi làm công việc gì đấy để tự kiếm sống.

     

    Ông Hào bảo:

    - Tốt lắm! Nhưng muốn sống ở đây phải kiếm được cái mủng. Cái mủng là phương tiện đi lại, cũng là phương tiện kiếm sống, nó như cái xe máy, xe đạp ở trên đất liền. Có cái mủng, chú có thể đi về Cát Bà, Cát Hải hay đi Tuần Châu cũng được. Nhà tôi còn có một cái mủng cũ, có gì tôi sẽ mang cho chú mượn.

    Ông Hào đi về, để tôi ở lại. Ông Hào đúng là “quý nhân phù trợ”, là “phúc thiện tinh” của tôi. Hôm sau ông lại đến, mang theo một cái mủng cũ. Ông dạy tôi cách lái mủng. Tôi học nó rất nhanh. Lái mủng không phải là dễ, nhất là khi có sóng to. Sau hơn một ngày xoay xở, tôi đã bắt đầu điều khiển cái mủng như ý muốn.

    Có cái mủng, tôi chủ động hơn và không còn sợ bị chết đói. Tôi lái mủng vào vịnh Cát Bà, làm quen với các cư dân ở đây.

    Cát Bà là một vịnh lớn, ở đây neo đậu hàng trăm chiếc thuyền đánh cá từ các nơi đổ về: từ Quảng Ninh xuống, từ Thủy Nguyên Hải Phòng ra, có rất nhiều cái từ Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Ngãi, Đà Nẵng đến... Thỉnh thoảng cũng có vài cái thuyền Trung Quốc đến xin neo đậu. Trên bờ có một xưởng làm đá ướp lạnh và một chợ cá khá sầm uất. Gần đây, huyện đảo Cát Bà mở mang du lịch nên có khá nhiều thuyền bè du lịch chở khách đi lại tham quan trong vịnh.

    Có khoảng chừng vài trăm cái mủng làm việc chuyên chở người và hàng hóa đi lại trong vịnh Cát Bà. Có nhiều gia đình cả bố mẹ, con cháu đều làm nghề này, ăn uống, sinh hoạt tất tật đều ở trên mủng.

    Hàng trăm cái mủng neo đậu thành một xóm nhỏ ở trên mặt vịnh. Có người làm bè để sống trên đó. Lại có những tàu chuyên bán nước ngọt. Gần như trên bờ có nghề ngỗng gì thì những cư dân sống ở trên vịnh cũng có nghề ngỗng như vậy: có người chuyên bán tạp hóa, có người chuyên bán rau quả, thậm chí có người chuyên đi thu mua phế liệu như sắt vụn, vỏ chai hoặc đồ nhựa hỏng.

    Những khi có thuyền cá về thì hàng chục cái mủng bu lại xung quanh. Người mua, người bán phân loại cua, cá, tôm, mực: loại tốt mang đi bán cho cửa hàng xuất khẩu hoặc các cửa hàng chuyên bán đặc sản trên bờ, loại thường mang đi lên chợ.

    Tôi hòa nhập với những người ở đây rất nhanh. Loay hoay, khi thì chở khách, khi thì chở hàng, mỗi ngày cũng kiếm được đủ tiền mua gạo, mua thức ăn. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhận ra giá trị đồng tiền mà mình kiếm được. Tôi rất nể phục vài người ở đây như ông Cẩn, như chị Nga hay chú Thăng.

    Ông Cẩn đã già, làm nghề lái mủng từ nhỏ. Đời ông, đời cha cũng đều sống ở vịnh này. Ông Cẩn có cả một đại gia đình có tới hơn bốn chục người con cháu. Ban ngày đi làm, buổi tối mọi người quây lại bên nhau. Dù sống kham khổ và chẳng nhiều tiền nhưng không thấy mọi người trong đại gia đình ấy cãi nhau bao giờ. Có con cá, con mực gì ngon, những người con lại dành phần mang biếu bố mẹ. Gia đình ông Cẩn gửi tiền về quê trong Thanh Hóa đóng góp tiền xây dựng đình làng tới cả năm chục triệu đồng có dư. Rất có thể số tiền ấy bọn nha lại, hương lý ở quê chén sạch cũng nên, chúng không hề biết ở đây gia đình ông Cẩn đã phải vất vả, cực nhọc thế nào.

    Chị Nga quê ở Thủy Nguyên, Hải Phòng. Chồng chết để lại mẹ già với hai đứa con. Chị Nga ra vịnh Cát Bà kiếm sống, hàng tháng gửi tiền về quê nuôi mẹ, nuôi con. Mùa hè đông khách, có khi chị lái mủng suốt đêm không ngủ.

    Chú Thăng là thương binh cụt cả hai chân. Ngồi lái mủng, chú có thể lái nhanh hơn cả người lành lặn khỏe mạnh. Chú rất tốt bụng, sẵn sàng giúp đỡ mọi người nếu ai nhờ cậy, chẳng nề hà gì.

    Những người sống ở trên vịnh thật chất phác. Có lẽ thiên nhiên đã dạy cho họ những kinh nghiệm, những bài học về cuộc sống. Trước thiên nhiên, con người thật bé nhỏ. Chỉ có chân thực thôi mới được thiên nhiên chấp nhận. Còn thủ đoạn, dối trá, loanh quanh sẽ chỉ chuốc vào cho mình tai họa.

    Tôi sống ở đảo, thấy mình khỏe ra và thấy mình suy nghĩ đơn giản hơn về cuộc sống. Cái quá khứ trên bờ, cái nhịp sống nhốn nháo ở thành phố với đầy rẫy cạm bẫy hư vinh giả tạo khiến tôi lộn mửa.

    I don't know! I don't know! Tôi không biết! Tôi không biết tôi có đi đúng đường không?

    CHƯƠNG 28

    Những cái chết chất phác

     

    Làm người hữu ích, cho tôi luôn luôn là một cái gì bỉ ổi.

    Ch. Baudelaire

    Ông Hào có hai con trai, vợ mất từ sáu năm nay. Người con trai đầu của ông Hào sống ở trong rừng Cát Bà với bố, vẫn hay đi săn chim, bẫy thú. Anh có vợ và bốn đứa con, anh là chuyên gia bắt trăn, bắt rắn ở rừng. Có lần anh bắt sống được con trăn nặng tới 28 cân. Thường khi bắt rắn anh chỉ xoa lên tay một thứ dầu tự chế bằng lá cây rồi tóm đuôi nó, quay cho con rắn lử ra rồi cho vào rọ. Một lần vào rừng anh bắt được một đõ ong khoái. Đõ ong này ngâm rượu uống thì hết chê, có thể chữa được bệnh đau lưng, thấp khớp. Trên đường về, anh gặp phải con rắn hổ mang. Con này rất to, nặng tới 4 cân. Tiếc của, mặc dầu một tay còn cầm đõ ong, anh vẫn dùng tay kia bắt rắn. Con rắn cuộn một vòng tròn trên tay anh. Cứ thế, một tay đõ ong, một tay con rắn, anh hối hả chạy về để nhờ người giúp. Gần đến nhà, con rắn cuộn tròn xiết chặt tay anh đau quá. Anh mới dừng lại, định đổi con rắn sang tay kia. Luống cuống thế nào anh bị con rắn mổ ngay vào mắt. Chạy được đến bậc cửa nhà thì anh ngã xuống. Anh chết, mặt xám xanh lại sưng to, tay vẫn bóp đầu con rắn.

    Người con thứ hai của ông Hào là bộ đội công binh, sức vóc hơn người. Tham gia xẻ núi mở đường ở đảo Cát Bà, một mình anh bốc đá lên xe ôtô, có ngày gần ba chục chuyến. Tay choòng của anh nổi tiếng khắp cả công trường. Anh đứng trên đỉnh núi đá, dùng choòng bẩy những tảng đá nặng đến hàng tạ xuống núi. Có lần anh bị mất đà, ngã văng lao xuống từ trên độ cao tám mét. Anh chết năm 20 tuổi, đúng bằng tuổi tôi.

    Cát Bà, tôi nghe thấy nhiều cái chết thật đơn giản. Chồng chị Nga lái mủng ở trên vịnh bị ung thư dạ dày phải đi cấp cứu. Mổ hai lần, lần thứ nhất hết 7 triệu đồng. Lần thứ hai, tiếc tiền nên anh chồng không chịu vào bệnh viện. Vợ van nài mãi, anh mới chịu lên bàn mổ. Cố gắng góp nhặt tiền nong, chị Nga mang vào cho chồng hơn 6 triệu đồng. Bác sĩ hỏi: Liệu có tiền cứu chồng không? Chị Nga bảo: Không lo! 6 triệu chứ 600 triệu em cũng lo được. Chồng thấy vợ nói cứng, cười ra nước mắt. Mổ xong, biết không sống được, anh chồng vẫn gọi vợ vào để kể chuyện vui muốn cho vợ cười. Vợ bảo: Anh ơi, anh đừng kể nữa, không mọi người bảo em vào săn sóc chồng ốm cứ cười sằng sặc thì thật vô duyên. Anh chồng nằm thở, mồ hôi mồ kê ròng ròng, toát dương rồi chết. Vợ lau ướt đẫm cả tá khăn bông.

    Chị Nga bảo tôi:

    Ca mổ không thành công, viện phí chỉ phải trả hết một triệu bảy. Tôi ra thuê ôtô đưa xác chồng về quê. Lái xe thương tình không lấy một đồng hào nào.

    Tôi ở trên vịnh, tìm hiểu cuộc sống cư dân ở đây, thấy họ tiếp nhận cái chết thật là chất phác. Hầu hết mọi người cả đời chỉ sống trên mặt nước, đúng là không một tấc đất cắm dùi. Khi chết, người ta mang lên chôn cất ở một hòn đảo hoang vắng. Trước đây trên hòn Cát Ông có một bãi tha ma như thế. Đảo này hoàn toàn không có người ở. Cứ đến ngày Tết xá tội vong nhân (rằm tháng Bảy) hay Tết Nguyên đán người ta lại mang hương hoa, cau trầu lên đấy khấn vái, tiếng khóc ai oán lan xa lẫn trong tiếng sóng biển ầm ào không dứt.

    Những đứa trẻ sống ở trên thuyền phải tập làm quen với sông nước ngay khi còn nhỏ. Tôi đã chứng kiến cách dạy con bơi của một ông bố trên thuyền. Thằng bé đang ngồi, bất ngờ bị ông bố đẩy ngay xuống nước. Nó lặn hụp, sặc sụa gần chết ông bố mới nhảy xuống để cứu con lên. Có đứa đã không cứu được. Nó vĩnh viễn bị biển cướp đi. Nó đã không vượt qua được cửa ải gian khó đầu tiên trong đời sông nước.

    Trên biển, có những người từng thoát nạn một cách thần kỳ. Có thuyền đánh cá bị đắm ngoài khơi, thủy thủ gần như chết hết, chỉ có một người lênh đênh trên biển 25 ngày trời, được tàu đánh cá Trung Quốc đưa về bên đảo Hải Nam. Hơn một năm sau anh mới hồi hương, lúc đó ở nhà đã làm giỗ đầu cho anh.

    Những con người chất phác sống vô danh, chết cũng vô danh. Không có những tham vọng lớn, họ bằng lòng với cuộc sống yên bình và hạnh phúc bé nhỏ mà Thượng Đế ban cho họ khiến tôi cảm động. Gần một năm trời sống chung với họ, tôi đã thành một con người khác.

    Tôi đã kiếm đủ tiền để mua một cái mủng mới, căn nhà của tôi trên biển. Cái mủng mới giá chỉ có 600 nghìn đồng tuyệt đẹp! Ông Hào tặng tôi một đôi mái chèo tự tay ông làm, với tôi ông đúng là một người cha chất phác.

    CHƯƠNG 29

    Xianua

     Hãy cho tôi làm việc, mệt nhọc, đau khổ và phấn khởi?

    G.Sand45

     Tháng Bảy, mùa gió chướng. Những đợt gió mùa liên tục thổi vào vịnh. Những cơn sóng ầm ào rên rỉ cả ngày. Sóng dâng cao, có khi đến vài ba mét, táp cả vào những ngôi nhà làm sát gần vịnh. Nghe lời ông Hào, tôi đi làm thêm ở đội quản lý môi trường, thu gom rác thải trên biển.

    Đội thu gom rác thải có gần chục người. Chúng tôi có một chiếc thuyền máy nhỏ và mấy cái mủng chèo tay. Hằng ngày chúng tôi vớt rác trên vịnh, chở đi chôn trên núi. Sống với sông nước, tôi đã biến đổi thành con người khác. Tôi tự tin hơn, cảm thấy yêu mến cuộc sống bình dị.

    Một lần, tôi với ông Hào đi mủng vớt rác ở một hẻm trên đường đi ra bãi tắm. Ông Hào trông thấy một bao nylon vật vờ trôi ở trên biển. Xung quanh cái bao với bán kính chừng hơn 6 mét, rất nhiều cá chết trương nổi lềnh bềnh, có con đen lại như bị hun khói. Có nhiều con quạ lao xuống rồi lại bay lên kêu la ầm ĩ. Chúng tôi đoán là có chất độc, vội vã bơi về báo tin.

    Những người bảo vệ trong vịnh đi tàu theo chúng tôi ra chỗ bao nylon đang trôi. Mọi người dùng móc kéo nhưng sóng to, không sao vớt được nó. Hai người cảnh sát tình nguyện nhảy xuống biển để vớt nó lên. Vừa đưa được lên boong tàu cả hai bỗng tím tái chân tay, buồn nôn, chóng mặt. Một lúc sau thì ngã vật ra, máu trào ra đầy mồm miệng, mắt trợn ngược, hơi thở rất yếu. Mọi người xúm lại làm hô hấp nhân tạo rồi đưa lên bờ cấp cứu.

    Bao nylon được mở ra. Trong đấy đầy những viên thuốc trăng trắng trông như những viên băng phiến, mùi hắc như là mùi thuốc trừ sâu. Mọi người không biết là chất độc gì. Đến gần tối, một bác sĩ ở khoa nhiễm độc bệnh viện đa khoa cho biết đây là chất độc Xianua (NaCl). Chất này cực độc, chỉ cần 1mg/1kg vào cơ thể là đủ gây chết người. Hai người cảnh sát tình nguyện được cấp cứu kịp thời, thoát chết nhưng bị thương tật vĩnh viễn 27%.

    Xianua là một hóa chất dùng để hòa tan quặng chứa vàng, người ta dùng nó để kết tủa lấy vàng nguyên chất. Không thể khai thác được vàng nếu không có hóa chất này để làm phụ gia lọc quặng. Ngày xưa khi theo bố tôi đi lên mỏ vàng Trại Cau Thái Nguyên tôi đã thấy người ta dùng hóa chất này ở trong giai đoạn đánh hóa vàng. Thường người ta nhập hóa chất này từ ngoại quốc (chủ yếu từ Trung Quốc vào) trong những thùng chứa chuyên dùng bằng sắt, bên ngoài có ghi công thức hóa học, có vẽ biểu tượng nguy hiểm và ghi chú những hướng dẫn cảnh báo cho người sử dụng. Rất có thể bao nylon đựng xianua này là hàng nhập lậu, do lý do gì đó bị rơi xuống biển.

    Tôi nói những điều đó cho những người bảo vệ ở vịnh biết. Mọi người phán đoán chắc có thể nó liên quan đến một số tàu đánh cá từ Quảng Nam, Quảng Ngãi ra đang neo trong vịnh. Quanh khu vực này không có mỏ vàng nhưng ở các huyện Phước Sơn, Trà My, Tiên Phước, Núi Thành thuộc tỉnh Quảng Nam lại có mỏ vàng lộ thiên đang khai thác. Những người đánh cá từ Quảng Nam ra cho biết có mỏ vàng lộ thiên thường xuyên có tới 20 ngàn người đào bới sốt cả đêm ngày. Như vậy, rất có thể đây là một nơi tiêu thụ xianua với số lượng lớn. Giá xianua nhập vào khoảng 2 đôla/1kg nhưng ở nơi khai thác vàng có thể bán được tới giá gấp 5 hoặc 10 lần giá nhập vào.

    Người ta lập tức làm một cuộc kiểm tra, xét hỏi những tàu đánh cá ở miền Nam ra. Quả nhiên trên một tàu đánh cá của tỉnh Quảng Nam, người ta phát hiện ra trong khoang chứa đồ có hai bao nylon đựng xianua giống như cái bao nylon vớt được trên vịnh. Tra hỏi chủ tàu, ông ta thú nhận họ đang đón đợi một chiếc tàu buôn lậu chở xianua từ Quảng Châu (Trung Quốc) sang. Hôm trước, người ta gửi ba bao nylon xianua làm mẫu. Do đêm tối, lúng túng nên làm rơi một bao xuống biển. Chủ tàu bị bắt. Mọi người lập ngay kế hoạch để đón đợi chiếc tàu buôn lậu.

    Đêm ấy trời mưa rét. Hai chiếc tàu của cảnh sát tuần tra trên biển và đội quản lý môi trường chúng tôi phục trong hẻm núi. Quá nửa đêm, chiếc tàu buôn lậu chở xianua từ phao số 0 tiến vào. Mưa rất to, chúng tôi cho hai chiếc tàu kiểm tra ép vào chiếc tàu buôn lậu. Chúng tôi nhảy sang chiếc tàu buôn lậu bắt dừng máy lại.

    Tôi vọt vào khoang lái tàu. Tên chủ hàng đang ra lệnh đánh chìm tàu. Nếu chìm tàu, hàng tấn xianua sẽ bị đánh đắm và cả vùng vịnh đảo sẽ rơi vào một thảm họa sinh thái khôn lường. Tôi lao vào tên chủ tàu, ngạc nhiên nhận ra đó là thằng Thức Kinh Kông, tên cướp mà tôi đã gặp ở Zip Fashion hồi nào.

    Thằng Thức Kinh Kông rút chốt lựu đạn. Không hiểu bằng sức mạnh nào, tôi lao vào hắn nhanh như tên bắn. Tôi đánh vào cổ tay hắn và hất ngược quả lựu đạn rơi văng xuống biển. Lựu đạn nổ vang, rất may không ai bị thương.

    Những người cảnh sát xông vào bắt trói thằng Thức Kinh Kông và người lái tàu. Thằng Thức Kinh Kông nhận ra tôi. Nó rất ngạc nhiên. Khi bị dẫn đi qua trước mặt tôi nó nói:

    Thằng Thanh nhạn, thằng Quyền Lỳ đã chết vì bị sốc heroin. Tao đã tưởng mày giống như chúng nó.

    Tôi tức giận định chồm lên bóp cổ nó nhưng bị ông Hào kéo ra. Ông Hào bảo tôi:

    Khuê! Hôm nay con đúng là cứu tinh của vịnh đảo này!

    Đấy là ngày 23 tháng Bảy, một ngày thật đáng ghi nhớ trong cuộc đời tôi.

    Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”

    (Truyện Kiều)

           Nguyễn Du (1766 – 1820), tự Tố Như, nhà thơ thiên tài Việt Nam, tác giả “Truyện Kiều” (Đoạn trường tân thanh). Có người nói: “Truyện Kiều còn, tiếng Việt còn. Tiếng Việt còn, nước Việt còn”.

    50.  “Tuổi hai mươi yêu dấu”  là một tựa đề có phần ... cải lương. Tác giả đã có ý định đặt tên cho nó là “Khuê” (lấy tên nhân vật chính), hoặc “Tuột xích”, hoặc “Bút ký phiêu lưu của một sinh viên đại học”, hoặc “Bài ca tuổi trẻ”... Suy nghĩ kỹ, tác giả lấy tên “Tuổi hai mươi yêu dấu”  là muốn nhằm vào đối tượng độc giả thanh niên, những độc giả mà tác giả vẫn kính trọng và luôn yêu mến.

     Hết.

    Nguồn: Tuổi hai mươi yêu dấu. Tiểu thuyết của Nguyễn Huy Thiệp. File điện tử của nguyenhuythiep.free.fr/tuoi20/

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập37,156,638

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/