Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,818,010

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ hồ Gươm (tiếp & hết)

Phan Quang

  • Thứ tư, 09:29 Ngày 30/09/2020
  • 24-7-1954 Từ Ninh Bình sang Nam Định.

    Đường về đô thị tự do thênh thang giải phóng. Đường vui. Ai cũng

    hớn hở. Đường gần hóa xa vì nhìn thấy cái gì cũng muốn dừng muốn

    ghé lại xem. Quán mới dựng bên đường, mái tranh xác xơ nhưng bên

    trong kia, nước chanh, chai cốc bày bóng nhoáng. Có cả quán bán xôi

    chè, bún riêu. Nghe ai đó vừa nhận xét: Quán mọc nhanh và nhiều như

    nấm, trên các nẻo bờ đường vừa dọn dẹp, cỏ dại đã cắt dồn xuống bờ

    đường chưa kịp khô...

    Trên đồng ruộng hai bên bờ con đường tỉnh lộ, đồng bào tát nước

    bằng gàu đôi, cứ hai người một gàu; có chỗ hai gàu liền nhau, bốn

    người cùng làm, nhịp cần lao tươi hơn hớn.

    Đi ngang qua đồn Chùa Cao, không thấy chút gì còn lại của ngôi

    chùa. Toàn lô cốt ngầm, dây thép gai. Có mấy người đang xúm lại cắt

    dây thép mang về rào nhà - tôi đoán thế.

    Tôi đạp xe đi khá nhanh. Một ông vẫn bám theo kịp, bắt chuyện. Ông

    tự giới thiệu, người quê xã Gia Khánh, gần đồn Tây thôn Đông Phú,

    trước tản cư vào trong Thanh, nay về thăm quê, vừa rồi đã ghé qua nhà,

    nay muốn đi tiếp mấy nơi nữa cho thích. Nhà chẳng còn dấu vết chi, mà

    lòng mình vẫn vui lắm.

    Ông này vui chuyện. Kể tin đình chiến vừa nghe, nhớ khá nhiều chi

    tiết cụ thể. Ông cũng chẳng cần quan tâm mình đang chuyện trò với

    ai đây. “Tôi già rồi, còn được hưởng một ít. Các anh còn trẻ, tha hồ mà

    sướng... ”.

    Xe đạp nhanh. Gió thổi bạt. Tôi không nghe rõ hết mọi điều ông nói,

    cứ gật gù, cứ vâng bừa. Cho ông già vui.

    Qua sông Ninh Bình, tại nơi gọi là bến đò Non Nước, bằng chiếc

    thuyền nan. Em gái mới lớn chèo thuyền. Một khách hỏi, em đáp thành

    thạo: “Chiếc thuyền này giá hai mươi vạn đồng”. Thấy tôi hơi nhếch

    mép, em nói lại: “Hai chục vạn thật đấy”.

    Rồi lại kể tiếp: “Gia đình em bóp chắt mấy tháng mới mua được chiếc

    thuyền. Hôm nọ phục vụ các anh bộ đội qua sông, hôm ấy trời chưa

    có giăng (trăng), các anh không quen thuyền bè, lại chèo vội vội vàng

    vàng, chiếc thuyền cứ va vào đá. Xót ruột quá. Nhưng việc các anh đang

    lúc vội, biết làm sao!”.

    Qua bên này sông là thuộc địa phận tỉnh Nam Định. Vị trí Gốc. Huyện

    Ý Yên. Huyện Vụ Bản. Những địa danh tôi chỉ biết qua tin tức, sách báo.

    Ghé quán nước huyện Ý Yên. Gặp một anh bộ đội địa phương Liên

    khu 3, người chính quê xứ này. “Bọn địch trước đây tuần tiễu con đường

    này thường xuyên”. Anh đưa tay chỉ cánh đồng mênh mông phía trước,

    hào hứng kể tiếp: “Chỗ kia kìa. Ta bố trí 1 bazooka, 2 đại liên. Trong

    làng, xa nữa, tận chỗ cái chùa tường trắng kia, một đại đội. Bên kia

    đường, 1 C khác nữa. Quân ta phải vận động xa thế đấy. Hôm nó rút

    chạy, đầu chúng nó đã tới chỗ đây này, đuôi chúng nó còn mãi đằng kia.

    Đông thế đấy. Mà ta vẫn ăn gọn. Mình rút hết vào trong làng, nó mới nã

    đại bác vu vơ xuống trận địa”.

    Huyện Vụ Bản. Một chiếc xe GMC cháy dở bên đường. Mới đây, hôm

    11-7-1954 chúng nó rút đi, đốt chiếc xe này bỏ lại. Mấy anh công nhân

    đang lụi hụi tháo bulông, chọn lấy những thứ gì còn có thể dùng.

    Bỗng dưng có tiếng máy bay ậm ì. Rồi mấy chiếc xuất hiện trên trời.

    Đồng bào ngơ ngác nhìn nhau: “Đình chiến rồi cơ mà!” Tôi giải thích:

    “Chưa hẳn đâu. Hiệp định đình chiến đã ký, nhưng một tuần sau mới có

    hiệu lực. Ta vẫn phải cảnh giác”.

    Nói cảnh giác nhưng tôi cũng như tất cả mọi người vẫn thản nhiên

    như không,

    May, mấy chiếc phi cơ chỉ bay thẳng qua trên đầu, rồi mất hút. Chẳng

    nghe thấy tiếng bom đạn nào.

    25-7-1954 Thành phố Nam Định.

    Đại lộ Trần Hưng Đạo rực rỡ cờ hoa. Hiệu sách Nhân Dân mở ở gần

    ngã tư, chen chúc người xô đẩy, tranh nhau mua cờ đỏ sao vàng và ảnh

    chân dung Hồ Chủ tịch. Nhà hàng phải phân ra hai nơi, cho khách đỡ

    chen lấn, chỉ một lát sau, hết hàng! Hai cô gái bán hàng lui vào phòng

    trong. Có người gắt to, bực bội: “Sao không có ai ở đây?”. Nhiều người

    hỏi: “Bao giờ? Bao giờ có hàng về?”. Một cô đành phải trở ra: “Chúng

    cháu đã đặt hàng. Nhưng không biết chiều nay hàng có về kịp không.

    Xin mời các cô, các bác vui lòng chờ đến sáng mai... ”.

    Một anh nông dân kể: “Tôi đi bắt ốc. Ngày thường bán được đồng

    nào là đưa hết cho mẹ cháu thêm chút tiền đong gạo. Bây giờ tôi để

    dành mua tấm ảnh Cụ Hồ. Nhà thiếu gì thì thiếu nhưng không thể

    thiếu bức ảnh Cụ”.

    25-7-1954 (Ghi tiếp)

    Mấy hôm nay thành phố Nam Định đêm nào cũng vui như hội. Mới

    chập tối, phố xá đã đông nghịt người và người. Thỉnh thoảng lại gặp

    một chị phụ nữ trang phục lộng lẫy: áo dài hoa, quần trắng, tóc uốn,

    cổ đeo chuỗi ngọc, chân đi giày cao gót và dĩ nhiên môi son má phấn.

    Thong thả lượn qua lượn lại trước Vườn hoa ven đường phố chính.

    Nhiều nhất, sau người đi bộ ngược xuôi, là xe đạp. Những chiếc xe

    Sterling, xe Peugeot sang trọng lượn lờ.

    Múa sư tử. Trống nện thùng thùng.

    Đêm, các em thiếu nhi rước đèn. Đèn tàu, giấy bóng, đốt nến bên

    trong. Các em nữ mới mười, mười hai tuổi cũng diện áo trắng dài tha

    thướt, bó chặt những tấm thân lép kẹp.

    Trước Hiệu sách Nhân Dân, vẫn có người kiên nhẫn chờ, may ra mua

    được trong hôm nay lá Quốc kỳ và bức ảnh Cụ Hồ.

    26-7-1954 Nam Định tưng bừng chuẩn bị Hội mừng chiến thắng. Có lẽ

    đây là cuộc duyệt binh đầu tiên trên cả nước sau ngày hòa bình lập lại?

    Mỗi phố mỗi cổng chào kiểu khác nhau. Tôi định sau buổi lễ viết một

    loạt bài về sự kiện này.

    Vỉa hè Đại lộ Trần Hưng Đạo từ chập tối đã đông nghịt người từ các

    vùng nông thôn lên xí phần chỗ đứng để sáng mai được tận mắt nhìn

    xem bộ đội ta duyệt binh. Lòng đường mọi người vẫn ý tứ để dành cho

    Ban tổ chức bố trí Lễ rước kiệu hoa, Biểu tượng con chim Hòa bình trên

    chiếc xe chở công nhân Nhà máy Dệt Sợi, đoàn diễu đèn lồng, đoàn

    múa lân...

    Lễ đài chính đặt tại ngôi nhà bề thế vốn là trụ sở Chi nhánh Nhà

    băng Đông Dương ở thành phố này. Ngôi nhà xây dựng kiên cố. Tầng

    hai có sân thượng nhô ra phía trước, tiện dùng làm nơi Đoàn Chủ tịch

    buổi lễ và các quan khách đến từ nhiều địa phương đứng. Cái tiện nữa

    là nhà Ngân hàng xây tụt về phía sau, xa lòng đường phố, trước mặt có

    sẵn khoảng đất trống giống cái sân mà không có tường rào. Đây là nơi

    đại diện các đơn vị, địa phương, tổ chức nhân dân, đoàn thể, các em

    thiếu nhi... xếp hàng dự cuộc mít tinh, và sẽ diễu hành sau rốt, kết thúc

    buổi lễ.

    27-7-1954 Lễ Mừng Chiến thắng đầu tiên trên miền Bắc sau ngày

    hòa bình lặp lập lại, chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà được cấp

    trên quyết định chọn cho trùng khớp với Ngày Thương binh liệt sĩ 27-7.

    Bao nhiêu người ngã xuống, bao nhiêu chiến sĩ hy sinh, bao nhiêu tàn

    phá, đau thương để có được buổi sáng hôm nay.

    Một loạt đạn đại bác nổ vang. Tư lệnh Quân khu 3 Hà Kế Tấn trân

    trọng đọc thư Hồ Chủ tịch. Đồng chí Lê Thanh Nghị, Chủ tịch Liên khu

    3, Chính ủy Quân khu 3 đọc Diễn văn chính...

    Tham gia Đoàn Chủ tịch còn có mấy nhân vật nữa: Lê Quốc Thân,

    Giám đốc Công an Liên khu 3, Hoàng Văn Tiến, Chủ tịch tỉnh Nam

    Định...

    Nhân dân trân trọng lắng nghe trong trật tự, nhưng trong lòng ai nấy

    đều bồn chồn ngóng đợi cuộc duyệt binh, đặc biệt nhìn các cỗ súng đại

    bác của đơn vị Pháo binh ta diễu hành. Ba khẩu sơn pháo 75mm. Sáu

    6 khẩu DKZ 87. Bốn khẩu OKZ ta vừa đoạt được của địch tại Điện Biên

    Phủ. Năm cỗ súng phòng không 12 ly 7 đặt trên xe tải (…)

    29-7-1954 Có điện khẩn nhắn: anh Hoàng Tùng chớ có nấn ná mãi

    ngoài Khu 3, cần về ngay Sầm Sơn để kịp viết bài tường thuật cuộc trao

    trả tù binh. Lần này mới thật sự mở đầu các cuộc trao đổi chính. Hai

    tuần trước mới là buổi trao khẩn cấp các thương bệnh binh thôi. Đoàn

    điện ảnh Liên Xô về Nam Định quay cảnh duyệt binh, cũng ngay sau

    buổi lễ, theo đúng dự kiến, sang thị xã Ninh Bình rồi từ đây lên ca nô

    theo Kênh nhà Lê1 vào Thanh Hóa quay phim sự kiện ấy. Nhờ gặp anh

    bạn quen, tôi được phép đi nhờ trên chiếc thuyền máy dành cho khách.

    Vậy là lại gặp may.

    Hoàng hôn. Chiếc ca nô lướt nhanh trên con sông đào. Lần đầu tiên

    trong đời tôi nhìn thấy các cô gái chèo thuyền bằng đôi chân.

    Gió đêm mát rượi…

    07-8-1954 Lại về Sầm Sơn. Việc trao trả tù binh tiếp tục diễn ra suôn

    sẻ. Chỉ sau mấy chục hôm, so với lần đầu, ta đã dựng được bao nhiêu

    công trình. Công sức nhân dân trong hòa bình xây dựng thực là vĩ đại.

    Từ một bãi cát hoang lơ thơ mấy cây dương liễu, sau hai chục ngày biến

    thành khu doanh trại, nhà cửa. Khu vực dành cho Hội trường có nhà

    1 Kênh Nhà Lê (hay Sông Nhà Lê) là tuyến đường thủy xuyên qua bốn tỉnh Ninh

    Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh - nhiều đoạn nối với các khúc sông tự

    nhiên - tương truyền được khởi đào từ thời vua Lê Đại Hành nhằm vận chuyển

    quân lương là chính. Kênh Nhà Lê đoạn qua tỉnh Ninh Bình nay dài chừng 14

    km, từ Ngã ba Đức Hậu vào đến cửa Thần Phù.

    họp, nhà của Phái đoàn ta, nhà cho Phái đoàn Tây, nhà Văn phòng, nhà

    Báo chí, nhà căng tin phục vụ việc cơm nước... Khu vực dành riêng cho

    lính Âu Phi đã làm xong mấy ngôi nhà lớn, nghe nói đủ chỗ cho 150

    người nằm, có phòng ăn, nhà thương, nhà phát thuốc riêng. Nơi đón

    anh em thương, bệnh binh ta được phía bên kia trao trả cũng đủ chỗ

    nghỉ tạm cho 150 người, tiện nghi đầy đủ.

    Bề thế hơn nữa là một khu lán trại dựng cách nơi đây chừng hai cây

    số, gọi là Khu B. Nơi đây dự định có thể tiếp nhận hai nghìn thương,

    bệnh binh điều dưỡng dài ngày. Đã làm xong 25 ngôi nhà lớn có đủ câu

    lạc bộ, căng tin... Mỗi ngôi nhà có thể dùng làm nơi ăn nghỉ cho 100

    bệnh binh. Mà tất cả những công việc trên cũng đã được gần như hoàn

    tất trong vòng có mấy chục ngày. Con đường Thanh Hóa - Sầm Sơn mà

    tôi vẫn thích gọi là Đường 48 (bởi vì nó còn y nguyên hầm hố phá hoại

    như tất cả những con đường dành cho xe cơ giới năm 1948), nay đã

    được sửa sang, bồi đắp, các xe Molotova và xe Jeep đã có thể lướt nhanh

    vùn vụt.

    …Tắm biển Sầm Sơn cùng mấy cậu, cô người thị trấn. Xem các cô

    chụp ảnh nhau bên hàng dương liễu. Đã có một số người từ thị xã Thanh

    Hóa đưa gia đình về đây nghỉ mát. Phụ nữ đô thị có vẻ như không dễ

    dàng tiếp cận như gặp các mẹ, các chị ở thôn quê, vẫn thích làm dáng

    và được người khác nịnh khen (…).

    07-8-1954 Được tin anh Hải Triều vừa

    mất sáng hôm qua. Chiều nay tôi sẽ sang bên

    làng... , nơi gia đình anh ở, cùng các đồng chí

    trong Liên chi ủy và văn nghệ sĩ Liên khu 4 lo việc đưa tang anh.

    Anh qua đời vào lúc hòa bình mới lập lại,

    nghe đâu anh đã nhận được điện của Trung ương điều ra làm việc ngoài đó.

    Con người anh Hải Triều, ai đã được gặp

    anh đôi lần không thể nào quên. Anh vui

    tính, sống giản dị, xuề xòa với cấp dưới. Anh

    Nhà văn Hải Triều

    (1908-1954)

    là Giám đốc Sở, tôi làm bên tòa soạn báo, thỉnh thoảng vẫn được gặp

    anh vì chi bộ hai nơi cùng sinh hoạt trong một liên chi bộ Đảng. Một

    lần có cuộc họp gì đó vào buổi tối, nhiều người phát biểu nhùng nhằng,

    đêm đã muộn, một số đảng viên bắt đầu ngủ gà ngủ gật. Đồng chí Giám

    đốc đứng dậy đề nghị toàn thể các đồng chí nghỉ giải lao, và tự mình

    bước ra, xung phong phục vụ “một phút vui nhộn”, y như lời các cô gái

    trẻ tại các cuộc họp dân chòm.

    Anh Hải Triều thời trẻ thích xem hát bội, người ta đồn anh rành môn

    ấy lắm, và có khi nổi hứng chính anh cũng nhập vai tuồng luôn, bước

    ra hội trường vừa hát vừa múa y như diễn viên thật. Lần này anh em ai

    cũng ngỡ anh sẽ hò một bài hò mái nhì xứ Huế hay diễn một vai trong

    tích tuồng nào đó.

    Đúng vậy, nhưng anh chưa thủ vai ngay, mà bắt đầu bằng kể chuyện.

    Rằng, hồi còn ở trong Huế, một lần có đêm hát bội, diễn tích “Đào

    Viên kết nghĩa”. Hai ông anh Lưu Bị, Quan Vân Trường đã lần lượt ra

    sân khấu, xưng danh xong bước sang bên dành khoảng trống ở giữa

    cho ông em út Trương Phi. Vai này từ phía trong vén màn ra, vung cây

    “Thanh Long đao” múa liên hồi mấy hiệp, rồi tiến đến gần phía khán

    giả, tay trái kẹp con long đao đã dựng ngược lưỡi lên trời sát vào thân

    mình, hai chân hơi khuỵu xuống một chút, tay phải đưa lên cằm làm bộ

    chuẩn bị vuốt bộ râu quai nón, rồi mới cao giọng xưng danh, thì tá hỏa:

    trong lúc vội vàng, ông tướng quên khuấy, chưa kịp đeo râu.

    Kể tới đây, anh Hải Triều ngừng lại, tự mình bước ra, làm động tác

    như anh vừa kể, vung long đao, múa may mấy vòng, lại làm động tác

    giả vờ tay trái kẹp cây long đao vô hình, tay phải đưa lên sờ cằm, bỗng

    chững lại vì thiếu mất bộ râu, tuy nhiên vẫn bình tĩnh cất tiếng hát,

    đúng với nhịp đúng điệu và lời ca hát bộ hẳn hoi, thản nhiên ngân nga

    lên xuống: “Tôi là…”. Vai tuồng giả vờ làm bộ giật mình, tuy nhiên vẫn

    cứ bình tĩnh tiếp tục xưng danh: “Tôi là… Tôi là… Trương Phì em của

    Trương Phi…”.

    Dừng múa hát, anh kể tiếp: Lúc đầu khán giả nhiều người quen ngồi

    xem hát bội còn ngớ ra, chưa hiểu tại sao, nhưng chỉ sau mấy giây mọi

    người đều hò reo, cười vui, vỗ tay đôm đốp… Ông Trương Phì thừa lúc lộn

    xộn biến luôn vào hậu trường, đeo vội bộ râu đen, rồi vác cây Long đao

    trở ra sân khấu. “Ông em Trương Phì nhờ có bộ râu đã trở thành vai chính

    Trương Phi!”, anh Hải Triều kết luận. Cả cuộc họp chúng tôi đêm hôm ấy

    cũng vỗ tay rào rào, cười nói huyên thiên. Không còn ai ngáp nữa.

    Con người ấy đã qua đời rồi. Chắc chắn cái tên Hải Triều rồi sẽ còn

    lại dài lâu.

    06-9-1954 Từ Sầm Sơn, tôi đi thẳng vào Nghệ An lấy tài liệu viết bài

    cho báo Cứu Quốc và mấy tờ báo ở Trung ương cứ tới tấp đặt bài, nhân

    dịp Kỷ niệm Ngày Quốc khánh 2-9 lần đầu tiên trong hòa bình sau chín

    năm chiến đấu. Khu Giao tế tỉnh sáng rực ánh điện đêm đêm. Ánh điện

    thanh bình và lộng lẫy nói lên triển vọng những công sở lớn lao1.

    20-9-1954 Tôi vừa viết xong bút ký Vinh hôm qua và ngày mai nói

    lên việc tới tấp kiến thiết hòa bình ở Vinh và triển vọng của thành phố

    này mai đây. Đã gửi ra cho báo Độc Lập ngoài Bắc. Họ đã gửi trả cho

    tôi sáu vạn bốn nghìn đồng tiền nhuận bút truyện ngắn Ánh đèn mà

    đến nay tôi vẫn chưa đọc được truyện của mình đăng trên báo ấy, số

    nào chẳng biết.

    LỤT TO Ở NGHỆ AN.

    24-9-1954 Mưa suốt mười hôm nay rồi2. Những trận mưa rào rào

    to chưa từng thấy. Nước sông dâng vùn vụt. Tiếng trống hộ đê tới tấp,

    nóng ruột nóng gan. Đồng ruộng ngập hết rồi. Sau một cơn hạn kéo dài

    mười tháng, đồng lúa muộn bắt đầu xanh đẹp, mỗi ngày nhìn thấy một

    khác. Thế mà bây giờ trắng xóa, mênh mông. Thấp thỏm đợi chờ đê vỡ,

    1 Bài “Tưng bừng chuẩn bị…” đăng báo Cứu Quốc ngày 18-8-1954.

    2 Sau Hiệp định Genève, các cơ quan Liên khu 4 lại trở về đóng bên bờ sông Lam,

    về mặt địa lý dải đất này nằm ở trung tâm Vùng tự do Liên khu 4 trong kháng

    chiến chống Pháp, bao gồm ba tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh và một phần phía bắc

    tỉnh Quảng Bình.

    mặc dù tất cả mọi người đã đổ lên mặt đê. Tất cả cán bộ công nhân viên,

    tất cả các cấp lãnh đạo từ khu đến xã. Mưa vẫn ào ào như xối. Đê bắt

    đầu tràn và đã vỡ nhiều quãng nhỏ. Mưa vẫn đổ ào ào. Phải chủ động

    mở một số khúc trên đê cho lũ tháo bớt.

    Chiều tối, nước càng lên vùn vụt, một giờ dâng đến ba tấc. Chưa bao

    giờ vùng này chịu trận lụt to đến thế. Xóm tôi ở là nơi cao nhất trong

    thôn này, nước cũng đã vào nhà. Những xóm khác, nhà đã ngập mái, có

    nhà không còn một tí gạo ăn. Sáng nay cơ quan chúng tôi phải giúp hai

    gia đình hai cân gạo.

    Riêng một chòm này đã bị ngập đến tám trăm tạ thóc thuế nông

    nghiệp chứa trong kho. Nhân dân lo âu. Mùa này đã nhìn thấy trước là

    một con số không to tướng rồi. Thế mà tuần trước, trời còn nắng ráo, đã

    có nhà như nhà anh Huyến Trưởng công an xã đã phải luộc rau muống

    ăn trừ cơm. Sau trận lụt này, vấn đề cứu đói, vấn đề thu thuế nông

    nghiệp sẽ càng cấp thiết và khó khăn hơn nữa đây. Trận lụt đã làm

    chùng hẳn tinh thần phấn khởi của nhân dân do hòa bình mang lại.

    Tôi cũng sốt ruột vì mưa lụt. Tôi đã được lệnh điều động ra công tác

    ở báo Nhân Dân, mà ngày 10 tháng 10 này quân Pháp rút khỏi Hà Nội,

    tôi phải đến nhận việc tại cơ quan mới trước kỳ hạn ấy. Thế mà bây giờ

    tôi lại ốm và bị lụt mắc nghẽn nơi đây!

    24-9-1954 (Ghi tiếp Nhật ký) Tôi thật lòng ngần ngại phải rời tòa

    soạn báo Cứu Quốc. Nơi đây quen thuộc những mấy năm rồi. Bước đầu

    vào nghề cầm bút của tôi là chốn này. Biết bao bè bạn, thân quý cùng

    chia sẻ vui buồn. Nay được “ra ngoài Bắc, lên Trung ương”, mình đâu có

    ai quen biết! Anh Đinh Nho Khôi đã chuyển đi công tác khác. Chế Lan

    Viên vẫn đang chữa bệnh bên Nam Ninh, Trung Quốc. Hoàng Yến đã

    ở hẳn lại quân đội sau Chiến dịch Thượng Lào... Anh Ngô Đức Mậu,

    người phụ trách báo, muốn tôi ở lại tòa soạn làm việc. Biết tôi đang áy

    náy chần chừ chuyện ra đi hay ở lại, anh nói: “Đã có quyết định của Ban

    Tổ chức Trung ương, tất chúng ta phải chấp hành. Tuy nhiên, nếu anh

    chưa muốn đi ngay, ta có thể báo cáo Thường vụ Liên Khu ủy có văn

    bản chính thức xin phép trên cho lùi lại một thời gian”.

    Anh Nguyễn Văn Lợi lại có ý kiến khác: “Mình khuyên Hoàng Tùng

    nên ra ngoài ấy... ”.

    Các anh Hải Triều, Nguyễn Văn Lợi, Ngô Đức Mậu... đối với tôi thuộc

    lớp cha chú. Các anh tham gia cách mạng từ khi chưa thành lập Đảng

    ta. Con trai, con gái các anh có người lớn tuổi hơn tôi, dù trong lúc

    chuyện trò, các anh vẫn thoải mái cậu cậu tôi tôi, ông với mình, toa moa

    nữa. Anh Ngô Đức Mậu tham gia Tân Việt đảng năm 1928, năm tôi ra

    đời. Tháng 4 năm 1931, Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh

    Hóa mở rộng họp, phân công anh làm Bí thư Tỉnh ủy phụ trách chung,

    tôi mới lên ba. Anh Nguyễn Văn Lợi nhiều lần thích thú kể những kỷ

    niệm về việc anh tham dự Lớp huấn luyện do đồng chí Nguyễn Ái Quốc

    trực tiếp giảng dạy bên Quảng Châu, Trung Quốc năm 1925. Năm ấy tôi

    Năm 1931, ông Ngô Đức Mậu, Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, bị Pháp bắt kết án tử hình, sau

    hạ xuống tù chung thân, đày đi Lao Bảo, mang số tù 1705. Năm 1960, kỷ niệm 30 năm

    Ngày thành lập Đảng, ông viết bài thơ Khuyên con, mở đầu bằng mấy câu: "Nhà ta nghèo

    lắm các con ơi/ Chỉ có người và đất nước thôi/ Chữ nghĩa tiền tài tuy ít ỏi/ Nhưng tình

    chung thủy trọn muôn đời ".

    chưa có trong bào thai mẹ, các anh đã đi làm cách mạng. Có lẽ vì vậy

    một phần, anh Nguyễn Văn Lợi thường nói năng bạo miệng:

    - Mình nói thật cho ông biết. Ông nên đi. Tay Tr., tên thật là Ngh.,

    nó người Đức Thọ cùng quê với mình. Mình biết từ thời nó mới bắt đầu

    đi học. Nó hơn ông mấy tuổi, nhưng về trình độ hiểu biết và viết báo,

    làm văn, nhiều mặt nó kém thua ông. Vậy mà ra Trung ương có mấy

    năm, được các cụ kèm cặp cho, nay đã trở thành một tay bình luận vững

    vàng. Ông cứ đi. Đầu lạ sau quen. Theo ý mình, ông nên ra luôn ngoài

    ấy. Ở chi đây, cái Khu bốn sectaire1này... ”.

    29-9-1954 Ngày mai tôi lên đường.

    Lên đường ra miền Bắc mến yêu. Ra Hà Nội, nơi tôi có đọc nhiều, nghe

    nói đến nhiều nhưng chưa từng sống ở đấy bao giờ. Chiều nay, đọc bản

    tin của VNTTX2 về kế hoạch chuyển giao Hà Nội. Từ 6-10, quân Pháp sẽ

    rút khỏi phía tây thủ đô, và đến 10-10 thì hoàn thành rút toàn bộ. Mình

    hy vọng sẽ có vinh dự trong số những người về Hà Nội trước tiên!

    Hôm qua, sắp xếp lại các bài báo viết trong mùa hè năm nay, định

    gom góp thành một tập nhỏ. Tôi đặt đầu đề là Những ngày cuối cùng

    và những ngày đầu tiên. Cuối cùng của chiến tranh và đầu tiên của hòa

    bình. Tôi điểm lại xem mình đã làm được gì trong kháng chiến.

    Ngoài những bài báo quá tản mạn, sau đây là những cái tương đối có

    thể in thành tập, theo thứ tự thời gian:

    - Chị Hường (tức Chiếc khăn tang), tập truyện đầu tay, 1948-1950

    - Đất rừng, tiểu thuyết, 1949

    - Mùa hè thứ ba, ký sự, dịch của K. Simonov, 1950

    - Từ sông Volga đến sông Đông, bút ký, dịch của K. Paustovsky, 1952.

    - Nhân dân phá tan âm mưu địch, phóng sự, 1952

    - Không khai, truyện ngắn, 1952

    __

    1 Hẹp hòi, bè phái.

    2 Việt Nam thông tấn xã, nay là Thông tấn xã Việt Nam.

    - Lúa qua thì con gái, truyện ngắn, 1952

    - Chuyện căm thù và anh dũng, những mẩu chuyện kháng chiến, 1952

    - Vụ án Hưng Yên, phóng sự điều tra, 1953

    - Ánh đèn, truyện ngắn, 1953

    - Giết giặc giữ làng, những mẩu chuyện kháng chiến, 1953

    - Những ngày cuối cùng và những ngày đầu tiên, tập bút ký, 1954.

    Nghèo nàn. Nhất là về mặt giá trị, trừ Đất rừng mà tôi tương đối hài

    lòng được một chút. Đành tin tưởng ở tương lai nhiều hơn. Tôi sẽ cố

    gắng. Việc xuất bản có điều kiện thuận lợi cũng là một động cơ thúc

    đẩy sáng tác.

    Không hiểu sáng mai đã lên đường được chưa.

    Tôi định đi về lối Vinh rồi ra Thanh Hóa, song con đường ấy nước vẫn

    còn sâu. Mong muốn ghé thăm một người bạn ở Nam Đàn trước khi ra

    Bắc vậy là không thực hiện được. Lo cuộc đời với những cái trớ trêu của

    nó chưa biết sẽ dắt dẫn tôi đi về đâu? Nếu chuyến này tôi không ra Bắc,

    không khéo tôi sẽ xây dựng gia đình với một cô nào đó ở trong này. Cô

    Nh. chẳng hạn, mà chị D. giới thiệu với xiết bao nồng nhiệt. Xinh. Trẻ.

    Mới nhìn đã có cảm tình. Nhưng mình đã biết gì nhiều về con người

    ấy đâu. Nay sắp đi xa, làm gì còn có thời gian, nếu mình muốn tìm

    hiểu. Thật tình mình cũng không dám đa mang một cách nhẹ dạ. Lại

    thích thong dong. Một phần tại từng nhìn thấy cái cảnh bạn bè bối rối

    chuyện vợ yếu con đau mà ngán. Tiếc không gặp cô ấy sớm hơn.

    Tôi là một kẻ thường chậm chân đến muộn. Tại tôi quá đắn đo chăng?

    05-10-1954 Thành phố Nam Định. Lần này lại đến Thành Nam,

    không còn những cảm nhận tươi rói như hai lần trước, khi vừa giải

    phóng và ngay sau đình chiến, hôm dự cuộc duyệt binh đầu tiên, bộ đội

    ta xếp hàng đi ách ư chưa đều. Cuộc sống bây giờ đã bình thường hóa

    phần nào. Bộ mặt thành phố dường như có đi vào nền nếp hơn so với

    cái hồ hởi hồi ấy. Những cái sôi nổi bồng bột lúc đầu không còn nữa.

    Người dân vùng mới giải phóng đã tiếp xúc nhiều với người dân các

    vùng tự do cũ ở Khu 4, Khu 3. “Người vùng tề ngụy” và “người kháng

    chiến” đã gần gũi với nhau hơn, không còn quá ngại ngùng như vài ba

    tháng trước.

    Cũng cần phải nói, còn tại cái chủ quan của tôi. Tôi vẫn thích những

    cái gì mới lạ, lộn xộn ban đầu, khi cái mới pha lẫn cái cũ. Có lẽ chẳng

    qua đó cũng chỉ là biểu hiện của một thái độ thiếu dứt khoát trong cuộc

    sống mà thôi.

    09-10-1954 Mấy hôm rồi, trời mưa liên miên. Tôi bị cầm chân tại

    thành phố Nam Định. Bà con khối phố nhiều người ngạc nhiên, năm

    nay sao gió lạnh đầu mùa về sớm vậy. Gió ào ào. Mưa tầm tã. Ngồi bó

    chân trong Hiệu sách Nhân Dân, nơi ăn nhờ ở đậu mấy bữa. Cũng may

    đây là hiệu sách, có nhiều cái đọc cho đỡ buồn. Cửa hàng chỉ có bốn

    năm người, một anh phụ trách “ngoài kia” mới vào và mấy cô gái bán

    hàng tuyển luôn tại chỗ. Thêm một ông khách không mời mà đến cũng

    chẳng sao, bữa cơm giản đơn ngày hai bữa, các cô thay nhau làm, chỉ

    cần thêm cái bát đôi đũa. Đêm thì dọn hết sách trên mặt cái bàn rộng,

    cho khách nằm ngủ nhờ.

    Nằm trên mặt bàn cao lênh khênh dùng bày sách mẫu, chỉ lo ngủ say

    ngã lăn xuống đất. Thành ra chốc chốc trở mình, mỗi lần bừng thức lại

    nghe ào ào tiếng mưa rơi.

    Gần sáng, hết mưa. Bước ra, nhìn lên thấy trời hửng sáng, chỉ còn mây

    mỏng bay nhanh. Chắc chắn hôm nay tạnh rồi. Tôi vội vã lên đường.

    Ra khỏi thành phố một đoạn, hai bên con đường tỉnh nhà cửa thưa

    dần, hiện ra một cánh đồng mênh mông nước bạc. Con đường xe hơi

    nối liền thành phố Nam Định với thị xã Hà Nam trông xa như một

    dải quai nón bồng bềnh giữa quãng đồng sóng nước dạt dào, tấp

    cỏ vào hai bên bờ đường, trong khi con đường đoạn thì nhô cao lên

    năm, bảy mươi phân, đoạn thì nước xấp xõa gần như sắp tràn qua

    mặt. Nhiều chỗ cỏ dại tấp ven mặt con đường tráng nhựa. Chiếc xe

    đạp của tôi chạy bon bon trên rẻo đường vắng, từ Nam Định tới Hà

    Nam, tuyệt nhiên tôi chưa một lần thấy chiếc xe hơi đi cùng chiều

    hay ngược lại.

    Giữa cảnh vắng lặng ấy, chợt gặp một cái cầu xi măng ngắn băng qua

    trên con hói, lúc này hói không còn bờ vì nước đã hòa chung với cả cánh

    đồng. Cái cột xi măng hình như bị gió mùa xô đẩy, hơi nghiêng về một

    phía, trên có tấm biển đề Cầu Yên Đổ. Hai bên cầu tịnh không quán xá,

    tôi vẫn xuống xe đứng ngắm cánh đồng phía bắc, mênh mang hơn và

    chắc sâu hơn đồng phía nam, vì không hề nhìn thấy một ngon cây hay

    bụi cỏ nhô lên khỏi mặt nước đục ngầu. Phải chăng đây là quê hương cụ

    Tam Nguyên Yên Đổ? Thấy ven đường có một nông dân đang lội, chẳng

    hiểu đánh bắt thứ gì chốn nước sâu thế này. “Thưa bác, làng Yên Đổ ở

    về phía nào?”. - “Làng? Chắc ở mãi trong kia - vừa nói bác vừa chỉ tay

    về phía bắc, mờ mờ một dải làng màu xanh liền kề tít tắp suốt bờ đầm -

    Nhưng cơ mà mùa này muốn vào trong làng phải có thuyền, nước ngập

    sâu lắm, chẳng còn đường sá nào lội bộ được nữa đâu”.

    Chắc anh này chưa bao giờ biết cụ Tam Nguyên Yên Đổ là ai!

    Hà Nội. - Mấy hôm nay mọi người chỉ toàn bàn chuyện về Hà Nội.

    Ngày 2-10, một đội hành chính của ta gần ba trăm người đã vào trước

    để chuẩn bị việc tiếp quản thủ đô. Hôm nào tin tức Đài phát thanh

    Tiếng nói Việt Nam cũng có chuyên mục đưa tin và hướng dẫn chuyện

    bàn giao, tiếp quản thành phố Hà Nội. Đoàn đại biểu do đồng chí Trần

    Danh Tuyên làm trưởng đoàn cũng đã vào tới bên trong.

    Hà Nội là gì? Mà bao nhiêu người ao ước? Mà muốn có vinh dự được

    là những người đầu tiên vào thủ đô giải phóng? Cả những người chưa

    từng biết Hà Nội, chưa từng bước chân trên vỉa hè Hà Nội cũng mơ về

    Hà Nội, nói về Hà Nội. Những cán bộ các vùng quê xa xôi, những nhà

    buôn từ Khu 4 đều hướng về Hà Nội. Thậm chí có người không biết cả

    chuyện Hà Nội là nơi Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn Độc lập chiều ngày

    2-9-1945. Nhưng đó là thủ đô của nước ta, thủ đô Hà Nội gắn liền với

    Tổ quốc, với ruộng đồng ở xa cả trăm cả ngàn cây số. Hà Nội là bộ mặt

    của quốc gia. Có thể nào tưởng tượng một nước Việt Nam độc lập, hòa

    bình, các chính khách thế giới tới lui mà không có Hà Thành?

    Hà Nội có thể không đẹp bằng các thành phố khác nhưng nó mang

    bao nhiêu dấu tích của cha ông ta sinh cơ lập nghiệp lâu đời ở hạ lưu

    sông Hồng. Tôi nghĩ đối với những người dân gốc Hà Nội, thủ đô là

    ngày 19-8-1945, ngày 2-9-1945, ngày 19-12-1946, thủ đô của Trung

    đoàn Thủ đô, thủ đô với Những người ở lại1, thủ đô của gia đình cha mẹ

    vợ con những anh bộ đội vẫn ở lại thành trong khi con cái của họ ra đi.

    Nhưng đối với những người ở xa, chưa từng đặt chân tới vùng đất này

    như tôi, Hà Nội vẫn rất thân thương vì Hà Nội là Hồ Chủ tịch, Hà Nội là

    truyền thống đấu tranh, Hà Nội là thành Cổ Loa, là Thăng Long, Đông

    Đô, Hà Thành. Hà Nội thiêng liêng ở chỗ đó.

    10-10-1954 Đêm qua nghỉ lại ở Phố

    Tía trên đường số 1 cách Hà Nội hơn hai

    mươi cây số. Ban ngày đi ngược gió mệt,

    đêm ngủ sớm. Trời trở rét, heo may báo

    hiệu mùa thu chính cống đã về. Giữa đêm

    chợt nghe tiếng hoan hô vang dậy. Tỉnh

    giấc. “Hoan hô các anh bộ đội vào tiếp quản

    thủ đô Hà Nội”. Tiếng hoan hô như sấm

    dậy. Tiếng chân người bước đi rầm rập,

    dồn dập. Không thể nào nằm rán được.

    Tôi chạy ra. Bộ đội vẫn liên tục hành quân

    ngang qua. Đồng bào tập trung ở ngã ba

    phố vẫn tiếp tục hoan hô. Bộ đội vừa chạy

    vừa hoan hô đáp lại. Mấy chị thanh nữ bên

    đường ùa ra gánh giúp các gánh nồi niêu

    cho mấy anh cấp dưỡng, các chị chạy như bay ngoài rìa, song song với

    hàng quân đang di chuyển. Bộ đội vẫn đi, vẫn đi. Đông quá. Tiếng hoan

    hô nối tiếp, không ngớt trong đêm khuya. Trăng lạnh, sương mờ, ánh

    sáng đục. Hôm nay trùng khớp ngày mười ba âm lịch, sắp đến đêm rằm.

    Sáng nay, tôi dậy sớm, ra Văn Điển. Đường quốc lộ 1 từ Thường Tín

    trở đi nhẵn lì, xe đạp đi ngược gió mà vẫn có thể phóng nhanh. Đường

    có cột số, nhờ vậy mình có cảm tưởng như con đường đang đi gần hơn.

    Vừa qua cột này đã nhìn thấy cột khác trước mặt kia. Đi một nhoáng, đã

    qua khỏi mấy cây số. Nhớ những ngày lủi thủi trong rừng sâu Bình Trị

    1 Kịch của Nguyễn Huy Tưởng.

    Phan Quang

    Hà Nội, tháng 10-1954.

    Thiên, tôi đi cặm cụi suốt ngày, từ sáng đến tối mịt tới trạm giao liên,

    anh em bảo từ trạm trước tới trạm này, trên bản đồ cách nhau chừng

    mười lăm ki lô mét!

    Gió heo may lộng, trời hơi lạnh. Tôi bỗng gặp trời thu Hà Nội. Cờ bay.

    Có cảm tưởng như không gian, cảnh vật, con người mọi thứ đều hớn hở

    hơn ngày thường. Rất nhiều ô tô, mô tô, xe đạp. Xe nào cũng cắm cờ đỏ

    sao vàng. Lúc đầu thoạt thấy những chiếc voiture bóng lộn cắm cờ đỏ

    lướt qua, tôi cứ ngỡ là xe của chính quyền Hà Nội. Không. Xe của dân

    đấy. Nào có ai cấm dân cắm cờ đỏ sao vàng lên chiếc xe riêng của mình?

    Tôi bỗng gặp trời thu Hà Nội. Thị trấn Văn Điển. Tấm biển đỏ, chữ

    vàng mới toanh: “Công an ngoại thành”. Đồn công an Văn Điển. Anh

    công an trang phục mới cứng, thấp thoáng bên trong gian nhà. Lá cờ

    đỏ sao vàng trước đồn bay phần phật. Quay về hướng nào cũng nhìn

    thấy cờ và cờ. Chợ tấp nập. Đã bắt đầu thấy màu áo rét. Đây đã là một

    phần của thủ đô Hà Nội. Đồng bào tập trung chờ đón Phái đoàn vào

    tiếp quản thủ đô. Các chị thanh nữ cầm ở tay những mảnh giấy con

    con, nhìn vào để tập bài hát mới. Tranh thủ tập hát những bài ca kháng

    chiến. Ở đây địch cũng mới rút đi từ ngày 6-10 thôi, tức là tự do thật sự

    đến chưa lâu quá ba ngày.

    Anh khách hàng giục bà bán bún riêu: “Bà nhanh nhanh tay lên cho

    tôi ăn, còn đi đón phái đoàn nữa chứ”. Bà mẹ cài chiếc huy hiệu Bác Hồ

    lên ngực chiếc áo mới cho con, sửa cho thật ngay ngắn và dỗ: “Không

    thể nào rơi được đâu, con”. Chú bé sợ rơi mất huy hiệu, bắt mẹ phải cài

    đi cài lại cho thật cẩn thận vào.

    Tiếng còi xe lửa vẳng lại, kéo dài. Tiếng còi hòa bình. Khác những

    chuyến tàu xình xịch, đầu và đuôi đều là những lô cốt bọc sắt và toa chở

    đá nặng như trong chiến tranh. Những chuyến tàu này ghi thành tích

    đình công, đấu tranh với địch (của công nhân ngành hỏa xa Hà Nội) bảo

    vệ các đoàn tàu và đường sắt nguyên vẹn, chờ bộ đội ta vào, mà báo chí

    thường xuyên đưa tin.

    Trước đồn công an có một cây chắn ngang. Một thân tre đực còn tươi,

    một đầu đục và cài cái chốt cũng bằng tre, có thể cất lên hạ xuống nhẹ

    nhàng. Đầu bên kia là hai cọc tre chôn xuống đất, có cái chốt ngang

    cho cây tre gác tạm khi cần kiểm soát. Tôi dừng xe. Anh công an bước

    ra, lễ phép: “Xin anh cho xem giấy”. Tôi trình Giấy công tác, Thẻ nhà

    báo. Anh hỏi, còn có giấy tờ nào nữa không. Tôi hơi chột dạ. Thế này

    vẫn chưa đủ sao? Anh công an lịch sự: “Báo cáo đồng chí, ngày hôm nay

    các cánh quân ta chính thức vào tiếp quản thủ đô. Trừ những người có

    Giấy phép đặc biệt, ngoài ra không ai được phép vào bên trong lúc này.

    Đồng chí thông cảm”.

    À ra thế. Tôi nhìn quanh. Đúng là đồng bào ta tụ tập hai bên đường,

    nhưng chỉ phía bên ngoài cái chắn thôi.

    Mình cố sức bươn ra đây cho kịp, đến nơi lại không được phép vào

    thành.

    Thôi đành rẽ qua trái, theo con đường Văn Điển ghé xem thị xã Hà

    Đông vậy.

    Thăm nơi dệt lụa Làng Vân Hà Đông tại Khu nhà viện trợ Mỹ. Lụa

    Làng Vân nổi tiếng trong cả nước. Vậy mà nơi làm ra lụa Làng Vân là

    một dãy nhà dài, mái lợp tôn, bên ngoài trông bẩn thỉu thế nào ấy.

    Trong khi những tấm lụa Làng Vân nhìn lại đẹp nõn nà. Các chị dệt lụa

    ngồi trước khung cửi phần lớn đứng tuổi nhưng trông dáng cũng kiểu

    cách duyên dáng như sản phẩm các chị làm ra.

    Cảm tưởng về Hà Đông? Tôi không có ấn tượng gì rõ rệt lắm. Phố

    chính Quang Trung trông từa tựa con đường Trần Hưng Đạo chạy qua

    thành phố Nam Định, hôm tôi mới đặt chân vào lần đầu tiên. Ngợp

    trời cờ đỏ sao vàng, nhà nào cũng cắm cờ ở mặt tiền. Đông đúc. Vẫn có

    nhiều người lui tới, kẻ bán người mua. Những tấm biển rao hàng bằng

    tiếng Pháp, các bản Yết thị thì in bằng cả hai thứ chữ, Pháp trên, Việt

    dưới. Đồng bào xúm xít trước các trạm đổi tiền Đông Dương lấy tiền

    Ngân hàng Việt Nam.

    Tòa soạn báo Nhân Dân chưa vào Hà Nội. Tôi lại phải đi ngược lên

    Đập Phùng, qua ngã ba Nhổn theo đường Hà Nội - Sơn Tây. Con đường

    này xe hơi lúc này nhiều quá, cứ dăm ba phút một chuyến chạy qua. Ở

    ngoài kia, mình vẫn thấy cảnh xe Molotova chạy hàng đoàn trông hùng

    dũng lắm nhưng lại không rộn rịp bằng ở đây vì trong này có lắm kiểu ô

    tô khác nhau, trông vui mắt. Nhân dân Hà Đông, Sơn Tây đang nô nức

    đổ vào Hà Nội qua Cửa Ô Cầu Giấy, chờ dịp được gặp và hoan hô bộ đội

    ta. Hôm nay, ai cũng biết qua tin tức, Quân đội nhân dân Việt Nam từ

    năm cửa ô sẽ tiến hành cuộc hành quân lịch sử tiếp quản thủ đô Hà Nội.

    Ngay ở vùng này, quân đội Pháp cũng chỉ vừa mới rút đi khỏi hôm

    6-10, tức cách đây có mấy ngày thôi.

    11-10-1954 Thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, Sơn Tây. Hôm qua

    tôi nghỉ lại ở cơ quan Nhà in báo Nhân dân, bộ phận tạm thời. Anh em

    từ trên kia cũng vừa mới chuyển về đây chưa lâu. Sáng mai sang chỗ tòa

    soạn đóng tạm, trình giấy tờ (…).

    14-10-1954 Cùng anh chị em trong cơ quan tòa soạn và nhà in báo

    Nhân Dân chính thức chuyển vào nội thành Hà Nội. Một ngày thu đẹp.

    Đúng, tôi đã gặp trời thu Hà Nội. Nắng nhẹ. Không khí mát lạnh. Người

    người tươi như hoa. Cảnh vật cũng tươi như hoa. Ngoại thành đây rồi.

    Xe qua Cửa Ô Cầu Giấy, chạy dọc theo đường Nguyễn Thái Học, phố

    Hàng Lọng, ga Hàng Cỏ, đường Gambetta (Trần Hưng Đạo). Đoàn xe

    chúng tôi đi thẳng về khu vực Nhà thương Đồn Thủy, đầu đường Trần

    Hưng Đạo, sát bờ đê sông Hồng.

    Hà Nội tưng bừng làm sao! Nhiều nhất vẫn là cờ. Cổng chào khá đẹp

    tuy vừa mới được dựng lên vội vàng để kịp đón bộ đội. Sinh hoạt thành

    phố vẫn giữ được nếp bình thường. Trên vỉa hè các em học sinh mặc

    đồng phục đi học về vẫn tíu ta tíu tít, có em xách cái cặp to hơn người.

    Chiếc xe đổ rác chậm chạp dừng lại đầu phố. Công nhân Sở Công chánh

    vẫn tiếp tục công việc sửa sang, làm vệ sinh đường phố. Nồi hắc ín vẫn

    đang sôi như mọi bữa, công nhân vẫn múc nước nhựa đổ ra vá đường

    như mọi ngày. Trật tự, an ninh thành phố vẫn được duy trì.

    Cuộc sống ngày thường vẫn diễn ra trong mừng vui giải phóng.

    Tối nay, 14-10-1954, Đoàn văn công trung ương biểu diễn lần đầu tiên

    tại Nhà hát lớn thành phố vừa được làm vệ sinh và sửa sang đôi chút.

    Tin chính thức: Đến ngày 17-10 tới, Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal

    Nehru sẽthăm chính thức thủ đô Hà Nội. Vì vậy mọi người suy đoán Hồ

    Chủ tịch chắc chắn đã vào thủ đô, muộn nhất cũng trướcngày 16-10.

    Hãng AFP hôm qua đưa tin về Chương trình hoạt động của Thủ tướng

    J. Nehru trong thời gian thăm và làm việc Hà Nội, có thông tin: 15 giờ

    30 gặp ngài Desai, đại diện Ấn Độ, Chủ tịch Ủy ban giám sát đình chiến

    tại Việt Nam. Và khẳng định trong chương trình, đến tối có“Diner chez

    le Président Ho Chi Minh”. Dùng bữa tối ở Nhà Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Nhân dân vẫn bàn tán nhiều chuyện về cảnh tượng hùng tráng ngày

    tiếp quản thủ đô hôm trước. Cơ giới, trọng pháo và cao xạ pháo quân ta

    kéo một đoàn dài đến chín mươi chiếc, vv… Nhiều bà cụ già khóc. Bao

    nhiêu người nay còn khản tiếng vì hoan hô...

    Hà Nội đây rồi. Tôi đã vào Hà Nội. Nhanh thế kia ư? Đôi khi tôi cảm

    thấy ngờ ngợ như chưa dám tin hẳn. Tôi đã vào thủ đô Hà Nội. Sáng

    nay tôi lại ngồi làm việc bình thường trong phòng một tòa nhà thuộc

    Khu vực Đồn Thủy, nhưng ngoài đường phố kia chắc đông vui lắm. Con

    đường Sơn Tây - Hà Nội đoàn xe chúng tôi về hôm nọ mà đã đông nghịt

    Đường Cổ Ngư, nay là đường Thanh Niên, ngà y mới giải phóng Hà Nội, mùa thu 1954

    xe đến vậy, xe nhỏ vượt xe to, xe Molotova vượt xe khách, tiếng còi xe

    be be nghe thật vui tai.

    17-10-1954 Cuộc họp đầu tiên của Tòa soạn báo Nhân Dân trong nội

    thành Hà Nội bàn việc xuất bản báo hằng ngày. Phổ biến lề lối làm việc

    mới. Sẽ có một sự đổi mới lớn trong cung cách làm báo ở nước ta từ

    trước tới nay trên cơ sở báo Đảng ta tiếp thu, đúc kết và vận dụng kinh

    nghiệm của hai tờ báo lớn ra hằng ngày, báo Pravda của Liên Xô và

    Nhân dân nhật báo của Trung Quốc.

    Chiều nay anh em chúng tôi được phép tự do đi thăm phố phường Hà

    Nội. Đây là lần đầu tiên đối với cuộc đời tôi, lần đầu được lang thang thơ

    thẩn trên những con đường phố lạ mà quen, quen mà lạ. Lạ vì lần đầu

    được đặt chân tới, cần tìm nơi nào, muốn rõ cái gì đều phải ngơ ngác hỏi

    thăm bà con bên phố. Quen vì tôi đã “nhập tâm” qua sách báo những cái

    tên. Nhà hát lớn thành phố. Bờ Hồ Gươm. Ga Hàng Cỏ. Phố Hàng Ngang,

    Hàng Đào, Chợ Đồng Xuân cái dạ dày của thủ đô - người ta vẫn nói thế,

    chắc là liên tưởng cái chợ cũ nào đó bên Tây dạ dày của Paris (... )

    19-10-1954 Anh Trường Chinh đột ngột bước vào phòng, khi chúng

    tôi đang làm việc. Giản dị và anh cả. Dặn dò anh em viết phải đúng

    chính sách nhưng cũng phải cho tươi. Tôi là lính mới, được anh dừng lại

    làm quen và nói chuyện nhiều hơn các bạn ở chiến khu về.

    Tối, tôi vừa cùng chị Hoàng Lê Vân, tức Hà Hoa, đóa hoa đẹp của

    Hà Thành, hai Hội viên Hội Văn nghệ Việt Nam, được mời đi tham dự

    cuộc gặp mặt đầu tiên giữa các nhà văn “trong” và nhà văn “ngoài”,

    tại một ngôi nhà phố Tôn Đản, tôi không nhớ số. Gần như đủ mặt anh

    tài. Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Huy Tưởng… Đoàn Phú Tứ và Nguyễn

    Uyển Diễm. Bà Vân Đài và bà Ngân Giang…, tôi không kịp ghi tên. Nhà

    văn Đoàn Phú Tứ vừa bước chân vào phòng họp, đã tếu táo: “Những

    người sương gió gặp những người bơ sữa, chẳng anh nào hơn anh nào”.

    22-10-1954 Các đồng chí trong Đoàn cố vấn mời xem bộ phim mới

    của Trung Quốc mới phát hành. Phim tư liệu Nhân dân ca vũ tài tình,

    đẹp thật đấy song tôi vẫn cảm thấy cách múa của bạn mang nhiều tính

    chất xiếc quá. Nói chung là khỏe mạnh, lạc quan nhưng kiểu ấy không

    thể nào phổ cập được.

    Phim Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài. Còn có tên là Điệp Mộng. Màu sắc

    rực rỡ song tôi có cảm giác đôi khi cường điệu quá. Bi thương. Cảm

    động. Có nhiều đoạn, như trong cảnh gặp gỡ, hình như sự bi thương bị

    kéo hơi quá dài. Phải chăng vì mình không hiểu lời nên không thường

    thức được giá trị văn chương chăng?

    426 T ừ n g u ồ n T h ạ c h H ã n . . .

    TẾT HÒA BÌNH ĐẦU TIÊN

    1955

    23-01-1955 Hôm nay, ba mươi tháng chạp âm lịch Giáp Ngọ.

    Nhiều năm qua tôi vẫn có lệ viết nhật ký vào đêm ba mươi Tết. Năm

    nay cố gắng giữ cho được cái thú vui ấy mặc dù mấy tháng vừa rồi bận

    rộn quá, bỏ bẵng một thời gian khá dài không màng đến nhật ký, sổ tay,

    ngoài cuốn sổ ghi công việc hằng ngày.

    Tết năm nay có nhiều ý nghĩa mới. Hòa bình. Thủ đô. Đất nước chia

    cắt. Tâm tình tôi cũng có nhiều đổi thay. Năm ngoái năm kia nhớ buồn

    khắc khoải. Năm nay cái buồn chưa hết nhưng đã bắt đầu thấy cái vui.

    Tôi mong sẽ nuôi dưỡng được niềm vui ấy, nó sẽ làm ấm áp cuộc đời.

    Đó là lời ước mong đầu tiên của tôi năm mới này.

    Tết hòa bình đầu tiên ở thủ đô có nhiều nét đáng ghi. Mọi người

    cùng chờ đợi Giao thừa. Chưa đến nửa đêm, pháo gần xa từ các phố đã

    nổ ran. Tôi giở nhật ký ra định ghi mà không sao viết được. Cảm xúc

    trong tôi cứ nôn nao. Cảnh vật chung quanh lại quá rộn rịp. Cả bọn vừa

    kéo nhau đi xem ciné về. Phim Liên Xô Bước vào đời. Đẹp rộn ràng. Cuộc

    sống ở bên Nga xem chừng cũng tình tứ lắm.

    Tình cờ gặp hai chị em H. và G. từ Liên khu 4 mới ra, cố bươn ra cho

    kịp để được dự Tết hòa bình tại thủ đô Hà Nội. Cùng nhau ôn chuyện

    cũ Đô Lương, Nam Đàn.

    Gần đến Giao thừa, mấy anh em xa nhà chúng tôi cùng đến phòng

    riêng anh Nguyễn Văn Bổng và chị Hồ Vân. Ăn mứt gừng, uống trà tàu.

    Toàn một bọn xa nhà nhưng trong lúc này không đứa nào buồn. Xong,

    mặc áo ấm, kéo nhau ra phố chơi.

    Tôi vừa từ trong sân bước qua khỏi cổng chính của tòa báo, số 72

    Phố Hàng Trống, pháo Giao thừa nổ ran. Xuất hành năm mới đúng lúc

    quá. Âm nhạc do Đài Tiếng nói Việt Nam liên tục truyền đi từ cả tiếng

    đồng hồ, bỗng dưng im bặt. Tiếng cô xướng ngôn viên ngân lên trang

    nghiêm mà dịu dàng: “Bây giờ là đúng Giao thừa”.

    Tiếng chuông đồng hồ Nhà thờ lớn trước mặt tòa soạn báo chúng tôi

    cũng vừa gióng lên đúng lúc, nhưng tiếng chuông đã đã hòa luôn vào

    trong tiếng pháo đón xuân, nở rộ sau tin báo Giao thừa, và càng về sau

    càng rộn rã hơn.

    Trên đường phố đã có rất nhiều người đổ ra trước cả chúng tôi. Đền

    Hàng Trống, cách cổng tòa báo có chục bước chân về phía bên kia, đông

    nghịt người trên gác dưới sàn. Khói hương nghi ngút. Mùi hương trầm

    tỏa thơm xa cả một khúc phố. Ai cũng níu cành hái lộc đầu xuân, lá

    cành lộc gãy rơi đầy hè phố.

    Đài Tiếng nói Việt Nam phát lời Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc mừng năm

    mới. Giọng Cụ Hồ ấm cúng mà cương nghị, tôi đã được nghe Cụ trực tiếp

    nói sáng ngày 1 tháng giêng dương lịch năm 1955, mờ đầu buổi mít tinh

    tại Quảng trường Ba Đình mừng năm mới và mừng thủ đô Hà Nội hoàn

    toàn giải phóng, mà tôi được cử cùng Thép Mới, Diên Hồng làm phóng

    viên tường thuật, hôm nay nghe lại vẫn cảm động bồi hồi.

    Tiếng nói thân yêu nhất tôi được nghe đầu năm âm lịch tại thủ đô Hà

    Nội hòa bình lại vẫn là tiếng của Cụ Hồ.

    Đền Ngọc Sơn chật cứng người, không thể chen chân vào được, dù

    chúng tôi đã qua được cầu Thê Húc. Gặp nhà văn Nguyễn Huy Tưởng

    giữa dòng người. Lại gặp nhà thơ Minh Giang từ Liên khu 4 nay cũng

    mới ra đây, đang chen chân trên cầu Thê Húc, Minh Giang đi tay không,

    thiếu cành lộc xanh như hầu hết mọi người lúc Giao thừa này. Tôi hỏi:

    “Lộc đâu?” Minh Giang chỉ lên chiếc Huân chương Chiến sĩ cài trên

    ngực áo, cười: “Có sẵn lộc đây rồi”. Chắc anh vừa được tặng thưởng

    Huân chương nhân dịp đầu năm.

    Ai cũng bẻ lộc. Ai cũng xin thẻ. Tôi cũng định thử vào xin quẻ thẻ

    xem sao, nhưng chen lẫn mãi, len vào được trong đền rồi, vẫn không

    thể đứng lâu hơn mấy phút vì khói hương đậm đặc, cay mắt quá. Cạnh

    tôi, hai cô phóng viên nước ngoài đang nhờ một ông đồ ta xem thẻ, vừa

    nghe người phiên dịch vừa cười với nhau. Cụ đồ ta hẳn ý tứ, sáng đầu

    năm giải thẻ, thì có ai sẽ không nhận được từ lời giải của cụ ít nhiều cái

    vui trong suốt năm nay.

    Nhiều cảnh thật ngộ. Ông Ấn kiều đầu quấn chiếc khăn to hơn cái rế

    lại đi hái lộc. Nhiều chàng trai mặc comlê chững chạc. Một anh comlê

    sẫm màu, mũ phớt cầm tay, đứng ngay ngắn trước điện thờ, định chắp

    hai tay đưa lên làm lễ vái lúng túng vì cái mũ không biết để đâu, cậu ta

    quên luôn phép lịch sự tối thiểu của phương Tây, chụp lại cái mũ lên

    đầu mình, lại còn nắn lệch đi một tí cho thật đúng người sành điệu mới

    bắt đầu thì thụp khấn vái. Quanh Bờ Hồ nhiều ông chễm chệ trên chiếc

    Vespa mới toanh phóng lượn, ngồi trước là đức ông chồng, sau lưng

    là bà vợ quý tay cầm cành lộc. Một chiếc xe hơi đen nhãn hiệu Ford

    Vedette lướt chậm trên đường, chỗ gần cái bồn phun nước không xa ga

    tàu điện, từ bên trong xe, một cánh tay diện áo lơ muya lộng lẫy thò bó

    hương đang bốc khói ngùn ngụt ra bên ngoài cửa kính...

    Chúng tôi dừng lại hỏi chuyện mấy anh đạp xích lô vẫn lặng lẽ ngồi

    chờ khách ở góc phố Hàng Trống - Bảo Khánh. Năm ngoái, Giao thừa

    cũng có đông người đi lễ, bọn lính Tây đến bắt phải giải tán, đuổi mọi

    người về nhà - anh cho biết. Năm nay anh kiên nhẫn chờ, may ra có

    khách, ít nhiều cũng được, cho là sẽ hên suốt cả năm.

    24-01-55 Sáng mồng một Tết.

    Hôm nay, Nguyên đán năm Ất Mùi. Trời bỗng dưng hửng nắng. Thiếu

    cái rét dịu và mưa lâm thâm quen thuộc của ngày Tết nhưng lại được

    cái ấm nắng hiền hòa đầu Xuân. Quanh Bờ Hồ, cạnh đền Ngọc Sơn,

    bao nhiêu người chụp ảnh giúp nhau. Màu sắc. Nhộn nhịp. Có thể nói

    sáng hôm nay, tất cả những gì đẹp nhất Hà Nội có đều được tuôn ra phô

    ngoài đường phố. Mấy anh em chúng tôi diện bộ quần áo đẹp nhất vào,

    rồi kéo nhau ra phố, hòa vào cuộc sống...

    Sáng mùng một Tết Ất Mùi (24-01-1955) bên bờ Hồ Gươm. Từ trái sang: Nhà thơ Bùi

    Hạnh Cẩn, nhạc sĩ Tạ Phước, Phan Quang, nhạc sĩ Phan Thanh Nam. Hai em bé hàng trước

    nay là Giáo sư, Nghệ sĩ nhân dân Tạ Bôn và nhạc sĩ Tạ Tuấn, đều là con trai cố nhạc sĩ Tạ

    Phước, Giáo sư Hiệu trưởng đầu tiên của Nhạc viện Hà Nội.

    Hết.

    Nguồn: Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ hồ Gươm. Tập ký của Phan Quang. NXB Trẻ, 2016.

    Tác giả gửi www.trieuxuan.info

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,818,011

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/