Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,815,206

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ hồ Gươm (9)

Phan Quang

  • Thứ tư, 09:21 Ngày 30/09/2020
  • Lần này tôi nhìn các em, nhìn vùng quê Thanh Hóa khác hẳn ngày

    trước, với những cảm nghĩ mà tôi không ngờ. Thật ra chỉ tại cái chủ

    quan của mình. Năm 1948, tôi sống trên đất Thanh mà thật chẳng

    biết gì về người nông dân xứ Thanh. Tôi chê họ người không đẹp

    dáng, ở bẩn, con gái chưa nứt mắt đã lấy chồng; tiếng nói của họ

    khó nghe, không hơn gì tiếng người thiểu số. Hồi ấy tôi thường nói

    ở Thanh Hóa không có thanh nữ, chỉ có bà già và trẻ em. Bởi con gái

    vừa mới lớn lên đã lấy chồng, và lấy chồng một hai năm có đứa con,

    là y như trở thành bà già. Tôi nhại tiếng nói của người nông dân, coi

    như điển hình của sự ngớ ngẩn.

    Bây giờ thật khác. Cái khác ấy không phải tôi cố tình tạo ra dựa trên

    lý trí mà tôi thành thực cảm thấy như vậy, cảm thấy một cách thấm

    thía, chân thành. Người xứ Thanh có những nét đẹp hiền, một cái gì

    gần như cổ kính mà rất Việt Nam - khó diễn tả lắm. Tiếng nói của họ

    có thể có nhiều tiếng thoạt đầu khó nghe nhưng nói chung thanh điệu

    nhè nhẹ, thanh thanh, hình như thuộc một âm giai cao hơn giọng các

    vùng khác, như tiếng Quảng Trị nhà tôi hay tiếng Nghệ An chẳng hạn.

    Và lời nói thì bóng bẩy. Bà mẹ nông dân chuyện trò: “Tính tôi hay tủi.

    Ai nói nặng lời là y như tôi nước mắt dài hơn người”. Lần đầu trong đời

    tôi nghe câu nói giàu hình tượng đến thế. Vội rút sổ tay ra ghi luôn câu

    nói của mẹ.

    Tôi cùng Văn Bình tất tưởi ra Thanh chuyến này là để dự phiên tòa

    xử một vụ án có dính dáng đến những người đội lốt tôn giáo làm tay sai

    cho địch. Đại khái như vụ phản loạn Hưng Yên trong Nghệ năm ngoái,

    năm kia. Đến phút cuối cùng, Tòa hoãn. Hình như hoãn theo chỉ thị của

    Trung ương. Ngày mai hay ngày kia chúng tôi lại tất tưởi trở vào Nghệ

    An. Phiên tòa định khai mạc tối nay, nhưng nghe nói gặp phải Tuần lễ

    thương khó đến mùa Phục sinh cho nên hoãn lại vì sợ dân hiểu lầm và

    địch xuyên tạc1.

    10-4-1954 Đọc một bài của Pavlenko viết về Maxim Gorky. Gorky

    rất thích những nhà văn đi nhiều, ông ca ngợi Gogol đã từng qua

    khắp nước Nga. Làm cho mình phấn khởi một chút là được đi nhiều.

    Chiều nay nghe Bùi Hiển nói về dự định sáng tác của Hiển. Anh xin

    tôi cho anh “mượn” một câu tôi đã dùng trong một mẩu chuyện,

    1 Về sau mới biết, Trung ương yêu cầu hoãn phiên tòa để tập trung toàn lực

    phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ.

    để đưa vào truyện của anh viết. Tôi băn khoăn, bảo Văn Bình: “Thế

    là mình mất đứt cả tháng tư cho cái phiên tòa ác hại này rồi”. Đọc

    Pavlenko, thấy yên tâm hơn. Dù sao làm việc làm cũng có lợi cho

    sáng tác sau này.

    21-4-1954 Mấy hôm nay tôi suy nghĩ nhiều hơn viết. Nghĩ và đọc.

    Mấy đề tài trăn trở trong đầu. Cốt vở kịch ngắn Báo mắc lừa bây giờ

    dần dần rõ nét, rõ tình tiết hơn, và tôi nghĩ nếu có thời giờ, hẳn cũng

    bắt đầu hạ bút được. Đồng thời một đề tài truyện ngắn lại thành hình.

    Tôi lấy mẫu ở những người quanh tôi, những cô gái nông dân mới lớn

    lên, hồn nhiên, yêu đời, yêu lao động, những tâm hồn rất đẹp biểu

    hiện tâm hồn của cả một thế hệ trẻ, thế hệ thanh niên Hồ Chí Minh.

    Tôi đặt tên là Xuất Đoàn, một từ thường dùng trong sinh hoạt Đoàn

    thanh niên Cứu Quốc. Đến một tuổi nào đó, đoàn viên thanh niên ra

    khỏi đoàn. Cái ý tưởng chính của câu chuyện là thể hiện những con

    người mới lớn trong bối cảnh tâm hồn tiểu tư sản phiền toái, đang số

    sức vươn lên. Cốt chuyện khá rõ rồi, chỉ có bố cục là còn lộn xộn. Tôi

    muốn viết thật ngắn, thật gọn để có thể đăng một kỳ báo, ở tờ Tiền

    Phong chẳng hạn.

    Bài tiểu luận bàn của nhà văn Nga Antonov về kinh nghiệm viết

    truyện ngắn, đầu đề Le conte1 đăng trong La littérature soviétique số

    vừa ra, Bùi Hiển đọc xong cho mượn, đã giúp cho tôi rất nhiều. Lắm

    vấn đề sáng hẳn ra, những vấn đề trước kia mình mò mẫm hoặc làm

    theo bản năng. Chữ idée tôi dùng ở trên chính là chữ lấy trong bài

    của Antonov. Ông nói: Viết truyện ngắn cốt để diễn tả một idée gì, và

    dùng điển hình - nhân vật điển hình - chính là để làm bật rõ ý tưởng

    đó. Hoặc các vấn đề về chân dung, tính cách, quan điểm về cách viết

    truyện ngắn, Antonov đều trình bày thật mạch lạc, đặc sắc.

    Antonov là một nhà văn mới bắt đầu viết văn có năm năm nay thôi.

    Mới có năm năm, nhưng có tài thì đàn anh vẫn là đàn anh.

    1 Truyện ngắn.

    Ý tưởng có rồi nhưng bao giờ mới viết ra được? Người tôi bị nổi cái

    nhọt, hơi hâm hấp sốt. Hơn nữa lại phải chuẩn bị đi hướng dẫn Phái

    đoàn nhân dân Lào sang thăm Việt Nam, có lẽ mất nửa tháng. Việc này

    trên giao, không dính dáng gì đến tòa soạn. Công việc dồn dập vậy,

    không biết rồi giải quyết cách sao cho ổn đây?

    11-5-1954 (Nghệ An). Đêm nay tôi ngồi một mình ở nhà đọc cuốn

    Thượng Cam Lĩnh. Cuốn truyện Trung Quốc nổi danh, nghe tiếng đã

    lâu bây giờ mới được đọc: hồi chiều anh Đàm Hướng Dũng đến chơi,

    mang cho mượn. Đêm thanh vắng, lòng tôi nhẹ nhàng: tại câu chuyện

    anh hùng hay tại tác động của thời cuộc? Quân đội ta vừa đại thắng to

    ở mặt trận Điện Biên Phủ, tiêu diệt 16 ngàn tên địch, một chiến thắng

    mà nhiều người cho còn lớn hơn trận Thượng Cam Lĩnh của Trung Hoa

    nhiều nhiều lần.

    Hôm qua, tại buổi sinh hoạt (định kỳ) nghe anh Lê Nam Thắng, Tư

    lệnh Quân khu 4 nói chuyện, tình cờ tôi gặp chị Xin, con ông Cửu Huế,

    người làng Long Hưng quê ngoại tôi. Chị cho biết, sau trận ta phục

    kích diệt hơn 60 tên địch ở quãng đường số 1 ngay trước nhà tôi, địch

    khủng bố đốt hơn sáu mươi nóc nhà. “Nhà anh chắc cũng bị đốt rồi”,

    chị Xin nói. Chắc chắn như vậy. Nhưng nhà tôi ư? Tôi đâu có thể hình

    dung nay nó ra thế nào. Và bị địch đốt lần này là lần thứ mấy? Tôi hỏi:

    “Người có bị nó giết nhiều không?”Cái đó mới là điều quan trọng. Còn

    cái nhà ư? Tôi đang phấn khởi về tin chiến thắng Điện Biên Phủ. Cần

    gì cái nhà. Cho chúng mày tha hồ lồng lộn. Đây rốt cuộc là một sự phối

    hợp tài tình giữa Bình Trị Thiên quê hương tôi với chiến trường Điện

    Biên Phủ đó thôi.

    Đêm trăng mờ. Thanh vắng. Chó sủa ở xa. Tôi đọc sách và ghi chép

    một mình. Trong Thượng Cam Lĩnh có thuật chuyện anh chính trị viên

    tiểu đoàn viết nhật ký ngay trong chiến hào. Tôi không dám sánh mình

    với đồng chí đó, đây chỉ là một sự liên tưởng tình cờ. Lòng tôi hơi buồn

    một tí và nghĩ rằng rồi đây tôi sẽ nhớ lâu cái đêm thanh vắng này mà

    thực ra không có gì đặc biệt hơn các đêm khác cả.

    18-5-1954 Tiễn đưa Phái đoàn Đại biểu nhân dân Trung Lào (sang

    thăm nước ta) về nước. Nhiều tình cảm. Anh em vẫn khen tôi là người

    thu được nhiều cảm tình khi giao lưu với bạn hữu. Nhưng tôi lại ít có

    dịp gần phái đoàn, chỉ những dịp đón tiếp chính thức, cần giới thiệu

    cái này cái nọ về Việt Nam, tôi mới đến gặp mà thôi. Hôm chia tay, Mẹ

    Đưng nói: “Nhớ con nhiều nhưng mẹ không khóc, bởi tục bên xứ mẹ

    kiêng khóc lúc chia tay nhau”. Cô Nin Tha nắm tay tôi nói một thôi

    tiếng Lào, tôi cứ ngẩn ra mà nhìn, cố gắng hiểu tình cảm bạn qua giọng

    nói. Anh Liễu phiên dịch cho nghe đại ý nội dung, tôi cảm động tới mức

    muốn ôm hôn cô em gái nông dân hiền lành, chất phác.

    03-6-1954 Cơ quan Tòa soạn báo Cứu Quốc chuyển ra Thanh Hóa, để

    gần mặt trận chính Điện Biên Phủ hơn.

    Tôi lại trở về Thanh Hóa, trở về nơi đầu tiên tôi xúc tiếp với cuộc đời

    báo chí, văn học. Quán Giắt, Sim, Lai Triều, Sơn Trung... một căn cứ

    của các cơ quan Liên khu 4 những năm đầu kháng chiến. Con đường

    tôi ra Thanh lần này lại chính là con đường lần đầu tiên tôi từ Bình

    Trị Thiên ra Liên Khu bộ, cách đây sáu năm. Những nẻo đường, những

    quán nghỉ, những khúc sông, những nếp nhà mà ở xa mường tượng thì

    không thể nào hình dung được nhưng đặt chân đến nơi thì nhớ lại rạch

    ròi, nhớ đến từng chi tiết y như ta lần giở lại từng trang một cuốn sách

    học thời thơ ấu.

    Mỗi lần ra tỉnh Thanh tôi có những cảm xúc thật khác nhau, nó đánh

    dấu chuyển biến trong người tôi. Lần đầu tiên, bỡ ngỡ, lạ lẫm cùng một

    khối ảo vọng lớn lao. Do sớm tiếp xúc với một số văn nghệ sĩ giàu tính

    chất lang thang, lúc đầu tôi sống xa rời quần chúng, coi thường người

    nông dân Thanh mà tôi cho là kè nhè, rượu thịt. Còn đàn bà thì như tôi

    vẫn nói: “Tỉnh Thanh không có con gái, chỉ có trẻ con với bà già”. Bởi vì

    con gái mới lên bảy, tám tuổi đã có người đi hỏi, lên mười ba, mười bốn

    về nhà chồng, và về nhà chồng hai, ba năm sinh một đứa con là thành

    bà già. Phụ nữ Thanh Hóa hình như không có tuổi thanh xuân.

    Lần thứ hai trở lại Thanh tôi vẫn chưa có gì khác.

    Lần thứ ba - mới hai tháng trước đây thôi - sau một đợt chỉnh huấn

    và tham gia phát động quần chúng giảm tô, cái nhìn của tôi mới thật sự

    đổi thay. Hay là nói bắt đầu thay đổi cho sát đúng hơn.

    Và lần này là một sự di chuyển lớn, và cơ quan có thể đóng lại lâu

    ngày những nơi từng ở trước. Tôi không tìm hiểu tư tưởng mình, tôi

    tìm những cảm giác, kỷ niệm, những tình cảm thuần túy cá nhân nhiều

    hơn. Tôi muốn biết cái gì đã xảy đến trong lòng tôi. Có lẽ hồi tưởng - và

    bao giờ cũng với một chút bâng khuâng thường thấy những khi nhìn

    về quá khứ - hình dung lại những phút với tất cả cái tươi trẻ, ngây

    thơ trong trắng của tâm hồn. Novice, có lẽ từ đó đúng hơn cả. Thật là

    novice1. Nhớ lại những giao thiệp của tôi với các cán bộ văn nghệ cũ,

    với các nhân vật như H. Tr., Th., Hg., tôi không tìm được một từ Việt

    nào gọn ghẽ mà diễn tả đầy đủ hơn. Hồi đó tôi vẫn hay buồn. Buồn là

    tâm trạng cố hữu của tôi, lại cộng thêm hoàn cảnh. Tôi nghĩ giá hồi đó

    tôi được sống bên cạnh một số người thật sự vui tươi, có tình cảm và lối

    sống thực sự lành mạnh, có lẽ con người tôi bây giờ đã khác. Được sống

    cạnh anh Nguyễn Chí Thanh như cậu Đoàn Chương2 chẳng hạn. Như

    vậy con đường tôi đi lại có thể là con đường khác.

    Tôi nghĩ miên man mà không hiểu rõ cảm xúc thực sự của mình lúc

    này là gì. Vui vì đổi mới? Buồn vì trở về chốn cũ, vì phải xa Nghệ An?

    Băn khoăn về thời cuộc, về sáng tác? Một thứ cảm tưởng hỗn hợp, lộn

    xộn, “chả ra mần răng cả”.

    Đọc thư Chế Lan Viên từ Bệnh viện bên Tàu gửi về cho vợ, chen vào

    những chuyện gia đình là những vần thơ gợi cảm. Hoan viết cho vợ bao

    giờ cũng thắm thiết, tôi đã đọc nhiều thư chị Giáo nhận thư, đọc xong

    là đưa tôi xem. Giữa những dòng cảm xúc thật sự văn nghệ - như hai thi

    sĩ viết thư cho nhau, hoặc hơn nữa như người viết tùy bút - chen vào

    những câu về sinh hoạt, gạo đắt, lo ở nhà thiếu tiền, lo cho con... Càng

    1 Non nớt, tập tễnh vào nghề.

    2 Trung tướng Đoàn Chương, người huyện Triệu Phong, Quảng Trị, cùng lứa

    tuổi với tôi, hồi kháng chiến chống Pháp là thư ký riêng của Bí thư Phân khu

    ủy Nguyễn Chí Thanh. Ông là em ruột Đại tướng Đoàn Khuê, cố Bộ trưởng

    Quốc phòng nước ta.

    hiểu thấm thía tình vợ chồng họ đối với nhau. Chị Giáo, một người đàn

    bà có thể hơi vụng về nhưng thẳng thắn, một người mẹ không giỏi nuôi

    con lắm nhưng là một người vợ tuyệt đối tin và yêu chồng, tin ở tình

    yêu, tin ở sự nghiệp của chồng.

    Mối tình Hoan-Giáo mà một mối tình đẹp dù nhiều trắc trở, khổ

    đau. Vì trắc trở nhiều càng đẹp hơn lên. Hoan ít nói về mình, nhưng chị

    Giáo kể cho tôi nghe khá nhiều chuyện. Gia đình chị khá giả, cha mẹ

    chị không muốn cho con gái gắn bó cả cuộc đời với anh thi sĩ nghèo.

    Ít lâu sau ngày kết hôn, chị bị đau mắt nặng. Mình anh vừa đi dạy học

    kiếm tiền, vừa lo cơm nước, thuốc men cho chị. Rỗi rãi Hoan lại ngâm

    thơ Đường, đọc từ Tống, dịch nghĩa từng câu, cả bài,rồi bình thơ bình từ

    cho chị nghe. “Ngày nào tôi cũng nghe thơ Đường thơ Tống, đêm ngủ

    mơ thấy toàn chim, suối và hoa”. Chị lấy từ đáy cái hòm gỗ đựng mọi

    thứ của gia đình, lấy ra cuốn sổ tay nhỏ, bìa cạc tông đẹp, trong đó chị

    nắn nót chép nhiều bài thơ chưa đăng báo, in sách của Chế Lan Viên.

    “Mình anh Diêu đọc thôi nghe, đừng có đưa ai xem, những bài này đều

    chưa in. Anh Hoan dặn, thơ chưa in không cho ai đọc, trừ bạn tâm giao”.

    Trong cuốn sổ này có bài Chiều chiều Hoan làm năm 1938, khi anh mới

    18 tuổi, mà Nguyễn Văn Thương đã phổ nhạc.

    Tôi vẫn nghĩ, và đã nói với Hoan, rằng Hoan không nên viết tiểu

    thuyết. Hoan đã, còn và sẽ là thi sĩ, và Hoan thành công lớn nhất là ở

    thơ. Thơ và tùy bút. Văn xuôi Chế Lan Viên sâu, đọng, đặc sắc. Mặc dù

    Hoan có nhiều khiếu phân tích nhưng tôi vẫn thấy rằng năng khiếu ấy

    có một cái gì như chưa đặt đúng chỗ, nó không phải là sở trường của

    một tiểu thuyết gia. Về tùy bút, tiểu luận, một khi đã được “chính thống

    hóa” về nội dung tư tưởng, và giản dị, “quần chúng hóa” về hình thức

    thể hiện, chắc chắn Hoan sẽ có thể thành công như một I. Ehrenbourg

    ở Việt Nam.

    05-6-1954 Vào thăm cơ sở của nhà in Tiến Bộ 6, chuẩn bị nhờ các

    anh việc in báo Cứu Quốc liên khu 4 tại cơ sở in này. Vẫn địa điểm ấy,

    dưới chân Núi Nưa, thuộc cái thôn Sơn Trung nơi tôi từng sống sáu

    năm về trước. Đi trên những nẻo đường quen thuộc, xúc động ghê, xúc

    Thư nhà thơ Chế Lan Viên gửi từ Bệnh viện Nam Ninh, Trung Quốc ngày 01/5/1957, tâm

    sự với Phan Quang.1

    1 “...Anh sợ đêm khuya lòng ở một mình

    Bạn bè đã rời xa thì giặc đến

    Lòng yên tĩnh bỗng xé thành trận tuyến

    Giặc là ai? Là lại chính lòng anh.

    Hễ sáng ra thì ra khỏi Loa thành

    Nơi tâm sự vây người trong ốc kín

    Trước cửa lòng ta mặt trời lại đến

    Nâng đầu ta nhìn lại những vòm xanh...

    Trong hoàn cảnh ấy, Hoan nghỉ viết thơ, sợ những cái buồn...” (BTV)

    . . . đ ế n b ờ H ồ G ư ơ m 383

    động như lâu ngày gặp lại một người bạn thiết, một người yêu. Mà đây

    cũng đúng là một cuộc gặp lại, gặp cái tôi của tôi sáu năm trước. Sự xúc

    động đó là cảm xúc của người gặp lại chính mình.

    Cảnh vật nói chung không thay đổi mấy. Nhà cửa có khác, nhưng

    đường đi vẫn ngập cỏ, một vài cây kè vẫn bên cạnh cái ao; lâu nay

    hầu như tôi quên bẵng nó giờ gặp lại nhớ cả một buổi chiều vẩn vơ

    ở đó, nhớ lại cả những ý nghĩ xôn xao đã qua. Con người thì thay đổi

    nhiều. Phụ nữ số đông đã mặc quần thay chiếc váy. Tôi nhìn chị Sửu,

    một người từng quen biết trước, lần đầu tiên thấy người phụ nữ này

    không hề xấu, chị có nhiều nét đẹp nữa là khác. Các cậu con trai mới

    lớn chuyện trò với nhau, nhận định vững vàng - những người này tôi

    không thể nhớ tên.

    Rõ thật là hồi đó tôi đã sống xa nhân dân. Bà mẹ chủ nhà tôi ở, anh

    con trai, và nói chung cả xóm tôi không nhớ tên ai trừ một mình anh

    Sửu là người từng đi theo cơ quan, giúp xí nghiệp in báo di chuyển vào

    Nghệ An. Cái tên xã này là gì, tôi cũng không nhớ nốt. Có lẽ cái tên thôn

    còn lưu lại trong trí tôi là bởi nó dính liền với tên Bà Triệu, Triệu Ẩu sơn

    trung nhân, qua câu chuyện về Việt sử mà ông Đào Duy Anh có dịp giải

    thích cho chúng tôi nghe tại một bữa cơm trọng thị tòa báo mời sau

    chuyến ông đi viếng đền Bà Triệu về, ghé thăm anh em.

    07-6-1954 Tôi đọc lại tập bài cũ của tòa soạn để loại bỏ bớt những

    bài không đăng báo được cho nhẹ, chợt gặp bản thảo hai bài của anh

    Hoàng Huế (một phóng viên mới tuyển của báo Cứu Quốc Liên khu 4)

    viết về những cảnh dã man trong trại giam của Pháp tại Quảng Trị.

    Chú ý một câu: “Chị Phan Thị Vui ở Thượng Xá bị địch tra điện cháy

    vú, phỏng (bỏng) bụng... ” Và còn có anh Phan Bột nào đó nữa, cũng

    người Thượng Xá, chúng nghi là cán bộ bí mật, bị chúng đánh chết đi

    sống lại mấy lần...

    Thượng Xá, làng quê tôi đó. Và ở làng tôi chỉ có một họ Phan là họ

    của tôi. Chị Phan Thị Vui, anh Phan Bột kia, những tên quen, những

    người chưa gặp, chắc chắn đều là bà con họ hàng của tôi. Lòng rộn lên.

    Xót xa vì làng mạc. Hôm trước nghe tin địch khủng bố làng tôi cùng

    một lúc với việc được tin chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi đã có ý định

    làm bài thơ. Tứ thơ còn nằm trong đầu, hôm nay chợt thêm một ý nữa

    về quê hương làng xóm, những người họ hàng thân thuộc. Nhưng cái

    ý ấy chưa ổn định, tôi chưa nhận dạng và phân tích nó ra đây, nó còn

    là một thứ xót xa trừu tượng. Nghĩ cho cùng, sức mình chỉ có thể viết

    thành bài báo. Ít ra cũng sát với thời cuộc hơn là làm thơ1.

    BA XÃ HUYỆN NGA SƠN GIẢI PHÓNG

    29-6-1954 Tòa soạn báo Cứu Quốc chuyển ra tỉnh Thanh thật đúng

    lúc. Rõ ràng cấp trên đã nhìn thấy trước, đã dự kiến đúng diễn biến

    tình hình.

    Vừa nhận được tin địch rút Phát Diệm, Ninh Bình, Nam Định. Chúng

    nó sợ ta thừa thắng trận thắng lớn ở Điện Biên Phủ mà hành quân về

    giải phóng luôn đồng bằng Bắc bộ cho nên lo dồn quân về giữ cho bằng

    được Hà Nội. Cái đích cuối cùng của cả hai phía vẫn là đây, Thăng Long,

    Hà Nội, Hà Thành...

    Tôi mừng rơn khi có ý kiến Liên khu ủy cho phép phóng viên báo Cứu

    Quốc được ra Liên Khu 3 đưa tin, làm phóng sự, trước hết là về mấy xã

    thuộc huyện Nga Sơn vừa giải phóng, rồi sau đó tùy tình hình, có thể

    ra ngoài Khu 3 viết bài, đưa tin phản ánh tình hình Phát Diệm, Ninh

    Bình sau bao nhiêu năm bị địch tạm chiếm. Tôi nghĩ thầm: “Các ông

    chưa nói ra, chứ nếu Hà Nội được giải phóng luôn chuyến này, việc gì ta

    không bươn ra luôn đến cái Hà thành ấy? Chưa được phép ở nhà, ta vẫn

    cứ đi, vẫn cứ vô Hà Nội giải phóng, lần này có chịu kỷ luật cũng đành”.

    Biết vậy, mình với mình. Còn thì… đến đâu hay đó, tùy cơ ứng biến,

    chẳng hé răng tâm tình với ai.

    Liên hệ với Tỉnh ủy Thanh Hóa, lại được cái may. Ngoài đời tôi ít

    gặp may, mà sao trong nghề nhiều lần vui thế, không chờ lại gặp. Một

    anh Thường vụ Tỉnh ủy, người quê Nga Sơn. Làng anh không bị chiếm

    1 Bài “Cuộc đấu tranh dũng cảm của nhân dân thôn Thượng Xá”, đăng báo Cứu

    Quốc, ngày 14-6-1954.

    nhưng cận kề vùng địch, và đã lâu anh không có dịp về thăm gia đình.

    Lần này được Thường vụ phân công chỉ đạo huyện Nga Sơn, đặc biệt

    trong việc giúp địa phương ổn định cuộc sống đồng bào, khôi phục

    sản xuất mấy xã bị chúng kìm kẹp. Anh cũng vui ra mặt. “Ta đi luôn

    đêm nay đi. Nhà báo có quen đạp đêm không?” - anh hào hứng.

    Hai anh em hai chiếc xe đạp lên đường “đạp đêm” ngay trong đêm

    ấy, sau bữa cơm chiều. Tôi nói thật lòng: “Được đi cùng với anh, tôi vô

    cùng yên chí, bởi chưa tôi từng đặt chân tới huyện anh. Đây là lần đầu”.

    Con đường liên xã về vùng biển Nga Sơn khá bằng phẳng, dễ đi.

    Đồng bằng ven biển mà. Đất cát bồi, chẳng phải lên đồi xuống dốc

    nhiều. Hai chiếc xe chúng tôi bon bon trong đêm tấp nập cán bộ,

    dân công. Hầu hết đều theo hướng bắc mà ra. Gặp một con sông nhỏ,

    không rõ tên gì, sông đào hay sông tự nhiên, lòng sông hẹp thôi, mà

    hai bên bờ sao lắm người chờ đợi thế: đi bộ có, xe đạp có, xe thồ, ba

    gác cũng nhiều. Ấy là bởi chỉ có mỗi một cách sang ngang trên chiếc

    phà đóng bằng gỗ chỉ rộng hơn chiếc ghe đi biển đường dài một ít, lại

    di chuyển bằng sức người kéo tay, bíu vào sợi dây thép căng ngang

    sông bằng hai cái ròng ròng rọc, cứ thế mà kéo sang bờ kia rồi lại cứ

    thế đu về bờ nay. Thành ra hai bờ cong sông hẹp, cách nhau đúng mấy

    chục... “mái chèo” mà hành khách phải chờ cả tiếng đồng hồ mới được

    lại, qua một chuyến.

    Hai anh em xuống xe, dắt chen qua đám đông, tới bên đúng vào lúc

    chuyến phà đã kéo tấm ván cầu, bắt đầu rời khỏi bến. Bác Thường vụ

    Tỉnh ủy với ông nhà báo Liên khu cùng đi với nhau giữa đêm khuya

    khoắt thế này, chắc có việc khẩn cấp lắm - anh công nhân phụ trách

    phà liền ra lệnh cho quân đặt trở lại tấm ván bắc cầu, mời hai anh cán

    bộ cấp trên dắt xe xuống, rồi đứng cheo leo ngay đầu phà, bởi khách

    qua sông đã nhét chặtcứng lòng phá rồi, không thể nhích vào thêm

    ít nữa.

    Qua sông, thở phào. Bắt tay nhau, anh và tôi mỗi người một ngả.

    Anh rẽ về làng quê, tôi tiếp tục ra hướng bắc. Nghĩ trong đầu thì văn

    chương thế, nhưng thực tế cái lo lúc ấy trước hết là tìm chỗ nào đây

    xin nghỉ lại đêm nay.

    29-6-1954 Đến xã Nhan Sơn địch vừa rút khỏi, tôi đi luôn vào nơi gọi

    là Xóm Trong, thăm hỏi đồng bào. Xóm trưởng Xóm Trong tên là anh

    Thuật. Xóm vừa được tăng cường thêm một cán bộ nữa, tên là Bách thư

    ký Ủy ban xã.

    “Chính phủ không về, đến cục đất cũng chịu cực. Cái thằng Dương

    mật vụ ấy còn ở đây ngày nào, chúng em còn khổ ngày ấy. Không biết

    bộ đội ta đã bắt được hắn hay chưa”.

    Một chị: “Không hiểu làm sao mà nhà em còn lại ba cây cau!”.

    Bà cụ già: “Nó cướp của dân từ cái con cúi, chạc thừng (con cúi tết

    bằng rơm). Cái bể cạn nhà xây chứa nước mưa, nó cũng cho lính đập đi,

    lấy gạch mang lên xây đồn. Tôi vái lạy thằng Tây, xin chớ đập, nó bảo

    mo phú1”.

    Anh lính ngụy vừa trở về: “Con trốn mãi, vẫn bị chúng nó bắt đưa vô

    lính: “Mi còn trốn nữa hay thôi!” Nó rút, con chạy về làng ngay, lần này

    chỉ lo bị bộ đội ta bắt”.

    Tranh nhau kể tội ác giặc: “Thằng Q. còn trẻ thế mà nó ác lắm, anh

    ạ. Dẫn Tây về. Con me (con bê) nhà tôi đang tuổi lớn, đẹp mơn mởn thế,

    nó nỡ giết mang về chia nhau ăn”. Bà cụ: “Tôi chạy trốn ra đồng, chiều

    về thấy cái chuồng lợn máu me lênh láng. Chẳng nhìn thấy con lợn của

    mình đâu. Chúng nó đã xẻ ra làm bốn khúc chia nhau mang đi rồi... ”.

    Tôi hướng câu chuyện sang việc khác, bởi trọng tâm lúc này là làm

    sao mau chóng xây dựng lại làng quê, khôi phục sản xuất, chứ không kể

    khổ? Vẫn bà cụ ấy nói tiếp:

    “(Chuyện ấy) cán bộ nói đi nói lại nhiều rồi. Không còn có cách chi là

    mỗi nhà phải tự lo cái ở, tạm bợ cũng được, để còn có thời gian đi phá

    cỏ hoang làm ruộng cho kịp mùa vụ. Có làm mới có ăn. Tôi già nua, nhà

    lại neo đơn, đã được anh em ủng hộ cho 32 công (giúp phá cỏ) rồi, mà

    vẫn chưa đâu vào đâu... ”

    Đang trò chuyện bỗng nghe tiếng nổ Uỳnh! Nhiều người ngơ ngác.

    Mìn nó cài lại sao? - “Cháu chạy ra coi có ai việc gì không”, một bác già

    1 Tiếng Tây bồi của lính lê dương: Kệ mẹ mày!

    bảo chú thanh niên. Lát sau, một anh dân quân xộc vào, mồ hôi ướt

    đẫm mặt, áo quần đầy bụi bẩn. Hớn hở: “Cái đồn nó xây xi măng loại

    chi mà chắc thế, chúng tôi vác búa đập cả buổi một góc tường không

    xong. Anh em bộ đội viện trợ cho trái mìn. Bắt tất cả mọi người ra xa, ra

    thật xa. Cho trái mìn nổ. Cái đồn đổ sụp, bụi đất mù trời. Chừ chỉ còn có

    việc xúc vôi cát đỏ đi, tìm lượm các hòn gạch còn nguyên hay chỉ sứt mẻ

    một chút nữa thôi, mang về xây nhà. Tiếc là trái mìn của ta làm gạch

    vỡ vụn mất nhiều lắm... ”

    30-6-1954 (Sổ tay. Ghi vội trên đường).

    Vùng địch mới rút.

    Qua Kiên Giáp thỉnh thoảng còn thấy cảnh trâu bò ăn cỏ. Đến Nhân

    Sơn, trước mặt là cánh đồng hoang mênh mông đầy cỏ lác xanh non mà

    lại cao, dễ hơn cao trên thắt lưng người. Địch đóng ba đồn trên ngọn

    hoặc ven lèn đá: Mai An Tiêm, Chính Đại, Sơn Tiền. Đặt ca nông ở đấy,

    kiểm soát được cả vùng ven biển.

    An Tiêm, An Tiêm. Có thật An Tiêm trong tiểu thuyết Quả dưa đỏ của

    cụ Đông Châu là nơi này? Cụ viết, nàng công chúa sống với anh chàng

    người yêu trên một đảo hoang cơ mà! Đây làm gì có đảo. Từ đây ra biển

    nghe nói còn xa.

    Mai An Tiêm, cái tên nghe dễ thương lạ.

    Bên đường, một khẩu đại bác 75mm, lớp ngoài cháy sém, trên phủ

    một đống cành ngọn tre gai. Chị dân quân đứng gác bên. Tôi xuống xe

    đạp để nhìn cho kỹ. Canon 75 N225. Putcany 1899. Hơn nửa thế kỷ rồi.

    Cũ rích. Hai bánh xe cao lênh khênh. Khẩu thần công vẫn hếch mõm

    lên trời như sẵn sàng nhả đạn, nhưng bên ngoài cái nòng thép lại lỗ chỗ

    sần sùi, chỗ bóng loáng như được lau chùi, chỗ có dấu bị lửa đốt cháy.

    Thế mà một anh nông dân chỉ khẩu đại bác, nói: “Chính nó bắn nát nhà

    tôi”. Bác nông dân già thấy tôi ngó nghiêng chăm chú, rồi mở sổ tay

    ra ghi ghi chép chép, giải thích cho nghe: “Nó tưới xăng (vào khẩu đại

    bác) đốt trước khi tháo chạy. Dân quân ta kéo về đây, rào nè, chờ bộ đội

    huyện về giải quyết”.

    Nơi đây là vùng xen kẽ, địch và ta tranh nhau. Dân ngày thường không

    đi làm đồng được. Ruộng bỏ hoang nhiều là vì vậy.

    Đàn bò ăn cỏ bên chân núi. Gần đồn Tây cũ. Cái tháp chuông xa xa

    kia là nhà thờ Nhân Quý. Vùng này có vẻ kinh tế phát triển khá. Còn

    lại khá nhiều trâu bò. Hai người gánh hai gánh tranh tấm (tranh đã đan

    thành tấm) mua ở đâu, chắc mang về lợp tạm ngôi nhà vừa mới dựng

    lại. Trước, bọn Tây đóng trên đồn Mai An Tiêm bắt dân tập trung hết

    về ở gần đồn. Nhà, vườn cây, giếng nước bỏ cho cỏ dại cây hoang phủ.

    Hễ thấy bóng người trên đồng là nó bắn. Con đường số 3 này, một năm

    nay không có bóng người qua lại. “Khổ quá, ruộng bỏ hoang lâu ngày,

    nay muốncày bừa, phải tốn bao công phá cỏ thì mới cho con trâu xuống

    được” - một chị ca cẩm. Một anh thanh niên gánh hai sọt đất, đi thủng

    thẳng, vừa đi vừa hát: “Từ ngày giặc chiếm quê ta. Xóm làng tan tác...”.

    Bài hát kháng chiến anh mới học tối hôm qua, giờ ôn tập cho nhớ.

    Bà con kể: Địch chuẩn bị rút đồn Mai An Tiêm. Mặt trời gác núi, nó

    đốt đạn. Nói dối dân là chỉ đốt đạn thối thôi. Nhưng đạn thối chi mà nổ

    đùng đùng cả buổi chiều. Rất lâu. Gần tối nó rải quân ra canh gác con

    đường.

    Đêm, đạn lại đồng loạt nổ lung lung ở cả ba đồn: Chính Hộ, Điền Hộ,

    Mai An Tiêm. Đúng, chúng nó bắt đầu rút quân thật rồi đó.

    Cán bộ, bộ đội tức tốc về ngay. Lúc này dân mới biết sự thật. Đúng là

    lũ giặc chúng nó bỏ đồn bốt chạy tháo thân. Cái gì nặng, không mang

    theo được thì đốt phá. Tàu bay nó lượn trên trời, ném xi nhan1, thả pháo

    sáng cho quân nó rút trong đêm.

    Bộ đội ta vận chuyển, bố trí truy kích địch. Ta đánh chặn chúng ở cái

    chỗ Lạch Xuống Tàu (?) kia kìa.

    Điền Hộ. Nhà thờ Công giáo. Trụ sở Ủy ban. Cơ quan Thuế xuất nhập

    khẩu rộn rịp xe thồ.

    Lô cốt chìm của địch. Dân quân ta đang phá. Mấy dãy kho chứa đạn

    1 Signal: pháo tín hiệu (trong trường hợp này, pháo từ máy bay thả xuống, phát

    sáng ở lưng chừng trời).

    xây mái bằng ven núi của chúng, đồng bào xúm nhau đập tường lấy

    gạch mang về. Gạch xây dãy nhà mái bằng này, chúng nó cũng cướp của

    dân, chứ có phải của chi chúng nó!

    Xe xích lô. Ông đạp xe xích lôđầu đội mũ vải trắng. Kính đen. Chở

    đồng bào hồi cư. Một bà lủng củng thúng, mủng trên xe. Con chó con

    ngồi xổm dưới chân, thè lưỡi thở nắng.

    Nắng lên to. Giờ mới thấy rõ cánh đồng xa xa lênh láng nước. Nhưng

    ruộng vùng này nhiều nước mặn, không dễ làm lúa ngay đâu!

    Đồng bào thi nhau gỡ dây thép gai bị địch đốt cháy dở trước khi rút

    chạy. Người nào người nấy hai bàn tay đen ngòm. Một cụ già nói: “Tôi

    thấy người ta gỡ về mang đi bán, tôi nóng ruột quá, mới ra lấy đây. Kiếm

    một ít về rào cái bờ giậu”.

    Trụ sở Ủy ban nhân dân xã Nhân Phú. Một cụ già đến xin giấy đi thăm

    bà vợ dính đạn bị thương, nằm nhà thương đã hai mươi hôm nay không

    tin tức. “Nóng ruột quá!”, cụ thở dài.

    Anh Văn phòng Ủy ban hỏi cụ họ tên gì, để ghi vào giấy phép. Cụ

    đáp: “Tôi họ Chính Đại” (Cụ tưởng anh hỏi cụ thuộc họ, xứ nào trong

    Giáo phận Công giáo). Bao nhiêu tuổi? - 71. Và tiếp thêm luôn: “Nói

    tuổi 71 là hợp với tuổi trong sổ đinh làng tôi đó”.

    Chủ tịch xã Nhân Phú cho nghe mấy nét tình hình.

    - Vùng này có tất cả ba đồn. Đồn Chính Đại, thuộc địa phận xã Điền

    Hộ. Đồn Sơn Tiền nằm giữa hai xã Nhân Phú và Điền Hộ. Đồn Mai An

    Tiêm, thuộc địa phận xã Nhân Phú. Vùng này là vị trí văn hài (?) giữa

    hai tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình đây.

    Nhân Phú có năm thôn: Tân Hải, Thịnh Phú (toàn đồng bào Công

    giáo), Phong Phú, Vân Đức và Nhân Sơn (2/3 lương, 1/3 giáo). Có hai

    nhà thờ xứ: Nhà thờ Tân Hải và nhà thờ Chính Nghĩa.

    Linh mục K. cha xứ Tân Hải, phản động. Linh mục H. xứ Chính Nghĩa,

    khá hơn. Cả hai ông đều theo chân giặc rút đi rồi. Xứ Tân Hải nay còn

    có cha phó xứ tên là Tr. ở lại.

    Dân số toàn xã: 2.400. Cử tri 1.200. Ruộng đất: 1.213 mẫu (mẫu

    Trung bộ).

    Thời giặc chiếm, chính quyền xã “ly khai”, nhưng vẫn thường xuyên

    về đây xây dựng cơ sở, củng cố các đoàn thể.

    Ngày 29-6, dân báo cho biết, có dấu hiệu địch rút chạy. Nó cho vận

    chuyển vũ khí ra ngoài đồn đốt phá. Đến trưa ngày 29-6, nội bộ chính

    quyền cơ sở chúng tôi vẫn còn “chia rẽ ý kiến” giữa hai nhận định. Một,

    nhất định địch không rút lui vì đây là tiền tiêu của cả vùng Phát Diệm,

    Ninh Bình. Hai, chúng nó phải tháo chạy thôi. Và rõ ràng chúng đang

    tháo chạy đấy. Lãnh đạo xã chúng tôi “không dứt khoát” nghe theo bên

    nào. Xin thỉnh thị cấp trên. Trưa, được ý kiến khẳng định của tỉnh:

    địch rút.

    Ta vội bố trí dân quân đánh phục kích. Nhưng ngay đêm 29 tháng

    sáu, chúng nó ở trên các đồn đã tháo chạy gần hết rồi. Chỉ còn lại toán

    quân đi sau. Dân quân xã vẫn bố trí ở chỗ đường Sơn Tiền rẽ sang phía

    Vân Hải ấy, bắt sống một tù binh, thu một hòm đạn.

    Bộ đội địa phương tỉnh tăng cường về. Trưa 30 tháng sau, quân ta

    truy kích địch đến mãi tận Kim Đại. Bắt sống 180 tù binh. Thu hơn 500

    khẩu súng.

    Đồng bào hay tin địch rục rịch chuẩn bị rút, rất phấn khởi. Những

    nhà gần đồn bốt chạy xuống các vùng xa, đề phòng chúng bắn phá

    bừa bãi trước khi tháo chạy chăng. Người dân đi tìm cán bộ, tin cho

    biết địch đã chạy hết sạch rồi. Địa chủ thì lo sợ. Một số người tìm cách

    cầu thân với dân nghèo. Cán bộ đến tiếp xúc, người dân nào cũng hỏi:

    “Làm gì lúc này, hở anh?”. Ta chủ trương trước mắt, phân tán, sơ tản

    bớt người, cất giấu bớt của cải, cái gì mang được thì mang theo người,

    đi ngay, giao nhà cửa bộ đội trông nom cho.

    Từ mấy hôm nay nhân dân rất phấn khởi. Bà con tự động họp lại kể

    tội bọn gian ác cường hào ôm chân giặc Pháp. Cuộc họp nào cũng có

    người khóc. Khóc vì kể lại nỗi khổ. Khóc vì “sung sướng quá” - nói theo

    lời đồng bào. Ông Mục Bính thôn Phong Phú có một người con trai,

    tham gia công tác, bị tên tề (hội tề) gian ác là Đích báo cho Tây bắt năm

    1952, từ bấy đến nay không rõ sống chết nơi nao. Chị Hảo có chồng làm

    cán bộ trở về hoạt động bị giặc bắt giết chết tại chỗ. Bà Trạc ở Thịnh

    Phú, năm đói1 có bốn sào ruộng muốn bán, bà đòi giá 1.300đ, ông X.

    mua ép 1.100, nhưng thấy gia đình bà đang lúc quá khó khăn, chỉ đưa

    cho tám trăm, nay được biết nông dân bị mua ép ruộng đất, có quyền

    đòi chuộc lại, bà muốn xin chuộc lại bốn sào ruộng của mình (... )

    Nông dân vui mừng, cán bộ sắp xếp công việc gì cũng hăng hái tham

    gia, có người không biết chữ, hễ việc công cần là nai lưng ra làm, bất kể

    ngày đêm. Sáu năm bó buộc rồi, mới có được tự do hôm nay.

    Những phần tử chống chính quyền cũng chẳng chịu yên. Như thằng

    Thành, nó vẫn chửi cán bộ: “Thằng Danh ấy trước chỉ là giao thông mà

    nay cứ làm như ông tướng, bây giờ chứ như ngày trước tao gặp đạp cho

    một đạp”. Tay Quản Dùng2 nói với anh Trữ: “Các anh vừa vừa, Điện Biên

    Phủ quân Mỹ đã nhảy dù xuống chiếm lại rồi đó, nay mai Ngô Đình

    Diệm cho quân ra thì mất mạng hết đó... ”

    Cũng có một số người địa chủ giàu có lo rồi đây sẽ bị đấu tố. Tay B.,

    trước làm cai tổng, làng này quen gọi “ông Tổng”, năm đói có mua của

    anh Kỳ một thửa ruộng giá rẻ như bèo. Anh Kỳ nay làm trưởng xóm. Nó

    đến xin trả lại ruộng kèm theo văn tự và trích lục, coi như biếu không lại

    anh. Có tay ngày đêm luôn miệng: “Sống trên đời chỉ là tạm bợ, chớ có

    tham lam mà mất linh hồn”. Bộ đội về, các em thiếu nhi đêm đêm tập

    trung học hát, học múa. Tay ấy đến từng nhà vận động: các ông, các bà

    nên dạy con, đêm nào cũng đi khuya thế, sáng làm sao đến làm lễ tại nhà

    thờ. Sắp sửa các ông phải đi dân công vào chốn rừng thiêng nước độc,

    các ông có biết không... Việt Minh thường tuyên truyền, chớ có đi lính

    cho quốc gia, sao bây giờ lại hô hào thanh niên tòng quân, vào du kích…”

    Bà con ta vui nhất là chuyện đổi tiền. “Ngoài chợ, một đồng quốc gia

    ăn 25 - 26 đồng Ngân hàng, Nhà nước mình cho 1 ăn 30, thế là công

    minh. Chứ trên ép giá một ăn mười chúng tôi cứ phải đổi, không đổi

    thì vứt mớ giấy lộn tiền quốc gia ấy đi à? Khác với thời giặc, hễ nhìn thấy

    đồng tiền Cụ Hồ là nó cướp luôn... ”

    1 Năm 1945.

    2 “Quản” đây là cấp bậc trong lính khố đỏ thời Pháp: Cai, Đội, Quản… “Dùng” là

    tên người (BTV).

    Cũng có người nghe lời kẻ xấu tuyên truyền, ngại ngùng không tham

    gia việc công, sợ giặc trở lại, lo biết đâu Ngô Đình Diệm kéo quân ra thật

    (để tiếp viện cho quân Pháp).

    Tuy nhiên, riêng một xã Nhân Phú này, cả xã có 148 người đi lính

    ngụy, ngay hôm giặc rút và bị bộ đội ta đánh chặn ở Kim Đài, 42 người

    đã trở về, trình diện với Ủy ban. Ta tập trung huấn luyện một ngày rồi

    cho về luôn với gia đình, không giữ lại một ai. Mấy tên tề gian ác, địa

    chủ cường hào có nhiều tội ác với dân thì đã chạy theo giặc hết rồi.

    Tính đến nay đã có 70 ngụy binh người Nhân Phú trở về gia đình. Dân

    ca ngợi chính sách khoan hồng của Chính phủ: “Mấy năm trước ấy à?

    Cán bộ Việt Minh bị họ bắt là mất tích luôn. Mình khoan hồng như thế,

    thắng lợi to là phải... ”. Còn lại là số lính ngụy hiện đang đóng ở các tỉnh

    xa. Gia đình, bà con họ lo lắm. Một số người xin giấy phép đi tìm chồng

    con, nhưng biết nơi đâu mà tìm.

    Bức xúc nhất của đồng bào là chuyện địch đã cho bạt mả ngài Mai An

    Tiêm, trước đây do dân làng góp tiền xây cất rất đẹp, để chúng có chỗ

    đóng đồn. (…)

    01-7-1954 Xã Điền Hộ.

    Bà con bị tập trung về gần bốt địch sống trong hang núi nhiều quá.

    Cho đỡ lo bom đạn. Nhưng thực chất là bà con ta tin chắc nơi đây chỉ là

    tạm bợ. Nhà cao cửa rộng làm chi, hóa ra mình một lòng ôm chân giặc?

    Không có nơi nào có thể đặt tạm cái ba lô. Lại quá nhiều muỗi. Muỗi

    rừng. Muỗi ruộng cỏ. Tôi đành trở về nghỉ lại qua đêm tại trụ sở Ủy ban.

    Anh cán bộ dẫn đi thăm một vài cơ sở ta về bắt liên lạc trước. Giới

    thiệu: Chị Lê Thị Liên Hoan, người thôn Phong Phú. Bác Mai Xuân

    Thăng, làng Chính Đại. Anh Hoa du kích xã...

    Các em thiếu nhi tập nhảy, tập hát.

    Một giọng nữ ở đâu đó cất lên: “... Lòng tôi đã đứt tơ lòng...”, “Ai lướt đi

    ngoài sương gió... ”. Bỗng dừng lại, chuyển sang một bài ca kháng chiến

    mới học tối hôm qua. Vẫn chưa thuộc hết lời.

    Sáng sớm, tôi đứng trước trụ sở Ủy ban xã. Ngay trước là mặt ngôi

    nhà thờ. Nhìn qua con đường số 5 về phía bên kia con sông đào, thấy

    nhiều người trước tản cư vào mấy huyện trong nay về thăm nhà, chân

    bước vội, mặt tươi cười, gặp ai cũng hỏi thăm tình hình chỗ này, chỗ nọ

    “Thế nào rồi?” (Địch đã thật rút hết rồi chưa?).

    Tôi quay vào, lục đống sách “tịch thu của địch” vứt bừa bãi dưới chân

    bàn làm việc. Chủ yếu sách giáo khoa. Công dân giáo dục lớp nhì và lớp

    nhất. Bài đầu tiên: “Lễ mừng quốc gia độc lập”. Ảnh chân dung ông

    Quốc trưởng mặt mũi phương phi béo tốt như bất cứ lúc nào. Bên cạnh

    là ngài Thủ tướng họ Ngô, dáng cũng đầy đặn, ra vẻ lắm.

    Một trang toàn ảnh “Những vị anh hùng dân tộc đã lãnh đạo phong

    trào khôi phục nền độc lập cho đất nước”. Bên cạnh vua Thành Thái, có

    Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam…!

    Bài 3: “Nghĩa vụ phải đi lính”.

    Sách Việt sử dành bốn bài cho “Công cuộc người Pháp làm ở Việt Nam”.

    Chán quá, tôi vứt trở lại đống sách. Định lục tìm, nhặt một cuốn sách

    văn học xuất bản tại Hà Nội hoặc Sài Gòn, được sách dịch của nước

    ngoài càng hay, mang theo đọc cho vui. Tuyệt nhiên không thấy có.

    Đành ngồi nhờ cái bàn của ông Chủ tịch Ủy ban, hôm nay bận đi tiếp

    xúc dân, đọc lại mớ tài liệu ngổn ngang, viết vội cho ra hai bài báo gửi

    về tòa soạn, để “làm tròn phận sự” mà thoải mái xuống thuyền sang

    phía bên kia sông. Lụi cụi cả buổi. Đọc lại, tít bài đầu tạm được: “Những

    nhát búa san đồn giặc”. Bài về sản xuất, nghĩ mãi không ra cái đề. “Tiếp

    tục đấu tranh và xây dựng”. Nghe như hô khẩu hiệu. Chán thật. Đang

    loay hoay, chợt cậu thư ký Ủy ban thò đầu vào: “Quá trưa lâu rồi. Mời

    anh nghỉ tay, dùng tạm với chúng em bữa cơm tập thể”.

    02-7-1954 Phát Diệm

    Thị xã Phát Diệm tưng bừng cờ đỏ sao vàng. Địch đã rút đi. Nhiều

    người dân cũng ra đi về Hải Phòng hoặc lên Hà Nội. Phố xá tấp nập,

    bởi có nhiều đồng bào vùng tự do xin giấy phép ra đây tìm người quen.

    Đêm đêm, ánh đèn huỳnh quang từ bên trong tủ kính các hiệu buôn

    vẫn sáng, nhưng nghe nói hàng hóa ế ẩm. Những người dân Phát Diệm

    quyết định không nghe theo lời đồn, ở lại đón chào bộ đội, lúc này vui

    hơn ai hết. Một bà cụ gặp lại con trai đi bộ đội. (... )

    10-7-1954 (Trở về tòa soạn). Hôm qua tình cờ gặp chị H. nhân đến dự

    buổi nói chuyện của anh L. V. Kh. về Chiến thắng Nam đồng bằng Bắc

    bộ. Hẹn H. chiều nay sẽ sang chơi, nắng gắt quá, mãi năm giờ chiều tôi

    mới đến được, H. đã ra phố rồi. Đến tối tôi lại đến chơi, nói chuyện về

    Thuận Hóa (Huế) những năm 1949-1950, hồi tôi còn ở trong ấy. Chị H.

    người như hột mít nhưng nói chuyện có duyên, dễ thương. Năm 1952

    H. được cử ra theo học lớp bồi dưỡng huyện ủy viên ở Trường chính trị

    Trần Phú, tôi có viết thư thăm; bây giờ H. nhắc lại còn nhớ những lời tôi

    viết trong thư mà chính tôi cũng không nhớ. Hỏi về đời tư, H. nói “vẫn

    như cũ”. Hồi 1949 tôi vào Thuận Hóa nghe nói H. đã hứa hôn với một

    cán bộ thị xã, bây giờ gặp lại, 1954, “vẫn như cũ” nghĩa là còn hứa hôn.

    Nhưng bây giờ anh ấy không công tác ở thành phố nữa mà đã đi bộ đội

    ra đâu ngoài Việt Bắc. Rồi cuộc đời tình duyên của chị H. sẽ ra sao? Chị

    H. và tôi đều không ai đề cập câu chuyện đó, nhưng trong lòng cùng

    đang nghĩ tới câu hỏi trớ trêu.

    Những cuộc tình duyên trắc trở trong kháng chiến. Trong khi đó lại

    có những chị như chị L. hồi 1949 tôi vào Huế cưới, bây giờ vợ chồng đã

    có hai con.

    Cùng nhau gợi lại những ngày 1949-1950 tại chiến trường Trị Thiên

    và thành Thuận Hóa. Bâng khuâng. Tôi cũng là con người tình cảm.

    Thương cho chị H. Sắp sang kỳ đời người “con gái luống tuổi” rồi.

    Những ngày ở ngoại thành Thuận Hóa để lại trong tôi nhiều ấn

    tượng thật sâu.

    11-7-1954 Trao đổi thương bệnh binh.

    (Sổ tay). Theo quyết định của Hội nghị hai bên ta và Pháp họp tại

    Trung Giã, sĩ quan liên lạc gặp nhau, quyết định khẩn cấp: Ngày 14-7

    tới, tức chỉ còn ba ngày nữa thôi, tổ chức trao đổi thương bệnh binh tại

    Hải Thôn, Bắc thị xã Sầm Sơn.

    Anh cán bộ tỉnh Thanh truyền đạt tin trên, bực bội: “Khẩn cấp! Khẩn

    cấp lắm! Bởi vì nghe đâu bọn lính Tây đầu hàng tại Điện Biên Phủ,

    nhiều thằng bị thương, bị bệnh nặng, kiệt sức sắp chết rồi. Ta không

    cách nào chăm sóc nổi. Trả mẹ chúng nó về với nhau, chết sống chúng

    nó lo”. Biết mình lỡ lời, anh vội tiếp: “Nhưng cơ mà... ta cũng muốn

    mau mau đón anh em thương bệnh binh mình phía bên kia đổi lại”.

    Tôi theo anh cán bộ tỉnh từ thị xã Thanh Hóa về Sầm Sơn ngay trong

    đêm, sau bữa ăn tối.

    Chặng đường Thanh Hóa - Sầm Sơn dài chưa tới hai mươi km mà

    đi mất cả tối. Lổng chổng các ụ đất. Hầm hố nham nhở. Hồi mới bùng

    nổ Toàn quốc kháng chiến, ta cho phá hoại đường sá, phòng xe cơ giới

    địch từ biển đổ bộ ào lên thị xã. Cả thành phố Thanh Hóa đẹp đẽ là thế

    cũng phá tan tành, chỉ để lại có cái nhà thờ đạo và ngôi đền cổ tại Phố

    Vườn Hoa cũ.

    Đã thế đường lại đông nghịt người. Cán bộ, dân công tỉnh điều từ các

    396 T ừ n g u ồ n T h ạ c h H ã n . . .

    Một trang Sổ tay 11-7-1954

    huyện khác về bổ sung cho Sầm Sơn. Đã dặn trước, các địa phương cho

    anh em mang đầy đủ mọi thứ đồ dùng và công cụ lao động, cho nên

    càng lỉnh kỉnh. Tỉnh khẩn trương đặt mua mũ, đóng giày, mua khăn

    tắm cho bọn Tây. Đủ mọi thứ lỉnh ca lỉnh kỉnh. Việc dựng trại làm nhà,

    bộ đội, dân quân cùng đồng bào địa phương lao động suốt ngày đêm.

    Hai cái trại rộng, cái dành cho lính Tây, cái đón anh em chiến sĩ mình,

    hai bên riêng biệt dù không cách xa nhau. Khó nhất là tấm lợp. Tranh,

    lá lợp nhà không biết mua đâu ra. Cũng chẳng biết huy động từ đâu.

    Tỉnh, địa phương không có các tấm bạt, bà con đi biển sẵn sàng cho

    mượn buồm thuyền của mình, dùng che tạm nắng mưa cho chiến sĩ ta

    và cả cho chúng nó.

    Đồng bào tỉnh Thanh tốt thật. Trên cần thứ gì là cung cấp thứ ấy,

    chẳng ngần ngại, không có cũng cố chạy cho ra.

    Đến gần Sầm Sơn. Các anh dân quân miền biển ăn to nói lớn, yêu

    cầu cán bộ xuống xe đạp người ta dừng xe trình giấy tờ mà quát như

    hồi du kích mình chặn bắt Việt gian những năm 1947-1948. Được cái

    trình độ văn hóa khá, đọc nhanh, trả lại giấy tờ ngay và vẫy tay cho đi

    tiếp. Cánh dân quân này có được học hành khá. Hay là trên huy động

    học sinh Trường cấp 3 Lam Sơn đi làm nhiệm vụ? Tôi để ý cô nữ dân

    quân đọc giấy tờ chúng tôi trình ở trạm tiếp sau bằng cách rọi đèn pin

    vào tờ giấy.

    Thị xã Sầm Sơn. Tấp nập đồng bào vừa đi họp về. Nghe cán bộ phổ

    biến yêu cầu xử sự với bọn Tây thương bệnh binh sao cho văn hóa. Ta

    cần phải làm sao cho họ thấy tấm lòng nhân ái của Cụ Hồ, tinh thần

    nhân đạo truyền thống của người Việt Nam ta (…)

    Anh dân quân dẫn chúng tôi đi tiếp, từ Sầm Sơn sang đến Hải Thôn

    thì đã khuya. Lúc này anh Nam Thắng1 đã đi nghỉ rồi. Mai mới gặp được.

    12-7-1954 Sáng. Anh Thái Tứ đích thân dẫn tôi đi xem các nơi ăn

    ở của thương bệnh binh Pháp và của các chiến sĩ ta. Bộ đội, dân công,

    đồng bào khẩn trương hoàn tất đêm qua. Đến sáng mới xong. Anh chỉ

    1 Thiếu tướng Lê Nam Thắng, Tư lệnh Quân khu 4.

    398 T ừ n g u ồ n T h ạ c h H ã n . . .

    cái cổng chào: “Nhưng cái này chắc rồi sẽ phải dỡ bỏ. Làm thấp thế kia,

    ta đi qua thì được, bọn Tây cao lênh khênh, nhỡ có đứa đụng phải đầu

    lúc đi qua bên dưới cổng chào”.

    Hôm nay họp trù bị. Chờ từ sáng sớm, mãi đến 11h45 chiếc tàu binh

    to của Pháp mới cập bến. Nói “cập bến”, thực tế là đỗ mãi ngoài xa.

    Viên chỉ huy cùng một tay phiên dịch không mang vũ khí xuống chiếc

    ca nô nhỏ cắm cờ Hồng thập tự vào bờ. Theo chỉ dẫn của anh bộ đội

    đón ở bến, xăm xăm qua bãi cát bước thẳng vào ngôi nhà tre mới dựng

    dùng tiếp khách và hội đàm.

    Câu đầu tiên của viên sĩ quan Pháp sau khi hai bên đứng nghiêm

    chào nhau theo đúng kiểu nhà binh:

    - Vous parlez francais1?

    Trung tá Thái Tứ:

    - Oui2.

    Viên quan tư hải quân này người cao, gầy, mặt đỏ au, trán bóng,

    có vẻ khá cao tuổi mà đi lại vẫn nhanh nhẹn. Vẫn trong tư thế đứng

    nghiêm, nó cầm phong bì thư cỡ lớn, hai tay trân trọng trao Trung tá

    Thái Tứ. Anh nhận, đọc nhanh, chuyển sang cho anh phiên dịch đứng

    cạnh, và đến lượt mình, đứng nghiêm trao thư ủy nhiệm của Bộ chỉ

    huy ta cho nó.

    Bức thư Pháp do Trung ướng Cogny, Tư lệnh các lực lượng Pháp tại

    Bắc Việt Nam ký thừa lệnh Đại tướng Ely, Tổng Tư lệnh các lực lượng

    Pháp ký, giới thiệu Le capitaine de corvette3 Emile Bardot, Le lieutenant

    médecin4Francois Robert cùng bốn y tá, có nam có nữ, làm phận sự điều

    hành cuộc trao đổi thương bệnh binh với phía Việt Nam.

    Bardot chăm chú nghe người cùng đi dịch sang tiếng Pháp (thư ủy

    nhiệm của ta) xong, nói nghiêm trang với anh Thái Tứ:

    1 Ông nói được tiếng Pháp?

    2 Vâng.

    3 Thiếu tá Hải quân.

    4 Trung úy bác sĩ (BTV).

    - Thưa trung tá, ngài và tôi chúng ta giờ có đủ mọi quyền để bàn bạc

    mọi việc cho ngày 14 tháng bảy tới.

    Cuộc thương thuyết khá cụ thể, chi tiết.

    Chuyến này mỗi bên trao trả cho bên kia 100 tù binh, chủ yếu là

    thương bệnh binh. Chưa bên nào kịp lên danh sách đầy đủ, chỉ nói con

    số tròn mà thôi.

    Đến đầu giờ chiều, viên quan tư Pháp đứng lên:

    - Bây giờ tôi phải sang ngay thành phố Hải Phòng. (Quay nhìn về

    phía chiếc tàu treo cờ tam tài đỗ ngoài xa). Ngày 14 tháng 7, chính

    chiếc tàu kia sẽ lại đến đây.

    Và đứng nghiêm, ngửa lòng bàn tay chào, đúng kiểu nhà binh Pháp.

    12-7-1954 (Nhật ký). Tôi vừa dự cuộc trao trả tù binh bị thương và bị

    bệnh giữa ta với Pháp ở Hải Thôn (Sầm Sơn). Lần đầu tiên dự một cuộc

    hội đàm giữa ta với bọn sĩ quan quân đội Pháp trong kháng chiến này.

    Cũng ghi được mấy nét hay hay mà tôi nghĩ có thể khai thác cho cuốn

    tiểu thuyết sau này.

    Viên quan tư hải quân Bardet người cao, gầy, mặt đỏ bóng, trán

    nhiều nếp nhăn, nhanh nhẹn mặc dù đã lớn tuổi. Tên Việt gian Hồ Sĩ

    H., người làng Quỳnh Đôi, mặt đen, kẽ răng vàng khói thuốc lá, mũ

    phớt xám, sơ mi màu mạ non, cà vạt xám, quần kaki ga bạc đin màu be,

    đi xăng đan da, chạy đi chạy lại xun xoe. Có những nét làm nổi bật cá

    tính mỗi đứa.

    Bọn tù binh thì không có gì đặc biệt. Cánh nhà báo đế quốc hay hơn.

    Lần đầu tiên trong nghề, tôi gặp họ. Ở Phòng hội nghị, viên quan hai

    Iadune, phóng viên quân sự, luôn luôn theo sát viên quan tư chỉ huy

    và một viên quan hai thầy thuốc trẻ. Tay Iadune này người thấp, bụng

    phệ, mũi diều hâu, bận đồ soọc trắng, đi giày da đen. Vừa bước chân vào

    phòng họp, việc đầu tiên của hắn là chụp ảnh hội trường, chỉa thẳng

    máy vào lá quốc kỳ và chân dung Hồ Chủ tịch treo chính giữa.

    Xong, nó quay lại hỏi tôi và anh Hùng ngồi ở hàng ghế bên trái, có

    phải các nhà báo đây không. Và hắn đề nghị với Trưởng Phái đoàn ta

    cho phép cánh nhà báo đi theo đang ở trên tàu được phép xuống và

    vào đây, để “qu’ils se fassent connaissance” (cho họ làm quen với nhau).

    Phóng viên phía Pháp có 15 người, trung úy Iadune giới thiệu với tôi

    từng người một : Paris-Match, New York Times, AFP, Agence espagnole,

    Caravelle, Service d’Information militaire, Vietnam Presse... Hai tay quay

    phim. Cậu phóng viên New York Times thấp, bụng to, mặt phệ, đội ca lô

    lưỡi trai trông như lính Nhật, nói tiếng Pháp được, hút thuốc lá Mélia

    đỏ với cái bót ngà dài, có chạm nổi hai con rồng. Có lẽ đây là một sản

    vật Trung Quốc, vì tên này khoe trước có ở Trung Quốc lâu... Cậu Paris

    Match cao lớn, mang ba máy ảnh tòn ten trước ngực, xớn xác, trợn

    trạc, nhảy chồm chồm từ chỗ này sang chỗ khác, bước sầm sầm cả trên

    giường các tù binh ốm đang nằm để chụp ảnh. Tò mò, cái gì cũng hỏi, từ

    cái huy hiệu Đoàn Thanh niên cứu quốc tôi đeo trên ngực đến màu nâu

    của vải buồm thuyền căng làm mái trại, những tấm vải gì thế kia. Con

    đầm lai Risser, chắc nói dối, mới qua Đông Dương được có ba tháng.

    Còn tên quan hai Iadune này, tôi cho là chính cống gián điệp, phòng

    nhì chứ chẳng phải báo chí, thông tấn gì đâu.

    Cậu phóng viên người Việt cũng có những nét độc đáo. Người thấp,

    đen, râu quai nón, môi dày, mang kính trắng, dáng lăng xăng. Câu đầu

    tiên tôi nghe nó nói bằng tiếng Pháp với một thằng Tây khi vừa bước

    chân lên bờ. Chúng nó hỏi nhau, tại sao sĩ quan và chiến sĩ ta quân phục

    không có gì phân biệt, trừ một điểm là chiếc áo nhà binh kiểu đại cán

    hai túi hoặc bốn túi. Bốn túi là cấp chỉ huy. Hai túi là lính. Gặp tôi nó

    hỏi: “Ta ở đây không có cinéaste (người làm phim) nhỉ. Ở Trung Giã1 tôi

    thấy có mấy cinéaste cơ mà”. Một lần khác, tên Iadune làm nhiệm vụ giới

    thiệu cả nhóm. Nó đứng giữa cậu người Việt ấy và cậu New York Times.

    Tôi bắt tay Paris Match. Đến lượt nó, nó tự xưng: “Vietnam Presse”. Rồi

    chìa tay, tiếp luôn: “Tôi làm ở Việt tấn xã”. Tôi không mỉm cười. Quan

    hai Iadune tiếp tục giới thiệu các nhà báo: “New York Times... ”

    1 Một xã thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội, là nơi tổ chức Hội nghị quân sự giữa đại

    diện Quân đội Nhân dân Việt Nam và đại diện Quân đội Pháp về các quy chế

    trao trả tù binh, thường dân bị bắt trong chiến tranh, việc tiếp quản các thành

    phố... từ 04/7/1954 đến 03/8/1954 (BTV).

    Khi anh bạn và tôi mời cả cánh nhà báo kia qua gian Giải khát uống

    nước dừa, nó lại xun xoe chạy đến nói bằng tiếng Pháp: “C’est la presse

    qui recoit la presse” (Đây là báo giới tiếp đãi báo giới). Tôi vẫn im lặng

    không nói không rằng. Nó nói tiếp bằng tiếng Việt: “Thanh Hóa nổi

    tiếng là nơi nhiều dừa”.

    Lúc ở bến sông, tôi rút sổ tay ra ghi nhanh vài chữ. Cậu Agence

    espagnole (hãng thông tấn Tây Ban Nha) hỏi: “Anh là nhà báo?” Tôi

    đáp, vâng, tôi là phóng viên báo Cứu Quốc. Cậu Việt nói chen vào: “Ou

    se trouve votre journal?”(Tòa báo ông đóng ở đâu?) Tôi không đáp. Tên

    nước ngoài lặp lại câu hỏi bằng tiếng Pháp ấy. Tôi trả lời:“Tòa soạn báo

    Cứu Quốc chúng tôi đóng tại Liên khu 4”.1

    21-7-1954 Hòa bình đã trở lại.

    Đã mười hôm nay tôi mới có chút thời gian ghi nhật ký. Sau chiến

    thắng Điện Biên, địch hoảng sợ, lo ta thừa thắng tràn về chiếm nốt Hà

    Nội, Hải Phòng…, vội rút quân từ các đồn bốt vùng Ninh Bình, Nam

    Định và Khu Tả ngạn sông Hồng về cố thủ các đô thị. Tôi vừa đi công

    tác qua vùng Nga Sơn, Phát Diệm, Ninh Bình, Nam Định thấy được

    nhiều cái mới lạ, chưa từng thấy, giữa thành phố mới giải phóng trong

    bầu không khí vừa lập lại hòa bình.

    Tôi được tin đình chiến chính thức khi đang công tác tại Phát Diệm.

    Nằm trên căn gác căn nhà vắng chủ dành cho Ty tuyên truyền Ninh

    Bình, nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc chậm tin tức, sốt ruột nuốt từng

    câu một. Sao cô xướng ngôn viên quá cẩn thận đến thế, mỗi câu nhắc

    đi nhắc lại đến ba, bốn lần. Khi đọc lại bản tin vừa chép tay theo lời đọc

    chậm trên Đài - Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch - tôi cảm động rưng rưng.

    Nhất là đoạn Cụ nói đến đồng bào miền Nam. Quê hương tôi nay cũng

    đã ở về phía nam vĩ tuyến 17. Còn phải chờ những hai năm nữa, may ra

    nước nhà thống nhất! Chẳng biết cha tôi có còn sống đến ngày ấy hay

    không. Lâu nay tuy là chiến tranh, bom đạn, chết chóc hằng ngày nhưng

    quê tôi vẫn là đất của mình, thuộc chính quyền của mình, do mình làm

    1 Bài “Trao trả tù binh”, báo Cứu quốc, ngày 19 và 20-7-1954.

    chủ, luôn luôn cảm thấy gần gũi, dễ dàng muốn ra vào lúc nào cũng

    được. Bây giờ là vùng của địch, cho dù chỉ tạm thời. Người dân vùng tự

    do của ta biến thành người dân chịu sự quản lý của đối phương. Bây giờ

    tôi chỉ còn có thể đứng bên này Khu phi quân sự, phía Bắc sông Bến Hải

    nhìn sang. Tôi tiếc đã không thu xếp vào trở lại Bình Trị Thiên được một

    chuyến để có dịp ghé thăm gia đình. Cảm nhận buồn buồn dù sao cũng

    khó tránh khỏi. Tôi hoàn toàn tin tưởng ở sự lãnh đạo của Đảng, tin

    tưởng ở tương lai thống nhất đất nước ta nhưng vẫn xót xa khi nghĩ rằng

    bây giờ cha con tôi mỗi người một bên giới tuyến. Trước đây làng tôi

    thuộc khu vực tạm bị chiếm nhưng không bao giờ tôi có cảm tưởng ấy.

    Đứng trên ban công tầng gác ngó xuống thấy mọi người hình như ai

    cũng hớn hở. Một phần tại lòng mình lúc này quá vui. “Tưởng không

    còn được nhìn thấy mặt con, ai ngờ có buổi hôm nay!”. Bà cười, khoe

    với người hàng xóm, mà cái mồm méo xệch, hai hàng nước mắt tuôn.

    Tiếng chuông xe đạp leng keng. Tiếng rao bán tào phớ. Nổi bật lên

    tiếng rao lảnh lót của em bé bán báo: “Báo mới đây! Tin đình chiến

    Genève đây!... Báo mới! Tin đình chiến đây. Ai mua báo mới!... ”.

    Tôi chạy xuống mua một số mang lên đọc lại Lời kêu gọi của Hồ Chủ

    tịch và Nhật lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Lại xúc động khi đọc

    tới đoạn Cụ Hồ nói với đồng bào miền Nam. Tự nhiên rưng rưng. Miền

    Nam đâu có quá xa xôi. Làng tôi ở ngay phía nam, không mấy xa bờ

    Hiền Lương, nay cũng là miền Nam rồi đó!

    Hiệp định ký ngày 21-7, nhưng phải sau một tuần, đến ngày 01-8-

    1954, lệnh hai bên ngừng bắn hoàn toàn mới có hiệu lực tại Trung bộ.

    Vậy là đất nước ta chia cắt hai miền. Người dân tự do ở làng quê tôi trở

    thành người dân dưới quyền cai trị của Sài Gòn. Tôi cứ trăn trở hoài

    trong đầu ý nghĩ ấy. Vừa mừng vui tin tưởng, vừa xót xa. Tôi ngồi vào

    bàn, viết một mạch bài “Bức thư gửi em gái”. “…Em, em ơi, chính em,

    chính bà con làng ta đã góp phần vào thắng lợi vinh quang ngày hôm nay;

    em đã góp phần bắt họng súng thù phải im tiếng… Và em ơi, quê ta nay nằm

    vào phía nam giới tuyến quân sự tạm thời cho đến ngày tổng tuyển cử…”1.

    1 Đăng báo Cứu Quốc ngày 2-8-1954.

    Lại nhớ Dương Tường. Từ sau chiến dịch Phan Đình Phùng tôi không

    gặp lại anh. Ra Nghệ An sững sờ nghe tin Dương Tường chết. Trận Tây

    càn vùng đồng bằng Gio Linh, Triệu Phong, anh cùng người vợ chưa

    cưới cố bơi ngang sông, sang bên mình (vùng ta làm chủ) cho yên tâm.

    Nào ngờ chị đuối sức. Tường cố gắng dìu được người yêu vào bờ, chị

    thoát đuối thì anh kiệt sức, bị dòng nước xiết cuốn đi…

    Nhớ những câu thơ trong sáng của anh mấy năm đầu kháng chiến:

    Tầng tầng cây bí bò quanh

    Lá xanh nhìn lại thêm xanh mắt người

    Bông vàng như chén rượu mời

    Mẹ già giục hái gửi người bát canh.

    Canh bông bí vừa lành vừa ngọt

    Muốn thêm bùi ngắt đọt non tươi

    Anh đi phục kích bên đồi...

    404 T ừ n g u ồ n T h ạ c h H ã n . . .

    Sau vụ tàn sát thôn Mỹ Thủy, Hải

    Lăng, địch tàn sát năm trăm người

    dân thường, phần lớn là đàn bà,

    trẻ em, thơ Dương Tường đổi khác.

    Cay đắng. Hờn căm. Lần anh và gặp

    nhau tại chiến khu Ba Lòng, trước

    khi cùng nhau đi tham gia Chiến

    dịch Phan Đình Phùng, nhiều người

    đã thương anh, trọng anh qua bài

    Lời cây dương Mỹ Thủy. Tôi chỉ nhớ

    có hai câu:

    Những người thác yên mồ

    Thây bón tươi cành lá…

    22-7-1954 Trở lại vùng mới giải phóng.

    Say sưa trong phấn khởi. Đẹp tưng bừng như những ngày Tổng

    khởi nghĩa tháng Tám 1945. Tôi sung sướng như chính mình cũng là

    một người dân mới được giải phóng. Thả bộ lượn phố cho đến khi thấm

    mệt, nắng lên to rồi, trở về đứng trên lan can căn gác nhìn đồng bào

    qua lại, thấy tấp nập đông vui quá, tôi lại lấy xe xuống đường phóng

    lượn lờ thêm mấy vòng giữa sóng người cuồn cuộn lại qua.

    Tôi tin rằng có thể viết được một vài bài ghi lại nhiều nét hay.

    Chẳng hạn dưới dạng một bức thư gửi một người bạn học cũ hiện

    sống ở Huế, với tư cách một người quê miền Trung đang được sống

    trong những ngày tưng bừng chiến thắng ở thành phố miền Bắc vừa

    giải phóng.

    Nhà thơ Dương Tường

    (Ảnh chụp năm 1948 tại Đức Thọ, Hà Tĩnh ngay sau khi Dương Tường từ

    Bình Trị Thiên vừa ra tới vùng tự do Liên khu 4).

    (còn tiếp)

    Nguồn: Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ hồ Gươm. Tập ký của Phan Quang. NXB Trẻ, 2016.

    Tác giả gửi www.trieuxuan.info

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,815,207

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/