Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,817,396

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ hồ Gươm (8)

Phan Quang

  • Thứ tư, 09:17 Ngày 30/09/2020
  • 11-11-1953 (Tối) Không khí ở vùng này nặng chình chịch. Học viên

    người nào người nấy mặt như sưng húp lên. Bụng đầy, ăn không ngon.

    Không bữa nào ăn hết phần cơm. Đồi đất đỏ, cây rậm rịt, bịt bùng như ở

    chiến khu. Buổi chiều - chiều nay các đồng chí ai chưa qua chỉnh huấn

    thì phải viết lý lịch - tôi đi tản bộ ra đồng, theo con hói đến một xóm

    xa. Thoáng gió, dễ chịu hơn. Đi thơ thẩn một mình. Chiều, trời trở gió,

    muốn mưa. Mây. Núi xa mờ. Sương như khói. Đi ngược gió. Chợt nhớ bài

    thơ Xuân hành của Huy Cận. Nguy thật. Mình học vấn chẳng bao nhiêu

    mà sao mỗi bước đi lại gặp cái quá khứ trong văn chương? Ảnh hưởng

    văn học lãng mạn đối với mình nặng đến thế ư?

    Gần tối, mỏi chân, tôi ghé vào một nhà bên đường, ngồi nói chuyện

    với mấy người ở đấy. Nhìn ra ngoài đường thấy một người đàn bà gánh

    lúa về dọc bờ tre, đi lặng lẽ trong gió - mình có cảm tưởng như gió đang

    quét từng mảng sương đi - sao mà buồn ghê. Nghĩ đến Bến đò gió của

    Nhất Linh. Tôi đọc cuốn Đôi bạn của Nhất Linh cách đây có lẽ gần chục

    năm rồi, và chưa có dịp đọc lại, thế mà ấn tượng vẫn rõ nét trong đầu.

    Cảnh bến đò gió. Cảnh Trúc gặp người yêu, ban đêm, trước khi “nhảy”.

    Bữa cơm con nhà nghèo, bát nước dưa nổi váng. Cảnh những đêm ở nhà

    chị giáo Thảo... Thương mến, nhớ tiếc bùi ngùi, xót xa... Thương cái gì

    mới được chứ? Vô lý quá. Cách mạng đến, tôi được tất cả chứ có mất

    mát gì. Tại sao lại đi luyến tiếc bâng khuâng? Tôi cũng không hiểu tôi

    nữa. Thoạt vui rồi thoạt buồn. Buồn, vui đến một cách dễ dàng và đều

    vô căn cứ, hoặc chỉ vì một cái cớ rất nhỏ.

    Nhớ sách quá. Ở nhà (tòa báo) có bao nhiêu sách, báo, những tập tạp

    chí Littérature soviétique mới đến tươi rói, thơm phức, giấy trắng tinh,

    bóng loáng như còn ướt mực, những cuốn sách nước ngoài đóng bìa

    cứng giả da, như tập in ba vở kịch để đời của Anton Tchékhov: Oncle

    Vania, Les Trois Seurs, la Cerisaie, kịch viết để diễn mà chỉ mới đọc thôi,

    đọc xong đã thấy ngẩn ngơ... Thiếu sách thiếu báo, có cảm giác như

    người mình cằn cỗi đi (... )

    12-11-1953 Sáng nay nghỉ, tôi đi lục tìm mượn được Thù làng của

    Mã Phong tại tủ sách của nhà trường. Trời mưa hơi lành lạnh. Nằm

    đọc một mình, nhấm nháp những khía cạnh hay của tác phẩm. Truyện

    ngắn này tôi đã đọc cách đây tám tháng, trước khi đi chiến dịch Thượng

    Lào và đã từng kể cho anh em bộ đội nghe trên đường đi chiến dịch. Bây

    giờ đọc lại mới thấy hồi đó mình chưa thật hiểu hết vì chưa nắm vững

    chính sách ruộng đất, chưa hiểu thấu mưu mô của địa chủ.

    Đọc những tác phẩm như thế này cũng là một cách học tập, hay đúng

    hơn là củng cố chính sách đã học được. Âm mưu của địa chủ đắp đập để

    tăng địa tô, gây thù oán chia rẽ nông dân và sự câu kết của chúng, âm

    mưu của chúng phá hoại công cuộc thổ cải1. Bản chất tốt của nông dân,

    sự quật khởi sau khi giác ngộ, thấy rõ mình bị lừa bịp... Tôi thấm thía

    từng hơi văn, từng dụng ý của tác giả, những chi tiết luồn vào rất khéo

    để giáo dục chính sách - như chỉ biết oán thù cái đập nước mà không

    oán thù địa chủ. Lối văn kể chuyện tự nhiên. Tiếc rằng người dịch không

    có lập trường đúng. Có những chữ xưa thì thường thôi nhưng thời này

    đọc nghe chướng tai quá: hai người địa chủ, bọn nông dân, bọn đàn bà...

    Hình như cụ Phan Khôi nhà ta chưa được chỉnh huấn2.

    13-11-1953 Hôm nay tổng kết toàn khóa học. Một số anh em được về

    lại cơ quan, không đi tham gia phát động quần chúng nông dân. Ấy là

    số cán bộ cấp trên huy động cho đi học hơi nhiều, ảnh hưởng đến công

    tác chuyên môn của cơ quan và của địa phương, số khác trình độ quá

    kém, sợ không làm được việc.

    Đêm mưa rả rích. Nghỉ chờ quyết định. Ta đi đâu? Rồi cuộc tổng kết

    đợt hai sẽ làm ở đâu? Buồn mông lung. Đấu tranh bản thân nhiều. Cố

    bình tâm nghe anh Độ kể chuyện đời mình. Giọng trầm trầm, chậm rãi.

    Cuộc đời khổ cực của một bần nông. Tôi lấy sổ tay ra ghi. Tài liệu ở đây

    chứ còn tìm ở đâu nữa. Cái tệ không nhìn thấy cái gần, chỉ mơ ước cái

    xa, thỉnh thoảng cũng phải kiểm tra lại!

    14-11-1953 Rảnh rỗi suốt buổi chiều. Chúng tôi tụ họp, tán nhảm

    chờ quyết định. Chiều nay lại một số đông cán bộ nữa được về. Diện đấu

    tranh (đòi địa chủ giảm tô) thu hẹp hơn nữa. Số cán bộ này cho về củng

    cố cơ sở, sẽ đi công tác vào đợt sau. Độ cũng được về.

    Đêm thu đã bắt đầu thấy dài. Ngủ mãi trời không chịu sáng, nằm

    nghe gà gáy và trẻ con khóc. Chẳng mấy chốc hết năm dương lịch. Nhớ

    nhà. Buồn mênh mang khi nghĩ rằng trong kia, nơi mảnh vườn thân yêu

    1 Thổ cải: cải cách ruộng đất.

    2 Tiểu thuyết Thù làng của Mã Phong, bản tiếng Việt in lần đầu do Phan Khôi

    dịch từ tiếng Trung (BTV).

    thuở nhỏ ấy, có một ông già 75 tuổi vòi vọi nhìn ra, chờ đứa con trai độc

    nhất. Cha ơi, con biết cha thương nhớ con lắm nhưng biết làm thế nào?

    Cầu mong cho cha sống đến ngày độc lập. Tuổi 75, ngọn đèn trước gió.

    Tin cha tôi chết chắc sẽ không làm cho tôi đau đớn bằng ý nghĩ rằng khi

    nhắm mắt ông ngậm ngùi vì nhớ con. Mỗi năm, cha già đi một ít, mình

    lớn hơn một chút. Để làm gì? Hôm nay ta hơn hôm qua ở những điểm

    nào? Ngày mai ta sẽ ra sao? Ước vọng của ta bao giờ sẽ được thực hiện?

    Mấy hôm nay, tôi suy nghĩ về cái ý này: Mình hay hướng về quá khứ,

    phân tích chi li những phút buồn vẩn vơ, chán chường để làm gì nhỉ?

    Có hai lối. Một là phân tích để nhấm nháp, tán thưởng cái buồn của

    mình, tận hưởng hương vị của nó - en gouter la volupté? Đó là một cách

    tự mình nuôi dưỡng cái yếu đuối của lòng mình. Nhưng ngược lại, nếu

    phân tích để tìm ra nguyên nhân, để thấy được cách giải quyết thì lại

    là chuyện hay.

    Tôi đã theo lối nào?

    Chiều nay tôi gửi người mang về cho bạn bài thơ.

    16-11-1953 “Hành quân” lục đục suốt đêm hôm qua. Đi gần thôi

    mà mệt nhiều. Đường qua ruộng bùn, trơn như tráng mỡ. Đêm tối chập

    choạng y như những đêm lánh giặc ở Thừa Thiên.

    Tôi chợt nhận rõ thêm một khía cạnh nữa của mình: Ít muốn làm

    quen với những người bạn mới. Ngại gần gũi, ngại người khác thăm hỏi

    về mình. Tính chất cá nhân rõ rệt. Bạn mới đây, cần nói thẳng ra, tôi

    không muốn chan hòa bởi họ không có màu sắc tiểu tư sản giống như

    tôi. Chứ thật ra khi gặp đúng môi trường, tôi chẳng là một anh ba hoa,

    cởi mở là gì.

    Con người tôi trống rỗng một cách lạ. Không làm chi được. Bùi Hiển

    vẫn viết được Cố Thượng tố khổ. Anh Thanh Châu theo chân Bùi Hiển,

    viết Chị Nhàn bắt rễ cũng khá thành công. Mình bí quá. Bực ghê.

    18-11-1953 (Sáng) Hôm nay đã là ngày 18-11 rồi mà Hội nghị tổng

    kết vẫn chưa khai mạc. Hôm qua đi xem Hội trường. Tổ chức của ta

    ngày càng quy mô. Thấy thích thú. Tưởng như mình cũng vì những cái

    đó mà lớn mạnh hơn lên.

    Hội trường rộng, chứa

    được cả nghìn người, đặt

    trên một quả đồi kín đáo.

    Đại biểu ở rải rác trong

    một khu vực rộng; có

    đơn vị muốn từ nơi nghỉ

    tới được hội trường phải

    đi trọn một tiếng đồng

    hồ. Các khu vực liên lạc

    với nhau qua điện thoại.

    Kế hoạch phòng không,

    chống biệt kích, chống

    quân nhảy dù. Nghe phổ

    biến, tự nhiên thấy dường

    như công việc quan trọng

    hẳn lên.

    Trời lại mưa. Đọc Văn nghệ số đặc biệt về Stalin. Thêm một vài nhận

    thức về lý luận văn nghệ. Stalin viết cho Bietny1: “Triết học cuối thế kỷ

    đau thương không phải là triết học của chúng ta. Hãy dành đau thương

    cho những khúc ly khứ và tử vong”.

    (Tối) Hồi chiều vừa Khai mạc hội nghị tổng kết. Mưa tầm tã (…) Hội

    trường ban ngày nhìn càng thêm trang trọng. Hệ thống hầm trú ẩn nghe

    đâu đủ cho 1500 người nấp. Có bố trí một đại đội phòng không, phòng

    khi bị oanh tạc sẽ thu hút hỏa lực của địch cho các đại biểu phân tán.

    Ông chủ nhà, một bần nông, nói với chúng tôi chiều qua: “Các đồng

    chí vào xem sẽ thấy công trình to lớn. Dân làm mất cả tháng nay đấy”.

    Hôm nay, mạn đàm ở nhóm, tôi phát biểu: “Thấy công lao của nhân dân

    chuẩn bị hội nghị, tôi nghĩ rằng nếu chúng ta lơ là việc học tập để sau

    này đi vào công tác phạm sai lầm thì thật là đắc tội với nhân dân”.

    1 Hồi ấy tôi ghi theo tiếng Pháp, sau khi đọc một bài nào đó trên tạp chí của

    Pháp là Europe, hoặc trên Văn học Xô Viết (tiếng Pháp).

    Biên tập viên và cộng tác viên báo Cứu Quốcliên

    khu 4. Từ trái: Phan Quang, giảng viên cao cấp

    Nguyễn Quỳnh Thông, giáo sư Hoàng Trinh, nhà

    giáo Trần Hậu Toàn, nhà thơ Xuân Tửu, Chủ nhiệm

    báoNgô Đức Mậu (Ảnh chụp năm 1952).

    Giờ giải lao, gặp anh Đinh Nho Khôi. Tìm Trần Văn Sơn và Chế Lan

    Viên mãi không thấy. Đoàn văn công Chi hội Văn nghệ đưa một tổ

    mười người sang phục vụ. Gặp lại nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Thương

    ngày 22 tới cưới vợ, ông có vẻ vừa hí hửng vừa băn khoăn. Hồng Xuyên,

    Thanh Tâm đều là cán bộ Đoàn, bận rộn và ra vẻ quan trọng. Họa sĩ Văn

    Bình được phân công lo việc tổ chức Phòng triển lãm, không thể đến dự

    Hôi nghị tổng kết.

    Văn Bình là người hiền lành, trên giao việc gì cũng nhận. Anh học

    Trường Mỹ thuật Đông Dương cùng khóa với các họa sĩ Phạm Văn Đôn,

    Nguyễn Thị Kim... , và từng đạt Giải thưởng tại một cuộc Triển lãm toàn

    quốc nào đó tại Hà Nội, anh có nói nhưng tôi không hình dung ra. Anh

    người Công giáo gốc, gia đình ở Phố Nhà Chung, cách Nhà thờ lớn Hà

    Nội, vẫn theo lời anh nói, chỉ mươi bước chân, hồi còn nhỏ chiều chiều

    anh thích ra đứng ngắm tượng Đức mẹ Maria trước Nhà thờ. Năm 1944

    hay 1945, có tham gia Đoàn kịch Anh Vũ do Vũ Đức Diên làm Trưởng

    đoàn, vì vậy quen biết nghệ sĩ Trúc Quỳnh, nhà văn Chu Ngọc… Lúc

    nào chỉ có một mình, anh thường se sẽ hát, chỉ mình anh nghe thôi,

    một ca khúc gì đó. Có lần tôi hỏi đùa: “Thánh ca?”. Anh cười, lắc đầu:

    “Không. Một bài hát trong vở kịch Giông tố1 của Tào Ngu”. Những cái

    tên quá lạ đối với tôi.

    20-11-1953 Nhận được thư anh Phẩm. Anh là con trai bác ruột, bác

    Viên Thấu. Viên, là Viên tử. Cha tôi giảng giải: Khi ông nội được phục

    chức, cha tôi được tập ấm hàm Ấm sinh, còn Bác Viên chỉ hàm Viên tử

    thôi, dù bác hơn cha một tuổi, bởi cha tôi dù sống ở làng quê nhưng là

    con bà chánh thất. Còn bác Viên sống trong Huế thời ông nội làm quan,

    là con trai bà thứ thất cho nên khi tập ấm, chỉ được hàm Viên tử thôi.

    Anh Phẩm từ đơn vị về nằm điều dưỡng ở Viện 43 đã hơn một tháng

    nay. “Vì yếu sức”, thư anh chỉ nói thế. Bệnh gì? Sốt rét? Ho lao? Thương

    người anh họ gầy và nghèo. Vụng về trong cuộc sống. Chắc anh vẫn

    chưa vợ. Bây giờ lại ốm đau. Một mình lạnh lẽo quá.

    1 Còn có tên là Lôi Vũ, là vở kịch đầu tay của Tào Ngu, sáng tác vào năm 1933 (BTV).

    Kháng chiến vẫn có nhiều điều làm cho người ta ngậm ngùi. Tối nay

    Bùi Hiển nói chuyện với tôi tự dưng kể lại câu chuyện đại đội trưởng

    Chiến thuộc Tiểu đoàn 319 hồi chúng tôi sống cùng năm 1950 ở Bình

    Trị Thiên. Một hôm có người dân vào chào: “Thưa cụ”. Người đó về,

    Chiến lấy gương ra soi, rồi hỏi anh em ở Đại đội bộ: “Trông anh có già

    lắm không, các em?” Hồi ấy Chiến chưa vợ. Có lần Chiến tự nhiên thốt

    lên: “Mình làm thế này cho ai hưởng nhỉ?”. Ít lâu sau Chiến bị Tây bắt

    trên phá Tam Giang.

    Dĩ nhiên, ý nghĩ của Chiến sai. Nhưng dù sao đó cũng là một vấn đề.

    Cuốn nhật ký này của tôi ghi toàn những ý nghĩ vụn vặt, phần lớn bi

    quan. Thật ra chỉ vì tôi muốn ghi lại những cảm xúc cá nhân lúc rỗi rãi.

    Còn những cảm nhận mạnh mẽ từ các phong trào, tôi ghi vào những sổ

    khác. Ví dụ Chuyến đi Thượng Lào. Hay là như hôm nay, những ý nghĩ

    nảy ra khi xem Phòng triển lãm về đợt phát động quần chúng giảm tô.

    Một vài tài liệu, con số làm tôi suy nghĩ nhưng tôi không định ghi vào

    đây, để dành cho vào sổ tư liệu sáng tác.

    Cuốn sổ này của tôi là ý nghĩ riêng tư, nó không phục vụ cho hành động.

    Mai sau nếu có muốn dùng làm gì đó, hẳn phải đúc hai ba loại lại,

    mới thấy rõ cái thằng tôi đủ mọi khía cạnh.

    QUỐC HỘI THÔNG QUA LUẬT CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT.

    01-12-1953 Chỉ thị của Trung ương Đảng về việc kỷ niệm Ngày toàn

    quốc kháng chiến 19-12 tới cho biết Quốc hội đã thông qua đạo luật

    về Cải cách ruộng đất. Tin làm phấn chấn không ít người. Ở hội trường

    tiếng vỗ tay kéo dài đến mấy phút. Hôm qua, giới thiệu mục đích, yêu

    cầu cuộc kiểm điểm sắp tới của các đồng chí vừa tham gia đợt phát

    động quần chúng về, anh B. nói: “Đảng biết trong số các đồng chí

    nhiều người muốn được nghỉ ngơi hoặc về thăm nhà vài ba hôm. Đó

    là một yêu cầu chính đáng. Trung ương, Khu ủy cũng như Đoàn ủy đã

    nghĩ tới điều đó. Nhưng các đồng chí có thấy không, Sắc lệnh về phát

    động quần chúng giảm tô ban bố đã lâu, nhân dân khắp nơi chờ đợi

    chúng ta về. Ông chủ nhà tôi ở đã góp sức làm cái hội trường này mất

    năm công, đi du kích năm công và đang chẩn bị đi rú nữa lấy gỗ về làm

    cầu. Nhân dân chờ đợi chúng ta nhiều, chúng ta không có quyền đòi

    hỏi được nghỉ ngơi... ”.

    04-12-1953 Viết xong một truyện ngắn về phát động quần chúng,

    Ánh đèn, tôi đọc cho các bạn cùng tổ nghe. Bản thân mình thấy

    truyện cũng tàm tạm. Bao giờ chẳng thế, viết xong thì mệt nhưng

    lại vui thích, vì thấy bài mình viết… hay!. Một thời gian sau đọc lại

    thấy… chán!. Hôm trước viết Người cố nông ba đời đi ở, dựa theo báo

    cáo điển hình của chị Hoài. Tôi không thích lối văn kể chuyện chủ

    quan và đơn tuyến ấy. Và quá lệ thuộc vào sự thật. Truyện Ánh đèn

    vừa viết xong được xây dựng công phu hơn nên có lẽ đạt hơn. Đưa ra

    thử thách trước quần chúng, xem rồi viết theo lối nào sẽ được hoan

    nghênh?

    16-12-1953 Được nghỉ năm hôm.

    Anh em mừng rơn. Phố xá nườm nượp cán bộ. Trời rét nhưng nắng

    ráo. Tự nhiên vui hẳn lên. Trở về cơ quan, gặp anh em như gặp lại gia

    đình thân thuộc. Ai cũng vội vã về nhà. Mình không có nhà nhưng

    không vì thế mà kém vui. Mình về tòa báo. Chưa bao giờ thấy thân

    thương yêu các đồng chí cùng cơ quan đến thế.

    …Rút tập bản thảo Vụ án Hưng Yên ở Nguyễn Đức Thuyết về. Như

    vậy là không in được. Tập Thanh niên giết giặc giữ làng cũng xếp lại.

    Hẩm hiu quá. Ở nhà, đang chuẩn bị cho vụ án khác ở Thanh Hóa.

    Tiếc lúc này mình không làm việc ở tòa soạn. Từ lâu tôi có ý sưu tầm

    tài liệu để sau này kháng chiến thành công sẽ viết một loạt Những

    vụ án chính trị lớn trong kháng chiến. Cũng là để đánh dấu cuộc đời

    làm báo.

    Đọc bài Nhà văn và cuộc đời của I. Ehrenbourg đăng tạp chí Văn nghệ.

    Cũng góp phần giải quyết cho mình một số thắc mắc. Đỡ lo âu, sốt ruột

    hão huyền. Động cơ phục vụ của người cầm bút là gì, cần phải xác định

    lại luôn.

    Tôi lại suy nghĩ về cuốn Đất rừng. Khuyết điểm lớn nhất của nó là

    một tiểu thuyết viết về sản xuất và chiến đấu mà không nói lên được

    chính sách ruộng đất. Tôi đã không biết khai thác đoạn đầu, nhờ có

    cách mạng, dân mới có được đất rừng mà khai thác. Đã đành hồi 1945,

    chính sách ruộng đất chưa cụ thể, nhưng dù sao nó vẫn thuộc phạm

    vi những chủ trương, đường lối lớn, không thể thiếu.

    Sau đợt công tác này, có thời giờ, tôi sẽ sửa chữa.

    17-12-1953 Còn hai ngày nữa là kỷ niệm tám năm Ngày toàn quốc

    kháng chiến. Vẫn chưa phiên chế xong đội ngũ vì còn đợi đoàn từ

    Thanh Hóa vào. Như vậy có lẽ đến cuối tháng 3-1954 mới tổng kết

    được đợt này chăng.

    Rảnh rỗi, chiều nào tôi cũng ra suối tắm. Đã thấy cần một cuốn lịch

    con mới rồi. Một năm trời, thời gian có là bao. Tôi có cảm tưởng như

    mùi giấy mới, mùi mực in cuốn lịch năm 1953 trong túi áo vẫn còn

    thơm. Nhớ một đêm mùa đông năm ngoái, tại hiệu ăn Quế Hương, tôi

    và bạn cùng rọc cuốn lịch năm 1953 để tính xem Tết nguyên đán năm

    nay nhằm vào khoảng thời gian nào của dương lịch. Rọc xong, hai đứa

    chụm đầu xem chăm chú. Ngẩng lên, thấy các bàn chung quanh có

    nhiều khách, chúng tôi nhìn nhau cười. Tôi hỏi bạn, có biết người ta

    nghĩ như thế nào khi người ta thấy chúng mình cùng xem lịch năm

    mới không? Bạn cười, gật đầu. Không ai nói ra nhưng cùng hiểu ý

    nhau. Chắc người ta cho đôi nam nữ nay đang tìm chọn ngày cưới.

    Gần đây, lại cùng bạn vào hiệu Quế Hương ấy, tôi nhắc tới kỷ niệm cũ,

    hai đứa lại cười. Người thứ ba chắc khó hiểu nổi được sự giao du giữa

    chúng tôi.

    Có lần tôi ghi nhật ký: Nói chuyện với người thông minh có cái thú

    mình chưa nói hết câu, người ta đã hiểu. Không. Thông minh thôi

    chưa đủ. Cần có cả sự cảm thông nhau.

    Mấy ngày tới, còn phải nghiên cứu kế hoạch chuẩn bị đề phòng địch

    tiến công thu đông này, theo Chỉ thị của Trung ương.

    19-12-1953 Phiên chế đội ngũ xong rồi. Đội1 tôi nhiều tân binh quá.

    Trong số 33 người hiện diện, chỉ có tám là đã đi đợt 1 và đợt 2. Cán bộ cơ

    quan cũng nhiều. Bốn anh tốt nghiệp Trường Sư phạm cao cấp từ Trung

    Quốc mới về, một người khác từ Trường đào tạo dược sĩ cao cấp. Gặp lại

    một số bạn quen. Mấy đứa cùng sinh hoạt chung với nhau một tổ, cho

    nên cái không khí lém lỉnh tuổi học trò trở lại. Cũng vui mà cũng ngại.

    Loại lêu têu tiểu tư sản này dễ đồng cảm với nhau lắm. Lại kiêu căng

    nữa. Anh nào cũng thấy mình giỏi. Nhất là mấy anh chị em người Khu

    ba, mồm huyên thiên không bao giờ ngớt chuyện. Một cán bộ Hà Nội.

    Một chị xã đội phó người Hà Nam. Thành phần đủ loại.

    Mình có cảm giác các ông học ở nước ngoài về dường như hơi tự

    phụ với cái vốn tri thức họ học được bên Tàu. Một lần D. hỏi tôi về

    những cuốn tiểu thuyết nước ngoài vừa đọc gần đây, tôi cho những

    cuốn nào hay hơn cả? La moisson2? Honneur3? Tôi cười: “Cả hai cuốn

    của bà Nikolaeva và của ông Batirovkia tôi đều thích nhưng cũng thích

    vừa thôi. Chưa hẳn thật đặc sắc”. Các cậu ngạc nhiên: “Ra ở đây các anh

    cũng đọc được nhiều nhỉ”.

    Sáng nay trước khi đi hội ý với Đội trưởng, cậu C. đưa ra một tài liệu,

    bảo: “Các ông ở nhà nên phát thanh (?) cái tài liệu Đinh Linh4 này mà

    nghe. Bổ ích đấy”. Tôi hỏi: “Có phải bài bà ấy bàn vấn đề trí thức về

    xã không?” Các cậu lại ngạc nhiên: “Ở đây các anh cũng đã có cái ấy

    rồi sao?”

    Của đáng tội, các bạn ấy tự phụ hay là chính bản thân mình tự phụ?

    Kể ra cũng cần kiểm điểm chính mình trước. Lòi cái đuôi tiểu tư sản

    ra rồi.

    1 Đội phát động quần chúng giảm tô.

    2 Mùa gặt.

    3 Vinh dự.

    4 Đinh Linh (1904-1986) là nhà văn Trung Quốc. Năm 1951, tiểu thuyết Mặt trời

    chiếu trên sông Tang Can của bà viết về cải cách ruộng đất ở vùng Đông Bắc

    Trung Quốc đã được tặng giải thưởng văn học Stalin (BTV).

    20-12-1953 Học tập Chỉ thị của Trung ương “Chuẩn bị đập tan âm

    mưu của địch đánh ra vùng tự do”. Bài học cuối cùng. Và thật sự có nhiều

    điểm đáng ghi nhớ.

    1. Địch đang tăng quân số, đẩy mạnh chiến tranh, qua việc tăng gián

    điệp, cho biệt kích từ tàu biển vào, nhảy dù từ trên không xuống (một

    số nơi thuộc vùng tự do của ta).

    Địch có đủ quân số để vừa đối phó với các cuộc tấn công của quân ta

    trên mặt trận chính vừa đánh ra vùng tự do của ta. Mục đích: làm thiệt

    hại nhân, vật, lực của ta, chống phá cuộc phát động quần chúng nông

    dân đòi địa chủ giảm bớt địa tô mà bần, cố nông vẫn phải đóng từ trước

    tới nay.

    Nếu ta không chủ động gây nhiều thiệt hại cho các vụ biệt kích, nhảy

    dù của chúng ngay từ đầu, chúng có thể chiếm đóng một số điểm trong

    vùng tự do, và tiến hành nhiều cuộc hành binh lớn nữa như vừa qua tại

    Nho Quan, Ninh Bình.

    - Cần phải khắc phục tư tưởng cho rằng năm nào Trung ương cũng

    bảo chuẩn bị, chuẩn bị. Năm tới, tình hình có khác. Không được chủ

    quan. Mỹ rêu rao thắng lợi về việc đình chiến với Trung - Triều tại Triều

    Tiên, và nhờ thế rảnh tay, Mỹ có đủ lực để viện trợ quân sự nhiều hơn

    cho Pháp cả về không quân, pháo binh, thủy quân lục chiến.

    - Ta càng thắng to ở các mặt trận, địch càng tìm cách đánh phá hậu

    phương ta. Ta muốn mau tiến tới tổng phản công, càng phải ra sức

    củng cố hậu phương.

    Trọng điểm đánh phá của chúng: vùng tự do Thanh Nghệ Tĩnh, các

    tỉnh Phú Thọ - Thái Nguyên, vùng tự do Liên khu V.

    Tất cả đều nằm trong âm mưu, kế hoạch của địch giành chủ động

    với ta.

    2. Phương châm của ta: giữ thế chủ động, tiêu diệt các cuộc tấn công,

    biệt kích của địch, bảo vệ hậu phương.

    Việc bảo vệ hậu phương chủ yếu do hậu phương cáng đáng. Ta kiên

    quyết giữ quyền chủ động diệt địch, không vì chuyện địch tấn công vào

    vùng tự do của ta mà phân tán lực lượng. Do đó, không được ỷ lại vào

    quân chủ lực. Bảo vệ hậu phương trước hết là trách nhiệm của lực lượng

    vũ trang và nhân dân địa phương.

    - Cần tuyên truyền sâu rộng trong nội bộ Đảng và trong nhân dân,

    làm cho mọi người hiểu rõ âm mưu địch. Không chủ quan, cần đánh

    giá đúng lực lượng địch nhưng không vì thế mà hoang mang. Phải

    tin tưởng vào thực lực của mình, tin tưởng đường lối quân sự của

    Trung ương.

    - Đẩy mạnh việc xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích.

    - Mỗi địa phương cần có kế hoạch tác chiến cụ thể, Tỉnh ủy chịu

    trách nhiệm vạch ra và chỉ đạo thực hiện.

    - Có kế hoạch trừ gian, diệt phỉ, chủ động bảo vệ cầu đường.

    - Có kế hoạch bảo vệ nhân dân khi địch tấn công, như thả biệt kích

    từ trên không xuống hoặc đổ quân từ biển vào. Bảo vệ kho tàng, công

    xưởng, cơ quan, trường học.

    - Các đoàn phát động quần chúng giảm tô phải có kế hoạch đối phó.

    Khi địch đánh đến, chuyển hướng trọng tâm sang chiến đấu diệt địch.

    Địch rút lui, ta lại tiếp tục phát động quần chúng đòi giảm tô.

    - Tăng cường sự chỉ đạo thống nhất của các cấp ủy Đảng giữa Chi ủy

    xã và Đội phát động quần chúng giảm tô.

    23-12-1953 Các đội đồng loạt bắt tay vào việc sau mấy ngày chuẩn

    bị. Tôi được phân về Đội 14, phụ trách ba xã Nam Vân (xã trọng điểm),

    Nam Thanh, Diên Hồng thuộc huyện Nam Đàn - gọi tắt Đội Nam Vân.

    Hôm nay toàn Đội công tác Giảm tô họp lần đầu với Chi ủy ba xã Vân,

    Thanh, Hồng, nghe báo cáo tình hình chung.

    1. Tình hình đối tượng đấu tranh.

    Theo con số bước đầu do dịa phương cung cấp, thuộc địa bàn ba xã có

    22 địa chủ. Đầu sỏ là Ng. D. (người thôn Gia Mỹ), Tr. B. Tr. (người thôn

    Nhật Quang) ruộng đất không nhiều nhưng gian ác. Tr. Th. D. (người

    thôn Quy Chính).

    - Ng. D. thường xuyên phá hoại mùa màng, cứ tự do thả đàn trâu bò

    của hắn phá hoa màu của bà con tăng gia trên các vùng đồi. Thuế nông

    nghiệp năm đầu, dây dưa không chịu đóng. Đến vụ thuế năm 1952,

    lại phản ứng. Cho đàn bò ăn cả một tấn lúa hột. Nghe tin sắp phát

    động quần chúng, hắn chủ trương tự làm phá sản. Giam trâu bò trong

    chuồng, không cho đi ăn. Trâu nằm, phân ngập đến bụng không cho

    dọn. Có con chết đói trong chuồng.

    - Tr. B. Tr. Từ những năm 1930 - 1931, nó đã tham gia phản cách mạng.

    Nhiều lần vô cớ đánh đập, hành hạ nông dân. Giết chết một người ăn

    mày. Bắt cha con anh N.T., treo lên tra khảo cộng sản suốt mấy ngày,

    thả về nhà thì người cha chết. Nay tuyên truyền nhảm, phá thuế nông

    nghiệp, chống giảm tô, giảm tức. Đập một anh hàng quế què, cho gánh

    đưa ra giao huyện. Hay đặt thơ ca hò vè nói xấu cán bộ, du kích, liên kết

    bọn địa chủ tuyên truyền nhảm “Văn minh ăn đọi (bát) chậu, lạc hậu ăn

    đọi hoa, ăn hết mần không ra thì kêu gọi sản xuất, tiết kiệm”.

    - Phản động, côn đồ (nhưng không thuộc thành phần địa chủ) có Tr.,

    Đ., Ng., Kh.,... Từ lâu đã cấu kết với bọn địa chủ trong ba xã, lôi kéo mua

    chuộc cán bộ, chống tập đoàn (1949), phá thuế nông nghiệp (1951),

    kiên trì lôi kéo, vận động bà con không đóng thuế, chống giảm tô. B. H.

    là người nơi khác đến, lợi dụng nhân dịp Lễ Tạ ơn, tuyên truyền chống

    cách mạng ngay trong Nhà thờ. Nhiều lần răn đe con chiên “Không

    được làm tôi hai Chúa”...

    2. Tình hình nông dân.

    Nông hội có 1.1971 hội viên (731 bần nông, 192 cố nông, 312 trung

    nông, 36 phú nông... ). Nhìn chung tích cực tham gia đi dân công, tuyển

    tân binh, đóng thuế nông nghiệp. Chỉ có ba chòm (xóm) kém. Các chòm

    khá hơn cả là...

    Đời sống nông dân: Nói chung dân cày sống “tương đối đầy đủ”

    (người ghi sổ tay đóng ngoặc kép). Chỉ một số ít làm than củi, buôn

    thúng bán mẹt, không đi làm không có ăn (66 người).

    3. Tình hình Đảng.

    Đảng viên: 125 (113 nam, 13 nữ). Thành phố xuất thân gồm 38 bần

    nông, 14 cố nông, 1 công nhân tự do, 69 trung nông, 3 phú nông, 1 địa

    chủ, 6 người theo Công giáo.

    Nhìn chung, một phần ba đảng viên có tinh thần trách nhiệm, đã

    kinh qua cấp ủy, đấu tranh chính trị; một phần ba có uy tín trong nhân

    dân, một phần ba uể oải, nặng việc gia đình.

    Ba xã có 1. 393 giáo dân. Thôn Q. hoàn toàn Công giáo. Thôn N. 2/3

    giáo, 1/3 lương. Cha xứ là người nơi khác đến. Có 14 địa chủ là người

    theo đạo (... )

    23-12-1953 Tại Đội 14 Nam Vân, tôi được phân công làm Văn phòng

    Đội. Nhà báo Liên khu, không văn hay chữ tốt thì trình độ ít ra cũng

    phải khá hơn bần cố nông. “Làm văn phòng là phải”. Ừ thì làm. Tha hồ

    nghe điện thoại, nắm tình hình các tổ, tổng hợp báo cáo Đoàn ủy... Lụi

    cụi cả ngày. Lúc đầu cũng hơi bực, nhưng tự đả thông: đã về với nông

    dân, làm việc gì chẳng là phục vụ quần chúng nhân dân.

    24-12-1953 Bắt rễ, xâu chuỗi.

    (Tối) Ông Văn phòng cũng có trách nhiệm “bắt rễ, xâu chuỗi” như

    bất kỳ đội viên nào. Đã được nghe bao nhiêu là báo cáo điển hình trong

    mấy tháng chỉnh huấn rồi. Lần này tự mình bắt tay vào làm xem sao!

    Tôi lần đến nhà Cu Lan trước hết. Là nhà bà mẹ nấu cơm cho ăn tối

    hôm qua. Do Chi ủy địa phương giới thiệu. Ở cạnh nhà Chắt Tâm, cũng

    là cố nông. Nếu được thì đặt Văn phòng Đội luôn nơi đây. Phải giải

    quyết gấp việc tìm cho ra địa điểm đặt Văn phòng để bắt điện thoại nội

    trong ngày hôm nay.

    Mẹ đang ngồi bên bếp. Tôi ngồi xuống cạnh, bắt chuyện. Anh Cu đi

    cày trên trại thuộc làng gia Mỹ, vùng đồi, tối ở lại không về. Nhà có trại,

    có bò trên ấy. Vỡ được hơn một mẫu đất đồi, đóng thuế 2 tạ 6. Mẹ có ông

    anh trai năm nay 73 tuổi, thời trước có làm Lý cựu (cựu Lý trưởng). Anh

    Lan hồi lên 18 tuổi nhà cho đi lo trị sự tốn hết 70 quan, để đêm đêm

    khỏi phải đi canh điếm (có mặt tại điếm canh). Chị Cu buôn vặt ở chợ,

    thu nhập cũng nhì nhằng.

    Đang nghe mẹ kể chuyện, chợt có mấy người vào. Một lúc sau đông

    hơn. Mới biết thì ra ông Cu Lan này là Chi ủy viên, nhà anh là nơi chi bộ

    họp thường xuyên. Thế mà Chi ủy giới thiệu cho mình đến bắt rễ. Bắt rễ

    ông chi ủy. Không được rồi! Không thể dựa vào tổ chức có sẵn. Làm thế

    sao gọi phát động quần chúng? Bần cố nông lại thấy vẫn y nguyên mấy

    vị lãnh đạo ấy, thì người dân còn ai dám nói gì khác ý các ông.

    Tự mình phải tìm nhà khác thôi!

    Sang nhà Chắt Tâm, bắt chuyện chị vợ, tên là chị Đà. Hỏi, chị có thể

    giới thiệu cho biết ai là bần, cố nông nghèo khổ nhất chòm mình? -

    “Tui là khổ nhất, đây không còn có ai khổ cực hơn tui”.

    Tôi mang ba lô, định sang tiếp nhà Hoành. Nửa đường gặp Khuyển

    Nhu, theo dự kiến anh này cũng có thể là đối tượng bắt rễ, xâu chuỗi.

    Anh vừa dẫn anh Đại cán bộ Đội đến chỗ công an, đang trên đường

    trở về nhà. Tôi theo Nhu. Nhu nói, sẽ đưa anh cán bộ đội tới nhà cháu

    anh, tên thật là Đích. “Thằng nớ khổ nghèo nhất chòm ni”.

    Đêm đông tối mịt. Lại rét. Anh Nhu tìm cây đuốc đốt lên, dẫn tôi ra

    đường, hai anh em lọ mọ trong đêm, sang nhà Đích.

    Tới trước nhà, gọi mãi không có người thưa. Nhu bảo, mình cứ vô

    trong. “Ngủ chi ngủ sớm rứa!”. Căn nhà ngoài trống không. Độc một cái

    bàn thờ. Không có bàn, không có ghế, không có giường. Chẳng biết ngồi

    ghé vào đâu. Tôi đặt luôn cái ba lô xuống đất.

    Anh Đích từ gian nhà trong, cũng là gian bếp, nghe có tiếng người,

    bước ra. Hết sức ngạc nhiên: Có chuyện chi bất thường?

    Tôi bước xuống gian bếp. Có hai tấm ván kê sát đất, Đích và đứa con

    lên bốn hồi nãy nằm ngủ ở đấy. Cái bếp có vách đất đắp bốn chung

    quanh, phòng cháy. Lại có một tấm phản rộng chừng năm tấc, trên đặt

    chiếc chiếu rách, ở bên cạnh. Tôi quyết định ở lại nhà này. Nhìn quanh,

    xem ngủ chỗ nào bây giờ? Ngỏ ý với chủ nhà: “Anh Đích cứ đi ngủ lại

    đi, sáng mai dậy ta trò chuyện. Chừ quá khuya rồi”.

    Chủ nhà hiểu ý, chạy vội ra ngoài mang vô một tấm ván, kê sát bên

    cạnh tấm ván kia, phủi phủi bụi trên mặt, rồi lật rộng chiếc chiếu. Hai

    tấm ván kê kề nhau. Vậy là còn rộng hơn cái giường cá nhân chiều

    ngang tiêu chuẩn 80cm ở cơ quan! Quá tốt rồi, tôi tự động viên.

    Bếp nấu bằng lá sim khô, chặt trên đồi. Chắc cành sim chụm (đốt) hết

    rồi, giờ chỉ còn có lá mà thôi.

    Nói chuyện với tôi, anh luôn miệng gọi cậu và xưng con. “Con mời cậu

    hút thuốc”. Nghe ngồ ngộ. Tôi bảo, anh em mình chuyện trò với nhau

    tự nhiên, đừng xưng hô cách ấy, cứ gọi tôi là anh như bình thường. Anh

    dạ, nghe theo, nhưng lại quên ngay: “Cậu này... à, anh này... ”. Trời rét

    thế, anh chỉ mặc độc một tấm áo trên người, đã rách chỗ cùi tay. Quần

    cụt. Bốn mùa xuân hạ thu đông vẫn chiếc quần cụt này. Hai cẳng da thô

    như cây vủi. Còn có một tấm khăn lấm lem, bắt đầu xơ, chắc dùng cho

    mọi việc, quấn hờ quanh cổ. “Quen rồi”. Anh nói vậy, nhưng hễ được

    rảnh một chút lại xuống ngồi co ro bên bếp, cho thêm vào bếp nắm lá

    sim khô cho đỡ rét.

    Anh sờ soạng quanh bếp, lấy ra cái ống điều thuốc lào, châm rít một

    hơi dài, nhả hết khói và bắt ho sặc sụa...

    Anh chuyên cày thuê bên Gia Mỹ. Trước năm 1945, chỉ có một vạt

    ruộng, mỗi năm cắt về được chừng năm gánh lúa. Cách mạng cấp thêm

    cho tám thước. Cái vườn nhà ni là đất thuê của phú nông, trước trả

    mỗi năm hai thúng ló (lúa). Kỳ giảm tô đầu, bớt đi được một nửa, nay

    chỉ phải nộp một thúng thôi. Năm ngoái, nghe tin sắp phát động quần

    chúng giảm tô, hắn kêu tôi đến, nói cho không tôi cái vườn. “Cho ngoài

    miệng thôi, không biết người ta có thật lòng cho mình hay không”. Giá

    nó cho mình từ trước, thì chừ mình nói, đó thiệt là của mình. Chứ cho

    ngoài miệng như rứa, đến khi kể khổ, thì tôi biết nói cái vườn này là của

    tôi hay vẫn của ông Thừa?

    Anh Địch hễ mở miệng là gọi người chủ cho anh thuê mấy thước đất

    làm vườn ở tạm là ông Thừa. Ruộng ông Thừa. Vườn ông Thừa. Đất ông

    Thừa. Ông Thừa đòi. Ông Thừa cho.

    Thừa là tên thật người phú nông hay là ông ta trước có làm thừa phái?

    26-12-1953 Cán bộ bần cố nông.

    - Trần Như Độ, Chủ tịch xã Nam Thanh

    Người cao. Răng đen. 45 tuổi. Con một ông thợ rèn. Cha chết khi mới

    lên mười. Cha thuê thợ bạn, người bên Thanh Chương sang cùng làm

    nghề. Thợ đau thương hàn chết. Hào lý không cho chôn. Bắt về Thanh

    Chương trình báo. Đòi tiền. Nhà không có đồng nào. Cái xác chết để

    trong nhà bảy ngày, trương lên, một hôm nổ phình tung tóe máu đờm

    khắp nhà. Cha khiếp quá, phát ngây (phát dại) hai năm sau thì mất.

    Nhà có bốn anh em. Người anh đi rèn thuê. Mẹ con đói, bồng nhau đi

    xin ở đợ. Mẹ đành cho anh Độ đi ở, làm không công cho chủ suốt tám

    năm, đến 18 tuổi mới trở về nhà.

    Năm 1930, anh có tham gia phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Vào đội

    tự vệ. Được phát cho hai quyển vở giấy trắng để học chữ nhưng chưa

    kịp học buổi nào.

    Biểu tình. Bảy giờ tối tập trung. Cơm đùm cơm bới. Kéo lên đến Duy

    Tân (thôn Duy Tân?) thì sáng. Người tụ tập rất đông. Cờ đỏ búa liềm

    nhiều. Sáng ra, máy bay nó bay lượn trên đầu. Đoàn biểu tình kéo sang

    chợ Lườn. Tây cho lính ra bắn. Lúc đầu tưởng nó bắn đạn giả. Ai ngờ

    đạn thật. Chết một thanh niên. Bị thương ba người. Ta vội nhào lui. Kéo

    về truông Cồn Đại, máy bay nó đến thả ba quả bom, chết ba người dân

    đi cỏ về, vừa lúc ngang qua truông.

    Một đêm Tổ 9 họp. Độ được giao việc gác ngoài đường. Một thằng

    Tây và bốn thằng lính kéo đến. Tự vệ mình chạy về báo. Thấy động, hội

    nghị giải tán. Bọn lính bắt bốn thanh niên vừa đi chơi gái về trong đêm.

    Sau hỏi, mấy tay này không biết gì, cho tha. Thấy thằng Tây làm dữ quá,

    Độ không tham gia (phong trào) nữa.

    Cách mạng tháng Tám, anh đã 37 tuổi. Nghĩ mình nay là nông dân

    rồi, không phải đi học chữ. Năm 1947 mới được trên đi học lớp học tập

    trung mấy tháng, nhận bằng sơ cấp.

    [Độ] vào Đảng tháng 5-1945. Làm Nông hội xã. Mới làm Chủ tịch Ủy

    ban từ năm 1952 sau lần tham gia tố khổ, đấu tranh đòi tay địa chủ C.

    giảm tô cho nông dân. Hắn có đến mấy chục mẫu ruộng, phát canh thu

    tô mà cứ một hai chỉ nhận mình chỉ là trung nông thôi...

    Anh Độ ăn nói từ tốn. Cái gì cũng “Thưa các đồng chí... Bây giờ thì,

    thưa các đồng chí, tôi xin... Thưa các đồng chí chứ, tôi nghĩ mình văn

    hóa không có, chừ Đảng giao cho làm thì không làm răng được... ”.

    Nhà nghèo. Đẻ tám con, chết năm, còn ba. Đứa con đầu (trong số

    còn sống) mới lên mười. Lúc được bầu vào Ủy ban, [anh] về cảm thông

    với vợ. Chị đang nấu bếp. “Mình chừ có lẽ phải vô làm chính quyền,

    trên giao thì phải nhận thôi, làm cả ngày, không được bữa làm (công

    tác) bữa đi sản xuất như trước nữa. Làm việc của dân, chẳng có lương

    bổng chi mô, nhưng dân có cho mỗi tháng ba chục lô ló (30 kg thóc)

    để ăn mà làm việc cho dân...

    Định dò ý vợ. Chị không nói gì. Mấy hôm sau, [chị] bàn với chồng: “Đi

    thì đi, nhưng nhà có mấy miếng ruộng lâu nay mình tự làm. Nay thuê

    người thì tiền đâu mà thuê. Mà có tiền cũng không thuê ai được. Thôi,

    nhà có con bò, ta giao cho chú em nó cày xắp (?) rồi cùng cày luôn cả

    ruộng cho mình... ”. Thế là ổn.

    Chị Độ dặn con: Cán bộ vào nhà, phải chào bằng bác. Lo việc cơm

    nước. Các bác cần ăn cơm, ta phải nấu, cứ nói thiệt “có chi ăn nấy”.

    Bà chị gái nghe anh Độ làm Chủ tịch Ủy ban, không tin, đến hỏi. Độ

    cười: “Chừ bần cố nông không có chữ cũng phải làm chính quyền”. Chị

    hỏi: “Thế trên có cho áo quần tiền bạc chi không?” Người chị gái và ông

    anh ruột Độ đều nghèo, hai chị em chung tiền may cho Độ cái áo mới,

    áo sơ mi, bằng sồi, dùng sau một thời gian nhớp quá mang nhuộm nâu,

    nay vẫn là bộ đang mặc trên người đó.

    - Hoàng Đình Miễn, Chủ tịch xã Diên Hồng

    Miễn khác hẳn Độ. Tiếng nói như sấm. Tính nóng. Lúc phát biểu,

    mắt long lên trừng trừng nhìn về một phía, trên trán, hai đầu lông

    mày nhíu lại. Lần nào cũng bắt đầu bằng câu: “Tôi xin có ý kiến rằng

    là... , rằng là... ” Giọng oang oang. Nhưng biết nhấn mạnh rõ ràng từng

    điểm một, hai: “Thằng địa chủ mình tố sai thành phần, thì mình phải

    sửa, cho người ta xuống chứ (xuống thành phần khác, không quy kết

    địa chủ nữa).

    Lúc mới được phân công làm Chủ tịch xã, anh thiếu tự tin. Ít lâu sau,

    quen việc dần. Về nhà, vợ hỏi: “Rứa chứ nhà lên xã làm việc chi trên

    nớ?”. Miễn cười: “Chi mô. Tau lên xã, đi chỗ ni hút điếu thuốc, qua chỗ

    tê hút điếu thuốc, vừa tối ngày”.

    - Chị Quế, Hội Phụ nữ (... )

    27-12-1953 Thư địa chủ.

    Các đối tượng đấu tranh

    (địa chủ) cũng có một số

    người sắc sảo ra phết. Như

    V. Đ. C. Nghe nói trước đi

    dạy học, khai mình từng là

    đảng viên Đảng dân chủ. C.

    làm đơn kêu: Đội quy kết tôi

    thành phần địa chủ là chưa

    sát. Phân tích rạch ròi ba

    điểm: 1/ Về diện tích ruộng

    là đất chiếm hữu, y có tổng

    số diện tích bao nhiêu, 2/

    Số người trong gia đình, lao

    động chính, lao động phụ,

    những người ăn theo - tức

    là phải nuôi, phải dạy - tổng

    cộng nhà bao nhiêu miệng

    ăn. 3/ Từ đó trình bày mức sống gia đình. Rồi đi tới kết luận “... Xin Tòa

    án nhân dân đặc biệt xét lại cho, để có lợi cho công cuộc kháng chiến

    là thêm bạn bớt thù... ”.

    - Như Tr. B. T. (Nhật Quang): “Quy tôi thuộc thành phần địa chủ

    với mấy chục mẫu ruộng chiếm hữu là phải, nhưng trong số ruộng đó,

    phần lớn là của cha ông để lại, tôi chỉ mua thêm có mấy mẫu nữa thôi,

    như vậy cộng lại, quy thành địa chủ là đúng, tuy nhiên thành phần

    chúng tôi là thành phần gia truyền chứ không phải tự tay chúng tôi tạo

    nên thành phần ấy... ”.

    - Tr. Đ. H. (Đồng Giao) phân trần: “Đội cũng thừa hiểu tôi là một tên

    cường hào đáng khinh dễ. Hai mươi mốt năm kế tiếp làm lý trưởng, phó

    tổng sang chánh tổng, làm tay sai cho thực dân và phong kiến. Kiểm

    điểm lại bản thân, tôi có nhiều tội lỗi, tỏ ra hèn mọn... Bên cạnh những

    tội lỗi của tôi, tôi xin phép nói thêm để chứng tỏ lương tâm tôi vô sự... ”

    - Tr. B. Tr. Sau lá đơn nhận tội ác và xin“đầu hàng” Tr. hô khẩu hiệu:

    “Hoan nghênh Sắc lệnh trừng trị những địa chủ không tuân theo pháp

    luật. Hoan nghênh toàn thể nhân dân và đồng chí Nông hội và Đội phát

    động Liên khu sáng suốt, công bằng và hợp lý!”.

    28-12-1952 Anh H. con địa chủ, mang thư của cha đang tập trung

    học tập, cải tạo gửi về thăm gia đình, đến trình Đội công tác. Đọc xong,

    tôi bảo chờ. Để tôi lúi húi chép luôn vào sổ tay của mình.

    VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

    Độc lập, Tự do, Hạnh phúc

    Viết thư gửi với gia đình

    Tên là Nguyễn Như Chương ở chòm Hồng Nhiệm xã Nam Vân có mấy

    lời gửi về hỏi thăm và báo cáo với trong gia đình, tiếp được giấy khoan

    hồng của Chính phủ, tau được đi học lấy mừng (mà mừng). Khi tau ra đi

    ba đứa con lên trưởi (sởi), bây giờ các con đã ăn nhởi1 chưa, chị con Cháu

    và dì Hậu, anh Lâm có mạnh khoẻ không, và anh có còn ở giúp làm cho

    nữa không. Còn phần tau ra đi, hai đêm đầu bị sốt rét và trong lòng có ý

    lo sợ, còn khi tới đến trường vào học, nghe lời của giảng viên nói rõ mục

    đích của Chính phủ, những người địa chủ và cường hào gian ác ai được

    sự khoan hồng của Chính phủ mới được đi học, bản thân tau lấy làm

    mừng rỡ lắm, nghe giảng viên nói rõ và được học bài một, bài hai, bài

    ba, địa chủ và cường hào gian ác bóc lột anh em nông dân thiệt thậm

    tệ, những người được (trên) cho đi học được thấm nhuần chủ trương,

    chính sách của Chính phủ, thú nhận lỗi, thú tội lỗi của mình phạm đến

    nông dân, chất nhất là phải giảm tô và thoái tô cho nông dân.

    Bản thân của tau phải trả nợ máu cho anh em nông dân và phải trả

    lúa công cho hai người làm rẽ. Giảm tô thì (đã) giảm đủ rồi, chỉ thiếu

    lúa công còn nợ anh Tăng, anh Điều và anh Liên. Chị mày (vợ) ở nhà phải

    nói với bác Lương lo cho tau với, để tau được về mau. Còn bao nhiêu lúa

    trong bồ nậy (bồ to), độ năm yến, và lúa nếp trong chum sáu yến, gánh

    1 Chơi đùa.

    lên Nông hội mà cân, còn thiếu nữa thì bán hai con lợn đi, đương thiếu

    (vẫn thiếu) thì nhủ anh Lân đưa người vào trại mà bán mấy hàng mía đi

    mà đong cho đủ thì tau mới được về. Khi nào viết thư gửi lên thì mượn

    anh Ba viết thư cho rõ ràng mà gửi lên, phải đem ra Ủy ban mà nhờ gửi.

    Vậy có mấy lời gửi vô cho chị con (mẹ con) ở nhà được mạnh khỏe và

    chăm nuôi lấy con được ăn chơi cho thường, và nói Khuyên với anh Lân

    chăm sóc tăng gia sản xuất cho chu đáo.

    Nay thì báo cáo cho biết mà mừng, đừng quan ngại chi cả.

    Ngày 23-12-1953

    Chồng Nguyễn Như Chương ký

    Chép xong bức thư vào sổ tay, tôi đưa trả lại bản chính cho người con

    trai còn tuổi học trò đang đứng bần thần chờ đợi:

    - Tốt lắm rồi. Được như thế này là tốt lắm rồi. Chắc chẳng còn lâu la

    chi nữa, ông nhà mình biết ăn năn hối cải, sẽ được trên cho về sớm thôi.

    Về nhà lo chí thú làm ăn, nghe!

    Dặn thêm: Lúc nào gia đình gửi thư cho người đang học tập cải tạo,

    cần mang ra xin Ủy ban xã chứng nhận là ông đã nộp tô, thoái tô đầy đủ

    số còn nợ của bần cố nông, đưa tới đây Đội chứng thực thêm cho, sau

    đó gửi lên Lớp học tập thì ông nhà mình càng sớm được về, nhớ nghe!

    TRỜI THU HÀ NỘI

    1954

    01-01-1954 Ngày đầu năm mới. Ghi gì về năm mới đây?

    Băn khoăn về sáng tác.

    Trăn trở về tương lai.

    Tiếc những ngày đã qua, vô vị. Mình trẻ mà có ý nghĩ rất già.

    Nhớ nhà. Thương cậu. Giữa bao nhiêu bận rộn thoáng một phút nhớ

    nhà. Nhớ bạn. Nhớ những ngày ở cơ quan. Dù sao ở đấy cũng hơn ở đây

    là có đông anh em, có cái thú đọc sách, có sách để đọc.

    03-01-1954 Tôi thực hiện “ba cùng” với bần cố nông. Ăn mặc cẩu

    thả, nghèo khổ. Nhưng vẫn chưa thể gọi là hòa đồng. Anh rể T. của tôi

    có lần hỏi: “Anh thành phần trung nông hay phú nông?” Nghe tôi trả

    lời, anh tiếp: “Ừ, ngó bộ anh không phải là con người làm lụng”.

    Tôi đi ra phố Nam Đàn, ăn mặc trễ tràng, lúc đầu cũng hơi ngượng.

    Nhưng đấu tranh bản thân, mặc kệ nó. Đủ biết tư tưởng mình vẫn chưa

    thông suốt lắm. Gặp anh Tr. quen nhau hồi ở Thuận Hóa, hồi ấy anh

    làm thị đội trưởng, Tr. Nói:“Anh dạo này trông cằn cỗi quá”. Thật thế

    ư? Tự dưng Tr. báo tin cho tôi biết cô L. đã trở vào thành. Ý chừng anh

    tưởng tôi yêu L. Có thể là L. có cảm tình với tôi, chứ tôi thì tuyệt nhiên

    không hề có ý tứ gì. Hồi đó mình còn mơ màng lắm, có bao giờ nghĩ đến

    chuyện tình cảm yêu đương đâu.

    15-01-1954 Hôm nay lại nghe tin chiến thắng mặt trận Trung Lào.

    Sau lần diệt 2.200 tên địch trận trước, lần này ta lại tiêu diệt luôn một

    lúc bốn đại đội địch cách Savannakhet chừng 70 cây số về phía đông

    bắc. Khiến mình nhớ những ngày chiến dịch Thượng Lào.

    Tình hình thu đông năm nay khá căng thẳng. Tiền tuyến chiến

    thắng càng to, hậu phương càng chuẩn bị gắt. Khác với những năm

    trước, sau khi mình chủ động mở chiến dịch rồi là yên chí, địch

    không tấn công vào vùng tự do được nữa đâu mà lo. Năm nay, ngược

    lại. Mấy hôm nay, máy bay địch lượn luôn. Ngoài biển, tàu thủy lại

    qua, thả gián điệp, tung biệt kích vào bờ. Thả dù com măng đô. Hôm

    kia, Đoàn ủy thông báo cho tôi qua điện thoại, bảo Đội Nam Vân nên

    bố trí công an xã phối hợp với công an xã Nhân Mỹ vây bắt bọn gián

    điệp ở Truông Bồn. Các em nhi đồng thôn Quy Chính báo có gặp hai

    tên lạ mặt có mang súng. Đội chúng tôi ở vào vùng tương đối xung

    yếu, trên đường tỉnh lộ số 4 từ Vinh lên Nam Đàn. Liên khu ủy nhận

    định, nếu địch đánh vào Nghệ An, thế nào chúng cũng cố chiếm thị

    trấn Nam Đàn. Đoàn ủy nhân thể, lại giục luôn việc bố trí kế hoạch

    tác chiến. Tết nhất năm nay thế nào? Lại bố phòng. Lại chuẩn bị.

    Đề phòng bọn chúng thừa dịp Tết mà quấy rối. Còn nhớ năm kia

    (1952) đúng sáng mùng một Tết chúng nó ném bom xuống thị trấn

    Đô Lương1. Năm nay Tết đến vào lúc các nơi vừa đấu tranh với địa

    chủ xong, hoặc là đang giữa cuộc đấu tranh. Nhất định chúng hoạt

    động mạnh. Nhưng chúng có làm gì đi nữa cũng chẳng ngăn cản

    được dân ta vui Tết.

    1 Sau trận bom ấy, chính quyền ta chủ trương phân tán dân cư thị trấn, lập nên

    Phố Mới Đô Lương trên mạn đồi.

    19-01-1954 Ghé về Đô Lương vào dịp tuần lễ hữu nghị Việt - Trung

    - Xô. Vội vàng. Cái thú vui của vội vàng, bận rộn. Đi xem Khu triển

    lãm rộng tới 22 phòng về đoàn kết Việt - Trung - Xô, “cỡi ngựa xem

    hoa”. Gặp Trần Hữu Thung từ Đội giảm tô xã Vĩnh Tường về. Hôm nay

    tổ chức Lễ trao Huy chương Giải thưởng thơ ở Đại hội Bucharest cho

    Thung đây.

    Gặp cô H.. Lúc đầu, tôi nói với anh L.: Tôi phải cảnh giác với cô này.

    Rồi tôi đi sâu nghiên cứu. Nhưng tôi có cảnh giác thật không? Hình

    như người tôi có một thứ charme1 nào đó chăng, khiến các cô cứ tìm

    đến với mình?

    Gặp anh Trần Anh Liên, Thư ký Công đoàn Liên khu vừa đi dự Đại

    hội Công đoàn Thế giới ở Viên về. Kéo nhau ra hiệu cà phê Bình Minh.

    Chuyện Liên Xô. Chuyện Trung Quốc. Chuyện tư bản. Trở về nhà còn

    trò chuyện với nhau mãi đến khuya, dù biết rằng ngày mai anh Đinh

    Nho Khôi và cả tôi nữa đều phải đi sớm. Anh Liên nhấn mạnh hai điểm:

    một, (ra nước ngoài càng) thấy mình quá dốt, và hai, nhất định phải

    biết một trong hai ngoại ngữ: Nga hoặc bạch thoại Trung Quốc (thì mới

    làm công tác quốc tế được). Biết tiếng Tây thôi không đủ2.

    Bạn bè xa xôi mà thân thuộc. Nghe anh Liên kể chuyện phương xa,

    tôi nghĩ đến một đề tài có thể thể hiện bằng thơ: Liên Xô, Trung Quốc,

    ta chưa hề nhìn thấy tận mắt, sờ tận tay, thế mà như ta vẫn gặp gỡ hằng

    ngày, tình cảm đoàn kết, hữu nghị hình như đã đi vào tình cảm và lý trí

    nhiều người chúng ta.

    23-01-1954 Họp Tuyên huấn Đoàn giảm tô ở xã Hưng Khánh.

    Bùi Hiển cho biết anh ghi chép được khá nhiều. Anh làm phích ghi

    chép cho từng nhân vật một. Ông Hiển cẩn thận thật. Mình búi quá.

    Mải làm ông văn phòng, có ghi chép được gì đâu. Lo. Liệu mình có

    thành công (trong việc viết lách) không? Mình có làm được việc không?

    1 Vẻ dễ ưa (BTV).

    2 Hòa bình lập lại, ông Trần Anh Liên về Hà Nội, được bầu làm Phó Bí thư Thành ủy.

    Chắc có thể làm được nhưng có gì buồn bằng sáng tác văn học mà chỉ

    làm ra toàn cái tầm thường.

    Ghé thăm chị Tùng Nương vợ anh Hoàng Yến. Lại có bầu. Sắp đứa

    con thứ tư. Mấy đứa em gái của chị lớn nhanh như thổi. Chúng nó chịu

    khó làm lụng, gánh nước, trông cũng hay hay.

    25-01-1954 Đại hội nông dân chòm. Tôi ngồi đây dự hội nghị, bên

    ngoài trống cổ động inh ỏi (... )

    01-02-1954 Chợ Tết Nam Đàn. Hôm nay, hai mươi chín Tết (tháng

    chạp này thiếu, nói hai mươi tám Tết mới đúng). Tôi giở nhật ký ra đọc,

    nhìn lại những ngày quá khứ. Mấy cái Tết kháng chiến rồi. Nhớ một câu

    trong bài báo của một nhà văn Xô Viết không biết đọc lúc nào: “Chúng

    ta ai cũng có những ngày kỷ niệm trọng đại hơn, có ý nghĩa hơn trong

    cuộc đời, tuy nhiên Tết năm mới dù sao vẫn có cái ý nghĩa riêng của nó,

    nó gợi lên trong lòng ta những điều rạo rực”.

    Chiều nay, đi chợ Tết Nam Đàn. Trước khi đi tham gia công tác phát

    động quần chúng giảm tô, tôi không nghĩ mình có thể có những lúc

    rảnh rỗi để lượn phất phơ thế này. Chợ vui - vui như chợ Tết, tấp nập.

    Số người lượn lờ chẳng mua bán gì như tôi không có mấy. Vợ chồng nhà

    Việt Hưng mấy hôm đắt hàng, cười tươi như hoa.

    Huyện Nam Đàn phiên chợ Tết có nhiều cô gái mười bảy, mười tám

    xinh tệ.

    02-02-1954 Đêm ba mươi Tết.

    Chiều nay sau bữa cơm liên hoan, tiễn mấy đồng chí được điều đi tiếp,

    sau công tác giảm tô làm tiếp cải cách ruộng đất, tôi lại lang thang ra

    phố Nam Đàn. Xong việc Đội, “hoàn thành đầy đủ mọi công việc được phân

    công”, tôi đã được phép trở về tòa soạn “ăn Tết” với công việc của mình.

    Đường phố chiều cuối năm thưa thớt người bán, mua. Phiên chợ Tết

    chính là phiên họp ngày hai mươi chín. Chứ sang ngày ba mươi, thì ai

    nấy đã về nhà lo chuyện nhà rồi. Trời hôm nay lại bỗng dưng trở gió hiu

    hiu, xui mình cũng thẩn thờ. Giữa ngã ba phố, chợt trông thấy một người

    con gái vóc nhỏ bé, dáng quen quen, mặc áo quần đen, vai mang ba lô,

    tay xách cái túi đựng một chiếc bánh chưng chắc mới mua đâu ngoài

    chợ, một gói kẹo và mấy thứ gì nữa bọc trong chiếc khăn mùi soa trông

    như những quả trứng gà. Chắc là Tết của chị ấy có chừng nấy. Dáng thật

    quen. Ai thế nhỉ? H.? Chúng tôi nhìn nhau, ngờ ngợ. A, chị Tịnh! Tôi

    bước nhanh tới: “Tịnh?” Người con gái ngập ngừng: “Có phải anh là anh

    Tùng?”. Tôi hỏi dồn: “Tịnh phải không?”. Mừng rỡ. Bốn năm rồi không

    gặp lại cô Tịnh nhỏ con. Tịnh cho biết mình vẫn công tác ở Văn công Sư

    đoàn 325. Cơ quan chị đóng cũng gần đây thôi. Bây giờ Tịnhđang đợi một

    anh bạn tiện đường đèo xe đạp đưa về giúp nơi đơn vị chị đóng quân.

    Gặp Tịnh, tôi như gặp lại một thời quá khứ. Những ngày ở Nam Thừa

    Thiên mùa đông 1949, khi tôi từ Nghệ An trở lại chiến trường Bình

    Trị Thiên làm phóng viên mặt trận. Xã Thanh Thủy Chánh. Cầu ngói

    Thanh Toàn, Xuân Hòa, An Cựu... Tịnh nói: “Đi đường, tự nhiên Tịnh

    thầm ước mong được gặp lại anh Tùng. Thế mà gặp anh, lại không nhận

    ra. Dạo này anh lớn quá, mà gầy đi”. Cùng nhắc đến chuyện L. trở vào

    Huế. Thương cho Tịnh quá. Cuộc đời Tịnh quá nhiều bi thương. Cha

    chết. Chồng chưa cưới bị bắt. Nhưng Tịnh đã kinh qua chỉnh quân, xem

    chừng giờ cũng rắn rỏi hơn xưa. T. xưng tôi khi trò chuyện, chứ không

    xưng em như ngày trước. Tịnh đã nhiều lần phàn nàn với tôi về chuyện

    trời sinh chi cái tầm vóc quá bé nhỏ của mình. Hôm nay Tịnh lại nói:

    “Chỉ có tôi là không lớn lên thôi”.

    Bắt tay từ biệt. Tịnh đi. Mình lại thẫn thờ. Chiều ba mươi Tết. Bâng

    khuâng nhiều quá. Vào thăm bác Tiêm, giao thông viên của cơ quan

    đang ốm, nằm chèo queo một mình trong căn nhà lụp xụp, chung

    quanh chỉ có mấy tấm phên chắn gió. Buồn quá. Tôi tự nhủ: “Nếu mình

    đau ốm vào dịp Tết này thì buồn biết bao nhiêu”. Tự nhiên thấy thương

    bác Tiêm lạ. Nhưng chẳng biết phải làm gì giúp đỡ. Tôi hỏi: “Bác có cần

    gì không?” Bác lắc đầu. Bác Tiêm hồi trẻ đi làm “lính thợ” bên Tây, trở

    về quá lớn tuổi, không lập gia đình, nay sống cô đơn.

    Trở về “nhà mình” lúc chập tối. Bà chủ nhà đang trông nồi bánh

    chưng. Mệt vì đi bộ nhiều. Lại hơi bị sổ mũi từ sáng. Nằm thừ người.

    Nghĩ vẩn vơ. Trở lại quá khứ. Điểm lại những cái Tết đã qua. Thấy cộm

    lên toàn những nét buồn. Có lẽ vì nó buồn cho nên nhớ kỹ và nhớ dai.

    Không nhớ chính xác Tết năm nào, rét và vắng - ờ nhỉ, Tết ở làng quê

    tôi sao mà lúc nào cũng vắng vẻ thế. Tôi ngồi đọc tập báo Tết mới mua.

    Ngày Tết đối với tôi có thêm ý nghĩa là nhờ có những số báo đặc biệt,

    số Tết, số Xuân, Giai phẩm.... Còn nhớ mấy thơ của Nguyễn Bính - hay

    của Trần Huyền Trân nhỉ - không rõ đăng báo nào.:

    Ngồi xếp bằng tròn trong ải lạnh,

    Nửa đêm trừ tịch bỗng dưng sầu...

    Làm gì có biên ải ở đây, ta đã làm gì sai sót đâu mà phải “sầu”?

    Tết 1945, tôi ngồi một mình đọc lại cuốn Thi nhân Việt Nam. Quan

    hệ Nhật - Pháp, tình hình chiến tranh đang dữ dội lắm. Tôi đọc thơ,

    thưởng thức lời bình thơ. Hai cây đèn sáp thắp trên bàn thờ ông bà

    chiếu sáng, làm cho bóng các bộ đồ thờ ngả dài lên bộ phản.

    Tết 1946, Tết Độc lập đầu tiên. Tôi rời nhà lên huyện từ chiều mồng

    một, để kịp dự Lễ khai mạc “Hội chợ xuân” sáng mồng hai.

    Tết 1947. Chuẩn bị tản cư. Giặc Pháp đã đổ bộ lên vùng phía nam

    thành phố Huế. Xôn xao. Dân quân tới tấp cuốc, đào phá hoại, chặt nát

    mặt đường quốc lộ 1, cho xe nó khó ra đây. Khuôn mặt hãi hùng, lo lắng

    của mẹ tôi.

    Tết 1948. Sống giữa đồng bằng tạm bị chiếm. Tôi cùng anh bạn từ xã

    Hải Châu lên vùng chiến khu cũng đúng giữa chiều mồng một Tết. Lên

    chiến khu đúng ngày mùng một Tết mới oai. Lãng mạn anh hùng. Tâm

    hồn mình hồi đó thật sự trong trắng. Bây giờ có khác rồi.

    Tết 1949. Thanh Hóa. Tôi sốt. Chế Lan Viên ốm. Buồn, nhớ nhà thê

    thiết. Chán chường. Chung quanh tôi vẫn có cảnh vui. Cơ quan tòa soạn

    tổ chức “liên hoan” với đồng bào địa phương. Ông chủ nhiệm Trần Đức

    Hinh mặc com lê, thắt cà vạt, xoa xoa tay trịnh trọng. Bà vợ người đặc

    Hà Nội mặc áo lơmuya1 màu vàng tươi đứng cạnh. Trông ngộ quá.

    1 Kiểu Lơmuya (Lemur) được may bó sát người làm nổi lên những đường cong

    hấp dẫn trên cơ thể phụ nữ, khiến thân hình như cao hơn, mảnh mai hơn (BTV).

    Tết 1950. Trở lại Bình Trị Thiên. Ăn Tết với bộ đội. Chiều ba mươi

    Tết, tôi đi thơ thẩn một mình, rồi rời Quảng Trị vào Thừa Thiên tìm

    một đơn vị bộ đội thường đóng tại mấy làng nghèo trên doi cát dọc

    phá Tam Giang. Gió mùa đông bắc. Mưa lay bay hắt nước vào mặt. Rét.

    Buồn đến muốn khóc. Vào gặp đơn vị đang tổng kết thi đua. Cái vui của

    bộ đội làm cho mình ấm lên, vui hẳn lên. Viết bút ký Tết ở Đại đội 150.

    Sáng mồng ba Tết, cùng bộ đội hành quân tác chiến. Đi dọc bờ biển.

    Mù. Gió rét tê người. Viết bài Xuất quân năm mới. Năm sau sửa chữa,

    đăng báo Cứu Quốc số Tết Tân Mão.

    Tết 1951. Thôn Thanh Lâm, Nghệ An. Hội mừng Chiến thắng Trung

    du. Tiệc tùng. Vui đôi chút. Mấy cô em vợ anh Hoàng Yến kéo đến thăm,

    mỗi cô một màu áo thướt tha, “một góc thành phố Huế”, tôi nói vui. Hồi

    ấy mình còn thích những cái ấy. Tôi viết phóng sự Đi xem bà con ăn Tết,

    có nhắc đến “những bàn tay trắng nõn nà tập lao động”, là tay mấy cô gái

    ấy. Ghi vào nhật ký: “...une source intarissable de jeunes filles1”. Gia đình

    ấy quả là một dòng suối thiếu nữ không bao giờ cạn, cô chị lớn lên chưa

    kịp lấy chồng, cô em đã phổng phao đuổi kịp, nhìn còn xinh tươi hơn chị.

    Tết 1952. Viết tùy bút Những mùa xuân chiến thắng đăng báo: Hơi bay

    bướm. “Mùa xuân là mùa chiến thắng. Và chiến thắng là mùa xuân của

    chúng ta...”. Có lẽ đây là một cái Tết thi vị trong đời tôi cho đến nay.

    Lang thang với các bạn. Đồi L.T. càng thêm ấm cúng. Mấy người bạn gái

    của bạn tôi, đều là người xa nhà, kéo đến chơi, ở lại cùng ăn Tết. Ban

    ngày tôi đi họp, về nhà mình ở nhờ của dân, đã thấy các cô đã dọn dẹp

    quét tước nhà cửa căn nhà lụp xụp của anh bần nông cho ở nhờ. Trải

    khăn bàn. Kiếm bình hoa. Rồi cùng nhau đi tìm, xin bà con mấy cành

    hoa mơ trắng về cắm vào bình. Một ít kẹo. Một ít cam. Đêm Giao thừa,

    ăn kẹo, đọc thơ và đọc bài Tiếng thơ của Xuân Diệu bình thơ in số tạp

    chí Văn nghệ mới ra, vừa mua ở hiệu sách về. Một chị cặm cụi đan sửa

    lại cổ cái áo len cho tôi. Một bạn khác dọn dẹp cái giường đầy bụi. Một

    thứ tình cảm nhè nhẹ hay hay, tinh tế lịch sự kiểu tiểu tư sản nhưng

    trong sáng và chân thành.

    1 Dòng suối thiếu nữ không bao giờ cạn.

    Tết 1953. Mặn nồng hơn và cũng nhiều day dứt hơn. Đêm ba mươi

    tháng chạp tối mịt, chúng tôi ăn bữa cơm cuối ở nhà chị Kiểm xong, tôi

    còn phóng xe đi thăm bạn. Mấy đứa trong gian nhà thờ vắng vẻ, thỉnh

    thoảng mới có nhà người vào thắp hương. Lại một ít kẹo. Một ít mứt.

    Một vài tập Littérature soviétique và sách văn học. Trời ấm áp. Mấy đứa

    phất phơ suốt ngày mồng một Tết…

    Và Tết năm nay tôi ở đây. Huyện Nam Đàn. Phát động quần chúng

    giảm tô xong. Đang Tuần Hữu nghị Việt-Trung-Xô. Nhân dân vui. Thế

    mà lòng mình vẫn không khỏi có chút bùi ngùi.

    Thật vô lý. Lãng mạn. Yếu đuối. Không hiểu sao lại nhớ và ghi vào

    nhật ký mấy cái Tết gần đây trong đời mình?

    03-02-1954 Tết một mình buồn. Nhưng khi ra với nhân dân đang nô

    nức vui Xuân, kỷ niệm Ngày thành lập Đảng thì mình cũng thấy hớn hở,

    chan hòa như được truyền thêm sức sống. Khi về nhà một mình, lại bâng

    khuâng. Nhớ làng quê. Nhớ những ngày thơ ấu. Không, không phải nhung

    nhớ thường tình đâu. Nó là bệnh cố hữu của con người tôi. Nghiêng về

    cuộc sống nội tâm. Khao khát sống nồng nhiệt. Say đắm nhưng lại quạnh

    hiu, thích làm như vậy để mà buồn. Stalin nói: “Triết học cuối thế kỷ đau

    thương không phải là triết học của chúng ta”. Tôi học rồi, nhớ kỹ lắm.

    Nhưng làm thế nào cho câu nói ấy có hiệu quả mới là chuyện khó.

    23-02-1954 Tháng giêng âm lịch năm nay có những ngày oi nồng

    như mùa hạ. Thời tiết lên xuống thất thường. Hôm nay lại rét ghê,

    tháng giêng rét dài, tháng hai rét lộc...

    Thời hạn phát động quần chúng đã qua mà công việc dồn ứ lại còn

    rất nhiều. Chỉnh Đảng. Xử án. Chia xã. Đại hội xã mới. Tổng kết ở xã. Lo

    nhất là các đoàn đã lục tục rút về, mình lốc thốc kéo về sau, sẽ không

    kịp nghỉ ngơi, tất tưởi vác ba lô vào dự luôn Hội nghị tổng kết.

    Ở đây có nhiều tài liệu hay, nhất là ở thôn Quy Chính. Nhưng ghi chép

    được ít quá. Tôi cũng chưa có ý niệm rõ rệt gì về những điều sẽ viết.

    Thâm tâm tôi muốn trở lại cơ quan, sắp xếp một ít tài liệu, cố gắng viết

    nên một vài truyện nhỏ, rồi ít lâu sau có được cử đi làm gì thì thích hơn.

    19-3-1954 Hội nghị tổng kết toàn Đoàn giảm tô.

    Sau một đợt lại có một lối tổng kết khác, rút được nhiều kinh nghiệm

    hơn. Đợt hai tổng kết từng công tác một: bắt rễ, xâu chuỗi, quản huấn

    địa chủ... Đợt 4, sau báo cáo chung, tổng kết từng vấn đề lớn: chỉnh

    đốn chi bộ, đoàn kết lương giáo, vấn đề dân tộc thiểu số... Dùng lý luận

    đúc kết kinh nghiệm, từ kinh nghiệm rút ra chính sách, làm cho mỗi

    cán bộ thấy sáng tỏ hơn công việc mình làm. Ham thích. Tôi nghĩ: Học

    tập như thế này rồi mà về không tiếp tục đi công tác phát động nữa thì

    cũng tiếc. Lần này nếu đi làm tiếp đợt 4, chắc tôi không đến nỗi phải

    bỡ ngỡ như vừa rồi.

    Hội nghị tập trung khá đông cán bộ từ Việt Bắc, Liên khu 3, Nam

    bộ, cả cán bộ quân đội nữa, từ Đại đoàn 308 đến Đại đoàn 325. Thỉnh

    thoảng Ban tổ chức có việc gì đó gọi, mình mới biết thêm có mặt người

    người nọ: “Đồng chí X. Tỉnh ủy Hà Nam, đồng chí Y. Trường phổ thông

    lao động Trung ương, đồng chí Y. Cao Bằng... ”. Riêng anh em văn nghệ

    đủ các bộ môn, nhiều tên tuổi quen thuộc: Xuân Diệu, Trần Hữu Thung,

    Nguyễn Đức Nùng, Phạm Văn Chừng, Hà Khang, Chu Ngọc, Lưu Trọng

    Lư, Chế Lan Viên... Không thấy Huy Cận. Chắc ông bộ trưởng còn mải

    lo việc nước. Anh Th. nói: “Những người dự hội nghị này là một cái vốn

    rất quý của Đảng”.

    Nhiều, nhưng gặp nhau thật khó, vì quá đông. Mai, có hội nghị

    chuyên ngành về Tuyên huấn và Văn nghệ, chắc gặp nhau dễ dàng hơn.

    Tiếp đến là cuộc họp riêng các văn nghệ sĩ. Chẳng biết có bàn vấn đề

    sáng tác không. Hôm nọ, Bùi Hiển gặp tôi, nói Hiển có ý định viết kịch,

    vì phong trào đang cần có thêm nhiều kịch bản. Mới có ý định thôi chứ

    ngay cả cốt kịch cũng chưa có. Tôi thích viết truyện hơn, và còn bỡ ngỡ

    với sân khấu. Nhưng nghe Hiển nói mình cũng đồng tình, ừ thì chuyển

    sang viết kịch, thử xem sao. Vì nhu cầu. Chứ viết truyện rồi ngâm, chờ

    cho ngày độc lập hoàn toàn mới xuất bản thì cũng chán.

    Tôi sẽ lấy đề tài ở ngay xã Nam Vân này. Vai chính là chị Mộc, con

    nuôi địa chủ Duệ, ngày ba mươi Tết năm 1945 nó bắt đi ở tù thay cho

    nó, trên tay bế đứa con mới sinh được mười bảy ngày. Đến nay phát

    động quần chúng, nó lại tìm cách mua chuộc chồng chị. Chị vẫn tố khổ,

    kiên quyết đấu tranh. Tôi đã hình dung sơ qua diễn biến của vở kịch.

    Băn khoăn: Nên viết hai màn hay một? Một thì gọn, ngắn, tròn trĩnh,

    classique1 hơn. Nhưng thêm một màn trước nói về quá khứ, chắc sẽ tạo

    được hiệu quả gây căm thù. Tôi định sẽ hỏi thêm ý kiến một số anh em

    sở trường về sân khấu.

    Có tin ta thắng lớn ở Điện Biên Phủ. Lần đầu tiên ta tấn công vào

    tập đoàn cứ điểm. Trọng pháo ta bắn mở đường, dồn dập suốt hai tiếng

    đồng hồ. Trong ba ngày, cao xạ pháo ta bắn hạ 12 phi cơ địch. Mấy hôm

    trước hai đội dũng sĩ phá hủy 78 phi cơ ở hai trường bay Gia Lâm và

    Cát Bi.

    Tin chiến thắng mùa xuân làm nức lòng người. Anh Th., Khu ủy

    nhấn mạnh: “Ta thắng lớn nhất từ trước tới giờ”. Một đột biến trong

    chiến tranh nhân dân? Tôi theo rõi chặt tin chiến thắng, qua đó hình

    dung được phần nào sự lớn mạnh của ta. Khâm phục sức chịu đựng của

    bộ đội, dân công. Cảm động trước sự giúp đỡ, ủng hộchí tình của các

    nước bạn…

    Hôm qua, Lễ kỷ niệm ngày Marx và Stalin từ trần. Nhớ lại nỗi

    ngẩn ngơ của mình khi nghe tin Stalin mất. Đọc một đoạn văn của I.

    Ehrenbourg đăng trên báo Pravda. Văn Ehrenbourg nói đến Stalin thắm

    thiết yêu thương, hơi văn mạnh dưới những hình ảnh bóng bẩy. (Đọc

    ông) tôi hiểu thêm thế nào là tình cảm chính trị của nhà văn qua những

    sự kiện lớn.

    29-3-1954 Cái giờ phút bấy lâu tôi chờ đợi trong phập phồng đã đến.

    Tôi không ngạc nhiên lắm. Phải chăng tại mình hằng nghĩ tới nó?

    Tôi trở lại cơ quan sau đợt phát động quần chúng giảm tô. Ra đi

    từ địa điểm tổng kết lúc trời chưa sáng, tôi bật máy lửa và giở cuốn

    lịch con xem hôm nay là ngày thứ mấy trong tuần. Năm ngoái chia tay

    nhau, bạn và tôi cùng hẹn tháng ba sẽ gặp lại. Nay vừa đúng tháng ba.

    Đi qua Truông Kè. Rồi qua Khuôn. Đường số 7. Mùa xuân mà nắng đã

    to, mồ hôi ướt dầm. Nhớ những kỷ niệm trên quãng đường này hơn một

    1 Cổ điển.

    năm về trước, những buổi chiều mưa bay bay. Bây giờ mới thấy quãng

    đường cũng khá xa. Hồi đó, có để ý gì!

    Những nếp nhà quen thuộc. Cái sân gạch sáng. Vắng lặng. Có cái gì

    nôn nao trong người, một thứ linh cảm. Bà chủ nhà thản nhiên đến tàn

    nhẫn: “Chị được nghỉ một tháng, anh được nghỉ ba tháng. Đưa nhau đi

    được tám, chín ngày nay rồi”. Tôi vui vẻ hỏi vài ba câu chuyện bâng quơ

    rồi xin phép đi cho kịp anh em. Nói quấy quá rất tự nhiên. Hình như tai

    tôi có hơi nóng lên. Tôi mỉm cười: của đáng tội, chẳng qua cũng chỉ là

    một thứ phản ứng tự ái mà thôi.

    Người cũng có hơi bàng hoàng một chút nhưng vẫn an nhiên. Tôi tự

    bảo, à ra cũng chẳng có gì ghê gớm lắm. Bạn cùng tôi, chúng tôi dự kiến

    việc ấy đã lâu rồi.

    ĐẦU VƯỜN CÀNH HOA NHỎ

    Chớm nụ buổi đầu thu

    Trời xanh không mây gợn

    Xanh mãi đến bao giờ…

    …Nào phải hoa không biết

    Nào phải ai hững hờ

    Hé nụ với sương thu

    Ngại một lời hẹn ước

    Rồi một ngày kia chiều lòng gió

    Hoa đành hé mở đón ong vàng

    Bướm cũ sương xưa ơi đừng trách

    Ong vàng khéo chọn nẻo xuân sang

    Cành hoa đầu vườn nhỏ

    Mưa dồn dập tơi bời

    Rồi đây sương và bướm

    Ai buồn cánh hoa rơi.

    Mấy vần thơ tuổi học trò, Lòng hoa, bạn tặng tôi cách đây đã hai năm.

    31-3-1954 Tòa soạn báo Cứu Quốc. Một thứ mệt nhọc chán chường

    choán lấy người tôi, dần dần biến thành uể oải về thể xác. Chỉ thích

    nằm. Đọc sách liên miên, nhưng không hứng thú lắm, giữa trang chợt

    ngừng lại suy nghĩ vẩn vơ. Dù sao cũng không tránh khỏi buồn. Tiếc

    những giờ êm đẹp đã qua, tuy trước kia chung tôi vẫn tin trước sau rồi

    cái lúc này cũng sẽ đến. Hoa phải tuân chiều ý gió, biết làm sao!

    Hình em dù khói tỏa mờ

    Nghìn năm còn sáng những giờ mến thân

    Nghìn năm trăng lụn sao tàn

    Anh còn giữ vẹn lòng anh buổi đầu...

    Mấy câu mùi mẫn trên, thơ ai nhỉ? Nó đọng lại trong tôi từ bao giờ?

    Sao bỗng dưng lúc này chợt hiện ra? Hay là thơ tôi?

    Oublie-moi! (Hãy quên em đi!) - bạn từng rỉ vào tai một hoàng hôn nào

    đó dưới chân đồi sim gần thị trấn Nam Đàn, sau khi đi thăm gia đình về. Tôi

    nghe mà như không nghe. Tiếp tục trò chuyện. Chuyện trên trời dưới đất.

    Chuyện cây đàn violon của Verlaine và nước hồ mùa thu của Lamartine.

    Bạn bảo hãy quên em đi nhưng siết chặt tay nhau lúc giã từ, chính

    bạn lại nói: “Anh là người không thể nào quên!”

    Souvenir, souvenir, que me veux-tu?1

    Lý trí muốn quên đi, cái gì đã qua, hãy để nó tự lắng chìm trong quá

    khứ. Vậy mà tình cảm vô cớ cứ níu kéo kỷ niệm về.

    “Trong câu chuyện này của chúng tôi, xin anh chớ có xen vào. Tôi

    không muốn có người thứ ba”. - câu đó hình như anh chàng đã nghiền

    ngẫm từ lâu trong đầu. Nó làm tôi hơi cáu. Nhưng tự dặn, hôm nay mùng

    ba, vẫn đang ngày Tết. Ngôi nhà này hình như là nhà thờ các cụ tổ, thỉnh

    thoảng vẫn có người vào thắp hương. Có lẽ vì vậy mà anh chàng dùng

    tiếng Pháp. Mình phải bình tĩnh. Bình tĩnh. Đừng để đồng bào nghĩ đầu

    năm có chuyện gì mà hai anh bạn của cô cán bộ lại bất hòa với nhau.

    1 Kỷ niệm ơi, còn gợi ta chi? Câu đầu trong bài thơ nổi tiếng của Paul Verlaine

    1844-1896 đề Nevermore (Không bao giờ nữa).

    Tôi ngồi đối diện anh chàng trên bộ tràng kỷ. “Người thứ ba? - tôi

    đáp, vẫn bằng tiếng Pháp, giọng trang nghiêm. Tôi nói thẳng cho anh

    biết, trong câu chuyện này không có ai là người thứ hai hay người thứ

    ba. Anh chẳng có quyền gì. Tôi cũng chẳng có quyền gì. Người duy nhất

    có quyền quyết định là X”.

    Câu nói của tôi làm anh chàng như bị hẫng hụt, anh lặng người. Anh

    chàng có học và cũng thông minh, hơi bất ngờ. Nếu để cho X quyết

    định thì rồi cơ sự sẽ ra sao? Cái gì rồi sẽ đến? Anh đã nhìn thấy trước.

    Lặng yên một phút, anh chàng nói tiếp, giọng hoàn toàn không có

    chút lên gân như hồi nãy: “Trong việc này, anh có thể là người thắng

    nhưng tôi nghĩ anh không nên làm người thắng”.

    Từ gian bên, bạn tôi bước sang, tay xách chiếc bình hãm nước chè

    xanh đặt trong ấm giỏ, tay cầm hai cái chén: “Mời hai anh uống nước”.

    Bạn tôi đã nghe hết cuộc đối thoại giữa anh chàng và tôi.

    - Anh về đây - tôi đứng lên nói với bạn, rồi bước qua cái ngạch gỗ ra

    hiên. Chợt cảm thấy người hoàn toàn thanh thản. Anh chàng và bạn tôi

    cùng bước ra theo.

    “Anh về đây”.

    Tôi lặp lại, rồi quay sang nói với anh chàng: “Cuộc đời đã không cho

    chúng ta là bạn, hãy cố gắng chớ trở thành những kẻ hận thù nhau”.

    Rồi bước xuống sân, xăm xăm ra cổng. Bạn tôi bước vội xuống theo,

    đi song song bên cạnh, giống như bao lần chúng tôi chia tay, lần nào

    bạn cũng tiễn tôi ra tận cổng. Tuy nhiên không có chuyện cười nói

    huyên thiên như mọi lần, không có chuyện đến bờ tre ấy dừng lại một

    phút, nắm chặt tay nhau như ngầm hẹn, đến hôm nào đó hai chúng

    mình sẽ lại gặp nhau.

    Anh chàng vẫn đứng trên hiên nhà chăm chú nhìn theo hai chúng tôi.

    Tôi là một người bao dung, “cái thằngấy nó chẳng bao giờ hận thù

    ai”, như anh em nhận xét về chú Diêu. Có nhiều kẻ làm tôi rất bực mình

    nhưng sau rồi tôi lại thản nhiên. Như anh chàng này. Nó đã làm hỏng

    những giờ đầu năm rất đẹp của chúng tôi. Nghĩ cho cùng, tôi thấy mình

    sống như thế cũng có cái hay. Làm gì có chuyện thắng và thua ở đây.

    Được, mất thì có. Anh chàng bảo tôi có thể là người thắng, nhưng rốt

    cuộc chính tôi là kẻ mất, dù đau lòng tôi vẫn tự nguyện làm kẻ mất.

    Phiền toái quá, tâm hồn!

    Chẳng viết lách gì cả. Cũng không buồn mở tài liệu ra xem. Trước

    đây tôi thường có một ý nghĩ thoáng qua mà mỗi khi nghĩ lại, tôi đều tự

    lấy làm xấu hổ, chẳng dám nói với ai: “Giá mình không có, mình không

    tồn tại, chết đi rồi chẳng hạn. Sống không thú vị thì sống để làm gì”. Ý

    nghĩ cuồng điên của một người ít nhiều bị đầu độc. Bị đầu độc bởi cái

    gì? Thơ ca lãng mạn? Triết học phương Tây? Nghe người ta nói vậy thì

    mình cũng nói, chứ mình có biết gì về triết học Tây cũng như Đông.

    Còn Thơ mới và văn Tự lực văn đoàn không đầu độc, nó chỉ bồi đắp cho

    dày hơn cái mơ màng mềm yếu trong ta. “Sống không thú vị thì sống

    để làm gì?” Bây giờ ghi vào nhật ký, còn thấy ngượng tay. Thế mà thỉnh

    thoảng nó vẫn trở lại như ma quái. Chẳng trách bọn văn nghệ sĩ ngày

    trước khổ đau vô cớ là phải.

    Hận thù thì không nhưng buồn đau khó tránh.

    Hôm nay, vẫn còn ngày Tết, anh Xuân Diệu đến chơi, mình tiếp mà

    cũng không buồn trò chuyện đậm đà với anh như mọi khi.

    05-4-1954 Họa sĩ Văn Bình và tôi được lệnh khẩn ra công tác Thanh Hóa.

    Vậy là trở lại đất Thanh sau gần ba năm xa cách. Về lại thôn Thái

    Dương ấy, nghỉ trong nhà một trung nông kém. Ban đêm, các em

    thiếu nữ tập hợp lại, tập kéo sợi chung dưới ánh một ngọn đèn. Các

    em mặc quần - trước đây chỉ mặc váy - tóc để xõa trông xinh xắn. Hát,

    nói chuyện líu lo, nghịch ngợm. Tôi đi nằm sớm, nghe các em hát đến

    khuya, tiếng hát quyện trong tiếng xa kéo sợi đều đều. Các em hát để

    đỡ buồn ngủ khi làm việc đêm.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ hồ Gươm. Tập ký của Phan Quang. NXB Trẻ, 2016.

    Tác giả gửi www.trieuxuan.info

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,817,396

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/