Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,819,193

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ hồ Gươm (7)

Phan Quang

  • Thứ tư, 08:20 Ngày 30/09/2020
  • Bán Xiêng Khum cách Bản Ban 6 km trên đường đi Sầm Nưa. Mấy bà

    mẹ già mang xôi, chuối ra ủng hộ bộ đội. Kể khổ. Thuế đinh mỗi người

    125 đồng một năm. Một tháng tập trung phụ nữ một lần lên phục vụ

    trên đồn. Một số phụ nữ mắc bệnh về sau không sinh đẻ được nữa. Anh

    Nguyễn Văn Xuân làm thợ may cho biết anh phải đóng thuế một năm

    840 đồng, tương đương hai lạng vàng theo thời giá hiện nay.

    19-4-1953 Chúng tôi quay lại Bản Ban làm công tác vận động kiều

    bào. Có tin Trung đoàn Khoái Châu sau khi diệt xong vị trí Nọng Hét

    đã hành quân cấp tốc theo quốc lộ 7 chặn địch rút chạy về Khang Khai.

    Đại đoàn 308 đã về tới đây. Hai đại đoàn đã gặp nhau. Chiều nay có

    tin anh Cao Văn Khánh, Đại đoàn phó 308 sẽ đến gặp anh Lê Chưởng,

    Chính ủy Đại đoàn 304. Sau cuộc gặp này, mới sẽ rõ hướng ta triển khai

    tới đâu. Tôi rất mong được gặp anh Khánh. Nhưng đơn vị đóng tản mát,

    lại giữ bí mật, xa xôi cách trở không biết hỏi ai lại cũng không tiện đi

    một mình. Tôi cũng không muốn để anh em bộ đội biết quan hệ gia

    đình mình trong hoàn cảnh đang hành quân chiến đấu. Nhớ mãi một

    hình ảnh, giỗ ông nội tôi, tức là ông ngoại anh Khánh. Anh Khánh hồi

    ấy dạy trường Lyceum Việt Anh trong Huế cùng anh Phan Giá đến nhà

    tôi. Anh mặc bộ đồ Âu faux tussor1 trắng, đang đúng mốt, thắt cà vạt

    màu xanh sẫm. Lúc làm lễ trước bàn thờ, mỗi lần anh quỳ và dập đầu

    xuống đất lạy, chiếc cà vạt xanh đen có hoa lỗ chỗ lại chấm xuống chiếc

    chiếu hoa. Tôi còn nhỏ, đứng nhìn thấy rất ngồ ngộ, thành ra nhớ mãi.

    20-4-1953 Lệnh đến lúc hai giờ sáng. Lại lên đường truy kích tàn quân

    địch. Suốt đêm. Mệt phờ người. Đói. Đi ngang Khang Khai địch đã rút

    chạy từ hôm trước rồi. Nhưng vẫn nghe tiếng súng cối địch bắn đâu xa.

    Nghe nói chúng đang tập trung ở sân bay. Trên trời máy bay bay lượn

    không ngớt. Bộ đội vẫn tiếp tục vận động lên phía trước. Thấy vết đạn

    máy bay chúng bắn nát gốc cây. Cuộc sống của mình treo đầu sợi tóc,

    phụ thuộc vào cái ngẫu nhiên.

    1 Loại vải dệt ở Quảng Nam, được ưa chuộng khắp ba kỳ (BTV).

    Càng về chiều, ca nông chúng bắn càng dữ. Máy bay bà già liệng rè rè

    trên đầu, tìm chỗ ném lựu đạn mù xuống chỉ điểm mục tiêu cho pháo bắn.

    Đi ngang qua đồn Huối Chát, đã thấy H1 ta bám trụ ở đây rồi.

    Đêm, chúng tôi vào ngủ trong đồn cũ của địch, nghe ca nông chúng

    giã thình thịch suốt đêm.

    20-4-1953 (Chiều) Có tin địch cho một đại đội của tiểu đoàn dù

    (BEP) đi đón bọn từ Sầm Nưa chạy về. Mười hai giờ đêm nhận được lệnh

    của Bộ Tổng tư lệnh phải đi chặn ở Mường Sui trên đường về Luang

    Prabang.

    Đêm, hành quân qua Cánh đồng Chum. Hình như đây mới là một

    góc hay là ngoài rìa cánh đồng. Anh em chỉ cho nhau xem và trầm trồ

    về những chiếc chum huyền thoại, nhưng thật tình tôi cố nhìn nhưng

    từ xa chỉ thấy mờ mờ dưới ánh trăng - hay bóng đèn dù chúng đốt suốt

    đêm? - mấy đống lù lù, chẳng ra hình dáng gì, nhìn trong từ điển còn

    dễ hình dung hơn. Hơn nữa lúc này còn mải chú ý nhìn con đường và

    nhìn người đi trước mình để chạy cho nhanh, bám cho sát, cũng chẳng

    còn bụng dạ nào để ý những chuyện khác.

    Tác giả, người đứng thứ hai từ phải sang, lần đầu nhìn thấy các Chum dưới ánh sáng ban

    ngày nhưng... tại Bảo tàng Vientiane, Lào (1961).

    Trên đường hành quân, từ những cánh đồi thoai thoải và trống trải,

    nhìn rõ ánh sáng đèn trên đồn địch, tôi ước lượng theo đường chim bay

    từ đây đến đó chỉ độ sáu cây số là cùng. Có nghĩa là ta đang trong tầm

    pháo của địch, nếu chúng phát hiện được. Nhưng hình như chúng mù

    tịt hay sao. Bộ đội ta hành quân trống trải như vậy mà cũng chẳng gặp

    mấy trở ngại. Nhưng cũng chính để tránh cái đồn kia mà chúng tôi phải

    đi đường vòng, mua thêm hai mươi cây số đường nữa.

    Đêm trú quân trong một cánh rừng thông. Anh em lại đào công sự.

    Buồn và nhớ đồng bằng.

    Buổi sáng được nghỉ. Chiều chuẩn bị để đêm lại hành quân tác chiến

    qua vùng địch chiếm.

    Tôi quay về Chỉ huy sở để nắm được tin tức toàn diện hơn. Bộ đội ta

    vẫn án binh chờ lệnh. Đã có thêm hai trung đoàn bạn tập kết về đây.

    Đêm lại vào ngủ trong đồn. Nghe pháo địch uỳnh oàng giã gạo suốt

    đêm. Ngủ thiếp đi, trong mơ cũng nghe tiếng đại pháo.

    Nửa đêm nghe ồn ào. Ra có thêm một đơn vị dân công vừa mới đến,

    anh em đòi vào xem đồn địch cho bằng được.

    22-4-1953 Chỉ huy sở Trung đoàn đóng trong rừng. Tôi đến đài quan

    sát. Tiếng điện thoại réo vang. Đang đánh nhau ở đâu đấy. Máy bay

    quần trên đầu, khi thì chiếc đầm già, khi thì những tốp ném bom. Nhìn

    lên bản đồ, định vị mấy địa danh: Bản Mom, Bản Nao. Chỗ chúng tôi

    đang đứng đây là Lạc Khay.

    Trời vẫn mưa, và lành lạnh. Người ta bảo vùng này có mùa khí hậu

    mát lạnh giống như khí hậu Đà Lạt.

    Tôi cùng mấy anh em không có nhiệm vụ chiến đấu tỏa về các bản

    làm công tác tuyên truyền. Vào một xóm người Việt. Được đón tiếp

    tử tế. Nhưng một người lại nói không chút úp mở: “Bộ đội có thương

    dân thì bộ đội đi ngay đi cho”. Vì sao? Vì ở đây cách xa rừng đến

    hàng cây số mà cái đèn phuy dê nó bắn vẫn chiếu sáng đến tận đây

    cơ mà. Máy bay nó vẫn bay đêm đó, ca nông nó vẫn nện thùng thình

    sau lưng ta đó.

    Có người nói vậy nhưng bà con vẫn mời lên nhà uống nước. Vào nhà

    một cụ già, bảo là người gốc xã Xuân Lâm - có lẽ thuộc huyện Nghi

    Xuân, tôi không kịp hỏi, nhưng nghe giọng nói nặng lắm, chắc đúng là

    người xứ Nghệ - cụ cười xởi lởi: “Ông ấy nói vậy vì nhà ông ấy đông con,

    ông ấy lo cho con cháu, chứ tôi ở có một mình, bộ đội đến chơi thế này

    tôi vui lắm”. Trong nhà có treo cả ảnh Cụ Hồ. Tôi cũng hơi lạ, không rõ

    nhà có ảnh từ lúc nào.

    Ngay bên cạnh đây có một bản người Lào. “Bây giờ chúng tôi sang

    chơi có được không? - Vào bây giờ họ sợ lắm, họ bỏ bản đi mất. - Thế

    mai vào có được không? - Mai họ còn sợ hơn nữa”.

    Nhưng ông Điểng có người nhà ở Khang Khai thì lại nói: “Tôi trước

    còn sợ bộ đội Việt Nam chứ bây giờ không còn sợ đâu. Đêm tôi đốt đèn

    lên anh em tới chơi rầm rầm”.

    Vào nhà ông Điểng, có cái thùng sắt Tây vốn đựng ca cao (có chữ ghi

    rõ bên ngoài) chắc ông nhặt được trên đồn, mang về nhà nay đựng gạo

    nếp, đường, trứng gà. Ông trưởng bản có sáu con. Bà vợ nói: “Xin bộ đội

    cho biết cho chúng tôi hôm nay được ôm chân bộ đội hay là để thư thả

    cho khi nào yên chúng tôi sẽ đến trình diện”. Ông trưởng bản thì luôn

    miệng: “Nếu không vì các cháu nhỏ thì tôi đã ra ngoài Khang Khai tôi

    ở rồi” (ý nói ở thị trấn ấy không có đánh nhau).

    22-3-1953 Sáng nay một toán địch ở sân bay thọc ra thăm dò lực

    lượng bộ đội ta, bị ta chặn đánh. Chúng cho ba đại đội ra giải vây. Hai

    bên bắn nhau đì đùng một hồi, rồi cùng rút. Pháo nó tiếp tục nện những

    nơi nghi có bộ đội Việt Nam.

    Anh T. nói, muốn đánh tiêu diệt Khang Khai, ta cần 150 tấn gạo,

    phục vụ 5 E trong mười ngày. Chuyện không thể thực hiện nổi trong

    tình hình hiện nay.

    23-4-1953 Người Lào trong bản ý muốn tản cư đi nơi khác. Sáng nay,

    cho người ra dò. Nếu bộ đội còn ở lâu thì họ phải đi. “Hôm trước ở nhà

    chùa, bộ đội vào chỉ năm phút sau là nó biết nó bắn ca nông ngay. Nếu

    không có nhà chùa thiêng thì chúng tôi chết hết rồi”.

    Đến bản Thụt vào nhà ông tài xẻng1 đang hút thuốc phiện. Những cô

    gái nhỏ mặc áo đầm. Ông nói, thật lòng đến đâu không biết, rằng chúng

    tôi có biết bộ đội Lào Issara sắp tới và đang mong chờ chính phủ của

    Hoàng thân Souphanouvong trở về.

    Chiều nào trời cũng mưa. Tôi ở lại trong bản tắm rửa tí chút và viết

    bài gửi về gấp cho tòa soạn.

    Gặp anh bộ đội tiểu đoàn quân tình nguyện Việt Nam bám tại địa

    phương mặt xanh nanh vàng vì chỉ ăn cơm với ít muối.

    Cứ chập choạng tối là ca nông nó bắt đầu bắn. Máy bay trinh sát hoạt

    động cho đến lúc không thấy được mặt người. Chúng rất sợ ta tấn công

    ban đêm. Tối, tôi ăn xôi nếp chấm với xốt cà chua ở nhà ông Điểng.

    Xong còn nắm một ít xôi mang theo. Ông nói dân ở đây toàn là một bọn

    vong bản, nhiều người không biết ở đâu đến, chỉ chực tìm cách bóc lột

    người địa phương.

    Ngoài đường, bộ đội hành quân lặng lẽ. Gặp anh Dũng mới biết

    toàn trung đoàn đã lên đường làm nhiệm vụ mới. Chúng tôi vội vàng

    đuổi theo.

    Qua Phố Chợ. Nơi đây vừa bị ba mươi phát ca nông. Trăng mồng

    mười chiếu sáng tường vôi các ngôi nhà sàn. Tránh đường cái, đi len

    vào giữa các ngôi nhà - địch chỉ pháo kích mặt đường. Trời vừa mưa to,

    nước còn chảy ồ ồ từ các mương rãnh. Mùi tanh bốc lên. Có người đứng

    co ro dưới sàn nhà, hình như đợi đơn vị mình đến để nhập vào đoàn.

    Không sợ gì, chỉ nơm nớp pháo nó bắn bất thần, đang hành quân dày

    như thế này, khó tránh khỏi thương vong.

    Đi qua ven một sân bay nhỏ ở về phía tay phải. Trên trời máy bay

    Junker lượn vòng kiểm soát hoặc phòng ngự bên trên vị trí địch, trong

    khi hỏa pháo liên tiếp bắn lên quay cuồng sáng rực trên bầu trời. Các

    hỏa pháo quét vòng quanh, làm các đám mây vần vụ cứ dần dần sáng

    chói lên theo vòng quay các mảng lửa. Không phải sáng xanh như tôi

    tưởng mà màu đỏ, màu cháy nhà, màu chết chóc. Hỏa pháo nó bắn

    1 Chỉ một ông nhà buôn hay nhà giàu.

    cách xa tám, chín cây số - nếu giả thiết là pháo sáng chủ yếu để bảo vệ

    vị trí đóng quân - ấy thế mà đủ sáng, trên đường hành quân chúng tôi

    có thể đọc được thư.

    Lại rẽ qua bên phải ít nữa tránh sân bay, rồi theo con đường tắt về

    Mường Sủi, cách sân bay chừng ba cây số. Đến đây thì sáng quá, nhất là

    những khi có chiếc hỏa pháo bắn lên chếch về phía mình. Tôi nhìn thấy

    rõ hình thái địa vật, dáng những quả đồi quanh sân bay. Có lệnh nghỉ.

    Tôi nằm lăn ra đất, trên mặt cỏ phẳng lì, nhìn ra bốn bên tầm mắt không

    hề vướng một bóng cây. Đoàn người kéo thành một vệt dài. Máy bay bay

    vòng trên đầu, hai ngọn đèn đầu cánh bên xanh bên đỏ. Nó mà trông

    thấy thì bỏ đời vì pháo. Dân cho biết con đường về Mường Sủi hôm trước

    địch đã bắn pháo, chắc là để chỉnh cự ly, làm chết một người dân.

    Qua một chiếc cầu. Bây giờ trăng lặn rồi, khó đi hơn. Anh tham mưu

    trưởng thúc giục hàng quân dàn hàng ngang lội ào qua suối. Mưa vẫn

    rả rích. Trời càng tối mù. Cố chạy cho kịp người trước, không lo ngã.

    Thế mà vẫn bị lạc. Đoàn 80 chen vào giữa. Chạy xuống khe, tìm đường,

    khe sâu núi hai bên dựng đứng, ít nhất đấy cũng là cảm giác trong đêm

    đen. Tối cách ba bước chân đã không trông thấy người đi trước mình.

    Vẫn nhìn thấy ánh đèn và tiếng máy nổ trên đồn, phía tay trái. Thỉnh

    thoảng lại một hỏa pháo vút sang, chúng tôi cũng được nhờ.

    Bốn giờ sáng rồi. Đành ngồi chờ. Cán bộ hội ý rồi cho bộ đội tản vào

    lòng các khe suối và bố trí cảnh giới. Mưa vẫn rả rích. Nhiều anh em

    không có cơm sáng, nhai gạo sống trừ bữa. Đêm qua lại rét quá, rét ghê

    người, rét như giữa mùa đông. Một vài anh em ho, chắc là cảm lạnh. Sợ

    địch nghe tiếng động. (Ở đây), trèo lên đồi cao, ban ngày nhìn thấy rõ

    sân bay. Thấy chiếc Dakota đỗ, trắng hếu. Bên cạnh là chiếc Helcat nhỏ

    bé, đen thui. Ghét quá.

    Tuy nhiên, yên tĩnh suốt buổi sáng. Ai cũng ý thức để lộ ra thì chết

    với phi cơ và đại bác của chúng. Đến bốn giờ chiều nghe tiếng súng bộ

    binh rời rạc, càng lâu càng gần hơn. Hay là chúng cho quân đi sục sạo?

    Bộ đội bố trí chiến đấu. Gom được hai tổ súng trường, một khẩu tiểu

    liên và một khẩu trung liên. Mình ở dưới lòng khe, chung quanh đều

    là cao điểm, nếu địch chiếm các đỉnh cao thì mình như nằm trong rọ.

    Mà ta thì không thể nổ súng đánh trước vì sợ lộ, hỏa lực ta không đủ.

    Đành chờ thời.

    Suốt ngày máy bay chúng bay lên hạ xuống ở sân bay. Nghe nói sân

    bay này có đến tám cây số chiều rộng. Anh em được lệnh mở chốt lựu

    đạn, sẵn sàng chiến đấu. 4 giờ 30. 5 giờ. 6 giờ. Thời gian sao đi chậm

    vậy? Tối mới thở phào, nhẹ nhõm. Ra địch chẳng hay biết gì. Nếu địch

    là ta thì chúng đã xơi gọn bọn mình rồi.

    Chúng tôi lại đi. Vừa đi vừa dò tìm đường. Không có bản đồ. Trăng

    đêm nay đẹp quá.

    Toàn đồi thoai thoải, đất bằng và cỏ non thoạt nhìn tưởng như bãi

    biển. Lúc này trăng lại càng đẹp. Đất đai xứ Lào phì nhiêu thật. Nhìn

    thấy đường số 7 rồi. Cởi quần áo lội băng qua suối. Chuyện bắt đầu vui

    lên. Nhìn những quả đồi, có anh đã nghĩ tới chuyện nông trường. Đất

    bằng phẳng thế này thì dùng cày máy sướng lắm đây.

    Xế bóng hôm sau, cấp dưỡng nấu cơm. Tôi tranh thủ ngủ một chốc.

    Cơm xong lại hành quân. Đường quốc lộ mà xấu hơn đường rừng.

    Đã lâu rồi không có ai đi lại quãng này. Mưa lũ tha hồ cuốn sập cầu,

    làm xói lở mặt đường. Đến khi trăng tắt thì trời lại mưa. Đi suốt sáng.

    Nghe tiếng chó sủa, gà gáy sáng ở bản xa. Chúng tôi tạt vào một ngôi

    nhà người Lào cạnh đường tìm nước uống. Gặp hai anh liên lạc mang

    thư anh Từ đến, bảo Tiểu đoàn 80 hôm nay cố gắng đến cho được chân

    đồi cao cách Mường Sủi 4 cây số, chuẩn bị làm nhiệm vụ. Nếu Tiểu

    đoàn 70 không đến kịp, 80 sẽ làm nhiệm vụ một mình. Mường Sủi chỉ

    có hai trung đội địch.

    23-4-1953 Trời đã sáng rồi còn đi cố. Máy bay bà già bắt đầu lượn

    lờ. Thế nhưng bộ đội đang hành quân qua một cánh rừng thưa, toàn

    thông và một loại cây cổ thụ rất oai phong trông giống như những cây

    sồi bên châu Âu mà tôi thường thấy trong các sách minh họa. Không

    hiểu rừng Lào có loại cây nổi tiếng này hay không. Những đồi thông và

    bãi cỏ thoai thoải quá đẹp, nhưng lúc này rõ ràng bất lợi về quân sự vì

    trống trải quá. Lại có những quãng đường lượn vồng như nơi nghỉ mát.

    Nắng lên rồi. Hôm nay chắc có nắng to dù cho đêm có mưa rả rích và

    lạnh lẽo. Có lệnh chạy. Cần chạy nhanh qua cánh đồi thưa hại người để

    tìm nơi trú quân.

    Rồi cũng đến được một khu rừng kín đáo hơn. Chúng tôi hể hả căng

    lán trại. Nhưng rừng kín, cây lá sum suê, thì lại ẩm ướt. Những trận mưa

    đêm qua còn để lại nhiều dấu vết ở đây và chắc để lại lâu dài. Có tiếng

    bom địch ném đâu ở xa. Buổi trưa nặng nề. Cái cảm giác đi qua đồi

    thông thoáng đãng chỉ còn lại trong nhật ký hành quân.

    23-4-1953 Nơi chúng tôi đóng quân này gần một điểm có trên bản

    đồ là Bản Nao.

    Chiều trong rừng Lào sao mà buồn thê thiết. Nhớ anh em, nhớ xóm

    làng, nhớ đồng bằng, và nổi bật lên hình ảnh một người bạn thân. Đại

    bác, phi cơ, cuộc sống ở mặt trận nhiều rủi may quá.

    Tôi giở cuốn lịch con ra tính xem hôm nay là ngày thứ mấy trong

    tuần lễ để nhẩm xem giờ đây anh em ở tòa soạn đang làm gì, lúc này

    người bạn thân thiết của mình đang làm gì.

    Nhớ nhung. Mệt nhọc. Thiếu thốn. Cảm phục sức chiến đấu, sức

    sống của anh em bộ đội.

    Hôm nay, tôi cùng mấy anh em đi làm công tác tuyên truyền trong

    dân.

    26-4-1953 Trú quân giữa rừng thông. Đất nước Lào có nhiều đồi

    thông đẹp quá. Cây thưa. Đồi thoai thoải. Cỏ xanh. Đất đỏ. Trăng và

    sương. Nghĩ nhiều về tương lai. Mai sau nơi đây sẽ là nông trường tập

    thể hay là nơi nghỉ mát? Nghĩ về tương lai cho vợi bớt cái nhớ nhung và

    tạm quên đi cái mệt nhọc của hiện tại.

    Ngày hôm nay trú quân đợi lệnh. Đã qua gần một tháng rồi.

    Ruồi trâu nhiều quá. Phải ngồi trong màn mà ghi chép. Ruồi đốt

    ngứa như chạm phải lá han.

    Anh em vừa cho biết người Lào ở Bản Ban báo cho bộ đội ta hay

    chỗ địch giấu súng, ta thu được 54 khẩu súng trường và 7 trung liên.

    Địch dự định cho một trung đội nhảy dù xuống chiếm lại Bản Ban.

    Phổ biến nội quy trú quân xong, tôi đi tắm giặt trong khi các chiến sĩ

    đào công sự.

    Nhiệm vụ của đơn vị này chỉ đến Bản Ban, Xiêng Khoảng rồi quay về.

    Địch co cụm lại đóng ở Khang Khai là tất nhiên, đúng như dự kiến của

    Bộ tổng tư lệnh ta.

    Tại Sầm Nưa địch có ba tiểu đoàn, bị ta tiêu diệt hai. Nhờ tranh thủ

    vận động nhân dân, ta đã kêu gọi được ngụy binh ra hàng. Tên Minh

    Thông chỉ huy đồn Nọng Hét ra hàng. Ta thu được nhiều vũ khí.

    Ảnh hưởng quốc tế của chiến thắng khá lớn. Thủ đô Luang Prabang

    nhốn nháo, nhà cầm quyền phải ra lệnh thiết quân luật. Đồn đại tin

    bốn sư đoàn Việt Minh đang đánh vào Thượng Lào.

    Cơ sở kháng chiến đã được khôi phục từ Sầm Nưa nối liền với quốc lộ

    7, qua Bản Ban và Nậm Chẻ. Ta đã mở được chiến trường mới. Địch đã

    phải thu thập hai tiểu đoàn tàn quân về đóng tại Khang Khai. Chúng đã

    phải điều từ đồng bằng lên ba tiểu đoàn, và tăng cường pháo binh. Như

    thế là yêu cầu của ta đã đạt.

    Tin Bộ tổng cho biết, tên quan năm Malplace ta không bắt sống

    được, nhưng cũng chưa thấy về tới Khang Khai.

    27-4-1953 Chiều, chúng tôi chuẩn bị về Bản Sai vận động nhân dân

    thì được lệnh hành quân. Đi suốt đêm. Về ngủ gần Bản Lèo.

    Đơn vị bắt đầu thiếu muối, thiếu gạo, may sao giữa đường gặp ba

    trăm dân công huyện Yên Thành vận chuyển gạo, lương khô, nước mắm

    đóng chai chiến lợi phẩm thu được của địch. Đơn vị dừng lại và nhận

    đồ tiếp tế ngay bên đường. Ai cũng mừng và vui. Bộ đội chén lương khô

    ngay tại chỗ. Một anh dân công đứng tuổi đứng nhìn anh bộ đội trẻ vừa

    nhai lương khô vừa khen dòn. -“Ấy, chúng tôi che chắn hết sức. Đi hai

    tháng rồi, mưa suốt, mà giữ được thế này, được chưa?”. Được quá đi chứ

    lị, mấy bác dân công ơi! Cám ơn mấy bác quá!

    28-4-1953 Ngày, trời mưa tầm tã. Đêm, bộ đội vẫn hành quân. Qua

    một vùng dân cư, được tin vùng này vừa bị địch bắn phá làm tám, chín

    dân thường bị thương. Cán bộ trung đoàn hội ý, lập đoàn cán bộ có

    quân y sĩ đi theo vào thăm hỏi, giúp đỡ bà con.

    Quá nửa đêm đến Lạt Bủa. Ban ngày địch còn đến ném bom nơi đây.

    Những nhà đẹp nhất vẫn là nhà của Hoa kiều. Người Việt phần lớn

    nghèo. Họp, bàn kế hoạch vận động tranh thủ nhân dân khi còn đóng

    quân ở vùng này.

    Khuya tôi nghe có người nói chuyện bằng tiếng Việt. Tưởng gặp kiều

    bào, tôi dậy nói chuyện với bà con. Hóa ra họ là người Hoa. Nhưng đều

    nói sõi tiếng Việt. Hỏi bộ đội ta từ Sầm Nưa hay từ Bản Ban về. Họ đã

    được tiếp xúc với bộ đội ở Sầm Nưa. Cũng nắm được tình hình Trung

    Quốc. Mấy thanh niên muốn đổi lấy tiền Việt Nam. Để chơi thôi. Một

    anh cầm khẩu tiểu liên của bộ đội: “Cái này Trung Quốc sản xuất đây.

    Có thể cầm thế này, tha hồ bắn. Súng của Mỹ bắn một chốc nóng nòng

    là chịu thôi. Cái này bắn được lâu lâu a!”.

    Người Lào ở Bản Ban nói: “Hồi còn thông thương với Việt Nam, có

    chiếu, có muối. Bây giờ chịu thôi, không còn có gì nữa”.

    29-4-1953 Vẫn mưa không ngớt.

    Ban sáng, máy bay địch vẫn chỉ điểm cho pháo bắn phá. Súng đạn

    quá nhiều thành ra thấy bình thường. Coi cái sống cái chết như không.

    Địch đến ném bom xong, lát sau là không nghĩ tới nữa. Bình thường

    hóa chiến tranh.

    Chúng tôi vào một bản gần nơi trú quân. Các nhà to đều dỡ nóc để

    đỡ bị máy bay bắn phá (nhà kín nó chúng nghi có thể che giấu bộ đội

    bên trong). Trong một nhà, đông người lố nhố. Ba người đàn ông đội

    mũ bê rê, ngồi hút thuốc bên bếp. Bốn năm người đàn bà chạy tới chạy

    lui. Một chị đang mặc chiếc áo cổ vuông, thấy có người lạ vào, khoác

    thêm chiếc áo cánh chàm. Chị cười, phô hàm răng trắng nhỏ và rất đều.

    Một chị khác mặc sơ mi trắng, ngực đồ sộ, váy sặc sỡ, trải chiếu mời bộ

    đội ngồi. Họ nhìn chúng tôi cười, chúng tôi nhìn họ cười. Không ai biết

    tiếng, ngoài tiếng Xăm bai!

    Một chị làm thức ăn. Sẵn thịt bò máy bay vừa bắn chết sáng nay, còn

    tươi. Hai chị khác đến ngồi cạnh bếp. Một anh đội mũ phớt tán tỉnh gì

    đó, họ đùa cợt với nhau rất tự nhiên. Một anh mang khèn ra thổi, tiếng

    khèn trầm trầm du dương, thỉnh thoảng có tiếng đệm thấp nghe buồn

    vắng xa xôi như xứ Lào.

    Anh U. giở cuốn sách học tiếng Lào ra tra mãi rồi mới tìm được câu

    nói: “Chúng tôi là bộ đội Việt Nam mới lên, không hiểu phong tục tập

    quán, có gì sơ suất xin anh em bày vẽ cho”.

    Người đàn ông đội mũ phớt gật gù cười rồi chỉ vào mình nói: “Trung

    Quốc”. Rồi chỉ hai phụ nữ: “Đó mới là người Lào”.

    Trong đoàn chúng tôi có anh L. và anh Q. từng ở Trung Quốc, nói

    được ít tiếng Tàu. Chúng tôi đưa ra tấm ảnh Cụ Hồ và ảnh Thủ tướng

    Souphanouvong, anh đội mũ phớt nói luôn, Cụ Hồ Chí Minh. Anh xòe

    tay ra hỏi Cụ Hồ nay thọ được bảy mươi tuổi chưa. Cụ Mao hơn sáu

    mươi rồi. Họ cho biết là người Vân Nam, qua đây làm ăn đã mười sáu

    năm. Và cũng đã được nghe nói đến Mao Chủ tịch từ năm, sáu năm nay.

    Cũng có biết sơ sơ tình hình bên Trung Quốc. Họ nói: Sang được Việt

    Nam thì đi ô tô chỉ ba ngày nữa là về đến quê tôi ở Vân Nam thôi.

    Lát sau hai chị phụ nữ Lào cùng anh thanh niên thổi khèn đứng dậy

    vác ô, xách bao gạo chào ra đi. Bây giờ mới vỡ lẽ. Họ là người bản khác

    tản cư đến đây tránh địch. Hai người Trung Quốc cũng từ ngoài phố sơ

    tán vào. Còn những người chủ nhà thì đã tản cư đi nơi khác rồi. Chẳng

    có ai là chủ ở đây cả.

    03-5-1953 Trở về thị xã Bản Ban sau những ngày hành quân liên

    tiếp. Gặp lại Hoàng Yến. Đã nhận được lệnh trên. Hoàng Yến bảo tôi

    mai cùng về xuôi với anh ấy. Đã về rồi ư? Sớm hay muộn? Chậm hay

    nhanh? Cũng chỉ mới có hơn một tháng thôi nhưng đi nhiều, chịu gian

    khổ nhiều và xa xôi thành cảm thấy lâu quá.

    Ừ thì về!

    Mệt và đói, không muốn ghi thêm lấy một dòng.

    Tham gia chiến dịch này, mình có trực tiếp dự được trận đánh nào

    đâu, như mấy năm trước đi Chiến dịch Phan Đình Phùng tại Quảng Trị,

    Quảng Bình. Toàn đi và đi. Phóng viên không có bài nào mô tả trực tiếp

    trận chiến đấu, sao dám gọi là phóng viên mặt trận!

    04-5-1953 Chiều vàng xứ núi.

    Ca dao bộ đội làm trên đường hành quân ( T rích sổ tay Chiến dịch Thượng Lào, 1953).

    Tôi ngồi trong nhà sàn một bản gần thị trấn Bản Ban, đọc tờ báo bên

    nhà vừa mới gửi đến, dày cả tệp. Tìm xem có bài nào của mình không.

    Cùng lục báo cùng với Khanh (Hoàng Thượng Khanh). Nhắc lại

    những kỷ niệm hồi cùng nhau ở đồng bằng Bình Trị Thiên.

    …Gặp một bài báo viết về phong trào thanh niên Tây Ban Nha chống

    phát xít Franco, và bài xã luận về “ngày 14-4” (ngày kỷ niệm chống

    phát xít?) làm tôi giật mình. Trời ơi, thời gian! Sao qua nhanh thế? Một

    ý nghĩ rất cũ mà sao thấm thía. Tôi còn nhớ rõ ràng và tưởng như mới

    ngày hôm qua đây thôi, ở chòm Chiến Thắng tôi ngồi viết bài về “ngày

    14-4” vào một trưa hè oi bức năm ngoái, mới năm ngoái đây thôi.

    Thế mà một năm trôi qua rồi. Thế mà một năm rồi! Câu nói ấy vang

    mãi trong đầu. Và bao giờ cũng kèm theo một ý nghĩ lo âu nổi lên trong

    tôi: “Ta đã làm được gì trong năm vừa qua?”

    CA DAO BỘ ĐỘI LÀM TRONG LÚC HÀNH QUÂN

    Tinh thần cấp dưỡng rất cao

    Hành quân chẳng quản gian lao nhọc nhằn

    Trên vai gánh nặng thức ăn

    Nào cải nào chuối, xương hầm thịt dưa

    Hành quân chẳng quản nắng mưa

    Cơm dẻo canh ngọt thêm vừa lòng ta

    Tinh thần biểu lộ đó là

    Anh em cấp dưỡng kịp đà quyết tâm.

    A2.B1

    Hoan hô cấp dưỡng B5 ta

    Tuy rằng mệt nhọc nhưng mà quyết tâm

    Thực hiện được “bếp Hoàng Cầm” (bếp không khói)

    Để cho bộ đội được nằm ngủ yên

    Muốn cho chiến đấu vững bền

    Nuôi quân, phòng bệnh ta nên giữ đều.

    A3.B5

    Hành quân chẳng quản đường xa

    Bốn điều kỷ luật nêu ra hằng ngày

    Đường thì lắm đá lắm cây

    Khắc phục gian khổ diệt bầy thực dân

    Anh em thực hiện quyết tâm

    Giải phóng dân tộc nhân dân tin mình

    Hành quân qua núi qua rừng

    Trong khi mệt nhọc xin đừng kêu ca.

    A2. B5

    Đi sương nằm đất mặc dầu

    Tinh thần quyết giữ, gian lao không sờn

    Thi đua trong đợt hành quân

    Đèo cao cứ vượt, đau chân chẳng nề

    Quyết tâm chiến thắng trở về

    Hoàn thành nhiệm vụ Xuân Hè 53

    Nói gương Chí nguyện Trung Hoa

    Hy sinh chịu đựng nay đà phân công.

    A2.B1

    ... Đất rừng miền núi âm u

    Trèo non vượt suối mịt mù tối tăm

    Nhân dân nước bạn chờ mong

    Mặc dù gian khổ ta đừng ngại chi.

    A3.B4

    CHỈNH HUẤN VÀ GIẢM TÔ

    1953

    TIỄN ĐƯA CÁC CỐ ĐẠO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI HỒI HƯƠNG.

    21-5-1953 Tôi đã trở lại Đô Lương. Vội đến thăm bạn. Bắt gặp một

    hình ảnh đẹp. Vừa vào tới cổng, gặp bạn đi ra, vai gánh đôi vò đi lấy

    nước, tay áo xắn lên trên khuỷu tay. Đẹp trong lao động. Tự nhiên lòng

    mình thấy vui. Qua cuộc kháng chiến này, dường như bất kỳ ai cũng có

    đổi thay, tiến bộ.

    10-6-1953 Từ chiến dịch Thượng Lào về, hy vọng có chút thời gian

    nghỉ xả hơi, ăn uống bồi dưỡng tí ti cho lại sức, rồi còn phải sắp xếp

    lại các tài liệu ghi chép tản mạn, mỗi sổ tay một ít, tiện đâu ghi đấy,

    miễn là ghi luôn cho khỏi quên đi, cho có lớp lang một chút. Ai ngờ có

    chỉ thị phải về Vinh luôn, tham dự và tường thuật cuộc tiễn đưa các cố

    đạo Tây được Chính phủ ta cho phép hồi hương.

    Các ông cố đạo người nước ngoài làm cha xứ hoặc giảng dạy tại nhiều

    nơi từ Huế ra Thanh, sau khi mặt trận Huế vỡ, quân đội Pháp thẳng

    tay bắn giết đồng bào ta, dân căm thù lắm. Nhiều người không nói ra

    miệng để chính quyền ta khỏi cản trở, nhưng đã thề với nhau, hễ gặp

    mấy lão Tây già ấy thì cứ lẳng lặng “triệt” luôn. Ta biết, và để bảo vệ

    họ, tránh gây nên điều tiếng có hại cho đường lối của Chính phủ, cho

    dồn tất về Giáo phận Xã Đoài, giao Tòa Giám mục cùng giáo dân chăm

    nuôi các cố, trong đó nhiều cụ đã quá cao tuổi, lại đau yếu luôn, chưa

    biết ra đi lúc nào.

    Nhà thờ Cầu Rầm. Ngoài ngôi giáo đường bề thế, còn có nhiều dãy

    nhà rộng xây liền kề, nằm giữa khuôn viên rộng, trồng nhiều cây ăn

    trái ngon. Cam Xã Đoài, bưởi Phúc Trạch, ổi, xoài, mít chuối... Mùa nào

    thức ấy, rau trái tươi quanh năm.

    Cuộc họp mặt giữa đại diện chính quyền tỉnh Nghệ An với các cố

    (không chỉ người Pháp mà còn có cả người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha),

    đông đủ các cụ, ngoài ra còn nhiều giáo chức người Việt và đại diện

    các tổ dân chòm. Gian phòng gặp mặt rộng gần bằng cái hội trường

    của tỉnh. Hai dãy hành lang hai bên dài hun hút. Trong phòng kê sẵn

    các dãy bàn đối mặt, phủ khăn trắng tinh như Phòng tiếp tân Nhà

    giao tế. Trên bày các đĩa trái cây và chén nước trà - trà tàu hẳn hoi,

    Tiễn các cố đạo Pháp hồi hương, Nghệ An, 1953. Nhà Việt Nam học Léopold Cadière tức

    Cố Cả: Người thứ sáu từ trái sang, mặc áo đen quần trắng. Người mặc bộ đồ trắng: Ngô

    Ngọc Du. Phan Quang (x)

    không phải trà tươi như bà con ta vẫn dùng. Cữ này chưa tới mùa cam,

    nhưng có nhiều chuối chín cây, trái nào cũng béo nung núc, và nhất

    là ổi, ổi chín tới ít ai dùng, vừa cho hái xếp lên các đĩa tỏa mùi thơm

    phức. Các cụ cố đều mặc tấm áo chùng thâm dài gần bén gót, dùng

    khi hành lễ.

    Phía chính quyền, người điều hành chính là Phạm Thành Vinh. Ông

    này luật sư, nghe nói người gốc huyện Hưng Nguyên, cháu liệt sĩ Phạm

    Hồng Thái, thời trước kháng chiến sống ở Hà Nội, nay làm Ủy viên Ủy

    ban nhân dân tỉnh. Tôi chưa gặp ông lần nào nhưng nghe đồn tiếng Tây

    ông nói còn hay hơn Tây. Thật ra lo việc tổ chức đưa các cố đạo và kiều

    dân Pháp hồi hương, bảo vệ họ cho tới khi bàn giao tận tay phía bên

    kia, mà Tòa Giám mục Phát Diệm là đại diện, là một người khác. Ông

    làm Trưởng ty Công an tỉnh, từng bị một số phần tử quá khích lợi dụng

    tôn giáo hành hung, phải vào bệnh viện điều trị lâu ngày: Anh Ngô

    Ngọc Du, tôi có quen, lúc này không thấy ông đứng đầu ngành Công an

    tỉnh xuất hiện.

    Tôi là phóng viên duy nhất tại cuộc gặp mặt. Còn có một anh chuyên

    chụp ảnh nữa, người của công an. Các cụ cố đạo trịnh trọng từ hành

    lang bước vào lần lượt ngồi xuống bàn. Anh Vinh đứng dậy giải thích

    với các cố chính sách khoan dung nhân đạo của Nhà nước Việt Nam.

    Các cố trịnh trọng nghe, suốt cả cuộc họp, tôi không thấy ai mở miệng

    nói một lời. Đang giữa lúc trang nghiêm, bỗng một cụ cố người cao và

    gầy, mái tóc bạc phơ không vuốt chải, từ đâu bên ngoài lừng lững bước

    vào, không chào hỏi ai, chăm chăm nhìn mấy đĩa trái tây, rồi lựa trái

    ổi chín vàng nhất, mềm mại nhất cho vào miệng sún nhai trệu trạo,

    và quay lưng lừng lửng ra khỏi phòng, vừa đi vừa cạp ổi... Các cụ cố

    khác vẫn trịnh trọng ngồi nghe, thản nhiên như không hề nhìn thấy

    cụ cố bơ thờ này.

    Tôi lạ lùng hết sức. Anh nhiếp ảnh ngồi bên rỉ tai: “Cố nớ lú từ lâu

    rồi. Ngày thường, không có người đưa áo bắt mặc thì cố cứ ở trần đi thơ

    thẩn trong vườn. Hôm nay, ngoài áo dài nhưng bên trong chưa chắc có

    quần đùi mô”.

    Lại để ý có một cụ cố nữa hơi khác người. Cụ tầm vóc không cao to,

    dưới cằm có bộ râu dài trắng chẻ thành hai chòm chĩa xa nhau, nhìn

    rất đáng kính. Cụ không mặc áo chùng đen dài như tất cả các cố khác.

    Thay vào đó, chiếc áo dài lửng, tà áo phủ đầu gối, hàng khuy cài bên

    phải, y hệt cái áo cha tôi vẫn mặc mỗi lần lên nhà thợ họ thắp hương

    ngày rằm và mùng một. Thấy tôi chăm chăm nhìn cố, vẫn anh thợ ảnh

    kia mách: “Cố Cả đó”.

    Trời! Cố Cả! Tức Linh mục Cadière! Nổi tiếng lắm. Cả tỉnh Quảng Trị

    tôi và nhất là trong Huế chẳng ai có học ít nhiều mà không nghe tiếng

    Cố Cả. Ngày thường Cố làm cha xứ trông coi nhà thờ xứ Di Loan, tỉnh

    Quảng Trị quê tôi. Hồi nhỏ, học trường Pháp Việt, có một lần tôi được

    theo đoàn sói con (hướng đạo sinh) đi cắm trại tại Cửa Tùng, sau đó

    thăm Nhà thờ xứ Di Loan. Đẹp lạ lùng. Đẹp hơn hẳn Nhà thờ Cầu Rầm

    này. Lớn lên, đi lại nhiều nơi, tôi vẫn chưa hề thấy ở đâu có cái nhà thờ

    đẹp như Di Loan. Bề thế hơn cả Thánh đường Đức Mẹ La Vang cận kề

    làng tôi. Tôi biết Cố Cả đã làm cha xứ Di Loan đó từ thời mình chưa nứt

    mắt, chưa có trong bào thai mẹ, thì đúng hơn.

    Tôi lần đến gần bên Cố, lễ phép hỏi:

    - Thưa Cố, Cố đến nước Việt Nam lần đầu năm nào?

    - Tui đặt chân tới nước mình lần đầu năm 1892.

    1892! 1892! Là cái năm nào? Tôi ớ ra, thật khó hình dung một cái

    năm xa xưa đến vậy. Thuộc thế kỷ trước! Lại thêm cái giọng đặc sệt

    người vùng Gio - Vĩnh quê miềng nữa chứ!

    Tự nhiên tôi mất tự tin, không dám nói gì, hỏi thêm gì Cố nữa. Như

    thể vừa gặp một con người trong tiểu thuyết, một nhân vật cổ tích từ

    xa xưa hiện về!

    Anh Phạm Thành Vinh nói văn hoa dài dòng. Chính sách nhân đạo

    của Cụ Hồ. Tình đoàn kết giữa nhân dân các nước... Tôi không chú

    ý nhiều. Toàn các chính sách, đường lối mọi người đã biết, mình sốt

    ruột trong khi các cố già yếu thế vẫn ngồi nghe nghiêm chỉnh. Bà con

    giáo dân người Việt mình thì chỉ lặng yên được một lúc đầu, rồi bắt

    đầu thì thầm trò chuyện. “Ông Ủy ban nói chi với các cố mà nói hoài

    ra rứa!”.

    17-6-1953 Chập tối, chiếc đò to có lợp mui tròn che mưa nắng chở

    các cố mới rục rịch chuẩn rời bến Sông Lam. Dạo này máy bay Pháp gần

    như ngày nào có nắng là y như từ biển xộc vào bắn đạn, thả bom linh

    tinh. “Mùa hè ngày dài, chiều lại mây, phải cảnh giác, cho đò rời bến

    muộn một chút cho yên tâm” - anh Du căn dặn cấp dưới.

    Mấy cố quá già yếu, không tự đi lại nổi, đã được công an dìu vào

    nằm nghỉ đâu bên trong mui. Còn lại các cố khác được về chuyến này

    đều ngồi lên mui đò, hưởng chút gió sông. Các mái đầu bạc, các bộ

    râu trắng, nổi bật hẳn lên bên trên những tấm áo đen dài phủ chấm

    gót chân. Riêng Cố Cả vẫn bận chiếc áo dài tộc trưởng, để lộ hai ống

    quần trắng lùng thùng che đôi chân gầy mang dép. Tay cầm chiếc

    mũ lá mới được chính quyền phát cho các cố che đỡ nắng và mang

    về bên Tây làm kỷ niệm. Vị đại diện chính quyền tỉnh, lần này đích

    thân Trưởng Ty Ngô Ngọc Du xuất hiện, anh nói mấy lời tiễn biệt,

    chúc các cố lên đường bình an, khỏe mạnh. Rồi bước xuống đò chụp

    chung với các cố tấm ảnh. Chỉ mình anh Du thôi, những người khác

    không được đặt chân xuống đó, sợ chiếc đò nghiêng. Lãnh đạo đã có

    lời dặn trước, tất cả mọi người tham dự đều phải đứng trên bờ. Trong

    ánh trời chiều, bộ complet faux tussor sáng khá lịch sự của sếp nổi bật

    giữa màu đen và màu đen.

    Chiếc đò từ từ rời bến.

    Ngoài chiếc đò to này còn có hai cái nữa nhỏ hơn chở công an và

    dân quân đi theo, một chiếc trước dẫn đường, một chiếc sau bảo vệ,

    từ từ rời bến sông Lam ra phía huyện Nghi Lộc, rồi nghe đâu dọc theo

    con kênh nhà Lê mà đến tận cuối huyện Nga Sơn tỉnh Thanh, chờ phía

    bên kia từ Phát Diệm, Ninh Bình sang tiếp nhận các cố, ký biên bản

    bàn giao. Từ đây phía bên kia chịu trách nhiệm chăm nuôi, bảo vệ và

    cho các cố xuống tàu nhà binh hồi hương về Pháp.

    - Adieu! Bon voyage1!

    1 Chúc Thượng lộ bình an!

    Anh Du tươi cười đưa tay vẫy, chào thật to. Ông Trưởng ty có vẻ thích

    chí lắm, bởi sắp hoàn thành tốt đẹp trách nhiệm nặng nề được Trung

    ương giao1.

    24-8-1953 Chỉnh huấn. Năm tháng liền không ghi lấy một dòng vào

    nhật ký. Từ chiến dịch Thượng Lào về, lao vào công việc tòa soạn. Chế

    Lan Viên được ra nước ngoài chữa bệnh. Hoàng Yến ở lại luôn trong

    quân ngũ. Cũng muốn dành ít thời gian sắp xếp lại những ghi chép tại

    mặt trận, sợ để lâu ấn tượng của mình phai nhạt mất.

    Tiếp đó là tập trung dự lớp chỉnh huấn.

    Chỉnh huấn đến nay vừa được hai tháng tròn. Xong phần tư tưởng,

    chúng tôi chuyển sang học bài mục về Chính sách ruộng đất và phát động

    quần chúng. Cũng nhận ra được hình thù tư tưởng phong kiến trong

    mình. Hôm nay sơ kết tại hội trường lớn, đồng chí Th. nói: “Các đồng

    chí cần cảm thông với lòng Đảng hơn nữa”, tôi thấy thấm thía làm sao.

    Nhớ lại câu nói tương tự của anh Ph. hôm khai mạc: “Có những đồng chí

    chỉnh huấn rồi nhưng không thành công, đó là vì lòng các đồng chí ấy

    chưa cảm thông với lòng Đảng, tim các đồng chí ấy chưa đập cùng nhịp

    tim của Đảng... ” Một anh văn nghệ nói riêng với bạn: “Câu nói ấy nếu

    phát ra từ miệng một người nào khác và vào một lúc khác, mình sẽ thấy

    nó sáo rỗng và kiểu cách. Nhưng hôm nay sao nghe thấm thía quá”. Lời

    phát biểu chân thành. Nhưng chắc anh bạn không thể cảm thông sâu xa

    câu nói ấy như tôi bởi một lẽ giản dị tôi là đảng viên. Hôm nay nghe lại

    câu nói của anh Th. trước khi chấm dứt phần sơ kết, tôi chậm rãi, nắn

    nót ghi bên lề cuốn sổ mấy chữ : Cảm thông với lòng Đảng. Và vừa lúc này,

    mạn đàm trong nhóm, chúng tôi lại nêu lên và trao đổi với nhau về vấn

    1 Mãi gần đây, nhân có dịp trở lại thành phố Huế, tôi mới biết: Đến Hải Phòng,

    chuẩn bị xuống tàu, Linh mục, học giả Léopold Cadière bày tỏ nguyện vọng:

    “Xin phép nhà chức trách cho tôi được sống những ngày cuối đời trên đất nước Việt

    Nam mà tôi gắn bó và yêu quý”. Cố Cả hồi ấy cao tuổi lắm rồi, lại hay đau yếu.

    Nguyện vọng của Cố được Bộ chỉ huy quân đội Pháp chấp nhận, cho ở lại rồi

    chuyển Cố trở lại Huế theo yêu cầu của Cố. Cố qua đời tại thành phố Huế mấy

    năm sau, nay còn mộ chí tại nghĩa trang Kim Luông, Huế.

    đề nên cảm thông hơn với tấm lòng của Đảng. Trách nhiệm của Đảng

    trước dân tộc nặng nề lắm, chúng ta không biết hết đâu.

    Hôm nay được đi ngủ sớm một hôm, tôi nhớ tới cuốn nhật ký của

    mình. Mấy tháng rồi không động đến. Chương trình học tập căng thẳng

    quá. Tôi không ngờ mình có thể làm việc nhiều và khẩn trương đến thế.

    Làm suốt ngày, cả trưa cả tối đến tận 12 giờ đêm. Người cứ gầy rộc, tái

    xanh nhưng sức mạnh tinh thần đẩy mình đi.

    Một hôm đang họp Học ủy, Chi ủy liên miên từ sáng cho đến hai giờ

    chiều. Họp vội vàng để kịp đi báo cáo tình hình với Học ủy khu vực, anh

    Phan Nhân bỗng ho, khạc mạnh và nhổ ra mấy bãi máu. Màu huyết tươi

    đậm, hơi ngả về tím, Nhân kêu lên: “Chết cha rồi!” Anh em nhìn nhau

    lòng nao lên như có cái gì va chạm mạnh. Ai cũng thương cho đồng chí

    và nghĩ tới bản thân. Chiều nay anh Trịnh Xuân An gặp tôi cũng thì

    thầm cho biết hồi trưa, Hoàng Tuấn Nhã cũng bị như Phan Nhân, hiện

    đang nằm nghỉ ở nhà. Làm việc căng về tinh thần, nhất là đấu tranh tư

    tưởng bản thân làm suy yếu cơ thể con người đến như thế đấy.

    Rảnh rang, chợt nhận thấy trăng mười sáu chiếu sáng vào thềm, bóng

    cây ngả xuống sân. Bỗng dưng Trần Văn Sơn sang chơi, kể chuyện đi

    thuyền đêm trăng trên sông Cửu Long xuôi về Hậu Giang hồi anh phiêu

    bạt trong Nam. Anh chàng đêm nào cũng cặm cụi đèn sách trong cái

    nhà vắng vẻ như am, hôm nay hẳn thấy trăng sáng, thấm buồn nên chạy

    sang tán gẫu với tôi. Tôi cũng nhớ nhiều. Anh trăng thường gợi kỷ niệm.

    Nhất là khi mình còn nặng tư tưởng lãng mạn tiểu tư sản trong đầu.

    02-9-1953 Kỷ niệm Quốc khánh lần thứ tám. Buổi lễ huy hoàng tổ

    chức ở Đồi Giùng. Mỗi lần kỷ niệm, một lần thêm tin tưởng. Khó mà

    phân tích rõ cảm xúc của mình. Có lẽ do tham gia sinh hoạt tập thể

    nhiều, tự nhiên con người cá nhân chủ nghĩa trong mình xẹp xuống.

    Tôi mang máng cảm thấy rằng con người mới ở Liên Xô và các nước

    đang tiến lên chủ nghĩa xã hội do có hoàn cảnh thuận lợi, con người

    cũ không phải bị chèn ép, dồn nén lắm mà tự nó tiêu vong dần. Sống

    cô đơn, ít chan hòa với tập thể là điều kiện dung dưỡng cho chủ nghĩa

    cá nhân.

    03-9-1953 Tin Trần Hữu Thung được trao giải nhất về thơ ở Đại hội

    thanh niên dân chủ họp Bucharest làm ngơ ngẩn nhiều anh em văn

    nghệ sĩ. Tôi gặp các anh Thanh Châu, Hoàng Thượng Khanh, và cả Lưu

    Trọng Lư nữa vừa từ các thí điểm phát động quần chúng ở Thanh Hóa

    vào, ai cũng lo mình đã lâu không sáng tác được gì. Trần Hữu Thung có

    nhiều chất nông thôn nên thông cảm rất dễ dàng với nông dân Nghệ

    Tĩnh. Ngôn ngữ thôn quê Thung nắm vững, diễn tả dễ dàng. Ca dao

    Thung làm phục vụ kịp thời cuộc phát động rất nhiều và khá đặc sắc.

    Nhiều hình ảnh ở nông thôn Thung cảm nhận và ghi lại rất tài tình. Về

    phương diện này, mình thật chịu vái ông Thung.

    Hôm trước Bùi Hiển và tôi đồng ý với nhau rằng muốn phục vụ kịp

    thời các cuộc đấu tranh của nông dân trong đợt phát động quần chúng

    này, có lẽ phải tập làm thơ và ca dao. Văn xuôi không thể nào làm

    nhanh được. Tôi thấy lo lo. Bỏ lĩnh vực quen thuộc của mình, sang một

    lĩnh vực khác mới lạ, chắc chắn sẽ nhiều ngượng ngùng. Không biết rồi

    mình có làm được không. Tôi không hay làm thơ, thảng hoặc có làm

    một đôi bài thì cũng là tâm tình với cái điệu rất cổ, mang nhiều vết tích

    của thơ ca lãng mạn thời trước. Thành ra chẳng dám đưa cho ai xem cả.

    Mình còn biết nó là không phải, huống hồ người đọc? Nhưng thật ra

    đôi khi cũng có những cảm xúc mà mình thấy phải chỉ có ghi lại bằng

    thơ thì mới diễn tả hết được. Dùng văn xuôi hay một hình thức nghệ

    thuật nào khác sẽ không thể nào đạt. Không phải thơ hơn các bộ môn

    khác, mà chẳng qua mỗi bộ môn văn học sinh ra là để diễn tả cảm xúc

    trong một phạm vi và điều kiện nào đó. Tôi đã làm bài thơ Đảng trả tôi

    về với giai cấp đăng báo Cứu Quốc số đặc biệt nhân Quốc khánh vừa qua.

    Đây là bài thơ đầu tiên của tôi đăng báo. Cần phải có chút gì phục vụ

    kịp thời. Khen có, chê có, tất nhiên. Nhưng cái làm tôi thú nhất là khi

    nghe có người nói độc giả cảm nhận được cảm xúc chân thành của tác giả.

    Cảm xúc này nảy sinh nhờ học bài mục về “Lý luận cách mạng Việt Nam”.

    07-9-1953 Được một ngày nghỉ chờ sang học bài mục mới, tôi đến xã

    Đại Đồng dự buổi lễ ra mắt Đoàn công tác cải cách ruộng đất bên đó rồi

    đi tiếp lên Đô Lương. Đắn đo mãi, không biết có nên ghé thăm bạn hay

    không. Sợ bị phân tán tư tưởng. Thật ra thì tôi sợ phải chịu tai tiếng là

    không tập trung vào việc học tập, chứ bản thân cũng chẳng thấy có gì

    phân tán. Tìm một chút vui thư giãn giữa những ngày dồn dập, sao lại

    gọi là phân tán?

    Vẫn cái nhà rộng thênh thang và trống trải. Bạn tôi đang ngồi cặm

    cụi làm việc. Một thoáng mừng vui hiện lên trên sắc mặt khi bạn thoạt

    nhìn thấy tôi. Bạn cười hớn hở, chạy đi lấy nước mời tôi uống, tìm cái

    quạt nan cho tôi quạt. Hai đứa ngồi nhìn ra cái sân gạch sáng chói. Bạn

    nói: “Chúng mình ngồi với nhau như thế này không biết bao nhiêu lần

    rồi”. Tôi mỉm cười, cùng nhớ lại những lần trước.

    Bạn cho tôi đôi khăn mù soa thêu tên tôi. Tôi nhìn bạn không nói.

    Băn khoăn. Nhận làm gì? Nhưng bạn đã lỡ thêu tên mình rồi, không

    nhận thì có mích lòng nhau không? Đôi mù soa lần trước bạn thêu biếu

    tôi, dùng còn chưa cũ. Ngại cho mối liên hệ giữa hai đứa, làm chi cho

    thêm nặng tình nhau. Những chuyện đơn giản, đừng làm cho nó éo le

    thêm. Lấy ánh sáng tư tưởng mới mà so vào thì thực chất nó là cái gì?

    Tôi bán tín bán nghi. Nhưng nghĩ đến những ngày vắng vẻ, bạn cặm cụi

    thêu tên mình, chuẩn bị ngày chia tay nhau, cũng cảm động. Cảm động

    vì vậy, hay tại lòng tự ái mình được vuốt ve?

    Tính tôi hay phân tích, lý giải. Khi nói chuyện, thường có vẻ con

    người nhiều lý trí. Phân tích là một điều kiện cần cho người viết văn để

    am hiểu cuộc đời nhất là am hiểu lòng người. Phân tích để đi đến nhận

    xét, kết luận trên cơ sở tư tưởng tiến bộ. Nhưng riêng với lòng mình tôi

    đã phân tích để làm gì? Để đi đến đâu? Có phải là để tìm những ý nghĩ

    lạ, riêng nó nhuộm màu sắc cá nhân, hưởng thụ? Tôi không tin mình

    nữa, và hình như tôi đã giấu giếm, dồn nén hay ít ra cũng đã phủ một

    lớp sơn đẹp lên những tình cảm lãng mạn lỗi thời.

    13-9-1953 Nhìn thấy những sách báo từ ngoại quốc gửi về, lòng náo

    nức. Không có thời giờ để đọc. Ngửi mùi giấy thơm đê mê, “mùi giấy

    thơm thơm tình quốc tế”, tôi đã có lần ghi vào đâu như vậy. Nghe nói

    Phòng phát hành sách đang nghiên cứu cách tổ chức bán rộng rãi các

    loại sách đó. Vui. Trên các giá sách ở các thị trấn, sẽ có thêm màu sắc

    mới đánh dấu một bước tiến của cuộc kháng chiến, sự chan hòa các nền

    văn hóa dân tộc xa lạ mà vẫn thương yêu nhau.

    Máy bay địch hoạt động nhiều quá. Hằng ngày có đến mươi, mười hai

    chiếc bay đi bỏ bom, bắn phá lung tung. Thị trấn Núi Thành đã gần như

    bị san bằng. Có tin chưa đích xác, hôm qua thị trấn Nam Đàn bị bom

    napalm đốt cháy. Sáng nào cũng thấy phi cơ lượn, cũng nghe tiếng bom

    nổ rền. Đọc những cảnh đời vui xây dựng tả trong sách báo Liên Xô rồi

    nhìn máy bay địch bắn phá đất nước mình, lòng đau xót và căm thù.

    Một chút gì như ghen tị, ích kỷ mặc dù vẫn biết nhân dân Liên Xô đã

    đổ biết bao máu xương, đã hy sinh nhiều nhất trong trận đại chiến thế

    giới vừa qua. Một cuốn sách đẹp thơm với một chiếc B-26 đen ngòm,

    hai cái đối chọi nhau dữ quá. Cảm thấy thấm thía về sự tàn bạo của

    chiến tranh.

    24-9-1953 Chiều nay được nghỉ một buổi để ngày mai bắt tay vào

    tổng kiểm thảo. Nói là nghỉ thì cũng không đúng hẳn. Giờ giấc cứ như

    dồn dập sau lưng, tôi không ngờ mình có thể chạy theo quần quật như

    thế. Đôi khi mệt quá, cũng muốn uể oải, ước ao được sống và làm theo

    ý muốn của mình. Đôi khi tôi nghĩ giá mà mình chỉ là một học viên

    thường, không phải là Trung tâm, là Tổ trưởng, là Học ủy, là Chi ủy

    chi chi cả thì thú vị biết bao nhiêu. Ý nghĩ này lại nảy ra ngay giữa hai

    bài mục học về nhân sinh quan và ý thức tổ chức, nguy hiểm quá. Con

    người tôi xưa nay nó vẫn tệ thế. Bùi Hiển nhận thấy ở tôi điều này sâu

    sắc nhất. Thích cô đơn, hay buồn, thích những tình cảm nhè nhẹ, tình

    yêu và những sự chăm sóc nhỏ của người bạn tiểu tư sản “tế nhị” trong

    tình cảm và trong cuộc sống, nghĩa là một điển hình tiểu tư sản trăm

    phần trăm. Mà đã là tiểu tư sản thì khó nhìn cuộc đời mới này một cách

    sâu sắc. Đó là chưa nói chuyện nhìn lệch thế gian. Lắm khi ngoái trông

    lại mà lo. Lo thôi. Chứ quyết tâm dứt bỏ cái cũ thì cũng... cần xem thêm.

    Chẳng hạn trong tình cảm. Lý trí bảo rằng chớ nên yêu con gái tiểu tư

    sản, nguy hiểm lắm. Nhưng một cái gì trong tâm can bảo mình hãy cứ

    lưu luyến, chẳng sao đâu. Lý trí đôi khi bảo nên đi tìm và xây dựng gia

    đình trong tầng lớp nông dân nghèo, lớn lên theo cách mạng và kháng

    chiến. Tuy nhiên vẫn có một cái gì đó bên trong làm cho lòng mình cảm

    thấy ý nghĩ ấy chưa thông.

    Máy bay địch sáng nào cũng lượn. Đồng bào gọi là máy bay bừa, “bừa

    qua bừa lại”. Cấp trên nhận định: địch có thể mở một cuộc biệt kích sâu

    vào Nghệ An giống như vụ ngoài Lạng Sơn. Chuẩn bị ráo riết. Đào hầm.

    Sắp sẵn ba lô, bị gạo. Phân công dự phòng trách nhiệm mỗi người khi

    cần di chuyển. Hôm nay họp toàn thể anh em ở hội trường để bàn thêm

    về việc ấy. Nhớ lại thu đông 1948 tại Lai Triều, Thanh Hóa. Thế mà đã

    năm năm qua.

    Trông sao cho tổng kiểm thảo chóng xong. Họp hành liên miên, sốt

    ruột quá!

    16-10-1953 Chỉnh huấn xong, được nghỉ vẻn vẹn có hai ngày. Ngày

    mai lên đường đi công tác phát động. Vui bồn chồn. Chuẩn bị tíu tít.

    Đọc thư Ban Thường vụ Trung ương Hội Văn nghệ gửi anh chị em

    văn nghệ sĩ: “Lúc này là lúc quyết định tiền đồ văn nghệ của mỗi chúng

    ta, quyết định cả cuộc đời của mỗi chúng ta”. Hôm trước có anh phân

    tích tính chất tiểu tư sản trong con người anh, rất thấm thía. Sở dĩ anh

    tiểu tư sản dễ cảm thông nhưng hay giao động vì anh nhìn cái gì cũng

    qua cá nhân mình. Nghe nỗi khổ của nông dân, anh tiểu tư sản nghĩ tới

    bản thân: Nếu mình ở vào hoàn cảnh ấy hẳn mình khổ biết bao nhiêu.

    Nhờ thế cảm thông ngay. Nhưng khi nhìn thấy một tên địa chủ bị đấu

    tố, khi thấy nó phải nhả một phần của bóc lột ra để trả lại cho nông

    dân, anh tiểu tư sản cũng lại thông qua mình mà nghĩ: Nếu mình ở vào

    hoàn cảnh ấy thì mình khổ biết bao nhiêu. Rồi đâm ra thương hại địa

    chủ. Cái tính chất cái gì cũng quàng vào bản thân ấy, tôi sẽ thử nghiệm

    trong (quá trình tham gia) phong trào sắp tới.

    Mấy ngày nay, phấn khích lạ. Hôm nay viết thư cho bạn một mạch.

    Cái vui rớt lại từ hôm qua. Gặp nhau, bạn mừng quá, cứ nắm chặt lấy

    tay tôi. Chưa bao giờ tôi thấy bạn có cái vui nồng nhiệt và lộ liễu đến

    thế. Tôi tự hứa sẽ mang cái phấn khởi ấy vào công tác sắp tới.

    Bảy giờ sáng mai lên đường. Hầu hết anh chị em văn nghệ sĩ vừa dự

    chỉnh huấn xong đều được đi tham gia phát động quần chúng. Sau đợt

    này, nhất định sẽ có luồng không khí mới trong anh chị em văn nghệ

    chuyên nghiệp chúng ta.

    18-10-1953 Xã Tân Dân. Đến Hội trường cũ. Nơi đây, bốn tháng về

    trước chúng tôi đã về dự Đại hội liên hoan du kích toàn Liên khu. Đồi

    đất đỏ. Đường trơn. Chộn rộn chia chi, chia tổ (... )

    Tối nay rảnh. Trăng mồng mười trong. Lạ quá, tôi vẫn bị ám ảnh,

    không làm sao xua đuổi được ý nghĩ ấy đi.

    24-10-1953 Tôi nghĩ mãi mà không

    tìm ra được nguyên nhân cái buồn vẩn

    vơ của mìmh do đâu mà có. Vì thời tiết

    chăng? Bao giờ cũng vậy, vào những

    chiều thu hiu hiu, không mưa hoặc

    mưa lay bay đôi ba hạt, đường làng

    loáng ướt, trời hơi lành lạnh là tôi

    buồn. Một cái buồn vô căn cứ nhưng

    rất thấm thía, đôi khi nó trở thành

    một sự chán nản về cuộc đời, một nỗi

    lo âu về tương lai cứ day dứt tôi ngày

    này qua ngày khác. Từ thuở mới 15,16

    tuổi, tôi từng có cái buồn như vậy. Tôi

    nhớ mãi buổi chiều năm nào, sau sáu

    năm miệt mài học tập để có được cái bằng tiểu học, về quê, đi chăn trâu

    ở Bàu Côộc mấy bữa thay thằng bé giữ trâu vừa bị bệnh.

    Gió xào xạc. Trâu bứt lá ăn nghe cũng xào xạc. Vắng vẻ. Bỗng nghe

    có tiếng khóc, rồi tiếng mõ đều đều. Đưa ma một em bé. Chiếc quan tài

    đóng bằng gỗ trắng trông giống một cái hòm con. Bó đuốc dẫn đầu. Hai

    người đàn ông vác vai hai cái cuốc. Ông sư đi trước đều đều gõ mõ. Chắc

    ông tụng kinh nhưng tôi ở xa không nghe rõ. Đám ma khuất dần ở nẻo

    đường quanh, xuống mé chân đồi phía bên kia. Tiếng mõ khuất dần

    trong tiếng gió xào xạc. Tâm hồn non trẻ của tôi hồi ấy đã xúc động đến

    tận đáy sâu. Về nhà, tôi viết Tiếng mõ buồn, một thứ truyện ngắn hoặc

    Nhà văn Thanh Châu (1912-2007)

    Bút tích Thanh Châu

    là ghi chép, có lẽ đó là sáng

    tác đầu tay của tôi, đánh

    dấu một buổi chiều buồn.

    Tôi thường xa nhà luôn.

    Cho nên nhiều lần tôi nghĩ

    có lẽ tôi buồn vì thiếu tình

    cảm. Và nghĩ một ngày

    kia, khi đã trở về với gia

    đình, hoặc đã có vợ con,

    cái buồn ấy hẳn không còn

    nữa. Nhưng một buổi chiều

    khác, cuối năm 1950, ngồi

    chờ trời tối để băng qua

    đường số 1 ở mạn Bắc Thừa

    Thiên, từ đây lên chiến khu,

    tôi nhìn cỏ lau xào xạc và

    tự nhủ sẽ không bao giờ,

    không bao giờ tôi mất được

    cái buồn kia. Nhiều lần tôi

    thử vận dụng lý luận, vận

    dụng nhân sinh quan mới Đảng dạy cho để xua bỏ cái tâm trạng ấy

    nhưng cuối cùng những chiều buồn như hôm nay vẫn trở lại.

    Có thật, có phải vì thiếu tình cảm gia đình, xa những người thân? Do

    khách quan vì thời tiết, hay do chủ quan của tâm hồn lãng mạn? Cái gì

    là yếu tố chính nơi đây?

    Hoàng hôn. Tôi nằm trên chõng nhìn ra ngoài trời, ngâm bài Gửi mẹ

    ở vùng tạm bị chiếm của Chế Lan Viên. Bài thơ này anh gửi từ Bình Trị

    Thiên ra cho tôi đọc, cùng lúc với bài Nhớ lấy để căm thù. Thơ chép trên

    mấy trang giấy xé từ cuốn vở học trò giấy kẻ ca rô. Bài thơ làm tôi càng

    buồn thêm.

    Chợt nhớ hôm nay là 24 tháng 10, đúng vào ngày mẹ tôi mất sáu

    năm về trước. Sáu năm rồi. Tôi không nhớ ngày âm lịch - nào tôi có

    bao giờ làm kỵ giỗ gì đâu mà nhớ ngày âm - chỉ nhớ được ngày dương

    Lời đề tặng của bà Phan Thị Giáo tập thơ đầu tiên của Chế Lan Viên xuất bản tại Hà Nội, 1955.

    lịch. Bởi ngày 25-10 là ngày chi bộ cơ quan Huyện ủy Hải Lăng họp

    thường kỳ ở chiến khu. Sáu năm trước, chi bộ quyết định kết nạp

    tôi vào Đảng. Mỗi tháng họp chi bộ mỗi một lần, tại chiến khu Hòn

    Linh, huyện Hải Lăng, đó cũng là ngày chính thức làm lễ kết nạp

    đảng viên mới.

    Nhưng đúng vào đêm hôm trước, mẹ tôi qua đời sau đợt ốm nặng tại

    nơi tản cư trên rừng, vì bệnh sốt rét rừng mà không có thuốc chữa chạy.

    Ngày kết nạp tôi vào Đảng, tôi không đến dự. Vậy là gác lại sang ngày

    này tháng sau. Một sự trùng hợp tình cờ đau xót, mỗi lần nghĩ đến lại

    không khỏi bùi ngùi. Trong truyện Đất rừng, tôi tả cái chết của bà Cựu,

    lễ đưa tang đi giữa gió thu xào xạc dù không có tiếng mõ buồn. Một

    vài anh em xúc cảm về chương ấy. Nhà văn Thanh Châu nói: “Đọc rợn

    người”. Đọc rợn người cố nhiên không phải là một thành công của một

    tác phẩm viết về kháng chiến; chẳng qua đó là ghi chép lại một ngày

    buồn thảm có thực trong cuộc đời của tôi.

    …Đèn đã thắp sáng trong gian nhà anh bần nông vừa được chòm bầu

    làm cán bộ. Tiếng nói xúm xít của các đồng chí chung quanh, tiếng dô

    hò của tổ công tác ở sát ngay bên cạnh làm cho tôi đỡ suy nghĩ vẩn vơ.

    Nhà sáng ánh đèn bao giờ cũng có chút gì ấm cúng.

    27-10-1953 Sốt ruột vì hết chỉnh huấn đến học tập, dài ngày quá.

    Bốn tháng liền! Bây giờ lại một tháng nữa, học về chính sách phát động

    quần chúng giảm tô, cụ thể hơn. Để rồi đi làm chỉ có hai tháng công tác.

    Năm 1953 rồi sẽ qua lúc nào không biết cho mà xem! Nhớ lại hồi đầu

    chỉnh huấn tôi vẫn đinh ninh là khi bế mạc, mình sẽ xin nghỉ ít ra một

    tuần, dành đi thăm bà con, bè bạn.

    Có cần học nhiều đến thế hay không? Hình như cuộc đời người cán

    bộ sinh ra là để bận bịu vì những công việc như thế này? Đôi khi có cảm

    tưởng như mình thụ động. Có những công việc (của mình) cứ hẹn rày

    hẹn mai, chẳng biết bao giờ thực hiện được. Nhìn lại những ngày trôi

    qua, tiếc thời gian ghê gớm. Chẳng hiểu tại sao mà tiếc. Mình trẻ, còn

    bao thời gian trước mắt. Có lẽ tiếc tại vì mình hay tự đặt ra câu hỏi: Ta

    đã sử dụng hết và đúng đắn thời gian cuộc đời mình chưa?

    29-10-1953 Mỗi nhà văn có một động lực đi vào con đường văn

    nghệ riêng biệt, đôi khi ngộ nghĩnh. Nhà thơ Tú Mỡ, chỉ vì muốn làm

    thơ để nhại, chế nhạo các anh bạn hay làm thơ. Bùi Hiển, theo lời anh

    kể, vì phản ứng với ông giáo dạy văn hơi lẩm cẩm, suốt bốn năm anh

    học ở ở ban thành chung, ông bắt học sinh học những bài thơ Poèmes

    faits par le maitre (thơ do thầy sáng tác), nhằm dùng các bài thơ đó

    làm con đường thăng quan tiến chức. Nhưng phần lớn những người

    đi vào con đường văn học là do chấn động của một mối tình. Jean-

    Jacques Rousseau vì phu nhân Warrens, Lord Byron vì những người

    đàn bà đẹp trong các khách thính1 làm ông mê mẩn. Đó là nói về điểm

    xuất phát. Nhưng khi đã đi vào con đường văn học rồi thì cái hư danh

    mạnh như thác nước nó sẽ lôi cuốn người viết, không sức gì trụ lại

    nổi; những điểm xuất phát nói trên bây giờ chỉ còn là những dòng

    suối con róc rách nay chảy vào tiếp nước cho dòng sông lớn mà thôi.

    Xuất phát điểm của tôi là gì? Vì tôi ham đọc sách, vì tôi “mê tiểu

    thuyết”, như mẹ tôi thường mắng? Vì có những ông giáo dạy văn là

    nhà văn? Vì muốn thoát ly thực tế, vì muốn mình được sống cuộc

    đời như trong tiểu thuyết? Tôi không thể nào, và chẳng bao giờ xác

    định được.

    07-11-1953 Nhớ sách quá. Mấy tháng ròng, không được đọc cuốn

    tiểu thuyết mới nào.

    Lại một đợt kiểm điểm tư tưởng phong kiến nữa vào cuối khóa. Tôi

    nói với Bùi Hiển: “Chà đi xát lại mãi”.

    Những đợt kiểm thảo dạy cho tôi nếp tư duy biết đề cao cái đúng

    trong khi phê phán cái sai. Đó là một dịp giáo dục chính sách, làm cho

    người bị kiểm điểm có lối thoát. Trước kia tôi chưa hiểu chỗ đó nên

    sốt ruột và coi thường những người hay nhắc lại những nguyên lý hầu

    như cũ kỹ. Ngay trên báo chí cũng thế. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao văn

    mình không giàu tính chiến đấu, trong khi văn các nhà chính trị viết

    thì thường chặt chẽ hơn.

    1 Phòng khách (BTV).

    08-11-1953 Được giờ rảnh là tôi chép thơ. Ở nhà (tòa báo) rất sẵn

    thơ, đến lớp học chính sách mới thấy mình thiếu sự chuẩn bị. Không có

    chút vốn liếng nào. Các buổi liên hoan, anh em ca hát. Tôi hát dở, định

    bụng lúc nào bị anh em gọi đích danh lên góp phần liên hoan, thì đọc

    thơ thay bài hát. Nhưng lại không thuộc bài nào có tính chiến đấu từ

    đầu đến cuối hợp với môi trường này, trong khi thơ lãng mạn đầy trong

    bụng. Lấy gì phục vụ khi về công tác ở xã đây? Giật cả mình.

    May sẵn có cuốn sổ tay giấy thật trắng, tốt, đóng đẹp, quà tặng của

    Liên khu ủy hôm tôi được bình bầu là “học viên gương mẫu” sau lớp

    học tại chức cơ quan Tuyên huấn. Tôi đề lên trang đầu mấy câu cho vui:

    Ra đi chuẩn bị vội vàng,

    Nhặt đôi vần điệu về làng tặng anh

    Gọi là quà mọn làng văn

    Góp phần vào cuộc đấu tranh dân cày.

    09-11-1953 Đêm nằm trằn trọc không ngủ được. Tưởng như mình

    đang tán chuyện nhảm với bạn. Nhớ hôm gặp bạn lần cuối, trước khi đi

    (tham gia phong trào), bạn mừng rơn, nắm chặt tay tôi: “Nhớ anh quá”.

    Mai sau tôi lấy vợ, chắc không dám nhắc lại những phút ấy cho một

    người thứ ba nào. Có phải là tôi hay quan trọng hóa những việc vặt?

    Không ngủ được, đâm ra làm thơ. Dạo này mình trở nên sính thơ vì

    thế. Cái gì cũng có thể hiện ra vần điệu. Quả là nhờ có cái không khí.

    Tại nhờ mấy hôm nay mình suốt ngày đọc thơ, chép thơ mang theo

    phục vụ phong trào. Tôi vừa làm xong bài Gửi bạn. Không đưa ai xem

    cả, ngoài bạn.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ hồ Gươm. Tập ký của Phan Quang. NXB Trẻ, 2016.

    Tác giả gửi www.trieuxuan.info

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,819,193

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/