Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,817,000

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ hồ Gươm (6)

Phan Quang

  • Thứ ba, 15:09 Ngày 21/07/2020
  • 19-7-1952 Hạn ghê gớm quá. Đã mấy tháng rồi không có lấy một

    trận mưa cho ra hồn. Đất cày lên trở xuống mấy dạo rồi chỉ chờ có mưa

    là cấy. Mạ bắc phui (?) bắt đầu héo tàn.

    Nắng. Gió Lào như hắt lửa vào mặt. Đất trắng xóa. Bụi mù trời. Không

    gian là một lò lửa, dạ dày là cái bị đựng nước và người là cái máy lọc mồ

    hôi. Chao ôi, khí hậu Nghệ An!

    Đêm thức khuya vì không ngủ được. Tính ra một đêm chỉ chợp mắt

    khoảng ba, bốn giờ đồng hồ. Phí phạm thời gian quá. Chiều nào chúng

    tôi cũng phải đi tận sông Lam cách nơi ở xa ba, bốn cây số để tắm giặt,

    nghĩa là mất hẳn cả quãng từ bốn giờ chiều đến chín giờ tối.

    Tuy vậy tôi cũng viết xong được cái truyện ngắn như đã dự định trong

    kế hoạch thi đua này. Viết khá say, viết xong, đọc lại không hài lòng. Cũng

    đành chịu thôi, có bao giờ hài lòng được. Hình như Alphonse Daudet có

    viết một câu đại để: “Ôi, người ta đã để rơi vãi mất bao nhiêu thứ, trong

    quá trình ý tứ từ đầu óc thông qua cây bút xuống trang giấy trắng”.

    Điều tôi lấy làm mừng là hình như nhân vật trong truyện đã tạo được

    một chút nào đặc sắc, không quá mờ nhạt như trong những tác phẩm

    tôi viết từ trước tới nay.

    Hôm qua Bùi Hiển mang bản thảo tập Đất rừng lên trả cho tôi cùng

    với những ý kiến đóng góp của Bùi Hiển và anh em ở Chi hội Văn nghệ

    Liên khu. Truyện kém tính chiến đấu, hơi bi thương. Bùi Hiển nói: Anh

    em dưới ấy ngạc nhiên vì sao tôi ở cuộc đời thường vui tính thế mà

    trong tác phẩm nặng vẻ bi thương.

    Những ý kiến của Bùi Hiển nói chung tôi đều đồng tình và ít nhiều

    đã có nghĩ đến trong khi viết. Có đều là tôi không thể hiện nó lên đầy

    đủ vì lẽ thiếu tư liệu và thiếu cả... tài năng. Càng thấy cái ý thức sống

    quan trọng thật.

    Thời tôi sống trong Đất rừng là vào khoảng cuối 1947 đầu 1948,

    không khí tỉnh Quảng Trị hồi ấy thật tang tóc. Giặc Pháp hoành hành.

    Căn bản chính trị của tôi còn non. Căm thù của nhân dân ngùn ngụt mà

    tôi không nhìn thấy hết. Có chăng chỉ là nỗi hờn của cá nhân tôi, căm

    hờn nặng bi thương. Chủ trương “tản cư bỏ làng ra đi” của địa phương

    hồi đó là sai. Dân bỏ làng đi hết, lấy ai giữ làng? Đó là những điều kiện

    đã làm Đất rừng không như mong muốn.

    Tôi viết Đất rừng vào đầu mùa hè 1949. Viết toàn đưa theo ký ức và

    tưởng tượng thêm, không có mảy may tài liệu ghi chép. Dài chừng 150

    trang. Không in được, cũng may. Mang bản thảo theo bên mình một

    năm đi khắp chiến trường Bình Trị Thiên. Tại sao tôi đã không nghĩ

    tới chuyện lấy thêm tài liệu để sửa chữa nó? Dù biết là chưa đạt về nội

    dung, tôi vẫn thích truyện ấy. Phải chăng vì chuyện dính với cuộc đời

    mình? Mùa đông năm ngoái khi đi tham dự Trại tu dưỡng của văn nghệ

    sĩ Liên khu, có thời gian, tôi viết lại. Cắt xén đi, còn lại non trăm trang.

    Về hình thức tròn trĩnh, gọn ghẽ, tôi thú vị lắm. Chế Lan Viên đọc, cũng

    đồng ý với tôi điểm đó. Nhưng về nội dung, vẫn thấy chưa được, vấn đề

    nêu lên và giải quyết không dứt khoát, nhân vật mờ và thiếu chiều sâu.

    Con người trưởng thành mà không nhìn thấy quá trình tranh đấu nội

    tâm đâu cả.

    Những ý kiến của Bùi Hiển và các bạn ở Chi hội Văn nghệ càng làm

    tôi vững tin thêm về những suy nghĩ của mình. Có lẽ rồi cũng phải cố

    gắng chữa lại, thử viết lại một lần thứ ba xem! Chao ôi, hoàn thành một

    tác phẩm cực nhọc gian lao thế.

    Nhà văn viết tiểu thuyết không mấy khác nhà chính trị lãnh đạo

    công tác. Phải biết nêu vấn đề, giải quyết vấn đề hợp với quy luật phát

    triển, hợp với chủ trương chính sách và phải “người”, nghĩa là không

    khô khan, giả tạo. Nó còn đòi hỏi những nhận xét sâu sắc của nhà nghề

    để tạo nhân vật, một sự nghiên cứu học tập và thao luyện luôn luôn để

    nâng cao kỹ năng của mình, tạo nên cho mình một phong cách. Nhiệm

    vụ khó khăn, to lớn, đòi hỏi tài năng, lao động trường kỳ, càng làm cho

    mình thấy rõ chỗ non kém. Đời mình, rồi có đạt được chăng? Bây giờ,

    chỉ có biết trả lời bằng sự cố gắng.

    Chiều nay, đọc Định mức, tác phẩm cuối cùng của Nam Cao, và bài

    của Nguyễn Đình Thi giới thiệu Nam Cao. Thương một đồng chí, một

    nhà văn mình mến. Tôi không có cái sung sướng được quen biết Nam

    Cao. Còn nhớ mãi cái cảm tưởng khi tôi còn là một học sinh thời thuộc

    Pháp, mơ nghề văn và tôi đã được đọc Nam Cao. Tôi đã thấy ở Nam Cao

    hồi đó có cái gì mới lạ mà gần gũi với mình. Phải chăng vì hoàn cảnh xã

    hội của tôi gần giống hoàn cảnh xã hội Nam Cao? Đọc xong Nam Cao,

    hồi đó tôi có một ý nghĩ mơ hồ mãi mãi sau này tôi còn giữ mãi: Nếu

    mình viết, có lẽ mình sẽ viết như Nam Cao.

    Bây giờ Nam Cao mất rồi, anh hy sinh cho dân tộc. Mất hơn cả một

    nhà văn đồng cảm, mất một đồng chí.

    Anh Trần Văn Sơn bảo anh không thích Định mức. Ngược lại tôi lại

    thấy lần đầu tiên một nhà văn viết về một hội nghị Đảng quan trọng,

    không úp mở, không giấu giếm. Từ đầu chí cuối, tác phẩm chỉ xây dựng

    trên một cuộc hội nghị mà không nhàm. Các nhân vật đều có nét riêng

    mặc dù tác giả đôi chỗ đã hơi cường điệu thành ra giả tạo. Mỗi đồng

    chí mỗi vẻ nhưng mọi người đều bừng bừng tinh thần vì Đảng, vì nhân

    dân. Tuy nhiên Định mức nói hơi nhiều sự đóng góp của nhân dân mà

    không rõ nhu cầu của tiền tuyến cho nên gây cảm tưởng thuế má quá

    nặng nề cho người dân.

    Chúng tôi chuyển cơ quan về thôn Phượng Kỷ để cho gần sông Lam

    hơn. Thôn này trù mật, nhà ngói sân gạch san sát; anh em không yên

    tâm làm việc, vì sợ máy bay địch đến ném bom. Mới đến được hai hôm,

    chưa nhớ mặt chủ nhà đã rục rịch chuẩn bị dời đi địa điểm khác, nghèo

    khó hơn.

    ... Chập tối, tôi nằm một mình ở nhà trên. Nghe tiếng hát ru em văng

    vẳng, tiếng võng đưa. Chao ôi tiếng hát ru em gợi nhớ nhà. Những buổi

    đêm hè, ở làng quê. Bây giờ, làng ta ra sao rồi? Mấy tháng nay, tôi không

    nhận được thư anh Trạc, anh rể tôi. Và cũng mong chờ đợi anh Thuật

    trở ra, nên cũng không muốn gửi thư về quê thăm cha. Ôi, nhớ nét mặt

    nhăn nheo của cha tôi, trên rừng, năm 1947!

    ... Tôi thường nghĩ, cuộc đời ta đang sống nhiều khi đẹp hơn hẳn

    cuộc đời tả trong sách mà mình không để ý. Thuở nhỏ, sau khi đọc tiểu

    thuyết, tôi thường gấp sách lại mơ cuộc đời mình rồi sẽ có những ngày

    dày dặn cảm xúc như người ta mô tả trong sách. Lớn lên, quay nhìn

    trở lại, đối chiếu với cuộc đời thật bên ngoài, tôi thấy rõ ràng cuộc đời

    tả trong tác phẩm, như ông tham Biên và cả anh họa sĩ Nam kia nữa -

    trong tiểu thuyết Đẹp của Khái Hưng - nhìn ra ngoài đời, có gì là đẹp?

    Đó là những nhân vật mình vẫn gặp hằng ngày, như cô hàng xén Trinh

    ấy thì còn gì chán bằng? Một ông công chức Biên, dăm anh nghệ sĩ -

    chính là những anh mình quen biết ở cuộc đời thật này. Có gì là lạ. Ở

    đây lại phải khen cho cái tài của tác giả đã khéo “lẩy” ra những nét làm

    cho ta thú vị. Tôi nghĩ cái yếu tố đã làm cho ta mến yêu cuộc đời trong

    tác phẩm, thấy nó nổi trội hơn cuộc đời thật, chính là ở chỗ tâm hồn

    phong phú của các nhân vật mà tác giả đã biết gợi lên và mô tả một

    cách khéo léo.

    Ý nghĩ ấy, tôi vững tin khi tôi nhìn lại cuộc đời của chính mình những

    ngày gần đây. Thiếu gì những trang đẹp đẽ hơn cả trong tiểu thuyết

    lãng mạn thời xưa. Hơn nữa, cái đẹp nhất là trong những giờ phút tựa

    hồ lãng mạn, mình vẫn nhớ về thực tại, nhớ tới nghĩa vụ của mình, vẫn

    có ý thức mình là con người của thời nay, của những năm tháng cách

    mạng, kháng chiến. Tôi không thể sống khác, cư xử cách khác được.

    Trên đây tôi diễn tả không được mạch lạc, chưa nói hết suy nghĩ vì

    ghi quá vội vàng, và đầu óc cũng chưa sắp xếp. Nhưng tôi tin ý nghĩ của

    mình sẽ được thực tiễn chứng mình.

    05-8-1952 Anh Thuật đã từ vùng bị tạm chiếm trở ra. Ra một mình.

    Không đưa được cháu nào từ Huế ra vùng tự do. Cậu có gửi cho con trai

    một ít đồ dùng. Một bộ quần áo bằng ximili, áo bà ba, may ô, quần đùi,

    khăn mặt, bút máy... , đủ thứ. Chu đáo quá. Tôi rưng rưng nước mắt. Cha

    tôi năm nay 74 tuổi rồi. O Dõng thân mẫu bác Thuật đã 82. Và bác Lý

    gái chắc cũng trạc tuổi ấy. Ở làng giờ chỉ còn mấy chị em già cả lui tới

    thăm hỏi nhau, con cháu đã đi kháng chiến xa hết cả rồi, ở làng mình

    còn lại có mấy ai? Cậu có từ làng Thượng tìm vô Huế thăm anh Thuật

    hai, ba lần, hỏi chuyện vùng tự do. Cậu nói - và trong thư cháu Cầu viết

    giúp ôông gửi ra cho tôi cũng nhắc lại ý ấy - rằng tôi nên về tỉnh mình

    cưới vợ rồi đi mô thì đi. Anh Thuật có hỏi lại, tại sao cậu không bảo chú

    lấy vợ ngoài ấy luôn cho tiện? Cha tôi đáp: “Sợ nó lấy vợ ngoài ấy rồi

    sau này nó không trở về quê nhà nữa”.

    Áo quần nhà gửi phần lớn tôi không mặc được vì ngắn và chật, kể

    cả đồ mặc lót. Có lẽ người ta hình dung thằng Diêu bây giờ vẫn còn

    nhỏ dại lắm… Tôi đã bàn với anh Ngô Đức Mậu, thế nào cũng phải cho

    tôi vào lại Bình Trị Thiên một chuyến nữa để kết hợp công tác về làng

    thăm cậu.

    Tôi không bao giờ quên chuyến ghé nhà lần trước, lời cha tôi cứ nhắc

    đi nhắc lại, chớ có ghé nhà làm chi. Cha tôi nói thế là cậu lo cho sự an

    toàn của con trai, đêm mô hắn cũng xục xạo, và chưa ai biết trước hắn

    sẽ xộc vô nhà mô! Nhưng chắc ngày đêm cha tôi nhớ đứa con trai. Mình

    cứ nấn ná, đến khi được trở về làng, liệu có còn được gặp đông đủ mọi

    người thân?

    06-8-1952 Gặp Hoàng Yến, nhà thơ ở thị xã Nam Đàn. Hoàng Yến

    cho biết anh Lê Chưởng, Chính ủy Đại đoàn 304, vừa gửi văn thư chính

    thức đề nghị Liên khu ủy cho Minh Huệ, Trần Hữu Thung và tôi được

    sung vào quân đội làm công tác văn nghệ ở Đại đoàn anh. Cũng được.

    Đối với tôi, tùy sự cần thiết của công việc. Vào bộ đội thế nào chẳng gò

    bó hơn ở ngoài nhưng rồi cũng xong cả, miễn là mình có đủ sức khỏe

    và quyết tâm.

    09-8-1952 Đến xin gặp bác sĩ Nguyễn Đức Khởi, Giám đốc Sở Y tế

    Liên khu 4. Nhờ ông đích thân khám sức khỏe cho. Khám xong, nhẹ

    hẳn người. Tim tốt. Phổi tốt. Mấy lâu nay cứ bị ám ảnh vì chuyện thỉnh

    thoảng cảm thấy tức ngực. Bây giờ được đả thông rồi nhé. Yên tâm vào

    quân ngũ đi. Yên tâm lên đường tham gia chiến trận đi.

    Tiện thể về Thanh Chương, tôi sang sông tìm thăm anh chị Kh. và

    các cháu. Lâu rồi, thiếu tình cảm gia đình, bà con. Bây giờ gặp nhau,

    mấy đứa bé cứ tíu tít cậu cậu, cháu cháu, sao mà cảm động. Cũng là một

    sự chuẩn bị nữa cho việc mình vào quân đội đây. Cháu K. lên tám, trời

    nắng chang chang dắt cậu vào rú hái sim, thỉnh thoảng lại lên tiếng gọi

    ới ới vì sợ lạc mất cậu.

    Anh Kh. có thể là điển hình của một con người tự cho mình có học

    thức, tài năng vì vậy có vẻ anh không vui lắm với chế độ mới, cho là

    không biết dùng người, tôi nghĩ có lẽ vì cuộc sống kháng chiến quá

    kham khổ thì đúng hơn, bởi anh là người tốt.

    28-8-1952 Hôm qua tôi đi ngủ sớm, sáng nay thức dậy nghe mùa thu

    chớm về. Khí trời lành lạnh, chợt thấy mình đã đắp chăn kín đến tận

    ngực không biết từ lúc nào. Cửa đóng. Ngoài trời thỉnh thoảng những

    trận gió ào ào; nước đọng trên lá chuối ngọn cau rơi từng loạt xuống

    mái nhà. Tâm hồn mình cũng một chút gì rất thu. Nằm không muốn

    dậy. Trong nhà anh Chắt cũng còn nằm, tôi nghĩ rằng anh nông dân

    cũng đã tỉnh giấc và đang lắng nghe mùa thu đến như mình.

    Tôi thường sợ những mùa thu sớm về. Mấy hôm nay thời tiết đã báo

    hiệu. Hôm kia, ngày song thất - vợ chồng ngâu - cả suốt ngày hôm qua

    nữa, mưa ngoi lác đác. Trăng đêm mờ.

    Trăng đêm, hôm vợ chồng ngâu qua cầu Ô thước ấy, chúng tôi ngồi

    lặng yên trên sườn núi Già. Buổi chiều oi nồng mà gió đêm hơi se

    lạnh - thật chăng hay chỉ mình tôi cảm thấy thế? Trên con đường vòng

    quanh chân núi, người đi chợ về muộn, từng đoàn gồng gánh nói cười.

    Tôi bảo bạn tôi nói nhỏ để họ khỏi ngạc nhiên (sao lúc này vẫn có ai

    trên sườn núi). Có một lúc tôi thấy bạn tôi quá bé bỏng, mặc dù tôi biết

    tâm hồn bạn rất phiền toái, có phần phiền toái hơn cả tôi. Tôi quàng

    một tay qua đôi vai bé nhỏ, một tay cầm bàn tay đẹp. Huyền ảo bàn

    tay. Tự nhiên tôi thấy thế, và nói lên ý nghĩ của mình. Bạn tôi khẽ cười.

    Bàn tay mềm, mát, tôi gượng nhẹ như cầm một giò hoa. Cái đẹp nhất

    là tình cảm giữa chúng tôi cực kỳ trong sáng, chưa bao giờ chúng tôi đi

    quá việc cầm tay nhau. “Bàn tay đẹp là bàn tay lao động cơ mà?” - bạn

    lại cười, không đáp.

    Ôi những buổi chiều lãng mạn chúng tôi sống cạnh nhau. Biết mình

    là lãng mạn nhưng cố gắng bản thân để rứt ra ngoài là cả một sự khổ

    đau. Tối ấy trên sườn núi Già. Nhớ lại đêm nao đi dự fiancailles1 của đôi

    Huy Phương - Thu Lan. Chúng tôi đứng nép tránh mưa dưới mái hiên

    một căn nhà đã ngủ yên. Nghe tiếng trở mình trong nhà. Bên ngoài,

    chúng tôi đứng sát vào nhau nghe mưa, chờ tạnh bớt. Câu chuyện nhỏ

    nhẹ đi vào tâm tình. Bỗng bạn tôi nói nói: “X. thấy rằng X. hiểu anh

    Diêu, hiểu anh Diêu ghê lắm”.

    1 Lễ đính hôn.

    Trời tạnh, đường trơn. Đêm khuya không trăng sao. Đã quá nửa đêm

    rồi. Chúng tôi nắm tay nhau đi cho khỏi ngã. Buồn nhưng tôi thấy lòng

    tôi thanh thản.

    Và những buổi hoàng hôn nào cùng nhau đi cạnh những hàng cau

    trồng song song trên lối xóm để tan dần trong bóng đêm đang đến.

    Những hàng cau, những đường cau, ôi xứ Nghệ An là xứ của những

    đường cau vô tận. Giá mà ở đây bớt đi được những dãy núi trọc khô

    khan và vô duyên, làm hại cả mùa màng.

    Rồi những buổi trưa hè, những đêm trăng lên cùng gió nồm. Nhớ câu

    thơ Chế Lan Viên: Gợi chi nhiều, kỷ niệm chỉ là dao.

    25-9-1952 La jeune garde1 (Đội cận vệ thanh niên) là tiểu thuyết của

    tuổi trẻ, tức là của tình yêu, của chiến đấu. Mặc dù là một câu chuyện

    anh dũng kết cục bi thương, đọc xong mình vẫn thấy lòng phơi phới

    tình yêu, ham sống, bừng bừng chiến đấu, căm hờn và khinh bỉ quân

    thù.

    Tôi đã đọc say sưa. Lúc đầu, sau mỗi chương còn dừng lại, ghi vào

    sổ tay một vài nhận xét, cảm tưởng hoặc nội dung tóm tắt để học tập

    về phương diện bố cục nhưng được nửa chừng tôi bỏ dở, đọc luôn một

    thôi. Lôi cuốn lạ. Quả như lời bạn tôi nói trong bức thư gửi tôi ngay sau

    khi đọc xong La jeune garde: “Có những đoạn, những nét thích ghê đi.

    Xem nửa chừng, nhiều lần gấp cuốn sách lại, tưởng đâu bên cạnh mình

    có sẵn người bạn đang cùng mình thông cảm”.

    Những cậu thiếu niên một chân bước vào đời người lớn, chân kia còn

    bên phía tuổi ngây thơ trong trắng, chân thành (... ) Nhưng Đội cận vệ

    không tránh khỏi cái lòng thòng cố hữu của các tiểu thuyết Nga. Dài tới

    678 trang sách khổ lớn!

    1 Tiểu thuyết của nhà văn Nga Fadéev, Chủ tịch Hội nhà văn toàn Liên Xô.

    LẦN ĐẦU GẶP ANH BA LÊ DUẨN.

    28-9-1952 Đến Chi hội Văn nghệ dự tổng kết cuộc thi sáng tác đợt

    từ 3-2 đến 2-9-1952. Đủ mặt anh tài. Đặc biệt anh Hoàng Anh có mời

    anh Ba Lê Duẩn“ngọn đèn pha deux cents bougies1” cùng đến dự. Bộ Tư

    lệnh Quân khu cử đến cả dàn nhạc Tây, khá nhộn. Lại có đủ mặt các cô

    văn công xinh đẹp (... )

    Tập phóng sự về Vụ án Hưng Yên của tôi được giải ba về văn, đứng đầu

    thể loại phóng sự, bút ký. Anh em ở báo Cứu Quốc được ba giải (họa sĩ

    Văn Bình, giải tranh minh họa, nhà thơ Gia Ninh, giải thơ, và tôi bút ký).

    Mình hy vọng giải được một vạn bạc, hóa ra chỉ có sáu ngàn đồng!

    Anh Lê Duẩn trong buổi mạn đàm buổi tối tiếp sau Lễ trao Giải

    thưởng đã cho nhiều ý kiến soi sáng thêm về công tác văn nghệ. Các

    vấn đề kỷ luật trong sáng tác, yêu cầu nâng cao và phổ cập, nên coi thi

    ca là phương tiện hay là mục đích văn hóa, v.v… được anh phân tích

    cặn kẽ.

    Anh nói: Thuở nhỏ có lần tôi được đọc một bài thơ cách mạng của cụ

    Phan Bội Châu, người tôi bừng lên muốn đấu tranh, nhưng tôi không

    biết nên hành động như thế nào. Đến khi tôi đọc một cuốn truyện của

    Trung Hoa kể chuyện một thanh niên xuất dương làm cách mạng, tự

    nhiên tôi nảy ra ý muốn bắt chước làm theo người thanh niên ấy. Cho

    nên tôi đi đến kết luận: Về truyện và kịch kháng chiến, có lẽ ta nên

    viết thế nào để khi người ta đọc xong, (người ta nhìn thấy cái hướng)

    để người ta muốn bắt chước làm theo nhân vật trong sách, trong kịch.

    19-10-1952 Trong một tác phẩm của Dostoyevsky có đoạn tả một

    đôi tình nhân trẻ dắt tay nhau đi giữa cuộc đời xán lạn. Chợt từ trong

    bóng tối một con người rách rưới nhìn theo bằng đôi mắt hằn học.

    Chàng tình nhân trẻ tuổi dừng lại, tiến đến bắt tay anh ta và nói: “Xin

    ông vui lòng đi nơi khác cho, và mong ông rộng lượng tha thứ cho

    những kẻ đang hạnh phúc là hai chúng tôi”.

    1 “Hai trăm nến”, tiếng Pháp thời ấy. Nay gọi là 200W.

    Trong tạp chí Littérature soviétique số tháng 7-1952 vừa rồi, truyện

    ngắn L’églantine (Hoa tường vi) của K. Paustovsky có cái nhìn khác. Tác

    giả tả một cô gái mới ra trường, đi nhận công tác xa tình cờ gặp một

    phi công trẻ tuổi cùng đi chuyến tàu, và hai người bắt đầu yêu nhau,

    dưới đôi mắt chứng kiến của một người thứ ba, một diễn viên già. Lúc

    tàu cập bến, chia tay nhau, cụ diễn viên già đến chào cô gái, giữ tay cô

    trong tay mình một lúc mà nói:

    - Cô là người hạnh phúc nhưng tôi còn hạnh phúc hơn cô, bởi tôi là

    một người già.

    - Cụ bảo sao ạ? Cô gái không hiểu.

    - Cô còn trẻ lắm, cô chưa thể nào hiểu được hết niềm hạnh phúc của

    một người cao tuổi khi nhìn thấy những giọt nước mắt của một nàng

    Desdémone1 ngây ngơ đang lúc yêu đương.

    Hai thái độ, hai con người, hai nền nhân văn khác nhau.

    Con người dưới chế độ tư bản quằn quại, ghét ghen hạnh phúc của

    người khác bởi thấy xã hội không cho phép mình được sung sướng như

    người kia. Xã hội là một sự giành giật, cướp bóc lẫn nhau; hạnh phúc

    của số ít người này chỉ có thể xây dựng trên lưng bần cùng của một số

    đông người khác. Bọn thống trị lại cố tình gây nên sự ghét ghen đó.

    Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, con người sống trong yêu thương đùm

    bọc nhau. Hạnh phúc của người khác cũng là hạnh phúc của chính

    mình (... )

    20-11-1952 Tôi đang đọc Honneur (Vinh dự) của Goumère Bachirov, Giải thưởng Stalin năm kia, 1950.

    Thế nào là “quá trình” trong tiểu thuyết nhỉ? “Cái sinh thành” (le devenir) thể hiện ra sao? Đọc xong, tôi trăn trở. Xưa nay mình vẫn nói “quá trình” mà hình như chưa hình dung hết. Quá trình không chỉ là sự

    1 Nhân vật trong Othello của William Shakespeare, viết vào khoảng 1603. Nàng

    Desdémone là vợ của Othello, một vị tướng người Maroc trong quân đội

    Venice (BTV).

    diễn biến cần thiết, tất yếu - nghĩa là khoa học - của sự việc, của nhân

    vật, quá trình giúp người ta hiểu sâu hơn tác phẩm. Quá trình tạo cơ

    sở giúp cho người ta thêm yêu nhân vật. Tại sao trước hai cái chết, cái

    này độc giả dửng dưng, còn cái kia lại cảm động? Bởi vì “cái kia” ấy có

    sự chuẩn bị kỹ, độc giả đã sống nhiều với tất cả yêu thương buồn ghét

    cùng nhân vật vừa qua đời, đã quen thuộc nhân vật đó như một người

    thân trong đời mình. Khi nhân vật chết, độc giả có cảm giác như mình

    vừa mất đi một người thân.

    Cho nên giới thiệu một nhân vật trong tiểu thuyết phải dựng lên

    cùng quá khứ của nó. Viết phóng sự thì có thể chộp một nét hiện tại để

    nói cái triển vọng, cái tương lai, có thể tạm thời lướt qua thậm chí lờ

    hẳn đi quá khứ, trong khi viết tiểu thuyết không thể nào thiếu quá khứ.

    Mà cái quá khứ của nhân vật nếu gắn liền với quá khứ của sự việc, nhất

    là với khung cảnh của câu chuyện thì sẽ có lợi nhiều: khi độc giả yêu

    nhân vật có quá khứ, sẽ yêu luôn cả câu chuyện, cả cuốn truyện.

    29-11-1952 Một đêm trăng đẹp.

    Thôn Yên Hòa. Những hàng phượng vĩ trên bờ Nông giang.

    Đồi khuya, sương trăng huyền ảo. Chúng tôi cùng xem phim Tiếng

    hát miền Siberia chiếu ngoài trời.

    (Câu này ghi tiếp bằng tiếng Pháp.) Phim Tiếng hát miền Siberia. Đạo

    diễn: Ivan Pyryev. Một nhạc sĩ trở thành sĩ quan quân đội. Tranh thủ

    được một lúc mặt trận tạm lắng giữa những trận chiến ác liệt, anh ngồi

    xuống trước chiếc đàn dương cầm. Một mối hoài nghi xâm chiếm lòng

    anh: tay đàn mình liệu có bị giảm sút không? Liệu rồi đây, sau chiến

    tranh, mình còn có thể trở lại theo đuổi cái nghề mình xiết bao yêu quý?

    CHIẾN DỊCH THƯỢNG LÀO 1953

    21-2-1953 Tại sao ba tháng nay tôi không viết một chữ vào đây?

    Cuộc đời, vui buồn giận ghét, yêu, không yêu và còn gì nữa? Đến bao

    giờ tôi mới gây được cho tôi một tác phong ghi chép thật đều đặn,

    thường xuyên?

    Ba tháng. Bao nhiêu là sự việc. Sự việc của cuộc đời đấu tranh, của

    cuộc kháng chiến ngày càng lớn mạnh, càng làm nảy nở nhiều sắc thái

    quý cho con nhà văn. Sự việc của tâm tình, yêu đương, xót xa, cả một

    sự tranh chấp giữa tình yêu lãng mạn tiểu tư sản và tình cảm hiện

    thực. Tôi đã nguyện với mình sẽ làm một người viết văn, đấu tranh và

    xây dựng cuộc đời trên mặt trận văn hóa. Tại sao tôi lại không quyết

    tâm làm cái việc đơn sơ nhất mà căn bản nhất là ghi chép? Tôi biết trí

    nhớ của tôi xoàng. Mà nào có phải riêng gì tôi? Ấn tượng, hồi ký, kỷ

    niệm không bao giờ được coi là những tư liệu giá trị cho sự xây dựng

    tác phẩm hiện thực. Tư liệu, Tư liệu. Còn cần nhiều tư liệu nữa. Đã bao

    nhiêu lần rồi, nhìn lại quá khứ, tôi đã hối tiếc rằng trước mình đã không

    ghi chép?

    Đang đọc Les travailleurs de la paix (Những người lao động hòa bình)

    của nhà văn quá cố P. Pavlenko.

    Phạm vi của cuốn tiểu thuyết,

    hay đúng hơn, tập đầu của nó,

    làm tôi lo sợ cho mình. Nó bao

    quát một quảng thời gian từ

    năm 1939, giữa bầu không khí

    tiền chiến tranh bức bối cho

    đến thời kiến thiết chủ nghĩa

    xã hội. Một người Tây Ban Nha,

    một người Áo, hai người Tiệp...

    Khung cảnh là châu Âu. Bao

    nhiêu là chi tiết, chi tiết tâm tư,

    chi tiết thời sự. Những hiểu biết

    rộng rãi cần thiết cho nhà văn.

    Những tư liệu chính xác, cụ thể,

    sâu sắc. Tôi đã hiểu biết được

    những gì? Tôi đã có được cái vốn gì trong tay?

    Mà ba tháng qua, không phải là tôi đã sống những ngày tầm thường,

    buồn tẻ. Cuộc sống kháng chiến tự nó đã phong phú rồi, huống hồ tâm

    hồn tôi cũng đã có những phút vui buồn đến cực độ - cho dù những

    phút đó nặng tính tiểu tư sản cá nhân.

    Vụ phản loạn xảy ra ở thôn Hưng Yên đã đánh dấu một bước tiến

    trong đời làm báo của tôi. Phấn khởi. Tôi viết loạt bài bài tường thuật

    phiên tòa xử ấy, đêm nào cũng mấy vạn người dân ngồi trật tự trên qua

    đồi, theo dõi vụ án. Số lượng báo in tăng gấp bốn lần ngày thường, vẫn

    không đủ để bán. Đi đâu, độc giả cũng đòi hỏi báo, đến đâu cũng nghe

    bạn đọc bình luận đến báo. Xã Lạng Sơn huyện Anh Sơn đặt mua (mỗi

    ngày) 135 số. Huyện Nghi Lộc gửi tiền đặt trước mười vạn đồng. Chế

    Lan Viên và tôi dự phiên tòa, đêm nào cũng đến hai giờ sáng mới nghỉ.

    Trở về nhà, ăn uống qua loa, viết bài luôn cho đưa đi in. Viết sao đến

    bảy, tám giờ sáng là muộn nhất, phải có bài để anh em giao thông kịp

    đạp xe đưa bài lên nhà in xếp chữ. Phiên tòa mở tại huyện Nam Đàn.

    Nhà in Tiến bộ 7 ở mãi vùng Gay thuộc vùng núi huyện Đô Lương. Làm

    việc một mạch chín đêm liền như thế. Chỉ có một đêm trời mưa, phiên

    tòa cho nghỉ sớm hơn một chút, nghĩa là trước 11 giờ.

    Thật ra công việc phản ánh phiên tòa lên báo là một cố gắng lớn, một

    cố gắng tập thể. Nhà in ở xa nơi phóng viên viết bài những 60 cây số,

    với điều kiện giao thông liên lạc hiện thời! Ông Chế vừa từ địch hậu Trị

    Thiên trở ra, ông không theo dõi vụ án từ đầu nên chỉ nhận làm “trợ lý”

    thôi, còn tôi phải viết tường thuật chính, mỗi dài hơn nửa trang báo.

    Thầy trợ lý cho trò! Hay thật. Họa sĩ Văn Bình lúi húi vẽ ký họa tại chỗ,

    chân dung ông chánh tòa, ông công tố viên, các ông biện hộ viên (luật

    sư biện hộ cho các bị cáo), những can phạm chính. Vẽ xong, khuya về

    nhà tự mình mang dao, đục ra khắc lên bản gỗ, cũng phải xong trong

    đêm, để sáng mai giao thông còn kịp mang hình minh họa đi nhà in

    cùng với bài tường thuật. Chúng tôi làm gì có cái máy chụp ảnh. Mà có

    chụp được ảnh đêm, trong cả vùng tự do này, cũng chẳng có đâu làm

    được bản kẽm cho mình in.

    Văn thư Sở Tư pháp Liên khu 4 đề nghị báo Cứu Quốc cử phóng viên đến dự Phiên tòa xét

    xử Vụ bạo loạn Hưng Yên, Nghệ An (do Phó C ông tố, Luật gia Trần Kiêm Lý ký)

    Một trang báo Cứu Quốc tường thuật Phiên tòa xét xử Vụ bạo loạn Hưng Yên-Bài tường

    thuật của Phan Quang "Kết thúc cuộc thẩm vấn", bài "Hai câu chuyện Giây thánh giá" của

    Chế Lan Viên, Ký họa chân dung hai biện hộ viên (luật sư của bị cáo) do họa sĩ Văn Bình

    vẽ tại phiên tòa.

    Trong việc phục vụ, mình đã dứt bỏ hết động cơ cá nhân chưa? Qua

    phiên tòa, biết mình còn nặng. Cố nhiên viết để phục vụ là chính,

    nhưng viết say sưa là còn để được người ta nhắc đến bút danh mình,

    viết để dần dần tạo dựng một tên tuổi, nghĩa là “có lợi” cho bản thân,

    động cơ ấy trong tôi dù không hé ra, đâu phải nhẹ. Đành rằng không

    sao tránh khỏi. Thực tế có bao giờ tôi dửng dưng với việc viết để tạo

    cho mình một tên tuổi hay chưa? Cái thích thú khi nghe kể lại những

    lời độc giả bình luận, hoan nghênh mình, cái thích thú khi ra đường

    gặp người khác, hễ nhắc đến Hoàng Tùng thì người ta đã biết ngay cậu

    Hoàng Tùng ấy là ai, cái thích thú đó phỏng có hại gì cho việc phục vụ

    nhân dân vô điều kiện?

    23-2-1953 Tình cảm tôi yếu đuối.

    Stalin nói nhà văn là kỹ sư tâm hồn. Nghĩa là bằng tác phẩm, bằng

    tình cảm của mình, nhà văn xây dựng tâm hồn cho người khác. Nhưng

    nếu tự nhà văn chưa xây dựng được tâm hồn mình thì còn bảo xây dựng

    được tâm hồn cho ai?

    Người dân công ra tiền tuyến phục vụ không phải chỉ có việc đưa đôi

    vai ra gánh gồng, đôi chân bước cho khỏe, cái thể xác chịu đựng được

    gian khổ mà còn phải biết đưa cả tâm hồn yêu nước mình, tâm hồn

    người chiến thắng, ra phục vụ...

    24-2-1953 Cuộc đời chỉ nhạt nhẽo với ai không thiết tha sống. Đời

    rất thú vị với kẻ yêu đời, với ai dám ném tất cả tâm hồn mình vào

    cuộc sống. Đời là một dòng sông chảy mạnh, người nào đứng trên bờ

    không thể hiểu nổi luồng nước. Khi tôi chưa yêu, tôi cười nhạo những

    cặp tình nhân, nghi ngờ những chuyện họ nói với nhau. Nhưng khi

    tôi đã yêu, tôi mới cảm nhận hết tất cả cái say sưa ấy chi vô vị với một

    người thứ ba, người ngoài cuộc. Khi tôi buồn, tôi nhìn cuốn sách một

    cách chán chường. Sau khi đã đọc được mươi trang, cuốn sách hay tự

    nó cuốn tôi đi. Và từ đó cái vui trong sách dẫn đến những cái vui yêu

    đời khác, rồi sự buồn nản, chán chường lúc mới cầm cuốn sách bay

    biến mất lúc nào. Khó khăn nhất vẫn cái khởi đầu. Khi bánh xe đã lăn,

    không còn sợ nó sẽ phải dừng lại nửa đường. Hãy tha thiết với cuộc đời,

    đời sẽ không phụ anh.

    26-02-1953 Tài liệu, chứng cớ về tội ác giặc Pháp gieo rắc trên đất

    nước ta trong suốt mấy năm chiến tranh, tôi được nghe được đọc khá

    nhiều. Nhưng chưa bao giờ tôi thấy căm hờn, nhất là thấy chúng nó bỉ

    ổi bằng hôm nay khi đọc một bài của Chính Yên đăng trên tờ Cứu Quốc

    Trung ương. Những mẩu trích đoạn công văn của bọn giặc ở đồn Phù

    Yên (Tây Bắc) sức cho dân bắt nộp con gái, nộp trâu bò cho chúng: Bài

    báo viết: “... Mỗi bản phải nạp hai cô, bản N. lấy cô P., bản M. cô H., hai

    cô này phải đi, nhất định không được từ chối... Các bản phải chọn con

    gái từ trên 12 tuổi đến 20”. Tro bếp dùng để trát nhà quan hai, mỗi tổng

    phải mang lên ba tạ, cả cột cờ1, gạo nếp…”

    Nhớ đến trận Stalingrad với những bức thư Hồng quân nhặt được từ

    một chiếc máy bay Đức mang ra mặt trận bị bắn rơi. Bao giờ tôi mới đủ

    sức, đủ phương tiện sử dụng những tư liệu trên vào tác phẩm tương lai

    của mình?

    Hôm nay tạm vay của cơ quan 50 vạn đồng, mai mang ra cho anh

    Nguyễn Đức Thuyết2 để in tập phóng sự tôi viết về “Vụ án Hưng Yên”.

    TÂY HÁT KHÚC BIỆT LY

    27-02-1953 Hôm trước, cùng ăn cơm ngày Tết với nhau tại nhà anh

    Ngô Ngọc Du Trưởng ty Công an, ông Phú Vinh, chủ hiệu ca nô chở

    khách chạy đường sông Đô Lương - Nam Đàn có kể cho chúng tôi nghe

    một câu chuyện vui vui về những Pháp kiều bị giam được ta phóng

    thích, và cho về nước thời gian vừa qua.

    Cậu Robert và cô Jeanette (hay là tên gì gì đó) đã đính hôn. Robert

    được hồi hương, Jeanette chưa, không rõ vì sao. Robert xin ở lại với

    1 Có lẽ là gỗ để làm cột cờ (BTV)

    2 Chủ nhiệm nhật báo Vì nước xuất bản tại Hà Nội sau tháng 8-1945, nay làm

    Giám đốc Nhà xuất bản tư nhân Hưng Văn. Nhà xuất bản không có vốn, phải vay

    trước tiền của tác giả, bán hết sách sẽ trả lại số tiền vay cùng chút nhuận bút.

    người yêu. Lúc đầu chính quyền ta đồng ý, nhưng sau chính thức trả

    lời, vì chính quyền ta đã báo tin qua vô tuyến điện cho các gia đình bên

    Pháp biết danh sách những người được phép hồi hương, nay ta cho một

    người ở lại, đến khi giao thiếu, người ta hỏi thì mình sẽ ăn nói thế nào

    với những người ra đón?

    Đến bến ca nô. Ca nô chuyến này dành chở toàn người Pháp được hồi

    hương (ra phía bắc tỉnh Thanh Hóa để trao cho giáo phận Phát Diệm,

    tỉnh Ninh Bình). Dùng dằng không nỡ rời tay. Jeanette khóc như mưa.

    Phút cuối cùng, ta đành quyết định cho phép Robert có thể ở lại Việt

    Nam với người yêu. Nhưng cái oái oăm là lúc đó, bà mẹ đẻ của chính

    Robert lại một hai đòi phải có con trai cùng về nước với mình, như

    chính quyền đã đồng ý trước. Bà xách cả va ly của con xuống ca nô thì

    Robert lại chạy xuống xách riêng va ly của mình lên bờ, ở lại với người

    yêu. Xuống lên dùng dằng, chủ ca nô (chính ông Phú Vinh này) ca cẩm:

    “Chậm mất đứt nửa tiếng đồng hồ rồi. Cứ thế này đến sáng còn chưa

    rời bến sao? Sáng ra, máy bay nó đến thì hỏng hết mọi việc”. Một cậu

    thanh niên Pháp khác, mặc cho hai bên trong gia đình kia dằng kéo

    nhau, cứ thản nhiên đứng trên bong tàu cất lời hát thật to bài hát Biệt

    ly của nhạc sĩ Doãn Mẫn. Hát bằng tiếng Việt khá chuẩn.... Biệt ly... sóng

    trên dòng sông, ôi còi tàu như xé đôi lòng… Và mây trôi, nước trôi, ngày

    tháng trôi cùng nước trôi... Bài hát này lớp thanh niên chúng tôi đứa nào

    cũng thuộc, cũng hát, nhưng chỉ hát thầm lúc chỉ có một mình, cẩn

    thận nhớ có ai nghe tiếng sẽ chịu phê bình còn nặng chất tạch tạch sè.

    Cậu Tây kia vẫn say sưa:... Biệt ly, ước mong hoàng hôn êm đềm về ru

    tâm hồn, người yêu thương cách xa đành sống vui cùng gió sương...

    Hát xong bài, hình như đã có hẹn ngầm với nhau, hắn cùng một cậu

    nữa hè xuống nắm tay Robert lôi xềnh xệch lên ca nô. Chiếc ca nô mà

    ông Phú Vinh đã cho nổ máy chờ sẵn từ lâu, ngay tức khắc kéo cầu rời

    bến, để mặc cho cô Jeanette một mình lại trên bờ sông Lam với hai

    hàng nước mắt như mưa.

    Tư liệu anh Nguyễn Văn Lợi cung cấp thêm. Anh từng làm Chủ tịch

    Thành phố Vinh ngày toàn quốc kháng chiến: Bọn Pháp kiều bị giam

    lỏng trong vùng tự do của ta, túng thiếu quá, một số tay nhờ anh tìm

    mối kiếm giúp cho việc làm thêm, chủ yếu là các bà đầm nhận đan áo

    len các chị phụ nữ ta. Lũ Tây lau nhau thì trông cháu. Trẻ con người

    Pháp cũng biết cõng em bé, con nông dân ta, cho em ngồi trên lưng

    chạy chơi nhông nhông trong làng.

    Anh Dụ nói thêm: Bọn Pháp thường nói tiếng Tây pha tiếng Việt.

    Như mấy cậu thanh niên vừa được phép hồi hương hứa với nhà chức

    trách ta: “Chúng tôi về lần này quyết tranh đấu pour la paix1”.

    28-2-1953 (Cả đoạn này ghi bằng tiếng Pháp). “Tôi sẽ cố gắng như

    chàng thi sĩ Nga kia để tin rằng: Cuộc sống sẽ ngân vang những khúc ca

    mới. Mới thì chắc chắn rồi. Nhưng liệu có khúc ca mới có hay hơn khúc

    ca đã mất hay không? Đấy mới là điều quan trọng”.

    “Cuộc đời đã không cho chúng ta trở thành bạn, thì hãy cố gắng đừng

    trở thành những kẻ hận thù nhau” - tôi đã nói câu ấy với anh chàng

    không mời mà đến kia.

    ĐẢNG TA RA CÔNG KHAI.

    03-3-1953 Dự buổi lễ long trọng mừng Đảng ta ra công khai.

    Sau buổi lễ, xem phim Việt Nam kháng chiến chiếu lần đầu tiên. Tôi

    có gặp đoàn làm phim ấy lúc họ vào quay một số cảnh ở Liên khu 4. Nay

    cố nhìn, tìm hình ảnh những người mình có quen trên màn bạc ấy mà

    chẳng thấy một ai.

    05-3-1953 Đài phát thanh Bắc Kinh hôm nay báo tin Stalin ốm nặng.

    Từ 01-3, Stalin bị ngất xỉu. Cánh tay phải bị liệt. Hai giờ sáng ngày 4-3,

    tim ông chỉ đập 34 lần trong một giây, thân nhiệt cao 38,72 độ. Tin tức

    đài BBC Luân Đôn và tin hãng AFP cũng đưa tương tự nhưng có nhiều

    chi tiết hơn. Thông báo của Trung ương Đảng Liên Xô nói, một tai họa

    đang đổ xuống Đảng và nhân dân Xô viết. Đảng kêu gọi nhân dân Liên

    1 Cho hòa bình.

    Xô hãy siết chặt hàng ngũ chung quanh Đảng và Chính phủ và nêu

    cao cảnh giác trong khi Stalin lâm bệnh hiểm nghèo. Nhân dân thủ đô

    Mátxcơva tập trung đông trước điện Kremli chờ nghe các bản thông

    báo hằng giờ về bệnh tình của Stalin.

    Tôi đọc to bản tin cho anh em tòa soạn nghe mà không cầm nổi

    nghẹn ngào. Tôi chạy đi tìm mấy đồng chí nữa đến cùng nghe tin. Thật

    tôi cũng không ngờ mình thương Stalin đến thế. Người lãnh tụ quốc tế

    quá xa xôi, mình chỉ biết qua báo chí, sách vở và phim ảnh, tình thương

    yêu và kính mến bắt nguồn từ lý trí, không ngờ đã để dấu lại trong lòng.

    Stalin. Đêm 4-3, tim ông chỉ đập 36 lần/ phút. Biết đâu lúc này đã thôi

    không còn đập nữa?

    Tình cờ trưa nay tôi đọc lại cuốn Stalin, ánh sáng và hy vọng của các

    dân tộc. Cuốn sách hiện vẫn nằm trên bàn, trước mặt tôi. Sách gồm bài

    của lãnh tụ các đảng cộng sản trên thế giới viết về Stalin nhân lễ mừng

    thọ ông 70 tuổi, cách đây bốn năm. Tôi thương nhất bài của Jeorge

    Amado, nhà văn Nam Mỹ, Phó bí thư đảng cộng sản Brésil, gợi tấm lòng

    kính yêu của người dân lao động Brésil đối với vị lãnh tụ. Lời lẽ bóng

    bẩy, hơi văn thiết tha. Bài Jeorge Amado không phải là một bài viết để

    đăng báo, hay diễn văn đọc trong lễ mừng thọ mà thực chất là một bài

    thơ, một thiên anh hùng ca, ngợi ca Stalin “người tái tạo thế giới”.

    Lẽ nào con người tái tạo thế giới ấy sẽ không còn nữa, giữa lúc tình

    hình thế giới biến chuyển gay go này? Chưa chi quân thù, bọn phản

    động Mỹ Âu đã lên tiếng tuyên truyền nói xấu Liên Xô nhân bệnh tình

    Stalin. Một bộ trưởng bộ lao động hay bộ gì đó của Anh đã dám thốt

    lên: “La paix durera aussi longtemps que Staline” (Hòa bình chỉ tồn tại

    cho đến khi Stalin qua đời). Tôi vẫn tin rằng mất Stalin, nhân dân thế

    giới mất một bậc thầy, một vị lãnh đạo vĩ đại thật đấy nhưng tình hình

    gìn giữ hòa bình vẫn không hề suy yếu, sự lãnh đạo để gìn giữ hòa bình

    sẽ không hề kém sút. Ưu thế của chúng ta là có người lãnh tụ sáng suốt,

    thiên tài được nhân dân thương mến như người cha nhưng cũng còn có

    ưu thế của sự lãnh đạo tập thể, dưới ánh sáng lý luận tiền phong.

    Cách đây vài hôm, tôi vừa xem phim Thắng lợi của nhân dân Trung

    Quốc, thấy cảnh Stalin đứng vỗ tay bên cạnh Mao Trạch Đông ở điện

    Kremli. Nhìn dáng người khỏe mạnh của ông, ai có thể ngờ ông đau ốm

    dễ dàng đến thế. Tuổi 74 ở Liên Xô chưa phải là tuổi già.

    Ước mong Stalin bình phục.

    06-3-1953 Mọi người cùng ngóng chờ tin tức về bệnh tình Stalin

    như chờ thư một người thân quý. Trên thế giới, chắc lúc này cũng có

    rất nhiều người đang nôn nao trông ngóng như mình ở đây. Đài phát

    thanh phương Tây đưa: Tin tức về bệnh tình của Thống chế Stalin hiện

    đang chiếm hàng đầu phần thời cuộc quốc tế của báo chí thế giới. Làm

    náo động lên cả phe đế quốc. Từ Churchill đến Attlee, Eisenhower và

    Bidault, Adenauer và Giáo hoàng Vatican. Một tin vắn do chính Đài

    phương Tây kia phát: Tại Liên Xô, tín đồ thuộc mọi tôn giáo, mọi tín

    ngưỡng đều đang cầu nguyện cho sức khỏe Stalin chóng bình phục.

    Đi thăm bạn về, tôi nhận được tin Stalin vừa qua đời. Tiếc thương

    nhưng không ngạc nhiên lắm vì biết bệnh tình ông quá nặng. Xuất

    huyết não. Chính phủ Trung Quốc ra quyết định cả nước treo cờ rũ ba

    ngày, từ 6 đến 8-3-1953. Trong ba ngày để tang, cấm mọi tiệc tùng,

    lễ hội. Ấn Độ cũng quyết định treo cờ rũ chia buồn với Liên Xô trong

    toàn quốc.

    Mình đợi chờ giới văn nghệ Liên Xô sẽ có lắm tác phẩm hay về việc

    Stalin qua đời. Nhớ lại cái chết của Lenin mô tả trong tác phẩm của

    Ostrovsky, Thép đã tôi như thế đấy. Tin Lenin mất được điện khẩn về

    một làng hẻo lánh ở vùng quê xa, từng chữ, từng chữ một qua tín hiệu

    morse, như không nỡ báo tin đau. Và hàng trăm công nhân trong Xí

    nghiệp cùng lúc làm đơn xin gia nhập đảng của Lenin. Cái chết của

    Lenin đã không làm suy yếu Đảng cộng sản Nga mà ngược lại.

    Nhưng Lenin chết năm xưa ít có tiếng vang trong nhân dân lao động

    thế giới. Bọn đế quốc cố tình làm cho sự kiện ấy nhỏ đi, hoặc tìm cách

    nói xấu một cách trắng trợn. Cái chết của Stalin bây giờ làm náo động

    cả thế giới, từ nước Mỹ của Eisenhower cho đến lục địa Ấn Độ của J.

    Nerhu. Rồi Tân Tây Lan, Ý, Mỹ La tinh... , đâu đâu nữa? Nó chứng tỏ sự

    lớn mạnh của Liên Xô trên trường quốc tế, vai trò quyết định của Liên

    Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai, diệt họa phát xít cứu giúp nhân

    loại, vai trò mà chính bọn đế quốc cũng không thể không thừa nhận.

    Ông Pearson, Chủ tịch Đại hội đồng Liên hiệp quốc phát biểu: “Tổ chức

    Liên hiệp quốc nhìn thấy ở Stalin một trong những người kiến tạo hòa

    bình thế giới, và công lao của Stalin đóng góp cho hòa bình thế giới

    thật là vĩ đại, bao la”.

    CHUẨN BỊ THAM GIA CHIẾN DỊCH THƯỢNG LÀO

    15-3-1953 Cấp trên phát động “Tuần lễ tổng bố phòng”. Sửa sang

    lại tất cả hầm hố tránh máy bay, chuẩn bị đối phó những trận tấn công

    mới của địch từ trên không. Rồi bình chọn thêm dân công đi tiền tuyến.

    Phụ nữ trung niên nhận gạo về rang làm lương khô cho bộ đội. Đồng

    bào gánh thóc công về nhà xay ra gạo, xay ngày xay đêm vội vàng.

    Chiều qua, tôi đạp xe về Yên Hòa. Dọc đường, gần tối, gặp dân công đi

    từng đoàn dài hai, ba cây số, mỗi người kĩu kịt một đôi bồ, chắc là đựng

    gạo. Bộ đội tập trung ở các thôn dọc đường quốc lộ 7 vào lúc hoàng hôn.

    Anh em tập họp ở nương mạ, hát hò vỗ tay. Trên đường rải rác từng tốp

    bộ đội hành quân lẻ tẻ, ngược dòng sông Lam. Sau chín giờ tối, tôi trở

    về nhà, còn nhìn thấy nhiều người gánh gạo vừa xay giúp đi cân nộp lại

    chính quyền.

    Chiến dịch mùa xuân sắp bắt đầu.

    Sáng nay ông Cố bố anh Chắt chạy đến thật sớm, khoe với con dâu:

    “Thằng Xã Đức hắn có về, không ghé được nhà nhưng có gặp chú Hoe”.

    Xã Đức là con trai của ông Cố, chiến sĩ Trung đoàn 18 đang chiến đấu

    mãi trong Quảng Bình. Vậy là việc một số đơn vị bộ đội chủ lực của

    Bình Trị Thiên được điều ra vùng tự do tham gia chiến dịch này khó giữ

    được bí mật vẹn toàn.

    Chiều nay Hoàng Yến xộc vào tòa soạn báo Cứu Quốc như một trận

    gió. Hăng, say sưa. Khoe vừa sáng tác được khá nhiều. Cậu nói đến

    chuyện chiến dịch sắp mở. Gian khổ. Tiếp tế khó khăn. Những sự mới

    lạ bộ đội chưa từng trải qua. Sang nước bạn. Cẩn thận với những cô gái

    người dân tộc thiểu số quá tự nhiên trong quan hệ nam nữ. Cậu rủ tôi

    vào bộ đội luôn. Bỗng dưng tôi cũng hăng lên, muốn vác ba lô đi ngay.

    Rồi hai đứa bàn chuyện chuẩn bị. Yến dặn tôi nên mang xắc nhẹ, áo

    quần vải mỏng, đừng mặc đồ kaki giặt lâu khô, và nhớ mang theo giấy

    giới thiệu sinh hoạt Đảng...

    Làm như tôi đã nhận được lệnh lên đường!

    Hoàng Yến lật đật về luôn, sợ trời tối sang sông Lam đò ngang không

    chèo. Cơ quan Yến đóng bên kia sông Lam. Thế là cả cái chuyện Đại

    đoàn chủ lực 304 từ Thanh Hóa chuyển quân vào đây cũng khó lòng

    giữ bí mật nốt. Mà ngay cái việc tôi ghi nhật ký thế này cũng là vi phạm

    lệnh triệt để bảo đảm bí mật rồi đấy.

    Tôi đang muốn có dịp đi xa. Định sang tháng sau sẽ xin vào Bình

    Trị Thiên chuyến nữa. Bây giờ được tham gia chiến dịch lại càng thú.

    Đi cho nó nhẹ người. đành gác lại chuyện vào chiến trường thăm cậu.

    Cũng là một cách giải quyết những vấn víu về tình cảm riêng tư.

    Hy vọng việc tham gia chiến dịch, cùng anh em bộ đội chịu đựng

    gian khổ sẽ tôi luyện suy nghĩ của mình đúng đắn hơn.

    19-3-1953 “Mùa xuân trăm hoa đua nở”. Hôm nay tôi mới thấy hết

    ý nghĩa của câu nói cổ truyền đó. Xưa nay tôi vẫn yêu thiên nhiên,

    nhưng đến nay mới chú ý nhiều đến thiên nhiên. Thiên nhiên đối với

    tôi trước kia là một hình ảnh đẹp trong toàn bộ bao la, một cái đẹp biến

    đổi như một nét chấm phá trong thơ Đường hay trong câu lục bát Kiều,

    ít khi là cái thiên nhiên cụ thể, rõ ràng, chi tiết của Chateaubriand, của

    Bernadin de Saint Pierre. Bây giờ tôi chú ý nhiều đến mùa vụ, thời tiết,

    cây cỏ, những sắc thái thay đổi của bầu trời. Nghĩa là tôi đã chịu nhìn

    thực tế hơn; qua thiên nhiên tôi bắt đầu nhìn thấy rõ bàn tay sáng tạo

    của con người. Và càng yêu thiên nhiên, tôi sẽ càng yêu người.

    Chiều nay đi trên con đường làng, hoa sầu đông thơm mùi thôn

    dã, khiêm tốn mà rất ý vị. Những con đường trong xóm tôi ở mùa này

    rất nhiều hoa, hoa của cổ thụ. Hoa gạo đỏ trơ trụi như một cái chi gợi

    nhà chùa. Màu tím nhạt hoa sầu đông cố tình khiêm tốn như như cô

    gái biết cách làm duyên. Hoa nhãn vàng chuyển sang màu hung: mớ

    tóc thiếu phụ Âu Tây chăng (không hiểu cái gì làm tôi liên tưởng lông

    bông đến thế). Nhìn từ xa, mỗi cây giống như một bó hoa khổng lồ,

    đơn sắc. Chợt nghĩ đến tên các tác phẩm văn học: Mùa hoa gạo (Quang

    Dũng), Mùa hoa nhãn (Huy Phương), Hoa tường vi (Paustovsky)... Toàn

    là hoa xuân cả.

    Tôi đã sửa chữa xong Đất rừng lần thứ ba. Thật là bỏ thì thương,

    sương thì nặng. Nói thế chứ cũng thích, khi đọc lại. Cũng phải nhận là

    nhờ có Chế Lan Viên từ Bình Trị Thiên viết thư ra nhắc, tôi mới chịu

    khó lôi nó ra, thêm thắt cắt xén cho nó.

    Viết xong, lẩm nhẩm điểm lại những nhân vật của mình như điểm

    những bạn thân. Hôm qua, viết đến chương thứ IX, tôi cho Tân ra chào

    độc giả. Tám chương về trước tôi cố giữ không cho nó xuất hiện. Bây

    giờ trong một hội nghị tôi cho nó ba hoa, bốc phét. Nửa chừng nghĩ đến

    chương cuối cùng. Hay là ta cho nó đi bộ đội quách? Lần trước tôi cho

    Thành đi. Thành vững vàng hơn, lại là cán bộ, đảng viên. Nhưng Tân ba

    hoa, bốc, tính chất rất thanh niên, dynamique1, xung phong nhập ngũ

    thì rất phải. Chọn ai, cho ai đi bộ đội thì đáng mến hơn? Thôi hẵng để

    Thành ở lại lãnh đạo tổ chức.

    Tôi cắn bút, so sánh cân nhắc, tự nhiên bật cười lên tiếng. Mình làm

    như mình là ông tướng ấy, cho ai đi bộ đội cho phải bây giờ? Cười một

    mình. Vội nhìn quanh xem có ai không. Vắng vẻ lắm, chỉ có mình tôi

    ngồi viết ở nhà. Cũng hay, nếu có ai nhìn thấy chắc sẽ ngạc nhiên cho

    anh chàng tự nhiên vô lối cười một mình.

    22-3-1953 Đi! Đã có quyết định của cấp trên rồi. Tôi sẽ làm phóng

    viên mặt trận cùng bộ đội tham gia chiến dịch. Bên Quân đội muốn xin

    chuyển hẳn tôi sang làm văn nghệ nhưng Liên khu ủy không đồng ý,

    bảo tôi phải tiếp tục làm báo Cứu Quốc. Đời mình vẫn là civil (dân sự)

    thôi. Nhưng bù lại, được làm “phóng viên mặt trận” lần nữa. Tên nghe

    oách thế nhưng rồi ta sẽ làm được thứ gì?

    Bao giờ lên đường, chưa rõ. Hôm qua nhận được quyết định “khẩn”,

    tưởng chiều nay phải đi luôn nên lật đật quá. Tôi đến quán chị Sơn.

    Nhìn thấy bày bán đường cát tốt, tôi hỏi giá, chị chào theo thói quen:

    1 Năng động (BTV).

    “Mua một cân về dùng đi, chú Diêu! Đường ngon lắm”. Tôi đáp: “Vâng,

    chị để cho một kí”. Chị có vẻ ngạc nhiên. Mua chi nhiều rứa?” Tôi cười:

    “Tôi sắp lên đường đi xa, lên Việt Bắc đây. Đi thật đấy, chị ạ”.

    Ba lô. Thức ăn. Quần áo nhẹ. Sổ tay. Thuốc men. Bút mực. Tất cả

    những thứ gì gọi là chuẩn bị cho một chuyến đi. Mình bao giờ cũng

    thích đi. Sự chuyển dịch như truyền thêm sức sống vào người. Tối qua,

    đến thăm bạn - vì tưởng sáng mai đã lên đường. Bạn nhìn tôi: “Có việc

    gì mà tươi thế?” Tôi đáp: “Được đi chiến dịch, mình vui lắm”.

    Bạn đang có việc bận, hẹn sáng nay sẽ đến chơi với tôi sớm. Thật tôi

    không hề có ý nghĩ bạn tôi lại có thể bận bịu vì công tác đến vậy. Một

    điểm đáng mừng. Dạo này thấy bạn tiến bộ nhiều. Trách nhiệm cô cán

    bộ mà lại!

    Gặp nhau lần này không buồn lắm. Bạn dịu dàng. Có phải vì tôi sắp

    đi xa? Cởi mở. Nói chuyện với người thông minh có cái thú là dễ cảm

    thông nhau, mình nói chưa hết câu người kia đã hiểu; có thể theo đúng

    luồng suy nghĩ của người kia mặc dù câu chuyện bề ngoài có vẻ như đứt

    đoạn, không mạch lạc. Nhưng cái phiền chính cũng ở chỗ hiểu nhau

    nhiều quá. Phiền? Không đúng. Buộc mình phải thận trọng thì đúng

    hơn. Tôi không nhớ có lần tôi đã gợi một kỷ niệm gì về cuộc đời riêng

    của tôi mà lúc ấy tôi cảm động quá. Bạn siết chặt tay tôi, chia sẻ. Tôi

    nhìn ra ngoài, theo đuổi hồi ức của mình, quay lại định nói chuyện tiếp

    thì thấy bạn khóc. Tại sao? Câu nói dừng lại trên môi tôi. Bạn vội vàng

    đứng lên, làm như ra vẻ sửa soạn đi đâu đấy để giấu nước mắt. Bảo tôi:

    “Anh Diêu là một người không thể nào quên”. Thật thế ư? Tôi biết bạn

    có nhiều điểm yếu, ác ý nữa, đôi khi. Nhưng bao giờ tôi cũng nhìn thấy

    mặt tốt của bạn, và tin rằng, cố tin rằng, đối với tôi, bạn không bao giờ

    không tốt. Mong rằng dù mai sau đường đi của cuộc đời của hai đứa có

    khác nhau, như một ngã ba đường rẽ, mỗi người một lối, càng đi càng

    xa nhau thêm, “đúng như cùng nguyện ước”, ý nghĩ trên của tôi sẽ còn

    đúng mãi mãi.

    “Trông anh vui”, bạn tôi nói. “Và khỏe ra nữa”.

    Tôi cười, cả hai đều hiểu ý nhau.

    Một trang sổ tay Chiến dịch

    282 T ừ n g u ồ n T h ạ c h H ã n . . .

    Bao giờ bộ đội khởi hành? Mai, ngày kia? Hay đến cuối tháng? Bạn

    tôi hẹn, nếu chưa đi ngay, chủ nhật tới sẽ gặp nhau đi chơi.

    Không ai nghĩ rằng mình sẽ chết trong một chuyến đi. Nếu có thì đó

    chỉ là một ý lãng mạn yêng hùng. Vì nếu tin chắc là mình sẽ chết thì

    cũng ngại lắm, ôi! Trừ những trường hợp quyết tử ôm bom lăn vào đồn

    địch, đương nhiên. Tuy vậy vẫn thoáng có ý nghĩ mình có thể chết, bởi

    cái chết trong chiến tranh thật ra có phải khó khăn hoặc hiếm hoi gì,

    nhất là khi những viên đạn địch bắn ra không hề vô tình như người xưa

    thường nói. Tôi nghĩ sau khi mình chết, chắc sẽ có những đôi mắt lạ đọc

    cuốn nhật ký này1. Họ có hiểu mình chăng? Vì đây chỉ là những mảnh

    vụn của cuộc đời. Chắc sẽ phỏng đoán thế này, thế khác. Hỡi ai sẽ đọc

    tôi, nếu không phải là người thân thiết, xin bạn hiểu cho, tôi vẫn quen

    nói như người thương của tôi: Còn ai hiểu mình hơn chính mình?

    26-3-1953 Kiểm thảo (kiểm điểm) trước khi lên đường. Việc này có

    cán bộ nào tránh khỏi, trước khi làm một chuyến đi công tác dài ngày.

    Tinh thần trách nhiệm. Lập trường quan điểm. Tư tưởng gian khổ. Lập

    trường ư? Đã thật chan hòa với quần chúng công nông? Có chịu được

    gian khổ không? Kiểm điểm, càng thấy ra mình vẫn nặng tạch tạch sè.

    Có thể có tiến bộ trên nhận thức lý luận nhờ một chút thông minh -

    thông minh tiểu tư sản, hỡi ôi! Trong khi vẫn dễ cảm thông với tiểu tư

    sản. Thiếu đấu tranh bản thân.

    Đã để hết đồ đạc, tài liệu ở nhà, cuối cùng nhớm thử cái ba lô vẫn

    thấy nặng.

    27-3-1953 Tiếng máy bay B-26 nặng ậm ì bay về hướng tây. Tiếng

    bom rền vẳng lại rất xa nghe như dông. Một tốp B-26, chắc là tốp khác,

    liệng gần, bắn đạn dọc bờ sông Lam. Máy bay ngày. Máy bay đêm. Ở đâu

    có bóng máy bay Tây liệng, từ đó có tiếng bom đạn vọng về.

    Thị trấn Đô Lương. Dân công đi thành đoàn dài. Ai cũng gánh đôi bồ.

    Chiếc tơi chằm bằng lá úp lên trên. Thỉnh thoảng có một anh cán bộ đi

    1 Được người ghi mang theo ra mặt trận.

    tách ra ngoài hàng. Lưng đeo ba lô. Một tay xách đèn chưa thắp, để tiết

    kiệm dầu. Một tay chống gậy. Trăng chiếu sáng quốc lộ 7. Dân công ta

    lên miền Tây.

    Hai đoàn gặp nhau ở ngã ba. Ùn lại. Có tiếng hô: “Phủ Thông dừng

    lại! Phủ Thông dừng lại đã!”1. Mệnh lệnh được truyền tiếp, dọc theo

    hàng lên người đi đầu. Một chị mặc áo trắng đạp xe đi ngược chiều. Một

    thanh niên dân công trêu: “Xuống mà đi với bọn tui cho vui, chị”. Cười.

    Chị phụ nữ bấm chuông kinh cong. Một dân công nổi cáu: “Đường sá

    thế này, có chịu xuống xe không, tôi xô cho ngã đừng có trách”.

    Một đoàn dừng lại nhường đường cho đoàn kia đi. Có tiếng hô: “Đi

    lên, đi lên! Không có mất liên lạc đấy. Ô kìa, sao lại đứng? Đi, không có

    mất liên lạc”. Chả là trong đoàn vừa dừng lại, có người đã tranh thủ ngồi

    xổm xuống đấy cho đỡ chồn chân, đôi bồ vẫn yên trên vai. Sẵn sàng như

    vậy để có lệnh là anh có thể đứng lên đi tiếp, không mất hàng ngũ.

    Ồn ào. Hai bên phố đã lên đèn từ lâu. Ở ngã ba sin sít các hàng phở,

    hàng bánh kẹo, gánh lục tào xá. Dân phố ra xem dân công. Vẳng lại

    tiếng loa: “Loan báo để đồng bào được biết, đêm nay tiếp tục bình nghị,

    chọn dân công. Xin mời anh chị em thanh niên nam nữ và tất cả bà con

    từ 18 đến 50 tuổi tập trung tại địa điểm chòm... ”

    Chú bé bán kẹo vừng ở ngã ba há hốc mồm nhìn dân công đang ùn

    lại. Có tiếng truyền: “Đi đi!” Hàng ngũ lại xê dịch, chuyển lên phía

    trước. Như sực tỉnh, chú rao to, giọng kéo dài: “Kẹo vừng đây... ”

    Rầm rập. Rầm rập. Dân công ngược miền Tây.

    29-3-1953 Tôi đã nhờ người nhuộm giúp chiếc sơ mi trắng, cái mùng

    trắng sang màu xanh lá cây.

    Anh em trong Ban Tuyên giáo Trung đoàn tranh nhau ra tuyến đầu.

    Anh trưởng ban đả thông những người chưa được ra tiền tuyến đợt này.

    Anh Ch. phản ứng: “Anh đã biết tôi xưa nay bao giờ cũng ở tuyến đầu.

    Thế thì anh cho tôi đi với dân công vậy”. Thắc mắc thì cứ thắc mắc, anh

    1 Phủ Thông, Ân Thi... là mật danh của các đơn vị quân đội.

    Ch. vẫn phải ngồi lại chờ với anh bạn chuyên việc in li-tô cùng với tấm

    đá. Ch. nhắn theo người bạn được phân công lên tuyến trước: “Tôi chờ.

    Nhờ anh nói với anh Y. cho tôi một tiếng nhé”.

    Các hàng thợ may dọc tuyến phố tới tấp may các túi ruột tượng

    đựng gạo.

    Tôi phải mang thêm chiếc chiếu cá nhân. Một tấm khoác bằng ny

    lông. Một con dao nữa. Thế là thêm một ký rưỡi nữa trên người.

    Nghe phổ biến phong tục xứ Lào và tình hình các đơn vị tham gia

    chiến dịch.

    31-3-1953 Ngày hành quân đầu tiên. Anh Trưởng ban Tuyên giáo

    Trung đoàn Ân Thi người quen cũ, khuyên tôi nên ngả lưng một tí để

    tối còn phải đi nhiều.

    Cái mệt nhọc của những ngày hành quân đầu. Bao giờ cũng vậy, hy

    vọng rồi sẽ quen đi. Đau ở hai bên sườn phía trên mông, vì đeo gạo quá

    nặng. Máy bay B-29 vẫn quần trên đầu.

    Những ngày đi đầu tiên bao giờ cũng hào hứng nhất và cũng nhiều

    vấn vương nhất.

    01-4-1953 Đêm hành quân thứ hai. Đi được chừng 25 cây số. Đường

    số 7 ở đây vẫn còn rộng thênh thang. Hai bên đường đã thấp thoáng

    những lèn núi đá xa xa, giống như ven đường 12 hồi tôi đi chiến dịch

    Hòa Bình. Anh em bộ đội nhiều người đã từng chiến đấu ngoài kia cũng

    bảo nhau: “Kìa, trông giống đoạn về Phố Sấu chưa. Còn kia là lèn đá Cụt

    Tai”. Đường xứ núi, chỗ nào chẳng giống chỗ nào!

    Trăng sáng mờ.

    Qua những đoạn hai bên đường nhiều cây rậm rịt, ngửi thấy mùi

    thối. Có người bao: “Cứt đấy”. Có người lại bảo có thuốc độc máy bay

    Tây thả xuống đựng trong những chiếc ống bằng mi ca, hễ gặp nước

    mưa thì tỏa ra mùi thối. Một anh nói: “Không phải đâu, mùi xác chết

    đấy. Giống hệt cái mùi những ngày sau khi chúng mình đuổi địch chạy

    khỏi thị xã Hòa Bình năm ngoái”.

    Những con bò thồ gạo. Bò của anh em cấp dưỡng đấy. Bây giờ nó

    chưa đến lượt chết thì bắt nó thồ gạo cho anh em.

    Đầu hôm, trăng chưa tỏ, đường còn tối. Nhìn đằng xa, anh đèn pin rọi

    sáng cái đầu và hai chân trước của con bò. Sau khi rọi đèn pin xem xét

    mặt đường, anh giám ngưu phát lệnh: “Đi!”. Một cán bộ quay lại bảo tôi:

    “Đài trưởng vô tuyến điện đấy. Giỏi nhận morse lắm”. Nhớ hồi chiều,

    đúng là anh chàng đội mũ sắt, nói tiếng Huế. Chỉ con bò đang ngoan

    ngoãn bước đi, anh nói vui: “Ấy, ngày hôm nay tôi lên lớp động viên

    mãi, bây giờ nó mới chịu đi cho. Không những chịu hành quân mà còn

    có tinh thần tương trợ, thồ gạo giúp anh em đấy”.

    Từng nhóm kể chuyện cho đỡ thấy đường xa. Anh em nhóm li tô kể

    chuyện Tiết Nhân Quý ngày xưa chinh đông, chinh tây. Anh em tuyên

    huấn thay nhau kể lại những cốt truyện từng đọc. Hai anh cán bộ rì

    rầm nói chuyện chỉnh quân ngoài Bắc. Cán bộ F 308 và F 312 vui, khỏe.

    F 320 tếu hơn. Các F từ Bình Trị Thiên và nhất là Liên khu 5 ra thường

    lầm lì, có cù cũng không cười.

    Hai giờ sáng đến Phố Dừa. Phố trăng vắng. Gà gáy.

    02-4-1953 Đêm hành quân thứ ba. Cũng đi được 25 cây số mỗi đêm.

    Đường lượn dốc lên xuống. Hai bên đường, càng nhiều lèn đá. Từng dãy

    núi đá sừng sững kéo dài, trông như đăng ten1. Hoàng hôn. Con đường

    mất hút vào núi, mờ dần. Bộ đội đi thành hàng dài.

    Tối, thấy ánh đèn xe đạp. Dân công thồ hàng bằng xe đạp. Họ đi

    nhanh, cố vượt lên trước hàng bộ đội. Đường quốc lộ từ đoạn này trở đi

    bỏ hoang phế lâu ngày, cây rừng lan ra lấn chiếm mặt đường càng làm

    cho nó hẹp hơn. Họ trườn lên, cố vượt, người bấm chuông kinh cong,

    người luôn miệng nói: “Yêu cầu anh em dịch về bên phải cho anh em

    dân công chúng tôi nhờ với. Lương khô của anh em đây”.

    Cảnh rừng suối núi non khá đẹp và hùng vĩ. Chuối dại mọc ven đường.

    Anh Vinh, cán bộ tuyên huấn, nói: “Hành quân qua nhiều nơi quá, quen

    1 Dentelle (ren): đồ mỹ nghệ đan, móc hay dệt bằng chỉ, sợi, tạo thành những

    hình trang trí đẹp mắt (BTV).

    thuộc với cảnh núi rừng quá làm cho cái khiếu thẩm mỹ của mình như

    cũng cùn đi. Không còn thấy thiên nhiên đẹp như ban đầu nữa”.

    Vinh là cán bộ đại đội, công tác ở Ban Tuyên huấn Trung đoàn.

    Khoảng 22-23 tuổi. Đọc khá nhiều sách và có trí nhớ tốt. Được giao phụ

    trách theo dõi phong trào văn nghệ ngoài quân đội, Vinh đọc nhiều,

    nhớ nhiều tác phẩm, nhớ cả câu văn của nhiều tác giả. Anh em trong

    đơn vị gọi Vinh là cuốn từ điển sống. Vào lính từ năm 17 tuổi. Bắt đầu

    làm liên lạc. Rồi B trưởng, phụ trách một trung đội. Vinh kể: “Hồi đó,

    đơn vị mình chịu trách nhiệm vây đồn X. Cứ sáng sáng nhóm năm người

    chúng mình xách súng ra nhìn lên đồn. Một lần nhìn thấy một thằng

    lính ngụy đang ngồi hát nghêu ngao: Từ chàng ra đi, lưng khoác chiến

    y... (bài hát vùng kháng chiến). Nghĩ bụng: Quái, sao nó lại biết bài hát

    ấy nhỉ. Mặc kệ. Bọn mình cứ bắn ba phát. Chẳng biết trúng hay không,

    chỉ thấy thằng lính ngụy lăn cù xuống đất. Bọn mình xách súng ù chạy.

    Lát sau, moọc chê nó bắn đuổi theo. Sáng nào cũng diễn ra cảnh ấy”.

    Qua Con Cuông. Thị trấn này mới chịu bom mấy hôm trước. Chắc

    là cái hôm mình ở dưới xuôi nghe tiếng bom vọng về như tiếng dông.

    Chuối rừng cháy rụi. Chúng ném bom là cố phá đoạn đường hiểm trở

    này, một bên dựa vào lèn đá, một bên là sông. Bom rơi vào sát núi, đào

    từng hố sâu. Đất đá đổ xuống vung vãi. Màu đá mới vỡ trắng nham nhở

    như chói lên dưới ánh trăng. Các mảnh bom đen kịt đánh dấu trên các

    mảng đá trắng. Như vậy là địch đã biết, bộ đội, dân quân ta hành quân

    theo đường này.

    Chỉ một cái cầu nhỏ, mà chúng thả mấy chục quả bom, đào từng hố,

    từng hố sâu đến sáu, bảy mét. Có quả rất to, chưa nổ, dễ nặng đến hai,

    ba tạ. Quãng này, nghe nói mấy hôm trước bom trúng một đội văn công

    của F 304, một em chết, một em bị thương.

    Vào Con Cuông Phố Mới. Đây là phố sơ tán. Con Cuông Phố Cũ bỏ

    hoang rồi. Nhìn nhà cửa có vẻ cao ráo, đẹp đẽ, có lẽ nhờ ánh trăng.

    Chúng tôi ghé vào một nhà nghỉ lại. Trong nhà đã có mấy chị dân công

    đến trước nằm la liệt, chân tay xoạc doãi thoải mái. Chúng tôi đánh

    thức các chị dậy, bảo vào nhà trong ngủ với bà chủ, dành ngoài này cho

    bộ đội. Các chị ngái ngủ, lúc đầu ngơ ngác không hiểu chuyện gì, tỉnh

    ra thẹn quá chạy ùa ra ngoài cửa. Có chị ngủ say, tưởng chị em đùa, gọi

    mãi mới chịu dậy.

    Đêm khuya hơi lạnh. Ngủ ngon. Nhưng vừa sáng đã phải dậy để vào

    trú quân trong rừng. Cơm sáng xong, không buồn uống nước, không

    buồn rửa bát, anh em lại lăn ra ngủ. Tôi ngồi ghi chép và viết thư về tòa

    soạn. Chưa có bài vì chỉ có đi và đi, chẳng có gì khác để có thể biến báo

    thành bài. Lúc này mới tám giờ sáng, đã thấy mấy bay địch bay vụt qua.

    Mới mấy ngày mà râu đã đâm tua tủa. Phải cạo thôi.

    Chưa về với đơn vị trực tiếp chiến đấu, chưa có chút tư liệu nào.

    03-4-1953 Đêm thứ tư. Còn phải đi hai đêm nữa mới đến Cửa Rào,

    điểm sát biên giới Việt Lào. Đêm nay đi cung đường dài nhất. Hai giờ

    rưỡi sáng mới tới địa điểm trú quân. Gặp các đoàn đồng bào thiểu số đi

    ngược lại, lưng mang gùi, co ro trong chiếc chăn vì trời lạnh, vừa đi vừa

    nói chuyện khe khẽ với nhau bằng tiếng dân tộc.

    Cảnh nước non đẹp lạ. Đổ xuống một cái dốc, con đường ô tô lượn

    quanh co rồi trườn sang bên kia suối qua một chiếc cầu nhỏ, rồi từ đó

    lại lượn lờ lên dốc. Bên phải là con sông Lam ở thượng nguồn có lưỡi cát

    trắng thè ra giữa dòng, có bóng cây xanh nghiêng xuống dòng nước, có

    nước bạc lấp lánh dưới ánh trăng, có cả tiếng nước chảy rì rào khá rõ.

    Tôi không hiểu có phải mình nghe tiếng suối chảy thật không hay là

    mường tượng ra như vậy. Ánh trăng chiếu từ phía sau lưng, bóng bộ đội

    ngả dài, nối với nhau thành một đường thẳng, nhìn như những đốt của

    một chuỗi sợi xích, đốt đen xen đốt trắng.

    Đẹp. Nhưng vừa lên hết dốc, đã thấy vết bom nham nhở. Bom sạt núi,

    bom phạt những hàng cây ven bờ sông. Gỗ đá lăn xuống mặt đường.

    Sáng nay, B-26 chúng nó vừa ném bom, phá giao thông.

    Thiên nhiên đẹp. Con người phá. Nhưng cũng đã thấy con người bắt

    tay xây dựng lại. Công binh bắc những cầu gỗ và tre, ngụy trang cẩn

    thận. Cầu tre rà sát mặt nước suối.

    Đến chỗ nghỉ. Gặp mấy tốp dân công dưới xuôi ngồi nghỉ. Họ đốt lửa

    sưởi. Vừa sưởi vừa ngủ gà ngủ gật. Họ vừa ở biên giới về. Họ cố về tới

    Con Cuông để được nghỉ một ngày, nhận gạo rồi lại ngược. Đoàn này đi

    đã hai tháng. Tôi hỏi tin tức phía trước. Một người đứng tuổi cho biết

    hôm nay nó ném 25 quả bom xuống Khe Bố nhưng không ai hề hấn gì.

    Một dân công trạc ngoài ba mươi tuổi, trả lời anh bộ đội: “Đúng là Khe

    Bố hôm nay vừa bị bombardé1”. Anh nói tiếng Hưng Nguyên, mạn gần

    Vinh. Nghe là lạ, có người nói tiếng Pháp trong đoàn dân công.

    Cung đường này khá vất vả. Hai lần qua suối. Nước sâu, suối trơn.

    Trăng khuya rất lạnh. Sương đẫm. Gần đến chỗ trú quân, gặp bộ đội

    nghỉ trong vườn chuối. Từng dãy màn xanh lơ, ánh trăng chiếu vào

    càng sáng. Chúng tôi vẫn cứ đi. Hai bên bờ bụi, vẫn từng dãy màn xanh

    dưới cây. Một chiến sĩ cầm súng cảnh giới cho đồng đội nghỉ. Một vài

    toán khác đang đốt đuốc để chặt cây san đất.

    Chúng tôi phải đi xa hơn một chút, nhưng bù lại, được vào nghỉ ở

    một bản độ mươi nhà sàn dưới bóng một cây lim cổ thụ. Vài cây dừa.

    Mấy hàng cau. Hàng rào quanh vườn. Rất mệt nhưng vẫn thấy đẹp và

    sao thân thương quá. Cảm giác trội lên lúc đi ngủ: quê hương ta đẹp

    lắm và muôn vẻ muôn màu. Hôm qua, anh chủ nhiệm chính trị phổ

    biến: đi hai hôm nữa, đến Cửa Rào sẽ được nghỉ hai ngày. Rồi tiếp tục

    hành quân, vừa hành quân vừa sẵn sàng chiến đấu nếu gặp địch. Đi

    năm ngày nữa thì đến Mường Xén. Chín ngày sau sẽ đến Bản Ban.

    04-4-1953 Bắt đầu thấm mệt.

    Tôi đã về với Tiểu đoàn chủ công. Anh tiểu đoàn trưởng người Bắc,

    tên là Vũ, lấy bí danh Bão (Vũ Bão). Người mập, lông mày chỉ địa, bê rê

    chụp đầu, áo quần bà ba, chiếc chăn len quàng sau lưng, túi dết lủng

    lẳng bên hông, tay cầm cái gậy. Tôi thấy lạ cách ăn mặc của anh.

    Càng lên phía trước, bom địch phá càng nhiều. Có đoạn chỉ đi một

    vài cây số đã thấy vết bom. Mùi na pan cháy khét lẹt. Đá lăn lổn nhổn

    giữa mặt đường. Nhưng bộ đội vẫn hành quân đều trừ một vài nơi cầu

    hỏng chưa sửa kịp phải chùng lại.

    Qua một cái cầu gỗ dài, nghe nói mới bị bọn thám báo vừa đốt hai

    1 Ném bom, bắn phá.

    hôm trước, gục xuống lòng sông. Lửa còn âm ỉ cháy, gặp ngọn gió lại

    hồng lên. Lúc chúng tôi hành quân ngang qua, bỗng dưng lửa cháy lên

    thành ngọn soi đường cho chúng tôi đổ dốc lội suối sang bờ bên kia.

    Bộ đội vừa đi vừa nói chuyện, Một anh chợt lên tiếng: “Tôi kể một

    chuyện, nghe!” Chuyện đại khái năm 1947, bọn Pháp ngoài biển đổ

    bộ vào làng anh. Anh còn nhỏ, cùng dân quân đi bố trí cản giặc. Mỗi

    người chỉ có cái mác lào, anh cán bộ dặn Tây lên thì ùa ra xung phong

    đâm mác và ném lựu đạn. Nó lên bắn dữ quá, tôi vùng chạy. Chạy dọc

    làng. Dạo ấy tôi có người anh con mụ o (con của bà cô) bị Tây bắn chết.

    Anh chết rồi nó còn lấy mũi mác lào thọc vô mặt anh. Chỉ một trận càn

    ấy nó giết gần năm mươi người làng tôi. Đốt cả làng, chỉ còn sót mươi

    lăm nóc nhà. Nước sông mấy ngày sau còn đen ngòm vì tàn cháy bị gió

    thổi xuống sông, sông chảy ra biển nhưng gặp gió đông thổi ngược trở

    lại... Làng tôi đã qua hai trận gian nan vì tội ác thằng giặc Pháp. Trận

    đói 1945 làng tôi chết đói cũng nhiều lắm. Mụ o tôi mất chồng và ba

    đứa con. Còn đứa con trai đầu, năm 1947 bị nó giết luôn trong trận đổ

    bộ ấy...

    Buồn ngủ. Tôi buồn ngủ quá. Mặc cho trong hàng quân người hò, kẻ

    hát, trống quân, cò lả, ngâm thơ.

    Vào nghỉ một bản lớn.

    Bộ đội chiến đấu có khác. Đã tản vào rừng, thật sớm, thế mà mọi

    người vẫn được lệnh đào hầm cá nhân.

    04-4-1953 Hôm nay dự cuộc họp Tiểu đoàn ủy, đánh giá tình hình

    sau mấy ngày hành quân và bàn công tác chính trị thời gian tới. Nhìn

    chung cán bộ, chiến sĩ đều phấn khởi. Qua thực tế, cán bộ tin chiến

    sĩ, chiến sĩ tin cán bộ hơn. Cũng có một số ít tân binh mới nhập ngũ

    hoặc vốn là tù, hàng binh ngụy bổ sung vào hàng ngũ ta trước gian

    khổ cũng bộc lộ ý kêu ca, phàn nàn. Số này chưa quen, còn ngại máy

    bay địch lắm.

    Thời gian tới, chắc chắn sẽ khó khăn, gian khổ hơn nhiều. Phi pháo

    sẽ nhiều hơn. Địch cũng có thể đánh thọc vào đồng bằng hậu phương,

    làm ảnh hưởng đến tư tưởng bộ đội. Do hoàn cảnh chiến đấu ở đất bạn,

    sẽ ít có hiện tượng đào ngũ. Hướng chính là phải động viên cho anh em

    vui lên, phấn khởi hơn. Không nên lấy trình độ cựu binh làm chuẩn khi

    vận động, giáo dục tân binh hoặc các chiến sĩ vốn là tù, hàng binh vì

    anh em theo không nổi sẽ đâm ì ra. Đối với cán bộ, xây dựng đoàn kết,

    quyết tâm - bí thư Tiểu đoàn ủy kết luận.

    Cơm chiều xong, chờ trời tối hơn ít nữa để hành quân. Chiều hiu hiu.

    Buồn rừng. Nhẩm tính hôm nay là chủ nhật, nếu ở nhà thế nào tôi cũng

    đi chơi với bạn.

    06-4-1953 Mặc dù rất mệt, cũng cố gắng ghi chép mấy dòng.

    Đêm qua, hành quân một mạch hơn ba mươi cây số. Gần đến địa

    điểm trú quân thì được lệnh mỗi trung đội phải cử mười hai người đi

    lấy gạo ngay. Đây không xa Cửa Rào. Bản dăm nhà lơ thơ. Suốt mấy cây

    số hai bên đường dân công nằm ngủ dày như sắp cá hộp, hàng xếp dọc

    theo người. Mùi phân người xông lên thối inh.

    Đi khỏi Cửa Rào chừng một cây số, tiền trạm dẫn anh em vào một

    Lộ trình hành quân. Ghi trong sổ ta y Chiến dịch Thượng Lào

    con suối. Cái cầu bắc qua con suối này trên đường số 7 đã bị bom nó

    phá cách đây hai hôm, bom nhiều sạt cả mấy quả đồi, bom còn bỏ dọc

    theo suối. Nhưng cái cầu lại không hỏng. Tuy còn có trăng khuya vẫn

    phải đốt đuốc vì đường rất khó đi. Dòng suối nước lấp xấp thôi nhưng

    đá lởm chởm. Mấy anh nội vụ gánh gồng vất vả nhất. Thận trọng từng

    bước một. Họ mà ngã một cái thì gay go cho cả tiểu đội. Đi sâu vào

    chừng một cây số nữa, người dẫn đường nói: “Nghỉ ở đây. Chỗ kia cho

    B7, chỗ kìa B8... ”

    Nghỉ ở đây? Nhìn hai bên suối, vách núi dựng đứng, tìm không thấy

    chỗ nào để đặt cái ba lô xuống cho đỡ ê vai. Sờ vào đâu cũng chỉ thấy

    đá lổn nhổn, bụi cây, gai góc. Đuốc đã cháy tàn hết rồi. Đốt lá khô thì

    lá không bắt lửa. Tìm mãi, ba đứa trong tổ tôi mới tìm được một chỗ

    tương đối bằng, nghĩa là dốc đổ xuống lòng suối chỉ khoảng 30 độ. Sửa

    soạn xong nơi nghỉ thì vừa đúng bốn giờ sáng. Anh em cấp dưỡng bắt

    đầu thổi cơm sáng...

    Được một lát, tôi mở mắt. Đã gần bảy giờ. Qua một giấc ngủ ngắn

    nhưng mê man, trong mơ cứ thấy người mình tụt dần xuống suối. Ấy

    thế mà trước khi ngủ, tôi đã cẩn thận lấy đôi dép chèn dưới lưng cho

    người khỏi lăn xuống suối. Anh em đang chặt cây bứt lá làm lán trú

    mưa. Cả tiểu đoàn chen chúc trên một khúc suối, bộ đội đông tưởng

    chừng chen chân không lọt. Anh em leo lên tụt xuống hai bên sườn

    đồi nom như vượn. Toàn dốc 45 độ đổ lên. Tiếng xẻng cuốc, dao rựa và

    tiếng nói ồn ào. Trời lại bắt đầu lâm thâm mưa nữa chứ.

    Theo kế hoạch hôm nay nghỉ một ngày lấy sức. Nhưng vừa sáng ra,

    trung đội trưởng cho biết có lẽ lại phải hành quân thôi. Đi liền sáu đêm

    rồi. Cũng khá mệt. Nhưng đã có lệnh thì phải đi. Phát xẻng cá nhân và

    thêm gạo cho mỗi người. Tám ngày lương, mỗi ngày tám lạng gạo vị

    chi, kể cả số gạo mang cho cấp dưỡng, cứ cho là mỗi người phải mang

    theo bảy cân nặng nữa.

    Từ Tiểu đoàn bộ tôi đã về đại đội chủ công chiều qua, ngay trước lúc

    hành quân. Tôi sinh hoạt với B7. Các đồng chí đều chất phác, dễ thương,

    đòi nghe kể chuyện.

    Tôi ngồi vắt vẻo trên một sợi dây leo vốn chằng tự nhiên qua hai gốc

    cây, ghi mấy dòng này, nhìn xuống anh em đi lại men suối như từ trên

    lầu cao nhìn xuống đường. Thỉnh thoảng người ở trên va động mạnh,

    đá lăn xuống, người ở dưới lại kêu ơi ới, chỉ lo đá trúng vỡ đầu. Muỗi

    rừng đốt xuyên qua ba lần áo vẫn đau nhói.

    Nhưng anh em vẫn vui.

    6-4-1953 Lại hành quân. Hôm nay anh em mang vác nặng, đi sớm

    hơn bình thường. Tính ra một pháo thủ mang hơn ba mươi kilô trên

    người. Sáu cân rưỡi gạo, một cân lương khô, ba cân đạn, lựu đạn, dao,

    xẻng, tối thiểu hai cân ba lô và bát đũa, muối đường linh tinh, cộng

    thêm cái nòng súng moọc chê 81 nặng 20 kg.

    Tôi hơi áy náy vì được anh em miễn cho nhà báo việc mang gạo. Tôi

    tình nguyện mang giúp Nhuận đang bị yếu. Cũng là một sự chan hòa

    với anh em. Anh X. luôn miệng hát hò, kể chuyện vui để anh em hành

    quân bớt cảm thấy mệt. Giọng Hà Tĩnh khá dễ thương. Anh nói: “Cái

    tinh thần quốc tế nghĩ cũng hay thật. Không có nó “chi viện” cho mình

    thì đi đường này còn là cảm thấy gian nan”.

    Đêm ngủ dọc đường. Màn mắc quây quần từng tổ. Sáng thức dậy thấy

    nước mưa nhỏ ướt người từ bao giờ. Mưa nhỏ hạt mờ núi mờ rừng. Nghỉ

    lại Khe Tông. Một bản nhỏ, dân tản cư từ nơi khác về, cách đây một

    ngày đường. Nơi ở cũ, năm ngoái Tây về lùng, dân chạy chỉ mang theo

    mỗi người được một cái chăn.

    Anh em đang khẩn trương dựng lán trong rừng. Tôi đi vào bản nói

    chuyện với dân. Các em thiếu nhi thông minh, mặc áo quần bằng vải

    bông tự dệt, sợi thô. Các chị phụ nữ vẫn làm dáng, đầu chải mượt, ngồi

    dệt vải trước khung cửi.

    07-4-1953 Họp tổ Đảng kiểm điểm rút kinh nghiệm về chặng hành

    quân vừa qua (... ).

    08-4-1953 Được nghỉ hẳn bốn ngày để “củng cố vật chất và tinh

    thần” trước khi bước vào đợt hành quân mới. Họp cán bộ từ tiểu đội

    trưởng trở lên trong toàn đại đội. Từ 10-4 trở đi sẽ vừa hành quân vừa

    chuẩn bị chiến đấu. Phải sinh hoạt để củng cố quyết tâm. Vì có thể sẽ

    nảy sinh những vấn đề tư tưởng khi gặp khó khăn, trở ngại - có thể có

    người phản ứng bằng thái độ trầm lặng, tuy không nói ra lời nhưng

    trong lòng chẳng mấy thông, như hôm đang hành quân nửa đường thì

    có lệnh đi lấy gạo.

    Có thể bộ đội phải mang mỗi người những mười cân gạo chứ không

    phải sáu, bảy cân như hiện nay. Vì ngược bốn cây số nữa là vùng trắng

    không có dân cư nhà cửa, mà dân công thì được lệnh nằm lại đây chờ.

    Chờ bộ đội đánh địch mở đường rồi bên dân công mới có điều kiện tiếp

    tế lên sâu hơn nữa mà không bị tập kích bất ngờ gây thương vong.

    Sau cuộc họp:

    Buổi sáng, các tiểu đội về họp rút kinh nghiệm đợt hành quân: kiểm

    điểm tinh thần khắc phục khó khăn, tranh thủ thời gian, tương trợ,

    chấp hành nội quy, thực hiện chính sách dân vận, bảo vệ vũ khí...

    Buổi chiều, họp ban chỉ huy trung đội, kiểm điểm cá nhân trong ban

    chỉ huy.

    10 giờ. Dự họp với Ban chỉ huy Trung đoàn, nghe tình hình (... )

    Địch đã tung quân tập kích vào vùng tự do của ta ở Thanh Hóa. Năm

    nghìn quân đánh Cầu Cừ, Hang Dơi, Làng Dừa (Nga Sơn). Ngay từ khi

    bắt đầu mở chiến dịch, Trung ương đã dự kiến tình huống này. Chúng

    đánh nhằm mục đích phá sự chuẩn bị chiến dịch của ta, chấn chỉnh nội

    tình, cứu nguy cho bọn phản động, cài thêm gián điệp vào vùng tự do.

    Ta tạm thời sẽ gặp một số khó khăn như mùa màng bị cướp phá, dân

    chúng bị thiệt hại nhưng cuộc tấn công của địch sẽ không ảnh hưởng

    gì đến đại cục vì địch đánh Thanh Hóa bây giờ không giống như chúng

    đánh lên Phú Thọ trước đây. Chắc chắn chúng sẽ chuốc thêm những

    khó khăn mới như địch hậu càng sơ hở, chiến tranh du kích càng phát

    triển, và như vậy khách quan mà nói cũng là tạo thêm điều kiện để ta

    chống địch tốt hơn trong mùa hè tới nếu chúng tiếp tục đánh phá hậu

    phương ta. Lúc này ta tích cực tiến công ở chiến trường chính, tức là ta

    phá cuộc tiến công của chúng, bảo đảm an toàn cho hậu phương tự do.

    Cho nên phải làm cho anh em cán bộ, chiến sĩ an tâm thi hành nhiệm

    vụ được giao.

    Nhiệm vụ mà Trung đoàn Ân Thi có trách nhiệm thực hiện có nhiều

    khó khăn: hành quân xa, đường khó đi, phải hành quân qua vùng tề

    ngụy, qua nội tuyến của địch, ta chưa có cơ sở; bộ đội ta vừa phải mang

    vác nặng, đi nhanh vừa phải bảo đảm bí mật. Số ốm đau sẽ tăng lên.

    Tìm cho được địch để diệt là việc rất khó khăn. Rồi sau khi bị đánh

    chúng sẽ chạy tán loạn và có thể sẽ tiếp viện bằng quân nhảy dù. Khó

    khăn trong việc tìm địch mà đánh là khó khăn mới nảy sinh của chiến

    dịch này nhưng đó lại chính là cơ hội cho trung đoàn ta trưởng thành.

    Nhiệm vụ cấp trên giao cho trung đoàn ta phụ trách là nhiệm vụ rất

    quan trọng, quan trọng thứ hai sau nhiệm vụ của trung đoàn Khoái

    Châu, anh em phải nhận thức rõ như vậy.

    Trong mấy ngày tới phải chuẩn bị tốt tư tưởng cho cán bộ và chiến sĩ.

    Sáng mai họp cán bộ tiểu đoàn để củng cố quyết tâm, quán triệt thêm

    chỉ thị của các ông Thanh, ông Anh, ông Chưởng1. Sáng 10-4, phổ biến

    trong toàn bộ đội, chiều 10 hành quân.

    Sau cuộc họp với Ban chỉ huy Trung đoàn tôi trở về đơn vị tham dự

    tiếp luôn hội nghị chi bộ đại đội chủ công, và sáng mai sẽ họp tiểu đoàn

    ủy đúng như kế hoạch ban chỉ huy trung đoàn đã vạch.

    09-4-1953 Nghỉ, là nghỉ hành quân, mang vác. Nghỉ có nghĩa là dành

    thời gian dành cho họp hành liên miên. Họp cũng tức là nghỉ. Đối với

    anh lính trơn, đúng là như vậy. Còn đối với cán bộ thì hết cuộc họp này

    đến hội nghị khác, cái nào cũng quan trọng, cái nào cũng không thể

    vắng mặt, cái nào cũng đòi hỏi tập trung tư tưởng cao. Anh phóng viên

    chiến trường vừa phải coi mình là chiến sĩ đồng thời lại phải làm việc

    như mọi cán bộ trong trung đoàn.

    Cán bộ đi họp vắng. Chiến sĩ chuẩn bị. Làm ống muối. Trên đất bạn

    không sẵn muối đâu, mỗi người phải mang phần muối của mình, khi

    cần có thể san sẻ chút ít giúp dân. Vào rừng cắt dây dại, đánh lại làm

    dây chuẩn bị trói tù binh. Chặt giang chẻ lạt để buộc bộc phá.

    1 Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt

    Nam; Hoàng Anh - Bí thư Liên khu ủy 4, và Lê Chưởng - Chính ủy Đại đoàn 304.

    Để chống sốt rét, mệnh lệnh: “Triệt để mắc màn”, kể cả lúc ngủ trưa.

    Trung đội quyết định giết con bò làm thịt để mai hành quân chiến

    đấu cho gọn. Sẻ gạo vào các ruột tượng, mỗi chiến sĩ mang tám ngày

    lương [thực].

    Một liên lạc viên chợt dẫn sáu, bảy chị hộ lý vào bổ sung cho trung

    đoàn. Các chị vẫn còn có thời gian và đủ sức khỏe để làm dáng, tóc bôi

    dầu láng bóng, tóc kẹp uốn hai ba tầng. Nhưng vai cũng vác bị gạo nặng

    như ai. Mặt cô nào cô nấy ửng hồng. Các vệ ta (Vệ quốc quân) mắt sáng

    lên, không ai nói gì nhưng có anh cười ngỏn ngoẻn một mình. Đồng chí

    Inh: “Cười cái gì?”. Cậu ta chống chế: “Cười vì mừng, anh nào nhỡ vì nhân

    dân mà chẳng may bị thương tích thì đã có các em đây chăm sóc tận tình”.

    Trời oi bức, nặng nề, ậm ịch cơn dông mà chưa mưa được. Chỉ lo mưa

    to cái lán tạm bợ sẽ dột. Lo cho cuộc hành quân ngày mai đi trong lầy

    thụt. Những ngày gian khổ hơn nữa sẽ bắt đầu ngày mai đây thôi.

    Hôm qua các đại đội đã sinh hoạt, rút kinh nghiệm về đợt hành quân

    vừa qua và phát động đợt thi đua mang tên Nguyễn Quốc Trị và Giáp

    Văn Khương. Ở đại đội chủ công, đại đội trưởng tổng kết. Chính trị viên

    phát động. Giọng Thanh Hóa của chính trị viên nghe lơ lớ, vì anh đã

    “qua nhiều địa phương, uống nhiều nước quá”, như lời anh nói. Có tiểu

    đoàn trưởng đích thân về dự. Các chiến sĩ thi đua được mời ngồi ở diễn

    đàn danh dự. Cờ Việt, Miên, Lào lần đầu tiên treo sóng ba trong rừng

    xanh. Chính trị viên giải thích ý nghĩa từng cây cờ cho bộ đội. Rồi trình

    bày kịch ngắn, ngâm thơ, hát, có cả nhảy múa. Tôi kể chuyện Thù làng

    của Trung Quốc viết về cải cách ruộng đất cho anh em nghe. Ai có mặt

    cũng phải tham gia một tiết mục gì đó.

    10-4-1953 Sáng tinh sương họp cán bộ phổ biến kế hoạch đấu hành

    quân chiến đấu. Đơn vị chúng ta có nhiệm vụ đánh tiêu diệt một cứ

    điểm cách đây tám ngày đường. Trừ chiều hôm nay còn được đi đường

    cái, từ ngày mai trở đi phải hành quân theo đường tắt trong rừng. Phải

    vượt ba dốc lớn, mỗi cái đi từ một đến ba tiếng đồng hồ. Có dốc đứng 70

    độ. Phải mang luôn chín ngày gạo (chín chứ không phải mười ngày?).

    Diệt được đồn mới mở đường cho dân công lên. Dân công không lên

    được thì rất có thể bị đói, nhất là nhiệm vụ của tiểu đoàn ta lại khá nặng

    nề. Một C sẽ rẽ ngang đánh tiêu diệt một vị trí dọc đường. Một đơn vị

    tiếp tục thọc sâu bao vây chuẩn bị chặn quân nó tháo chạy. Hiện cũng

    chưa biết rõ vị trí ấy nó bố trí quân như thế nào.

    Lộ trình có đoạn đi ngày có đoạn phải đi đêm. Để khỏi bị lộ và tranh

    thủ thời gian, có thể đi cả đêm cả ngày. Dự kiến hành quân đến tối 10

    sáng 11-4 đến Mường Xén. 12-4 đến Xả Văn, nếu đi đêm nữa thì có thể

    đến Huối Sót. Ngày hôm sau 13-4 cố đến cho được Huối San. Ngày 14-4

    nghỉ, phổ biến nhiệm vụ cụ thể. Tối 14-4 trở ra quốc lộ 7 đi thêm ba ngày

    đường nữa. Do đó anh em thà chịu khó mang nặng còn hơn phải nhịn đói.

    Vì chúng ta hành quân qua vùng tề dõng cho nên phải triệt để áp dụng

    nội quy hành quân. B 9 (trung đội 9), đi đầu được mang vác nhẹ nhàng

    hơn chút ít để sẵn sàng chiến đấu dọc đường. Tiếp đến là B 8, rồi đại đội

    bộ, tiếp sau cùng là B 7.

    Có những đoạn đường có thể chúng ta đi bốn ngày liền không gặp

    một người dân. Bảy năm qua, đoạn quốc lộ 7 này không có dấu chân

    người. Khó khăn nhất phải khắc phục là anh em sẽ ốm đau. Có một tiểu

    đội có chiến sĩ đã ba ngày nay không ăn được cơm.

    Đêm hôm qua trời đổ mưa to. Lán dột, ướt như chuột. Anh em ngồi co

    ro. Lấy chiếu và áo tơi che ba lô, bao đạn và gạo. Mấy anh ngâm thơ khe

    khẽ, hát khe khẽ cho đỡ buồn. Mưa rào rào. Nước suối dâng nhanh. Thịt

    bò giết hồi chiều (mỗi B một con) treo dưới mưa. Bếp núc tắt ngấm.

    Nhưng mưa lâu rồi cũng tạnh. Anh em đi tìm củi về đốt lửa hơ áo

    quần. Lại nghe tiếng dao thớt lụp cụp, nội vụ cấp dưỡng chặt thịt bò.

    Hôm nay rang muối thịt, sẽ phát cho các tiểu đội, mỗi tiểu đội sẽ nặng

    thêm vài kí.

    Ban chỉ huy đại đội ngồi trao đổi. Kể lại chiến dịch Hòa Bình năm

    ngoái. Tinh thần bạc nhược của địch. Đại đội trưởng người Bắc, vóc

    xương xương, sún răng, còn mang băng vì vết thương ở ngực chưa lành

    hẳn: “Tôi cầm juy men1 đứng trên đồi quan sát thấy chúng nó chuẩn bị

    1 Jumelles: ống nhòm.

    rút. Lúc súng nổ, chúng nó đang sắp hàng ngang, tôi gọi điện thoại về

    trung đoàn báo cáo địch bắt đầu rút lui. Nói chưa hết câu, chúng nó đã

    chạy hết xuống chân đồi, chạy ào ào không có gì cản được”. Anh bấm

    tôi, rỉ tai: “Đánh xong, mình tập hợp cả đại đội lại chỉ còn đúng 28 tên,

    không kể đại đội bộ. Tại pháo nó bắn ghê quá. Khi vào được trong đồn,

    điểm quân thấy mới bị thương vong có 20 người. Cho nên báo cáo tiểu

    đoàn, C tôi còn tác chiến được mà”.

    “Chúng nó chết ghê quá, nằm lăn lóc dọc đường. Thật đúng là xương

    chất thành núi, máu chảy thành sông. Mấy hôm sau đi qua, mình bịt

    mũi chạy hàng tiếng đồng hồ vẫn chưa qua khỏi nơi có xác chết. Ruồi

    nhiều quá. Mình bẻ hai nhành lá luôn tay quơ đi quơ lại cũng chỉ bảo

    vệ được cái mặt không cho nó bám vào miệng và mũi, còn lên mũ, sau

    lưng, mặc kệ cho nó bám đâu thì bám”.

    “Đơn vị mình lần đầu tiên mới thắng được trận to thế. Có anh cán

    bộ mò ra sờ vào chiếc xe Jeep1, mày mò thế nào đèn pha nó bật sáng

    trưng mà lại không tắt được. Không biết làm thế nào, sợ máy bay địch

    thấy sáng đến oanh tạc, anh sai lính chặt lá rừng phủ thật kín. Có anh

    chiến sĩ nhìn thấy chiếc súng lục trong xe, thích quá; cũng biết ở cửa có

    cái móc cong cong là chốt mở, thế mà không sao mở cửa ra được, anh

    chàng bực mình trở báng súng phang vỡ kính trước, bò vào lấy cho kỳ

    được khẩu súng lục... ”

    Gặp dân công miền núi, người dân tộc thiểu số đi phát cây, mở đường

    giúp bộ đội. Mấy anh đang ngồi bên đường, đẽo chiếc điếu cày. “Ối dà,

    dân công, bộ đội, đông lắm, vui lắm ta!”

    10-4-1953 (Ghi tiếp) Suốt buổi sáng anh em tíu tít chuẩn bị. Thịt bò

    băm nhỏ rang muối cho vào ống tre phát cho từng người. Người tiếp

    tục đánh dây trói tù binh, người đan sọt không biết để làm gì, người đốt

    lửa kiên trì hơ áo quần chăn chiếu bị ướt vì trận mưa đêm qua.

    Hai giờ chiều ăn cơm. Xong, tập hợp toàn C. 3 giờ 30 trung đội đầu

    tiên xuất phát. Lội suối. Leo dốc. Anh mang moọc chê cười gượng: “Học

    1 Tên đầy đủ là xe Jeep Wrangler 4x4, gọi tắt xe Jeep (BTV)

    thuộc bài rồi. Lên dốc thì khom mình tới trước, xuống dốc thì ngả mình

    lui sau, cứ thế mà băng thôi”.

    Tranh thủ đi từ chiều cho đỡ phải đi đêm nhiều. Suốt mười cây số đầu,

    gặp rất nhiều dân công, có thể nói không đoạn đường nào vắng họ. Đủ

    giọng: Nghi Lộc, Thanh Chương, Yên Thành, Phủ Diễn... Qua chiếc

    cầu dài, một anh trầm trồ: “Ngó giống cầu Bùng quá!” Cầu Bùng thì

    đích thị anh chàng này người Phủ Diễn rồi. Có cả phụ nữ. Tất cả đều

    khỏe mạnh. Đêm đến, họ đốt đuốc đi, vừa đi vừa hò. Nhưng quá nửa

    đêm thì tiếng hò im bặt. Đã gặp nhiều người ngủ la liệt. Thanh niên

    nằm phanh bụng ra. Các cụ già ít ngủ hơn, có người ngồi nhìn bếp

    lửa, có vẻ buồn. Cũng có mấy người đang trông nồi cháo đặc sệt, sôi

    ì ạch. Đủ kiểu lán. Có những cái lợp lá chuối tươi trông khá tươm tất,

    chắc là vừa rút kinh nghiệm đau khổ trận mưa đêm hôm qua. Cũng có

    người nằm bừa trong bụi cây, chắc là mệt quá hoặc thuộc loại bất cần

    đời. Có người cẩn thận nằm trên các sạp đẵn bằng thân cây nhưng lại

    có những người cứ lăn ra đất mà ngủ. Trải tơi. Trải chiếu. Đắp chăn.

    Đắp nón. Đủ kiểu. Đi ngang qua một khúc tối, nghe có tiếng phụ nữ

    nói chuyện rì rầm, nhìn không thấy người. Có lẽ vì vậy mà có một anh

    chàng nào đang hát, giọng kéo dài, mùi mẫn, tình tứ. Cái gì như: “...

    Mười giờ em lo (hai từ không rõ). Mười hai giờ em ngủ một mình. Thà

    anh như một kẻ vô tình cho cam...” Đại loại thế. Thỉnh thoảng thấy một

    chiếc màn cá nhân mắc sát đất. Cẩn thận, chu tất thế này chắc là anh

    cán bộ phụ trách đoàn dân công. Cũng có nơi, tất cả anh em ngủ yên,

    duy bên đường, sáu, bảy người, chắc là các tổ trưởng hội ý cùng chi ủy.

    Có ngọn đèn dầu lạc thắp trong đĩa, đặt trên khúc gỗ. Tôi đi ngang qua,

    vẫn nghe được giọng nói từ từ, điềm đạm: “Hôm qua tôi theo sát, tôi

    rõ. Các đồng chí phê bình như vậy, không đúng đâu... ”

    Dân công nhiều đơn vị, toán ngược, toán xuôi. Cuối cùng gặp một

    đoàn xe đạp thồ đang xếp gọn xe và hàng về một phía và sửa soạn

    chỗ ngủ.

    Gặp ba người đi từ mạn trên về, vẻ mặt hớn hở, ý chừng được mãn

    hạn dân công. Thấy tôi không có gậy, một anh dúi vào tay tôi cái gậy

    bằng thân cây lụi già, lên nước láng bóng: “Cho ông cái gậy này”. Tôi

    hỏi, còn đi nữa thôi. Một người nói: “Các đồng chí tiếp tục đi đi, chúng

    tôi sắp đến nhà rồi. Vợ con sắp ra đón rồi đó”.

    Cuối cùng cũng đến được Mường Xén. Cái địa danh thị trấn có

    ghi trên bản đồ này thật ra chỉ là hai ngôi nhà gạch đã hỏng nát. Có

    dòng khẩu hiệu kẻ bằng sơn đen trên vách trắng, ánh lửa bập bùng

    tôi đọc không rõ. Ánh lửa anh em tiền trạm đến trước nấu nước uống

    cho bộ đội.

    Đơn vị tôi nghỉ lại bên đường, trên bãi cỏ. Các đơn vị đi sau tiếp

    tục đến, rầm rập suốt đêm. Sương xuống nhiều. Sáng ngủ dậy, ướt

    sũng màn và tấm áo mưa ny lông vắt ngang bên trên. Ban ngày, bộ

    đội được lệnh tản bớt vào các vườn bỏ hoang cách đường cái chừng

    dăm trăm mét. Muỗi rừng đốt nổi u khắp bắp chân. Cán bộ tiểu đội

    đang hội ý. Tôi muốn làm việc một lát, phải vào ngồi trong màn, đỡ

    xua muỗi đói.

    Anh I. tiểu đội phó đúng là một chiến sĩ gương mẫu. Sáng, khi có

    lệnh anh xung phong ngay đi lấy gạo nhưng sau đó được yêu cầu ở nhà

    để họp chi ủy. Họp xong, tranh thủ chuẩn bị bao gạo cho anh em. Hành

    quân vừa tới nơi trú quân, vừa đặt ba lô xuống là xông vào rừng chặt

    cây làm lán. Tối, xem anh nào mệt quá thì mắc màn giúp, sợ anh em

    lười, vi phạm nội quy và nhất là sẽ bị sốt rét. Điếu thuốc thường xé làm

    ba, chuyền nhau mỗi anh rít một hơi. Lúc nào cũng sẵn một câu nói vui

    đầu cửa miệng. Bất kỳ khi ăn cũng như khi làm, “anh nào chê nặng thì

    để đó mình gánh cho”.

    Khác hẳn với T. quê cùng địch hậu. T. đã trải qua thời thơ ấu cùng

    khổ. Cha mất, suốt đêm đi mò cua, mò cả đêm sáng chỉ bán được 50

    đồng bạc. Có lẽ cuộc sống ấy ảnh hưởng đến tính tình của anh. Một con

    người chậm chạp, việc gì cũng làm sau mọi người. Đi sau, ăn sau, uống

    sau, ăn nói lừ đừ. Nhưng không phải là một con người tiêu cực.

    Trong thời gian chờ cơm chín, tiểu đội hội ý. Mỗi chiến sĩ báo cáo

    diễn biến tư tưởng của mình “... Tôi mang nặng, tôi có kêu ca. Cấp trên

    nói đi hai mươi cây số sao đêm đi đến ba mươi cây. Tôi có phê bình đồng

    chí Kh. tại sao vứt bớt gạo xuống suối, thế là không được. Còn anh X.,

    làm sao lại tìm dân công xin nước lã uống?... ”

    11-4-1953 13 giờ 30. Hôm qua hành quân đợt 2, khởi hành từ Khe

    Thong, Bây giờ tôi mới biết chỗ mình nghỉ lại ấy gọi là Khe Thong.

    Nắng trước cơn dông. Có tiếng sấm ậm ịch. Cơn mưa sắp kéo đến. Bộ

    đội ngủ đã dậy, đang tắm rửa, chuẩn bị lại lên đường.

    Ở Mường Xén thật ra cũng còn đến bốn, năm ngôi nhà gạch nữa, bỏ

    hoang xa đường cái. Một số anh em đã vào trú quân ở những nhà ven

    đường, chỗ ngã ba. Bắt đầu mưa nhưng rả rích thôi. Các đơn vị khác

    trong trong trung đoàn tiếp tục đến. Đủ binh chủng. Bộc phá. Moọc

    chê. Vô tuyến điện. Xung kích... Anh trung đoàn trưởng khoác áo mưa,

    đứng ở ngã ba, quan sát bộ đội hành quân qua. Ầm ầm, lạo xạo, ồn ào.

    Biết ghi thế nào đây. Ba bốn đơn vị gặp nhau ùn lại. Mệnh lệnh: tiểu đội

    3 dồn về một bên đường. Trung đội 4 tiến nhanh sang bên phải. 90 đi

    nhanh lên, nhanh lên, bám sát. Đại đội trưởng Khoa đứng ở góc đường

    chờ đơn vị của mình từ phía vườn hoang đi ra để hướng dẫn. Này, trung

    đội 4, trung đội 4 né sang bên kia, nhường cho 90 lên trước. Trung đội

    3 vào sẵn đội hình đi, khi có lệnh là đi ngay.

    Chúng tôi rời quốc lộ 7 rẽ sang đường tắt. Công binh đã đi trước, cuốc

    thành bậc ở những chỗ quá dốc, bắc cầu qua suối, cho nên đường cũng

    dễ đi. Lại gặp rất nhiều dân công. Mưa nặng hạt lên rồi. Bộ đội ướt sũng.

    Dân công từ dưới đưa gạo lên, gặp bộ đội, nhường đường cho bộ đội lên

    trước, mấy chục anh em ngồi co ro trong những chiếc áo tơi né mưa.

    Thế nhưng có người vẫn đắp chiếu nằm trên phiến đá. Chắc là ốm. Nhìn

    chung, số đông phấn khởi. Nhìn bộ đội đi, trầm trồ sao đông thế. Chốc

    lại hỏi: “Đã hết chưa, đồng chí?” Thấy anh bộ đội vác khẩu tiểu liên

    mới, một dân công trẻ hỏi bạn: “Súng chi?”-“Súng nớ khó bắn lắm đó”.

    –“Súng mô bắn chẳng khó. Cứ lắp lưỡi lê vào mà ụi là dễ hơn cả”. Anh

    kia xăm xăm chạy ra nhấc thử gánh anh bộ đội vừa đặt xuống nghỉ vai:

    “A, cũng không nặng lắm mô”. Tôi hỏi: “Có nặng hơn gánh dân công

    không?”-“Mần chi bằng”. -“Dân công gánh bao nhiêu cân?”-“25 cân”.

    -“Vậy thì anh bộ đội vác pháo kia mang 30 cân trên vai đấy”.

    Tôi hỏi anh đi dân công được mấy đợt rồi. “Đợt ni đã được một tháng

    nhưng chưa mang được có hột gạo mô cho chính phủ cả. Tính ra tôi ăn

    hết sạch phần tôi gánh”. Anh đã đi phục vụ ba đợt. Một đợt đi Hòa Bình.

    Một đợt lên tận Sơn La. Lần này đi Lào. “Dân công hỏa tuyến, đi như

    chuyên môn thôi”. Xoay sang anh bạn, anh nói: “Rồi đến bữa mô cánh

    mình cũng được vô bộ đội”.

    Đi một đoạn nữa, gặp dân công huyện Quỳnh Lưu. Một anh phàn

    nàn: “Bầy tui ở trung tuyến thôi. Không được đi theo anh em bộ đội.

    Bên Nghi Lộc họ được đi hỏa tuyến đấy”.

    Hai dân công đang đánh cờ tướng trên một tảng đá ven bờ suối. Quân

    cờ cắt bằng mo cau. Trông thong dong lắm. Dưới suối nước chảy trong

    leo lẻo. Không hiểu sao, tự nhiên tôi nghĩ đến cảnh tiên chơi cờ bên

    suối, mặc dù hai cảnh này chẳng ăn nhập gì với nhau.

    Tối, quãng đường gian nan mới thật sự bắt đầu. Sau trận mưa, đường

    dốc trơn như bôi mỡ. Lại tối mò. Đi chậm chạp. Qua những quãng rừng

    rậm, thật sự là “ngửa bàn tay không trông thấy”. Dặn dò nhau mỗi bước

    đi. Người đi trước mò mẫm, rồi truyền lại cho người đi sau mình: “Bíu

    lấy cây bên trái. Cẩn thận, dốc xuống. Có thân cây chắn ngang đường”.

    Người này lại truyền về phía sau. Ngã uỳnh uỵch. Giày dép lột hết ra.

    Lần từng bước mà đi. Nhích lên một bước, đầu chạm vào báng súng

    người đi trước đang đứng lại chờ. Thỉnh thoảng phải lên tiếng gọi để

    biết hướng mà đi. Chân mò thấy chỗ nào êm êm đường mòn thì đặt

    bước. Chốc chốc lại phải bảo người đi sau: “Khoan, dừng lại đã. Húc là

    cùng lăn xuống hố đấy”. Một anh vô ý đạp lên một tảng đá. Nó lăn ầm

    ầm xuống suối, nghe lăn mãi chưa đến đáy. Mấy người cùng hoảng hốt:

    “Ai ngã đấy? Ai ngã?”.

    Ước mong có được một ánh lửa. May quá, gặp một toán dân công

    đang đốt lửa ven đường. Quãng này không có nước. Họ phàn nàn tại

    cán bộ cho đi quá muộn cho nên gặp tối giữa đường. Bộ đội lần lên một

    cái dốc. Một chị dân công đốt một cành củi lấy ánh lửa soi đường. Củi

    quá mục, lửa không cháy. Tôi xin cành củi cháy dở có đầu than hồng

    định dùng quơ lên phía trước để nhìn đường. Chị không hiểu, tưởng tôi

    xin đuốc: “Thì tôi cũng muốn thắp cho sáng để soi đường cho anh em

    đi nhưng củi mục quá nó có đỏ mô anh”.

    Cứ mỗi lần thấy ánh lửa đằng xa, anh em lại bảo nhau: “Bếp cấp

    dưỡng đại đội ta rồi đó”. Nhưng không phải, vẫn không phải, lại vẫn

    không phải, vẫn chỉ là ánh lửa của dân công. Chao, thời gian sao mà

    dài và đường đi sao mà khó thế. Ba lô, bao gạo, súng đạn ghì siết lấy

    lưng. Những lúc này mới thấy rõ tinh thần tương trợ của bộ đội. Tổ ba

    người giúp nhau. Anh khỏe nhất đi sau. Anh này mang vác nặng nhất.

    Người đi trước mệt phờ phạc. Mưa thấm vào áo quần, vào chăn nặng

    thêm mấy ki lô nước. Anh mệt quá vùa dựa vào gốc cây thở, sau lưng

    đã có tiếng giục giã: “Đi đi, đi đi thôi, kẻo mất liên lạc”. Người đi trước

    lắc đầu: “Anh đi đi, tôi thở một chút rồi tôi đi ngay”. Người đi sau bảo

    người đi trước: “Đưa súng đây tôi mang cho, rồi đi đi!”. Thế là anh lại

    đèo bồng thêm một khẩu súng nữa. Có anh vác luôn súng cho cả tổ.

    Bởi vậy khi vừa nhác trông thấy ánh đuốc do anh đại đội phó đứng

    chờ dưới chân một dốc đá lởm chởm, anh em mới sướng làm sao! Địa

    hình khó khăn. Suối ít nước. Các trung đội đi trước đã đóng quân. Mưa

    vẫn rả rích. Lửa nhen hoài không bén. Cây cối gì mà không có lá, sờ chỉ

    thấy toàn gai là gai. Vẫn phải chặt cây, xới đất, lát chỗ nằm. Đất ướt

    quá, có anh phải ôm ba lô ngồi co ro. Quá nửa đêm mới được ăn cơm.

    Từ sáng đến giờ mới có bữa đấy. Đói quá, anh nào ăn vào mũi nước cũng

    chảy ròng ròng. Ăn xong nằm ngay, đắp tấm ny lông lên người, nghe

    mưa rơi lộp bộp. Mặc! Bốn giờ sáng đã phải gọi nhau dậy.

    12-4-1953 Con suối ngủ đêm hôm qua có tên là Suối Mom. Sáng,

    mở tấm bản đồ tham mưu ra dò mới biết. Sáng, quang cảnh lại nhộn

    nhịp. Cấp dưỡng gói vội cơm, giao cho mỗi người một vắt, rồi hành

    quân ngay. Anh tiểu đoàn trưởng đứng ở ngã ba suối đốc thúc bộ đội

    đi nhanh lên, nhanh lên. H9 tạm tạt sang một bên dành đường cho

    H1 lên trước. Trong khi chờ đợi, tranh thủ ăn cơm nắm. Mấy dân công

    đứng xem bộ đội hành quân. Có đám cãi nhau về chuyện mất tiền.

    Một chị có bốn tờ bạc ngàn và hai tờ 500 đồng bỏ trong túi. Sáng dậy

    cái túi vẫn còn mà bạc thì không thấy. Anh cán bộ từ tốn: “Nếu mất cả

    túi tức là rơi đâu mất. Nhưng còn cái túi thì anh em ai trông thấy cho

    chị xin lại”. Một dân công vạch túi của mình phân bua: “Tôi có chừng

    này... , tiêu hết... còn chừng này đây”. Vừa nói anh vừa dốc túi chìa ra

    một xấp giấy bạc.

    Lại có anh dân công gặp bộ đội người cùng làng. Mừng tíu tít. Không

    ai còn nhớ tới chuyện chị dân công mất tiền nữa. Nhưng bộ đội phải đi

    nhanh, không ai được phép đứng lại Anh dân công người làng tần ngần

    nhìn theo.

    14-4-1953 Cái đồn Nọng Hét mà tiểu đoàn này có nhiệm vụ tiêu diệt

    trước đây có đến 250 tên Pháp và lính ngụy đóng. Tin trinh sát mới

    nhất cho biết chúng đã rút đi nhiều, nay Pháp chỉ còn lại sáu tên, còn là

    lính ngụy. Ở Chà Mởn trước đóng một trung đội giờ chỉ còn một đại đội

    từ mười hai đến mười lăm tên. Ở Bản Ban có hai trung đội, một trung

    đội hiến binh Pháp và một trung đội ngụy binh Lào, trong khi một đại

    đội Âu Phi đang làm đường liên lạc với Sầm Nưa. Từ Nọng Hét đi bản

    Ban còn có hai vị trí nhỏ là Ba Khe và Nậm Mật do bọn tề võ trang giữ.

    Còn ở Khang Khai có đến hai nghìn quân, sân bay hiện có 12 chiếc

    Dakota. Về thị xã Xiêng Khoảng thì chưa có tin tức gì mới. Tiền tiêu ta

    ở Nọng Hét, Trà Mởn và Xiêng Khoảng có chạm địch. Chúng đã đánh

    hơi thấy hoạt động của quân ta. Không quân chúng hoạt đông mạnh

    như vậy tức chúng đã biết được một phần nào và đã chuẩn bị đối phó.

    Chúng ta chưa xây dựng được cơ sở trong dân. Người Lào có cảm tình

    với kháng chiến, với Việt Nam nhưng rất sợ Pháp. Sợ bọn chỉ điểm trả

    thù, do đó ta đi lực lượng nhỏ dân không muốn giúp. Trinh sát ta vào,

    họ đi báo cho Pháp sau khi đã nói cho ta rõ để tránh đi vì họ rất sợ nếu

    không báo thì bọn Pháp sẽ đốt bản. Họ còn sốt sắng bảo anh em đi ngay

    đi để cho họ còn kịp đi báo đồn Tây.

    Vì đã có một số đơn vị lên đây cả tháng trước để chuẩn bị thuyền

    bè vận chuyển gạo nuôi quân cho nên địch đã biết rồi thế nào ta cũng

    đánh. Ở Nọng Hét, đêm chúng không ngủ trong đồn mà ra rừng ngủ tại

    công sự dã chiến. Thiết quân luật từ năm giờ chiều. Đường số 7 chỉ có

    độc hai chiếc xe chạy lên xuống làm con thoi tiếp tế cho các đồn. Dân

    vùng địch kiểm soát bị bưng bít và chịu sưu thuế nặng nề. Mỗi năm một

    người dân đinh phải đóng 185 đồng bạc Đông Dương và tám nén thuốc

    phiện, theo thời giá cũng bằng vài chục vạn bạc ta. Dân gặp bộ đội ta có

    người kể khổ. Họ cũng biết quân đội ta là quân đội nhân dân.

    Cách đây một tháng, địch đã cho thay tên chỉ huy tỉnh Xiêng Khoảng

    và hiện đang cho làm sân bay dã chiến ở đây.

    Nhiệm vụ của tiểu đoàn vẫn theo như lệnh trước. Ngày 18-4, chậm

    nhất là 19-4, ta phải thọc sâu vào Bản Ban. Nếu quân số địch ít, từ hai

    trung đội trở xuống, thì cố gắng tiêu diệt gọn. Địch tháo chạy thì truy

    kích. Địch tăng viện thì bao vây đánh viện, chờ đơn vị 400 tới nơi cùng

    phối hợp tiêu diệt. Nếu địch tăng viện lớn, quân số lên hơn một tiểu

    đoàn thì chờ thêm đại đội 66 đến để phối hợp giải quyết cho gọn. Đó là

    nhiệm vụ chính.

    Nhiệm vụ phụ cũng quan trọng không kém, đó là tiêu diệt Trà Mởn.

    Giao cho H2 chịu trách nhiệm, dùng bộc phá 5 cân và một ĐKZ. Ngày

    15-4 cho một bộ phận tiếp cận đồn, cự ly từ ba đến năm cây số. Nếu khó

    đi hoặc dân sợ lộ, thì cho bộ đội đóng lại, cán bộ và trinh sát đi trước

    điều tra, sau đó cho tiến quân tiêu diệt. Trường hợp địch tháo chạy ra

    đường số 7 thì truy kích, tiêu diệt. Nếu chúng rẽ về phía Xiêng Khoảng

    thì chỉ truy kích chừng năm cây số. Nếu chúng chạy vào núi thì dân

    vận, tranh thủ nhân dân kêu gọi chúng về hàng. Phải giải quyết gọn

    trong ngày 16 hoặc 17-4. Chiều 19 bộ đội phải tập kết ở đường số 7 làm

    nhiệm vụ. Nếu chúng chôn súng, ra đón hoan hô ta thì ta vận động

    nhân dân vào khai thác, tuyệt đối không xúc phạm đến thân thể chúng.

    Đó là nhiệm vụ H2. Còn đại bộ phận đơn vị tối 15 phải ra đường số 7.

    Ban ngày ém quân, bố trí đánh viện, chỉ hành quân ban đêm.

    Bảo đảm bí mật tuyệt đối, Ban Chỉ huy trung đoàn sẽ trực tiếp chỉ

    đạo chuyện này.

    Trên đây tôi ghi tóm tắt nội dung cuộc họp Tiểu đoàn ủy mở rộng

    ngày 13-4-53.

    17-4-1953 Không thể nào tìm được chút thì giờ để tranh thủ ghi

    chép. Quá mệt. Hôm qua hành quân từ hai giờ chiều dù nắng to, trời

    tốt. Ngụy trang triệt để. Mặc kệ máy bay bà già. Bọn địch ở Trà Mởn dựa

    vào làng tề vẫn kháng cự. Thỉnh thoảng nghe một vài phát súng trường.

    Chúng trốn vào các lèn đá. Ta bắn yểm hộ cho H2. Thỉnh thoảng một

    băng Bren hoặc đại liên. Đi qua mấy nhà tề, chạy nhanh. Chúng ở trên

    lèn bắn xuống có thể làm mình bị thương vong. Một chiến sĩ trinh sát

    đi ngược lại cho biết chúng vừa bắn, đạn cày đường. Quả là có thấy vết

    đạn trên mặt đường số 7 thật. Qua chỗ tráng, nghe một băng súng máy,

    giật mình.

    Hôm nay ta tổ chức tấn công đợt mới. Đã chuẩn bị bốn gói bộc phá,

    mỗi gói năm cân. Đi qua chỗ nguy hiểm, lại nghe súng nổ nhiều hơn.

    Gặp mấy anh thương binh đầu tiên. Họ bị thương nhẹ, còn đi được.

    Một anh gãy tay. Một anh bị thương ở chân, đi cà nhắc. Hai dân công

    tải thương, một người kẹp vào nách cái cáng, một người vác ống tre,

    lao ngược về phía hỏa tuyến. Lá ngụy trang trên người họ rung rung.

    Bộ đội tiếp tục lên đường, để H2 ở lại giải quyết nốt. Hành quân cấp

    tốc dưới nắng to.

    Quốc lộ 7 đoạn này hẹp và rất xấu. Dấu xe địch hằn sâu xuống đường.

    Chúng đã cho chữa lại một ít, chỗ nào lầy quá thì chặt cây gác ngang

    cho xe lăn lên trên. Có chỗ lầy sâu, vết xe lăn chồng lên nhau. Lần đầu

    tiên trông thấy một cột cây số, xây bằng bê tông cốt sắt mỏng tang.

    Nhìn lại: Vinh 308 km. Mường Xén 64 km (Trời! Chỉ cách có 64 km thôi,

    sao hành quân từ đấy lên đây vất vả đến thế!). Còn về hướng tiến quân:

    Xiêng Khoảng 127 km, Luang Prabang 375 km. Đây còn cách mục tiêu

    trước mắt của đơn vị chúng tôi là thị xã Bản Ban chừng 40 km.

    Vẫn tiếp tục cấp hành quân1, cố đến được chỗ nghỉ vào lúc chập

    choạng tối. Hội ý cán bộ. Cán bộ bứt khỏi hàng quân vượt lên phía

    trước, chỗ anh Trung đoàn trưởng cùng đi trong hàng quân. Bộ đội tiếp

    tục đi. Có lệnh từ phía trước truyền xuống, thì thào: “Chuẩn bị bao vây

    thị trấn”. Đi càng nhanh hơn. Đường càng xấu hơn. Thỉnh thoảng có

    người ngã. Tôi hay trượt, chỉ sợ đứt dép vào lúc này. Gặp một ngôi nhà

    nhỏ bên đường. Vẫn có người ở lại. Chị phụ nữ người Hoa mặc áo trắng

    mời bộ đội uống nước. Tới con suối, mọi người giành nhau xuống múc

    nước uống ừng ực. Thiếu chuẩn bị thuốc tím để sát trùng.

    Đi một thôi dài mới được lệnh nghỉ. Anh em nằm lăn ra đất. Kệ, mặc

    dù biết đường rất bẩn. Bộ đội nằm ngả nghiêng. Nghỉ khá lâu, đủ để

    1 Hành quân gấp.

    ngủ một giấc. Cũng chẳng biết ngắn hay dài thì có lệnh truyền chuẩn

    bị. Nhắc nhau nhớ kiểm tra đồ đạc, đừng để quên thứ gì. Lại đi. Buồn

    ngủ, đi mà hai mắt vẫn cứ nhắm tịt. Chỉ sợ ngã. Tát vào mặt mấy cái.

    Cắn môi đến chảy máu. Chỉ tỉnh ra được vài phút rồi lại thiu thiu trở lại.

    Chân thấp chân cao cố bám cho kịp người đi trước. Thỉnh thoảng một

    người tách đoàn, nằm vật ra cạnh đường thở. Thoáng một lát lại thấy

    chính anh này từ sau cố vượt lên, thở phì phò, ngã lại đứng lên đi. Mặt

    méo đi vì mang nặng. Chuẩn bị tác chiến mà. Anh đại đội phó đi sau

    cùng, lượm tất cả những người bị rơi.

    Đến chỗ nghỉ mới, lại nằm lăn ra. Đã bắt đầu có tiếng phàn nàn. “Chưa

    đời nào thấy cách đánh giặc lạ thế này”. “Không chết trước cũng chết

    sau, chết kiểu này không vinh dự”. Nghe có tiếng người khác kêu trời.

    Gần sáng, đường ướt, sao mờ. Trời sắp rạng, núi mờ sương. Anh em

    ngủ lăn giữa đường. Chỉ nghe tiếng giày đinh của anh tiểu đoàn trưởng

    từ trên hàng quân xuống rồi từ dưới ngược lên, đi kiểm tra hoặc đi hội

    báo cán bộ. Có lệnh cho B7 lùi xuống mấy bước để vào trú quân ở mé

    đồi cao ven đường cái.

    Trước khi lăn ra ngủ tôi còn kịp nhìn đồng hồ. Lúc này 5 giờ kém 5

    phút sáng.

    Mới được một lát, đã có người lay dậy: “Các anh lùi sâu hơn nữa

    vào trong kia, ở đây gần đường quá, e lộ mất”. Tôi mắt nhắm mắt mở

    kẹp chiếc chiếu đi, thấy trung đội trưởng đang chỉ tay bàn với tiểu đội

    trưởng, loáng thoáng nghe nói nên cho một tổ trung liên xuống bố trí

    gần mặt đường để cảnh giới. Anh em bộ đội đang đào công sự.

    Đây còn cách Bản Ban chừng 17 cây số. Trước mặt ta, có bọn tề dõng

    võ trang. Bên tay phải, có mấy làng phản động. Ta ngủ lại, mai phải đi

    đường vòng, tránh xáp mặt chúng.

    Chi ủy đại đội họp nhận định tình hình, quán triệt nhiệm vụ rồi chia

    nhau đi phổ biến cho các trung đội. Hôm nay là đêm hành quân cuối

    cùng. Phải vượt quá Bản Ban 4 cây số, bố trí phục kích đón đường bọn

    địch tháo chạy từ Sầm Nưa về. Anh trung đoàn trưởng nói đến sớm

    hoặc muộn cũng phải bố trí tác chiến. Hạn của Bộ 15-4 phải đến nơi,

    nay đã 17 rồi. Địch biết ta tập trung đánh lớn. Chúng đang tháo chạy và

    dồn quân hình thành tập đoàn cứ điểm mạnh như ở Nà Sản. Lần này và

    ở đây chắc cứ điểm ấy là Khang Khai.

    Sáng, tôi ra suối lấy nước và làm vệ sinh người ngợm tí chút. Hai

    ngày hai đêm hành quân suốt, không rửa mặt, không rửa tay chân. Đến

    bữa, tay bốc cá ăn xong, chỉ lau qua loa rồi lấy lá kinh giới xoa xoa cho

    đỡ mùi tanh. Đây là một con suối khá rộng, nước đục sủi bọt vì đang

    mùa mưa. Trên bờ, mấy con lợn thả rông. Bờ bên kia có mấy con thuyền

    độc mộc. Một bản dăm nhà. Dân mặc váy tò mò ra xem bộ đội. Một

    người đàn ông cõng con lội suối sang bên này, gặp tôi anh cười chào

    xămbađi1. Tôi chào đáp lại, không thể nói gì hơn.

    Trời oi nồng. Chiều nay lại có dông mất thôi.

    Nghe tiếng nổ ầm ầm từ phía đông vọng lại, có phải quân ta đang

    tấn công Nọng Hét? Mấy phi đội của địch bay rầm rầm ngược xuôi trên

    trời. Hai chiếc máy bay Helcat. Mấy chiếc Dakota, Helcat có liệng mấy

    vòng trên chỗ ta trú quân, nhưng bắn ở nơi xa. Máy bay nghiêng cánh,

    tôi nhìn thấy rõ quả bom napalm to tướng, đen thủi đeo dưới cánh. Nó

    mải thả bom đâu dưới kia. Như vậy là nó không biết có quân ta ở đây.

    Mưa đủ ướt áo thôi. Ta giữ được hai người Lào đang đánh bò, ngựa

    chuyển đồ đạc đi. Một thanh niên mặc may ô với quần âu đen. Trong

    người có hai cái thư viết bằng tiếng Lào, phong bì gửi máy bay Par

    Avion. Cậu thanh niên chắp tay vái. Nó khai rằng đi buôn, chở đồ bán

    cho người Mẹo. Nó nói bập bẹ vài tiếng Việt, và hỏi có ai biết tiếng

    Lào không. Cánh tay có xăm mực chàm. Cậu cuốn thuốc lá hút, tay hơi

    run run. Cuốn thuốc khá thành thạo. Giấy thuốc lá có dòng chữ qualité

    supérieure (chất lượng hạng nhất). Chiếc bật lửa khá đẹp. Người kia im

    lặng không nói năng gì.

    Chiều, lại hành quân nhanh lên hướng Bản Ban. Các cột số rút ngắn

    dần đường: 16,15,14km... Nhờ trời sáng, một giờ đi được năm cây số.

    Mặc dù trời sắp tối, máy bay bà già vẫn còn liệng, nhưng rất cao.

    Qua một bản trù mật. Nhiều nhà sàn đẹp, mái tranh mới lợp, trông

    1 Sabaidee: Xin chào (BTV).

    khá sạch sẽ. Nhiều noọng1 mặc váy sặc sỡ ngồi tựa cửa nhìn ra. Một chị

    phụ nữ trung niên mặc chiếc áo lụa nhân tạo màu hồng óng ánh đang

    quay lưng lại trèo lên nhà sàn để nhìn cho rõ. Tất cả đàn ông đổ ra xem

    bộ đội Việt Nam. Không hiểu họ đang nghĩ gì. Có cánh đồng ruộng khá

    rộng nhưng không thấy lúa, có lẽ do ở đây mỗi năm chỉ làm một vụ.

    Từng đàn trâu gặm cỏ, ở đây sao trâu bạc nhiều hơn trâu đen. Những

    con khác đằm mình trong suối, thật thanh bình.

    Tôi nghĩ đến con suối bộ đội uống nước sáng nay. Nước múc vào ca, để

    yên một tí đã có cặn dưới đáy. Thế mà vừa múc đầy ống tre, anh em đã tu

    ừng ực, những người chưa kịp bước xuống suối hỏi xin nhau nháo nhác

    cả lên. Chắc con suối chảy về chỗ ban sáng, hoặc ngược lại. Mấy hôm nay,

    toàn nước lã cơm nguội. Nguội sau 48 giờ, bắt đầu có mùi thiu. Buổi sáng

    ăn xong, nội vụ lại phát cho mỗi người hai nắm cơm, một nắm ăn chiều,

    một nắm dành cho sáng mai. Gặp hôm nắng to, cơm thiu chua lên.

    Tiếp tục hành quân. Đại đội phó Khoa, vết thương ở ngực vẫn chưa

    khỏi, nói chuyện về Bản Ban, Xiêng Khoảng. Ngày trước anh ở Vinh có

    đi buôn lên Thà Khẹt. Ô tô đi mất sáu ngày. Xiêng Khoảng có khu vực

    làng Việt Nam, làng Hoa kiều riêng. Mùa đông có năm rét lắm. Đêm để

    chậu nước ngoài trời sáng thấy nước lợn cợn như thạch, bắt đầu đông

    nhưng chưa kịp đông thành đá...

    Khoảng tám giờ tối có lệnh dừng lại, phân tán. Anh em tản ra hai bên

    đường. Từ trên truyền xuống: “Khi nào trước nổ súng, sau nằm xuống”.

    “Súng cối sẵn sàng tác chiến”. Hóa ra gần đây có một bốt tề. Đề phòng

    nó có súng cối, có thể bắn chặn dọc đường, gây thương vong cho bộ đội,

    ban chỉ huy quyết định diệt. Nửa giờ nữa sẽ tấn công. Khi có lệnh, mọi

    người phải nằm xuống, không ai được ngồi. Chính trị viên Hiền tốc tả

    đi ngay. Ghé chỗ tôi và anh Long đang nằm, phổ biến: tin trinh sát cho

    biết bọn tề tổ chức hội pun2. Có đến mười chiếc xe con của quan khách

    về dự lễ, cùng một trung đội ngụy binh. Trung đoàn quyết định đánh.

    Đã nghe xa xa hai băng súng máy, chắc địch bắn vu vơ.

    1 Em gái.

    2 Làng, bản.

    Tôi nằm ở lề đường, đầu gối lên bao gạo. Nhìn trăng non sắp lặn về

    hướng tây qua mấy cành lơ thơ của một ngọn cây trụi gần hết lá. Trăng.

    Sao. Sương. Rất nhiều sương, ướt đẫm cả áo rồi. Đợi mãi mà không nghe

    tiếng súng. Rồi ngủ yên lúc nào không biết. Có lệnh gọi dậy tiếp tục đi.

    Đến gần vị trí tiền tiêu của địch, bộ đội dừng lại. Lúc này phải hết sức

    khẩn trương, tránh thương vong vô ích. Lệnh truyền trước làm chi sau

    làm nấy, cho nên hễ thấy trước ngồi là sau ngồi. Chuẩn bị ngồi xuống

    rồi đứng lên. Anh tiểu đoàn trưởng vẫn kiên trì đi ngược đi xuôi hàng

    quân căn dặn bộ đội im lặng giữ bí mật. Đứng lên ngồi xuống mãi rồi

    tôi nằm nghiêng gối đầu lên cái xắc, ngủ mơ màng. Mơ chuyện đâu đâu

    chập chờn chợt tỉnh chợt thiếp đi. Rồi lại dậy đi, giữ đúng cự ly cách

    nhau năm mét. Đường xấu, bước chân làm sỏi đá lăn rào rạo. Bánh xe

    địch chạy hằn sâu xuống rồi khô đi thành hai cái máng, nhiều hòn đá

    to trồi lên đi vấp đau dại cả chân.

    Thận trọng nín thở bước từng bước theo anh đi trước. Trời sáng như

    vẫn có ánh trăng dù trăng lặn đã từ lâu. Đến ngã ba đường cái, một tổ

    trinh sát ngồi chờ sẵn ở đấy, chỉ bộ đội đi vào con đường tắt. Nghe ở bản

    xa về phía tay phải tiếng chó sủa. Tiếng gà gáy sáng.

    Một đơn vị đi lạc trong làng, có anh đi xộc luôn vào cổng bốt địch,

    không hiểu sao chúng không bắn. Hết con đường tắt, băng sang cánh

    đồng rộng. Chó trong bản sủa vang. Lạc mất đường rồi. Đứt liên lạc.

    Trung đoàn trưởng gắt. Chập chững thế này thì trời sáng hẳn mất. Chạy

    ùa ngang qua đồn Bản Ban, thấy mấy dãy nhà gạch trắng xóa tường vôi.

    Rồi lại băng qua mấy cánh đồng lầy. Địch vẫn im hơi lặng tiếng.

    18-4-1953 Có mấy đơn vị chưa sang hết phía bên kia đồn. Sáng, đang

    ăn cơm nắm, chợt cậu Khi vào báo vừa thấy năm thằng ngụy binh vác

    súng đang đi kia. Một tiểu đội ta chạy ra. Chúng hàng, giao súng ngay.

    Phía bên kia cũng có một tiểu đội khác của ta ra vây. Hai bên nhìn

    nhau. Một chiến sĩ nói: “Có phải ngụy binh không, bay1? Ta đến lấy

    súng đi”. Thế là chúng nó giao súng luôn.

    1 Chúng mày

    Đi múc nước ở suối về, được tin Trung đoàn phổ biến: Địch rút chạy

    khỏi Sầm Nứa mất rồi. Bản Ban cũng không còn bóng địch. Đồn này có

    ba thằng Pháp. Nghe tiếng súng trinh sát bắn mấy phát, chúng leo lên

    xe đạp chạy luôn. Bọn ngụy binh thì vứt súng về làng. Thế mà tối hôm

    qua, chúng tôi hành quân qua Bản Ban cảnh giác, thận trọng đến thế!

    Địch từ Sầm Nưa rút quân bằng đường bộ. Sáng nay riêng tiểu đoàn

    tôi đã bắt được 15 ngựa thồ rất nhiều quân trang quân dụng: 1 moọc chê

    81, 1 moọc 60... và 20 lính ngụy Lào. Một chiến sĩ của ta bắt sống mấy

    tên ngụy binh và 20 con ngựa. Ta thu chiến lợi phẩm, giải thích chính

    sách rồi tha cho chúng đi. Lúc tôi đi ngang qua chỉ huy sở trung đoàn,

    nghe tiếng Lào quân ta giải thích chính sách cho lính ngụy sau lùm cây.

    Tin tức lan truyền, bộ đội phấn khởi. Chuẩn bị tinh thần truy kích

    địch. Có tin ở Xiêng Khoảng, Trung đoàn Kim Động đã tấn công.

    Tôi ghi xong mấy dòng trên, định ngủ, anh D. vào gọi, có lệnh của Ban

    chỉ huy Tiểu đoàn, các anh truy kích địch ngay. Đồ đạc tập trung, để lại

    cho một người giữ. Mấy anh chiến sĩ đang đào công sự, buông xẻng ngơ

    ngác một lát rồi đi làm nhiệm vụ. Chưa một anh nào được ngủ.

    Thật ra đây là một cuộc hành quân cấp tốc để bố trí phục kích địch các

    Bản Ban, đón lõng bọn địch rút từ Sầm Nưa về. Từ Sầm Nưa về đây chúng

    phải đi năm ngày đường. Gần tối lại có lệnh hành quân suốt đêm ngày

    tiêu diệt cho được bọn địch tháo chạy, bắt sống tên quan năm Malplace.

    Giờ phải hành quân chừng một ngày một đêm nữa, chặn địch lại chờ Đại

    đoàn 308 tiêu diệt. Cả đại đội phấn khởi chạy rầm rập, một chiến sĩ ngã

    xuống ngất đi, cả đơn vị vẫn tiến. Sáng, có tin một đơn vị của Đại đoàn

    308 đã tiêu diệt gọn 30 tên địch sau khi truy kích hơn 100 cây số.

    Đại đội chúng tôi vào Bản Ban. Thị xã đã giải phóng trước khi đơn vị

    này đến.

    Tối, đi sinh hoạt với dân. Tôi tìm về nhà người Việt ở đây mời bà con

    ra liên hoan cùng bộ đội. Lúc anh em xếp hàng, có một bà cụ già ra xếp

    hàng sau một tiểu đội. Đêm hơi lạnh. Đốt một đống lửa trại lớn ngay

    trước sân đồn, nơi có sơn hai dấu chữ thập vôi trắng xóa làm chuẩn cho

    máy bay trực thăng đáp xuống. Có bày ảnh Cụ Hồ. Cán bộ chính trị giải

    thích chính sách. Rồi ca hát, nhảy múa tập thể.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ hồ Gươm. Tập ký của Phan Quang. NXB Trẻ, 2016.

    Tác giả gửi www.trieuxuan.info

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,817,000

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/