Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,818,658

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ hồ Gươm (5)

Phan Quang

  • Thứ ba, 15:00 Ngày 21/07/2020
  • BÌNH NGHỊ MỨC THUẾ NÔNG NGHIỆP MỖI GIA ĐÌNH PHẢI ĐÓNG

    09-10-1951 Bước vào nhà họp, thấy có khác mấy lần trước. Các cụ

    già đến đông, ngồi tựa lưng vào phên, vào cột. Nhớ lời Cu Ban nói từ

    chiều. Hôm nay phải đến từng nhà mời các cụ đi cho bằng được.

    Anh cán bộ xã đang cặm cụi đọc lại Điều lệ Thuế in trên báo. Gần

    chín giờ đêm rồi. Hội ý hội báo cấp tốc. Bầu chủ tọa, thư ký.

    Anh phụ trách nói ngọng nhưng cũng khá trôi chảy. Giải thích qua

    điều lệ. Chương hai, điều 6, sản lượng thường niên. Lần này động chạm

    trực tiếp đến quyền lợi nên các cụ mạnh dạn phát biểu:

    - Tôi xin hỏi. Ruộng chòm tôi đây vụ tháng năm thì không có mấy, vụ

    tháng mười thì hay gặp lụt. Lụt sớm thì mất ít, lụt muộn thì mất nhiều.

    Như thế thì lấy đâu ra mà tính (sản lượng) thường niên như nơi khác.

    Anh phụ trách nhắc lại câu hỏi rồi trả lời, cố nói chậm rãi để tránh

    cái tật ngọng.

    - Dạ, con xin có ý kiến với cụ ra ri (như thế này). Thường niên là

    thường niên của đồng mình đây, chứ không phải vì đồng người khác tốt

    mà họ đóng từng mô mình đóng từng nớ.

    Về ruộng trồng khoai, có thắc mắc: Khoai thu hoạch ít mà tính ra

    thóc như thế thì lấy đâu đóng cho đủ. Thắc mắc vì chưa hiểu rõ thôi,

    cán bộ giải thích, mọi người đồng ý.

    Đến phần nông hộ, anh phụ trách nói:

    - Vắn tắt ra, “nông hộ” tức như nông thôn mình nói “nhà cày”, còn

    nhân khẩu nông nghiệp là số “miệng ăn trong nhà” đó.

    Qua phần con nuôi, Cu Ban có ý kiến:

    - Xin phép chủ tọa, xin nói cụ thể về điểm đó. Như ở đây, con Hoe T. nhà

    anh Cu Hùng, nói là con nuôi. Nhưng thử hỏi thằng Giao được một bộ đồ

    thì anh Cu có may cho con Hoe được một bộ không. Hắn có được hưởng

    quyền lợi như những đứa con cái khác của anh Cu không. Chẳng qua năm

    đói, mẹ hắn bán hắn cho nhà Cu Hùng. Như thế, nhà anh Cu Hùng không

    được tính hắn vô nhân khẩu (nhà anh) mà phải tính vô nhà mẹ đẻ hắn.

    Còn như con Nuôi nhà ông Hương Thiện thì khác. Nuôi từ nhỏ, coi

    như con đẻ. Thằng Ngọ có được một bộ áo quần thì con Nuôi cũng được

    một bộ, thằng Ngọ đi học thì con nuôi cũng đi học. Khi đến tuổi gả

    nhông (chồng) thì rồi ông Hương cũng lo liệu cho hắn như con đẻ của

    mình. Như thế thì con Hoe được tính vô nhân khẩu nhà ông Hương.

    Chủ tọa:

    - Xin ai có thắc mắc chi nữa không?

    Một cụ già ngồi ở góc nhà ý sốt ruột:

    - Thôi, ai có chi thì nói, không cho qua.

    Một người ngồi hàng ghế trước quay lại:

    - Qua răng được? Đã học tập thì hỏi cho kỹ, chớ đến khi khai thì biết

    mô vô mô.

    Từ bên ngoài bỗng bước tới một bà cụ tay vịn vào cửa:

    - Xin đại hội cho tôi hỏi. Tôi có người con du (dâu). Từ năm tháng nay

    hắn bỏ về nhà mẹ đẻ. Con trai tôi không hề đập đánh chi hắn hết. Tự

    nhiên vô cớ hắn bỏ về nhà mẹ, hắn đợi con tui đi mời… Rứa thì hỏi có

    được tính vô (nhân khẩu) nhà tôi không?

    Phụ trách xã nhắc lại câu hỏi và xin đưa ra hội nghị thảo luận. Một

    điểm thận trọng đáng khen. Rồi anh quay hỏi Cu Ban: “Có tập tài liệu

    đó không? Giở tập giải đáp thắc mắc in li tô ra mà tìm”.

    Từ đằng sau phía bên kia bỗng lại bước ra một bà mẹ khác:

    - Tui là tui xin thưa hội nghị như ri. Vợ chồng hắn không có chuyện

    chi với nhau cả. Chỉ vì một cái nón mà mẹ con đánh nhau, bà ấy chửi

    mắng con tui…

    Hội nghị cười. Tiếng xì xào. Hai bà thông gia bốp chát. Mang chuyện

    gia đình ra yêu cầu giải quyết. Có ai nói:

    - Đó lại là một vấn đề khác.

    Anh phụ trách nghiên cứu xong, đặt tập tài liệu xuống bàn:

    - Con xin có ý kiến trả lời mẹ hỏi. Ở đây chỉ nói chuyện nông hộ,

    nhân khẩu tính về nhà nào thôi, còn chuyện xích mích trong gia đình

    xin để lần khác ta giải quyết. Chị con dâu của bà mẹ đây về nhà mẹ đẻ

    chưa phải là vợ chồng bỏ nhau, mà chỉ là vì giận dỗi rồi về mẹ thôi, có

    phải không ạ? (Phải, phải). Như rứa, vợ chồng rồi sẽ lại hòa thuận với

    nhau như không có chuyện chi. Rứa cho nên phải tính nhân khẩu về

    nhà chồng. (Phải, phải).

    Ch. và tôi nhìn nhau cười. Đúng là cán bộ cần khuyến khích người ta

    trở lại với nhau. Anh phụ trách nói tiếp:

    - Nhưng cũng phải nói cho rõ. Giả thử hai vợ chồng bỏ nhau đã lâu,

    đã đưa lên Ủy ban hai ba lần mà chưa giải quyết xong, còn chờ tòa án

    nữa, thì ăn ở nơi đâu tính vào nơi đó, chứ không tính vào nhà chồng.

    10-10-1951 Hội nghị tổng kết ba lớp huấn luyện cán bộ thực hành

    của xã.

    Tổng kết xong, đến mục cam kết thi đua.

    Trong khi chờ các đoàn cán bộ chòm hội ý hội báo, một anh xin lên

    trình bày một “câu chuyện vui nhộn”.

    Anh vui nhộn vừa bước xuống, tiếng vỗ tay còn chưa dứt, từ hàng

    ngoài sân một anh nhét vội sơ mi vào trong quần. Một anh khác đứng

    dậy, bụm tay lại làm loa nói trỏ lên: “(Chòm) Liên Thắng xin thi ạ”. Anh

    kia xốc lại quần, lật chiếc mũ đội trên đầu đưa cho bạn cầm hộ, rẽ đám

    đông vào. Các cặp mắt đổ dồn vào anh. Anh cúi xuống nhìn, chú ý tránh

    để không giẫm lên những người ngồi giữa đường đi.

    Bước lên thềm, anh quay mặt lại đám đông, hai tay chắp lại nhìn

    quanh một giây rồi bắt đầu:

    - Thưa chủ tọa, thưa quý vị đại biểu, thưa toàn thể, đoàn cán bộ

    chòm Liên Thắng chúng tôi sau khi hội ý với nhau xin cam kết, thách

    hai chòm Nguyễn Huệ và Huỳnh Thúc Kháng về các điểm sau:

    1. Thi hành đúng chính sách của Chính phủ,

    2. Tránh tệ quan liêu mệnh lệnh,

    3. Làm đúng như kế hoạch. Chiều 13-10, chúng tôi có thể sơ kết đợt

    điều tra.

    Vậy tôi xin ngoắc tay thi đua với các chòm Nguyễn Huệ và Huỳnh

    Thúc Kháng và chờ đợi sự thách thức của chòm khác.

    Anh bước xuống giữa tiếng vỗ tay rào rào. Hai ba tiếng hỏi dồn, khiêu

    khích:

    - Nguyễn Huệ, Nguyễn Huệ đâu?

    - Một giọng trả lời chắc nịch, quả quyết:

    - Có Nguyễn Huệ đây.

    Và một cán bộ đầu cắt tóc ngắn, vận áo quần nâu bước lên. Anh ngúc

    ngắc cái đầu:

    - Tôi xin ngoắc tay thi đua với Liên Thắng về các điểm Liên Thắng đã đề

    ra và xin thách thêm hai điểm nữa: Một, động viên nhân dân kê khai đúng

    đắn. Hai, phát động thật nhiều cá nhân trong chòm (cam kết) thi đua.

    - Chúng tôi lại xin thách thêm cả chòm Trường Chinh và chòm Trần

    Phú nữa đấy.

    Từ trong đám đông:

    - À, à…

    - Chòm Trường Chinh, Trường Chinh đâu?

    - Có chòm Trường Chinh đây.

    - Chòm Trần Phú xin ứng chiến ạ.

    - Hoan hô! Hoan hô!

    11-10-1951 Anh… vừa đi lớp bồi dưỡng ở xã về, đến nhà cu Ban. Áo

    may ô màu be. Quần Âu. Hai anh đang cùng xem lại bản “phân khoảnh

    định hạng” ruộng.

    - Khổ quá, đáng ra tối hôm qua họp toàn dân mà chòm tôi không họp

    được, vì học chương ba chưa xong. Bây giờ phải ra đồng. Chờ mãi, mấy

    thằng kia không đến. Bọn tôi chỉ có ba người, định tối hôm qua chọn

    thêm một người nữa nhưng chòm không họp.

    Gặp một cụ già bên hàng xóm sang, anh bắt luôn;

    - Chúng tôi định kính mời cụ là người thông thạo ruộng đất ở chòm

    mình ra đồng giúp chúng tôi trong việc phân khoảnh định hạng…

    Cu Ban ngồi trong bếp kéo thuốc lào. Anh chi ủy đến ngồi ngạch cửa,

    nói trỏ vào:

    - Này, tối nay họp chòm nhé

    - Ừ.

    - Đừng có a lô gọi dân đây nhé.

    Tiếng Cu Ban:

    - Ư, cái chuyện quan liêu mệnh lệnh ấy, đây quyết bỏ. Cán bộ phải tự

    mình đi mời bà con thì mới đúng.

    Trưa tôi vừa ngả lưng một chút đã phải dậy chạy báo động máy bay.

    Nghe ngoài đường có người hỏi: “Chị ơi, đây có phải nhà Cu Ban không?”

    Bước vào một cán bộ huyện, xã giới thiệu về. Mũ lá, kính râm, xắc

    đeo cạnh hông. Mồ hôi nhễ nhại. Nắng to lắm, lại nghe tiếng sấm, ý

    chừng sắp có cơn giông.

    Anh cán bộ bảo Cu Ban triệu tập họp tổ ngay để nhận định lại cái

    chuyện phân khoảnh định hạng của các đồng chí cho rành (đúng). Cu

    Ban nói:

    - Thế thì để tôi chạy xuống xóm Làng nói có đồng chí về, triệu tập

    đến đây. Họp ở dưới này dễ giữ được bí mật hơn. Anh cán bộ huyện

    uống nước, mượn cái quạt nan phanh cúc áo ra quạt lấy quạt để. Rồi hỏi

    mượn điếu hút thuốc lào. Xong mới vào chuyện:

    - Ở xã đây, tổ này yếu nhất.

    Tôi hỏi, thế nơi nào khá?

    - Có đấy: Đông Trung, Khu I, khu II… ấy là tôi mới ở huyện về nghe

    các cậu đây báo cáo thế.

    - Mấy lâu công việc có cái gì đặc biệt không, đồng chí?

    - Rành1 công tác nội bộ thôi. Mở các lớp huấn luyện cho các đồng chí

    hai ngày, tiếp đến cái lớp dành cho các hộ chỉ có một người mới xong

    hôm qua. Ở đây việc chi cũng rành nội bộ làm hết. Ủy ban có hai ủy

    viên là người ngoài Đảng thì một ông thư ký ốm, còn một ông trực địa

    chính nữa thôi.

    Anh nói nhỏ nhẹ, vừa nói vừa quạt:

    - Cái xã Đô Lương này rộng quá. Phải chia nhỏ làm mấy xã ra chứ cứ

    để thế này thì chính quyền, nội bộ chi cũng cứ rơi vào chỗ giấy tờ mệnh

    lệnh thôi.

    12-10-1951 Nghe nói chòm Đông Trung là điểm khá, tôi về luôn đấy

    xem sao, may ra có thể viết được bài đăng báo ngày mai luôn.

    Ở đây đang đột phá điểm, bình mức chênh lệch sản lượng lúa của các

    loại ruộng. Cán bộ tập trung về theo dõi để rút kinh nghiệm cho các

    nơi. Trên sân đình, người đông nghịt. Bên trái là các mẹ, các chị. Các cụ

    ngồi phía bên phải. Giữa là cán bộ, quan khách. Học sinh và thanh niên

    đông nghịt trong đình.

    Trang hoàng giản dị nhưng nghiêm trang. Chính giữa, trên cao:

    “Nhiệt liệt hoan nghênh thuế nông nghiệp” chữ vôi trắng viết trên nền

    cót. Phông bằng vải xám, có lẽ mượn bên quân nhu. Giữa, bàn thờ Tổ

    quốc. Bên dưới, chân dung Hồ Chủ tịch, ảnh đồng chí Phạm Văn Đồng,

    Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bên kia là bàn chủ tịch và thuyết trình

    viên. Bên này dành cho bàn thư ký và Ban âm nhạc.

    Ngoài sân, dựa vào hai bên bờ tường là những cái nong tròn kẻ khẩu

    hiệu bằng vôi trắng, sáng ngời dưới trăng đêm mười bốn. “Đả phá

    khai man. Khai đúng là yêu nước”. Một số người vẫn ngồi trên bờ tường

    thành, chủ yếu là thiếu nhi, mặc dù ban tổ chức đã hai ba lần yêu cầu.

    Vẫn còn một số thanh nữ cứ dặt dìu ngoài ngõ không chịu vào.

    1 Toàn (BTV)

    Một cán bộ từ trên đi xuống hàng ghế giữa, nói thì thầm mấy câu.

    Dăm ba người đứng lên. Trên bàn chủ tọa, ông Trưởng ban Thuế,

    Thường vụ chi ủy, nói giọng trầm trầm nhưng cũng đủ nghe vì không

    ồn ào lắm: “Đề nghị anh em cán bộ nhường ghế cho đồng bào ngồi dự

    hội nghị… Anh em ta chịu khó đứng. Không biết anh em có tán thành

    không?” (Cười).

    - Đồng ý, đồng ý.

    Hơi lộn xộn một tí khi một số người thưa thớt đứng lên. Một vài cán

    bộ khác ra mời đồng bào đang đứng ngồi rải rác các nơi đến ngồi vào

    hàng ghế giữa.

    Thuyết trình viên, một nông dân cao lớn trạc tuổi bốn mươi, áo quần

    nâu. Tay cầm mảnh giấy nhỏ nhưng hình như ông đã thuộc làu, chẳng

    thấy ông nhìn đến giấy bao giờ.

    - …Tôi xin bát đầu từ phía sông đào trở về xóm Rú trước. Từ bờ hóp

    ruộng ông chắt Em, qua ruộng cô Nhự, đâm thẳng đến ruộng cửu C.,

    qua…là một khoảnh.

    Ông hơi lim nhim mắt, cứ một lần đọc xong một khoảnh là bàn tay

    chắc nịch hạ xuống chém một nhát vào không khí, cứ đều đều như vậy

    theo lời nói. Bên dưới đồng bào ngồi nghe cũng lim nhim mắt, theo dõi

    chăm chú, như mọi người đang mường tượng trong đầu hình dáng các

    khoảnh trên cánh đồng làng. Một vài ba ông cụ gật gù. Tôi để ý hội nghị

    này nhiều phụ lão nhất, và các cụ phát biểu hăng nhất.

    Chỉ có một mảnh ruộng rộng có mười hai thước mà có hai ý kiến khác

    nhau. Nên ghép chung vào khoảng bên cạnh, hay cắt ra cho vào một

    khoảnh khác vì nó có phần xấu hơn.

    Một bà mẹ ngồi bên phía trái đứng dậy:

    - Tôi có một mảnh ruộng ngay gần đấy, tôi sát (hiểu). Mảnh ấy phải

    tát nước hai bậc.

    Một cụ già:

    - Thưa hội nghị, cái mảnh ấy vốn của tôi, tôi bán cho ông H., cha con

    ông ấy đổ bao sức lao động ra mới có cái ăn.

    - Cắt sang khoảnh khác thì cũng tương đương.

    - Thôi, đồng ý cắt.

    Một cụ, tóc bạc phơ, đứng lên:

    - Thưa hội nghị, khi dân đồng ý thì xin nói đồng ý một câu cho thật

    rào lên nào.

    Chủ tọa:

    - Có hai ý kiến…

    Một bà mẹ nói:

    - Đoàn (thanh niên) đã mần (làm) mấy mùa mà không có ló (lúa) mà

    đong cho bộ đội đó.

    - Yêu cầu ông Thọ ngồi xuống.

    - Nếu đám nào cũng cắt ra (cho xuống hạng khác như thế) thì cắt cả

    đêm nay.

    Chủ tọa:

    - Xin lấy ý kiến… Cắt đưa lên khoảnh trên?

    - Đồng ý. (Tiếng một phụ nữ và một người đàn ông đáp rất lớn, rất hăng)

    - Ít quá. Xin lấy ý kiến lại.

    - Đồng ý. (Một loạt vang lên).

    Vẫn còn có ý kiến phản đối:

    - Thưa chủ tọa, chủ tọa nói không rõ nên đồng ý sau cũng như đồng

    ý trước…

    - Thưa, ông không sát.

    Chủ tọa:

    - Hội nghị đã đồng ý nhưng vẫn có một ý kiến ngoặc lại, vậy xin hội

    nghị nhận định lại để cho thỏa mãn. Xin lấy biểu quyết…

    Lần này cũng chỉ vẫn mấy ý kiến ấy tán thành, tuy ít ỏi nhưng rất

    tích cực rất hăng hái. Biểu quyết ý kiến kia. Được tán thành sôi nổi. Chủ

    tọa hể hả:

    - Đã đa số chưa ạ?

    …Qua mảnh ruộng khác. Thuyết trình viên tiếp tục. Có một mảnh

    ruộng thảo luận mãi vẫn không ngã ngũ. Chủ tọa đề nghị nên để lại mai

    cho Ban học sinh1ra đồng xem xét thêm.

    Một cụ già đứng phắt dậy, giọng rất căng:

    - Dân hơn học sinh. Dân đồng ý là được.

    - Phải, bình nghị mà lại.

    …Hình như thấm mệt, chủ tọa đề nghị tạm nghỉ vài phút cho thuyết

    trình viên uống nước. Cuộc họp cũng cần phải xả hơi. Ban vui nhộn rục

    rịch giới thiệu tiết mục gì đó, bỗng nghe từ bên trong đình có ai xin

    xung phong hò. Anh nhón người lên nhòm vào:

    - Ai xin phép vui nhộn sau kia ạ?

    Một giọng thanh nữ:

    - Vâng, có em đây ạ. Em xin hò ạ.

    Ban vui nhộn hóm hỉnh:

    - Chú ý, xin hội nghị chú ý, có một chị xin hò sau lưng quý vị đấy ạ.

    Tiếng hò vẫn cất lên không chút ngại ngùng:

    - O ơ… vụ chiêm cùng với vụ mùa…

    Mặc cho tiếng hò ngân lên, từng nhóm nông dân ba bốn người một

    túm lấy nhau mà trao đổi rất hăng. Chủ tọa, thuyết trình viên cùng Ban

    thuế hội ý. Nước chát (nước chè tươi đậm) được các cô mang đi từng

    hàng ghế mời.

    Một cụ già sốt ruột:

    - Thôi, xin làm việc tiếp đi, kẻo khuya. Vui nhộn rứa đủ rồi.

    Nhưng người ngồi bên cạnh cụ lại ngăn:

    - Để yên cho cán bộ người ta làm, đừng có giục.

    (…)

    - Xin dân làng xét lại cho miếng ruộng của tôi. Có đổ sức lao động ra

    nước nó mới chịu bò lên ruộng. Từ ruộng nhà khác bước lên ruộng nhà

    mình cũng phải chốngtrốc cúi (đầu gối) mới lên được.

    1 Những người vừa được cử đi tập huấn về.

    Một người vụt đứng dậy, đưa tay xin phép chủ tọa và cứ giữ tay đưa

    cao như vậy mà nói. Chủ tọa ngắt: “Mảnh đó chưa đến lượt, xin để sau”.

    Anh ta im nhưng khi chủ tọa vừa dứt lời, anh lại giơ tay lên, bước tới

    một bước, nhưng rồi không hiểu nghĩ sao lại bước thụt lùi, trở về chỗ

    cũ ngồi xuống ghế lặng thinh.

    Trở lại chòm Liên Thanh, nơi tôi ở. Hôm bình nghị việc phân khoảnh

    định hạng ruộng ở chòm, tôi không đi dự. Sáng, nghe anh cán bộ nói:

    Cả xã 31 chòm trong xã, chòm nào cũng làm xong đêm hôm qua, chỉ

    có chòm mình là tối nay phải làm lại. Nguyên nhân có một đám ruộng

    bàu, tuy gọi là bàu nhưng lại ở ven sông. Khi lụt thì chịu lụt trước, đến

    khi nắng hạn thì cũng không giữ được nước, trôi tuột mất ngay. Ban

    họp, nhất trí cho vào hạng B. Đa số tán thành như vậy, nhưng thiểu số

    vẫn không chịu. Đa số là những người tích cực, không có ruộng ở gần

    đó, nghĩ rằng tán thành (xếp khoảnh ấy vào loại ruộng khá) thì chỉ có

    lợi cho Chính phủ chứ mình chẳng mất gì. Quên mất nguyên tắc công

    bằng. Thiểu số không chịu, hai bên cứ căng nhau mãi. Đi gần tới chỗ

    nặng lời với nhau. Thiểu số nói lẫy (dỗi). Nếu vậy thì thôi, ruộng làng ta

    chỉ cần phân làm hai hạng, “khỏi chia ra thành nhiều hạng, bình nghị

    mần chi (làm gì) cho thêm mệt”.

    Lúc ấy đã ba giờ sáng, đành phải nghỉ. Thành ra tối nay làm tiếp.

    Cán bộ chòm lên báo cáo với Ban thuế. Xã bảo về kiểm điểm, và đi

    điều tra (tìm hiểu) trong nhân dân rồi ra tận đồng xem xét thêm và

    quyết định sau.

    Trong số học sinh đi dự tập huấn về có anh Hoe Định, trạc ba mươi

    tuổi. Thuộc tầng lớp trung nông khá; nhà có bảy mẫu ruộng, thuộc loại

    khá giả nhất trong chòm. Lúc dự kiến trong Ban học sinh, anh đồng ý

    nhưng khi ra bình nghị công khai, anh bẻ lại.

    Tối hôm sau tôi cùng anh cán bộ xã và Cu Ban đi dự họp.

    Tôi nói chuyện với một vài phụ lão đến sớm. Sau đây là lời các cụ:

    - Như ri đã là dân chủ lắm. Bình nghị cho bưa (vừa), đến khi cho đàn

    bà gánh lúa đi nộp, không phàn nàn chi nữa.

    - Thôi thì ta lấy cái tương đối chứ không lấy cái tiệt đối. Bên chín bên

    mười thì cho như một. Mười ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài nữa là.

    - Ừ thì trứng gà trứng vịt, ta cho vào một hạng trứng đi.

    - Thôi xin làm việc cho rồi kẻo khuya. Ban Thuế người ta ăn chi mà

    đi làm cả một tháng ni rồi. Tôi có đứa con trong ban đó. Đến bữa về ăn

    rồi là đi lo việc thu thuế nông nghiệp.

    Vào hội nghị. Tiếp tục như hôm qua. Việc đầu tiên là bàn cãi nên

    đi ngay vào chỗ bế tắc hôm qua hay là bắt đầu lại từ đầu. Hoe Định đề

    nghị làm từ đầu. Bởi anh có một vạt mía đã xếp loại B, anh không đồng

    ý. Cãi nhau một hồi. Cán bộ xã phải lên tiếng. Rồi tôi (phóng viên) cũng

    xin phát biểu góp ý kiến. Cuối cùng hội nghị đồng ý làm tiếp việc hôm

    qua vì xem chừng ai nấy cũng thấm mệt cả rồi, muốn về nghỉ sớm.

    Tôi bàn với cán bộ phụ trách xã. Chúng ta cần kiểm điểm sai lầm đêm

    qua. Bây giờ ta nhất trí tách khoảnh ruộng ấy ra xếp xuống hạng dưới

    nhưng phải làm thận trọng. Vì hôm qua đa số đã đồng ý không cắt rồi.

    Bây giờ nếu ta trở lại theo thiểu số, tuy là công bằng, nhưng nhân dân

    có thể nghĩ: ra cán bộ họ muốn xâu mũi mình (như xâu mũi con nghé)

    họ dắt đi đâu cũng được. Phải giải thích thật cặn kẽ.

    Rốt cuộc cũng chẳng khó khăn lắm. Nhưng đúng là chủ tọa hội nghị

    quá kém. Nói dài dòng. Hễ nghe hội nghị hơi ồn ào thì cứ mỗi một câu:

    “Yêu cầu hội nghị ta bình tĩnh tí, bình tĩnh tí…”

    Tổng kết một vấn đề nhỏ thôi cũng nói miên man, rễ cà rễ muống,

    nói từ nguyên tắc thuế nông nghiệp nói đi. Nói lui rồi nói tới như gà

    con vướng phải tóc. Có khi lặp lại y như người kia vừa phát biểu. Đến

    bực cả mình.

    - Yêu cầu hội nghị ta bình tĩnh tí… Chiến dịch thuế nông nghiệp,

    mình làm hôm nay là để lại cho con cháu, hợp lý dân chủ, bảo đảm nhu

    cầu…

    Hội nghị gần xong, Hoe Định ngoắc lại:

    - Yêu cầu hội nghị xét cho miếng mía của tôi ở bờ sông…

    Tiếng xì xào:

    - Ô, qua rồi, thôi…

    - Trở lại thì họp suốt sáng à?

    - Yêu cầu: Ông Hoe Định đi học về, nói lấy đối tượng là ruộng đất mà

    bàn về thuế chứ không lấy đối tượng là cá nhân mà giờ ông lại đưa đối

    tượng cá nhân ra.

    - Không, tôi lấy đối tượng ruộng đất của tôi chứ không cá nhân.

    Một người gắt:

    - Tôi cũng có một miếng đất giống như thế. Sao tôi không kêu ca

    nào? Vì sợ mất mùa tháng mười thì tôi làm ngô tháng chín, sang tháng

    năm tôi làm ngô lại, vị chi cũng coi như hai mùa.

    THU THUẾ CÔNG THƯƠNG NGHIỆP

    15-10-1951 Quang cảnh đêm bình nghị mức thu thuế công thương

    nghiệp khác hẳn quang cảnh bình nghị thuế nông nghiệp. Đường phố

    đông. Người đông đi lại tưởng như nhởn nhơ:

    - Tôi về (nhóm) Hàng ăn.

    - Ai (thuộc nhóm) Giày dép da xin mời vô đây.

    - Xe đạp, mời đến họp ở nhà anh Thâm…

    Các hàng hiệu đều đóng cửa. Hiệu cắt tóc V. K. mọi khi vào giờ này khá

    đông, bây giờ im ỉm. Các chị bán thuốc lá rong đều vắng mặt, ai muốn

    mua điếu thuốc hút cũng không biết mua đâu. Những nhà kinh doanh

    một lúc hai, ba ngành, anh đi họp một nơi, em đi họp một nơi. Qua hàng

    vàng, không nhìn thấy cô con gái ông chủ ngồi sau quầy như mọi hôm…

    Anh Vựng cán bộ phụ trách thuế công thương nghiệp tôi vừa gặp hôm

    nọ ở huyện Yên Thành nay về chỉ đạo thuế ở đây. Đang nói chuyện với

    anh Vựng thì thấy một chị đi qua, chiếc xắc con đeo vai lủng lẳng. Anh

    Vựng gọi và giới thiệu: “Chị Thầm, có anh ở Tòa soạn báo…” Chị Thầm

    Phó trưởng đoàn chỉ đạo, ăn nói đĩnh đạc, người có vẻ đàng hoàng lắm.

    Thị trấn Đô Lương phân thành chín điểm bình nghị phân hạng. Đại

    khái: Hàng rong-Tạp hóa, Vải-May-Cầm (đồ), Dép lốp-Giày-Da, Vàng,

    Đồng hồ, Ảnh-Sách, Xe đạp, vv…

    Tôi dự buổi bình nghị ngành Vải-May-Cầm trong căn nhà ông Phạm

    Xuân Thiệu bỏ trống. Khoảng ba mươi người dự. Chín chị hàng vải, bảy

    anh hàng cầm và sáu bác thợ may. Bắt đầu bình nghị từ hàng vải.

    Đại diện Ban chỉ đạo giải thích chính sách, rồi trình bày dự kiến phân

    hạng cho mỗi gia đình. “Xin đọc từ trên xuống dưới: Bà Trạch, bà Hàn…

    Hai bà này nhất trí phân hạng nhất, nhì. Trôi chảy. Đến người thứ ba thì

    bế tắc. Đấy là chị Cháu Khang. Chị khăng khăng:

    - Tôi thì chỉ khoảng hạng 8 thôi đó. Giá như nhà tôi như trước đây

    không bị cắt (cắt nhà từ Phố Cũ chuyển đến xây dựng khu Phố Mới để tránh

    máy bay) thì tôi cũng theo đuổi được (mấy người xếp các hạng trên). Nay

    chừ nhà tôi ở tận cuối phố C, ngày mô mang được hàng đến cửa hiệu thì

    còn bán được ít nhiều, ngày mô mưa gió là chịu. Thật có khi mươi hôm

    không bán được tấc vải.

    Có tiếng ai nho nhỏ ở hàng dự thính phía sau:

    - Thì có ngày bà lại bán đến 50 tấm.

    Chủ tọa xin lấy biểu quyết về chị Cháu Khang. Chỉ có một phiếu tán

    thành (bà Khang xếp hạng ba). Ấy là phiếu của chị Nguyệt, đại biểu

    ngành hàng vải, là người từng được biểu dương trên báo vì thành tích

    kê khai thành thực.

    - Vậy theo các vị, có những ai đáng đứng vào hàng thứ ba? – chủ tọa hỏi.

    Im lặng một hồi. Chủ tọa động viên mãi, lát sâu mới có người nói dè

    dặt: Chị Lộc, bà Phúc Thành…

    Lấy ý kiến chung thì bà Phúc Thành được sáu phiếu. Nghĩa là đa số.

    Nhưng lại có ý kiến: Bà Phúc Thành tuy cửa hiệu nhìn vào to thật đấy

    nhưng bà không phải chỉ bán có vải, hàng tạp hóa mới là nhiều. Tạp

    hóa lại có doanh số riêng. Vậy yêu cầu xét lại.

    Chị Lộc: Tôi mới ra buôn vải ba tháng nay, trước kia tôi buôn thuốc

    lào. Hàng thì có hàng đấy nhưng không có khách quen, chứ có khách

    quen thì nói xin lỗi, tôi không thua kém chi ai.

    Một người dự thính ngồi phía sau, hình như anh vừa đi tham gia bình

    nghị đâu ở một nhóm khác mới vào:

    - Tôi xin tham gia ý kiến xây dựng. Chị cháu Khang hạng ba là phải.

    Chứng cớ là hôm qua tôi gặp một người ôm tập vải ở dưới đi lên. Tôi hỏi

    vải bao nhiêu. Vải bốn hai. Mua của chị cháu đây. Thưa hội nghị, như

    thế đó…

    Chị Cháu gắt:

    - Này cái ông này, nãy giờ ông đi đâu không vô mà nghe bây giờ nói

    rờ. Tôi mà xứng đáng hạng ba thì tôi đã nhận từ lúc nãy, không đợi đến

    chừ. Xin hội nghị hỏi các chị hàng chuyến coi. Mỗi chuyến tôi lấy bao

    nhiêu vải của các chị ấy…

    - Có hỏi hàng chuyến thì rồi chị cháu Khang cũng vẫn hạng ba -

    người kia quả quyết.

    …Từ hạng sáu trở xuống thì dễ dàng trôi chảy (vì mức thuế thấp).

    Qua Hàng Cầm (Hiệu cầm đồ).

    Anh Định, chủ hiệu Sông Lam:

    - Các vị cho tôi phát biểu trước, ý tôi muốn nói hôm nay ở đây tôi trẻ

    nhất, xin phát biểu trước cho hăng hái. Vậy tôi xin hăng hái phát biểu.

    Theo ý tôi thì ông Hồng Lĩnh, ông Hoài Ân, cụ Tư, rồi tôi, rồi chị Khang….

    Ông Hồng Lĩnh nói giọng Bắc, ông Hoài Ân nói tiếng Quảng, chị

    Chung tiếng Huế. Ông Hồng Lĩnh:

    - Tôi xin nhận tôi đứng vào hạng nhất.

    - Hoan hô! (Có tiếng vỗ tay nhưng không rộn rã lắm vì hội nghị ít

    người).

    Chủ tọa:

    - Thứ hai là ông Hoài Ân…

    - Tôi xin nói: Xin chủ tọa sáng suốt cho, nhà tôi có chi. Hai cái áo va

    rơi1môngtanhắc2 đã cũ, một ít áo vải Hưng Thịnh, khăn mặt vải. Xếp tôi

    vô hạng hai thì tôi xin…

    Ông Hồng Lĩnh nói rất từ tốn, đón trước đón sau:

    - Xin bạn đồng nghiệp là ông Hoài Ân nghĩ lại. Nói về vốn thì, tôi xin lỗi,

    có lẽ ông Hoài Ân chỉ bằng một phần tư, một phần năm vốn của tôi thôi

    (nghe tiếng ông Hoài Ân nói nhỏ: Bằng một phần mười thì có), nhưng

    ông Hoài Ân được cái đức tính là chịu khó đi tìm hàng, chịu khó bán…

    1 Vareuse: một loại áo khoác ngoài áo vét.

    2 Montagnac: một thương hiệu thời trang nổi tiếng của Pháp.

    Ông Hoài Ân vẫn chưa chịu. Ông Sửu tham gia:

    - Tôi xin nhân danh người đứng hạng bét trong ngành Hàng cầm mà

    nói (cười) ông Hoài Ân hạng hai là phải. Bởi vì ông mua tận gốc bán

    tận ngọn.

    Một chị phụ nữ:

    - Ở đây chỉ mình tôi là đàn bà. Tôi xin phép nói ông Hoài Ân xếp

    hạng nhì là phải rồi, còn chi nữa.

    Ông Hồng Lĩnh sửa lại đôi kính trắng, trịnh trọng:

    - Bạn đồng nghiệp, bạn đồng nghiệp của tôi là ông Hoài Ân còn thắc

    mắc…

    Ngành May. Ngay từ đầu ông Mỹ Thuật vẫn được tiếng là nhà may có

    tín nhiệm nhất phố Đô Lương này. Ông Mỹ Thuật nói:

    - Tôi nhìn bề ngoài thì thế nhưng đi sâu vào mà đối tượng cả trong

    lẫn ngoài thì không có chi về sức sản xuất, vì tôi làm chỉ có một mình.

    Ông Hồng Lĩnh:

    - Tuy một mình nhưng đầy tín nhiệm. Hiệu Mỹ Thuật có tiếng từ khi

    còn ở Vinh. Bạn bè của tôi cứ ai may âu phục là phải đến bằng được

    ông Mỹ Thuật. Nói thí dụ một cái áo va rơi nơi khác may chỉ hết có tám

    ngàn, ông Mỹ Thuật lấy công một vạn hai, người ta vẫn cứ đồng ý may.

    Một người thợ may khác:

    - Chúng tôi đúng là có nhận may nhiều nhưng vải chi cũng may. Còn

    ông Mỹ Thuật phải từ hàng ka ki trở lên ông mới nhận…

    20-11-1951 Hôm nay tôi ra thăm anh Kiểm ở Phố Mới. Anh là cán

    bộ, gia đình có hiệu bán vải. Nhà đi vắng cả. Tôi ngồi nán chờ anh Ngô

    Đức Mậu đến đây như đã hẹn và cùng trở về tòa soạn. Chợt anh Kiểm

    xộc vào, bắt tay. Ra anh đi làm về. Một tay kẹp nách chiếc áo mưa. Xà

    cột đeo vai, đầy ắp giấy tờ. Chị Kiểm cõng thằng Sơn theo sau.

    Anh ngồi xuống ghế, cầm cái điếu thuốc lào chưa kịp hút đã nói ngay:

    - Anh Diêu ạ, cái chuyện thuế công thương nghiệp làm thế nào chứ

    thế này nguy quá. Tôi thấy chưa ai khai đúng cả. Như chị hàng xén kia

    218 T ừ n g u ồ n T h ạ c h H ã n . . .

    khai doanh thu tám vạn một tháng mà cán bộ cho là đúng. Làm chi có.

    Giả dụ lời 10% đi nữa thì với doanh thu ấy chị cũng mới lãi được có tám

    ngàn. Làm sao đủ sống? Ít nhất vốn cũng cần ba mươi vạn, mỗi tháng

    kiếm ba vạn mới đủ ăn. Như nhà tôi đây, thí dụ một tháng bán 50 tấm

    vải, thu vào hai triệu thì lời có giỏi lắm cũng tám vạn là cùng. Khai tám

    vạn, y như mình không bỏ vốn ra. Nhà Tài Thành, nhà Hưng Thịnh đều

    đưa vải tấm đến đây bán. Như thế mà nhà tôi khai hai triệu thì mỗi quý

    tôi trốn thuế ba mươi vạn. Anh nghĩ sao?

    Tôi nói, cách bán vải nhà anh là bán và ăn lãi theo kiểu ăn hoa hồng,

    vậy xin tính lãi 6% vào số doanh thu ấy, có được không?

    - Thì nào có ai chịu. Mà làm gì có sổ sách để tính toán phần trăm. Phải

    có phắctuya1 hợp lệ kia mới đáng tin cậy, chứ sổ sách mình ghi ra gì!

    Anh thở dài chán nản:

    - Thế mà Đoàn thể bảo cán bộ về lãnh đạo gia đình khai cho đúng.

    Anh Kiểm là cán bộ ngành công thương, chị mở cửa hàng bán vải

    cũng khá khang trang.

    Nhớ lại hôm trước tôi gặp các nhà hàng vàng Quảng Tín, Bảo Nguyên.

    Họ nói:

    - Chúng tôi mà khai đúng doanh thu thì chúng tôi chết. Buôn vàng

    vốn to lãi nhỏ. Một lạng vàng bán tám mươi vạn chỉ lãi được hai, ba vạn

    là cùng.

    Tôi sang hiệu Phú Long, chuyên bán thuốc Nam từ thành phố Vinh

    tản cư về đây. Ông mời xơi nước:

    - Như tôi đây từ mấy năm nay về sống trong khu phố này, cuộc vận

    động nào tôi cũng xung phong đứng nhất nhì phố chứ nhất định không

    thua kém ai. Nhưng một người, nói thí dụ, chỉ có 10 vạn mà ủng hộ 100,

    còn người có 10 triệu mà chỉ ủng hộ có 50 đồng thì sao gọi là công bằng.

    Cho nên Chính phủ đặt ra cái thuế công thương nghiệp là phải lắm.

    Ông ngừng một lát rồi hạ giọng nói tiếp:

    1 Facture: hóa đơn (BTV).

    - Hôm qua bình nghị phân hạng rồi, tôi đứng vào hạng A un (A1,

    tiếng Pháp). Đồng bào đồng nghiệp đều muốn có ý kiến xây dựng vào

    bộ thuế chứ ai muốn hại gì mình. Nhưng người ta không sát. Hôm qua

    chỉ mới phân hạng trong Phố Mới đây thôi thì tôi chịu như vậy, nhưng

    hôm nay bình nghị toàn khu tôi định sẽ nói hết. Như ông đây (chỉ vào

    anh Ngô Đức Mậu), ông đau dạ dày mà ông uống thuốc của tôi thì chỉ

    toi tiền, tôi nói thật như vậy. Nhưng với người khác, tôi nói: “Thuốc

    tôi hay lắm”. Cả Liên khu Việt Bắc, Liên khu 5 đều dùng thuốc nhà tôi.

    Tôi vừa expédier1mấy vạn bao đó. Nay thời chiến tranh chứ ngày trước

    thuốc hiệu Phú Long nhà tôi gửi bán tận bên Singapore… Người ngoài

    nhìn vào thấy mình buôn bán lớn, chứ ai biết đâu gia cảnh. Đấy, người

    ta bước vào hàng tôi thấy san sát tủ kính thuốc men như thế kia, con

    gái ăn mặc thế kia, tôi thì quần áo thế này – ông đưa tay chỉ chiếc áo

    len mặc trên người - Nhưng những thứ này là của thời trước còn lại chứ

    bây giờ kháng chiến, tản cư làm chi có!

    25-11-1951 Lớp tu dưỡng văn nghệ sĩ Liên khu 4.

    Họp mặt hầu như đông đủ các văn nghệ sĩ quần tụ tại vùng này.

    Đoàn chủ tịch có Lưu Trọng Lư, Hải Triều, Bửu Tiến, Hoàng Trung Thông.

    Anh Lưu Trọng Lư khai mạc. Vẫn cái giọng thiết tha sôi nổi quen

    thuộc của anh. Trại này đáng lẽ mở từ năm tháng trước. Nhưng gặp khó

    khăn cả về mặt tổ chức của Chi hội cả về mặt sinh kế của anh chị em

    (không tập trung được). Trước cũng có ý định: hay là tập trung làm một

    nơi thôi, cũng là dịp để anh chị em chúng ta gặp mặt nhau song thực

    tế không cho phép và cũng không nên làm kiểu ấy. Sau trại này (mở ở

    Nghệ An), sẽ mở tiếp các trại ở Thanh Hóa và ở Trị Thiên cho những

    anh chị em đang công tác những nơi ấy.

    “Nhu cầu của kháng chiến thì lớn mà cống hiến của văn nghệ sĩ

    chúng ta còn nhỏ bé quá - câu nói ấy chúng ta đã nói với nhau cách đây

    một năm, bây giờ tôi nhắc lại... Trong một năm qua chúng ta đã mất các

    1 Gởi đi.

    anh Hồng Nguyên ở Thanh Hóa, Nguyễn Hồng ở Trị Thiên, Hải Châu ở

    Nghệ An, và ngoài Bắc thì Nam Cao... ”

    Anh Hải Triều thuyết trình về thông tin và văn nghệ1. Tiếp đó, nhà

    thơ Lưu Trọng Lư đọc báo cáo chuyên đề về Văn nghệ trong chiến dịch

    vận động thuế nông nghiệp, mà anh cho là “thắng lợi lớn nhất của

    nông thôn ta từ đầu cuộc kháng chiến đến nay”.

    Tại buổi họp kết thúc phần thảo luận, anh Hoàng Anh Bí thư Liên

    khu ủy đến nói chuyện, xoay quanh hai vấn đề: a) Đánh giá đúng bước

    tiến của văn nghệ liên khu thời gian vừa qua, và làm thế nào phát triển

    thêm một bước, và tiếp đó, b) Giới thiệu chính sách của Đảng Lao động

    Việt Nam đối văn hóa, văn nghệ (…).

    Sau phần thảo luận báo cáo chung, lớp tu dưỡng đi vào phân tích,

    phê bình một số sáng tác mới nhất của anh em để rút kinh nghiệm.

    1 Thời gian này nhà văn Hải Triều làm Giám đốc Sở Thông tin Tuyên truyền

    Liên khu 4.

    Nhà thơ Lưu Trọng Lư và vợ, nghệ sĩ L ê Minh

    Thường bắt đầu bằng một đề dẫn, sau đó anh chị em phát biểu. Bài

    thơ Em Mãi của Hoàng Nguyễn, tức Mạch, thơ, khá nhiều bài, của Văn

    Tôn, các bản nhạc Tình hậu phương của Văn Ký, Pha màu luống cày của

    Nguyễn Văn Tý, Hò Khoan, lối thơ kể chuyện của Trần Hữu Thung, tiểu

    thuyết Giữa mùa của Hoàng Trung Thông...

    ÔNG X. LÀM BÁO - NHÂN VẬT TIỂU THUYẾT

    Tháng 12-1951 Cách đây mấy năm, tòa soạn báo Cứu Quốc thiếu

    người, đăng lên báo thông báo cần tuyển biên tập viên. Mấy hôm sau,

    thấy một người lùn tụt tịt, mặc áo vét ka ki vàng đến ra mắt. Dáng

    đi hấp tấp. Gặp anh chủ nhiệm, hình như có mang theo một tập báo

    Chống giặc (Thanh Hóa) trong một số có đăng một bài ngắn ký tên anh.

    Thơ ca hò vè gì gì đó, đại loại thế.

    Anh X. nói nhiều. Anh mới đến, anh em trong cơ quan ai cũng có

    nhận xét như vậy. Anh khoe đọc được chữ Tàu, bởi có mang theo một

    bộ Tam quốc chí bằng chữ Hán. Trong thư viện của tòa báo, có một

    ít sách Hoa văn. X. đòi mượn về xem. Sang nhà trọ, thấy trên bàn có

    chồng sách tiếng Pháp xếp bên cạnh chồng sách Hoa văn. Nhưng về

    sau tôi mới biết là X. chỉ đọc được võ vẽ vài ba chữ Hán.

    Được nhận vào làm việc ở cơ quan vài ba hôm, X. sang nhà tôi chơi.

    Hỏi ngay tôi trước học ở đâu, đỗ bằng gì... và khoe mình trước học

    Lycée Khải Định trong Huế, đỗ Bac 1 (tú tài bán phần) xong thì phải

    nghỉ vì ốm. Sau cách mạng, làm Chủ tịch thị xã Sầm Sơn rồi lên làm

    Việt Minh tỉnh.

    X. thích nói. Ai nói bất kỳ chuyện gì anh cũng chen vô. Chen nhiều

    câu vô nghĩa: “A, vấn đề này ấy lắm”. Tôi hỏi gặng: “Ấy là thế nào?” X

    ấp úng: “À à, ấy thế... ” Nghĩa là không có ý kiến gì cả, nhưng vẫn muốn

    phát biểu, làm ra vẻ có ý kiến phát biểu. Có lần, giữa tòa soạn, anh Trần

    Văn Sơn và tôi đang trao đổi về nhiệm vụ của ngành ngân hàng, mới

    được thành lập. Anh Sơn nói ngân hàng có nhiệm vụ phát triển thương

    nghiệp. Tôi cho là không phải, ngân hàng làm nhiệm vụ ấy thông qua

    mậu dịch. Đại khái thế. Tôi nói với Sơn: “Trong báo Nhân Dân đã có bài

    Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói về nhiệm vụ của ngành ngân hàng,

    chúng ta chỉ việc giở ra xem”. Anh X. đang làm việc gì đó, quay lại tham

    gia: “Trong báo Nhân Dân, ông Phạm Văn Đồng nói như thế ấy”. Tôi

    hơi bực: ấy là thế nào? Ông Đồng nói thế nào, ý kiến ra sao mới được

    chứ, chứ ai cũng biết là báo Nhân Dân vừa đăng bài ông Đồng. “- Ấy... , à

    à mình có biết có bài trong báo thôi chứ mình chưa đọc”.

    Vừa đến tòa báo làm việc được dăm hôm, X. vào nhà in nhờ làm các

    vi-dit1 và giấy viết thư có in tên mình. Được cử đi dự một hội nghị bình

    thường thôi để lấy tin, X. làm ra vẻ quan trọng lắm, như mình cũng là một

    nhân vật đây. Họp về, viết bài lòng thòng, anh Gia Ninh trực thư ký tòa

    soạn không cho đăng, lược bỏ bớt, thậm chí viết lại hoàn toàn. Hai bên

    cãi nhau kịch liệt. Những cơ quan X. được cử đến liên hệ, sau đó gửi bài

    cho tòa báo, phong bì chỉ đề tên riêng ông X, chứ không gửi cho tòa soạn.

    Một tuần sau khi X. đến nhận việc, chủ nhiệm Trần Đức Hinh nhận

    được một lá thư của anh HXP., anh cả của X., có kèm theo bức thư X vừa

    gửi cho anh trai: “Trước em chưa muốn vô Đảng, bây giờ thấy cần, nhờ

    anh giới thiệu”. Anh H. trước có tham gia hoạt động bí mật, nay giữ một

    cương vị làng nhàng trên khu bộ Việt Minh.

    Chi bộ họp, xét thấy chưa thể kết nạp, hoãn lại. Dạo ấy đâu vào

    khoảng tháng 4-1949.

    Cuối cùng anh X. cũng vẫn được kết nạp, khoảng một năm sau. Theo

    lời anh em nhận xét, trong thời gian chi bộ xem xét đối tượng, anh X.

    chạy lăng xăng, việc gì cũng tỏ ra hăng hái: nhận làm cán bộ phân đoàn

    thanh niên, nhận dạy bình dân học vụ... Sau khi được kết nạp vào Đảng

    rồi, không hoạt động gì nữa. Và tự cho mình đã là một cán bộ lãnh đạo,

    có quyền lớn hơn anh em khác trong cơ quan. Chủ nhiệm nêu vấn đề

    gì cũng xen vào, dù chỉ là một câu vuốt đuôi vô nghĩa. Anh Hoan dùng

    chữ rất đúng là ông X xun xoe nhưng tôi sợ X tự ái nên không bao giờ

    nói ra. Bởi X. hay tự ái vặt.

    Khi nào X. có việc làm giúp anh em là để lấy lòng người đó, mà X. đang

    cần nhờ một việc gì đó. Thích kết thân với những người có tên tuổi.

    1 Carte de visite: danh thiếp.

    Kết nạp rồi, gần một năm rưỡi sau, vẫn chưa thể trở thành đảng

    viên chính thức. Hôm kiểm điểm (trong phong trào phê bình và tự phê

    bình), xảy ra một chuyện. X. tưởng cứ lấy lòng mọi người thì anh em

    ưa, nhưng các đảng viên được X. lấy lòng thì đều phân tích ngược lại. X.

    bực lắm, tuy vậy vẫn không chịu tự nhận khuyết điểm tính mình ba hoa

    chẳng hạn. Anh Hoan dẫn chứng ở Hội nghị Liên Việt toàn Liên khu

    tháng 6-1951 vừa qua, vào hội nghị vừa mới ngồi yên xuống ghế, anh

    X. đã thao thao về những sai lầm trong chính sách ruộng đất - vì X. vừa

    mới đọc được Chỉ thị 35 của Trung ương. Đáng lẽ với cương vị phóng

    viên nhà báo đến dự với các cụ trong Mặt trận thì không nên ba hoa

    khoác lác như vây. Giờ giải lao, Hoan kéo X. ra góp ý kiến, bảo chớ nên

    phát biểu nhiều, dành cho các vị thân sĩ. Thế nhưng vừa trở lại phòng

    họp, X. lại tiếp tục nói huyên thiên.

    Một chuyện khác. Hoan đang trao đổi với Sơn về André Gide1. X.

    đi ngang qua., tham gia: “Ấy, André Gide viết cuốn L’immoralité ấy

    mà.. ”(kỳ thực tên tác phẩm là L’immoraliste2, X. nhớ lõm bõm).

    X. không nhận khuyết điểm nào. Tranh luận đi đến to tiếng. Anh em

    trong chi bộ phải can, vì hôm ấy mở hội nghị trên đồi, dưới ánh trăng,

    sợ dân nghe thấy.

    Sau việc này, Trần Văn Sơn nói vui với tôi: “Cũng khó nghĩ cho X.

    đấy. Nhận mình có tính ba hoa thì sợ xấu. Không nhận thì sợ kéo dài

    thời gian dự bị”.

    Trưa hôm sau, cơm xong, tôi ra bờ hóp bẻ một cái tăm thì X. đi theo

    (thời gian này tôi làm bí thư chi bộ cơ quan). Sau một cái cười, mà tôi

    trông thấy vẻ ngượng nghịu, X. nói: “Này ông D. ạ, mình muốn nói

    với ông chuyện này. Về việc mình chính thức ấy mà. Mình được kết

    nạp ngày 18-3-1950, đến nay đã gần mười tám tháng rồi. Yêu cầu chi

    ủy xét vấn đề ấy. Mình nhận là trước kia mình lệch, cứ nghĩ là chỉ cần

    làm được việc chứ dự bị chính thức gì cũng được. Mình cũng có những

    1 André Gide (1869 –1951) là một trong những nhà văn Pháp nổi tiếng, đoạt

    giải Nobel Văn học năm 1947 (BTV).

    2 Kẻ vô luân, 1902, tiểu thuyết (BTV).

    cái thiếu căn bản, ví như nghiên cứu học tập thiếu hệ thống, như hôm

    kiểm thảo mình đã nhận, nhưng không lẽ bắt buộc đảng viên trước khi

    vào Đảng, cái gì cũng phải biết hết cả”.

    Tự nhiên tôi nghĩ nhanh đến chuyện X. mới nghe ai vừa nói câu này,

    hình như là Thủy Triều hôm qua đến chơi nói:“Mình vừa đọc lại Điều

    lệ - X. nói tiếp - kéo dài đến 18 tháng dự bị, chẳng hóa ra mình thuộc

    thành phần địa chủ à? Sau này, khi được đi chiến dịch như ông chẳng

    hạn, nếu người ta thấy mình như thế thì bất tiện lắm. Thành ra mình

    xin truy nhận. Công nhận ngày nào cũng được, nhưng ghi vào lý lịch

    thì ghi một năm thôi”.

    Tôi không biết nên giải thích như thế nào, đành ậm ừ:

    - Chuyện đó ông đã nói với tổ trưởng tổ Đảng chưa. Chi ủy cũng cần

    hỏi ý kiến tổ mới quyết định. Còn cái việc truy nhận thì... Điều lệ mới

    của Đảng chỉ ấn định trường hợp thời gian dự bị kéo dài gấp đôi thời

    gian quy định, thì đưa người mới được kết nạp ra khỏi Đảng chứ không

    thấy nói tới chuyện truy nhận thời gian.

    Chúng tôi chia tay. Hôm sau tôi yêu cầu họp tổ Đảng nhân anh Khôi

    và anh Mậu đi công tác về.

    Cuộc họp tổ Đảng, ngoài mấy việc lặt vặt, có hai vấn đề:

    1. Kiểm điểm việc bất hòa giữa Hoan và X., và

    2. Xem xét việc chuyển X thành đảng viên chính thức.

    Cuộc kiểm điểm gay go, kéo dài hơn thời gian dự đinh, phải tạm

    ngừng để làm việc cho kịp ra số báo hôm sau, đêm sẽ làm tiếp.

    X. chuẩn bị kỹ để đấu tranh với Hoan. Có một mảnh giấy ghi những

    điểm định phát biểu, trên đầu có bốn chữ Thành thực và bình tĩnh, đóng

    khung chữ bình tĩnh và tô đậm nét. Tôi ngờ rằng X. viết bốn chữ ấy

    cũng bao hàm một phần dụng ý cho anh em nhìn thấy.

    Hình như nỗi giận chồng chất trong người nhiều và lâu ngày nên vừa

    mới bắt đầu trình bày, X. đã to tiếng, hậm hực. Anh nói dài, đó là thói

    quen, nhưng đặc biệt hôm nay cũng có nhiều ý không đến nỗi banal

    (nhàm) như những lần phát biểu trước. Phải chăng nhờ có chuẩn bị kỹ?

    Chúng tôi ngồi nghe, mỗi người nhìn về một góc nhà. Không hiểu

    sao, dường như ai cũng tránh không muốn nhìn thẳng vào X., sợ X.

    ngượng chăng? Thỉnh thoảng tôi liếc thấy trên khuôn mặt trắng trẻo,

    tóc chưa cắt để dài chấm xuống đến tai và hơi xỏa xuống trán, mồ hôi

    đọng nhiều hạt, đôi lông mày nhíu lại một cách đau khổ. Miệng có hàm

    răng trắng hơi hé ra, hình như X. muốn mỉm cười cho nhẹ bớt những

    câu nói gay gắt của anh. Nhưng cái hé miệng trở thành một cái nhăn

    nhó gượng gạo.

    Chúng tôi họp ở sân Tòa soạn sau khi làm việc và ăn cơm tối xong.

    Cái sập gỗ vẫn dùng làm bàn kê chính giữa, mọi người ngồi vây quanh.

    Mấy chiếc ghế đẩu, rương sách, tấm ván kê trên hai chiếc đẩu, mọi thứ

    đều có thể dùng làm ghế ngồi. Đĩa đèn dầu lạc khêu thành hai ngọn hai

    bên cho sáng hơn. Anh Khôi bỏ túi thuốc lá Long Biên ra, rút hết điếu

    này đến điếu khác. Anh Mậu bên cạnh cũng bắt chước làm như vậy. Họa

    sĩ Văn Bình vẫn lặng lẽ như thường lệ. X. tiếp tục nói, bộ mặt vẫn đau

    khổ khó chịu như lúc ban ngày.

    X. trình bày dài dòng để đi đến kết luận H. có tính xu phụ người trên,

    đe nẹt người dưới, hoặc người anh tưởng là kém thua mình. X. nhắc đi

    nhắc lại nhiều lần câu này, nhấn mạnh chữ tưởng. Có lẽ sợ mọi người

    không hiểu hết nghĩa, một lần X. nói toẹt ra: anh tưởng thôi, chưa chắc

    người ta đã kém thua anh.

    X. sâu thật. Những chuyện nhỏ xảy đâu từ năm ngoái, anh vẫn nhớ

    kỹ và bây giờ nói ra thật rành rọt. Theo X., một lần anh Th. đến cơ quan

    chơi với H, sau khi anh về, H. sang nói với X. một cách quan trọng, hình

    như có thêm cái nháy mắt: “Này, đồng chí Phó bí thư khu ủy đấy”. Một

    lần khác anh Nh. cũng ở bên khu ủy đến chơi, H. sang nằm chung nói

    chuyện...

    Hoan trả lời những việc đó quên rồi. Nhưng anh Th. không phải bây

    giờ tôi mới biết mà đã quen nhau từ khi tôi chưa vào Đảng. Còn anh Nh.

    ngoài chuyện bà con họ hàng, ngày ở chiến khu Ba Lòng anh Nh. đối

    với tôi như thế nào - việc này anh D. đây cũng biết rõ - ngày nào anh

    cũng đích thân làm cái việc là tự tay tiêm thuốc chống sốt rét và thuốc

    bổ cho tôi...

    Mặc dù các đồng chí nhắc nhở nhiều lần, lời qua tiếng lại khá gay gắt.

    Hình như cả hai người đều quên mất tinh thần phê bình và tự phê bình.

    Thái độ X. cũng khó chịu thật. Đối chọi nhau từng từ một.

    Ngoài hai người không ai phát biểu ý kiến nhiều. Mọi người cố giải

    thích kỹ hơn về nguyên tắc sinh hoạt Đảng để X. thấm nhuần hơn là

    đi thẳng vào nội dung vấn đề. Mâu thuẫn giữa hai người có vẻ sâu sắc

    lắm. Tôi nêu ý kiến: H. có xu phụ cấp trên không? Không. Còn đối với

    dưới đôi khi nóng nảy, muốn tỏ ra mình hơn người kia cho nên dễ sinh

    ra hiện tượng thiếu dân chủ. Anh Khôi và anh Mậu tuyên bố đồng ý với

    nhận xét ấy. Rồi Bình, Sơn, Hoan cũng tán thành. Riêng X. vẫn không

    chịu kết luận ấy, yêu cầu ghi vào biên bản là H. trịch thượng. Nhưng

    không hiểu sao sau khi xong xuôi, tôi đọc lại biên bản để thông qua -

    tôi đồng thời là thư ký cuộc họp - X. lại xin rút lui ý kiến ấy.

    Kết luận, tôi nêu nhận xét về buổi kiểm điểm: “Có kết quả về mặt

    thông suốt tư tưởng cho nhau nhưng về tình cảm còn phải chờ thời

    gian và sự cố gắng của cả hai đồng chí mới đi đến đoàn kết hoàn toàn”.

    Trong thâm tâm tôi cho là còn khó, còn lâu trên lĩnh vực tình cảm. Hai

    người còn thành kiến với nhau nặng nề lắm.

    Một nét của X. : Khi nói, mặc dù cố ý - và khá rõ rệt - buộc tội H. xu

    phụ cấp trên, X. vẫn nhắc đi nhắc lại: “Tôi chỉ trình bày thế thôi, chứ

    tôi không kết luận”. Có người phải bảo: “Đây là hội nghị nói thẳng, sao

    anh không nói. Dù sao ý định của anh cũng rõ rệt rồi”.

    X. ăn ít cơm. Hình như mỗi ngày chị Sen tính cho mọi người 500 gam

    gạo nhưng X. thì nói mình chỉ ăn hết 300 gam thôi. X. nuôi bốn con gà.

    Mỗi bữa ăn xong, không kể phần cơm của mình còn hay hết - hết thì gọi

    lấy thêm - X. cứ xúc một bát đầy mang về cho gà. Anh em có người tỏ

    vẻ khó chịu nhưng không ai nói ra, sợ mích lòng. Riêng chị Sen nhiều

    lần nói có vẻ hỗn. Không biết X. có hiểu không. Có thể có nhưng chắc

    anh cho mình có quyền làm như vậy. Rồi viện cớ mất chén mất bát thế

    nào đó, chị Sen không cho X. mượn bát mang cơm về nhà nữa. Sau mỗi

    bữa, X. kiếm lá chuối hay một mảnh giấy gói ghém phần cơm mang về

    cho gà.

    Một hôm X. đến tìm tôi:

    - Này D. ạ, mình muốn ông giúp mình thế nào để học cho có căn bản.

    Tôi giới thiệu với anh những tài liệu cần thiết. Chợt X. hỏi, có vẻ rất

    chân thành:

    - Này cậu, viết bài mà không ký tên mình có phải là không khiêm tốn

    không?

    Tôi sực nhớ hôm đi thăm trại an dưỡng thương binh để viết về ngày

    27-7, những mẩu chuyện của X. không ký tên mà chỉ ghi hai chữ cái đầu

    tên. Ngay bài chính:“Đi thăm trại A7” của anh cũng chỉ ký tắt. Tôi đã

    chú ý điều bất thường đó.

    X. có lối trở ngọn giáo khi tranh cãi những vấn đề rất bình thường. Ví

    dụ tôi nói, chị S. phàn nàn X. hay đến ăn cơm muộn để chị phải chờ, X.

    đốp ngay: “Thì chị cũng hay phàn nàn cậu đến chậm đấy”.

    Thường là hiếu thắng về những chuyện vặt như vậy.

    HẬU PHƯƠNG

    1952

    MÁY BAY PHÁP OANH TẠC MỘT SỐ VÙNG TỈNH NGHỆ AN

    09-4-1952 Nắng lúa trổ.

    Nhìn ra trời mờ mờ khói đục, nhìn lâu chói mắt. Cánh đồng trước

    mắt xanh nhạt bông lúa. Nắng Nghệ An khó chịu quá. Con người khô

    quăn lại. Vừa nắng như cháy núi vừa tàu bay địch. Hôm kia, ban sáng,

    bốn chiếc quần một giờ ở thôn Liên Thanh. Những em bé mẹ bồng ra

    núp hầm ngủ thiếp luôn trên tay mẹ, ngủ như lên cơn sốt, mồ hôi ròng

    ròng. Một giờ ròng rã dưới nắng trưa, còn chi mà không sốt!. Đứa bé

    khóc dưới hầm trông đã tội. Mà khi nó cười vì bắt được một con nhái

    trong hầm, trông càng tội nghiệp hơn. Chiến tranh! Những em bé ngây

    thơ thế này.

    Nghe nói trong khi bốn chiếc Spitfire quần thảo thị trấn Đô Lương

    thì bốn chiếc khác thả bom napalm và bắn phá thị trấn Nam Đàn. Ba

    giờ chiều lại bốn chiếc khác bắn phá thôn Đồng Thanh.

    Đứng ở đây, nhìn máy bay địch chúc xuống, đếm sau 22 giây nghe

    tiếng nổ. Nhìn cột khói bốc lên nơi xa mà ước tính khoảng cách từ nơi

    bom nổ tới chỗ mình đứng bao xa. Loại ca nông gì nó bắn phụt lửa và

    khói ra, làm ta quáng mắt, nhìn như tuồng quầng lửa đi ngoằn ngoèo.

    Tiếng nổ ục như trâu ọ khi bị cắt tiết nhưng ngắn gọn hơn do đó càng

    dọa dẫm hơn. Có khi nghe như tiếng bom nổ chìm dưới nước. Bốn chiếc

    quay đều đều như biểu diễn, cứ cách mười giây nghe một tiếng ục. Nhìn

    chúng lượn qua lượn lại trên đầu, gai mắt quá.

    Đồng bào sợ thì vẫn sợ, nói trạng thì cứ nói trạng, giọng rành coi

    thường thằng Pháp. Nhưng cái sợ năm nay khác cái sợ năm ngoái. Năm

    ngoái cũng vào dịp tháng ba tháng tư dương lịch này, sau chiến dịch

    Hà Nam Ninh, không quân địch cũng hoạt động dữ lắm. Nó chỉ ném

    bom một lần mà đồng bào sợ cả ngày... Nghe ai đập cái thúng, ai động

    mạnh chân vào bức đố (vách gỗ), cũng đã có những người ùa chạy ra

    hầm trú ẩn, thần hồn nát thần tính. Sợ thành khiếp, đi đến mất bình

    tĩnh. Năm nay, bà con chỉ sợ những lúc nó bắn. Sau đó, máy bay đi, ta

    lại yên tâm làm ăn, chen vài câu nói trạng. Âu cũng là một khía cạnh

    mới trong bản lĩnh con người tiến triển theo kháng chiến. Bản thân tôi

    hôm nay ngồi vào bàn làm việc, mặc dù vẫn nghĩ có thể chúng có thể

    trở lại trong chốc lát tới đây, tôi vẫn có thể hoàn toàn tập trung vào

    công việc đang làm.

    Ban đêm, trăng mờ đục, mây kín trời. Gió mát. Không khí dễ chịu

    nhưng vẫn thấy hơi buồn. Những phút bình yên trở lại sau một ngày oi

    bức và căng thẳng. Buồn, thấm thía chiến tranh, căm ghét bọn gây ra

    chúng. Muốn làm việc nhưng buồn và mệt, tôi tắt đèn đi ngủ sớm hơn

    mọi bữa. Nhìn ra ngoài, vẫn bàng bạc trăng mờ.

    10-4-1952 Vẫn cái nắng oi khó chịu. Ban ngày bầu trời đục mờ như

    tại hơi núi bốc lên ở những vùng cao. Ban đêm, không gian lại như

    thoảng khói lẫn sương - nhưng làm gì có sương vào những đêm hè oi

    thế này. Và cũng cảm thấy người ngột ngạt như trong nhà ta có un

    khói thật. Tôi đi tản bộ trên đồi, chờ mong một chút gió hiếm hoi.

    Không khí khô một cách lạ. Áo quần mới giặt ban chiều, hong lên dây,

    nhoáng một cái là khô giòn. Bà con gọi là “nắng lúa trổ”. Xem chừng

    rồi sẽ được mùa. Trưa nay thoáng gió, như tuồng đã có gió nam. Gió

    Lào đầu mùa chăng?

    Không sáng nào, không chiều nào không có máy bay Pháp đến bắn

    phá, thả bom. Đập nước Nam Đàn bị bom ném vỡ, bây giờ qua lại sông

    phải đi trên cầu phao. Vất vả thêm một ít, mất thời gian thêm một ít.

    Trưa nắng chang chang, tôi vẫn đạp xe đạp đến Chòm Rậm1 tìm nơi dự

    phòng để di chuyển cơ quan nếu cần. Nhớ mùa lúa trổ năm kia, tôi từ giã

    chiến khu Ba Lòng về đồng bằng Nam Thừa Thiên. Nhớ, vì có gió nam đầu

    mùa. Trong ấy lúc này đang mùa gặt. Mạn trong gặt sớm hơn ngoài này.

    Vừa đọc lại Ký sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng. Lần đầu ham

    chuyện, đọc lướt vội vàng. Nay đọc lại. Học được gì? Lối viết của anh

    Nguyễn Huy Tưởng chủ yếu dựa vào tư liệu mà được như thế đã là cừ.

    11-4-1952 Phi cơ địch vừa đi khỏi, tôi nhặt tập Littérature Soviétique2

    rớt trong hầm trú ẩn vào nằm dài ra giường đọc tiếp. Những trang tiểu

    thuyết say sưa làm cho mình cũng thấy bình thản và đắm say. Đọc

    Nikolaeva đúng vào lúc ta cũng đang giữa mùa gặt3. Tác giả tả cảnh

    những người dân thi nhau gặt chạy cơn giông; mối tình giữa cô giáo trẻ

    Lena với cậu cán bộ thanh niên Aliocha; cái chết tức tưởi của Aliocha...

    Lòng tôi cộm một thoáng mỉa mai và rất nhiều căm ghét khi đang mải

    mê đọc chợt nghe tiếng trống báo: Chuẩn bị báo động, sắp có máy bay.

    Lại máy bay! Nhìn đồng hồ. Đợt máy bay trước vừa đi khỏi đây chưa

    được nửa giờ. Lại vào trong hầm ngồi, vứt tập tạp chí đang xem dở sang

    bên. Tiếng máy bay gầm rú. Bóng đen như những con quạ vụt qua trên

    bầu trời. Tiếng nổ rung chuyển không gian. Có lẽ bom rơi cũng xa, cách

    hầm tôi trú phải ngoài năm trăm mét, chẳng có gì đáng lo nhưng dù

    sao vẫn cảm thấy cuộc đời bây giờ sao dễ chết quá. Hình ảnh trước mắt

    tôi là chiếc máy bay ghê tởm của địch, bên cạnh là cảnh xây dựng quê

    hương tại một nông trường tập thể, còn nóng hổi trong trang sách.

    14-4-1952 Chúng tôi đã dời tòa soạn báo sang chòm Chiến Thắng. Liên

    tiếp mấy đêm, anh em trở lại chòm Liên Thanh chuyển hết đồ đạc, kể cả

    1 Chòm, tiếng vùng Nghệ Tĩnh, tương tự xóm

    2 Văn học Xô viết (BTV).

    3 Nikolaeva là tác giả tiểu thuyết Mùa gặt.

    gà chó tăng gia sang địa điểm mới. Cuộc họp tòa soạn đầu tiên tại địa điểm

    mới dành bàn chuyên về kế hoạch bảo mật, phòng gian, dân vận...

    Đồng bào ở chòm Chiến Thắng đời sống khá hơn chòm Liên Thanh.

    Bà con giữ cái nhà cái sân sạch sẽ một cách lạ. Đường đi trong chòm

    không có một ngọn lá tre khô. Sân nhà bằng đất mà vẫn bóng nhoáng.

    Anh em đâm ngại, sợ mình không giữ nổi vệ sinh như đồng bào. Bà

    con quét sớm, quét chiều, quét cả đêm nữa. Tối hôm qua, tôi từ địa

    điểm cũ về đây đã quá nửa đêm, còn thấy bà mẹ Thân chủ căn nhà

    dùng đặt làm phòng Thư ký tòa soạn vẫn đang còng lưng quét sân

    dưới ánh trăng mờ.

    Anh em động viên nhau, lần này cố không mắc khuyết điểm như hồi

    ở Liên Thanh nữa. Hôm ra đi, cơ quan có tổ chức kiểm điểm với đồng

    bào bên ấy. Đồng bào phê bình: Anh Đ. đánh rớt cái gàu xuống giếng,

    anh nhảy người xuống vớt, thế là mất vệ sinh. Anh T. để quên cái quần

    và mất đâu ngoài bến tắm, về nhà cứ ca cẩm làm đồng bào không vui.

    Anh Ch. tự nhiên vô cớ mở cửa vào nhà bà Hoe Niêm, bà ấy về hỏi, anh

    không buồn nói lại, bỏ ra cửa về. Anh Đ. đi vắng, đã dặn gia đình không

    cho ai vào lấy đồ dùng của mình, anh V. vẫn tự tiện vào lấy... Bà Chương

    phàn nàn chị Ba tiếp tế nấu nướng vô ý tứ, có lần cầm cây đuốc giơ cao

    suýt chạm mái, có thể làm cháy cả nhà. Anh Chương bộ đội về nghỉ

    phép, nghe mẹ nói hơi gay gắt, vội đứng lên nhận khuyết điểm thay

    mẹ: “Việc không có chi mà bà nặng lời thế, thành ra chênh lệch”.

    Đúng là những việc không có chi. Cơ quan cám ơn đồng bào, xin

    nhận khuyết điểm, hứa sửa chữa. Cán bộ chòm thay mặt đồng bào đứng

    lên nhận thiếu sót về phía địa phương. Anh em chúng tôi trong tòa báo

    vừa rời hẳn chòm Liên Thanh đêm qua, trưa nay đã thấy mấy bà con

    đi cùng anh chòm trưởng bên ấy sang, bưng theo một mâm quả vải và

    chuối đến chòm Chiến Thắng mừng anh em. Tình cảm giữa người dân

    và cán bộ đẹp chân tình.

    16-4-1952 Đọc báo Quân đội Nhân dân số ra ngày 24-3, thấy đăng

    tin về cuộc thao diễn trên không phận Bắc Kinh do đội nữ phi công đầu

    tiên của Trung Quốc thực hiện. Các máy bay dự cuộc thao diễn hoàn

    toàn do phụ nữ điều khiển, từ phi công đến các chị phụ trách máy móc,

    vô tuyến điện.

    Nhớ mới hôm nào, báo Cứu Quốc đưa tin về chị Lâm Lý, nữ phi công

    đầu tiên của nước Trung Hoa. Còn nhớ nét chữ quen thuộc của anh Ch.

    chép mẩu tin ấy lên tờ giấy bản vàng khè, đưa tôi xem lại, trước khi

    cho sang nhà in. Bây giờ, không phải chỉ có mỗi một chị Lâm Lý mà có

    những bao nhiêu chị nữa.

    Ở chòm Chiến Thắng này, đồng bào trình độ khá. Trẻ em, người lớn

    đều thích đọc báo. Buổi trưa, tôi ra quét sạch đường xóm, nghe tiếng trẻ

    đọc báo ra rả. Trẻ em dễ thương, có giáo dục. Thích và yêu một cách lạ.

    Nghĩ rằng mươi năm nữa, xã hội thôn quê của chúng ta được giáo dục,

    cuộc sống mới sẽ đẹp dường nào.

    Nghĩ nhiều đến cuộc sống tương lai.

    Tòa soạn báo phát động việc học tập thời sự. Trước giờ làm việc, đọc

    tin tức. Hôm nay mất đến 40 phút mới nghe đọc hết hai bản tin tiếng

    Việt và tiếng Pháp. Tin Mỹ từ Triều Tiên bay sang ném bom vùng Liêu Đông1 nước Trung Hoa.

    21-4-1952 Kháng chiến càng dài, sự lãnh đạo của cơ sở Đảng đối

    với cơ quan càng rõ, làm nảy sinh một tình trạng chung trong anh em

    trí thức là chuyện phân biệt người ngoài Đảng và người trong Đảng.

    Người chưa vào Đảng thường chỉ nhìn thấy quyền lợi, nhất là quyền

    lợi tinh thần đảng viên được hưởng mà ít nghĩ đến sự hy sinh, trách

    nhiệm của đảng viên có phần nặng nề hơn anh em.

    Ở tòa soạn, hôm kia Gia Ninh nêu vấn đề ấy lên. Anh thắc mắc việc

    Hoan (Chế Lan Viên) vừa được cấp trên ưu tiên cho đi chiến trường

    Bình Trị Thiên một lần nữa (trong lúc anh, người ngoài Đảng, anh đã

    đề nghị nhiều lần mà cấp trên chưa đồng ý cho đi). Anh Ch. cũng là

    trí thức ngoài Đảng nhân đó bày đặt chuyện để phê phán Hoan và phê

    phán cả tôi nữa. Hoan không có mặt, tôi là bí thư chi bộ bảo vệ Hoan,

    thành ra cuộc cãi vã qua lại loanh quanh giữa Ch. với tôi.

    1 Là một vùng thuộc tỉnh Liêu Ninh ở đông bắc Trung Quốc, giáp với Triều Tiên (BTV).

    Chúng tôi trách anh M. phụ trách cơ quan quá mềm, hơi có vẻ hữu

    khuynh. Không rõ anh đã báo cáo với Thường vụ Liên khu ủy thế nào

    về Hoan, về công tác chi bộ ở đây mà nghe nói anh Lưu Trọng Lư biết

    được, tỏ vẻ bất bằng lắm. Thường vụ Liên khu ủy nhắn anh Lư nói lại

    với Hoan, khuyên Hoan đừng quá hẹp hòi đối với người ngoài Đảng (…)

    Chiều, gặp anh Lưu Trọng Lư và các bạn ở Chi hội Văn nghệ. Ấm

    lòng trở lại một chút. Sáng nay, đi hội báo (giao ban) liên chi bộ1.

    Càng vui hơn vì thấy chủ trương của mình đúng. Chuyện rắc rối này

    chỉ một khó khăn nhỏ trên con đường tiến lên của chi bộ. Phải đoàn

    kết nội bộ hơn nữa, đoàn kết với quần chúng, nhất là quần chúng tốt,

    lấy quần chúng tốt giáo dục những kẻ lạc hậu - tôi tự dặn mình.

    Cuộc trao đổi ở tòa soạn gồm tất cả cán bộ, nhân viên hôm nay có

    kết quả. Thái độ của các đồng chí ta, “những người trong” được anh chị

    em cho là đúng. Thái độ soi mói của anh Ch. càng bộc lộ trước anh em.

    Sau cuộc họp, hai anh Năm và Châu đều là người ngoài Đảng, giao

    liên của tòa soạn, đến gặp động viên Hoan. Các anh nói: “Mình phải

    đoàn kết với nó là sợ nó dinh tê2, hại cho kháng chiến. Chúng tôi là

    những người lao động, có chúng tôi cũng ở bên cạnh các anh”. Anh

    Cảng người ngoài Đảng cũng tỏ thái độ giống như vậy. Ôi, sung sướng

    thay. Lời nói, sự ủng hộ của những người gần Đảng những lúc cần đấu

    tranh, đoàn kết nội bộ làm cho mình phấn khích, tin tưởng đường lối

    và thái độ của Đảng nhất định sẽ làm cho những người còn “ở ngoài”

    tâm phục. Chắc Chế Lan Viên sẽ thư thái lên đường trở lại chiến trường.

    23-4-1952 Tiễn Chế Lan Viên đi Bình Trị Thiên lần thứ hai.

    Chiều giông gió lốc, trời chuyển ầm ầm mà vẫn không chịu mưa.

    Đồng lúa ngả từ màu xanh qua vàng. Màu vàng lúa non hiền từ. Lác đác

    đã có nơi gặt lúa mới. Con đường từ Phố Mới về Phố Cũ Đô Lương chạy qua

    cánh đồng, hai bên lúa vàng non rất đều. Mới hôm nào còn xanh. Và mới

    1 Nay gọi là Đảng ủy các cơ quan trực thuộc Liên khu ủy.

    2 Tiếng Pháp: Rentrer. Tiếng lóng dùng để chỉ việc ra khỏi vùng tự do, về vùng

    bị Pháp tạm chiếm.

    hôm nào, là vụ mùa đầu tiên thu thuế nông nghiệp. Lúa là loại cây trồng

    chóng được ăn nhất. Mình đã làm được gì trong suốt vụ lúa vừa qua?

    18-5-1952 Hôm qua cùng bạn đi chơi Phố Rạng về, trằn trọc không

    ngủ được. Cuộc đời lại chồng chất thêm nhiều rắc rối. Lòng mình dễ

    xúc cảm. Sáng nay cố làm việc thật chăm chú. Thỉnh thoảng vẫn đặt

    bút xuống, băn khoăn. Suy nghĩ nhiều, tiếc không có thời giờ ghi lại

    đây. Còn bận dịch nốt cái bút ký của K. Paustovsky Từ sông Volga đến

    sông Đông cho dứt điểm để làm việc khác.

    Có những người ngoài Đảng cho rằng đảng viên đều là những người

    khô khan, ít tình cảm. Tình cảm của người cách mạng là tình cảm

    phong phú nhất, câu nói đó khó chứng minh cho họ rõ mà không sa vào

    lý luận suông “biết rồi, khổ lắm... ” Họ cứ nghĩ, những người trong Đảng

    giải quyết vấn đề gì bao giờ cũng chỉ nghĩ đến yêu cầu về tư tưởng, cốt

    làm sao “cho đúng đường lối” thôi.

    Bạn tôi cũng đã hỏi tôi câu y như thế..

    Đúng vậy. Nhưng nghĩ theo yêu cầu về tư tưởng không phải là điều

    đáng chê trách mà ngược lại. Trước hết phải hỏi, nếu giải quyết “theo

    tư tuởng” thì có hại gì cho tình cảm hay không. Tôi tin là không (hay

    nếu có cũng không đáng kể). Bạn cho tôi quá lạc quan. Nào có phải tôi

    muốn nhìn đời bằng khía cạnh đẹp mà thôi đâu. Căn bản là tư tưởng và

    tình cảm trong người mình có gì khác biệt? Hay hai cái quyện làm một,

    cùng đi theo một con đường, và lẽ đời là phải đi như thế.

    Người đảng viên là người lý trí, nhưng không phải không có tình

    cảm. Tôi nói lý trí - không nói tư tưởng - để cho chính xác hơn, bởi thật

    ra trong tư tưởng đã bao hàm tình cảm rồi. Tình cảm càng phong phú,

    lý trí càng vững mạnh. Không, bạn ạ, em đừng cho đấy là một vấn đề

    thuần túy lý luận. Rồi nó sẽ được (thực tiễn) chứng minh cho em rõ.

    Tôi vẫn thấy con người tình cảm của tôi nặng, rất nặng. Tất nhiên

    bao giờ cũng có sự đấu tranh giữa tình cảm và tình cảm. Trong cách xử

    lý của tôi về câu chuyện giữa hai chúng ta, tình cảm sẽ là một yếu tố

    quan trọng tuy không quyết định.

    Nhưng vạn nhất có sự bất đồng thì có nhất thiết phải nhân nhượng

    hay hy sinh (cái này hoặc cái kia) không? Nhân nhượng thì có chứ chắc

    chắn không phải hy sinh. Nhân nhượng để có những dịp tốt hơn, và chờ

    đợi cho tình cảm đi kịp lý trí, tránh cái phút nóng nảy vội vàng thường

    do hiếu thắng, nó làm hại đến tình cảm. Còn gọi việc đó là “hy sinh”

    thì không đúng bởi không có mất mát một cái gì cả, mà trái lại, nhân

    nhượng một chút để được vẹn toàn.

    Nhưng tình cảm bạn bè với nhau, có thật là vấn đề sẽ rắc rối đến thế,

    có cần thiết phân tích chi ly đến vậy? Tôi tin rằng tình cảm đằm thắm và

    sự thông cảm sâu xa sẽ tự nó giải quyết vấn đề lý trí một cách êm đẹp.

    Vấn đề chia cách người ngoài Đảng với người trong Đảng hiện đã

    trở thành khá phổ biến, không phải chỉ riêng ở cơ quan báo Cứu Quốc

    này mà tại cả một số cơ quan khác, hầu như ở tất cả những nơi có

    nhiều trí thức là người ngoài đảng. Tôi đã lo lắng giải quyết vấn đề

    này cho cơ quan, không ngờ trên con đường tình cảm của mình, tôi

    lại vấp phải nó.

    Tôi đang ghi mấy dòng này thì anh Bửu Tiến đến chơi. Bửu Tiến vừa

    sáng tác mấy vở kịch trong đợt thi đua ngắn về lao động sản xuất. Rồi

    nói qua chuyện xuất bản, cũng trở lại vấn đề trong và ngoài. Tôi nói với

    anh Bửu Tiến: “Anh là người ngoài, tôi là người trong, chúng ta có thể

    bất đồng ý kiến về một chủ trương hay về cách thực hiện chủ trương ấy,

    nhưng nên làm thế nào để đừng phương hại tình cảm của nhau”.

    Sở dĩ tôi nói thế là vì Bửu Tiến vừa khoe đã truy Hoan (Chế Lan Viên) trong

    cuộc họp kiểm điểm (ở Văn nghệ Liên khu) trước hôm Hoan lên đường vào

    lại chiến trường Bình Trị Thiên, làm Hoan phát khóc. Và thật lòng khi nói

    câu ấy với Bửu Tiến, tôi cũng có nghĩ đến hoàn cảnh chính mình.

    Trưa nay lại trằn trọc, cố mà vẫn không sao ngủ được1.

    1 Tháng 6 năm 2004, kỷ niệm 15 năm nhà thơ Chế Lan Viên giã từ cõi thế, tôi

    có viết bài báo ngắn “Hai chuyến đi dấu ấn để đời” in trên Tạp chí Văn hóa Đà

    Nẵng, nhà văn Vũ Thị Thường cho vào tập V Chế Lan Viên toàn tập,

    tr. 850-853.

    VỤ BẠO LOẠN TẠI THÔN HƯNG YÊN

    23-5-1952 Tôi về thôn Yên Xuân (Hà Tĩnh) mang về cho gia đình

    anh Thuật1 cái giấy thông hành do Ủy ban Kháng chiến Liên khu cấp,

    tôi vừa xin được giúp anh, để anh vào vùng tạm bị chiếm Quảng Trị -

    Thừa Thiên thăm gia đình, và nếu tiện thì tổ chức đưa chị và các cháu

    ra vùng tự do. Mấy năm kháng chiến, bọn loắt choắt bây giờ lớn cả, để

    trong vùng địch chiếm khó tránh khỏi ảnh hưởng giáo dục xấu và có

    thể bị địch bắt đi lính.

    Sáng hôm qua từ thôn Yên Xuân tôi lật đật trở về vì có cuộc hẹn

    riêng, đến gần Phố Giàng thì gặp cậu Bình giao thông viên từ Tòa soạn

    báo Cứu Quốc đóng gần thị trấn Đô Lương về đón đường. Cậu mang sẵn

    cho tôi cả Giấy công tác khẩn, bảo cơ quan yêu cầu tôi phải về luôn

    thôn Hưng Yên, huyện Nghi Lộc ngay hôm nay, để kịp lấy tài liệu viết

    bài vạch mặt bọn phản động đội lốt tôn giáo liên kết với Pháp gây bạo

    loạn2. Lúc này tôi đã về gần đến nhà, vả chăng quần áo tiền bạc không

    mang theo người, tôi đành về cơ quan đã. Hôm nay nghỉ một ngày.

    Thật ra “nghỉ” chỉ có nghĩa là chưa lên đường đi công tác, chứ làm việc

    thì vẫn làm, tôi muốn tranh thủ dịch cho xong dứt thiên bút ký của

    Paustovsky. Cái chính là tôi muốn qua việc phanh phui tác phẩm, học

    tập cách bậc văn hào viết phóng sự cho báo chí đặc sắc ở những điểm

    nào. Nhà xuất bản Hưng Văn hứa sẽ in cho, mình bận công việc lần lữa

    mãi chưa biết bao giờ mới xong bản thảo.

    Đêm qua thức khuya, và hoàn thành công việc rồi, cũng mãi lâu sau

    mới ngủ được. Lại suy nghĩ nhiều về những điều bạn nói với tôi hôm nọ.

    Mối quan hệ giữa tư tưởng và tình cảm. Trăn trở đến thế chỉ vì một câu

    nói của bạn, sao lại bảo là mình nhẹ về tình cảm?

    1 Anh Nguyễn Thuật là anh em cậu cô ruột với tôi, trước năm 1945 dạy tại

    Trường Kỹ nghệ thực hành Huế, thời gian đang này làm Giám đốc một Xí

    nghiệp tại Nghệ An.

    2 Ở thôn Hưng Yên vừa xảy ra một cuộc bạo động chống chính quyền, tạo cớ cho

    quân Pháp từ biển cho quân đổ lên chiếm đồng bằng tỉnh Nghệ An.

    24-5-1952 Vừa nhận được thư Chế Lan Viên viết trên đường từ Nghệ

    An vào Bình Trị Thiên. Trả lời ngay. Tội nghiệp cậu Hoan nóng nảy và

    chân thành. Thương ghê. Hoan luôn luôn thể hiện rõ tinh thần trách

    nhiệm của một đảng viên. Tôi cũng như Hoan, tôi nghĩ không có gì làm

    cho mình khổ tâm hơn là khi mình mắc khuyết điểm để cho những

    người ngoài Đảng nhân đó có cái nhìn lệch lạc về Đảng. Cái nhìn của họ

    cố nhiên là sai, song trách nhiệm vẫn là ở nơi người gây ra khuyết điểm.

    Nói đến trách nhiệm, tôi lại nghĩ đến trách nhiệm của người viết báo.

    Đặt bút, thấy trách nhiệm của mình đối với trang giấy, đối với nhân

    dân - độc giả một mặt, với đoàn thể của mình một mặt khác. Dùng mỗi

    thành ngữ, mỗi trạng từ cũng suy nghĩ, đắn đo. Nhưng tin vào mình,

    tin vào tập thể tòa soạn có thể thấy trước lỗi lầm nếu chẳng may mắc

    phải của mình và sửa chữa trước khi đưa bài lên khuôn. Chính vì vậy mà

    những hôm được giao trách nhiệm duyệt lại bài vở để lên trang, tôi lại

    càng cẩn thận hơn bao giờ.

    Tối mai thứ bảy, có đêm kịch do Chi hội Văn nghệ Liên khu tổ chức.

    Chờ đợi đã lâu, hơn nữa tôi có hẹn bạn cùng gặp nhau ở đấy, độp một

    cái, phải đi công tác ngay hôm nay. Cũng đành, chứ biết làm sao! Chẳng

    lẽ lại chần chừ vì việc riêng.

    Sửa soạn đi ngay bây giờ. Tiện đường sẽ ghé thăm bạn.

    24-5-1952 Thôn Hưng Yên.

    Đồng ruộng vừa gặt xong, nứt nẻ vì hạn hán kéo dài. Núi vây quanh

    ba phía, phả ra hơi nồng. Gió Lào thổi heo hút lúc hoàng hôn. Gió Lào

    khô, oi khó chịu. Những buổi chiều có gió Lào, ở đây giống hệt Quảng

    Trị. Đường làng khô trắng. Bụi đất, lá tre khô rụng xuống mặt đường.

    Tiếng gió ào ào. Tre kẽo kẹt. Nhớ những hoàng hôn ở quê. Tại sao

    những buổi chiều có gió Lào này bao giờ cũng đượm buồn. Không phải

    bây giờ tôi mới có cái cảm tưởng bâng khuâng, một thứ nostalgie1 khi

    nhìn về quá khứ; hình như hồi tôi còn thơ ấu, tôi cũng đã có những cảm

    nghĩ tương tự vào những buổi chiều thế này.

    1 Lòng nhớ quê hương, sự luyến tiếc vô nguyên cớ.

    Tắm xong, tôi ra ngồi ở

    đồng ruộng hóng gió - dù sao

    cũng vẫn còn thoáng hơn ở

    trong nhà - và nghĩ vẩn vơ.

    Nghĩ nhiều về nhiều chuyện

    (... ) “Ngày mai anh và tôi, biết

    bao giờ gặp lại”, chia tay nhau

    bạn tôi vừa đọc câu thơ không

    biết của ai, vừa đọc vừa cười.

    26-5-1952 Về các thôn Giáp

    Làng, Xuân Yên, Giáp Trại

    huyện Nghi Lộc lấy tài liệu.

    Gặp anh Lịch, một đồng bào

    Giáp Trại trước bị bọn phản

    động ức hiếp nhiều. Nhà lụp

    xụp, tồi tàn, nắng oi thốc vào

    cửa liếp. Chuồng lợn ngay bên cạnh bếp nhưng chỉ có phân mà không

    có lợn. Ruồi nhặng. Vợ con lem luốc, bẩn thỉu, gầy gò. Đâu cũng ruồi

    nhặng. Tuy nhiên, cảm thấy thương tâm và chua xót. Không hiểu anh

    Lịch sống hôm nay, sống ngày mai như thế này, anh có bao giờ nghĩ

    sống để làm gì và sẽ làm gì không? Anh giống như trăm nghìn nông

    dân theo đạo nghèo khó khác ở nước ta. Liên hệ đến đồng bào vùng

    lương hăng hái, tích cực trong mọi công việc kháng chiến, dù sao tôi

    vẫn thấy đời họ có đi lên nhiều so với trước. Anh nông dân nhà tôi đang

    trọ chẳng hạn, ít ra anh còn nghĩ tới chuyện mua cái bút máy Kaolo

    (loại rẻ tiền nhất hồi ấy) cài vào túi áo, lại có thêm cái dây buộc cho bút

    khỏi rơi, anh đã mặc áo quần âu và áo sơ mi, đi dép cao su. (Anh ấy) đã

    biết vươn tới cuộc sống ngày mai.

    Anh Lịch ở đây có mơ những chuyện ấy hay không? Suốt đời làm tá

    điền, tôi mọi cho bọn phản động. Giáo lý bất công nhồi sọ. Thế mà mỗi

    khi có ai nhắc anh hãy nghĩ đến một chút quyền lợi cho mình, anh đã sợ

    phạm vào lẽ công bằng của Chúa. Công bằng! Công bằng! Ở đây nghe

    nói đến hai tiếng ấy luôn. Đòi giảm tô là phạm vào lẽ Công bằng. Tạm

    cấp ruộng đất cho nông dân cũng phạm vào lẽ Công bằng. Chỉ có để yên

    cho bọn áo đen và lớp tay chân của họ cỡi đầu cỡi cổ, ăn tiêu phung phí,

    sống cuộc sống xa hoa trên lưng người nông dân nghèo khó thì mới

    đúng với lẽ Công bằng của họ mà thôi.

    Bao giờ đồng bào Công giáo mới tự giải thoát được cái ách tinh thần

    che đậy sự bóc lột tàn nhẫn về vật chất?

    Bà cụ nhà anh Trợ bảo tôi, các con dam đồng (cua đồng) mùa này

    đều đào hang vào núp và đào hang rất sâu, vậy là trời còn đại hạn lâu.

    Năm nào con dam nó đào hang xiên, không sâu, trời mới mau mưa, chứ

    dam đào hang đứng thì còn là hạn hán kéo dài. Mà nắng nhiều rồi sẽ có

    thể lụt to. Lo cho cái mùa tháng mười, nhất là lo cho giống lúa ba trăng

    chòm mình quá. Đến cuối năm, rồi biết lấy cái gì mà cho vào miệng!

    31-5-1952 Thôn Thuần Trung.

    Hôm qua không ngủ được mặc dù suốt ngày đi mệt và nắng ghê gớm,

    và hôm trước thì thức đến hai giờ sáng để dự buổi tố khổ của đồng bào

    Giáp Trại. Chương trình định sáng mai mới trở về tòa báo nhưng tôi sốt

    ruột quá nên phải về sớm một hôm.

    Tôi ghé phố Rạng. Và đã gặp đông đủ mọi người. Ăn bữa cơm cuối

    cùng và đối với tôi cũng là bữa đầu tiên của tôi với các bạn trước khi

    các anh chị đi nhận công tác. Chiều hè oi nồng. Chưa ai biết mình sẽ về

    công tác ở đâu, còn tùy theo nguyện vọng từng người và sự phân công

    của cấp trên. Bạn tôi cho biết đã ghi nguyện vọng xin nơi sẽ công tác là

    tỉnh Nghệ An. Và nói thêm qua nụ cười: “Nghệ An là Vinh và cũng có

    thể có nghĩa là Phủ Quỳ, Con Cuông, Mường Xén”.

    Tôi dắt xe ra về, mọi người chào hỏi tíu tít. Các chị hỏi thăm, nhờ gửi

    lời chào các anh Mậu, Anh Khôi, anh Ninh, anh Bình... vì chắc không

    còn có dịp đến chào các anh. Chị M. sẽ đi Thanh Hóa và sẽ công tác luôn

    ở quê theo đúng nguyện vọng. Chị K. sẽ vào Hà Tĩnh, vv… Bạn tôi quả

    quyết trước khi nhận công tác thế nào cũng vào thăm gia đình nơi chị

    từ vùng địch hậu sơ tán ra chừng mươi hôm…

    Bạn tiễn tôi một đoạn đường. Chúng tôi thân nhau ở chỗ hai bên có

    nhiều đồng cảm, và hết sức tự hào là tình cảm của mình vô cùng trong

    sáng. Ai muốn hiểu thế nào tùy người ta, mình luôn xử sự cho ra người

    có học, giữ cho được sự cân bằng giữa tình cảm và lý trí. Chiều vẫn oi

    nồng nhưng thỉnh thoảng đã hơi có chút gió. Trăng non mờ ảo nên

    hoàng hôn kéo dài rất lâu, dường như trăng ấy cũng là hoàng hôn nốt.

    Bạn tôi thường nói bạn thích hoàng hôn. Chuyện trò thân mật và đầm

    ấm. Nhớ ngày Tết năm nào. Nhớ những kỷ niệm đẹp. Tôi tin chắc rằng

    cuộc đời ai đi đâu rồi cứ đi con đường của mình, tình cảm trong sáng

    giữa bạn bè với nhau là cáiphải giữ cho sáng suốt đời.

    Lý trí và tình cảm. Lý trí hướng dẫn tình cảm ở chỗ nào? Ở chỗ dù

    tình cảm của mình có bị lung lay vẫn cố đừng để nó làm hại đến phần

    lý trí, phần thực hiện công tác, lý tưởng của mình. “Đừng để nó làm hại

    nhiều quá”, nói thế mới chính xác hơn. Vì khi nói đến lý tưởng, đã có

    một phần lớn tình cảm ở trong đó rồi.

    Lòng tin.

    Tin ở lòng mình. Tin ở tương lai. Tin ở sự thật.

    Dù một mai không đạt được mọi thứ như mong ước, ít ra lòng tin

    cũng đưa lại một cái gì đẹp đẽ.

    31-5-1952 Ngày hôm nay, nắng vẫn oi, vẫn cái nắng đại hạn có gió

    Lào của Nghệ An. Tôi làm việc hăng, ngồi viết cả khi vừa ăn trưa xong,

    và suốt cả buổi chiều. Tờ giấy lót trên cuốn vở, thấm mồ hôi ướt đầm.

    Các bạn tôi đều ngủ mê mệt cả. Những hôm khác, lúc này tôi cũng đã đi

    ngủ. Tôi cảm thấy tôi làm việc để cố che đậy một cái gì đó trong lòng (... ).

    Lý trí và tình cảm. Lý trí hướng dẫn tình cảm ở chỗ nào? Có phải ở

    chỗ dù tình cảm của mình có bị tổn thương, vẫn cố đừng để nó làm hại

    đến phần lý trí, phần thực hiện công tác, lý tưởng của mình.

    Mà khi nói đến lý tưởng, đã có một phần lớn tình cảm ở trong đó rồi.

    Tình cảm và niềm tin. Tin ở lòng mình. Tin ở tương lai. Tin ở sự thật.

    Dù một mai không đạt được như mong ước, ít ra lòng tin cũng đưa lại

    một cái gì đẹp, xứng đáng với lòng thành.

    Tôi cố làm việc theo đúng chương

    trình đã vạch. Sáng mai chép sạch

    lại cho xong bản dịch De la Volga au

    Don1. Rồi sẽ viết hẳn một cái thiên

    ký sự dài, đăng nhiều kỳ báo, về vụ

    bạo loạn ở thôn Hưng Yên, rồi nếu

    Nhà xuất bản bằng lòng thì cho in

    thành tập sách. Không thì xoay sang

    viết truyện ngắn. Ít nhất mùa hè này

    mình cũng phải viết lách được cái gì.

    Công tác hằng ngày chiếm mất nhiều

    thời gian quá, nhất là khi mình tận

    tụy với công việc. Dù sao cũng cần

    phải làm thêm một chút việc khác

    theo ý thích của mình nữa chứ.

    Tôi chịu trách nhiệm chuẩn bị bài

    cho số báo ra sáng mai, 01-6, Ngày quốc tế thiếu nhi, cho nên chiều nay

    31-5, ghé qua thị trấn Đô Lương cũ kiếm tư liệu ngoài đường phố, để

    có cái viết bài cho kịp. Thiếu nhi con nhà hàng phố sạch sẽ, dễ thương.

    Trống ếch, kèn loa rộn rã các nơi. Gặp và nói chuyện với nhà thơ Thanh

    Tịnh và họa sĩ Văn Bình. Hai nghệ sĩ cũng đang lang thang. Các anh

    cũng đi xem thiếu nhi múa hát. Hôm nay, rất nhiều nơi tổ chức cho các

    em vui. Ý nghĩ đó ấm cúng lạ. Từ lâu lắm công việc thoạt nhìn tưởng

    hết sức thường ngày của ta hóa ra có quy mô toàn thế giới. Tôi tự hẹn

    lần sau - và ở cuốn sổ tay khác, không phải trong cuốn nhật ký này - tôi

    sẽ viết một bài tiểu luận phát triển ý nghĩ trên.

    Nhà thơ Thanh Tịnh có nhiều điểm rất dễ thương. Một hôm anh xộc

    vào nhà tôi như trận gió, ôm vai tôi: “Hãy để cho mình chia vui với

    Tùng (Hoàng Tùng). Mình đã đọc tất cả các bài Tùng viết về thuế nông

    nghiệp2. Thật là sống. Thật là thực. Thực tế cuộc sống nó nguyên thô

    1 Từ sông Volga đến sông Đông (BTV).

    2 Dựa vào các ghi chép đêm đêm sinh hoạt với dân ở trên, tôi có viết một loạt

    Nhà thơ Thanh Tịnh (1911-1988)

    như vậy đấy. Tùng nên nhớ biển cả được hình thành bởi những giọt

    nước. Hãy bắt đầu từ những giọt nước. Hãy khoan vội nghĩ tới những

    công trình đồ sộ. Hãy làm những việc mình có thể làm, nhỏ nhặt nhất

    cũng không sao, miễn là phục vụ kịp thời. Mình viết Những giọt nước

    biển. Có anh em cho là vụn vặt. Nhưng mình cứ viết. Vì đó là những giọt

    nước góp phần làm nên biển cả”.

    Nói luôn một hơi, anh ngồi xuống thở phào một tiếng thật to. Anh

    đang thèm bát nước chè xanh đấy.

    Anh Thanh Tịnh cũng còn lắm cái rớt cũ trong con người anh. Còn

    đối với bạn bè anh luôn là con người tốt, không bao giờ làm hại đến ai.

    Tôi thương anh Thanh Tịnh. Và mừng cho mình. Dù sao cuộc đời mình,

    tình cảm của mình so với các anh, vẫn trong trắng lắm. Mình không

    phải vấn vương những chuyện trong quá khứ như các anh.

    Trăng tắt lâu rồi. Cái đồng hồ đeo tay chết, không biết lúc này mấy

    giờ đêm.

    Ngày viết nhiều, đêm càng khó ngủ. Dậy đọc sách vậy. Thời tiết vẫn

    nóng dù đã khuya. Thì cứ cho tại vì nóng mà khó ngủ đi.

    01-6-1952 Hôm nay vẫn làm việc chăm chỉ. Gặp anh Đinh Nho Khôi.

    Anh vừa đi dự khóa học tại Trường Nguyễn Ái Quốc ở Việt Bắc về, có

    bao nhiêu là chuyện trao đổi với anh em. Sau một lớp học, người anh

    có chuyển biến rõ.

    Trận mưa lớn ban trưa đã làm thay đổi bầu không khí chiều. Ngày

    mai đất sẽ được cày. Nhờ mát trời, tôi cũng đã chép xong bản dịch thiên

    bút ký. Bây giờ cần đi ngủ để sáng mai sáu giờ có mặt ở trụ sở Nhà xuất

    bản Dân Chủ Mới1, dự hội nghị toàn thể các liên chi bộ (trực thuộc Liên

    khu ủy). Không biết rồi có ngủ được hay không.

    bài “Ghi nhanh” in liên tiếp tám, chín số báo Cứu quốc, phản ánh sinh hoạt của

    nhân dân bàn về tạm vay, thuế nông nghiệp, tuyển tân binh.

    1 Nhà xuất bản Dân Chủ Mới của Liên khu 4 trong kháng chiến do học giả

    Nguyễn Đổng Chi làm Giám đốc.

    02-6-1952 Họp chi bộ, phổ biến kế hoạch chuẩn bị Chỉnh Đảng. Công

    việc dồn dập, việc nào cũng quan trọng cả. Con người thật xoay như

    chong chóng.

    Chỉnh huấn là một trong bốn công tác chính do Trung ương đề ra

    nhằm thực hiện ba nhiệm vụ lớn. Bây giờ thì rõ ràng như thế nhưng

    độ một năm nữa, khi tình hình đã thay đổi, toàn dân, toàn quốc lo

    thực hiện những nhiệm vụ khác rồi thì có lẽ cũng khó nhớ. Tôi nghĩ

    để cho nhật ký của tôi sau này có thể góp một phần vào tài liệu sáng

    tác, nhất định cần ghi chép phần sinh hoạt chính trị này vào. Hơn

    nữa, nhật ký là gì nếu không phải là nơi ghi lại cuộc sống nội tâm của

    mình. Mà khi tâm tư, cuộc sống của mình tạm thời dành phần lớn cho

    một sinh hoạt chính trị, tại sao nhật ký mình lại không nói đến? Một

    xu hướng không hay của tôi là chỉ thích ghi lại những cảm nghĩ hết

    sức riêng tư - mà chủ yếu là những cảm nghĩ còn vướng nhiều tính

    chất tiểu tư sản. Tôi sẽ cố gắng khắc phục nhược điểm này. Mặc kệ nếu

    có ai cho rằng làm như vấy, nhật ký tâm tình có cơ biến thành cuốn

    sổ công tác.

    Trưa nay chúng tôi ăn cơm ở nhà hàng Quế Hương, nhân anh Đinh

    Nho Khôi học xong khóa học ở Trường Nguyễn Ái Quốc trên Việt Bắc

    về. Và theo lệ thường sau những bữa ăn ngon, chuyện vui như pháo.

    Bỗng anh Ngô Đức Mậu quay sang bảo tôi trước mặt Xuân Độ và Văn

    Bình: “Này, cậu Diêu, mình nghĩ cậu nên lấy con X. Tốt đấy. Nó có cái

    kiêu, nhưng kiêu rồi sẽ hết kiêu. Được cái nó thông minh và lúc nào

    cũng tươi”.

    Độ, Bình tán thành luôn. Độ hỏi: “Ông nghĩ sao?”. Tôi cười, một cái

    cười không có nghĩa tán thành cũng không có nghĩa bất đồng ý kiến.

    Lát sau, tôi nói: “Không được, nó không chịu đâu?”

    Bình: “Thì cậu đã sonder (thăm dò) đâu nào?”

    Tôi im. May vừa có người vào, câu chuyện xoay qua vấn đề khác.

    Riêng tôi cũng không khỏi suy nghĩ. Anh em tán thành cả, nhiều người

    vun vào, nhưng hai người trong cuộc suy nghĩ khác, thì chỉ còn biết

    cách cảm ơn anh em thôi.

    04-6-1952 Làm việc đến khuya, tắt

    đèn đi ngủ cho đúng thời gian biểu đã

    vạch, chứ không hề muốn ngủ. Nằm

    trong màn trắng, nhà không đóng cửa,

    ánh trăng qua màn mờ mờ lung linh

    như sương. Trăng sáng quá. Khó ngủ.

    Tiếng ngáy của anh chủ nhà nằm ngoài

    thềm đều đều, nghe khó chịu. Con chó

    nào ở xa sủa dai. Hình như họa sĩ Văn

    Bình cũng không ngủ được, tôi nghe cậu

    cựa quậy và ngáp luôn ở cái giường bên.

    Các bậc vĩ nhân hơn người có lẽ ở chỗ

    họ biết sắp xếp thời giờ để làm việc và

    học tập. Nhờ thế, sự nghiệp của họ to lớn, tri thức của họ mở mang, họ

    phục vụ được nhiều. Cái lúng túng của mình vẫn là ở chỗ sử dụng thời

    gian. Bao nhiêu công việc dồn dập, thời giờ tuy không phải bận bịu lắm

    nhưng cứ bị cắt vụn ra, không đủ để làm công việc gì lâu lâu một tí.

    Bài bút ký Từ sông Volga đến sông Đông dịch đã chép lại xong, tôi đưa

    nhờ anh Trần Văn Sơn xem lại giúp, có gì cần chỉnh lý không và gửi Sở

    Thông tin Khu xin duyệt (trước khi đưa nhà in). Tôi định viết một tập

    Truyện căm thù, anh dũng Bình Trị Thiên. Tối hôm qua đã viết xong một

    chuyện về trận Tây càn quét vùng Chợ Cạn, huyện Triệu Phong tháng

    3 năm 1948. Viết mà căm tức lạ. Chao ôi, tội ác của giặc! Tôi mất bao

    nhiêu bạn bè, người quen biết trong trận càn này? Mà đâu chỉ là bạn

    bè? Những bà mẹ chiến sĩ, những đồng bào, tất cả những con người

    kháng chiến tôi gặp ở đây! Làng Chợ Cạn nhà chen chúc nhau trên cát,

    đồng lúa chín các xã Hải Châu, Hải Trình, đập nước Linh Yên bao nhiêu

    tên giặc từng bỏ thây lại. Một căm hờn đến nghiến răng lẫn với một

    chút bâng khuâng khi nhìn lại quá khứ. Không biết truyện viết ra rồi sẽ

    tác động như thế nào đến người đọc. Tôi tin, chỉ kể chuyện thôi, cũng

    đủ gây được chút nào căm hờn trong lòng người đọc.

    Chiều hôm qua cùng Văn Bình đi chơi phố, tình cờ gặp cụ Hoàng

    Hanh, người chiến sĩ nông nghiệp vừa được Đại hội thi đua toàn quốc

    Họa sĩ Văn Bình (1917-2004)

    bầu làm Anh hùng lao động. Tôi đã có dịp gặp cụ tại Hội nghị chiến sĩ

    nông nghiệp tỉnh Nghệ An mấy tháng trước tại xã Hoành Sơn, và sau

    đó có viết bài giới thiệu. Cụ vừa đi dự Đại hội toàn quốc về. Hai bị vải

    nâu, một cái nồi nhỏ đeo tòn ten sau lưng, bộ áo quần nâu, khuôn mặt

    nâu rám nắng; người cụ là một khối màu nâu. Mắt cụ nhìn thường hơi

    cúi xuống, qua cái nhìn đã thấy được cái cần cù nó hiện lên trong con

    người này.

    Cụ cùng một người nữa đi ngang qua khu Phố Mới1, hình như cũng

    có phần ngơ ngác vì cảnh lạ.

    Văn Bình rủ tôi một ngày gần đây cùng nhau về xã Xuân Lạc, tìm cụ

    Hoàng Hanh lấy thêm tài liệu, Văn Bình sẽ vẽ tranh truyện, tôi viết bài

    hoặc truyện về cuộc đời cụ. Dự định thì nhiều, chẳng biết có thời giờ

    thực hiện hay không.

    05-6-1952 Bữa dự lễ đón tiếp chính thức Đoàn chiến sĩ thi đua dự

    Đại hội toàn quốc về, tổ chức ở sân vận động Đô Lương. Cụ Hoàng

    Hanh, Anh hùng lao động vẻ mặt trang trọng và nghiêm túc như bất

    cứ lúc nào, lúng túng trong bộ áo quần Âu, chân đi đôi dép cao su

    trắng - một cái mới nữa đối với cụ - một tay cầm vòng hoa, một tay

    chống cây cờ vừa được tặng thưởng. Trông cũng xúc động song ít

    nhiều cụ có phần giống người hát tuồng, có lẽ do cái cờ trên tay gây

    nên. Cụ vừa ngồi xuống lại phải đứng lên vì tiếng hoan hô nhiều lần

    quá. Bên cạnh cụ, chị chiến sĩ thi đua toàn quốc Trương Thị Xin tóc

    tết buông hai vai, sơ mi trắng tinh, nụ cười hồn nhiên; chị Phạm Thị

    Tuyết y tá, anh Phạm Xì, anh Phan Văn Mãn chiến sĩ cấp dưỡng, cụ

    Nguyễn Thế Bân,...

    Cuộc hội họp nào của ta cũng mắc phải những khuyết điểm muôn

    đời. Khai mạc muộn, xong phần khai mạc thì lác đác đã có người ra

    về, đến khi lễ bế mạc thì chỉ còn ban tổ chức, các đại biểu và lớp người

    đứng hàng đầu. Lúc khai mạc, có một tốp hát Quốc ca với đàn đệm hẳn

    1 Thị trấn Đô Lương mới xây lại trên đồi, sau khi thị trấn cũ nằm giữa làng quê

    đông đúc bị máy bay Pháp ném bom, bắn phá đúng sáng mùng một Tết.

    hoi, nhưng khi bế mạc thì “mời toàn thể đồng bào cùng hát Quốc ca”,

    bởi Ban âm nhạc đã chuồn về từ lâu rồi. Cũng rất nực cười, sau phát

    biểu kết thúc của cán bộ. Ban tổ chức đề nghị cuộc mít tinh thông qua

    bức điện văn, anh đọc: “Chúng tôi, một vạn đồng bào...” Bọn chúng tôi

    nhìn nhau, nhìn quanh liếc quất chỉ thấy còn năm, sáu trăm người là

    cùng. Lấy đâu ra một vạn mà thông qua.

    Gặp đôi bạn Huy Phương - Thu Lan cùng Trần Hữu Thung nhớn nhác

    đi tìm chị Trúc Quỳnh bị lạc đâu đấy. Văn Bình, và tôi về đến nhà thì đã

    hơn hai giờ sáng, trăng mười ba gần lặn.

    11-6-1952 Tôi rất sợ câu đầu miệng của các cô, trích La Rochefoucauld:

    “Tous les vertus se cachent dans l’intérêt”. Mọi đức tính đều náu mình

    sau lợi ích. Chẳng nhẽ!

    12-6-1952 Lúc viết nhật ký là lúc phóng bút theo ý nghĩ của mình,

    ít đắn đo về văn chương nhất. Đối với nhà văn, có lẽ những lúc này là

    lúc không phải nghĩ đến đối tượng người đọc; ngòi bút cứ chạy theo ý

    nghĩ, ai hiểu được thì hiểu, không thì thôi, dở hay chẳng cần. Tôi tự hỏi

    không hiểu những nhật ký của Lord Byron, của Julien Green lúc đưa in

    có được các nhà ấy sửa chữa lại chút nào không. Chắc là có vì trong lúc

    ghi vội vàng, các tác giả ấy dù có lành nghề bao nhiêu cũng làm sao

    tránh khỏi những câu ra ngoài quy tắc văn phạm.

    Nhật ký là nơi ghi lại tư tưởng và ý nghĩ thầm kín nhất của mỗi người.

    Nó là nơi diễn biến tư tưởng của người đó. Xem nhật ký có thể thấy

    được bước đường tiến bộ của con người. Vậy có ai đặt vấn đề thành thật

    - thành tâm thì đúng hơn - với chính mình khi hạ bút xuống trang giấy

    trắng? Đừng bao giờ sợ rồi sẽ có người đọc được nhật ký của mình (khi

    mình còn sống). Không cần. Cứ tin là mình viết cho mình năm mười

    năm sau, hay lâu hơn thế; và xét về phương diện phục vụ thì đó cũng sẽ

    là tư liệu viết văn. Và cũng có thể chỉ một mớ giấy lộn, chẳng là gì hết.

    Thế thì đã sao nào?

    Họp Tuyên Văn (tuyên truyền, văn nghệ). Có chuyện đáng suy nghĩ.

    Tại Thanh Hóa, Ty Văn hóa tỉnh Thanh cho phép đăng lên báo bức thư

    luân lưu của Giám mục Dooley. Tại sao báo chí mình lại phổ biến một

    tài liệu chống lại mình? Đơn giản, tại người dân chịu bỏ tiền ra thuê

    một tạp Phổ thông bán nguyệt san (xuất bản tại Hà Nội) có in bức thư ấy,

    mất một nghìn đồng một ngày, để đọc. Và khi lỡ ai đánh mất, chịu đền

    hai vạn đồng, chủ hiệu cho thuê sách vẫn không đồng ý. Nói: Sách khác

    thì đền như thế là được, còn cuốn sách này hiếm lắm, quý lắm, hai vạn

    đồng không thể mua đâu ra. Trong khi đó, cuốn tiểu thuyết tương đối

    có giá trị như Chiến khu Ba của Lưu Trọng Lư mới in ra, dày 158 trang

    giá có 8.500 đồng, ai cũng chê đắt. Tác giả chỉ lo nhà phát hành không

    bán được, tác giả sẽ không nhận được đồng nhuận bút nào.

    Viết cách nào đây cho người ta chịu bỏ tiền ra mua đọc?

    Tác phẩm văn nghệ chưa gây được căm thù một cách đúng đắn. Thơ

    lấy đề tài căm thù cũng như các bộ môn khác, nhất là hội họa (qua

    Triển lãm 1952) thường gây khủng khiếp cho người xem hơn là căm

    giận quân thù. Phần lớn thơ thì có tính chất bàng quan quá. Bài thơ

    của Hữu... về chuyện Tây tàn sát cán bộ, đầu đề là Chôn một hố! Trong

    bài Thủ đô cũng của Hữu …, có những câu: Thủ đô tàn sát/Hai tháng giết

    nhau (kháng chiến đâu phải là một sự giết nhau thôi?), Thức trọn đêm

    may cờ giặc, v.v…Đó là những dẫn chứng do anh Lê Nhữ Dực1 đưa ra khi

    thảo luận. Làm mình giật thột, nghĩ đến tập truyện căm hờn đang viết.

    Phải kiểm tra lại cẩn thận lắm mới được!

    ... Gặp anh Trịnh Xuân An. Lâu lắm mới gặp lại. Anh vừa từ vùng địch

    hậu Thừa Thiên ra dự cuộc họp gì đó.

    Mai tôi cũng phải đi họp sớm. Giờ đi ngủ thôi, mặc dù mới có mười

    giờ đêm. Làm việc say sưa có thể lãng quên sự đợi chờ. Đợi chờ ai? Vậy

    mà nửa đêm sực tỉnh, nhìn ra ngoài trời, thấy lòng mình sao mà trống

    vắng thế!

    1 Trưởng ty Văn hóa tỉnh Thanh Hóa. Vì tế nhị, xin không ghi lại đây tên tác giả

    bài thơ Chôn một hố.

    18-6-1952 Les peuples heureux n’ont pas d’histoire1. Các dân tộc hạnh

    phúc không có lịch sử - không có chuyện nói, thì đúng hơn. Nhà văn

    Lev Tolstoy khi viết câu đó hẳn nghĩ rằng dân tộc sung sướng nghĩa là

    dân tộc không có chiến tranh hay biến cố lớn, đời này qua đời khác yên

    ổn làm ăn. Nhưng có phải cũng tại dân tộc ấy nhiều hạnh phúc quá, đến

    nỗi không quan tâm ghi chép lại lịch sử của mình, và đã sống tràn trề

    hạnh phúc thì ghi để làm gì cơ chứ?

    Con người cũng thế. Khi quá xao xuyến dù chỉ là trong chốc lát, người

    ta cảm thấy bàng hoàng, không thể và không dám ghi lại cảm giác. Ghi

    chép cách sao cho lột được? Con người cứ muốn lặng đi mà hưởng thụ

    tận đáy lòng.

    Những nỗi khắc khoải đợi chờ của Tản Đà, của Lamartine, của

    Mayakovsky nếu kết thúc bằng một cuộc gặp đúng như mong đợi thì

    có lẽ họ đã không có những thi phẩm để đời. Các thi sĩ đông tây cổ kim

    ca ngợi niềm vui của tình yêu, hạnh phúc do tình yêu mang lại, (nhưng

    trong cuộc đời thật của họ) đã có bao nhiêu người thành công?

    19-6-1952 Dự buổi gặp mặt thân mật giữa anh Hoài Thanh, Thành

    viên Phái đoàn đại biểu nhân dân Việt Nam ta vừa đi thăm Trung Quốc,

    Triều Tiên về, với giới văn nghệ Liên khu 4. Vẫn họp ở ngôi nhà rộng

    rãi ông Bang Man, thôn Bụt Đà. Đã có mấy lần giới văn nghệ gặp nhau

    ở đây. Hình như văn nghệ sĩ có duyên với cái xóm nhỏ này.

    Bữa cơm chiều thân mật mà khá sang. Quy tụ gần bốn mươi anh em

    công tác văn nghệ chung quanh Chi hội Liên khu. Câu chuyện anh Hoài

    Thanh trình bày không thành hệ thống, chỉ là những nhận xét riêng

    của anh và những điều anh mắt thấy tai nghe vụn vặt trên đường công

    tác, hay những khi tiếp xúc với giới văn hóa Trung, Triều. Dù sao cũng

    thấy được một vài khía cạnh chung của các nước bạn.

    Lần đầu tôi được tự tai nghe nhà văn Hoài Thanh nói chuyện. Anh

    viết, anh bình thơ trong “Thi nhân Việt Nam” hay đến thế, nhưng nói

    1 Câu mở đầu bản dịch tiếng Pháp Chiến tranh và Hòa bình (hình như có rút gọn so với nguyên bản).

    thì lại… tầm tầm. Không kính trọng tên tuổi anh, hẳn đã có mộtsố anh

    em tìm cách chuồn về!

    Thấy một dáng người quen quen mặc bộ quần áo xám dắt xe đạp tươi

    cười tiến đến. Hoàng Tuấn Nhã. Anh bắt tay tôi, lắc lắc thật lâu, vẻ mặt

    nghiêm trang: “Chào ông”. Tôi cười: “Làm như chúng ta gặp nhau giữa

    Paris không bằng”1. Nhã càng lắc lắc tay mạnh hơn: “Vừa mới gặp lại

    nhau anh đã đá tôi một cái đau như vậy”.

    Vẫn cậu Nhã tinh nghịch hồi hai đứa cùng tham gia chiến dịch Phan Đình Phùng (1950) ở Quảng Bình, Quảng Trị.

    Nhớ Bình Trị Thiên quá.

    23-6-1952 Gặp anh Ngô Xuân Hàm, trao đổi cách đưa tin trên báo về

    vụ bạo loạn Hưng Yên.

    Tôi cùng Văn Bình về thôn Kim Liên gặp anh Ngô Xuân Hàm, xin anh

    góp ý việc đưa tin Vụ bạo loạn Hưng Yên sao cho phù hợp chủ trương

    của trên. Anh là Khu ủy viên, Chánh án Tòa án nhân dân Liên khu 4.

    Nghe nói Trung ương có phái hai phái viên vào hỗ trợ, luật sư Trần

    Công Trường và đồng chí Bùi Lâm, nhưng các vị không ra mặt.

    Anh Hàm mói mấy ý:

    - Cần kết hợp việc tuyên truyền vụ bạo loạn với âm mưu móc nối với

    Pháp, làm nội ứng cho chúng, yêu cầu quân Pháp đổ bộ lên vùng tự do

    của ta.

    - Vụ việc có liên quan đến một số đồng bào Công giáo, cần nắm cho

    vững và thực hiện đúng chính sách tôn giáo của Chính phủ.

    - Thông tin cụ thể về hành động bạo loạn, quy về nhóm mấy tên cầm

    đầu, không vơ đũa cả nắm đối với đồng bào có đạo, mà tuyệt đại đa số

    tích cực tham gia kháng chiến.

    - Lấy vụ Hưng Yên kết liên với mấy nơi khác, Hưng Yên chỉ là vụ điển

    hình. Chọn những hành động tàn ác nhất của chúng đưa lên báo cho

    nhân dân rõ.

    1 Họa sĩ Hoàng Tuấn Nhã vốn từ Pháp về.

    - Tuyên truyền trên báo phải chú ý đảm bảo bí mật cho việc tòa án

    tiếp tục khai thác, thẩm vấn các bị can.

    - Tòa án đồng ý cho phóng viên trực tiếp gặp một số bị can, ghi chép

    lời khai của cung tiêu (?)1, chuẩn bị tư liệu và công bố một phần lên báo.

    Vụ án về bạo loạn Hưng Yên có đến mười vụ việc lớn, trước mắt, nhà

    báo chỉ nên tập trung thông tin về ba vụ tiêu biểu nhất:

    1. Âm mưu tổ chức giết hại anh Nguyễn Văn Đường, tổ trưởng Công

    an thôn Giáp Trại.

    2. Lạm dụng tiếng chuông nhà thờ, dùng tiếng chuông thiêng liêng

    tập hợp, cưỡng ép nhân dân rào làng giữ dân, “nội bất xuất, ngoại bất

    nhập”, chủ yếu ngăn cản cán bộ, công an, bộ đội tiếp xúc với người dân;

    hễ thấy bóng cán bộ, công an đến gần làng là kéo chuông nhà thờ báo

    động, để cho một số tên côn đồ tự do dùng vũ khí cưỡng bức, không cho

    nhân dân tiếp xúc cán bộ.

    3. Vận động nhân dân chống chính sách thu thuế nông nghiệp.

    Anh Ngô Xuân Hàm người cao lớn, ăn nói điềm đạm, nhã nhặn. Trao

    đổi xong, anh gọi cán bộ tòa án đưa hai nhà báo sang phòng bên, trực

    tiếp đọc và ghi chép một số tài liệu mật của tòa án trong quá trình

    thẩm vấn các bị can, cùng những lời khai viết tay của chúng.

    Bộ hồ sơ nào cũng dày cả tệp. Tôi chúi đầu vào đọc và ghi gần như

    nguyên văn nhiều thứ. Họa sĩ Văn Bình sẵn sàng trợ giúp. Anh nhận

    một tập hồ sơ, ghi chép vào một cuốn sổ tay khác, cuối buổi đưa cho tôi.

    Nghĩ cũng hay, ông họa sĩ người đạo gốc, sống tại Hà Nội, tốt nghiệp

    Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nghe nói từng được Giải

    thưởng của Salon Unique gì gì đó danh giá lắm ở Hà Nội từ năm 1944

    kia, nay vui lòng giúp việc cậu phóng viên trẻ hơn mình hơn một chục

    tuổi. Phải cái tội anh viết cẩn thận, nắn nót quá thành ra rất chậm…2

    1 Bản thân tác giả nay đọc lại cũng không hiểu nghĩa. Có thể là một thuật ngữ

    của tòa án hồi đó chăng?

    2 Họa sĩ Văn Bình (Nguyễn Văn Bình) 1917-2004, Giải thưởng Nhà nước về Văn học,

    nghệ thuật năm 2001, Giải thưởng Salon Unique năm 1944, Giải thưởng Seheguki,

    Nhật Bản, và nhiều Giải thưởng khác. Tuổi 80, ông vẫn làm việc miệt mài và đạt

    Ghi chép của họa sĩ V ăn Bình

    24-6-1952 Vụ án Nguyễn Gia Th.

    (Trích hồ sơ). Nguyễn Gia Th. 31 tuổi, người làng Phú Mỹ, huyện Phú

    Vang, Thừa Thiên, có bằng tiểu học. Cuối năm 1946, can án tòng phạm

    một vụ cướp, bị bắt giam tại Thanh Chương, Nghệ An ba năm. Năm

    1948 được tha, nhờ Hồ Đắc H. giới thiệu làm đốc công Xưởng dệt Thanh

    Sơn được khoảng năm, sáu tháng. Làm việc ở Việt Thắng Công ty huyện

    Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh ba tháng, rồi ra Cầu Giát làm ở Xưởng Dệt Phú

    Sơn, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An sáu tháng, sau đó bỏ ra Hoàng Mai

    làm Xưởng dệt Quỳnh An, cáo bệnh xin về nghỉ ở Manh Sơn nửa tháng.

    Hồi làm ở Phú Sơn, ở nhờ nhà Hồ Liễu Ph., sau (hai người) rủ nhau

    dinh tê ra Hòn Mê ngày 27-8-19501. Hà Tôn Đ. thu nhận y làm agent2

    Giải thưởng Họa sĩ cao tuổi do Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam

    trao tặng. Nguồn: Nghệ sĩ tạo hình Việt Nam hiện đại, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội, 2009.

    1 Thời kháng chiến, một số đảo ven biển Nghệ An, Hà Tĩnh bị quân đội Pháp

    chiếm đóng.

    2 Agent: Gián điệp

    Tranh họa sĩ Văn Bình vẽ tại Nga, tặng Phan Quang năm 1963

    cho Pháp 15 ngày sau. Nguyễn Gia Th. nhận (nhiệm vụ) do thám và tổ

    chức nội ứng cho địch. (Từ đảo Hòn Mê) đã vào Nghệ An ba lần. Hai lần

    do Hà Tôn Đ. và Trần Đình Ph. phái đi, lần thứ ba do Jean Martin cử.

    Mục đích lần thứ nhất: a)... , b)... , d)... , đ)...

    Vào X. Đ. Đưa tấm ảnh Trần Đình Ph. giao cho để làm của tin, yêu cầu

    Cha Đ. cấp cho Trần Đình Ph. một giấy giới thiệu khác rộng rãi hơn để

    nhận sự giúp đỡ và viện trợ của Pháp (Giấy cũ do Cha Đ. cấp năm 1950

    chỉ có phạm vi hoạt động nhỏ), nhưng Cha Đ. từ chối, “tôi mới được

    thăng chức nên phải cẩn thận”...

    Vào liên lạc với Cố V. (tức Albert de Gouri.). Chưa bàn chuyện gì. Cố

    chỉ ký vào sổ tay cho một chữ ký để làm tin. Gặp Trần Văn Tr. ở... nhưng

    cũng chưa làm gì. (... )

    Lần thứ hai. Mục đích kiếm giấy tờ (chính thức) của X. yêu cầu Pháp

    đổ bộ (vào đất Nghệ An) để đưa lên Etat Major (Ban tham mưu quân đội

    Pháp). Có gặp trực tiếp và hỏi chuyện Cố Nov. Hỏi Cố có nhận được tàu

    bay tiếp tế không. Trả lời có nhận được bảy vỏ đạn do tàu bay từ Hải

    Phòng bay vào ném xuống (khuôn viên Nhà thờ X... ) trong đó có thuốc

    men và tin tức gia đình Cố Nov. (... )

    Lần thứ ba tôi vào Nghệ An là do tên Jean Martin ở Hòn Mê phái vào.

    Già Đ. (tức Hà Tôn Đ.) lúc này đã về Hải Phòng rồi. Jean Martin giao cho

    tôi vào Nghệ An lượm tin tức quân sự, nhất là tình hình bộ đội Việt Nam

    trên dọc đường số 1.

    Cùng với Đặng Văn K. đến Manh Sơn ngày 18-12-1951. Gặp lại Cha

    K. Cha nhắc lại việc yêu cầu Tây đổ bộ. Gặp Cố Nov., biếu quà Noel cho

    cố. Cố ghi vào sổ tay phúc thư cho Commandant Mosquet.... Lần này

    Patrouilleur1 Mosquet chỉ gửi quà cho Cố Nov. không gửi thư, chỉ nhắn

    miệng: “Nous pensons toujours à eux”2. (... )

    Vụ bọn phản động tổ chức giết anh Đường, tổ trưởng Công an thôn

    Giáp Trại.

    1 Chỉ huy tàu tuần tra.

    2 “Chúng tôi luôn nghĩ tới họ”.

    Lời khai của Nguyễn Văn S.: “Đây có thằng Đường hay lốp tốp. Trong

    vụ (ta chống) thuế nông nghiệp, hắn làm gay go lắm, hắn uống rượu

    say rồi đưa tin báo cho họ đến làm mình điên lên, phải giết hắn đi mới

    được” (Cung của Nguyễn Văn S. và Trần Bá Th.).

    Có người đề nghị, đập cho hắn gãy cẳng. Nhưng có người khác ngăn

    lại: “Đập hắn què hắn lại khai báo lung tung”. Bàn đi tính lại, chưa tìm

    ra mưu chước. (Trong khi đó) cán bộ thuế vẫn tiếp tục hoạt động (vận

    động nhân dân đóng thuế). Nguyễn Công H. nói: “Đây là mình bắt lại

    người mình (anh tổ trưởng Công an là người theo đạo), thằng nớ không

    phải (người) chính phủ chi mô. Phải bắt thằng Đường, thằng Thúng,

    quân này phải giết mới yên”. Cuối cùng thỉnh thị Cha H. Cha nói: “Mấy

    thằng ác, đập què cẳng, đập chết, nỏ hại chi”. Câu nói làm phấn khởi

    bọn giết người. (Cung ngày 10-5-1952)1...

    30-6-1952 Tôi lại cùng họa sĩ Văn Bình đi bộ từ Nam Đàn lên Đô

    Lương. Nắng chiều to, tuy ban sáng mát dịu, có mưa ngoi vài ba hột.

    Một chuyến đi công tác vô duyên và mệt. Sáng sớm lật đật về Kim Liên

    tìm tới cơ quan anh Ngô Xuân Hàm, Chánh án Tòa án nhân dân Liên

    khu 4, định hỏi thêm tài liệu chuẩn bị cho Phiên tòa xét xử vụ bạo động

    thôn Hưng Yên sắp mở tại Nam Đàn. Vừa hỏi thăm tìm được đến nhà,

    vào cổng thấy hai ba người mang ba bốn cái bị đi ra. Thôi chết, họ di

    chuyển cơ quan rồi. Tôi chỉ tay vào bên trong hỏi:

    - Có còn ai trong đó nữa không anh?

    - Không, chúng tôi là những người cuối cùng.

    May nhận ra người vừa nói là luật sư Đặng Văn Hỷ, có quen nhau từ

    trước Anh Hỷ cho biết cơ quan di chuyển đến nơi…, cách đây chừng 20

    cây số.

    1 Đã ghi chi tiết đầy đủ trong ba cuốn sổ tay về vụ bạo loạn này. Trên đây chỉ trích vài trang (PQ).

    (còn tiếp)

    Nguồn: Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ hồ Gươm. Tập ký của Phan Quang. NXB Trẻ, 2016.

    Tác giả gửi www.trieuxuan.info

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,818,658

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/