Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,818,279

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ hồ Gươm (3)

Phan Quang

  • Thứ ba, 14:45 Ngày 21/07/2020
  • Sương đêm.

    19-6-1950 Tôi đứng trên điểm đồi cao, đối diện với đồi chỉ huy. Lá cờ

    hiệu màu xanh của Trung đoàn trưởng bay rần rật trong gió Lào. Nhìn

    thấy lá cờ bay mới biết có gió to, vì nắng quá rát, chỉ thấy nóng tưởng

    không hề có gió. Cờ đẹp quá. Đạn nổ như rang gạo. Bức kích pháo, moọc

    chê ình ình trống lớn trống nhỏ. Nhìn xuống đường quốc lộ 1, thấy

    hai chiếc xe địch đang bốc cháy, khói xám ùn lên, cùng bay tạt về một

    chiều theo hướng gió thổi. Một chiếc khác đi sau thấy hai chiếc trước

    bốc cháy, vội vàng cài số chạy lùi. Nó chạy ở khoảng trống giữa hai

    quả đồi, nơi có hàng mít lá còn xanh, mà chúng tôi vẫn dùng làm điểm

    chuẩn quan sát. Bộ đội ta đang xung phong lố nhố trên đường. Trên

    quả đồi dịch về mé trái chỗ tôi đang đứng, đạn moọc chê tung khói và

    bụi, khói ở đây bay lơ lửng, có vẻ lâu tan hơn khói cháy xe địch.

    Mấy ông dân quân chiến đấu phối hợp là những người từ trận địa trở

    về sớm nhất. Vai vác cây tre vót nhọn. Áo quần nâu, dáng người nhỏ

    bé - phần đông dân quân ở đây đều là thanh niên mới lớn. Mặt ai nấy

    đỏ bừng nhưng có vẻ hớn hở. Họ vui như không phải vừa xông pha đối

    mặt với cái chết mà như đi xem hội hè đình đám trở về. Tôi hỏi: “Sao

    các cậu lui về sớm thế?”-“Bầy tui được trên cho lui, đi tìm nước uống”.

    Các cậu mãi tranh nhau kể về trận đánh:

    1 Culasse: khóa nòng súng. Phát âm là quy lát. Culát là cách nói của bộ đội ta, hầu hết nông dân. (BTV)

    - Tau chộ thằng Tây chết.

    - Cái thằng bị thương ở đầu gối què chân nằm trên đường ấy, hắn còn

    sống. Tau đưa cái lao định đâm cho một mũi, hắn sợ quá kêu ầm lên,

    thế là tau thương hại, tha cho.

    Họ đi khuất. Một ông lão dân người làng Sen1 tản vào nấp trong núi

    lúc diễn ra trận đánh, giờ vác rựa trở về. Áo nâu, quần cụt, nón đan,

    mặt rám nắng hình như có pha màu sốt rét. Dáng đi lừ đừ. Gặp chúng

    tôi ông dừng lại góp chuyện: “Tui tính ra để coi (trận đánh), ra tới gần

    đường, bộ đội bãi rồi, thành ra về”.

    Một ông già khác tay xách mấy ruột tượng gạo và một chùm lựu đạn

    xâu trong chiếc nịt da cũ của bộ đội ta:

    - Tui ở bên tê sông, nghe ngớt tiếng súng, tính ra coi thì gặp mấy anh

    bộ đội nhờ phụ gánh anh bị thương. Nửa đường, thấy tôi già mà gánh

    nặng quá, một anh đến đổi vai cho, và nhờ tôi cầm giùm mấy cái ni. Chừ

    biết tìm nơi mô mà trả lại cho anh em, hè?

    Một chiến sĩ dẫn toán tù binh Pháp từ đường quốc lộ 1 lui về phía

    căn cứ xuất phát của ta. Thằng nào thằng nấy đầu trần, áo phanh để

    lộ bộ ngực lông lá và mảng da đỏ như tắc kè phơi nắng. Nóng quá, một

    tên vừa đi vừa rên hừ hừ, miệng há hốc thở như trâu. Một tên khác bị

    thương ở mặt, vết thương nhẹ thôi nhưng máu bê bết làm cho bộ mặt

    hắn càng thêm gớm ghiếc, giống hẳn thằng Tây mũi lõ trong bức tranh

    cổ động vẽ bọn thực dân phát xít dã man. Đứa nào tay cũng bị trói quặt

    sau lưng. Anh đội viên vai mang, vai vác mấy khẩu súng Mas vừa tước

    được của chúng, báng súng gỗ trắng mới tinh như vừa nhận ở kho ra.

    Đến chỗ tôi đứng, một thằng Tây cao lớn, người thô như nông dân, vẻ

    tỉnh táo nhất bọn, trông thấy tôi không mang súng, chắc nó đoán chắc

    đây là ông cán bộ, nhanh nhẩu chào: “Bonjour monsieur2”.

    Mấy chiếc cáng đi liền theo sau. Anh Vệ quốc đoàn bị thương băng

    bó sơ sài. Mặt dính vết máu, lộ vẻ đau đớn. Một tay anh bíu chặt cáng

    tre. Miệng rên khe khẽ. Mặt anh cũng đỏ và loáng ướt mồ hôi. Tôi hỏi:

    1 Thuộc huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

    2 Xin chào ông (BTV).

    - Nặng hay nhẹ?

    Anh tải thương trả lời hộ:

    - Nhẹ thôi. Đạn trúng hông.

    Các anh “tải thương” áo nâu phanh ngực, còng lưng dưới đòn cáng

    và ánh nắng mặt trời. Ống tre đựng nước lúc lắc bên vai. Mặt mệt nhọc

    nhưng vui. Bước đi chậm, thận trọng, để khỏi làm đau thương binh.

    Chân không dép đặt từng bước rụt rè trên đường sỏi nhọn và còn nóng

    bỏng vì hơi nắng. Mồ hôi, hơi thở, mùi máu tỏa tạo bầu không khí chiến

    trường. Hai ba cái cáng nối đuôi nhau vào. Anh chiến sĩ đi sau cùng

    nặng nhọc vì phải vác một lúc hai, ba cây súng của đồng đội bị dính

    đạn địch. Khẩu bức kích pháo của riêng anh tòn ten dưới nách bên phải.

    Tưởng hết rồi, hóa ra đi sau rốt còn có mấy ông tù là dân thường

    vừa được quân ta giải thoát, đang nói chuyện bô bô. Người nào người

    nấy gầy yếu đến thảm thương, mặt mũi hốc hác như trong các tấm ảnh

    chụp người sắp chết đói năm 1945. Áo quần rách tươm, có anh mặc cái

    quần hầu như không che kín thân. Nón cời. Có người không có nón, bẻ

    nhành lá che đỡ nắng cho cái đầu trụi rụng hết tóc. Mặt mũi là những

    nét gãy khúc, gồ ghề; chỉ có mỗi cái đầu trọc là đường cong duy nhất

    trên các thân xác này. Họ đều là những người lớn tuổi, râu ria mọc xồm

    xoàm. Người nào người ấy đẫm mồ hôi, trông thảm thiết. Nhưng ai

    nấy vẫn lộ vẻ hớn hở, vừa tranh nhau thuật chuyện vừa huơ tay múa

    chân như trẻ con, như thể đang bốc phét với những người quen biết ở

    xóm làng, gặp ai cũng muốn dừng lại kể chuyện mình, trong khi những

    người đi sau lưng lại sốt ruột giục bước nhanh nhanh lên, không có tàu

    bay hắn đến bắn chừ.

    - Bày tui người huyện Quảng Ninh, thuộc xã Gia Ninh. Bị bắt tù một

    tháng hai mươi ngày ni rồi đó. Một tháng hai mươi ngày hắn bắt đi

    theo hắn, chính mắt tui đã ba lần chộ hắn bị bộ đội mình chặn đánh.

    Một lần, hắn bắt tôi sương (gánh) gạo từ Lâm Thiện về Mỹ Trạch, bị

    quân mình chặn đánh. Bày tui gánh gạo đi kẹt giữa hàng, thành ra

    không chạy ra theo bộ đội kịp. Hôm đó quân mình ít quá. Lần này hắn

    bắt bày tui kẹp tay nhau đi dàn hàng ngang, dò mìn giữa đường quan.

    Hắn cho đi kèm hai bên hai tiểu đội. Khi súng nổ, bày tui chạy tạt

    sang bên đường, nép xuống mép. Gặp mấy anh Vệ quốc đoàn vừa xung

    phong ra hỏi: “Ai? Tù, có phải không?” Tui nói: “Dạ phải, tù”. Mấy anh

    bảo: “Rứa thì chạy đi, vào trong kia, mau lên!”. Bày tui sướng quá chạy

    qua đây. Sướng quá, thiệt sướng quá. Cứ mong gặp bộ đội mình mãi.

    Tốp tui chỉ có sáu anh em, chứ chuyến ni làng tui bị hắn bắt đi đến ba

    mươi người tê (cơ)”.

    Anh phanh rộng thêm chiếc áo vốn đã không cài khuy, tay phe phẩy

    cành lá thay quạt. Trời đã xế chiều mà nắng vẫn như thiêu như đốt. Cánh

    tay anh cháy đen, chiếc quần ngắn bẩn thỉu để lộ bộ giò khẳng khiu.

    Tù binh. Bọn tù binh Pháp được phép ngồi nghỉ dưới bóng râm. Tên

    bị thương ở mặt nằm dài, người thẳng đơ như khúc gỗ. Vết thương nhẹ,

    máu đã chùi sạch bớt, mặt nó đã có vẻ thản nhiên tin tưởng. Mấy tên kia

    ở trần. Một tên lê dương khai là người Ý nhỏ nhắn, trẻ, đẹp trai. Một lão

    Tây già béo ịch, lưng là một tấm phản, mặt như mặt diều hâu. Quần soọc.

    Giày da cứng. Có tên đi giày không bít tất. Một tên mặc chiếc áo Mỹ bốn

    túi xanh màu lá cây. Tên Ý khai hắn người vùng Piémont, vào đội quân lê

    dương. Cái lạ là hắn vẫn giữ được vẻ mặt tươi cười trong tình huống này.

    Một tên bị thương nhìn tôi, van vỉ xin “un peu d’eau1”. Tôi nhìn

    quanh. Anh chiến sĩ đang đứng xem hiểu ý, tháo chiếc ống tre đeo ở vai

    đưa cho nó. Một thằng rút mù soa tẩm nước lau môi cho tên bị thương.

    Bọn này tên nào cũng khai mới bắn có một phát hoặc chưa kịp bắn phát

    súng nào. Một tên người Hungary, một tên người Đức. Hai tên này có vẻ

    thoải mái hơn cả. Tôi hỏi có muốn được thả về không, chúng nói: “Cho

    chúng tôi được ở lại cùng các ông. Chúng tôi về mà không mang theo

    súng thì bị bọn chỉ huy Pháp tống ngay vào nhà tù thôi. Chúng tôi có

    thích đi đánh các ông đâu”.

    Vào đến nhà dân, quá khát nước, có tên bê cả ghè nước ngoài hiên

    uống ừng ực. Thấy tôi nhìn, nó cười ngượng nghịu. Hôm sau, anh Tiểu

    đoàn phó lệnh cho nội vụ cho mỗi thằng một đĩa thịt bò xào với thơm

    (dứa), đứa nào đứa ấy mắt sáng lên, meẹcxì2 rối rít.

    1 Một ít nước.

    2 Merci: cám ơn.

    Một tên tù binh nữa bị thương được dân quân ta cáng tiếp vào làng.

    Hai anh dân quân gò lưng vì thân xác thằng Tây quá nặng. Tên này khai

    mình làm comptable (kế toán), mới ra trận lần đầu, và chỉ còn hai tháng

    nữa thôi là hết hạn được trở về xứ sở. Không biết khai thật hay dối. Số

    thằng này đen. Khi hắn bị thương, thấy đồng đội tháo cả bao súng lục

    chuồi vào bụi cây rồi chạy trốn, hắn bị thương cũng cố lết vào bụi. Lúc

    mặt trận yên ắng rồi, bộ đội ta đi kiểm soát chiến trường. Một chiến sĩ

    thấy một thằng Tây nằm chết thẳng cẳng trên đồi, vui miệng thét đùa:

    Hô lê manh1!. Cu cậu nằm trốn trong bụi, tưởng người ta nhìn thấy mình

    rồi, lồm cồm bò lết ra giơ tay lên trời chịu trói.

    Những thằng địch bị thương này làm khổ thêm cho quân mình. Tải

    thương thì nặng, lại phải săn sóc thuốc men tốn kém.

    20-6-1950 Máy bay Pháp đốt nhà dân trả thù. Mới sáng, hai chiếc

    máy bay bà đầm già đã nối đuôi nhau liệng liên hồi. Rồi đến lượt các

    Spitfire từng đợt từng đợt bắn phá, hết nơi này sang nơi khác, không lúc

    nào ngớt tiếng máy bay, nghe như có tiếng chiêng rung trên đầu mình.

    Bao nhiêu đồ đạc trong nhà, dân xóm đã đưa ra giấu ngoài bờ ngoài

    bụi gần hết, chỉ để lại những thứ cần dùng nhất. Hầm tránh máy bay

    được đào sâu thêm. Trưa, đến lượt thôn chúng tôi đang trú quân bị

    oanh tạc. Gầm rú, bắn phá. Tôi dụt (chui) vào một căn hầm của gia đình.

    Hầm khá rộng. Bên trên lát gỗ ván, rồi đè chồng lên trên nữa cả một

    cỗ hậu sự của bà mệ. Mấy đứa nhỏ chui tọt vào trong một góc. Ông lão

    ngồi xổm bên ngoài. Hai cô con dâu nằm chùm hum, hai tay kê dưới

    đầu cho đỡ lấm tóc. Mỗi lần máy bay rít lên khi chúc xuống, hai chị lại

    lấy tay che mắt và nép sát hơn nữa vào nhau. Ông lão nhô lên nhổm

    xuống nhìn ngó.

    Một chị hỏi trống không:

    - Đạn hắn bắn có xuyên qua được gỗ ni không, hè?

    Anh Vệ quốc đoàn cùng nấp trong hầm đáp:

    1 Haut les mains!: Giơ tay lên! (BTV).

    - Có ra chi đồ ni. Nhưng đạn nó đi xiên, không khi mô đi thẳng. Hầm

    phải ngụy trang tốt hơn cơ. Làm như ri mà lại làm ngoài vườn, sợ hắn

    dễ nhìn thấy.

    Máy bay chỉ bắn có mấy băng, còn chỉ hú gào dọa dẫm là chính. Bà

    mẹ già ốm yếu bò từ buồng trong ra, lết xuống hầm chui vào tận góc xa,

    cùng với mấy đứa cháu. Người đàn ông làu bàu:

    - Chao, khổ quá đi, mệ. Đã nói với mệ rồi, muốn ngồi trong buồng thì

    ngồi yên, muốn chạy xuống hầm thì xuống trước đi, làm như ri lộ mục

    tiêu hắn bắn chết cả nhà.

    Đứa bé ở trần mếu máo đứng nép vào mẹ, sợ quá khóc không ra

    tiếng, chỉ nghe rên hừ hừ. Cái bụng giun to tròn thườn lưỡn, căng lên

    rung rung cái rốn lòi, có mấy đường gân chạy xung quanh.

    Máy bay đi khỏi, mọi người lần lượt lên khỏi hầm. Một chị kêu:

    - Ôi chao ôi, nhà bên tê cháy. Nhà Lý Eng, nhà Bộ Trọng, nhà eng Anh

    đều cháy trụi hết rồi. Chao ôi, lửa ơi là lửa.

    Những người khác vội chạy trở ngược vào nhà mình. Ông lão vội

    vàng nhấc nốt tấm phản còn lại bên trong mang ra vườn. Bà vợ mang

    ra sân những chùm khoai tía giữ trong nhà làm giống, miệng lẩm bẩm

    một mình: “Phải giấu cái ni đến vụ mới có cái mà trồng”. Hì hà hì hục.

    Chị con dâu bê cái thúng thóc nặng trước bụng, làm người ngả hẳn ra

    phía sau. Anh Vệ quốc đoàn bẻ lá phủ thêm cho kín hơn nữa cái ba lô

    đựng chiếc máy đánh chữ đã giấu từ trước ở bờ tre. Giở hết ván đi rồi,

    ông lão chặt hết cả bụi chuối, xếp tạm cây chuối lên nóc cái hầm.

    Có tiếng tàu bay trở lại. Mọi người lại chạy nhốn nháo, chui vội xuống

    hầm. Ở xóm bên, lửa cháy nhà vẫn rần rật. Thì ra chúng nó bắn toàn

    đạn lửa. Ông lão ngồi trong căn hầm vẫn nhô lên nhổm xuống không

    yên. Đôi mắt thao láo theo rõi đường bay của phi cơ. Cứ sau một băng

    đạn, ông lại nhổm dậy nhìn ra xem có phải nhà mình bốc khói không.

    Bà mẹ hỏi con dâu:

    - Đã cất chiếu chưa, mi?

    - Còn sót cái nồi...

    Anh Vệ quốc đoàn:

    - Có kể à (có sá gì)! Của với cải, để đó. Cốt nấp người cái đã.

    Chiều, được tin hôm nay địch nhảy dù xuống đồn Hòa Luật Nam một

    đại đội, ở đồn Sen Hạ một đại đội nữa. Tình hình có vẻ căng đây.

    20-6-1950 (ghi tiếp buổi chiều) Anh liên lạc vừa về tới nhà, anh liên

    lạc cởi trần, lôi khúc lốp xe Jeep vừa lấy được ở trận địa ra hì hục cắt,

    làm đôi dép cao su. Chiếc dao cau sắc ngọt mượn của bà mẹ. Mài mài

    liếc liếc lên miệng cái âu cho dao sắc thêm. Đế dép thì vừa đủ nhưng bộ

    quai thì ngắn, phải nối vì lúc vội vàng thu chiến lợi phẩm, anh chỉ kịp

    cắt có một miếng săm lớn hơn hai bàn tay.

    Lát sau đã có trong tay đôi dép chiến lợi phẩm, anh hí hửng mang đi

    khoe với bạn bè. Đồng đội xúm lại xem. Kẻ khen, người chê thành thạo

    như những người nhà nghề chuyên làm dép lốp. Một người nắc nỏm,

    hàm ý như ghen tị: “Một đôi dép Mỹ hoàn toàn”. Có người định giá luôn,

    nếu đồng ý mang ra bán, chắc có người đồng ý mua đến một trăm đồng.

    21-6-1950 Đêm qua hành quân, suốt từ bảy giờ rưỡi tối đến bảy rưỡi

    sáng. Đúng một đêm vừa đi vừa ngủ. Chống mắt lên cũng không tỉnh

    được. Tưởng mình thức, đinh ninh là phải cố gắng thức; lúc bước hụt

    chân mới biết mình vừa ngủ. Có anh đang đi bỗng đứng lại, làm đằng

    sau ứ lại cả tiểu đoàn. Hóa ra anh ngủ quên. Ngủ đứng. Có anh vừa đi

    vừa cố nhìn ngang nhìn ngửa, người đi sau kiểm tra nghĩ rằng anh ta

    thức; khi người đi trước đứng lại anh xô vào đánh sầm mới vỡ ra anh

    ta vừa đi vừa ngủ. Tôi vừa đi vừa mơ thấy cảnh mình vào trong thành

    phố, khi lại mơ thấy mình trở về nhà, đủ mọi thứ mộng mị. Gần đến địa

    điểm trú quân, có lệnh cho tạm nghỉ chân trên cát, mọi người ngồi ngủ

    ngon lành.

    24-6-1950 Hôm nay lại tiếp tục hành quân, chuẩn bị đánh trận thứ

    hai của chiến dịch. Đã chuẩn bị đủ thức ăn cho ba ngày giấu quân chờ

    đợi trong rừng. Thơm, dưa quả gánh từng gánh trĩu vai. Các chị vốn

    làm giúp công việc tiếp tế gánh đỡ cho bộ đội, cũng ra tiễn một quãng

    đường. Mỗi vệ cậu (lính văn phòng) lại còn mang riêng cho mình hai

    ba quả dứa buộc ở thắt lưng. Sau mấy ngày nghỉ lại sức, lúc ra đi ai nấy

    lại hớn hở.

    Mấy ngày giấu quân trong rừng, anh em làm giàn cây để ngủ. Suốt

    ngày ngồi trong bụi rậm, tránh để lộ mục tiêu. Chiều, cơm tối xong, anh

    em mới được phép tập hợp chạy nhảy vui đùa trên bãi đất trống, dưới

    ánh trăng. Có anh ôm khẩu Thompson giả cây đàn ghi ta, nhại nhạc sĩ

    Nguyễn Hồng hát bài Bên tê chiến lũy, lại làm điệu bộ của Phạm Duy khi

    ngâm bài thơ Đêm liên hoan của Hoàng Cầm.

    25-6-1950 Quá nửa đêm, tôi họp với Hội đồng binh sĩ xong vừa ngả

    lưng được một lát thì có lệnh chuyển quân xuống cho gần đường quốc lộ

    1 hơn. Có tin báo, sáng mai đội binh cơ động GM1của địch sẽ hành quân.

    Trăng non. Nội vụ đã dậy lục cục thổi cơm.

    26-5-1950 Nhưng suốt cả ngày không thấy động tĩnh, trừ mấy chiếc

    Spitfire cứ ra ra vào vào bắn phá liên miên dọc đường quốc lộ. Cũng có

    nghe tiếng súng nổ xa. Mãi đến ba giờ chiều, chiếc bà già bay rất thấp

    dọc đường số 1, liệng mấy vòng ở chỗ cái cầu, dường như để quan sát

    xem cầu có dấu hiệu bị cài mìn phá hoại hay không, rồi bay ra phía bắc.

    Mươi, mười lăm phút sau lại thấy nó trở vào. Kiểm soát đường chăng?

    Có đúng là triệu chứng ngày mai GM của chúng hành quân?

    Sau trận đánh mở đầu của ta, mấy hôm nay máy bay địch hoạt động

    dữ. Luôn nghe tiếng bắn phá. Dakota chở lính, đồ tiếp tế. Địch đã rút

    khỏi đồn Liêm Thiện đêm 24 rạng sáng 25-6. Có dấu hiệu chúng sẽ rút

    nốt đồn Mỹ Trạch. (Chúng đã rút đi ngày 26-6, có quân yểm hộ) - câu

    này ghi thêm bằng bút chì ngoài lề trang nhật ký.

    Tin quân báo cho biết, sáng 24-5 địch đã cho một đoàn xe 84 chiếc,

    có hai khẩu đại bác, khởi hành từ Huế chạy ra. Đoàn xe lớn chở quân

    trang quân dụng, đi đầu có một xe AM (automitrailleuse - xe có gắn

    1 Groupement mobile: Đội quân cơ động gồm toàn lính thiện chiến, trang bị

    hiện đại, có phương tiện vận động nhanh, chuyên tiếp viện cho những nơi bị

    quân ta tấn công, hoặc hộ vệ các đoàn xe vận chuyển vũ khí khi cần.

    súng liên thanh tự động) bắn mở đường, đồng thời có 25 chiếc scoutcar

    (môtô ba bánh) và 15 chiếc xe Jeep chở lính đi hộ tống. Toán đi đầu

    gồm 6 chiếc, đến cây số 715 thì đóng quân, bố trí canh gác cảnh giới

    các đồi chung quanh. Chúng phái một đại đội xích hầu1 ra trước đồn

    Sen Hạ2. Một giờ sau, bốn chiếc xe Jeep từ đồn này quay trở lại đón cả

    đoàn xe. Tất cả tiếp tục bò ra đến cái cống ở cây số 713+300 thì dừng

    lại nghỉ. Các xe đỗ giữ đội hình hành quân, cách nhau mười mét một.

    Các đội bộ binh tiến theo xe. Toàn bộ đoàn xe đỗ trên quốc lộ 1 kéo dài

    đến hơn hai cây số...

    Ta ém quân chờ sẵn để phục kích đoàn xe này khi chúng xong nhiệm vụ quay trở vào (Huế).

    27-5-1950 Hình như sắp trở gió Nam (gió Lào) to, nên ban sáng ủ

    trời. Gió mát hây hẩy. Hiu hiu đôi mắt, chỉ muốn bẻ vài cành lá sim lót

    vào bụi ngủ thêm một giấc. Tám giờ, chiếc bà già rè rè theo dọc đường

    số một từ phía ngoài bắc bay vào. Bộ đội vội vàng thu mấy chiếc quần

    lót may ô vắt trên các bụi cây, anh em tắm giặt đêm hôm qua phơi chưa

    kịp khô. Chờ máy bay qua khỏi lại mang ra phơi để đến chiều có cái

    mặc, dĩ nhiên là phải cắt cử người thay nhau canh riết để kịp cất khi có

    tiếng máy bay.

    Gần trưa vẫn gió nhẹ nhưng nóng khô khốc và nắng mỗi lúc một gay

    gắt. Chú liên lạc vác về nộp ban chỉ huy trung đoàn hai quả dưa hấu

    đỏ mọng nước, quà Bộ chỉ huy Phân khu gửi cho. Chỉ huy và lính mỗi

    người chia nhau một miếng dưa, đã cơn khát từ sáng đến giờ.

    Tôi đến thăm Đại đội 155 tại nơi trận địa đại đội đang bố trí quân.

    Ngồi dưới khe, khuất dưới lá. Vùng này đồi đất khô cằn, cây mọc trên

    sườn càng cao càng thấp thân và càng còi cọc. Chỉ những cây mọc dọc

    các khe, có độ ẩm thường xuyên, là đủ cao cho người nấp và che đỡ bớt

    anh sáng mặt trời. Thỉnh thoảng nghe anh em cảnh giới trên đồi hô báo

    hiệu: “Cẩn thận, Bà già! Chú ý, Spitphai!”

    1 Thám thính (BTV)

    2 Thuộc huyện Lệ Thủy, Quảng Bình.

    Điện thoại báo cho biết đoàn xe địch năm mươi mấy chiếc từ ngoài

    kéo vào, hiện đã đến gần đồn Phú Thiết1. Lại nhận tiếp thông tri của

    Trung đoàn bộ khẳng định, địch sẽ hành quân ngang qua đây nội trong

    ngày hôm nay, và căn dặn đơn vị sẵn sàng chiến đấu. Trận đánh phục

    kích này mọi người biết trước sẽ là một trận gay go, bởi không còn có

    yếu tố bất ngờ như khi ta mở đầu như trận Cao Thắng. Hai cánh quân

    chủ lực hai bên sẽ xáp trận. Hôm phổ biến kế hoạch, cấp trên đã nhắc

    anh em không được khinh địch. Binh đoàn cơ động của địch là đội quân

    thiện chiến, chúng có kỹ thuật rất cao và nói chung chúng nó khá gan

    dạ. Nếu đánh thắng được chúng là ta đánh tan được đội quân chủ lực

    chuyên di động tiếp ứng liên tỉnh, chúng nhanh chóng có mặt ở khắp

    nơi khi có chỗ cần2. Đánh tan binh đoàn này sẽ làm xoay hẳn thời cuộc;

    rất chắc chắn sau đó Phân khu Bình Trị Thiên ta sẽ giải phóng được

    thêm nhiều đồn bốt nữa.

    Lực lượng của địch tung ra đối phó lần này, theo Ban chỉ huy Trung

    đoàn 95 cho biết, gồm có:

    - Tại Quảng Bình chúng đã bố trí sẵn 500 quân (bao gồm trong đó 1

    đại đội lính Angiêri và lính Spahi - Bắc Phi). Ngày 20-6, sau khi ta tập

    kích đồn Sen Hạ, địch cho hai đại đội tinh nhuệ thuộc Tiểu đoàn dù

    gồm lính nước ngoài (Bataillon étrangère de Parachutistes - BEP) và

    Tiểu đoàn lính commăngđô, lính sơn cước và lính dù (BCCP) nhảy dù

    xuống tăng cường cho đồn Hòa Luật Nam và đồn Sen Hạ;

    - Tiếp ngay hôm sau trận đánh ấy, ngày 21-6, Đội ứng chiến liên tỉnh

    điều 1.000 quân chở trên đoàn xe 84 chiếc trong đó có hai khẩu pháo

    75 ly, từ Huế ra đối phó với quân chủ lực của ta;

    - Đồng thời chúng tăng viện cho vị trí Hồ Xá3 300 quân, cũng rút từ

    Thừa Thiên ra;

    Cộng tất cả chừng 1.500 quân địch hiện đang có mặt tại chiến trận

    này.

    1 Thuộc huyện Lệ Thủy, Quảng Bình.

    2 Tiếng Pháp gọi tắt là GM (Groupement mobile).

    3 Thuộc huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị.

    Về phía ta, có 5 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 95 và Trung đoàn 18,

    tăng cường 2 đại đội công binh, và 1 đại đội Bộ đội địa phương huyện

    Vĩnh Linh.

    Ta phán đoán địch điều Đội quân ứng chiến liên tỉnh ra sau khi đồn

    Sen Hạ bị quân ta đánh và bao vây ba đêm hai ngày liền, là nhằm giải

    vây cho đồn ấy và tiếp viện cho Quảng Bình, chuẩn bị ứng phó tình

    hình sẽ phức tạp thêm. Nếu chỉ vì mục đích ứng cứu cho đồn Sen Hạ mà

    điều quân ra thì chúng sẽ trở về trong vòng một tuần lễ. Nếu đưa quân

    ra để chuẩn bị càn quét thì chúng có thể ở lâu hơn, nhưng khả năng sau

    không nhiều lắm vì nói chung Đội quân ứng chiến cơ động GM không

    được phép đóng lâu ở một vùng nào.

    27-6-1950 (Ghi tiếp tại Ban chỉ huy Đại đội 115). Ban Chỉ huy Trung

    đoàn, mấy ông phái viên của Phân khu bộ và cán bộ đoàn thể đi hội

    nghị vắng, cánh văn nghệ, báo chí nằm dài. Tán chuyện tào lao với lính.

    Đọc đi đọc lại mệnh lệnh Trung đoàn gửi các đơn vị. Đại đội trưởng

    155 vốn là người vui nhộn phấn khởi vỗ đùi, vung cánh tay, nói say sưa:

    - Trận này thế nào hai khẩu đại bác của địch cũng lọt vào phạm vi bố

    trí của đại đội mình. Chuyến này nhất định lấy được ca nông.

    - Này, lấy được đại bác, mình phá luôn hay là cho kéo đi nhỉ?

    - Kéo đi chứ. Nếu làm chủ được chiến trường, thì tới đêm mới vào

    lấy ra được. Cho lính vô làng huy động hai đực trâu rựa1 ra, cải vào lôi

    đi thôi.

    Đại đội trưởng:

    - Ta là quân chủ lực thì phải thu cho được ca nông của địch chứ. Lấy

    súng khác thì xoàng rồi. Trận này thắng, trung đoàn mình trở thành

    “trung đoàn chiến lũy” đây.

    Chợt có tiếng chạy thình thịch. Một tân binh xộc vào vừa thở hồng hộc

    vừa báo cáo không ra hơi, không kịp cả làm động tác chào cấp chỉ huy:

    1 Hai đực trâu rựa: Cách nói của nông dân miền Trung: Hai con trâu đực to,

    khỏe nhất trong đàn trâu.

    - Có mười thằng Tây đi dọc đường quan, hắn đi qua khỏi chỗ quân

    mình bố trí rồi!

    Mọi người ngẩn ra. Sao có sự lạ vậy?

    Đại đội trưởng gắt:

    - Đài quan sát không cho tin gì à? Vô lý.

    Và anh chạy bổ ra ngoài. Chính trị viên cho liên lạc chạy thông báo

    các trung đội. Có người hoài nghi:

    - Không có lý. Có thể chú này hoảng hốt rồi hoang báo.

    Lát sau, đại đội trưởng quay trở về, cho gọi Trung đội trưởng trực ban

    đến phàn nàn:

    - Lúc đang đánh đấm thế này, anh phải bố trí cựu binh gác. Lính mới

    đã biết chi, làm hỏng việc.

    Tôi quay về chỗ Ban chỉ huy Tiểu đoàn đặt chỉ huy sở để nắm tình

    hình cho chắc hơn. Tôi cũng ngụy trang triệt để, thật gọn gàng. Trèo

    lên đỉnh đồi 35, từ đây có thể nhìn rõ đường quốc lộ 1. Bên kia, về mạn

    gần đồn Sen Hạ, nơi chiếc máy bay Spitfire bắn phá hồi nãy, khói vẫn

    bay um trời, gió nam thổi khói bạt về một phía. Mấy anh trong Ban chỉ

    huy Tiểu đoàn đang ăn trưa, mỗi người một cục cơm nắm. Tiểu đoàn

    trưởng Tháp mặt đỏ gay, lúc nào mặt anh chẳng đỏ. Tiểu đoàn phó Tần

    vai rộng, cổ ngắn, có vẻ phớt đời. Chính trị viên Tiến gầy gò, mắt thao

    láo, má hóp lại làm cho đôi mắt càng to hơn.

    Lúc này đúng 12 giờ trưa. Tiểu đoàn trưởng đứng sau bụi cây, mắt

    không rời ống nhòm. Xe vô! Đúng là đoàn xe địch đang kéo vô nam.

    Tất cả chúng tôi nép mình trong cây lá, giương to mắt hồi hộp nhìn

    xuống đường quốc lộ. Vẫn lấy vệt dãy mít xanh và dăm cây dương liễu

    khô gầy dọc quốc lộ 1 làm mốc hai phía bắc nam. Nhìn rõ mấy mái nhà

    tranh thấp tè, lá bí từ giàn leo lên phủ gần kín mái. Nhìn qua khoảng

    trống giữa hai cái mốc ấy, chợt thấy một chiếc xe xuất hiện. Rồi hai xe,

    ba xe, thận trọng bò, cự ly cách nhau chừng mươi mét một chiếc. Tôi

    đếm: một, hai, năm, mười, hai mươi chiếc... Bụi đường tung mù, từ xa

    trông đùng đục giống như sương hay khói, khói bụi đường quyện với

    khói cháy nhà ở xa. Bốn mươi chiếc, năm mươi chiếc... Chao ôi, lắm

    thế! Ngược gió Nam to đang thổi hun hút, thế mà chúng tôi đứng bên

    trên chiều gió vẫn nghe rõ tiếng máy đoàn xe vận tải nhà binh chạy

    nặng rù rù.

    Tiểu đoàn trưởng Tháp chờ thêm một lát nữa rồi mới cùng Chính

    trị viên Tiến chạy sang chỗ tổ súng máy bố trí, chuẩn bị phát lệnh cho

    khẩu 12ly7 khai hỏa.

    Đoàn xe địch vẫn chạy. Nhiều quá. Tôi đếm. Nhưng lát sau quáng

    mắt, rối tinh, không đếm xuể nữa. Một chiếc xe nhỏ sơn trắng bỗng

    dừng lại. Chúng nhận ra dấu hiệu gì chăng? Mấy thằng Tây xuống xe

    chạy đi chạy lại chỉ trỏ. Chúng bắn mấy băng liên thanh về hướng đồi.

    Đạn xịt xịt sát mặt đất ngay chỗ tôi đang đứng. Chúng tôi nằm xuống

    đất, bẹp dí, nhưng vẫn không có lệnh được bắn trả.

    Lát sau, chờ địch yên, ta mới cho khai hỏa. Đại liên 12ly7 của ta bắn

    mấy băng dài. Từ các điểm phục kích, súng các đại đội nổ ran. Liên lạc

    chạy náo lên. Tiểu đoàn phó gọi: “Chiêu Hòa! Chiêu Hòa! Vận động

    lên mau!” Moọc chê địch lúc này đã xác định được mục tiêu, bắn trả.

    Chúng nã súng cối lên đồi, sát chỗ chúng tôi nằm, đạn bay xành xạch

    trước khi nổ oàng!

    Mươi phút sau, súng cả hai bên trên toàn mặt trận nổ vang, đủ cỡ, đủ

    tiếng. Của ta, của địch. Đạn moọc chê tung bụi và khói. Đạn Bren địch

    bắn sát đất, rất sát đất. Có anh liên lạc đang chạy, đạn xâu luôn vào bàn

    chân. Moọc chê địch bắn khá chuẩn xác, làm quân ta bị thương nhiều,

    tai hại hơn súng máy và súng trường của chúng.

    Độ nửa giờ sau, máy bay địch đến tăng viện. Vẫn mấy chú Spitfire ấy

    gầm rú, bắn phá. Bà già rè rè nghiêng cánh chỉ điểm. Ca nông địch từ

    đồn xa bắt đầu rót tới. Khẩu Chiêu Hòa của ta nã đạn. Một chiếc máy

    bay bà già xịt lửa, rơi ngay xuống đám ruộng lầy, bốc cháy. Khói bốc cao

    hơn cả khói cháy nhà.

    Bộ đội vận động lên, tôi chạy theo họ, mệt nảy đom đóm mắt. Có

    anh mệt quá, đằng sau giục thì giục, anh không sao chạy nhanh hơn

    được nữa. Nắng to. Qua ruộng, tôi chụm hai tay vốc một vốc, nuốt ực

    mấy ngụm nước hôi mùi phèn vẫn thấy ngon lạ. Một đội viên đang

    chạy theo sau Tiểu đoàn phó và Đại đội trưởng. Một viên đạn xịt. Anh

    bị thương ngã xuống, mắt thoáng vẻ hoảng sợ. Mấy chiến sĩ chạy đến,

    người gỡ khẩu súng trên vai anh, người tháo nịt lưng anh, và lệnh cho

    anh lui về phía sau. Ngẩng đầu thấy cấp chỉ huy, mặt anh chiến sĩ bị

    thương rạng lên. Anh nói: “Không, tui bị nhẹ thôi, cho tôi lên”. Anh em

    buộc anh phải quay trở lại.

    Từng chiếc cáng tải thương vẫn tiếp tục đưa bộ đội của ta bị thương lui

    về phía sau trận địa. Phần đông bị thương vì mảnh đạn moọc chê. Dính

    mảnh đạn ở mông, ở chân, ở đầu. Mấy anh còn tỉnh táo. Một chiến sĩ,

    chiếc nón đan của anh tải thương úp lên mặt, người nằm phơi dưới nắng,

    vết thương bầm đen. Anh tải thương mệt phờ, đầu lại đội chiếc mũ sắt

    của anh chiến sĩ. Người bị thương môi khô quánh và rộp lên, cái miệng

    trông cũng tím bầm như vết thương dưới nắng. Một anh van vỉ: “Tôi lạy

    các anh, cho tôi xin ngụm nước, không tôi chết mất”. Một anh nhắm

    mắt - chắc là còn tỉnh nhưng mệt quá, không nói ra lời - khi chiếc cáng

    đi ngang qua chỗ tôi đứng, anh ngửa bàn tay làm hiệu xin, rồi chỉ vào đôi

    môi nứt nẻ của mình: anh đòi uống nước. Chiếc cáng đi rồi, tôi nhìn theo

    vẫn thấy cánh tay anh làm động tác xin, đưa lên hạ xuống đều đều, thật

    tội. Một anh khác bị thương nặng hơn, nhưng lại cáng trong chiếc võng

    gai (ác nghiệt!). Chiếc chân gãy xếp bên cạnh. Anh đã mê man rồi, không

    biết chi nữa. Máu từ vết thương đọng khô lại, thịt chuyển màu đỏ bầm.

    Một mảnh xương vỡ còn dính một ít da lọt xuống dưới mắt võng, đu đưa.

    Theo sau anh, có mấy chiến sĩ bị thương nhẹ, còn tự mình đi được. Các

    anh này đã được sơ cứu, đang lui về tuyến sau. Người thì đầu, người thì

    tay hoặc chân cuốn băng. Ai nấy trông phờ phạc. Môi anh nào cũng dính

    bột trắng. Đấy là bột citron (bột chanh sấy khô) chiến lợi phẩm vừa thu

    được của bọn lính Tây đi trên xe, ngậm vào cho bớt mệt.

    Tiểu đội súng máy ngồi nghỉ bên khẩu Bren, khẩu súng vẫn há mõm

    lên trời. Không có đạn. Đạn đã để lại hết cho khẩu đội bạn tiếp tục

    chiến đấu. Đơn vị này đã làm xong nhiệm vụ, được lui về nghỉ. Anh

    tiểu đội phó mang khẩu PM (súng ngắn liên thanh) hiện đại mới tước

    được của địch. Cái xà cột Mỹ anh đeo bên hông cũng vừa lấy được của

    một tên địch bị bắn chết trên xe. Trong xà cột - anh lấy đưa tôi, bảo

    “coi thử cái chi” - có cuốn “Nhật ký hành quân”ghi ngày tháng và hành

    trình các cuộc chuyển quân của chúng, những chặng đường nào bị phá

    hoại, những nơi có ổ quân ta phục kích. Lại có cả một cuốn kịch L’avare

    (Người hà tiện) của Molière bìa màu xanh. Hai bức thư chưa gửi. Một

    bức thư tình gửi cho cô Nanon nào đó và một thư gửi cha mẹ, trong đó

    “hy vọng ngày về của con không còn xa”.

    Lúc này, súng vẫn nổ trên phía đường quốc lộ. Súng máy, súng trường

    giờ bắn có thưa hơn, nhưng moọc chê địch vẫn nện đều đều. Mấy chiếc

    máy bay chắc bắn hết đạn, quay vào nam, bốn mươi phút sau lại từ

    phía nam bay trở ra, kéo theo một chiếc đầm già Morane và một chiếc

    Junker vẩn vơ bay lượn suốt cả buổi chiều, kiểm soát trận địa.

    Có lệnh cho anh em rút về khoảng đất trống mé đồi phía sau ngồi

    nghỉ cho an toàn hơn (mé đồi trước xuôi ra đường số 1, mé sau ngược

    lại, từ quốc lộ nhìn vào không thấy). Mọi người ngồi bệt xuống đất. Vài

    chiến sĩ xuống tận mảnh ruộng dưới chân đồi khoát nước rửa cánh tay,

    ống chân vừa cho mát vừa bớt nhầy nhụa mồ hôi. Suốt trận đánh này,

    bộ đội toàn vận động, ai cũng mệt oải người. Ít chuyện trò. Một đội viên

    lặng lẽ lau khẩu súng Mas.

    Đại đội trưởng đã quay trở lai, trực tiếp xuống kiểm tra thực trạng

    mặt đường, chỉ còn lại tiểu đoàn phó nắm đơn vị. Đại đội phó Hà bị

    thương.

    Một chiến sĩ chui qua lùm cây, đến nói với chính trị viên: “Báo cáo.

    Đã tìm thấy anh Tiễn. Chết ngoài khoảng tráng. Anh cho chôn?”-“Ừ,

    anh em nhớ chôn cất cẩn thận nghe”.

    Tôi ghé qua chỗ anh em Tiểu đoàn bộ tạm nghỉ. Các chiến sĩ nuôi

    quân đã từ trong xóm gánh cơm chiều ra. Cùng đi có một chị phụ nữ.

    Chị gánh một đầu là nồi canh đặt trong chiếc thúng, đầu kia là cái đôộc1

    nước cùng mấy ống tre. Mọi người không ai thiết ăn, chỉ xúm lại đòi

    nước uống. Tiếp tế gánh cơm đi nhầm đến gần chỗ đặt xác anh Tốn

    liên lạc viên tiểu đoàn, mới được anh em đưa về đây. Một người xua tay,

    đùa không đúng lúc: “Ê, ê lui về đằng kia. Định mang vô đây mời anh

    ấy dậy ăn à?”.

    1 Vò đựng nước, nhỏ hơn chum.

    Thi thể anh Tốn vẫn đặt nằm trêm chiếc cáng có bốn chân ngắn như

    cái chõng tre. Anh bị trúng đạn vào đầu. Ai đắp lên mặt anh một tờ giấy

    trắng. Tôi không nhìn rõ vết thương. Một tay anh quắp vào ngực. Một tay

    chéo sang bên kia. Ba chiến sĩ lặng lẽ đào huyệt. Tiếng cuốc thình thịch

    vội vàng. Đại đội phó Xuyên người phụ trách đội liên lạc - trinh sát vuốt

    ve xác người đồng đội, cố nắn cho thẳng cái chân người qua đời. Tay anh

    Tốn cứng mất rồi, Đại đội phó phải đưa chân giữ bờ vai để ép cánh tay anh

    dọc theo người, nhưng vừa buông ra thì cánh tay người chết lại trở về vị

    trí cũ. Một chiến sĩ tìm sợi mây, bó chặt cánh tay anh Tốn vào thân anh.

    - Anh năm nay 42 tuổi, lớn tuổi nhất đại đội. Vào bộ đội đã bốn năm.

    Gan lắm - một người nào đó nói, hình như tiếng đại đội phó Xuyên.

    (Huyệt đào xong), hai chiến sĩ khiêng xác anh đặt xuống và sửa lại

    cho ngay ngắn. Một em liên lạc hỏi nhỏ đại đội phó Xuyên:

    - Có thể bắt tay anh ấy chắp vào giữa bụng không, anh?

    - Để làm chi?

    - Để anh ấy nằm như thế cho khỏe (thoải mái).

    Hai chiến sĩ vừa hạ anh xuống huyệt, đứng thẳng người ngắm nghía,

    lại cúi xuống sửa sang lần nữa như vẫn còn lưu luyến chưa muốn rời.

    Hoàng hôn vừa qua khỏi. Đêm tối thật rồi. Ánh trăng rạng lên, chiếu

    bóng mấy chiến sĩ hì hục đắp cao nấm mộ người đồng đội.

    Tôi cùng tiểu đoàn trưởng đi tiếp, thăm anh em chiến sĩ bị thương.

    Trăng sáng. Trong một mảnh vườn, chung quanh là mít và tre, nằm la

    liệt mấy chục thương binh. Người nằm trên võng trắng, có người chỉ lót

    lá làm giường. Cùng đi với tiểu đoàn trưởng và anh y tá đơn vị có một

    chiến sĩ có nhiệm vụ làm thư ký ghi chép, tay bưng dĩa đèn dầu lạc theo

    sau. Anh hỏi kỹ họ tên từng người, rồi ghi vào bản danh sách thương

    vong trong trận chiến đấu hôm nay.

    Có một vài tiếng rên nho nhỏ, nhưng nói chung yên lặng. Một chiến

    sĩ nát bàn chân vì đạn moọcchê. Tiểu đoàn trưởng hỏi: “Thế nào, không

    can chi chứ? Liệu có giữ được, không cụt không?” Anh chiến sĩ thở dài:

    “Không chết là tốt rồi anh ạ. Què không can chi”. Một chiến khác bị đạn

    vào ngực. Băng quấn chéo trên người. Đại đội phó Hà bị thương ở vai,

    ngồi mà nói chuyện. Anh không nằm được vì nằm thì tức ngực. Chân

    phải hơi co đỡ cánh tay có một dải băng buộc treo hờ lên cổ. Một anh

    khác nằm yên, tôi hỏi không nghe anh trả lời. Người ngồi bên đáp thay:

    “Hắn vừa ngủ, anh nờ (anh ạ). Đạn vô bụng, hắn rên dữ quá, tôi quạt

    cho hắn chợp mắt một chút đó”. -“Còn cậu bị sao?”. -“Tôi bị hơi ca nông

    ép, nhưng nhẹ thôi. Một quả nổ, anh Châu chết, thằng Thu bị thương

    nặng, còn tôi nhẹ thôi”.

    Một chiến sĩ khác bị đạn xuyên háng, nằm sấp rên rỉ. Anh tên là

    Chuyên. Anh nhờ người tải thương kéo cái chân thẳng ra một chút,

    nói qua tiếng rên: “Kéo nhè nhẹ ấy”. Anh tải thương cầm cái quần của

    anh: “Tôi lót cái này xuống cho anh kê đỡ chân, hí (nhé) -“Đừng, máu

    (ở quần) làm nhớp mền đi chừ”. -“Không, máu khô rồi, tôi gấp chỗ máu

    vô bên trong, không làm nhớp mền mô”. Một chiến sĩ xách cái ba lô lép

    kẹp, chạy đến quỳ xuống, đặt ba lô bên cạnh nói với đồng đội bị thương,

    giọng rất dịu dàng: “Ba lô của Chuyên đây, hí”.

    27-6-1950 Đêm nay hành quân. Rút ra xa trận địa. Nghỉ lại ở khe Mỹ

    Sơn. Ngủ ban ngày giữa trời bây giờ thành chuyện quen rồi.

    Đại đội 150 thu được của địch một khẩu súng máy 24-29 trong một

    tình huống thật hiếm hoi. Bộ đội theo lệnh vận động ra sát đường cái,

    không ngờ cách địch chỉ có một cái lùm cây mà không ai biết. Trung đội

    trưởng phái hai anh xích hầu Giám và Châu đi trước trinh sát. Hai anh ra

    trảng trống, nhìn quanh nhìn quất chẳng nhìn thấy địch đâu. Châu bảo

    Giám: “Mi quay về báo cáo với trung đội trưởng chỗ ni không có địch

    mô”. Giám vừa sấp lưng chưa khuất bóng sau bụi cây thì còn lại một

    mình, Châu thấy hiện ra trước mắt một thằng Tây cao lớn tay cầm khẩu

    súng máy 24-29. Hốt quá, bao nhiêu khẩu lệnh bằng tiếng tây “vô tri vô

    giác” học mãi ở nhà giờ quên mất ráo, anh chĩa khẩu súng vào người nó

    thét: “Giơ tay lên!” Thằng Tây ngơ ngác và cũng hoảng hốt không kém

    anh. Không biết nói sao cho nó hiểu, anh đưa tay ra hiệu và thét càng

    to hơn: “Mang khẩu súng kia lại đây!” Thế mà nó cũng hiểu, ngoan

    ngoãn mang súng lại giao cho anh. Châu lấy khẩu súng rồi không biết

    làm gì với tên hộ pháp này, anh xua tay đuổi nó đi. Vai vác khẩu súng

    của mình, tay lôi khẩu súng máy mới đoạt được, anh chạy bổ về đơn vị,

    mặt cắt không còn một giọt máu. Trung đội trưởng ngạc nhiên: “Ủa,

    thằng này vừa mới ra, sao đã bị thương nhanh vậy?” Bởi anh trông cậu

    như người chết, mặt trắng bệch không còn hột máu. Châu buông khẩu

    súng xuống đất, gắt với Giám: “Tau bảo mi về báo cáo rồi ra ngay với

    tau, răng mi chết đứng ở đây?”

    28-6-1950 (Quảng Bình). Đi ngang qua đồn Liêm Thiện cũ. Đêm

    trăng gió mát. Đồn nằm xế cái cầu sắt trên con đường tỉnh lộ dẫn về

    đồn Phú Thiết. Trước kia đây là trường học. Nhưng trường học, nhà cửa,

    lô cốt bây giờ chỉ còn là những đống gạch. Cái sân rộng ngang dọc mỗi

    bề khoảng mười lăm bước chân, chính giữa có cái bể cạn vốn có hòn

    non bộ, nhưng đáy bể đã bị đập thủng, cây trên hòn non bộ đã chết

    khô. Các công sự cũ giờ giơ những cái cốt ghép tà vẹt sắt. Trước đồn có

    một sân nhỏ lát gạch cẩn thận, có gạch xếp hai chữ LIÊM THIỆN thật

    to quét vôi trắng. Cái này là để làm dấu cho máy bay bà già biết và cũng

    dùng làm cự ly chỉ điểm cho pháo Tây chớ có bắn vào đây. Ba lớp hàng

    rào đã cháy ra tro, vết lửa lan ra bãi cỏ hoang bên cạnh.

    Cảnh vật quanh đồn hoang vu. Nhưng nghe có tiếng cười nói. Mấy

    nông dân lội cỏ hoang đi ngược chiều chúng tôi, tay cầm rựa vai vác cuốc.

    - Đồng bào về từ hôm nào? - tôi hỏi.

    - Mới hai ba bữa nay thôi, các eng à.

    - Mấy lâu tản cư nơi mô?

    - Trên rẫy. Bầy tui gọi là tản cư, nhưng có cơ sở sản xuất hẳn hoi.

    Nhưng ở mô cũng không bằng sống trong xóm làng miềng.

    Tiếng cuốc tiếng dao phát cỏ dại xột xoạt bên đường. Đồng bào đã

    hồi cư.

    Bến Xuân Bồ. Bờ sông vang tiếng cười của bộ đội sang ngang. Mấy

    chị phụ nữ đi chợ Mỹ Sơn về, nhường cho bộ đội xuống đò trước, mình

    đi chuyến sau. Ai chèo đò đó, có phải vẫn ông lão hôm nao dưới đạn đã

    đưa bộ đội sang sông giải quyết dứt điểm trận chiến, mà các bản tin và

    báo chí đã đưa tin?

    Vừa qua khỏi sông, ngay bên bờ là mấy nấm mộ chiến sĩ hy sinh trong

    trận đánh trước. Cây lá phủ trên mộ vừa khô. Chị dân quân đứng gác kể

    cho nghe trận Xuân Bồ, khi giáp chiến ta và Tây vật nhau ngã xuống

    sông cả hai cùng chết. Khi vớt lên hai cái xác còn ôm chặt lấy nhau.

    Trong gió mát, có mùi hôi. Mùi xác chết? Mùi sa trường, như các nhà

    thơ thích nói văn hoa? Có lẽ có một thằng Tây nào bị thương, chui vào

    bụi bờ chết mà anh em bộ đội đi kiểm tra vệ sinh trận địa không nhìn

    thấy để chôn chăng? Mùi hôi càng nồng nặc giữa đêm trăng sáng rất

    lặng lẽ, rất trong lành, mây trắng cứ nhởn nhơ trên trời và gió nồm trên

    sông Xuân Bồ thì mát rượi.

    Chúng tôi nghỉ qua đêm ngay tại thôn Xuân Bồ, ở cái thôn đã bị Tây

    đốt cháy hết hơn một nửa. Nghe dân kể chuyện bộ đội ta đánh Tây. Cái

    mùi hôi ấy ư? Chao ôi, ở đây thiếu chi! Có một thằng Tây to tướng chết

    chìm dưới sông, mãi rất lâu về sau mới nổi lên, thịt da đã rã ra từng

    mảng... Làm sao không có mùi hôi! - bà con than.

    Dân làng mới trở lại chưa lâu, đang dọn dẹp nhà. Mấy người ra vườn

    tìm hái tặng chúng tôi mấy trái bưởi đầu mùa, chắc vì còn non cho nên

    chưa bị bọn lính trong đồn kịp vặt hết.

    Đồn Mỹ Trạch của chúng nằm vắt ngang trên đường sắt, ngay sát

    móng cầu. Mấy dãy hàng rào tre cao kin kít lượn mấy vòng quanh đồn.

    Chiếc chòi gác cao, làm bằng những thanh ray dựng đứng, ngã oẹo về

    một phía. Các công sự phần lớn đã bị địch đánh mìn phá trước khi rút

    bỏ. Đồng bào vào đồn tìm lấy lại chút ít đồ đạc bị địch cướp vào làm nhà

    cửa, công sự của chúng nay còn sót lại. Có những thứ chưa kịp mang về.

    Có bộ ngựa bằng gỗ tốt gác lên cạnh cổng đồn, trên có đề hai chữ “Của

    Hoài”. Cạnh đấy là một chiếc tủ con, cũng có dòng chữ viết nguệch

    ngoạc bằng than: “Yêu cầu đồng bào đừng lấy kẽm (tấm tôn) trong đồn,

    kẽm đó là của tôi tức Hoài đó”. Cái anh Hoài này rõ là người cẩn thận.

    Dăm người vừa hồi cư, chống cuốc bâng khuâng nhìn những ngôi mộ

    của lính Tây chôn trong phạm vi hàng rào dây thép gai và chông nhọn.

    Tôi ghé vào một nhà dân. Chủ là một cụ già. Cụ nói:

    - Tui cũng mới về. Tản cư trên rẫy với con cháu. Hồi đầu, con cái đi,

    tôi ỷ cái thân tra (già), ở lại giữ nhà. Nhưng ngày nào cũng bị hắn bắt

    lên đồn, khi thì bắt nhổ cỏ khi thì sai đi dò bom dò mìn. Mình cả đời có

    biết súng đạn ra răng, nay lại bị hắn bắt đi dò mìn. Tôi nghĩ, thôi thèm

    vào nhà với cửa, bỏ lên rẫy với con cháu cho yên thân.

    Cụ nói tiếp:

    - Tây trong đồn ít ra đây, nhưng bọn lính bảo vệ thì lùng sục bắt bớ

    luôn. Bắt tui chính là thằng con trai lão Bát Duyên bên làng kia, chứ ai.

    Nói trạng dữ lắm, bọn bảo vệ chỉ giỏi nói trạng. (Cười) Cái đồ vô đạo!

    Rứa mà bị tôi lừa, lấy được của hắn ba mươi lăm đồng bạc đó. Hồi tôi ở

    một mình, hắn đi lùng sục, có con vợ đi theo vào nhà, nói: Ôông để cho

    con một trái mít non về ăn lấy sữa cho cháu bú, ôông để cho con mấy

    bó chè xanh... Trả tiền đàng hoàng. Có lần hắn gửi tiền trước rồi không

    thấy quay trở lại lấy hàng. Hay là chết mất xác rồi? Hôm sau tôi bỏ nhà

    lên rẫy, ở luôn trên ấy với con cháu, rứa là mình lừa, lấy khống món tiền

    của hắn, chớ còn chi nữa! (Lại cười).

    Trên thửa ruộng xế cổng, đôi trâu hì hục kéo cày. Đất mới, lưng trâu,

    lưỡi cày đều ánh trên dưới trăng. Đất bật lên, kéo cỏ dại đứt theo rần rật.

    Tây vừa rút bỏ đồn, không làm đêm thì không kịp cấy vụ tháng mười.

    Đôi trâu thở phì phò, tiếng người cày giục giã, đó là những âm thanh

    duy nhất trong đêm trăng này. Chợt nghe tiếng gà vừa gáy. Làm gì đã

    khuya đến thế, chắc gà giật mình tỉnh giấc vì trăng sáng quá chăng - tôi

    nghĩ thầm.

    Hai anh thợ rèn lụi cụi đặt đôi ống bễ trong cái chòi tranh mới dựng

    tạm bên đường. Lâu nay họ tản cư lên chiến khu, chỉ có mỗi một việc là

    rèn dao kiếm cho dân quân. Nay nghe tin làng quê giải phóng, búa đe

    lò bễ lại trở về rèn cày cuốc dao rựa cho bà con.

    05-7-1950 Triển lãm Chiến thắng khai mạc lúc tám giờ. Ngoài một

    số chiến lợi phẩm, có bày tranh của Hoàng Tuấn Nhã, Trần Thanh Tâm,

    Trần Quốc Tiến vẽ trong thời gian chiến dịch. Màu sắc bạo của Nhã.

    Màu nâu bể của Tâm. Lavis của Tiến. Có ba bức tranh bột màu vẽ trên

    vải của Văn Tôn từ Thừa Thiên vừa gửi ra tham gia triển lãm. Nhạc sĩ

    Nguyễn Hồng ốm, không đến dự.

    Ban Chỉ huy chiến dịch có vẻ hào hứng. Có bộ đội dàn, làm hàng rào

    danh dự đón khách. Có thổi kèn chào. Toàn trung đoàn không có ai là

    phụ nữ, phải nhờ một cô gái trong thôn ra bưng giúp cái khay đặt kéo

    dùng cắt băng khai mạc. Chị được giao nhiệm vụ, xin phép trở lại nhà,

    cởi cái áo cánh đen đang mặc trên người, diện áo trắng vào, chải suôn

    mái tóc, rồi mới trở lại làm nhiệm vụ… bưng khay.

    Bộ đội vào xem Triển lãm, chỉ chỉ trỏ trỏ. Đồng bào trật tự hơn. Lính

    cũ thích xem tranh. Đồng bào và lính mới thích xem súng. Anh lính cũ

    làm ra vẻ thành thạo: “Đây là khẩu 24-29. Đây là cảnh bộ đội đang xung

    phong, chĩa súng vô chiếc xe Tây…”. Người xem chật ních gian phòng

    khá rộng. Chiều, bộ đội không được đến, để dành riêng cho đồng bào.

    Có những người đi từ các xã Minh Khai, Hoa Thám về. Có mấy cụ già

    áo đen, quần đà (nâu) đi từ làng Ngô Xá, cách đây cả chục cây số, đi từ

    sáng, mang theo mo cơm để xem triển lãm. Khoảng bốn giờ chiều, các

    cụ ghé vào quán xin nước uống. Một chị lấy bó chè xanh mua và giấu

    từ sáng trong bụi hóp (để giữ cho lá chè vẫn tươi), nấu nước mời các

    cụ. Sau đó, các cụ vào trong xóm nấu nhờ cơm ăn, ở lại để tối xem kịch

    bộ đội diễn, khuya mới về. Mấy chị phụ nữ từ thôn Cổ Liễu, gần đồn

    Thượng Phong sang xem, bảo nhau: “Ở đây trống, kẻng suốt ngày à.

    Vùng tự do sướng thiệt. Vui quá đi thôi!”.

    Đáng lẽ Triển lãm đóng cửa lúc năm giờ chiều, nhưng phải kéo dài

    thêm vì nhiều đồng bào đến xem, gần tối vẫn chưa chịu ra về.

    Đêm kịch do Đoàn kịch Chiến sĩ trình diễn. Bài Đêm liên hoan, anh

    Cương ngâm nghe đau khổ quá. Niềm vui của bộ đội đâu có phiền toái

    đến vậy.

    06-7-1950 Chuẩn bị dời Triển lãm này về bày ở Trung đoàn 18, cũng

    là để mừng Hội nghị cán bộ Phân khu Bình Trị Thiên họp ở gần đấy

    (chắc nhằm tổng kết Chiến dịch).

    12-7-1950 Sửa soạn đánh trận thứ ba để vớt vát kết quả chiến dịch

    thật ra cũng chưa có gì to lớn cho lắm. Lần này Trung đoàn 95 bố trí

    đánh phục kích. Tiểu đoàn 436 có trọng pháo hiệp lực sẽ cường tập vị

    trí Sen Hạ. Trung đoàn sẽ giấu quân ở quãng thôn Phú Chánh, quãng

    km 700 trở ra. Có kế hoạch đánh chặn địch có thể điều ca nông thường

    đặt ở đồn Hòa Luật Nam vào đồn Phú Thiết bắn yểm hộ cho đồn Sen

    Hạ. Hiện chúng vẫn có ở đồn Hòa Luật Nam những sáu trăm quân cùng

    hai khẩu ca nông.

    Chiều, anh Tiểu đoàn phó ngày trước từng phục vụ trong pháo binh

    Pháp, đến hướng dẫn cách thu chiến lợi phẩm là đại bác địch. Trong

    trường hợp khẩn cấp, ta không có điều kiện đưa về cả khẩu đại bác

    nguyên vẹn vì nặng quá, thì cũng phải tranh thủ tháo lấy những bộ

    phận thiết yếu không thể bỏ đi. Dĩ nhiên, yêu cầu vẫn là thu nguyên

    vẹn cả khẩu. Đại đội 154 được phân công chịu trách nhiệm chuyển

    khẩu ca nông chiến lợi phẩm ấy. Anh em lo sửa soạn dây, đòn. Mấy anh

    vác theo ván, chuẩn bị chống lầy cho pháo. Lệnh trên, mình thi hành.

    Phải chuẩn bị chu đáo mọi mặt. Còn có thu được chiến lợi phẩm là đại

    bác thật hay không thì... còn phải chờ.

    13-7-1950 Chờ mãi cả đêm không nghe tiếng súng nổ. Rạng sáng

    nghe tiếng súng vừa lúc nhìn thấy đồn địch cháy. Chưa thật tin ta đã

    diệt được vị trí này. Lát sau, chú bé liên lạc đội chiếc mũ lác mang mảnh

    giấy con đến. Trung đoàn báo cho biết, đồn Sen Hạ bị quân ta tấn công

    lúc 5giờ 56, diệt gọn lúc 7giờ 45. Bộ đội mừng khôn xiết.

    Lát sau phi cơ địch xuất hiện, y như rằng.

    Gió Nam to. Máy bay bà già lượn là suốt nửa tiếng đồng hồ. Đứng

    ở xa và phía trên chiều gió, tôi không nghe tiếng động cơ, chỉ thấy nó

    bay lượn lặng lẽ như con chuồn chuồn. Cú vọ thì đúng hơn. Cũng liệng,

    cũng nghiêng cánh, ở xa trông bộ dạng chậm chạp nặng nề.

    Tiếp đó, hai chiếc Spitfire từ phía biển bay vào, chắc từ tàu chiến đậu

    ngoài khơi. Ngược chiều gió, tôi không nghe tiếng rít từ xa. Chỉ biết khi

    trông thấy đứa bé chạy vội xuống hầm trú ẩn. Ngoái lại thấy nó đã vòng

    sang trái, xả súng đoành đoành. Tiếng rít lúc này xé không gian. Lúc

    nó chúc xuống, hai cục lửa xòe ra giữa trời lơ lửng. Người ta bảo nó bắn

    đạn lửa đốt nhà dân đấy.

    Quả thật lát sau, khói bốc lên trong xóm, khói đen ùn ùn. Nhà cháy.

    Một cái, hai cái... Máy bay còn liệng bắn phá bốn năm vòng nữa rồi mới

    chịu bay đi.

    Chị phụ nữ buôn hàng gánh. Áo quần đen lấm bùn bê bết. Răng đen

    cạo trắng. Đang đi trên đường, máy bay đến, chị ào xuống ruộng, vạch

    bụi lúa ra nằm nấp. Biết tập giấy bạc để trong túi thấm nước ruộng

    nhưng chị không dám cựa quậy vì e địch trông thấy, “hắn cho một băng

    thì tiêu”, chị nói. Giờ chị lấy tập bạc ra lột từng tờ bỏ vào phơi trong cái

    thúng sâu phòng bị gió thổi bay. May mà các tờ giấy bạc chưa kịp nát.

    Một cụ già đi ngang trông thấy, bảo: “Đậy lại chứ. Lấy cái chi đậy cái

    thúng lại, không gió cuốn bay chụp không kịp chừ”.

    Trong cái quán nhỏ bên đường, em bé gái ngồi chống tay vào má,

    mắt đỏ hoe, mặt buồn thiu trông như một bà già. Mẹ em đã chạy vào

    xóm chữa cháy. Em lẩm bẩm một mình: “Chao ôi, như ri thì lấy nhà mô

    mà ở, cháy hết cả rồi. Ôi, nhà ông nội, nhà ông ngoại cháy hết rồi còn

    chi!”. Đứa em trai chừng sáu bảy tuổi, ở trần, mình lấm đất cát, đầu đội

    mũ lác rách vành. Em vừa chui hầm ra, theo sau là đứa em còn nhỏ hơn

    nữa, người cũng lấm láp như trâu lăn bùn. Đứa em trai hỏi chị, nghe

    như giọng người lớn: “Nhà ông ngoại đã kịp chôn hết lúa chưa?” Một

    anh chàng ở trần, tay ôm một bọc to áo quần và chăn mền, tay cầm

    chiếc quạt giấy từ trong làng chạy ra, ngồi bệt xuống ghế thở. Hai ba

    người nôn nóng hỏi: “Răng, cháy ra răng? Người, có ai can chi không?”.

    Anh trả lời: “Không biết. Nhà tui ở rìa ngoài cùng, nghe hết tiếng đạn

    bắn, là tui chui ra khỏi hầm chạy một mạch đến đây. Trong ấy lửa nóng

    lắm, vô coi răng được”.

    Hai ba nguời ca cẩm: “Cháy hết cả xóm rồi, còn chi. Cháy hết!”. Anh ở

    trần: “Thôi cháy hết nhà đi cho khỏe. Còn cái xác nhà thì còn lo. Cái ăn,

    cái mặc nhà mô cũng lo cất giấu hết rồi, còn có chi trong nhà!”.

    Một tuần nay, ngày nào máy bay địch cũng đến bắn phá nhà dân trả

    thù trận bị ta phục kích. Chiều qua, chiếc bà già lượn lờ chỉ điểm cho

    tàu chiến đậu ngoài biển khơi nã vào hơn hai trăm quả đại bác. Đạn rơi

    xuống ruộng lúa, mỗi quả phá một vạt rộng bằng cái nong, từng chùm

    bốn, năm quả cách nhau năm bước một. May không có ai trúng đạn.

    Khu chợ trúng ca nông, nhà lá cháy, nhà ngói sập. Nhà nào chưa cháy

    thì giỡ hết tranh, để trơ bộ sườn. Thi nhau đắp hầm cho thêm kiên cố.

    - “Đấy, hôm qua có một quả nổ ngay trên nóc hầm, mà người ngồi bên

    trong có can chi mô”. Một số người sợ quá bỏ nhà, ban ngày bồng bế

    con ra tránh ngoài trảng cát, tối mịt mới dám về.

    Tôi vừa nghe chuyện vừa lúi húi ghi chép nguyên văn. Anh ở trần

    lẳng lặng bỏ đi. Anh ra khỏi nhà thì vừa gặp một toán dân quân đang

    định đi chữa cháy giúp bà con trong xóm, nhưng còn lưỡng lự vì sợ máy

    bay quay trở lại. Mấy người thì thầm với nhau. Rồi ba anh đến trước mặt

    tôi, làm như nói chuyện bình thường. Một anh đưa mắt nhìn anh đứng

    cạnh, hỏi ý kiến. Anh kia ra hiệu đồng ý. Thấy chiếc xắc và cái mũ tôi để

    trên cái phản trong nhà (tôi ngồi ngoài cửa), một anh hỏi: “Xắc, mũ ai

    rứa tề?”-“Của tôi đó”, tôi đáp.

    Anh dân quân nói ngập ngừng nhưng lễ phép: “Xin lỗi, anh cho coi

    giấy”. –“Anh làm chi đây mà đòi coi giấy? Có trạm gác mới coi giấy chứ”.

    -“Dạ, tôi không làm chi cả nhưng nhiệm vụ công dân, thấy ai người lạ

    cũng có quyền hỏi”.

    Tôi đưa trình giấy tờ. Anh cầm lấy chuyền cho người đứng sau xem.

    Anh này xem qua tờ Giấy thông hành rồi trả lại. Vẻ nghi ngờ thoáng

    trên mặt, nhưng hình như anh chưa biết nên nói sao đây. Tôi làm ra vẻ

    thản nhiên như không. Mấy anh ra ngoài thì thầm với nhau rồi lảng đi,

    chỉ để một anh ở lại nói chuyện với tôi. Anh nói khá từ tốn. Tôi kể kinh

    nghiệm đồng bào các huyện miệt trong, mỗi lần Tây bắn ca nông, đồng

    bào lấp xóa ngay chỗ đạn pháo nổ, để gián điệp đi dò không rõ đạn bắn

    có trúng đích không, như vậy thì chúng mới không rút kinh nghiệm để

    chỉnh đạn cho lần bắn sau được.

    Tốp dân quân hồi nãy quay trở lại, theo sau là một anh công an áo

    quần gọn ghẽ, đầu đội bê rê có phù hiệu, chiếc thắt lưng da rộng bản

    đeo quả lựu đạn và cây dao găm. Anh công an lại đòi xem giấy. Anh dân

    quân xin lỗi: “Tôi có coi giấy anh rồi nhưng vì văn hóa kém không biết

    răng. Tại anh nói anh sắp đi vô trong xã Phong Chương mà thấy anh

    vẫn cứ ngồi đây hoài. Nhiệm vụ công dân, v.v... ”.

    2-9-1950 (Chiến khu Ba Lòng). Kỷ niệm Quốc khánh 2-9 năm nay

    chúng tôi dự buổi lễ tổ chức tại Trường bổ túc cán bộ Đại đội và Địch

    vận Phân khu Bình Trị Thiên. Mấy anh thương binh đứng nghiêm chào

    cờ. Một anh cụt cánh tay phải, tay áo thõng xuống bên người, tay trái

    chắp sát vào đùi, người nghiêng về bên phải. Một anh hai tay chống

    nạng đứng sững nhìn nghiêng lên lá cờ. Họ không cầm súng được nữa,

    đang theo lớp bồi dưỡng (tập huấn) để làm công tác địch vận.

    Có tin thấy bảy chiếc Dakota liệng đi liệng lại trong vòng nửa giờ

    đồng hồ phía bến Trấm. Có người cho là địch chuẩn bị nhảy dù. Đúng

    là quân Pháp đã từ thị xã Quảng Trị theo đường bộ kéo lên xã Phong

    Sơn, rồi đi tiếp lên vùng núi: Ba Quán, bến Trấm, Teng Teng. Các nhà

    tranh dọc bãi sông Ba Lòng, Bãi Dài đã bị máy bay chúng bắn cháy hết

    trước rồi.

    Đúng là chúng nhảy dù xuống Chiến khu Ba Lòng của ta. Hội nghị

    Phụ nữ Cứu Quốc đang họp tại đây phải rút.

    Tranh thủ làm cho xong mấy việc, chúng tôi quay trở lại đồng bằng1,

    để vào công tác tại Thừa Thiên, theo đúng dự định sau chiến dịch.

    TRỞ LẠI THỪA THIÊN.

    09-9-1950 Chiến khu Thừa Thiên. Làm việc với Tỉnh ủy Thừa Thiên

    xong, tôi định về đồng bằng luôn nhưng gặp trận lũ to nước chưa rút

    hẳn, phải hoãn đến chiều nay. Về đến chợ Phong Thu, mấy anh em tôi

    hai lần tìm đến xã đội bộ nhờ người dẫn đường. Bốn lần qua lại cái cầu

    mục nát bị lũ cuốn trôi vừa bắc lại cây tre trơn và cheo leo, mấy lần suýt

    ngã xuống nước. Không có đò ngang đưa sang sông. Đành quay trở lại

    ngồi nghỉ ở quán nước. Gặp hai anh bạn nữa đâu cũng ở trên Phân khu

    có việc vội về, cùng ngồi lại chờ.

    Đến 5 giờ chiều, tình cờ ra bến sông rửa chân, thấy có chiếc đò chài

    1 “Về đồng bằng” các huyện Triệu Phong, Hải Lăng, để theo đường ven biển

    vòng trở lên chiến khu Thừa Thiên, tránh vùng địch kiểm soát ngặt - ghi chú

    khi đọc lại.

    đang xuôi về, mái chèo nhẹ nhàng, thanh thản. Tôi vội hỏi một người

    đứng gần bờ: “Bây giờ qua sông xuống đến đường quốc lộ, liệu còn kịp

    trước tối không anh?”. Anh bảo đi nhanh thì cũng còn kịp. Chúng tôi

    vội chạy lên quán lấy ba lô. Tội nghiệp bà mẹ bán quán đã đổ gạo vào

    nồi định cho cán bộ ăn tối, thấy chúng tôi vội vàng, bà nói: “Thôi các

    anh cứ đi đi cho được việc. Nồi cơm để mặc tôi lo. Vì bữa ăn mà để trễ

    công việc thì không nên”.

    Xuống đến bến, chiếc đò vừa rời khỏi bến sang ngang. Anh bạn gọi:

    “Ê, ê, này đò, lui đây đã!”. Chiếc đò từ từ quay mũi lại, đến sát bờ nhưng

    người chèo đò cự: “Anh gọi chi lạ thế? Gặp chuyến đò, anh nói một lời

    tử tế, tôi cho sang ngang chứ lui, lui cái gì?”. Biết mình hớ rồi, chúng

    tôi xin lỗi. Người chèo đò, một thanh niên mặc áo nâu, quần cụt: “Ý tôi

    muốn nói là sẵn đò, đưa các anh qua một chút không ngại chi, nhưng

    các anh nói năng cách ấy, tôi không rõ các anh là lính bảo vệ (ngụy) hay

    là người phía mình”.

    Sang được bên kia sông thì đã gần tối. Ngày mưa, chóng tối lắm.

    Chúng tôi đi như bay theo con đường mình đã biết, hy vọng về vùng ven

    kịp trước khi anh em có nhiệm vụ cảnh giới đường rút về (đoạn đường

    này cán bộ, bộ đội vẫn thường xuyên qua lại, mỗi khi cần lên chiến khu

    hay về đồng bằng, nhưng lại rất gần đồn địch). Nhưng chúng tôi đã

    không tính chuyện nước to, chỗ lội bộ qua cái khe hôm nay không qua

    được nữa.

    Đành dừng lại, đến túp lều gần đó, một căn lều thấp tè nấp dưới hàng

    tre, đứng xa tưởng khuất sau cỏ tranh rậm rạp vì ruộng vườn đường sá

    bị bỏ hoang lâu ngày. Một phụ nữ chạy ra, chúng tôi thoạt gọi là mẹ

    nhưng nhìn kỹ thấy chị chỉ vào khoảng ngoài ba mươi tuổi. Chị thốt

    lên: “Chao ôi, răng các anh về túi rứa? Chỉ (đường cho các anh) mần

    răng được, tôi có chỉ rồi xuống dưới kia các anh cũng đi lạc mất thôi.

    Hôm trước đã có mấy anh lạc đường rồi. Mà tui chỉ có một mình, tui

    không đưa các anh đi được”.

    Chúng tôi nài nỉ: “Chị làm ơn giúp cho chúng tôi đi, có công việc gấp

    dưới ấy, ở lại một ngày là trễ thêm một ngày”.

    Người đàn bà trẻ trù trừ: “Đi một mình, hồi nữa trở lên tôi sợ gặp beo

    lắm. Các anh nhờ ai thêm một người nữa cùng đi với tui”. Biết nhờ cậy

    ai lúc này! Mà chậm một phút là mất đi thêm một phút, đã nhọ mặt

    người rồi. Lúc này ở quãng đường quốc lộ 1 ấy đã xôn xao kẻ lên chiến

    khu người xuống đồng bằng. Chị dỗ đứa con trai lên bảy lên tám vừa từ

    trong nhà chạy ra: “Con cùng đi, để hồi nữa lên với mạ, hí”. Đứa bé lúc

    đầu không chịu nhưng rồi cũng bằng lòng.

    Đi ngang qua một nền nhà cháy từ lâu, chị cúi nhặt một khúc tre dài

    vác lên vai, vừa đi vừa nói: “Không đưa các anh đi thì tội, đưa thì hồi

    nữa lên tôi chỉ sợ gặp beo thôi”.

    Nhìn đứa bé lon xon chạy theo mẹ, nhìn người đàn bà ăn mặc luộm

    thuộm, dáng điệu vội vàng, cây tre vác nghiêng trên vai, lủi vào giữa

    các bụi bờ qua các ngõ hẻm bấy lâu đã vắng dấu chân người, tôi thấy

    xúc động nôn nao thắt cả dạ. Con đường len qua đồng cỏ dại. Xưa kia

    đây là làng xóm, bây giờ mọi người tản cư đi nơi khác cả; đường sá bỏ

    hoang, tre pheo vườn tược rậm rịt, thỉnh thoảng bọn Tây trong đồn ra

    phát cỏ đốt bớt đi cho tráng để đỡ bị dân quân ta phục kích. Đến một

    chỗ, người đàn bà đừng lại thì thầm: “Đồn hắn ở sát bên ni rồi, chừ các

    anh cứ đi một đoạn nữa, vòng qua tay trái là đến đường quan thôi”.

    Hai mẹ con dắt nhau lui. Chúng tôi đi thêm một đoạn nữa, càng đi

    càng thấy rối. Chẳng biết vòng qua tay trái ở chỗ nào. Bây giờ, tôi mới

    thấy mình dại, không thuộc đường rất dễ lạc vào đồn. Cái cách chỉ

    đường rẽ qua trái, quẹo sang phải của đồng bào thôn quê ta mơ hồ lắm.

    Mà có mò ra được đến quốc lộ 1 nhưng không đúng khúc đường cán bộ

    vẫn lên xuống chiến khu, nhỡ anh em ta đi cảnh giới nhìn thấy tưởng

    địch ném cho quả lựu đạn thì toi. Tôi thì thầm bảo anh bạn đi trước hay

    là ta quay trở lại. Nhưng quên mất đường trở lại rồi, cứ lủi bậy qua bụi

    qua bờ. Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu tôi: “Nếu người đàn bà cố tình

    dẫn mình đến đây rồi vào báo cho Tây mà lĩnh thưởng?” Lý trí tin chắc

    không thể nào xảy ra một chuyện như thế đối với đồng bào ta ở đây;

    nhất là lúc đêm hôm thế này, ai dám tới gần đồn báo cho địch, nhưng

    trong bụng vẫn cứ sợ cứ lo.

    Anh bạn đi trước, anh bạn đi sau tôi cùng bước đi, chân họ bước đi

    xuông (quệt) vào cỏ dại phát ra tiếng động, sao nghe to vậy. Bây giờ

    không còn định hướng được đồn Tây nó đóng về phía nào; con đường

    mòn tìm mãi không ra, muốn đánh bật lửa lên để nhìn thì sợ lộ. Trời

    sau cơn mưa còn đầy mây nặng, cây cối rậm rạp tối như hũ nút. Anh

    nào cũng chờ nhau, không ai muốn đi lên trước. Tôi gắt: “Phải thoát ra

    chỗ này, nếu cứ ở đây thì chết hết”. Gặp một căn nhà bỏ hoang, mái chỉ

    còn vài tấm tranh chơ vơ. Một anh nói: “Chắc còn có đồng bào ở gần

    đâu đây”. Tôi nghĩ: “Không phải thế đâu, đây trước kia là nhà, giờ gần

    đồn quá, bà con bỏ đi nơi khác rồi”. Ý nghĩ ấy làm mình càng thêm sợ.

    Tìm tới tìm lui mãi tôi phát hiện một dấu đường mòn khá rộng,

    chứng tỏ có người vẫn lui tới trên khúc đường này. Chắc đã có đường thì

    con đường phải dẫn tới một chỗ nào chứ. Con đường dường như vòng

    quanh một cái lùm cây. Đến một chỗ, người đi trước tôi buông thõng

    hai tiếng: “Hết đường!”-“Cố tìm thử xem”. -“Hết”.

    Tôi cúi người, vạch cỏ, cố giương to mắt nhìn tứ phía. Bên phải là cái

    lùm cây. Bên trái là ruộng. Ác nghiệt trận lũ vừa rồi dâng rều rác lên,

    xóa hết dấu vết như cố tình đánh lạc hướng chúng tôi. Bên kia ruộng là

    đồi cây. Sang đến được quả đồi bên ấy thì ngồi chờ trời sáng cũng được.

    Nhưng ruộng sâu lắm. Đành quay trở lại. Đến một chỗ rẽ, anh liên lạc

    cùng đi với tôi nói: “Có tiếng chân ai đi sau lưng mình”. Chúng tôi chạy

    vụt nấp vào bụi. Bỗng cùng với tiếng súng lên đạn lách cách, một tiếng

    thét: “Ai? Đi mô?”

    - Chúng tôi đây - tôi vội đáp.

    - Đứng lại!

    Tôi biết không phải là địch rồi, vội hỏi tiếp:

    - Cảnh giới phải không?

    Lại nghe nhóm người bên kia xì xầm:

    - Rút chốt lựu đạn!

    Tôi đáp:

    - Đi tới đây một người.

    - Đứng im, không tôi liệng lựu đạn.

    Sau phút căng thẳng, nhận ra nhau, anh dân quân xuýt xoa; “May

    các anh lên tiếng kịp, không tôi ném lựu đạn rồi. Nhờ nghe hai tiếng

    132 T ừ n g u ồ n T h ạ c h H ã n . . .

    cảnh giới của anh đó. Nhiều lần bọn lính bảo vệ lừa cho chúng tôi tới

    gần rồi lao ra chụp tóc luôn. Nghe động, biết có người, bầy tui thất sắc

    khi tưởng đêm nay hắn ra phục kích. Răng các anh về tối rứa? Đi lạc à?

    Tội nghiệp quá, thôi, đi theo chúng tôi”.

    Tôi thở hắt ra, nuốt nước bọt lúc này mới thấy miệng mình đắng.

    Anh bạn cùng đi cũng nói với tôi cảm giác đó.

    15-9-1950 Chúng tôi lại băng qua đường số 1 đi ngược trở lại, lên

    vùng chiến khu Thừa Thiên.

    Vẫn nghỉ lại xóm nhà thuộc xã Phong Thu quen thuộc. Nhà chật chội,

    mỗi cái chừng dăm chục tấm tranh. Bị Tây đốt, vừa dựng lại, không biết

    lần này là lần thứ mấy. Hai ba gia đình ở chung một nhà. Bà mẹ vừa đi

    chợ Phò Trạch mua gạo về; thúng gạo và mấy xấp thuốc lá còn vứt giữa

    nhà giao cho hai đứa con gái nhỏ coi, bà chạy sang nhà hàng xóm ăn

    kỵ. Hai chị em đang lom khom đun nước. Lát sau thấy hai người đàn

    ông về. Họ vừa đi săn heo rừng, mỗi người cầm ở tay mấy miếng lẫn

    xương, phần mình vừa được chia, đưa cho đứa con gái, “Để kho, mai ăn

    với cơm” - ông dặn con. Người đàn ông cao lớn, áo nâu vá, người tróc

    vảy, có lẽ vì ông dang nắng quá chăng? Cười hề hề, nói chuyện cởi mở.

    Thôn này bầy tui chỉ có hai tiểu đội dân quân, thành ra cứ cách một

    đêm đã phải đi gác một đêm, một thôn mà có đến ba vọng gác. Phụ nữ

    gác ban ngày, đàn ông ban đêm. Ông phàn nàn về cơn lụt tháng bảy bất

    thường, có nơi lúa mới ngậm sữa, bữa ni sau ba ngày rồi mà mà chưa

    thấy lúa giơ ngọn. E đói quá. Phải lo trồng thêm sắn thôi. Vụ sắn vừa

    rồi heo rừng ra phá cả.

    Chị phụ nữ thổi cơm cho chúng tôi. Không có thức ăn, đi mua thịt

    lợn rừng chẳng ai chịu bán. Một chị thuộc gia đình khác thấy vậy mở

    mo cau gác giàn bếp xuống, lấy ra một nắm cá khô. Cá to bằng ngón tay

    cứng đờ, để vậy cho vào nồi kho cho nhiều nước, chan cơm ăn. Bà con

    trải chiếu xuống đất, nhường ghế cho mấy ông khách.

    Sáng sớm, gia đình này vừa hạ nồi xuống, gia đình kia đã bắc nồi lên,

    vẫn cái bếp chung ấy. Cái nhà nhỏ như cái quán bán nước bên đường

    mà có đến bốn gia đình cùng ở. Cơm rất ít, toàn là sắn với sắn. Nước

    ruốc kho trong cái trách bể1. Hai gia đình dọn cơm ra ăn. (Hai nhà ăn

    một đợt, hai nhà kia cơm chưa kịp chín). Không khí chan hòa. Nhà có

    khúc sắn tươi mời nhà ăn sắn lát. Ông nông dân có thịt lợn rừng tối

    hôm qua, múc hai bát nước trao cho hai đứa bé thuộc hai gia đình kia:

    “Này, phần mi”. Một bà mẹ nói: “Thôi để chú ăn, chứ được mấy bát mà

    chia phần hết, còn chi”. Nói thế thôi nhưng không phải không nhận.

    Ông nông dân tém tém những lát thịt ít ỏi còn lại trong trách sau khi

    chia phần cho con hàng xóm, rồi đứng lên. Mẹ con rửa chén bát, kịp

    nhường cỗ cho hai nhà ăn đợt sau.

    Hôm sau, ăn sáng xong, mấy người đàn ông lại rủ nhau đi săn. Nghe

    nói có con heo rừng đang bị vây trong nương sắn bác Của. Phụ nữ, một

    người đi chợ, một người đi làm cỏ sắn. Một bác ngồi bệt giữa nhà, lấy

    tấm đệm lót và xắt thuốc lá hút. Trẻ con nô đùa ầm ĩ. Bà mẹ mắng yêu:

    “Cha hắn, cả lũ lên đây xa Tây, sướng lắm. Ngày nào cũng rộn lên, ngày

    nào như ngày ấy. Cũng bui (vui)”.

    …Đường từ quán chị Cầm về chợ Phò Trạch. Vừa vượt qua quốc lộ 1,

    bắt đầu đi trên trảng cát. Mấy người, đàn ông có đàn bà có, gánh mây

    song từ mạn trên về đồng bằng bán. Nói chuyện hăng lắm. Tôi nghe

    loáng thoáng, hình như chuyện về một người từ bên này đường quốc lộ

    (vùng đồng bằng) mang thịt trâu lên vùng trên (vùng đồi) bán không

    có giấy phép, bị dân quân tịch thu. Hai thôn cùng một xã, xã rộng, và bị

    chia cách bởi con đường quốc lộ 1 và con đường xe lửa chạy song song.

    - Anh thách người ta như rứa là sai rồi - bà con vẫn chuyện trò. Người

    ta có đổ đi thì anh cũng phải chịu thôi. Đời chừ còn được rứa đó, cứ

    như ngày xưa, coi. E anh đã phải cuốn triêng gióng (cái đòn gánh và đôi

    gióng) về, mà khóc ở nhà rồi.

    - Thời trước, thì tui đã không nói rứa. Thời ni tui mới dám nói. Tui

    gánh thịt bán không có giấy giới thiệu, chuyện chưa ngã ngũ ra răng,

    anh công an đã vội chạy ra hống hách: “Đổ tất cả, chôn tất cả đi cho

    1 Trách bể là cái trách vỡ, thường người ta vứt bỏ. Do hoàn cảnh kháng chiến,

    bốn gia đình dùng chung một cái trách, nhà này nấu xong, ăn luôn, hoặc múc

    ra đọi (bát), để nhường cái trách cho nhà kia nấu.

    tôi!” Tôi thách anh ấy chôn, tui thách thiệt đấy chứ nói chơi à. Còn

    chuyện cái chị X kia nữa. Ai lại nói: “Anh người thôn M. thì mang thịt

    về dưới thôn ấy mà bán... ”

    Bốn năm tiếng nhao nhao:

    - Chị ấy nói rứa thì sai rồi.

    - Đó là tính cá nhân.

    - Nói rứa là còn nặng tính địa phương.

    - Thời ni, đi mô đồng bào cũng phải bao bọc (đùm bọc) nhau chứ.

    Tôi nghỉ qua đêm ở thôn Phò Trạch. Đến nơi thì khá muộn. Thấy

    một nhà còn có ánh đèn, tôi thò đầu vào, xin nghỉ lại. Một người con

    gái đang đan bao lác giữa nhà, nhờ vậy mà nhà còn có ánh đèn. Khuất

    trong bóng tối, trên tấm phản, tiếng một người đàn bà đang dỗ đứa

    con khóc dai. Một cái rương kê sát cửa sổ phía trông ra sân, đồ đạc lổng

    chổng trên mặt. Người đàn bà hỏi:

    - Anh nghỉ trên rương nớ được không?

    Tôi cho như thế là tuyệt rồi. Cô con gái đứng lên dọn dẹp đồ lề1 trên

    mặt rương và lau bụi trong khi tôi thay quần áo.

    - Anh ở trong ra hay từ côi (trên chiến khu) về?

    - Côi về.

    - Chà, dạo ni anh em qua đường lúc mặt trời chưa tắt hay răng mà về

    đây sớm dữ.

    Tôi đi nằm. Có tiếng người ngoài sân. Rồi một chị thanh nữ bước vào,

    ngạc nhiên thấy có người lạ:

    - Ai rứa?

    Chị chủ nhà đang dỗ con ngủ trả lời:

    - Có anh cán bộ. Anh vô trong nhà ôông rồi, thấy tắt đèn nên ra đây.

    Chị mới vào, tôi đoán là em chồng chị chủ nhà, hỏi tôi:

    - Anh nơi mô lại?

    1 Dụng cụ dùng thường ngày (BTV).

    Tôi nói vui “Trên trời rơi xuống chị ạ”, nhưng vội chữa ngay: “Anh em

    tôi ở chiến khu về”. Chị giải thích:

    - Tôi hỏi rứa là vì có người lạ đến nhà phải báo cáo với khu đội trưởng.

    Đã có ai coi giấy tờ anh chưa?

    - Đã có người coi khi vào cổng làng.

    Chị mới vào ngồi xuống chỗ đan bao, vừa đan vừa nói: “Cho xin mấy

    sợi về tết cái dây cột xắc. Dây xắc tôi đứt rồi”.

    Chẳng qua chị thuận tay đan cho vui. Lát sau một em bé chừng mười

    hai tuổi vào. Người mẹ cười:

    - Họp về sớm hè.

    Chị hàng xóm hỏi:

    - Răng, chuyện gà xong chưa?

    Chú bé ngồi bệt xuống đất dựa lưng vào cột nhà, chỗ này có lót sẵn

    một nắm lá cho đỡ đau lưng:

    - Xã phát cho mỗi đứa ba chục đồng.

    Chị hàng xóm nói:

    - Làm răng mọi người cùng đi mua gà rồi cùng mang hội lại, gà phải

    to bằng nhau; rồi sau này gà ai đẻ trước sẽ được điểm thi đua, chứ có

    người đi tìm mua con gà mái thiệt bự, vài bữa gà đẻ trứng cũng tính

    điểm à?

    - Đoàn thể phát cho mỗi đứa ba chục, nhà nào quý con, muốn con

    mình giật giải thì mua con gà năm sáu chục đồng cũng được. Miễn sao

    đàn gà đẻ cho nhiều, để gây quỹ cho đoàn. Nhưng làm sao chớ để Tây

    hắn ăn hết như đàn gà của thanh nữ dạo trước.

    Chị hàng xóm phủi tay đứng dậy, rút thuốc lá cuốn một điếu hút

    rồi bảo đứa cháu: “Đi ra ngoài ni với tau một chút”. Đứa cháu hỏi: “Đi

    mô”, chị không trả lời nhưng nó vẫn đứng dậy đi theo. Hai người khuất

    vào bóng đêm. Tôi thiu thiu ngủ. Người đàn bà dỗ con ngủ xong, lặng

    lẽ xuống đan bao lác. Lát sau, thấy một thanh niên xách cây đèn đến:

    “Xin anh cho coi giấy”.

    Chị hàng xóm và đứa cháu tò mò đứng xem anh dân quân xem Giấy

    thông hành của tôi. Tôi phải nheo mắt lại khi anh giơ cao cây đèn coi

    vết tích đặc biệt trên mặt có giống như ghi trong giấy hay không.

    - Anh cho xem chứng minh thư.

    Xem xong, anh trả lại, lễ phép:

    - Xin lỗi anh, nhiệm vụ của chúng tôi là phòng gian cho nên phải

    xem kỹ giấy tờ của tất cả những ai đến ngủ lại. Thành ra phiền anh.

    Nhưng như ri, lỡ khuya có chuyện chi, chúng tôi biết mà đưa anh đến

    chỗ an toàn...

    Anh dân quân ra về. Chị hàng xóm nói như phân bua:

    - Phải tin cho họ biết, không có sáng mai họ lại nói mình vô kỷ luật.

    Sáng tôi chưa thức dậy đã nghe tiếng ông chồng gọi vợ dậy nấu cơm.

    Tôi vừa rửa mặt xong, đang sửa soạn ba lô lên đường thì cơm cũng vừa

    chín tới. Bà vợ lật đật dọn cơm ra chõng. Ông chồng níu ba lô tôi đã đeo

    lên vai, giữ lại:

    - Ồ, bầy tui nấu vội vàng là để anh kịp ăn một miếng trước khi đi.

    Bà vợ cũng mời rất nồng nhiệt. Thôi đành nán lại. Cơm ghế sắn. Canh

    vỏ sắn thái nhỏ ngâm chua nấu với cá. Còn có cá kho khô, cá gia đình

    đơm được, chứ không phải mua. Chị vợ gói cơm trưa cho chồng đi thăm

    lúa mãi trong bàu, cái lụt vừa rồi không biết nay lúa bị ngập đã bày

    ngọn chưa...

    ... Lại nhớ hôm ở xã Quảng Ngạn, ven biển. Trời chiều. Nắng chiều

    chiếu biển rất đẹp. “Gió mạnh, sóng hơi to”, cụ già nói. Cụ già mặc áo

    rách giơ cái lưng nâu, ngồi cặm cụi đánh tranh rơm che nhà - mùa đông

    sắp đến rồi, nhà lại trở mặt ra biển. Tôi hỏi chuyện. Cụ ngước mắt lên

    nhìn. Bộ mặt nhăn nheo, tiều tụy, đôi mắt dử ghèn dưới chiếc nón cời.

    Tôi hỏi tình hình Tây khủng bố ra sao. Cụ đáp: “Hết, thôn tui đây hắn

    phá hết. Chiếc ghe mới tê, là ghe mới kéo dầu, tốn hết ba mươi ngàn đó.

    Sạch vốn liếng rồi, ba bốn nhà phải chung nhau sắm một chiếc. Rứa mà

    hắn vừa đốt của thôn ni hai chục chiếc ghe. Khổ hơn nữa là hắn tìm đốt

    nghề (lưới), không có nghề lấy chi làm ăn”.

    Tôi hỏi sao bà con không chôn giấu đi. “Thì có được tin trước mô. Biết

    thì đã chèo ghe trốn đi rồi, còn đỡ. Chưa sáng, hắn đã đến tận bên lưng.

    Khi đó chỉ có lo chạy lấy cái mạng mình. Bầy tui chừ sợ nhất là đói. Hôm

    qua hắn vừa bắn chìm một chiếc ghe đi làm nghề. Chết bốn người. Hai

    chiếc tàu thủy chuyên khủng bố đó mà, hắn rà ven biển luôn”.

    Ông lão cúi xuống đánh tiếp tấm tranh, và hỏi tôi: “Răng anh không

    nói mấy cháu nấu cơm ăn một miếng rồi đi cho chắc bụng. Tắt mặt trời

    mới có thể qua được được Cửa (Thuận An) kia mà”.

    HỨNG ĐẠN TẠI "AN TOÀN KHU"

    20-9-1950 Gặp lại Bùi Hiển ở đồng bằng Nam Thừa Thiên. Một

    đồng lúa bát ngát. Mấy làng nghèo... Vẫn nghe ca nông địch từ đồn Sư

    Lỗ bắn vu vơ nhưng ở đây lại an toàn. Hình như chúng nó ngại băng

    qua đồng ruộng ấy, bởi chỉ cần con gà con vịt, thêm một ít chất tươi,

    cho nên chỉ quanh quẩn lùng sục vơ vét mấy cái xóm gần bốt là đủ, và

    nhất là cho... an toàn, khỏi lo viên đạn bắn tỉa của du kích chẳng ai

    biết đang rình mò nơi mô. Đúng. Mình cần nơi an toàn. Nó cũng cần

    an toàn lắm chứ.

    Có lẽ nhờ vậy mà mấy cái làng nghèo này là chốn tụ hội nhiều văn

    nghệ sĩ. Các bạn Thừa Thiên đã đành. Cánh từ Liên khu vô như bọn

    chúng tôi cũng tìm về đây. Bùi Hiển, Minh Huệ, Nguyễn Văn Thương,

    Văn Ký, Minh Hiệu, Đình Quang... Một hôm cả ngày lục đống ghi chép,

    cố đẻ cho ra một bài báo gửi về tòa báo, đêm mệt đi nằm sớm. Tỉnh dậy

    sau một giấc ngon lành, nghe có tiếng guitare bập bùng dịu dàng ra

    phết, nhìn ra ngoài thấy ánh trăng non.

    Trong bóng tối có tiếng chuyện trò lầm rầm, rồi tiếng đàn guitare cất

    lên, khi nhanh khi chậm. Thì ra hai ông nhạc sĩ vừa kiếm đâu ra được

    cái đàn, “ôn luyện” cho các ngón tay đỡ cứng. Ông Văn Ký cũng nhân

    thể nhờ bậc đàn anh là ông tác giả Đêm đông bày thêm cho mấy ngón

    trò nhấn nhá.

    Tôi cũng chẳng buồn xem đồng hồ. Mấy giờ rồi? Mình lại ngủ.

    Nói vậy nhưng tiếng đàn xập xình trầm bổng lại gợi nhớ miên man.

    Nhớ cách đây hai năm, tại cái thôn Sơn Trung dưới chân Núi Nưa ngoài

    Thanh Hóa. Nguyễn

    Văn Thương và tôi được

    sắp xếp ở chung một

    ngôi nhà kha khá, vợ

    chồng chủ nhà ở nhà

    dưới, dành cả căn nhà

    trên là nơi đặt bàn thờ

    tiên tổ cho hai ông nhà báo. Ông Thương lớn tuổi hơn tôi cả một giáp,

    trước Cách mạng tháng Tám đã nổi tiếng với các bài hát Bướm trắng,

    Đêm đông…, vậy mà chuyện trò hằng ngày ông cứ toa, moa thoải mái.

    Đi đâu ông nhạc sĩ cũng mang theo cáo đàn guitare nhét trong cái túi

    vải nâu xấu xí trông như cái bị ăn mày, nhưng là của quý lắm đó nghe,

    chớ có đụng vào.

    Tôi nhờ ông tôi tập đàn guitare. Ông dạy rất kiên trì. Nhưng thằng

    này, cha mẹ đẻ ra không cho cái khiếu về nhạc. Cũng thích hát, cũng

    muốn đàn, thế mà lên mấy sợi dây đàn lúc nào cũng phô, thầy lần nào

    cũng phải chỉnh. Phát cáu, thầy mắng: “Tai toa là cái tai trâu!…”. Mắng

    mà vẫn dạy, toa và moi vẫn cứ bập bùng bập bùng trầm bổng bên ngọn

    đèn leo lét cho tới khuya…

    Bút tích Nguyễn Văn Thương đề tặng ảnh

    Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương (phải) và Phan Quang.

    Lại nhớ cái đêm giữa sân ngôi nhà dành cho thư ký tòa soạn, đủ chỗ

    kê cái bàn rộng để dàn trang làm ma két cho số báo hôm sau, có cái sân

    lát gạch phẳng phiu - hình như đây là cái nhà duy nhất trong làng này

    có sân lát gạch. Gần đủ mặt anh em trong tòa soạn tụ họp giữa sân,

    nghe nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương trình bày khúc nhạc vừa phổ bài thơ

    Chiều chiều của Chế Lan Viên làm đâu cả chục năm về trước, trên cây

    guitare hawienne tự tay ông chế tác từ cái espagnole vẫn giấu trong túi

    vải nâu. Tiếng nhạc nỉ non, hợp hơi bài thơ thương nhớ tuổi học trò,

    thỉnh thoảng chững lại bởi một syncope (nhịp lệch) như tiếng nấc của

    ai… Gặp nhau một chiều/ Xa nhau trọn kiếp/ Mà lòng còn yêu/ Mà còn ngỡ

    hẹn…/ Gặp nhau một chiều/ Trăm chiều lạnh lẽo/ Ngàn chiều quạnh hiu…

    Trong một góc sân không có ánh đèn, Chế Lan Viên cúi đầu nghe,

    mái tóc bù xù xõa xuống trán.

    Càng nhớ hôm tôi đang lụi cụi làm tin chợt nghe tiếng Nguyễn Văn

    Thương gọi giật: “Diêu! Toa nghe đây: Hướng về Nam… Ai từng qua sông

    Hương từng nương Thiên Mụ từng ngụ Đập Đá, Văn Xá, Truồi, Nong… Thừa

    Thiên vậy là tạm. Moa người Huế mà. Còn Quảng Trị… Toa vừa mới từ

    trong ấy ra, toa xem có tên làng tên đất nào chưa đúng thì bảo moa chỉnh

    lại: “…Ai đã qua Đông Hà, Ngô Xá, Bích La, Triệu Phong…”. Ông đang làm

    lời cho bài “Bình Trị Thiên khói lửa”, làm gấp cho xong để anh Hải Triều

    sắp lên Việt Bắc họp mang lên cho các bạn văn nghệ ngoài Trung ương…

    Mơ màng hoài rồi ngủ thiếp lúc nào không biết, cho đến khi ai đó

    đập một cú thật mạnh vào cẳng chân: “Thằng này! Trời sáng trợt rồi

    mà vẫn ngủ! Dậy! Dậy chuẩn bị sẵn sàng! Nghe đồng bào nói hôm nay

    có thể Trâu ra”.

    22-9-1950 Bùi Hiền vừa thì thầm với tôi: “Ông Châu mời anh em

    mình lên trên ấy nghỉ mấy ngày. Ông khoe có nhiều báo sách lắm, toàn

    mới cứng, giấy chưa ai rọc, cơ sở của ông ở Huế đặt mua, từ Paris gửi

    thẳng sang rồi chuyển lên. Cả một thư viện, ông bảo thế (!).

    Ta đi luôn đi. Cánh nhạc chúng nó chẳng thiết gì đến sách đâu. Cậu

    Minh Huệ lại vừa biến đâu mất. Ông với tôi thôi. Ta đi đi. Mấy tháng rồi,

    chẳng có gì đọc, chán quá.

    24-9-1950 Lên tới nơi, mới thấy tại sao ông Châu1 kêu là “thư viện”.

    Khu căn cứ của riêng ngành công an nấp trong khu rừng tre lồ ô. Anh

    em cán bộ, chiến sĩ ở nơi đâu, không biết. Chỉ thấy không xa cái lán tạm

    nhà khách, cách một quãng đồi, lối mòn đi kín đáo, an toàn dưới bóng

    tre. Ông Trưởng ty cho dựng lên nơi đây một cái lán đơn sơ như bất kỳ

    lán trại nào trên chiến khu, chắc mới làm gần đây, tre nứa chưa kịp khô,

    mấy cái cột nhà khúc trên đã khô trắng, khúc dưới còn màu xanh của

    tre mới đốn. Độc một gian nhưng khá rộng. Bốn chung quanh dựng các

    giàn làm theo kiểu giá sách, trên giá xếp gọn gàng, phía bên này sách,

    phía bên kia báo và tạp chí. Chính giữa là cái bàn rộng dùng làm nơi

    cho anh em đọc sách. Tấm đan mặt bàn nứa đã trắng, nhưng các cọc tre

    chôn xuống đất vẫn còn tươi...

    Bùi Hiển và tôi như chuột sa chĩnh gạo. Ngày hai bữa, đã có anh bảo

    vệ trẻ lo cho, cơm bưng nước rót, tiêu chuẩn dành cho “hai ông khách

    quý từ Liên khu vô” cũng khá. Thế là chúng tôi đến bữa chén cho căng

    bụng, rồi chúi mũi vào sách, từ sáng cho đến lúc chiều rừng sập xuống.

    Bùi Hiển nhìn đồng hồ đeo tay, tiếc rẻ: “Sao chưa tới năm giờ mà đã tối

    mịt thế này!”.

    Đúng là sách mới tinh, hầu hết chưa rọc. Ngoài ông Trưởng ty, mà

    ông thì chẳng mấy khi nhìn thấy mặt ông nơi đây, còn cán bộ, chiến sĩ

    công an mấy ai thèm ngó đến. “Chắc ông Châu tích trữ, chờ ngày độc

    lập rinh bộ này về Huế trưng đây!”. Tôi nghĩ thầm, không tiện nói ra,

    kể cả với Bùi Hiển.

    Nhiều cuốn sách, phần lớn của Nhà xuất bản Editions Sociales, Paris,

    hầu hết mới phát hành, mới xuất bản. Cũng có một số đã từng nghe

    tiếng cái đầu đề, còn hầu hết mới nhìn thấy lần đầu. Paris thất thủ của

    Ilya Ehrenburg, Những người bất khuất, Vladimir Pozner, Những câu

    chuyện chiến tranh, Konstantin Simonov,... Có cả Sự im lặng của biển,

    đọc xong rồi mới biết cái ông tác giả Vercors là dân Pháp, còn người

    viết Trên các nẻo đường Nga tên rất lạ, hình như la người Anh hay Mỹ...

    1 Tập kết ra Bắc, anh Trần Việt Châu công tác tại ngành ngoại thương. Chị làm

    việc tại Phòng Tư liệu - Thư viện báo Nhân Dân cho đến khi về hưu.

    Nhà văn Bùi Hiển (1919-2009)

    ... Đang ung dung thế, bỗng

    một sáng trời hửng nắng. Cữ

    này đang mùa mưa lụt, ẩm ướt,

    vậy mà sáng nay mặt trời qua

    bóng tre rọi vào tận trong “thư

    viện” như giữa hè. Càng thích,

    chứ có sao!

    Bỗng dưng nghe tiếng rít lạ.

    Rồi hai chiếc máy bay Spitfire

    từ đâu xộc đến gầm rú, tiếng

    mấy bay gào, tiếng đạn xé réo

    réo trên đầu. Hai anh em vội

    chạy ra hầm trú ẩn.

    Làm sao chúng nó lần ra được, và bắn phá đúng cái chỗ này? Lộ mất

    căn cứ tuyệt mật của ông rồi, ông Châu ơi!

    Nửa tiếng đồng hồ. Đúng nửa tiếng, không sai. Tháng trước tại chiến

    dịch Phan Đình Phùng, nó đến đốt cháy làng xóm mình ở Lệ Thủy, Vĩnh

    Linh, tôi đã nhiều lần nhìn đồng hồ, sau nửa tiếng là có thể yên tâm.

    Hình như xăng dầu của nó, mỗi chuyến đi oanh kích, chỉ đủ cho nửa

    giờ. Nhưng nửa giờ hứng bom đạn, dài bằng cả chục năm!

    …Cái lán sách bị đạn bắn nát tơi bời. Hình như loại máy bay này

    chỉ bắn thôi, không thả bom. Nhưng dữ lắm. May mà nhà không cháy.

    Sách báo đổ ngả nghiêng do bầu không khí nơi rừng núi đang yên lành

    bỗng dưng hỗn loạn khi hai chiếc chiến đấu cơ nhào xuống rồi bốc

    lên, tiếng rít lúc nó bốc lên nghe càng đáng sợ. Có mấy tờ báo từ trên

    giá bay xuống đất. Bùi Hiển tìm cái ba lô của mình, mà lúc nào đi đâu

    ông cũng mang kè kè theo người. Bên trong có bộ quần áo nâu và mấy

    tập sổ tay ghi chép. Ba lô chỉ bị thủng có mấy chỗ, chắc tại mảnh đạn

    xuyên qua. “May quá”, Bùi Hiển nửa như cười, nửa như mếu.

    Chiều, hai anh em ra suối tắm, chuẩn bị sáng sớm mai chuyển đi

    nơi khác, rồi tìm cách về lại đồng bằng. Đã lộ rồi, thế nào máy bay nó

    cũng lại tìm đến, đây còn gì để có thể gọi là “an toàn khu”! Bùi Hiển

    tắm xong, lấy bộ quần áo nâu trong ba lô ra thay. “Ôi thôi!”. Nghe tiếng

    than tôi ngó sang. Ông anh ngao ngán lắc đầu, hai tay giang cao chiếc

    áo nâu thủng lỗ chỗ, thành ra chỗ nâu chỗ trắng như… vải hoa!

    Thì ra, chỉ có hai hay ba viên đạn xuyên qua ba lô, nhưng bên trong

    bộ áo quần gấp vuông vắn thành nhiều lớp - Hiển vốn là người kỹ tính

    - thành ra một lỗ đạn xuyên, có cả chục chỗ thủng!1

    TRÊN ĐƯỜNG RA BẮC

    Tháng 10-1950 Tôi vừa gặp lại chị Th.

    Tôi ghé thăm chị, bởi nghĩ rằng chuyến này cơ quan gọi trở ra gấp

    vùng tự do, chắc có việc gì ngoài ấy đang chờ, chẳng biết bao giờ mới

    trở lại đây.

    Cách đây hơn ba năm, khoảng cuối 1947 đầu 1948, lớp cán bộ trẻ

    chúng tôi thường lui tới cái quán của chị tản cư ở thôn Cổ Lũy. Hay

    là quán của mẹ chị thì đúng hơn, bởi vì chị làm Bí thư Hội phụ nữ xã.

    Nhưng dĩ nhiên chúng tôi chỉ “quan tâm” đến chị và bây giờ cũng chỉ

    nhớ có chị. Bọn trẻ chúng tôi hay đến cái quán ấy, nói là để bàn và

    kết hợp công tác với các mẹ các chị ở xã, có khi cũng để mua chút quà

    vặt, nhưng chủ yếu là để gặp chị bí thư. Một cô con gái tiểu thương,

    hồi ở thị xã cũng có học hành được chút ít, hình như đến lớp nhất lớp

    nhì gì đấy. Hai mẹ con mở hàng bán bánh kẹo, bà mẹ làm rất khéo

    tay. Cách tiếp đãi thì đon đả, lịch sự. Cán bộ trong vùng lui tới nhiều,

    bộ đội có, công an có dân chính có nhiều người rắp ranh bắn sẻ. Bà

    mẹ là người Bắc, ăn nói rất khéo và cũng thích nói chuyện, nhất là

    khi có người chịu khó nghe để bà thuật lại cái thời oanh liệt xưa kia

    1 Năm 2000, phát biểu tại buổi lễ tổ chức ở Đại sứ quán Pháp, Hà Nội, Chủ tịch

    Thượng viện Pháp Christian Poncelet dẫn đầu Đoàn Thượng nghị sĩ sang trao

    Huân chương Bắc đẩu Bội tinh cho tôi, tôi có nhắc lại kỷ niệm này: “Tôi biết ơn

    ngôn ngữ Pháp, khâm phục văn hóa Pháp, kính trọng nhân dân Pháp, nhưng tôi

    nhiều lần suýt chết vì bom đạn thực dân của các ông. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy

    chúng tôi: Nước Việt Nam ta nhân hậu, người Việt Nam ta không hận thù, chỉ

    cần hai bên cùng giữ được lý trí, cùng chân thành hợp tác, mọi sự khắc tốt đẹp”.

    Bài diễn từ hôm sau đăng trên báo Nhà báo và Công luận, số ra ngày 24-4-2000.

    của gia đình. Bà kể chồng mình từng làm việc này, làm việc nọ, có

    những vị khách cao sang nào đến thăm nhà, vợ chồng bà đã tiếp đãi

    ra sao, vv...

    Tại sao là người Bắc? Bởi có một người gốc Quảng Trị, hình như

    chính quê là xã này, ra làm việc đâu ngoài Bắc, và cưới bà làm vợ hai.

    Ông về hưu, hoặc là chết từ bao giờ, tôi không rõ. Có điều là từ khi tôi

    còn học lớp nhất trường tỉnh, tôi đã đi ngang qua trước cái quán của

    bà trong một phố vắng gần Trường tiểu học kiêm bị Pháp Việt. Khi nào

    trong túi có tiền thì ghé mua mấy xu mứt lạc - loại mứt lạc này hình

    như chỉ người Bắc biết cách làm, vì cả thị xã tôi chỉ thấy bán ở quán của

    bà - cái chính để nhìn cô con gái thấp thoáng trong căn nhà tranh tối

    tranh sáng vào trạc tuổi, hay nhỏ hơn mình một ít - chính chị Th. này

    đó. Thành ra khi lần đầu tiên bước vào cái quán của bà mở nơi tản cư,

    ven con đường 68, nhìn cái thẩu1 đựng mứt lạc và cô con gái bây giờ đã

    trở thành chị cán bộ, chị Bí thư Phụ nữ xã trẻ đẹp, tôi nhận ra ngay. Và

    hình như mẹ con bà cũng còn nhớ cậu học sinh tỉnh lẻ năm nào.

    Chị Th. hay mặc áo dài đen duyên dáng. Lúc nào tôi cũng thấy chị

    chít khăn trắng - không biết để tang ai. Tháng giêng hai ở Quảng Trị

    mưa phùn gió bấc lạnh lẽo, không gì thú vị bằng được vào cái quán ấm

    áp của hai mẹ con bà, nhấm nháp mấy viên mứt lạc và uống nước chè

    nóng. Mưa gió, Tây cũng ngại đi lùng, càng thêm yên tâm, ít phải giật

    mình vì tiếng mõ báo hiệu Trâu ra như những ngày nắng ráo.

    Ba năm qua, tình hình vùng này thay đổi nhiều lắm. Hồi ấy đây là

    vùng tự do, ta làm chủ hoàn toàn. Chúng tôi mở các lớp bình dân học

    vụ tổ chức các đêm kịch tuyên truyền. Cả một dải đất cát ven biển kéo

    dài từ phía nam Cửa Việt vào phía bắc Cửa Thuận, nườm nượp ngày

    đêm bộ đội, cán bộ lui tới đi về. Có dạo gần đủ mặt các đơn vị của Trung

    đoàn 95 tỉnh Quảng Trị và Trung đoàn 101 tỉnh Thừa Thiên trên dải cát

    hẹp này. Địch đã phản kích dữ dội. Các trận càn lớn ở Chợ Cạn (Triệu

    Phong), Hải Châu (Hải Lăng) mỗi trận chúng tàn sát đến mấy trăm

    1 (Phương ngữ) lọ thủy tinh hoặc nhựa, miệng rộng, cổ ngắn và thường có nắp

    đậy (BTV).

    người dân. Một thời đen tối tiếp sau những ngày vui. Thời kỳ này tôi đã

    ra vùng tự do Bắc Liên khu 4.

    Cuối năm ngoái tôi từ vùng tự do Thanh Nghệ Tĩnh trở lại Bình Trị

    Thiên thì chiến cuộc ở đây đã trở lại sáng sủa ít nhiều, nhưng dân tình

    lại có vẻ xơ xác hơn xưa.

    Gia đình chị Th. cũng trong tình cảnh ấy.

    Trở lại chuyện hồi ấy. Tôi nghe kể lại trong số cán bộ năng lui tới nhà

    chị, có một anh công an. Hình như tôi cũng có lần gặp anh. Trẻ, diện,

    nhưng học thức bình thường thôi. Nghe nói anh con nhà phú nông ở

    một huyện khác nay kẹt trong vùng có hội tề đắc lực. Tôi nhớ ra rồi, anh

    tên T. Anh T. Hồi ấy vào khoảng 25-26 tuổi, lớn hơn tôi nhiều, diện áo

    blouson màu rượu chát, quần ka ki sáng, khăn quàng len, đầu đội bê rê

    đen, chân đi xăng đan cao su trắng - một mẫu cán bộ kháng chiến hào

    hoa, có vẻ đầy tự tin chứ không nhút nhát như tôi. Xem chừng hai bên

    cũng thích nhau, nhưng lâu rồi vẫn thấy chưa thành. Tại sao? Bà mẹ

    chị kể cho tôi nghe: “Vì anh T. không có gia đình ở đây. Gia đình anh “ở

    xa” (trong vùng tạm bị chiếm?), không có cha mẹ để làm lễ cưới xin, sau

    này con mình về nhà chồng, mẹ chồng nàng dâu làm sao tránh khỏi có

    lúc không vừa lòng nhau. Rồi khi ấy người ta sẽ nói, mi ở mô theo con

    tau về đây, chứ tau có cưới hỏi rước sách chi mi. Thế là ra cái điều tủi

    khổ cho con gái mình... ”.

    Bà nói vậy nhưng theo tôi quan sát thì hình như còn có một nguyên

    nhân nữa: chị Th. hồi ấy cũng còn có dính với một người khác, tên là N.,

    anh làm việc tại Ty Thông tin tỉnh. Và vẫn theo lời bà mẹ kể, hồi còn ở

    thị xã, Th. mới mười sáu tuổi, cha mẹ anh N. đã tới ngỏ lời xin hỏi con

    gái bà. Tội nghiệp hai gia đình qua lại với nhau đã bốn năm trời, ngặt

    hai lần gặp việc tang thành ra không cho làm lễ cưới được. Rồi kháng

    chiến, tản cư. Anh làm việc mãi trên chiến khu Ba Lòng. Chị ở vùng

    đồng bằng huyện Hải Lăng. Có lần hình như chị đã tìm lên trên ấy (vùng

    chiến khu) tìm gặp anh N...

    Sau các trận càn dã man liên tiếp của Pháp, phong trào các xã vùng

    này sụt xuống. Không còn nhiều cán bộ lui tới công khai miệt đồng

    bằng tự do như trước. Nhà hồi cư về thị xã, bà xoay sang buôn bán

    gạo tạ (bán buôn cả tạ), lúa, ngô... , có phần phát đạt. Có một người

    làm ông giáo tên là C. qua lại. Anh C. quê ở thôn Kim Long, sát bên

    thôn Cổ Lũy là nơi gia đình chị Th. tản cư mở cái quán nhỏ, đến nay

    vẫn còn có ngôi nhà lầu ven con đường 68 đi vào Nam Thừa Thiên đó.

    Bà mẹ kể: “Một cuốc xe ô tô giá vé từ tám đồng lên mười đồng (Đông

    Dương), anh vẫn từ thị xã (do địch kiểm soát) vô đây (vùng ta làm chủ)

    thường xuyên để gặp em Th., anh vô ra nhiều đến nỗi tôi sợ phiền bên

    gia đình anh ấy quá”.

    Hồi này cũng có nhiều công chức bù nhìn rập rình đi lại nhưng không

    thành đám nào. Anh C. lớn tuổi, đã có vợ và bốn con, cả gia đình bị Tây

    bắn chết trong trận Tây càn các xã Hải Quế, Hải Châu, chỉ còn sót đứa

    con trai mới lên mười sống sót trong đống xác chết. Nhà anh C. giàu, có

    xây nhà lầu lợp ngói Tây cho bà vợ trước mở hiệu buôn bán. Cũng có bị

    bom đạn chiến tranh phá hại sơ sơ, nay đã sửa sang lại, nhìn từ xa vẫn

    có phần đồ sộ so với những mái nhà tranh lụp xụp xung quanh, mới làm

    lại sau khi bị địch đốt nhiều lần.

    Tôi nhớ mình đã từng gặp C. Anh làm“giáo sư hương trường”(thầy

    giáo trường làng), người quê mùa, xấu trai, hai hàm răng vàng khè.

    Ngoài giờ dạy học gõ đầu con nít, thú vui duy nhất của anh là đi làm cá,

    trong nhà có đủ chài lưới chơm tát, đủ đồ lề. Chủ nhật hay buổi chiều

    sau giờ đi dạy, chỉ biết loay hoay vui với những thứ đó. Vừa vui, vừa có

    cái dùng trong nhà đỡ chi tiêu thêm cho bữa ăn - lời anh nói. Nhiều

    hôm anh đi xe đạp xa làng đến bốn năm cây số, chài lưới đèo sau cái

    poọc baga; sau mỗi buổi anh đi làm cá về, cái xe đạp cùng áo quần dính

    bệt bùn đất, cái oi đựng cá kè kè bên cạnh người, trông chẳng ra thớ gì

    của một ông giáo.

    Chồng của chị Th. xinh đẹp, người từng làm Bí thư Phụ nữ xã H. C.

    là một ông như thế đó. Tuy nhiên lễ cưới rất sang trọng, có đầy đủ nữ

    trang vòng xuyến cho cô dâu, có cheo làng, cheo họ. Được ba tháng, C.

    đột tử vì bệnh, chị Th. trẻ trung xinh đẹp bỗng chốc trở thành người

    đàn bà góa. Bây giờ chị đang ở ngôi nhà lầu ấy cùng bà mẹ; hai mẹ con

    mở hàng ăn, bán bánh ngọt - không rõ có còn món mứt lạc gia truyền?

    Tôi có ghé thăm chị, nhân trên đường từ Bắc Liên khu 4 vào Nam

    Thừa Thiên. Trên đầu chị Th. lại vành khăn tang, y như mấy năm về

    trước. Nhưng vẫn cười duyên. Năm nay, nghe bà mẹ nói, chị mới có

    ngoài hai mươi tuổi. Vùng này giờ không còn hội tề nữa, chính quyền

    đã trở lại thuộc về ta. Ta kiểm soát toàn diện. Địch tự giam trong

    đồn bốt, không dám ngó nghé ra đây. Cửa hàng ăn và kẹo bánh của

    mẹ con chị Th. chủ yếu bán cho cán bộ, bộ đội qua lại dọc tỉnh lộ 68.

    Không biết rồi đây chị Th. lại có đi bước nữa với anh cán bộ hoặc bộ

    đội nào?

    Tôi để ý một ý tứ của nhà chồng. Chú em chồng chị trước đây thường

    gọi chị là chị Giáo, mấy tháng sau khi anh C. mất, gọi chị trở lại là chị

    Th. y như hồi chị chưa xe duyên với ông anh trai bất hạnh. Chuẩn bị

    cho chị đi bước nữa chăng? Có người nào nói với tôi chị Th. có viết thư

    gửi anh T. Bạn cũ, ngầm ý muốn “lập lại quan hệ” và hình như anh T.

    cũng có lần về đây thăm. Cuộc tình duyên có thể nối lại? Nhớ lần gặp

    tôi gặp anh T. vào lúc chồng Th. vừa mất, hình như lần ấy gặp tại chiến

    khu Ba Lòng, tôi nghe anh T. kể chuyện về cuộc đời chị Th., giọng có vẻ

    ấm ức sự đời lắm.

    Chị Th. bây giờ có vẻ cần chồng. Săn đón mọi chàng trai. Bà mẹ kể lể,

    có ý thanh minh. Người ta lại lui tới nhà chị Th. trong căn nhà lầu cũ

    của anh chồng cũ, nay chỉ còn hai mẹ con làm chủ. Thằng bé con riêng

    của anh C. sống sót sau trận Tây càn nay đã lên ở với bác trai và mệ nội

    trong vùng địch tạm chiếm rồi.

    Tôi tranh thủ ghi lại mẫu người, mẩu chuyện, biết đâu có khi lại trở

    thành nhân vật trong tác phẩm tương lai.

    GHÉ NHÀ.

    05-12-1950 Văn phòng Phân khu ủy báo cho biết có điện khẩn của

    cơ quan yêu cầu tôi kết thúc đợt công tác, trở về càng sớm càng tốt.

    Nghe nói Minh Huệ vào sau tôi, chuyến này cũng có điện gọi ra. Có

    chuyện chi ngoài nớ? Thế là lỡ kế hoạch. Quá hạn Giấy thông hành,

    nhưng tôi còn có khối giấy tờ khác, định lần chần đây ăn Tết với bộ đội,

    ăn thêm một cái Tết nữa, với cái Đại đội 150 nay thiếu mặt nhiều người

    nhưng nghe nói được bổ sung lắm lính mới trẻ măng, phiên chế đầy đủ

    hơn năm ngoái. Viết một bài đăng báo Xuân nữa rồi hẵng tính chuyện

    ra. Hóa ra các ổng quản mình chặt quá!

    15-12-1950 Chuyến này ra vùng ngoài ấy, chắc khó có dịp trở vô đây.

    Cỡ tên tuổi như ông Chế mới được cấp trên ưu ái, mình là cái thá chi.

    Cho nên phải ghé nhà thăm cậu, thăm các chị một chuyến. Đằng nào

    cũng tiện đường, bởi dứt khoát phải qua Nà Tiên viếng mồ mạ, đến đây

    còn là để hỏi thăm tình hình, xem dạo này đường mình lên xuống có trắc

    trở chi không.

    Cái tên “chiến khu Nà Tiên” nay không ai dùng nữa, Nà Tiên thôi.

    Gọi chiến khu bởi đó là nơi các cơ quan huyện từ đồng bằng chuyển lên

    đó lần đầu, sau Tết Đinh Hợi 1947, mặt trận vỡ, Tây ào ào từ trong Huế

    ùa ra, lại thêm bọn ở bên Lào chờ cơ hội theo quốc lộ 9 xuôi xuống về

    chiếm luôn Đông Hà ngã ba yết hầu, chặn đường Nam Bắc. Tình hình

    cấp bách lắm. Mà đường từ chợ Kẻ Diên đi ngang qua trảng cát một

    chặng đến địa phận xã Mai Đàn ngược lên vài ba tiếng đồng hồ là đã tới

    chiến khu. Tôi lạ gì mảnh đất Nà Tiên này. Nó chỉ là bãi đất bằng khá

    rộng ven bờ sông, khá rộng, đủ chỗ cho đồng bào tản cư lên khai hoang

    trồng khoai sắn. Chỉ sau một tháng đã có được lá khoai non nấu tạm

    bát canh, sau ba tháng là bắt đầu bới khoai, nhổ sắn. Hồi nhỏ, tôi vẫn

    thấy dân làng chèo nốôc ngược sông Nhùng ngay từ cái bến phía sau

    vườn nhà tôi lên trên ấy chặt cây đốn gỗ mang về dựng nhà và làm củi

    nấu bếp mùa đông. Đi lúc nửa đêm, sáng tới nơi, làm mọi việc, ăn trưa

    xong là chất các thứ xuống nôốc xuôi về, chập tối đã tới làng. Ngoài gỗ

    và củi, có nhà gặp hôm may còn bẫy được con heo rừng hoặc mấy con

    gà lôi, cho con cháu được bữa thịt rú.

    Và cũng chính tại cái chiến khu Nà Tiên này gần đồng bằng quá,

    quân Pháp nong lên dễ ợt, cho nên các cơ quan đành phải dần chuyển

    vào rừng sâu hơn, Hòn Linh, Bơợc Lỡ,…, nhưng đi đâu cũng bám lấy con

    sông Nhùng thì mới có nước ăn, chỗ tắm giặt.

    Sắp tới Nà Tiên, lòng tôi càng nơm nớp. Chỉ lo không gặp người làng.

    Gặp người lạ thì làm sao dám mở miệng hỏi đường từ chiến khu về

    đồng bằng. Muốn cho dân quân ta theo dõi, hay để bọn Bảo vệ phục

    kích tóm gọn luôn?

    - Eeng Diêu! Chớ eeng đi mô mà biền biệt rứa?

    Người quen đây rồi. Lại bà con nữa. Tôi không biết chị này họ hàng

    nội ngoại với tôi gần xa thế nào, gặp nhau khi o kêu chú, khi o gọi eeng.

    “Eeng có định về thăm ôông không? Về thì tui nói thằng cháu hắn đưa

    đường cho… Tiếc quá, cơ chi1 eeng về đây sớm một bữa, hôm qua o

    Tùng vừa lên nhổ sắn, o có nói, không biết hắn đi công tác mô, có ai gặp

    không, hắn đi lâu ngày rứa có ốm đau rách rưới chi không… Nếu eeng

    mắc bận công việc, lần ni chưa ghé nhà được thì lần sau báo tui biết

    trước, tui nhắn ôông lên. Đường về làng mình ý à, có chi mà lo, ngày mô

    chẳng có bà con kẻ lên người xuống, có bữa đông như đi làm đồng. Cũng

    phải lần lên đây kiếm thêm chút chi thêm, nuốt cho trôi bữa chớ…”.

    O Chắt nói luôn miệng, gần như không ngừng, điếu thuốc lá cuộn to

    bằng ngón tay cái cứ lăm qua lăn lại giữa đôi môi thâm xì, khói thuốc

    vẫn cứ bay - ở chốn rừng xanh nước độc này phải ngậm điếu thuốc

    trên miệng cả ngày thì muỗi mòng mới không bu vô mặt… “Thăm mồ

    mệ ý à? Mần chi còn ở đây. Ông, chú Sơn và các o đã đưa mệ về làng

    lâu rồi. Sau ngày kỵ tròn năm là ông cho đưa về. Để nằm chi đây rú

    rừng lạnh lẽo…”

    Mấy tiếng tiếng rú rừng lạnh lẽo đầu cửa miệng mọi người, chị Chắt

    nói vô tình mà như mũi dao nhọn xoáy vào tim tôi. Thế là mẹ tôi ra đi

    đã hơn ba năm. Tôi đi khỏi đây đã quá ba năm. Mẹ tôi nằm xuống đây

    lúc đang khỏe mạnh vì bệnh tật ốm đau, thiếu ăn, thiếu thuốc, năm ấy

    tuổi mẹ mới tròn năm con giáp. Chuyện này tôi giữ kín trong lòng, chưa

    bao giờ nói với bất kỳ ai. Thảm lắm. Đúng, ba năm, hay là hơn một chút.

    Mẹ tôi qua đời vào ngày chi bộ Đảng sinh hoạt và chương trình chính

    là làm lễ “long trọng” kết nạp tôi - long trọng vì kỳ họp này thế nào

    cũng phải treo Quốc kỳ và cờ Đảng. Cấp trên thông qua việc kết nạp

    đồng chí Thông (bí danh của Phan Quang Diêu) làm đảng viên dự bị

    đã lâu, nhưng chi bộ mỗi tháng họp một lần, tháng thì anh em lo chạy

    1 Giá mà.

    giặc càn, tháng thì đảng viên về không đủ đa số. Hồi ấy trên quyết, mỗi

    tháng các chi hộ sinh hoạt một kỳ, đúng vào ngày 25, cuối tháng. Quyết

    trước để đảng viên tính thu xếp công việc của mình, trở lại chiến khu

    đúng ngày họp. Anh chị nào bỏ bê sinh hoạt ba kỳ liền không có lý do

    chính đáng có thể bị đưa ra khỏi Đảng…

    Ngày làm lễ chính thức tôi nhận vào Đảng, tập thể đã quyết và Tỉnh

    ủy đã thông qua, là 25 tháng 10 năm 1947. Tôi từ đồng bằng trở về

    chiến khu sớm vài bữa cho chắc (chiến khu của huyện nay chuyển lên

    Bơợc Lỡ, cũng không xa Nà Tiên nơi gia đình tôi tản cư là mấy). Gặp lúc

    mẹ tôi đang đau nặng. Cha tôi, các chị gái và ông anh rể tôi mặt ai cũng

    buồn thườn thượt, và ai cũng không giấu được thoáng mừng khi nhìn

    thấy bóng tôi từ con đường mòn ven sông trèo lên dốc. “Bà thiêng lắm,

    bà chờ cậu về bà mới chịu đi đó” - anh rể tôi thì thầm vào tôi sau khi lễ

    táng xong, mọi người vác cuốc trở về nhà, tôi ôm bát hương trong tay.

    Đêm hôm ấy, lúc trời đã về sáng, đêm đúng tiết sương giáng giữa

    chốn rừng xanh, khói mây giăng mù mịt, hạt sương rơi xuống đọng trên

    ngọn lá to như hạt mưa. Ẩm ướt. Lạnh lẽo. Tôi cúi mặt xuống gần sát

    giường, để nghe cho rõ lời mẹ tôi thều thào: “Mạ chết… con... cho mạ...

    cái áo… Độc lập... , đưa mạ... về làng… Đây… rú rừng lạnh lẽo…”.

    Nhìn thấy mặt tôi thẫn thờ, không nói có, chẳng nói không, chắc o

    Chắt nghĩ tôi ngại chưa muốn ghé nhà. Chị nói: “Eeng mắc việc thì để

    lần sau. Từ đây ra, cứ đi qua hết cái Bàu Côộc, gặp một con khe thì cứ

    theo con đường mòn giữa rú ngấy (vối) mà đi, đến ngã ba thì quẹo về

    phía Dốc Son... Eeng có còn nhớ đường không? Eeng có nhớ Dốc Son?

    Chỗ ấy cách đường tàu hỏa chỉ còn chừng mấy chục bước chân nữa thôi.

    Ở chặng đó người ta có dựng lên một cái chòi, đêm ngày canh bọn kẻ

    trộm người các nơi khác mò đến đào trộm sắn khoai dân mình trồng...

    “Trạm giao liên của miềng đó”. Câu sau cùng này chị không bí bô1 như

    thường lệ, cả làng ai cũng biết o Chắt đã mở miệng nói thì cả xóm cùng

    nghe, mà hạ thấp giọng thì thầm vào tai tôi.

    1 (Tiếng nói) có nhiều âm thanh cao và trong, nhưng nghe không được rành rẽ,

    như ríu vào nhau

    Dốc Son? Tôi lạ cái dốc ấy! Cái dốc có con khe nước ngọt chảy phía

    dưới chân, mùa nắng cạn, mùa mưa nước xấp xõa1 ngập nửa cẳng chân,

    dưới lòng khe có nhiều viên sỏi màu son, chắc vì ngâm lâu trong nước

    cho nên sỏi mà mềm. Hồi tôi học chữ Hán, cha tôi vẫn bắt lên đây lượm

    rồi lựa các hòn son mang về, hòn nào có màu đỏ đậm hơn cả, mài ra

    nghiên làm mực ngon cho thầy chấm bài tập, đỡ tốn tiền mua thỏi son

    tàu trong hiệu khách…

    16-12-1950 Tôi bước vô cái lều canh kẻ trộm khoai ấy vào lúc quá

    trưa. Có hai người đàn ông luống tuổi đang lúi húi đan cái thúng, cái

    sọt chi đó. Chẳng ai buồn ngẩng đầu nhìn, hỏi anh là ai, anh từ mô đến,

    anh có việc chi... Chỉ mời: “Eeng uống nước”. Tôi lựa lời nói rõ ý định

    của mình: “Đường về làng mình dạo ni có dễ đi không, các bác?”. Một

    người nhìn tôi, đến lúc này mới ngẩng đầu nhìn, và nhìn chằm chằm,

    rồi có vẻ hình như nhận ta chú Diêu cán bộ trên về, nhưng không trả lời

    khó, không nói dễ mà chỉ buông mấy tiếng: “Eeng ngồi uống nước đã.

    Chừng ni (cữ này) chưa ai đi mô, mô!”.

    Gần tối, một chú bé xộc vào. Không rõ hai bác thì thầm gì với nó. Em

    cũng chẳng buồn chào hỏi, chỉ nói: “Eeng theo em”, và xăm xăm bước

    ra lối mòn. “Eeng theo em, đi xa xa một chút. Chớ có nói năng chi”. Leo

    xuôi một chặng đường đồi, gặp con đường xe lửa. Em bé cứ xăm xăm đi,

    cứ lặng lẽ, nhưng đôi mắt lanh lợi có vẻ thường xuyên coi chừng, nhìn

    ngó ngược xuôi. Tôi theo chú bé băng qua con đường sắt lúc này vắng

    tanh. Qua khỏi, thở phào. Từ đây chỉ cần đi qua bên cái biền2 cát trồng

    khoai lang chịu nước, qua một cánh đồng lúa nữa là gặp con đường cái

    quan, và vườn nhà tôi ở phía bên kia con đường đó, trên bờ sông Nhùng.

    Nắng quái bỗng dưng hừng lên sáng rực bầu trời, hắt xuống sáng cả bụi

    bờ dưới mặt đất.

    Tôi vẫn bám theo chú bé, chú bước vào một biền khoai, đứng sau

    1 Sắp sửa (BTV).

    2 Biền là doi đất cát sát bờ trằm (đầm nước), mùa hè cát ẩm, mùa mưa xâm xấp,

    có thể trồng khoai lang nước.

    hàng rào hóp, chờ tôi vào. “Eeng đợi đây. Em về tin ôông biết”. Rồi biến

    mất luôn trong đêm mờ mờ ánh trăng thượng tuần.

    Tôi đứng chờ lâu sốt ruột quá, tưởng lúc này dễ đã đến nửa đêm.

    Nghe rõ tiếng đàn muỗi vo ve. Càng về đêm, trăng như càng tỏ. Không

    xa lắm, về mạn phải, cái bốt Cầu Nhùng địch mới xây, tường quét vôi

    trắng nổi bật, càng nhìn càng tưởng như nó đang xích dần tới gần chỗ

    mình đứng. Trăng càng sáng, cái bốt địch càng gần. Bỗng từ xa, trên

    lối đường mòn từ phía dưới làng lên rú, xuất hiện một bóng người cao

    cao mặc áo cánh trắng đang bước tới nhanh. Cậu! Cậu! Cha tôi đây rồi.

    Người cha tôi vẫn cao, thanh mảnh, lưng thẳng - vậy mà lâu nay tôi

    cứ hình dung khác hẳn cơ. Cứ nghĩ, năm Ất Dậu thất thủ kinh đô, cha

    tôi đã lên bảy, tôi vẫn nghĩ giờ chắc tuổi sắp suýt soát bảy mươi, chi

    không già. Cậu! Tôi không ôm choàng lấy cha tôi như vẫn hình dung

    cái phút giây mình được gặp lại người, mà vẫn đứng yên, người đờ ra,

    như trong tư thế nghiêm, hai bàn tay kính cẩn chắp lại. Cha tôi cũng

    không ôm con vào lòng, thằng con trai duy nhất và là con út cưng của

    cả nhà. Hình như cha tôi cũng có lặng người đi một chút, rồi mới cất lời,

    giọng của người vẫn từ tốn, thản nhiên như xưa nay lúc nào chẳng thế:

    “Diêu!”. Rồi: “Con đi về nhà cùng với cậu”.

    Cái dáng người mặc chiếc áo cánh trắng cao cao bước nhanh trên

    con đường về làng, màu trắng bật lên dưới ánh trăng ngày càng tỏ, làm

    bụng tôi thêm lo. Tôi bám sát gót cha. Vườn nhà mình kia rồi. Cha tôi

    trước khi đi đón tôi, đã dặn mọi người phải ngồi yên trong nhà, chớ có

    xậm xịch, vậy mà hai chị gái tôi chắc quá nóng ruột, đã lần ra đứng nép

    sau bụi tre đầu lối vào nhà. Bên trong nhà còn có ông anh rể và đứa

    cháu gái con đầu lòng chị cả tôi, cháu khép nép nấp sau lưng ông ngoại,

    suốt cả buổi không hề dám hé răng. Nhà tối om. Anh rể tôi là người

    bình tĩnh hơn cả: “Cậu về được tới đây thăm ông, thấy cậu khỏe mạnh

    là mừng. Trên nớ cậu có lần nào đau yếu chi không?”.

    Bà chị cả tôi nắn nắn cánh tay em, thì thầm:

    - Chớ răng (tại sao) cậu làm việc chi, ở tận nơi mô mà cứ biền biệt

    rứa?

    Chị hai tiếp lời:

    - Người ta nói có mấy lần nhìn chộ

    cậu, răng cậu không ghé nhà thăm

    ông một bữa?

    Cha tôi bảo: “Con ghé được về nhà,

    con gặp cậu, gặp hai chị, gặp anh Sơn,

    lại còn có thêm con Tr. tê nữa, (tên

    đứa cháu ngoại), rứa là quý rồi”.

    - Nhà mình đưa mạ con về nơi mô

    - tôi hỏi.

    - Sát bên Đường Mới - cha tôi đáp.

    Phía dưới khu Rú Cấm, trong có

    ngôi mộ tổ cụ tiền khai khẩn họ Lê

    làng mình. Cậu đưa mạ con về chỗ

    nớ cho gần nhà. Nhưng con không

    tới được mô.

    Và nói tiếp: “Con thắp hương cho mạ”.

    Con Đường Mới ấy, tôi đâu có lạ! Con đường liên xã xe hơi chạy được,

    Tây mới cho xây vài chục năm lại đây, nối đường quốc lộ 1 với Nhà thờ

    La Văng, băng ngang qua cái ga xép xe lửa ngay chính giữa Phe Thượng

    - cái ga này tàu hỏa chỉ dừng lại những kỳ lễ hội lớn, có rất đông người

    tứ xứ hành hương về Thánh địa La Vang. Rồi từ chỗ nối ấy, con Đường

    Mới thêm một khúc, thẳng về chính giữa làng Thượng Xá quê tôi, từ ấy

    có thể cuốc bộ hay đi xe đạp về trằm Trà Lộc.1

    Cha tôi rút không biết đâu ra một cây hương, xuống bếp châm - vì

    nhà vẫn không thắp đèn - mang lên đặt vào tay con trai. Rồi tự tay

    cha tôi vén bức màn may bằng vải to nhuộm đà - lúc mới bước vào nhà

    không ánh đèn lửa, tôi không nhìn thấy bức màn. Bàn thờ mẹ tôi sau

    đó. Một bát hương duy nhất, đặt trên mặt bàn thờ là tấm đan bằng tre

    tươi. Trên bàn thờ không có đôi chân đèn tiện bằng gỗ tạp, không có cái

    bình cũng bằng gỗ dùng để cắm vài bông hoa, mà bình thường bất cứ

    1 Nay là điểm Du lịch bảo tồn thiên nhiên của tỉnh Quảng Trị.

    Cụ Ấm sinh Phan Thanh Tấn

    (1880-1975)

    Cụ bà Văn Thị Thiện (1889-1948)

    nhà nào ở quê tôi dù nghèo khó đến

    mấy cũng không thể thiếu.

    Tôi cắm nén hương vào bát, cúi đầu

    vái vong hồn mẹ trong đêm đen, tịnh

    không một lời khấn vái như người

    ta vẫn làm, trong khi nước mắt chảy

    ròng ròng xuống ướt vạt áo phía ngực.

    Trong nhà không ai nhìn thấy nước

    mắt, nhưng ai cũng biết tôi đang khóc.

    Mạ ơi, con biết nói gì với mạ! Con đã

    về đây, con đã về đây với cậu, với các

    chị, với đứa cháu ngoại mạ, mà không

    có mạ. Cậu đã sớm lo đưa mạ về đây

    cho gần nhà. Mạ không còn phải lo rú

    rừng lạnh lẽo nữa, mạ ơi!

    Tôi muốn nghỉ lại nhà đêm nay. Tối muốn được nằm cạnh cha tôi

    một đêm như ngày còn nhỏ. Rồi trước lúc gà gáy, tôi sẽ trở lên cái chòi

    canh kẻ trộm sắn khoai kia, để từ đó đi tiếp ra vùng tự do.

    Cha tôi không đồng ý:

    - Con về được với cậu, với các anh chị, và có cả con Tr. đây nữa, rứa

    là được rồi. Con đã thắp nén hương cho mạ con. Rứa là trọn nghĩa sinh

    thành. Con không thể ngủ lại nhà. Đêm mô hắn cũng lùng sục. Chưa ai

    biết trước rồi hắn bất thần xộc vô nhà mô.

    Cha tôi là người đứng dậy trước tiên. “Cậu đưa con đi”. Và dặn lại, giọng

    thật nghiêm: “Tất cả ở trong nhà! Không ai được ra ngoài xậm xịch!”.

    Trước khi bước ra sân, trước mặt đông đủ gia đình, cha tôi nói:

    - Con đi kháng chiến, việc công của con, con cố lo cho tròn. Từ nay,

    con không cần phải ghé nhà làm chi. Cậu còn khỏe mạnh. Đã có anh

    con và các chị con đây lo cho cậu.

    Chị hai tôi tiếp lời:

    - Việc nước của cậu, cậu cứ làm. Cha già đã có chị lo.

    Cha tôi bước ra sân.

    Cái bóng người cao cao thanh mảnh, chiếc áo cánh trắng nổi bật dưới

    ánh trăng mùng tám, bất chấp bức tường vôi của cái bốt Cầu Nhùng

    đang như chói rọi, xăm xăm đi ra ngõ. Tôi loạng quạng ôm các chị gái

    tôi, siết chặt tay anh rể, hôn đứa cháu nhỏ, rồi vội vàng chạy theo cho

    kịp cái bóng trắng cao cao của cha…1.

    1 Vừa ra tới vùng tự do, tôi ngồi xuống viết thành truyện ngắn, đề Ghé nhà, nhân

    vật chính tên Quang.

    Nghĩa trang liệt sĩ xã Hải Thượng, nơi đang an nghỉ 1991 liệt s ĩ

    (còn tiếp)

    Nguồn: Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ hồ Gươm. Tập ký của Phan Quang. NXB Trẻ, 2016.

    Tác giả gửi www.trieuxuan.info

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,818,279

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/