Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,815,639

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ hồ Gươm (2)

Phan Quang

  • Thứ ba, 14:40 Ngày 21/07/2020
  • NGHE KỂ CHUYỆN ĐẤU TRANH TRONG NỘI THÀNH.

    Anh Cường cán bộ Thị ủy hy sinh: Đêm 5-5 vừa qua, mới cách đây có

    ba hôm, anh có việc vào thành. Lúc sắp qua đường cái, anh nhờ một

    chị quen đi trước dò đường. Anh nép vào hàng rào chè tàu nghe ngóng

    động tĩnh. Bọn lính bảo vệ (Bảo vệ quân: lính ngụy) phục sẵn ở đầu cầu

    Ông Thượng thoáng thấy bóng chị, hô: “Ai, đứng lại!”. Chị giả vờ ho lên

    một tiếng, đánh động. Anh Cường vứt cái ống tre lồ ô vác theo định

    dùng để bơi qua sông, chạy tháo trở lại thì bị bọn lính phục ở phía sau,

    xông ra bắn bị thương. Chúng trói anh lại. Ngay khi đó một chiếc xe

    Jeep chạy đến, trên xe có một tên trung úy ngụy. Chúng ném anh lên

    1 Vào ban ngày, và đã viết bài Một chuyến vô hụt.

    xe, định chở về đồn. Anh không chịu, cứ vùng vẫy lăn xuống xe và chửi:

    “Tổ cha bay, tao tranh đấu là để cho vợ con bay được sung sướng nữa,

    chứ có sướng riêng chi tao mà bay bắn tao”. Hết chửi bọn lính, anh lại

    chửi Bảo Đại. Một tên sĩ quan chạy đến, gí súng vào tai anh, bóp cò,

    rồi vứt xác anh tại chỗ. Anh Cường hy sinh, đồng bào rất thương tiếc,

    quyên góp tiền may bộ quần áo mới để khâm liệm cho anh. Bọn lính

    bảo vệ đóng ở bốt Vĩ Dạ cũng chôn cất anh tử tế. Có đứa còn mua hương

    đèn van vái: “Sống khôn thác thiêng, chúng tôi không làm chi anh cả,

    xin anh phù hộ cho chúng tôi”.

    Lá cờ của bác sĩ Lê Khắc Quyến. Ngày 8-3, chính quyền bù nhìn ở Huế ra

    lệnh, mọi gia đình trong thành phố đều phải treo cờ ba que mừng chính

    quyền Bảo Đại vừa được Mỹ và Anh công nhận. Cờ phải may bằng vải, và

    kích cỡ phải cho to. Bác sĩ Quyến chỉ treo một lá cờ giấy nhỏ. Bọn cảnh

    sát tới hoạnh họe, bác sĩ đáp thủng khẳng: “Nước nhà đã hoàn toàn độc

    lập đâu mà nay bảo treo cờ này mai treo cờ kia. Hết cờ này đến cờ khác

    tốn tiền lắm. Tôi không đủ tiền, các anh bảo tôi xé quần ra may cờ sao?”

    Bọn cảnh sát đòi lập biên bản: “Ông có gan nói, ông có gan ký vào biên

    bản không?” - “Chứ tao sợ à?”. Ông đàng hoàng ký vào biên bản. Chiều

    có xe an ninh đến bắt. Bác sĩ đang tắm, cứ mặc quần cộc mà đi.

    Nhà sư làm địch vận. Một tên lính bảo vệ đến vãn cảnh chùa, phàn

    nàn: “Tôi có muốn đi lính bảo vệ mô. Tại họ bắt vô lính đó chứ. Mới

    hôm kia tôi còn đi cày ruộng mà”. Thầy chùa đáp: “Đó là anh nói thế

    thôi, chứ như tôi hồi còn nhỏ, cha mẹ bảo đi tu, giá như lòng tôi không

    muốn thì bây giờ sao thành thầy chùa. Tại tôi ưng thuận cho nên tôi

    mới đi tu chứ. Tôi không ưng, ai làm chi tôi được?”.

    An ninh và com măng đô kình nhau: Ở thành phố Huế, hiện nay hai

    phe an ninh và commăngđô kình nhau đến chết. Cứ đánh lộn bậy, bắn

    nhau bị thương như cơm bữa. Tên an ninh nào đi lẻ, lỡ đi lạc ra vùng

    lính commăngđô kiểm soát thì thế nào cũng bị chúng bắt vào bốt, giã

    cho một trận thừa sống thiếu chết mới thả về. Ngược lại, com măng

    đô đi lớ ngớ trong thành cũng thế. Nguyên nhân chỉ vì tranh nhau gái,

    tiền. Càng căng thêm sau vụ tên trưởng ty an ninh Trần Văn Mạnh bị

    lính com măng đô bạt tai giữa thành phố, việc này xảy ra hồi đầu năm.

    14-5-1950 Chiều nay anh Bảy đi Xuân Hòa về tin cho biết, anh

    Chánh đã hy sinh vì bị giặc sát hại khi đi lùng. Trận càn kéo dài, anh

    Chánh trốn hầm bí mật lâu quá không lên được, trong hầm thiếu lỗ

    thông hơi, chết vì ngạt thở. Nhân việc này, cậu San tổ trưởng dân quân

    kể chuyện hắn cũng từng bị ngất vì ngạt thở năm ngoái như thế nào.

    Buổi sáng, mọi người đang họp, nghe tin Trâu ra. Tây đi càn. Vội

    chạy ra ngoài, cả ba phía đều có địch. Cả tổ ba người đành phải xuống

    chung một hầm bí mật đáng lẽ chỉ dành cho một người. Hầm đào

    trong chuồng trâu, người ở trên vừa kéo rơm lấp lại xong thì vội chạy

    đi vì Tây đã đến gần. Đầu tiên, cảm thấy nặng ngực. Rồi bắt đầu thở

    mạnh. Hầm tối mịt, chiếc đồng hồ dạ quang sáng hẳn lên. Mắt San

    chăm chăm dán vào hai cái kim chạy vòng, đếm 10 giờ, 11 giờ...

    Khi mới xuống hầm được ít lâu, nghe có tiếng súng nổ gần. Rồi có

    tiếng thình thịch ở ngay trên đầu mình. Thôi chết, chắc Tây đào hầm

    này rồi. Nhưng tiếng giẫm thình thịch cứ tiếp tục lại không nghe có

    tiếng người. Lúc này mới vỡ lẽ: trâu đã về chuồng.

    Dần dần quá mệt, tai ù, mắt mờ. Lúc này không đọc được giờ nữa,

    chỉ thấy một vệt sáng mơ hồ. Không ai còn đủ sức trò chuyện. Một

    người bíu vai San: “Chết mất thôi, anh San ạ”. San gắt: “Chết thì

    thôi!”. Nhưng anh vẫn cố lần đến cửa hầm. Nắp hầm hẹp, hầm lại

    nông không thể đứng thẳng người nên lúng túng hồi lâu, vẫn không

    có cách chi đội được nắp hầm cho bật lên được. Có lẽ đến mười phút

    trôi qua. San mệt lử rồi nhưng vẫn cố. Một ý nghĩ chợt thoáng qua làm

    San té xỉu. Chắc con trâu đứng ngay trên nắp hầm này. Lát sau, tỉnh

    dậy. Vẫn còn đủ tỉnh táo để nghĩ, giá ta lấy cái áo blouson lót lên đầu

    cho đỡ đau thúc ngược lên, may ra có thể đội nắp hầm. Anh bò tới góc

    hầm, lấy cái áo, và với sự gắng sức cùng cực, anh đội nghiêng được nắp

    hầm. Một chút ánh sang lùa vào. Vừa lúc anh ngã xuống đất bất tỉnh.

    Hai người bạn mừng rỡ lên khỏi hầm, chui vào một cái bụi nằm thở.

    Không ai đủ sức lê đi xa hơn nữa, lúc này địch có đến cũng đành để

    cho hắn bắt sống thôi. Hai người quên khuấy mất còn có anh San đang

    bất tỉnh dưới hầm. Lát sau, tự anh mới lồm cồm bò lên được.

    17-5-1950 Hoạt động của học sinh thành phố Huế1.

    Lễ mừng sinh nhật Cụ Hồ hai năm trước: 19-5-1948. Phong trào học

    sinh nội thành mới được phát động. Hai trường Khải Định và Đồng

    Khánh có trên dưới một trăm cô cậu tham gia. Quyết định làm một việc

    gì đấy, lập thành tích dâng lên mừng Cụ, luôn tiện gây thanh thế trong

    nhân dân. Đoàn học sinh do một anh tên Cầu phụ trách. Gần đến ngày

    kỷ niệm, triệu tập cuộc họp ngay tại nhà cô hiệu trưởng. Nhà này tầng

    dưới kê cái bàn đánh pingpong, tầng trên thường để trống vì hằng ngày

    cô sống ở một ngôi nhà khác. Đối diện với căn phòng ở tầng trệt vốn

    là phòng trực điện thoại, nay cho một giáo viên mượn ở tạm. Ban tổ

    chức có bố trí người gác cửa cẩn thận, ai đến họp phải xuất trình giấy

    do Đoàn Học sinh kháng chiến thành phố Huế cấp. Phòng họp trên gác

    đóng kín cửa, tối như trong hầm bí mật. Đến dự có gần ba mươi người.

    Sau khi tuyên bố lý do, anh Cầu nói vụ này phải làm sao cho có tiếng

    vang, rồi trình bày kế hoạch thực hiện. Đoàn đã có một số ảnh chân

    dung Hồ Chủ tịch, truyền đơn và một ít lựu đạn. Dự định đến ngày 19-5

    sẽ cho nổ một quả lựu đạn thật giòn để báo hiệu. Ngay sau khi có tiếng

    nổ, một học sinh sẽ ra hạ lá cờ ba que xuống, kéo cờ đỏ sao vàng lên.

    Một số học sinh khác ném lựu đạn. Còn lại chia nhau rải truyền đơn ở

    cả hai trường. Có người hỏi: “Nhưng làm sao treo cờ? Chẳng lẽ giữa ban

    ngày ban mặt, mình dẫn xác ra treo cờ cho nó bắt à”. Anh Cầu đáp đầy

    tự tin: “Ồ, cái đó lo chi. Quả lựu đạn sẽ ném đầu tiên sẽ là một quả lựu

    đạn hỏa mù. Khi nổ nó sẽ xịt khói mù trời mù đất, mình làm chi địch

    cũng không nhìn thấy được. Ở các mặt trận bên Tây, bên Đức khi cần

    cho rút quân, người ta vẫn ném lựu đạn hỏa mù như thế”.

    Các cô cậu ta nghe nói sướng quá, lúc phân công anh chị nào cũng

    tranh nhận việc treo cờ. Có một bức ảnh chân dung lớn của Cụ Hồ, sẽ

    dán ở gian chính của trường. Còn lại các lớp dán ảnh Cụ in cỡ nhỏ hơn.

    Truyền đơn thì rải khắp nơi.

    Mới đến ngày 15-5, đã không ai còn bụng dạ học hành chi được nữa.

    1 Chú thích bên lề trang Nhật ký: “Đã sửa lại, đăng báo Cứu Quốc, số ra ngày 19-

    5-1952”.

    Ai cũng ngong ngóng mong sớm đến ngày 19-5. Nhưng đến trưa ngày

    hôm ấy, 19-5, hỏi Ban tổ chức mới biết cho tới giờ này trường chưa

    nhận được một quả lựu đạn nào. Hốt hoảng, hai cậu học sinh tức tốc

    đạp xe về Vĩ Dạ gặp cơ sở xin được mười quả lựu đạn.

    Đến hai giờ chiều, ai nấy đã sẵn sàng. Người chịu trách nhiệm treo cờ

    ôm lá cờ đứng nép bên cửa. Mấy anh được phân công dán chân dung Cụ

    Hồ đã phết sẵn hồ lên ảnh. Chỉ chờ có tiếng nổ. Uỳnh! Có tiếng nổ thật.

    Mọi người sung sướng nhìn ra, ai cũng chờ đợi có khói mù trời mù đất

    như lời anh Cầu nói, để hành động. Nhưng chỉ thấy mỗi một vệt khói

    nhẹ lửng lơ ở nơi vừa dội lên tiếng nổ, và làn khói nhẹ ấy cũng tan biến

    đi ngay. Ai nấy cuống cuồng. May sao, đây là lần đầu tiên có tiếng nổ

    trong trường học cho nên mọi người đổ xô ra xem nơi quả lựu đạn vừa

    phát nổ. Thừa dịp, anh em dán ảnh Cụ Hồ và tung truyền đơn. Có người

    nhận nhiều truyền đơn quá, lúc này bối rối ném cả tệp, không kịp tung

    ra. Khá nhất lại là các cô gái bên trường Đồng Khánh, các cô bình tĩnh

    đứng trên lầu tung truyền đơn xuống giống như bướm bay; có cô hứng

    chí cầm cả quạt phất tiếp cho truyền đơn bay ra xa. Duy việc quan trọng

    nhất là kéo cờ lên cột cờ giữa sân trường lại không thực hiện được.

    Có người hỏi Cầu, tại sao lựu đạn hỏa mù không nổ ra mù trời mù đất

    như anh quả quyết?

    - Thì mình có biết mô, nghe qua sách báo người ta nói vậy thì mình

    cũng nói vậy!

    18-5-1950 Trên đây là tôi ghi lại chuyện cũ hai năm về trước. Còn

    mấy hôm nay, sắp đến kỷ niệm Ngày sinh Hồ Chủ tịch, cơ quan Thị

    ủy Thuận Hóa rộn ràng không khí chuẩn bị. Ngày nào cũng có cán bộ

    hoạt động nội thành ra nhận lựu đạn, truyền đơn, cờ... Nghe nói bọn

    Pháp và bù nhìn ở Huế cũng lo ngại lắm. Chúng cho rằng Ngày Quốc

    tế lao động 1-5 vừa rồi ta có ít hoạt động hẳn để dành lực lượng cho

    lần này. Chúng gia khẩn công tác tuyên truyền, bắc thêm micrô hướng

    về phía bên kia đập Vĩ Dạ là vùng tự do của ta. Giọng điệu của chúng

    là: Không nói về lập trường chính trị, Cụ Hồ là một bậc vĩ nhân của

    đất nước. Vậy đến ngày mừng sinh nhật Cụ, chúng ta phải vui chơi,

    uống rượu mừng, ăn “cơm đoàn kết” với nhau, sao lại đi ném lựu đạn,

    bãi khóa, bãi thị...

    Chiều nay, tôi về Tiểu khu 5 xem quân ta bắn moọc chê vào “thị xã”.

    Hôm qua, tôi sang thôn Nhất Đông nửa đêm mới về, nhìn thấy anh em

    bộ đội vác súng vào ém sẵn tại trận địa. Hôm nay, đến xế chiều trời vẫn

    còn rất nóng. Đến chỗ đặt súng cối, uống liền mấy bát nước không đã.

    Dọc đường, nghe mấy chú Việt Dũng kháo nhau chuyện sắp bắn moọc

    chê và tưởng tượng ra cảnh dân tình sẽ nhớn nhác y như lần trước, khi

    ta bắn súng cối vào giữa đường phố, mà các chú từng có dịp chứng kiến.

    Đạn nổ làm rung cửa kính các hiệu buôn. Xe Jeep Tây đang chạy phanh

    rít lại, bọn lính đi trên xe chui vào nhà hàng Morin tránh đạn. Một con

    đầm chạy vào nấp ở một phòng, thấy trống trải quá nó chạy sang nhà

    khác. Sang đây, ngó lên thấy nhà không có trần, nó sợ quá, lại bỏ chạy

    ra ngoài vừa chạy vừa khóc hu hu...

    Anh Đàm Hướng Dũng, Trung đoàn phó Trung đoàn 101, người chỉ

    huy bắn súng cối, khuyên chúng tôi không nên đi xem, vì sau khi ta bắn

    đi thế nào địch cũng phản pháo bằng ca nông, và rất có thể chúng bắn

    trúng mục tiêu đấy.

    Kế hoạch dự định ta bắt đầu khai hỏa lúc sáu giờ rưỡi chiều. Tôi tạt

    qua nơi bố trí trận địa súng cối, thấy anh em bộ đội người đang lau lại

    mấy quả đạn, người thì vít ngọn tre phía trước chặt bớt mấy cành cho

    khỏi vướng tầm nhìn. Ngó sang bên kia sông, lô cốt địch lợp mái tôn

    sáng, ánh lên vì phản hồi mặt trời vàng hoe đang chiếu nghiêng vì sắp

    lặn. Chiếc cột cờ trong nội thành sừng sững trắng toát, nhìn có vẻ rất

    gần. Chúng tôi đứng phía dưới chiều gió, nhạc vàng từ các máy phóng

    thanh đặt trong nội thành trầm bổng vọng ra nghe khá rõ. Mường

    tượng quang cảnh lúc này đang tấp nập ở vườn hoa Nguyễn Hoàng bên

    bờ sông Hương.

    Còn chừng mười lăm phút nữa đến giờ nổ súng. Cánh đi xem chúng

    tôi lùi ra xa, tìm chỗ ngồi trên một cồn mả, cách chỗ đặt súng chừng

    ba trăm mét. 6 giờ 15, 6 giờ 20, 6 giờ 25. Trời tối hẳn rồi. Sao chưa nghe

    tiếng súng bắn? Đúng 6 giờ 30 vẫn chưa. Chiếc kim đồng hồ đeo trên

    cổ tay tôi vẫn nhích tí tách vui vẻ. Bỗng ầm! Bắn rồi. Bắn rồi. Nhìn về

    . . . đ ế n b ờ H ồ G ư ơ m 65

    phía trận địa, thấy một làn khói bốc lên và tan dần. Tiếng nổ đề pa1 đấy.

    Tưởng tượng làn đạn đi vòng qua đầu nhà cửa vào tận trong thành phố.

    Trong ấy chắc người nghe sẽ ngơ ngác nhìn nhau không hiểu tiếng nổ

    gì. Nhưng sao lâu thế nhỉ. Tôi đếm theo kim đồng hồ. 20 giây, 25 giây.

    Một người nào đó thốt lên: “Hay là đạn thối?”. Tôi nói cho tự mình

    yên tâm, bởi trong lòng còn hy vọng: “Có khi đến 35 giây mới nghe

    tiếng nổ”. Nhưng đúng 30 giây, nghe tiếng nổ nhỏ hơn vọng trở lại. Mọi

    người vỗ tay thích thú: Nổ rồi! Nổ rồi!

    Trận địa moọc chê ta còn bắn thêm mấy phát nữa. Tôi định nán lại

    lâu hơn chút nhưng đích thân anh Dũng tới, khuyên mọi người nên về

    ngay, vì thế nào cũng bị địch bắn pháo đuổi theo. Quả nhiên chúng tôi

    vừa rời khỏi cồn mả (nghĩa địa) đã nghe tiếng ca nông chúng bắn. Ngoái

    nhìn trở lại thấy có làn khói trắng lửng lơ ngay chỗ chúng tôi ngồi hồi

    nãy. Hai ba quả pháo nữa nổ tiếp quẩn quanh đâu cạnh đấy. Hú vía!

    Chúng tôi bước vội hơn. Mấy phút sau ca nông địch nổ tiến dần về phía

    xóm làng, nơi chúng tôi ở ban chiều.

    Chúng tôi bước nhanh, thích thú như trẻ con đi xem hội trở về. Tiếng

    đạn moọc chê 81 của ta nổ nghe to lạ. Mình đứng giữa đồng vắng nghe

    còn to thế, trong phố chắc ầm trời - có ai đó bình.

    22-5-1950 Đang ăn cơm, có tin Trâu ra! Lùa vội vào mồm cho hết bát

    cơm đang ăn dở. Chị Phượng đặt bát cơm xuống, đứng dậy giật bộ áo

    quần trên mắc áo, lật đật làm rơi một chiếc xuống đất. Giật luôn chiếc

    màn từ sáng chưa kịp tháo cho vào xắc.

    Ra đường, gặp dân từ các nhà tỏa ra, chạy thình thịch. Bà chủ nhà

    tôi ở giục chị con dâu và cô con gái ôm các bọc áo quần chạy trước đi,

    bà còn nán lại đi một vòng quanh nhà soát xem cán bộ có ai sơ ý để sót

    lại giấy tờ tài liệu gì không. Tiếng súng trường cắc bụp, tiếng moọc chê

    bùm, oàng. Nhất là tiếng moọc chê, nghe sốt ruột như giục giã, đuổi

    người ta chạy. Trẻ con khóc. Đứa lớn vừa hối em chạy nhanh vừa mắng:

    “Tổ cha mi, tí nữa về nhà tao chặt mi làm ba khúc”. Mỗi lần nghe tiếng

    1 Départ: Bắt đầu. Tiếng nổ khi viên đạn pháo bắt đầu ra khỏi nòng súng.

    oàng mọi người theo bản năng hơi chúi mình xuống phía trước, nhưng

    chưa ai co giò chạy mà chỉ bước nhanh hơn thôi. Địch còn ở xa, cần

    phải giữ sức. Có tiếng ai đó cho biết: “Địch ra ít thôi. Quân ta có chặn

    đánh. Chừ hắn đang nằm dí giữa cánh đồng vì bị ta ví (vây) hết rồi. Hắn

    không dám đi nữa mô, bởi đứng lên thì sợ dính đạn mình. Tiếng băng

    đạn trung liên nổ đầu tiên là tiếng khẩu Bren của ta đó, không phải

    súng của hắn mô... ”

    Qua khỏi chiếc cầu cuối làng, có người nhìn lại và la lên: “Kìa hắn

    đang đi dưới cầu kìa”. Thế là mọi người ù té chạy. Tiếng súng 12 ly 7 đặt

    trên đồn Sư Lỗ nổ pằng pằng. Mấy chị chạy tóc rũ bơ phờ, có chị mái tóc

    khá dài tung ra khỏi búi và mệt mỏi xỏa xuống lưng.

    Từ các ngả đường, người trong làng đổ ra đồng, áo trắng, áo xanh.

    Xắc đeo bên hông, ba lô trên vai... Một người vác cả chiếc xe đạp của

    cơ quan lên vai, lội ruộng. Cán bộ có người vừa chạy vừa cố nói đùa vui,

    cho mọi người và trước hết cho mình đỡ sợ.

    Đến thôn T.H.1, dân và cán bộ tụ lại thành từng tốp. Có người nào đó

    nói: “Đừng đi xa quá. Đi xa quá rồi không dám trở về, chừ2”. Ông này

    có kinh nghiệm. Lánh giặc mà chạy thẳng một mạch, rồi sẽ không dám

    quay trở lại nữa, vì không biết rõ binh tình thế nào.

    Chúng tôi đứng nép vào một hàng tre. Vài người vào trong nhà dân

    ngồi ghé lên phản cho đỡ mệt. Có một cán bộ xách cặp từ đằng xa đi tới:

    “Hắn chết bốn năm tên chi đó, các ông à. Chính mắt mình nhìn thấy

    mấy tên nằm im không động đậy”.

    Bỗng có ai hét to, ra lệnh: “Tránh đường ra cho bộ đội vận động”. Mọi

    người vội giãn ra hai bên, sát bờ tre. Một vài người nhanh tay kéo các

    em nhỏ đang ngơ ngác đứng im giữa đường, không hiểu chuyện gì xảy

    ra, cùng mình nép sát bờ tre. Bộ đội huỳnh huỵch chạy đều đều ngược

    về phía lúc nãy có tiếng súng. Tiếng chân thình thịch. Các bao đạn kêu

    xọc xọc. Cành lá ngụy trang rung rinh. Một người dân lên tiếng khích

    lệ: “Gắng lên, chạy nhanh lên nữa, anh em ơi! Hắn còn nằm kẹt cứng

    1 Để giữ bí mật, sổ tay viết tắt, nay không rõ thôn nào.

    2 Bây giờ (BTV).

    dưới nớ”. Một anh khác dường như trước có tham gia phong trào xìcút1,

    làm ra vẻ hiểu biết: “Anh em cứ thở đi, thở cho đều vào thì chạy lâu

    mới ít thấy mệt”. Anh cán bộ tiểu đội chạy sau cùng, mình để trần. Anh

    dừng lại, một tay giữ chiếc sơ mi vừa cởi ra quàng quanh cổ, một tay vẫy

    lui đằng sau: “Tiến lên! Tiến lên, mau!”

    Tiểu đội thứ hai tiến lên. Lẫn giữa hàng quân, trung đội trưởng

    nghiêm chỉnh bộ quần áo kaki, mũ sắt, khẩu súng lục móc vào chiếc nịt

    lưng Mỹ toàn lỗ là lỗ. Chợt anh tách ra khỏi hàng quân, đứng sát vào

    bên đường nhìn lui, tay vẫy, miệng gọi lớn: “Lơvít lên trước”. Đồng bào

    đứng xem nắc nõm: “A, Lơvít, Lơvít, trung liên ấy mà... ”. Một người dân

    không hiểu sao cũng khoái chí gọi lớn: “Lơvít lên trước đi!”

    Khẩu Levis tiến lên trên vai một chàng lực lưỡng. Khẩu súng nòng

    tròn như một ống bương dùng làm máng nước, lủng lẳng đôi chân

    ngắn. “Lơvít, Lơvít đó, nặng lắm” - đồng bào xì xào. Có người xuýt xoa:

    “Lâu quá, e chậm mất, hắn chạy hết rồi”.

    Tôi không đi tiếp theo đoàn người sơ tán, quay trở lại theo bộ đội

    xem đánh nhau. Vài người dân bắt chước, vẻ phấn chấn hiện lên nét

    mặt. Nhưng có mấy người vẫn từ chỗ có tiếng súng đi ngược dòng bộ

    đội về hướng này. Đó là những kẻ chạy tránh địch chậm chân hơn cả.

    Một bà vừa mới ở cữ, áo quần đen, mình khoác chiếc tơi (tết bằng lá

    nón) tùm hụp dưới trời nắng chang chang, tay ôm một mớ giẻ đen cuộn

    cháu bé mới sinh, một nửa người cháu đỏ hỏn lộ ra ngoài cái tơi. Vài

    đứa con nít lon ton chạy theo người đàn bà ở cữ.

    Chúng tôi ra tận con hói ở rìa cánh đồng để xem cho rõ. Đứng dưới

    hói không sợ trúng đạn. Trong xóm, một vài thanh niên trai tráng đã

    quay trở lại nhà. Một bà mẹ dặn với con trai: “Mi về dọn cơm em ăn, cho

    xong bữa, nghe!” Dân tin tưởng khi thấy bộ đội xuất hiện. Bây giờ thì

    hắn chỉ còn lo chuyện chạy trở về đồn, còn bụng dạ nào đi lùng bố nữa.

    Chợt có tiếng xì xào. Hai dân quân xộc đến, vừa chạy vừa bảo mọi

    người: “Cái cáng, phải tìm cho ra cái cáng”, “Băng ca, băng ca, tìm mô ra

    băng ca mau!” - một người khác truyền. “Cứu thương đâu, cứu thương!

    1 Scout: Hướng đạo sinh (BTV).

    Đưa ảnh vô nhà đây nằm nghỉ chút đã”. Một dân quân cõng một anh bộ

    đội trên vai, dừng lại thở. Anh bộ đội đứng ghé một chân. “Bị đạn chỗ

    mô, trúng đạn chỗ mô?”, mọi người nháo nhác hỏi. Người bị thương chỉ

    đứng trên một chân, chân kia dính đạn hơi co lại. Viên đạn xuyên qua

    bắp chân, chiếc quần ka ki thủng hai lỗ, bết máu; khuy lưng quần cởi

    ra cho thoáng, để lộ chiếc quần đùi. Vẻ mặt đau đớn nhưng anh không

    rên la, nói năng gì.

    Tôi đi tiếp một đoạn nữa, lại gặp một anh bộ đội khác bị thương, nằm

    trên chiếc cáng tre giống như cái chõng. Anh nằm sấp, tay chống cằm

    cho khỏi úp mặt xuống cáng, vẻ mặt thản nhiên. Đồng bào hỏi thăm,

    anh đáp: “Không chết mô”. Viên đạn cắm vào mông khi anh đang bò

    nhưng chỉ dính phần mềm. Một ít máu ra thấm ướt quần.

    Trên đồn, súng 12 ly 7 của địch bắn pằng pằng từng băng ngắn. Một

    số quân của chúng bị thương còn nằm vật vã giữa đồng. Chúng bắn ba

    phát phuydê1 kêu cứu. Nhưng hình như canông và tàu bay Spitfire của

    đều mắc bận ở đâu cả, không thấy xuất hiện. Cũng có thể chúng coi

    thường, bỏ mặc, chẳng cần động binh. Chỉ có moọc chê từ trên đồn là

    bắn xuống đều đều như cầm canh.

    Nghe nói có người chết chở dưới ghe, tôi vội chạy ra hói xem. Chiếc

    ghe con, hai tay chèo ngồi hai đầu, xác anh Vệ quốc đoàn đặt nằm ở

    giữa. Đầu anh hơi chúc xuống, hai chân vắt lên thanh ngang giữa ghe.

    Người gầy gò, nhợt nhạt. Cánh tay bê bết máu lẫn bùn. Anh mặc chiếc

    áo may ô (áo lót không tay) đen, không nhìn rõ máu nhưng thấy vết

    đạn hình như xuyên từ ngực xuống hông. Mặt anh phủ một chiếc khăn

    trắng, còn người chỉ đắp một tàu lá chuối to. Một chị phụ nữ lội xuống

    hói, đến gần chiếc ghe, giở chiếc khăn ra nhìn rồi thốt lên một tiếng:

    “Trời ơi!” Tôi cũng nhìn thấy rõ mặt anh nhợt nhạt vì hình như dầm

    nước đã lâu. Đôi mắt nhắm không kín, để lộ hai chút lòng trắng. Miệng

    hé ra để lộ hàm răng hơi vẩu, và lúc này nhìn thấy sao răng người chết

    trắng quá chừng.

    1 Fusée: pháo sáng, pháo tín hiệu.

    24-5-1950 Vào Huế.

    Hôm nay tôi lại trở vào nội thành nơi khoảng năm tháng trước đây

    tôi đã từng đến. Có điều khác là đồn địch bây giờ nong ra đóng dày hơn,

    và con hói lần trước chúng tôi có thể lội bộ qua thì nay đang mùa mưa

    phải cởi hết cả áo lẫn quần, nước sâu tới cổ. Trăng non mồng bảy chiếu

    chênh chếch nhưng khá tỏ. Có thể nhìn rõ cảnh vật mà lần trước chỉ

    thấy lờ mờ trong đêm tối. Vẫn hàng dừa gió đùa ngả nghiêng. Gió nồm

    vẫn mát tình tứ.

    Tôi đọc rõ câu khẩu hiệu viết bằng hắc ín trên tường nhà dân: Chúc

    Hồ Chủ tịch sống lâu. Tất cả để chiến thắng. Trăng chiếu vào nước sơn,

    ánh lên trông như chữ nhảy nhót. Anh dân quân khu phố nói: “Hôm

    trước anh em đi kẻ khẩu hiệu trong đêm tối mù, chữ ngay ngắn được

    thế này là khá lắm rồi đấy. Thắp đèn lên mà làm thì sợ hắn bắn”.

    Ra khỏi xóm, qua một cánh đồng rộng, đất khô mới cuốc, bằng

    phẳng. Gió mát nên người cũng nhẹ lâng lâng. Đèn điện dọc phố T. Đ.,

    hôm nay nhìn ánh sáng sao trong thế. Ngọn đèn sáng chói kia là Miếu

    Đại Càng. Kia nữa là Bóp Cò, bên phải là đồn commăngđô. Tiếng ô tô

    chạy, tiếng máy phát điện nổ gần, tôi đi giữa đường phố, cảm thấy mình

    ngang nhiên quá. Các nhà gác hai bên đường treo đèn kết hoa. Mai là

    ngày Đản sinh Đức Phật tổ. Thoảng trong gió mát, mùi hương hoa mộc,

    hoa sứ lẫn với hương trầm. Tiếng mõ gõ đều đều. Tiếng tụng kinh nhà

    nào vọng ra, thỉnh thoảng lại điểm một tiếng chuông ngân nga thâm

    trầm trong đêm, mát rợi đường phố có bóng cây nghiêng ngả đổ bên lề.

    Đều đều vẫn tiếng tụng kinh: “Nam mô Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.

    Nam mô Bổn sư... ”

    Cùng đi với tôi có hai chú thiếu nhi trong đội Việt Dũng. Các em ở

    thuê chăn trâu. Tôi hỏi một em năm nay bao nhiêu tuổi. Em trả lời lém

    lỉnh: “Độ vài tuổi thôi”1.

    - Em đi làm thuê, mà tham gia đội Việt Dũng không sợ chủ mắng à?

    Tôi hỏi.

    1 “Tuổi Đông Dương”- một đồng tiền Ngân hàng Đông Dương thời gian này ăn

    bảy đồng tiền Ngân hàng ta.

    - Sợ chi, họ có việc họ, mình có việc mình. Mà con ông chủ cũng tham

    gia kháng chiến đó thôi.

    Em khoe mình đã năm lần tự tay ném lựu đạn.

    Anh dân quân đưa tôi ghé thăm một vài gia đình gần bên đường. Hai

    chú Việt Dũng canh chừng bên ngoài. Một vị quan về hưu sống trong

    một biệt thự khá đẹp. Đôn sứ, chậu hoa, có cả liễu rũ huyền ảo dưới

    trăng chênh chếch. Nhà rộng nhưng ông chủ chỉ quẩn quanh trong

    gian thờ cùng chú “tiểu đồng” và cây đèn tọa đăng, hầu như không

    bước chân sang các phòng khác. Cụ đang đọc kinh Phật. Đôi kính trắng

    ngước lên nhìn chúng tôi. Một khuôn mặt phương phi, râu đẹp ba chòm,

    áo cánh đơm khuy bên phải. Chiếc bàn vuông mặt đá hoa sáng giữa đôi

    trường kỷ gụ đen. Trên bàn có cái bát điếu hút thuốc lào, chiếc cần trúc

    uốn cong có treo trang trí chiếc bầu rượu nhỏ tí xíu. Trong cái khay gỗ

    trắc, hai chiếc chén hạt mít, một cái chén tống và cái ấm độc ẩm đất

    gan gà. Chén trà đã pha sẵn. Một đĩa đựng trái roi (quả đào), mấy quả

    óng mượt điểm một vệt hồng như má cô gái hồng đào. Bên cạnh, lại có

    cả một gói thuốc lá nhãn hiệu MIC. Một gói đèn sáp (nến) mang nhãn

    hiệu bằng tiếng Tây: La cloche.

    Gian bên kê bộ ván ngựa bằng gỗ trắc được lau chùi hằng ngày, mặt

    bóng như gương, tôi có cảm giác đặt mình nằm xuống đấy chắc lạnh.

    Cụ già nói: “Tôi chẳng có giấy má tùy thân chi cả. Giơ cái mạng tra (thân

    già) ra mà liều với Tây”. Chuyện trò chẳng mặn mà gì, hình như ông già

    chỉ đáp lời cho phải lễ, tôi cáo lui. Bắt tay tiễn tôi ra cửa, ông nói câu

    chữ Hán: “Bất khả cửu lưu”1.

    Đúng tâm trạng một người ngại tiếp khách “ngoài”.

    Một điền chủ. Người to lớn phốp pháp như ông chủ hiệu Tàu, cái đầu

    trọc trơn không một sợi tóc như đầu phỗng sành. Ông này thái độ khá

    hơn ông kia, tích cực ủng hộ kháng chiến - anh dân quân dẫn đường

    cho biết - nhưng tính lại rất nhát. Khách vào chơi nhà, đáng lẽ ngồi tiếp

    chuyện thì ông thường nhấp nhổm, có hôm ra hẳn ngoài sân để... làm

    nhiệm vụ cảnh giới địch. Lần này, để ông chịu ngồi yên tiếp chuyện tôi,

    1 Không thể giữ lại lâu (BTV).

    anh dân quân phải báo trước là đã bố trí du kích cảnh giới hẳn hoi. Ông

    này hay đi lên trên phố, nhưng hỏi tình hình chẳng biết chi nhiều, cũng

    có thể là ông ngại không muốn nói chuyện lâu - tôi nghĩ vậy.

    Một thanh niên xưng mình làm“Ứng kiểm soát bờ bể”- cái tên nghe rắc

    rối, chắc là nhân viên ngành hải quan hoặc cảnh sát biển chi đó. Anh

    nói: “Ngày Độc lập (Quốc khánh), lúc nào em cũng tưởng đến các anh,

    các anh an toàn là em sung sướng”. Gọi là được làm công chức, nhưng

    “về tháng tám, đêm mô em cũng phải đi soi cá ngoài đồng, bụng chỉ

    mong sao các anh nhìn thấy mình đừng tưởng là Tây mà bắn chết tội

    nghiệp”. Anh này được tổ chức giao cho nhiệm vụ thỉnh thoảng đi thăm

    người của ta bị bắt giam ở lao Thừa phủ, anh cũng có ủng hộ kháng

    chiến ít nhiều tiền bạc, áo quần...

    Khá khuya, sau khi thăm mấy nhà dân, chúng tôi rời nội thành trở ra.

    Thật ra đây chỉ mới là một làng ven đô. Tuy vậy, anh bạn nhà thơ cùng

    đi với tôi nổi máu lãng mạn lên, ghi bút danh của mình lên mặt tường,

    nói mai sẽ gửi thư báo cho cô bạn gái trong thành biết để đạp xe ra đây

    mà xem, cho thật tin chắc rằng đích thân anh bạn thân quý của mình

    có vào tận đây. Một anh khác bẻ một nhành liễu mang về...

    CHIẾN DỊCH PHAN ĐÌNH PHÙNG 1950

    27-5-1950 Vào chiến dịch. Chiều nay tôi rời vùng ngoại thành Huế

    tìm về Đại đội 150, Trung đoàn 95, khởi sự đi theo chiến dịch1… Dọc

    đường, gặp một vài anh bộ đội được đơn vị cho ra Trại điều dưỡng đặt

    ở thôn Thế Chí, huyện Phong Điền nghỉ dưỡng sức vì đang bị bệnh,

    không đủ sức hành quân cùng đơn vị đi chiến dịch.

    Gặp lại những người quen cũ, cán bộ và chiến sĩ đại đội 150. Mấy

    tháng trước, vào dịp Tết nguyên đán, tôi sinh hoạt với đại đội này, đúng

    ngày mùng một Tết, lợi dụng mưa phùn gió bấc, mây dày và thấp, máy

    bay trinh sát địch không hoạt động, đại đội hành quân ban ngày, nghe

    nói ra chuẩn bị để tập kích đồn chợ Cạn, tỉnh Quảng Trị.

    Đơn vị tập hợp dưới trăng. Không khí vui nhộn, cảnh thường gặp ở

    bất cứ đơn vị nào, chỉ vì mấy tuần qua, tôi sinh hoạt ở Thị đội đóng cơ

    quan quá gần thành phố nên ít có dịp thấy.

    1 Nhằm nghi binh, Trung đoàn chủ lực của Phân khu Bình Trị Thiên hồi này

    đóng quân quanh quẩn mấy huyện Nam Thừa Thiên, chuẩn bị vào chiến dịch,

    mà trận địa chính sẽ mở tại vùng giáp ranh hai tỉnh Quảng Trị và Quảng Bình,

    cách xa hơn 100 km.

    Biên chế đại đội không đông. Đây là số thực sự đi chiến đấu. Những

    người được chọn lọc để sẵn sàng chết nếu cần. Họ hát say sưa. Tôi tự

    nhiên cảm thấy hồi hộp như đang chờ đợi một cái gì quan trọng lắm

    sắp xảy ra. Phút chờ đợi giờ xuất quân quả cũng có cái gì đó hùng tráng.

    28-5-1950 Ba giờ sáng, đang ngủ ngon. Có liên lạc viên Tiểu đoàn

    mang lệnh đến. Toàn đơn vị bí mật tập hợp, để xuất quân! Mọi người

    chuẩn bị trong im lặng. Mọi việc diễn ra hối hả trong tiếng thì thầm.

    Việc này tập luyện mãi, đã thành nề nếp. Nhiều bóng đen chạy đi

    chạy lại giữa sân. Nhìn lên, giải Ngân hà đúng trên đỉnh đầu. Trăng

    tắt lâu rồi nhưng bầu trời nhiều sao nên không tối lắm. Ngôi sao mai

    vừa mới mọc, nhấp nháy sáng tỏ hơn các vì sao khác. Dường như chó

    cũng không biết để lên tiếng sủa (hoặc là chúng đã quá quen cảnh này)

    nhưng ở một vài nhà, dân đã dậy.

    Hành quân. Đêm hè, chưa tới năm giờ trời đã sáng tỏ. Có nghĩa đơn vị

    đi chưa được bao lăm (bao nhiêu) đường đất. Nhưng hành quân vào ban

    ngày thì được phép trò chuyện vui đùa. Bộ đội học câu địch vận: Cessez

    le feu! Posez les armes! (Ngừng bắn, hạ vũ khí xuống!) Mấy anh nông dân

    lặp đi lặp lại thế nào mà Posez les armes nghe như Vô tri vô giác. Lại cười,

    reo hò, trong khi người nào người nấy oằn đi dưới sức nặng sáu ngày gạo

    mang theo ăn đường. Mới ngày đầu, chưa ai thấm mệt.

    Đến 8 giờ 30, được lệnh nghỉ hẳn.

    Lúc này đã có chiếc máy bay bà già lượn lờ trên đầu, nhưng không

    nghe tiếng đạn ca nông hoặc máy bay bắn phá.

    Tối, tiếp tục hành quân. Có lệnh cho đơn vị đi thong thả để dưỡng

    sức. Vòng ra bãi biển cát trắng sát biển để tránh đồn. Đơn vị đi thành

    hàng dài ngòng ngoèo trên cát, nhìn từ xa thấy cũng khá đẹp. Đoàn

    quân tắm trong lớp bụi mù. Một vài người húng hắng ho, có lẽ vì anh

    em không biết cách thở, để bụi bay vào miệng. Ở đây không xa đồn

    địch, có lệnh nhắc anh em cố gắng nín, đừng ho ra tiếng to. Qua khỏi

    cồn cát, thấy ngứa trong họng, tôi đang phân vân không biết lúc này

    đã có thể ho lên một cái hay chưa thì nghe từ một nhà nào đấy vẳng ra

    tiếng mẹ dạy con học đánh vần chữ quốc ngữ. Dân đã nhìn thấy bộ đội

    hành quân. Có gì đâu mà mình quá cẩn thận. Có mấy em bé chạy ra, rồi

    đi theo xem bộ đội, kháo nhau:

    - Bộ đội đi đôông (đông) quá, mình ngó đến chóng mặt.

    Một vài em nhận ra người quen:

    - A, anh Dục, anh Đô! C150 đây rồi!

    Anh Châu hỏi:

    - C150 là đơn vị nào? Ai đỡ đầu?

    Một em liến thoắng:

    - C150 là đại đội 150. Xã chúng cháu đỡ đầu.

    Đến nơi trú quân. Tôi vào nhà tiền trạm đã được hỏi mượn từ trước

    để bộ đội nghỉ lại trong ngày, hóa ra nhà đã bị các em học sinh thôn

    khác về dự kỳ thi tốt nghiệp tiểu học tổ chức tại đây sáng mai chiếm

    mất rồi.

    29-5-1950 Ban ngày nắng như lò lửa. May có trận mưa giông lúc xế

    chiều, cũng có làm dịu bớt mặt đất được phần nào.

    Gần tối, tập hợp toàn tiểu đoàn trên trảng cát, chuẩn bị tiếp tục cuộc

    hành quân. Dưới chập chõa hoàng hôn, bộ đội xếp hàng kết thành một

    khối trông cũng hùng vĩ. Trước giờ khởi hành, từng trung đội hội ý

    riêng, xúm xít quanh người chỉ huy, rút kinh nghiệm ngày hành quân

    vừa rồi. Đồng bào trong làng tò mò kéo ra xem bộ đội, một số xúm

    quanh chỉ trỏ mấy khẩu súng liên thanh 12 ly 7 đang hếch mõm trên

    bộ giò cao lênh khênh nhìn lên trời.

    Khởi hành. Lại lần nữa sắp đi ngang qua gần một đồn địch. Từng

    trung đội hành quân theo đơn vị, súng cầm tay, bám sát nhau. Mỗi lần

    trước dừng lại, anh em ở sau tản ra ngồi xuống, vị thế sẵn sàng chiến

    đấu. Pháo sáng từ đồn địch bắn lên chiếu ánh sáng đỏ. Ca nông địch

    vẫn nện thình thình cầm canh. Rõ ràng là địch kháng chiến cầm cự với

    ta chứ không phải ta kháng chiến chống địch, như lời ai đó nói.

    Đến bến đò, tôi bàng hoàng trước cảnh thuyền đò sao tập trung đông

    đúc thế. Một chiến sĩ quê Thừa Thiên thốt lên: “Thật có khác chi bến

    đò Bao Vinh ngày phiên chợ!”. Bộ đội đứng đông nghịt trên bờ, chờ

    lần lượt xuống thuyền đi một đoạn đường thủy vượt qua sông chặng

    gần Cửa Việt. Sông Thạch Hãn sắp đổ ra biển cho nên chặng này rộng

    mênh mông, những chiếc thuyền dong buồm trắng lướt nhẹ như cánh

    bướm. Đến lượt nhóm chúng tôi xuống thuyền. Có lệnh cho cởi bớt đồ

    đạc nặng, sẵn sàng chiến đấu nhỡ gặp địch. Thôi thì đủ loại thuyền bè

    to nhỏ, có mui hoặc không mui, buồm to buồm nhỏ, thuyền đang làm

    nghề dẹp lưới gọn sang một bên lấy chỗ cho bộ đội ngồi.

    Tôi nhảy lên ngồi trên mui thuyền. Nhìn ra chung quanh, toàn

    thuyền là thuyền. Từ trên xuôi về, có mấy cánh buồm đang lướt phăng

    phăng, đó là cánh tiểu đoàn bộ. Mấy chiếc chưa có người bên phải kia,

    hẳn dành chờ tiểu đội đến sau. Thuyền nhiều đến nỗi tôi liên tưởng

    đến bức tranh xanh đỏ lòe loẹt vẻ cảnh trận đánh hỏa thiêu Xích Bích

    trong truyện Tam Quốc vẫn treo bán ở các hiệu khách ở phố huyện tôi

    ngày trước: trên thuyền cũng lố nhố quân sĩ như thế này. Cứ một chiếc

    thuyền buồm lại kéo một chiếc đò con theo sau, cứ thế mà hành quân

    thành hàng một. Xen giữa đoàn thuyền, các chiếc xuồng con chở anh

    em liên lạc ngược ngược xuôi xuôi.

    Buồm lộng gió đêm, thuyền lướt nhanh và êm, tiếng rạch nước xột

    xoạt nghe mơ màng. Tôi tưởng như mình đang đi chơi trăng xem hội

    thuyền chứ không phải đi chiến dịch. Nằm ngửa trên mui, nhìn quanh

    chỉ thấy toàn trăng, nước, buồm cùng gió. Mà ở đây chỉ cách vị trí địch

    chừng một cây số. Anh chèo thuyền nói: “Tính từ đầu chí cuối, dễ đến

    450 chiếc”. Anh nói thêm: “Tôi chuẩn bị đi làm nghề thì được giấy của

    Ủy ban, bảo tạm nghỉ đi nghề một đêm, để chở giúp anh em bộ đội qua

    sông đã”.

    Mơ màng nhưng không dám ngủ vì sợ nằm trên mui nhỡ ngủ quên

    lăn xuống sông. Tôi thả người ru người theo nhịp đò lúc lắc và tiếng hát

    khe khẽ của anh bạn nào đó nằm kề bên, một bài hát lãng mạn: “Em mơ

    đôi bướm vàng, Hoa báo tin xuân về trong giấc mộng...”

    Bộ đội ta đi chiến dịch đấy.

    Sau chừng 50 phút, bộ giò được nghỉ ngơi thanh thản trong thuyền,

    chúng tôi lên bến. Lại hành quân bộ. Đồng bào trong làng kéo ra xem

    bộ đội đông nghịt. Có người bảo mình ngợp vì bộ đội quá đông. Các đơn

    vị nhanh chóng tập hợp, chờ những người đi tiền trạm đón về địa điểm

    trú quân khi trời sáng.

    Cát trắng, đi trên cát xốp, mỗi bước tới lại tưởng như có người mình

    kéo lùi về phía sau. Trăng mát, gió mát, cát lại càng mát gần như lạnh,

    nhưng người thì nóng ran. Những phút có lệnh nghỉ chân, ngồi bệt

    xuống cát, nghe mát rượi như vừa được uống một cốc nước giải khát có

    đá ở hiệu Bình Minh, thị trấn Đô Lương, ngoài tỉnh Nghệ An đã lâu lắm

    rồi. Mở cúc áo, phanh ngực, cho gió biển thổi vào, càng thấy nhẹ thêm

    người. Giá mà lúc này đựợc đánh một giấc.

    Giấc mơ ấy tôi chỉ được toại khi đơn vị về tới thôn C., một thôn nhỏ

    và nghèo ven biển. Dân cư làm mỗi một nghề đánh cá. Làng khô như

    bãi cát trắng. Các mái tranh nhỏ và xám xịt bám sát bãi cát trông như

    những cái hộp đen sì. Cả thôn chỉ có dăm vồng khoai lang là có màu

    xanh, cùng vài hàng rào dứa gai xơ xác. Các hàng cây dương liễu thì gầy

    còm, ngơ ngác. Chỉ chừng ấy có màu xanh, còn toàn là cát trắng. Anh

    em mượn chiếu trải lên cát ngủ. Làm gì có giường phản ở chốn này.

    Tuy nghèo, đồng bào ở đây rất tốt. Nước chè xanh đã nấu sẵn chờ bộ

    đội. Vài nồi khoai lang mặn (khoai lang trồng ven biển, củ khoai nhiễm

    mặn, ăn có vị đậm). Mời anh em tự nhiên uống nước ăn khoai. Và cũng

    chỉ có thế. Các chị dặn nhau: “Ngày mai chị em mình phải cùng giúp

    sức nghe, đừng để anh bộ đội nào phải xuống bếp. Anh em đi cả đêm,

    mệt lắm rồi”.

    Tôi chợp ngủ, chợt nghe tiếng loa: “Alô, đồng bào nhìn thấy gì thì

    thấy nhưng phải giữ bí mật, không được nói lại với ai, không được chủ

    quan”. Đấy là giọng anh cán bộ thông tin thôn vừa đến mượn nhờ chiếc

    loa của bộ đội.

    Yêu cầu dân giữ bí mật bằng loa, cũng lạ!

    31-5-1950 Hôm nay tiếp tục hành quân. Bắt đầu thấm mệt. Mọi

    người đi lặng lẽ. Hết chuyện trò rôm rả như mấy hôm đầu. Lội qua một

    cánh đồng bỏ hoang. Đây là ruộng lúa chỉ làm một vụ. Dấu chân đi tạo

    thành một vệt như lối nước chảy xói trên rừng. Lại sang sông. Sông

    khúc này hẹp. Gặp (cán bộ) tiền trạm ra đón, mừng rỡ tưởng đã đến nơi

    trú quân, anh em bảo chỉ còn phải đi chừng một cây số nữa thôi. Một

    cây số đi hoài không đến, nhiều người gắt om chuyện cây số cao su.

    Cứ ngược dốc mà leo lên, leo lên nữa. Đến được nhà nghỉ thì mệt vừa

    đọa (kiệt sức). Thật ra thì cũng chỉ chừng một cây số thôi, không hơn,

    nhưng là một cây số leo ngược đụn cát.

    Dân mọi nhà trỗi dậy đón anh em bộ đội. Bên cửa từng nhà để một

    cái ghè đựng nước chè xanh nấu đậm đến đắng ngắt, trên úp chiếc gáo

    con và cái bát. Nước đun sẵn chờ bộ đội đấy. Vùng này có đồi đất đỏ.

    Vấn đề gay nhất là thiếu nước ngọt. Từ nhà nghỉ, phải đi non cây số

    mới tìm được cái giếng con con. Mà lệnh trên buộc anh em phải rửa

    chân thật sạch trước khi đi ngủ để tránh nạn ghẻ hờm (sâu quảng) rất

    phổ biến nơi đây. Sáng mai anh em được phép thức dậy muộn một chút

    để lấy lại sức. Còn tối hôm nay Hội đồng binh sĩ sẽ đi khám chân từng

    người xem rửa đã thật sạch chưa.

    01-6-1950 Nhưng sáng có dậy muộn được đâu. Mùa hè, mới năm giờ,

    mặt trời đã mọc, lại có tiếng súng nổ dồn và có báo động bên thôn Tây

    (Huỳnh Công Tây, huyện Vĩnh Linh). Bộ đội nhảy khỏi giường, tập hợp

    vội. Phía trước mặt, xa xa đã thấy bốc lên khói Tây đốt nhà, cách thôn

    này chỉ một cái rú, dân gọi là Rú Lịnh. Rú rậm và bịt bùng, nghe nói có

    nhiều hầm bí mật đào trong ấy. Theo một người dân ở đây, mọi gia đình

    đều được lệnh chuẩn bị đào sẵn hầm, có thể bảo đảm cho năm người

    xuống nấp dưới hầm bí mật nhà mình khi cần thiết.

    Bộ đội bẻ lá tự ngụy trang. Bên đường hoa dẻ thơm ngào ngạt. Tôi

    vẩn vơ tìm hái một vài bông hoa. Tin vào lực lượng khá mạnh của mình.

    Phía trước trung liên vẫn nổ ròn như pháo, thỉnh thoảng điểm vài phát

    moọc chê. Gặp địch sáng nay dù sao cũng không có lợi cho ta. Anh em

    mới ngủ có mấy tiếng đồng hồ và bây giờ chắc bụng đã đói. Hơn nữa,

    dù đánh thắng cũng chẳng hay ho gì vì có thể làm lộ lực lượng tham gia

    chiến dịch, hỏng kế hoạch lớn.

    Có lệnh cho bộ đội rút. Đi qua khỏi Rú Lịnh, trên đường về Cáp Lài

    bên ngoài Cửa Tùng, ngoái nhìn lui thấy khói đen nhà cháy phủ kín

    trời, thấy cả tàu bay nó liệng - khá gần. Không biết địch đốt bao nhiêu

    nhà cửa của đồng bào. Tiếng tre cháy nổ vọng lại ở đây xa thế còn

    nghe rõ, nghe buồn ghê gớm, cột tre, đòn tay tre nổ rời rạc như tiếng

    người kêu cứu. Tôi chạy nhanh cùng anh em mang vác pháo. Mấy khẩu

    12ly7 cồng kềnh trên vai những anh lính đang cố bước thật nhanh,

    mồ hôi nhễ nhại. Có anh còng người dưới chiếc đòn gánh, hai đầu hai

    thùng đạn đen sì trông như hai cái hòm ắc quy điện cỡ lớn. Anh đại đội

    phó, ca lô màu lá cây đội lệch, ba lô tòn ten sau lưng, vai vác một ruột

    tượng gạo trông như cõng một con trăn. Bỗng anh thét: “Tản ra hai bên

    đường!”. Ình! Rồi tiếng quả đạn rít veo, xạc xạc. Một quả moọc chê nổ

    sát ngay sau lưng chúng tôi. Địch bắn tiếp mấy quả nữa. Tôi nhìn lui,

    thấy mấy đám bụi đất đỏ hung hung lẫn với khói vừa tung lên, trên bức

    phông là cái Rú Lịnh và đằng sau xa nữa là khói cháy nhà. Chúng tôi

    chạy xào xào qua các bụi cây lúp xúp. Lại nghe tiếng ình, một anh hét:

    “Đề pa đấy. Nằm xuống!” Sau tiếng nổ, lại thét: “Thôi, chạy!”.

    Một anh cán bộ hô: “Các tiểu đội chỉnh đốn hàng ngũ!”. Địch đang

    bắn đuổi. Hình như ta đã bị chúng phát hiện. Có cả mấy băng trung liên

    địch bắn đuổi theo, tiếng đạn kêu xeo xeo rồi quá tầm găm xuống đất,

    tung bụi lên sát ngay bên người mình. Lát sau, được biết có anh trung

    đội phó công binh bị thương vì băng đạn cầu âu ấy.

    Đại đội phó hô: “Trung đội nào chạy bám sát đội hình trung đội ấy”.

    “Điểm lại hàng ngũ. Đi cách xa nhau ra!” Lát sau tiếng anh lại ra lệnh:

    “Các anh mang vác nặng nhớ tự động đổi vai cho nhau, nghe!” Làm tôi

    nghĩ đến những khẩu đại liên 12ly7 với bộ giò kềnh càng vừa nhìn thấy

    hồi nãy, khẩu súng cối 60 với cái đế nặng hai người khiêng, và nhất là quả

    bom 50 kí lô níu oằn cây tre tươi vắt ngang vai hai chiến sĩ công binh.

    Đại đội phó chợt dừng lại, quan sát địa thế chung quanh rồi kêu to:

    “Ống nhòm đâu? Ai cầm ống nhòm? Quan sát kỹ số người đang chạy lố

    nhố trên đồi mé tay trái kia!”. Tôi quay nhìn về phía ấy, quả nhìn thấy

    có lố nhố nhiều người chạy thật. Lát sau, quan sát viên báo cáo đó là

    đồng bào tránh càn, không phải địch.

    Ra khỏi ngoài tầm súng hắn, bộ đội đi thong thả hơn. Đại đội phó

    lau mồ hôi trán, cười hỏi mấy anh tân binh từ ngoài Nghệ An mới vào

    bổ sung cho đơn vị: “Thế nào, lần đầu nghe súng nổ bên tai, có sướng

    không? Đấy mới là tiếng moọc chê 81 thôi đấy. Mà này các cậu, khi đã

    nghe tiếng nổ rồi thì nằm bẹp xuống đất làm quái gì nữa? Phải chú ý

    lắng nghe và nằm xuống ngay khi tiếng đạn bay còn xành xạch trên

    đầu. Nghe xạc xạc tức là đạn đang sắp rơi xuống gần chỗ mình. Còn đã

    nghe nổ đoàng rồi, nằm cũng chẳng ích chi!”.

    Bộ đội tới thôn T. C.1 Đồng bào được báo, đã tản đi nơi khác hết. Nhà

    nào cũng vắng không. Chỉ có mấy anh, chị cán bộ ở lại trông chừng. Các

    chị này cũng vừa từ bên thôn kia chạy sang đây. Kệ. Anh em ùa vào các

    nhà kiếm vại nước uống cái đã.

    Vùng đồi đất đỏ, khí hậu rất khó chịu cho những người chưa quen.

    Mùa hè, đất khô nâu lại dưới ánh nắng, rắn đanh. Trên mặt phủ một lớp

    bụi mịn, gặp cơn gió lốc bụi cuốn mù trời. Cây cối bụi bờ rậm rạp. Trưa

    nặng chình chịch. Giấc ngủ trưa kéo dài, sẽ dẫn đến một cơn sốt. Gặp

    cơn mưa, đất chuyển sang màu đỏ thắm, dẻo quánh và trơn như mỡ. Đi

    guốc đi dép đều không được, vì chỉ sau hai bước chân là guốc dép đã

    hóa thành hai tảng đất dẻo nặng chịch. Nếu anh nhỡ ngã, áo quần bệt

    bùn đất đỏ thì khó mà gột sạch nếu không có xà phòng. Đồng bào ở đây

    thường nhuộm nâu hoặc nhuộm đen áo quần là vì vậy.

    Nhà rộng nhưng hầu như không có đồ đạc ghế giường. Nhiều anh ra

    sân tìm bóng mát ngồi nghỉ. Lát sau, thấy yên tĩnh, đồng bào lục tục

    quay trở về. Thấy có bộ đội, hối thúc nhau: “Đi tìm nồi, lấy vô cho anh

    em nấu ăn, mau. Có bộ đội rồi, không sợ chi nữa mô”. Thì ra đồ đạc

    trong nhà đã mang cất giấu gần hết ngoài bờ bụi, đề phòng địch phóng

    hỏa đốt nhà. Bà con tìm nồi niêu từ các bụi rậm, ra nương (vườn) hái

    trái thơm (dứa), trái mít giúp bộ đội nấu cơm. Vùng này đất đỏ nổi tiếng

    có nhiều thơm ngọt mít ngon. Dân rất tốt, có truyền thống tin yêu, sẵn

    sàng làm bất cứ việc gì giúp đỡ bộ đội.

    Tôi nghĩ cuộc đời anh lính Việt Nam đúng thật là cuộc đời di động.

    Trừ những hôm thực hành kế hoạch huấn luyện thì tạm đóng quân

    yên một nơi, còn thì di chuyển quanh năm. Di chuyển để rèn luyện. Di

    chuyển để tránh địch. Sớm hành quân, chiều hành quân. Xuyên núi,

    1 Không rõ thôn nào thuộc huyện Vĩnh Linh.

    xuyên rú, qua trảng cát, qua ruộng bùn. Đi ngày nắng, đi đêm mưa,

    phần lớn là đi đêm. Vừa đi vừa học, học hành quân, học cách liên lạc,

    học cách giữ bí mật, học kỷ luật, học văn hóa...

    05-6-1950 Chuẩn bị bước vào chiến dịch. Cần phải nương sức anh

    em. Các đơn vị cố gắng chăm sóc sao cho không có người nào đau yếu.

    Được ăn no, vui chơi, bớt căng thẳng. Tiếng trống ba lệnh (trống con) ròn

    rã1 suốt ngày. Anh tiếp phẩm đại đội đi mua được của dân con heo mang

    về, vứt nằm lăn lóc dưới đất, heo thở hồng hộc vì nắng. Ai bước ngang

    qua bên cạnh, nó lại kêu eng éc như sắp bị chọc tiết tới nơi, điếc cả tai.

    Lệnh: Mỗi trung đội cử một người đến giúp cấp dưỡng làm thịt con heo.

    Tiểu đoàn vừa cho đại đội thêm hai ngàn đồng ngoài tiêu chuẩn, cho

    nên mới có tiền mua heo này. Còn bữa cơm thường ngày chủ yếu là

    thơm, mít, dưa quả. Lại được đại đội bạn mang đến biếu cho khúc thịt

    bò. Chắc của Đại đội 156. Hôm qua chính tôi nghe anh tiếp phẩm Đại đội

    ấy nỉ non với một bà cụ, xin mua lại con bò: “Mẹ nói năm ngàn (đồng),

    con xin gửi mẹ bốn, mẹ đồng ý đi, cho anh em chúng con tươi một bữa”.

    06-6-1950 Chúng tôi đang họp ở Trung đoàn bộ bàn việc phối hợp

    công tác văn nghệ, báo chí trong chiến dịch thì có lệnh hành quân đến

    địa điểm mới. Các đơn vị đã đi trước hết cả rồi, kể cả số anh em ở Trung

    đoàn bộ. Chỉ còn lại anh Trần Văn Bành Chính ủy Trung đoàn, mấy anh

    em trong Ban chính trị và cánh văn nghệ, báo chí chúng tôi.

    Tôi nuốt vội vàng mấy miếng mít chín và dưa hấu đã bổ sẵn để kịp

    lên đường. Nhưng loay hoay mãi không tìm ra liên lạc, mà anh em

    chẳng có ai thạo đường từ đây đến thôn Thái Mạch là địa điểm đóng

    quân mới (để dẫn mình đi). Mãi mới vớ được hai ông dân quân đang đi

    tuần, yêu cầu một ông dẫn anh em ra thôn Thái Mạch giáp giới Quảng

    Bình. Anh giao thông bất đắc dĩ này là một anh dân quê hiền như đất.

    Anh Nguyễn Hồng nhạc sĩ nhờ anh vác hộ cái đàn ghi ta, anh ngắm

    nghía lạ lắm, không hiểu là cái vật gì đây.

    1 Giòn giã (BTV)

    Đi ngang qua xóm, anh gọi với vào: “Chú Y. ơi, mang chiếu ra chòi

    ngủ trước đi. Tôi đưa bộ đội ra Thái Mạch rồi về chừ, nghe”. Một anh

    trong đoàn chúng tôi trêu: “Ấy, phải giữ bí mật chứ, sao anh lại nói rõ

    địa điểm ra thế?” - “Ồ, người làng người nước bầy tui với nhau mà”,

    anh cười chất phác. Đến nơi, anh chào anh em để quay trở lại, một tay

    giơ nắm đấm lên quá đầu nhưng bàn tay quên nắm lại mà xòe đủ năm

    ngón, miệng tươi cười: “Chào bộ đội, chào bộ đội, tui về”.

    Đêm, đoàn chúng tôi đi tiếp trên bãi biển, nhằm hướng bắc. Gió nam.

    Sóng nhẹ. Biển mù mịt. Thấp thoáng mấy cánh buồm hình như cũng

    đang dong ra phía bắc. Xa lắm ngoài khơi, một ánh đỏ mờ: tàu địch di

    tuần dọc duyên hải Bắc Nam đấy.

    Gặp một đại đội hành quân đang ngồi nghỉ chân trên bãi. Thỉnh

    thoảng lóe lên ánh lửa bật lên châm thuốc lá trong hàng quân, mới biết

    đơn vị này khá đông. Đường nhẹ, gió mát, vui chuyện, đi xa không thấy

    mệt lắm. Anh Trần Văn Bành kể chuyện đánh đồn Cửa Tùng, chiến dịch

    Lê Lai năm ngoái. Hôm ấy, mưa và rét. Đường trơn, hành quân cứ ngã

    uỳnh uỵch không biết bao nhiêu lần. Hành quân trong mưa và gió, đêm

    tối đen, ngửa bàn tay không thấy, vất vả là thế. Đến nơi, chuẩn bị công

    đồn thì hết mưa hết gió, trăng lại tỏ, đúng là gió mát trăng trong!

    Chúng tôi gần đến nơi tập kết thì Tiểu đoàn 2 hành quân sau chúng

    tôi đã đuổi kịp. Bộ đội đi hàng đôi, hò hát, cười át cả tiếng sóng vỗ.

    Trông khí thế lắm.

    Bãi biển. Ghe chài kéo từ mặt nước lên, đỗ lô nhô trên bãi cát. Chúng

    tôi mượn mấy chiếc chiếu, trải lên sàn một chiếc ghe ngủ. Trăng lên

    cao, gió càng mát. Trăng sáng quá, giấc ngủ của tôi cứ chập chờn. Sóng

    biển đánh ầm ầm, tưởng như sóng đấm vào người mình. Trong mơ

    màng, hé mắt nhìn bầu trời tím nhạt lấp lánh sao, làm cho mặt biển

    như càng lặng và càng thắm hơn, tuy vẫn có tiếng sóng. Thủy triều lên,

    nước dần dần xấp xõa tới đáy ghe. Tưởng như chiếc ghe mình nằm đã

    bồng bềnh trên biển, dật dờ theo sóng sắp trôi dạt đi đâu. Trăng càng

    tỏ càng khó ngủ.

    Có thông tri của Ban chỉ huy Trung đoàn cấm bộ đội không được mặc

    đồng phục ra lượn lờ ở chợ. Ai cần mua bán gì, nhờ đồng bào đi mua hộ.

    Cánh văn nghệ cùng nhau liên hoan một bữa tươi: toàn cá nục tươi

    rói luộc chín tới, toàn cá nục chấm nước ruốc. Liên hoan trước khi chia

    tay, phân mỗi người về một đơn vị trong suốt thời gian chiến dịch.

    Nhưng bữa cơm chia tay không có cơm, chỉ toàn khoai và khoai. Cả

    vùng này lương thực chỉ độc có sắn, khoai. Miền biển nghèo, lại nóng

    ghê gớm. Chủ nhà dặn anh em có muốn đi tắm biển thì nên đi cho sớm,

    chứ trưa cát nóng bỏng không bước nổi qua trảng cát đâu. Đây làm gì

    có ruộng lúa nước. Dân vì vậy chẳng nhà nào có hạt gạo trong thạp1,

    mà anh em tiếp phẩm của đơn vị đi nhận phần gạo cung cấp của chúng

    tôi, nhanh lắm tối nay mới về kịp. Nghe nói bộ đội chờ gạo để nấu cơm

    ăn chiều, ông chủ nhà lặng lẽ ra vườn dỡ khoai lang mang vào nấu cho

    anh em dùng tạm.

    Hẹn gặp lại sau chiến dịch.

    08-6-1950 Rủ nhau ra bãi biển ngủ cho mát. Nửa đêm trời bỗng nổi

    gió, sóng biển ầm ầm. Thức giấc vì lạnh và cũng vì tiếng hò đẩy thuyền.

    Thấy sóng lớn, đồng bào gọi nhau ra đẩy thuyền lên bãi, vào sâu trong

    đất liền hơn nữa. Có chớp liên tục về hướng bắc. Đến sáng, sóng càng

    to hơn. Nhớ lại cảnh tấp nập bộ đội hôm qua đi lại trên bờ biển như đi

    dạo mát một chiều thanh bình. Hôm qua mọi người còn xúm xem dân

    chài kéo lưới vây cá nục. Cá nục đi từng đàn lưng nổi lên mặt nước như

    lườn sóng xanh. Thế mà sáng nay biển lồng lộn, sóng chồm lên hùng

    hổ ùa vào như muốn cướp phá mọi thứ trên bãi cát; ào ào xõa sóng rồi

    ào ào vội vã rút ra.

    Dân làng cho biết lúc sáng tinh mơ có người trông thấy mấy chiếc

    ghe từ phía Bắc vào, không cập bờ được vì sóng quá to; hồi nãy còn

    thấy bập bềnh, giờ không thấy tăm hơi đâu cả. Ngoài khơi, chiếc tàu

    địch cũng vất vả với sóng, khi chìm khi nổi, có khi tưởng đã khuất đâu

    rồi, lát sau lại thấy nhô cột tháp lên đầu ngọn sóng. Nó định chạy ra

    khơi nhưng ngược gió thế nào lại tạt vào gần mạn Cáp Lài. Có lẽ sợ

    1 Đồ đựng thường làm bằng sành hoặc đồng, cỡ tương đối lớn, miệng tròn và

    rộng, bụng phình, đáy hơi thót lại (BTV).

    vấp đá ngầm nhiều ở vùng biển này nên nó lại cố rẽ sóng ra xa. Đồng

    bào ra xem, có người trèo lên chòi thông tin, hy vọng chiếc tàu Tây bị

    sóng đánh vỡ.

    Đúng là có ba chiếc ghe to của mình chở đồ tiếp tế ngoài Khu (Liên

    khu 4) vào bị sóng đánh chìm. Một chiếc chở vũ khí, một chiếc chở gạo

    muối, một chiếc chở vải vóc và các vật dụng khác. May không có ai hy

    sinh. Tôi gặp một anh vừa bơi được vào bờ. Anh cho biết khi các dây neo

    ghe bị sóng gió giật đứt, anh em liệu không thể chống chọi được với

    sóng gió này, đã chủ động hạ cột buồm liên kết lại với nhau làm thành

    cái bè, để bám vào đấy khi ghe chìm. Tôi hỏi tại sao hồi tờ mờ sáng nay,

    gió chưa mạnh lắm, anh em không cố cho ghe cập bờ lúc ấy, anh đáp:

    “Tui làm nghề biển từ nhỏ chứ có phải lạ lùng chi chuyện ni. Chưa có

    năm mô tháng năm, tháng sáu có bão tố dữ thế này. Sáng, người trong

    bờ ngó ra tưởng gió không mạnh nhưng cố cập vô, thế nào cũng vỡ

    ghe”. Rồi anh lau nước mắt: “Tính mạng tôi dù có mất cũng không cần,

    chỉ ân hận là không bảo toàn được hàng của Chính phủ”.

    09-6-1950 Tôi lại được trở về với Đại đội 150 quen thuộc. Trung đội

    trưởng Thanh cho biết: Vũ khí trên đưa về nhiều quá. Nhiều nhất là

    BKP (bức kích pháo)1. Mang về đơn vị thì được nhưng lấy đâu ra người

    bắn. Vũ khí nhiều thế này thì quân số trung đội ít nhất cũng phải bổ

    sung cho đủ bốn mươi người. Bộ đội mình hiện nay mang trên người đã

    quá nhiều thứ rồi: một ba lô, một khẩu súng, 40 viên đạn, hai quả lựu

    đạn, hai viên đạn bức kích pháo, một cái xẻng, mười lăm lon gạo, một

    ống tre đựng nước. Những anh em nhỏ con bước đi không nổi. Trên

    phải bổ sung thêm cho quân số thôi.

    Ở tiểu đoàn bộ, súng đạn nhận về để phân cho các đơn vị cũng để

    lủng ca lủng củng. Khẩu moọc chê trơn tru, ánh thép xanh biếc, hếch

    mõm như ngồi xổm giữa bãi cát. Ngổn ngang bức kích pháo xếp liền,

    khẩu này đưa hai cái chân dạng ra gác chéo vào khẩu kia. Đạn của bức

    kích pháo, lựu đạn vất lúc nhúc thành đống như khoai lang mới dỡ về

    1 Súng cối (BTV).

    ngày mùa. Thỉnh thoảng chiến sĩ các tiểu đoàn lên xin nhận vũ khí, ký

    nhận xong hè nhau khiêng khiêng gánh gánh chuyển về.

    Công việc đang bề bộn thì có giấy của Trung đoàn bảo các Tiểu đoàn

    cử người đi nhận bò về khao quân. Ở nhà lúc này mọi việc chỉ còn cấp

    phó giải quyết, cấp trưởng đã đi nghiên cứu địa hình tại chỗ, nơi sẽ bố

    trí trận địa, chưa kịp trở về.

    Tôi chép vào sổ tay bài thơ dán ở báo tường đại đội, không rõ chiến

    sĩ nào làm:

    Ngày xuất quân đã đến,

    Bạn sẵn sàng tất cả hay chưa?

    150 quyết không thua 107

    Súng đạn còn bạn hãy lau đi

    Máy bay đại bác quản gì

    Phen này ra trận ta thề không lui

    Anh lính mới còn tôi lính cũ

    Thi đua nhau đủ mọi bề

    Bạn sẵn sàng chưa

    Để đợi ngày mai

    Thanh toán họ Mút (của mình) kiếm vài khẩu Bren (của địch)

    Bạn ơi quyết chí vững bền

    Nêu cao danh dự đại đội miềng (mình) kém chi ai.

    Đêm, nằm tâm sự với Trung đội trưởng Cúc.

    Anh năm nay 29 tuổi, người quê Yên Thành, Nghệ An. Gia đình khá

    giả. Cha trước làm bang tá. Có ông anh nay là phó chủ tịch huyện, một

    ông em sửa soạn thi tú tài, thế nhưng anh thì văn hóa i tờ, người đen

    gân guốc. “Lúc nhỏ tôi là đứa ngỗ nghịch nhất nhà. Nay tôi dốt vì hồi

    nhỏ nhác học, toàn bỏ lớp đi chơi, có khi đi đánh bạc nữa. Nói thiệt với

    anh, thời mô theo thời ấy, hồi ấy mình ỷ thế cha anh. Bốn năm anh em

    ngồi chơi với nhau, có anh mô nói đâm hông tôi một tiếng là tôi xông ra

    đánh ngay, họ đông mấy tôi cũng dám đánh. Chừ lớn tuổi rồi nó thuần

    tính đi, nghĩ lại thấy hồi ấy mình bậy quá”.

    Cúc thoạt tiên đi bộ đội Tiếp phòng quân (bộ đội do ta thành lập để

    cùng quân Tưởng Giới Thạch có nhiệm vụ “tiếp phòng” miền Bắc, từ vĩ

    tuyến 16 trở ra) đóng ở Đông Hà từ năm 1946. Hơn một năm nay vào

    chiến trường địch hậu, không nhận được tin tức gì ở nhà. Đã có vợ ở

    quê. “Giá cho tôi về thăm nhà vài bữa rồi vào đánh nhau có chết cũng

    sướng. Nghĩ bụng thế thôi nhưng mình là cán bộ, nói hở chuyện đó

    ra người ta lại bảo mình mất tinh thần”. Người vợ hiện nay là vợ thứ

    hai. Thuở nhỏ, theo tục lệ ở quê, anh được cha mẹ cưới vợ cho từ khi

    còn để chỏm. Lớn lên không ưng nhau, một hai đòi ly dị. Chị vợ thứ

    hai con nhà nghèo. Ông bà lúc đầu không đồng ý cho anh lấy vì không

    môn đăng hộ đối nhưng anh quyết cưới cho bằng được. Gặp Tổng khởi

    nghĩa, anh đi bộ đội luôn.

    Những ngày đầu tập luyện quá khổ cực, anh tìm trăm phương nghìn

    kế để được giải ngũ nhưng không sao ra được. “Sau dần dần tôi nghĩ ra,

    anh ạ. Thiếu chi tay giàu có hơn mình, sung sướng hơn mình mà người

    ta còn vào bộ đội, chịu cực chịu khổ được. Ai cũng sợ khổ như mình thì

    lấy ai mà đánh giặc”.

    Hồi mới vào bộ đội, trình độ văn hóa anh mới i tờ, có biết lõm bõm

    một vài chữ nho. “Tôi nghĩ mình đâu kém chi ai, chỉ vì dốt mà thua

    kém anh em, nghĩ vậy nên tôi quyết tâm học. Trong đơn vị hồi ấy tôi có

    thằng bạn rất thân, người Quảng Bình. Hắn thích học võ. Tôi lại thích

    học chữ. Tôi bảo hắn: Mỗi ngày mình dạy võ cho ông một giờ, đổi lại,

    ông dạy chữ cho mình hai giờ.

    Sau hai tháng, tôi biết đọc biết viết. Một hôm vì thiếu cán bộ, anh

    em họp toàn trung đội lại, bầu tôi làm tiểu đội phó. Đã làm cán bộ thì

    tự mình phải viết báo cáo, tập dần rồi cũng quen đi, anh ạ. Khi mặt trận

    Huế vỡ, có mấy thằng cùng quê rủ nhau chạy về quê, ngoài Vinh. Tôi

    nói: “Tau sống chết cũng ở lại đất ni thôi”. Bọn ấy ra ngoài ấy, cán bộ

    trung đội, tiểu đội đều bị kỷ luật cả.

    Tôi lên được cấp trung đội là nhờ đánh trận Cầu Nhùng (làng Thượng

    Xá). Anh tiểu đội trưởng hôm ấy không nắm được bộ đội, nghe địch bắn

    rát, bỏ chạy. Tôi không biết chỉ huy nhiều, nhưng được cái gan. Tôi bảo

    anh em: “Cứ bình tĩnh, tui đi mô, anh em theo đi nấy”. Thế là đem được

    tiểu đội sau trận đánh rút về an toàn. Ông Hùng Việt trung đoàn trưởng

    bảo: “Anh này có thể làm trung đội trưởng đây. Tạm thời cho làm tiểu

    đội trưởng cứng”. Rứa là tôi được đề bạt.

    Mặt trận Quảng Trị lan rộng, anh Cúc hoạt động ở vùng thuộc huyện

    Hải Lăng. Nắm một tiểu đội chuyên làm nhiệm vụ trừ gian, phối hợp

    với tiểu đội của cậu Giai ở xã Hải Châu. Một tay Cúc xử bao nhiêu tên

    Việt gian ở các xã Hải Lý, Hải Long, rồi đến vụ Tử Anh ở thôn An Thơ,

    vụ cô Nguyệt ở làng Văn Quỹ đều do tay anh thực hiện cả. Anh kể vụ bắt

    hai tên gian ở xã Hải Lý. Nghe đồn một thằng có võ. Trước, anh em đã

    bắt hụt hắn một lần. Lần này Cúc vô, nhìn qua dãy hàng rào trồng cây

    chè tàu, thấy trong nhà có ánh đèn sáng. Nghe tiếng chó sủa, hắn đóng

    sập luôn cánh cửa ván xuống. Kêu, không mở. Anh em đạp cửa xông vô

    nhà. Cúc hô: “Toàn đại đội bố trí quanh nhà”. Rồi cầm khẩu Sten (tiểu

    liên) vào trước. Tên Việt gian tay cầm dao găm, đứng thủ thế trong góc:

    “Tôi không có tội tình chi, tại sao các anh đến đòi bắt tôi”. – “Không

    có tội thì anh sẽ được tha về. Tôi được lệnh bắt anh. Nếu anh biết điều

    thì đi theo chúng tôi. Nhược bằng anh muốn chống cự thì cứ nói trước

    đi”. Rồi tôi giao súng cho một đội viên, bảo: “Nếu hắn chống, mi cứ bắn

    chết cho tao”. Xông vào, nện ba cú vào quai hàm tên Việt gian, hắn gục

    xuống mới bắt sống được.

    Dắt ra ngoài đồng ruộng, bắt ngồi chờ đó để còn đi bắt tiếp tên thứ

    hai. Vào nhà tên này, vợ nó nói: “Chồng tôi vào (ngủ ở) vị trí (bốt) lúc

    đầu hôm rồi”. Tôi sai đốt đuốc tìm quanh nhà. Tìm hồi lâu, anh em sắp

    chán thì trông thấy miệng hầm. Cúc lao xuống bắt sống tên Việt gian

    trốn bên dưới. Tây ở đồn Hội Yên gần đấy, nghe động bắn sang, súng nổ

    như pháo. Nghe đạn nổ tắc bụp bên cạnh, có đội viên chưa quen, sợ hãi:

    “Nó vây quanh nhà rồi, anh ạ”. Cúc bảo: “Mi cứ đi theo tau”.

    Dắt tên Việt gian về rú cát thôn Lam Thủy, cho bốn người bố trí bốn

    góc. Cúc tuyên án. Hỏi: “Có phải lúa và muối Chính phủ gửi ở nhà anh,

    anh bán cho Tây, sương (gánh) vô đồn ba ngày không hết không? - Phải.

    - Có phải anh dẫn đường đi bắt cán bộ không? - Phải. - Như vậy để các

    anh sống hại dân hại nước, Chính phủ xử tử anh”. Nó kêu trong họng

    ục ục như heo kêu. Bây giờ nghĩ lại mà sợ. Nhưng hồi đó không làm thế

    không được, anh ạ. Tây mới tràn về, Việt gian mọc như nấm ở khắp nơi”.

    (Ghi thêm bằng bút chì bên lề trang sổ tay:“Anh Cúc mấy hôm sau hy sinh tại trận đánh đồn Hạ Cờ, tháng 6 năm 1950”).

    11-6-1950 Vũ khí mới nhận ở trung đoàn về, mang ra bắn thử. Nhất

    là các loại súng bắn vòng cầu, đại đội chưa dùng bao giờ. Những viên

    đạn bức kích pháo phóng lên, quay trên trời vẽ một đường cong đen

    rồi rơi xuống, xì khói trắng, lửa đỏ và nổ như một bông hoa, mắt người

    đứng nhìn thấy bông hoa khá lâu trước khi tiếng nổ dội đến tai. Những

    quả đạn moọc chê của Mỹ ấy, ta thu được ở trận suối Lồ Ồ. Rơle Mỹ

    trông như một tập giấy xanh, có lề đóng lại. Rơle Pháp lại óng ánh

    trong giấy bóng. Rơle do ta sản xuất, được gói trong giấy dầu trông như

    gói thuốc bắc. Anh em bộ đội kháo nhau: “Thế này nhất định ăn chắc

    Tây rồi. Bọn Tây sợ súng bắn vòng cầu của ta lắm” – “Hóa ra bắn bức

    kích pháo dễ ợt. Chỉ cần ngắm cho đúng hướng thôi”.

    Một đồng bào đến xem, chỉ khẩu Bren ngoan ngoãn nằm trong chiếc

    túi vải nâu: “Răng không thử thằng ni?”–“Hắn đã ăn không biết mấy

    thằng Tây rồi, cần chi thử nữa”. –“Vẫn biết rứa nhưng đồng bào muốn

    bắn thử để coi chút cho thích mắt”, người vừa đòi bắn thử súng Bren cười.

    Tối. Lại hành quân. Các cấp trưởng vẫn đi vắng chưa về, chỉ huy bộ đội

    do cán bộ chính trị. Chính trị viên tiểu đoàn L. phát lệnh cho tiểu đoàn

    hành quân. Đến T. thì gặp các đội trưởng đã trở về, tề tựu đông đủ. Chủ

    ngôi nhà chúng tôi ở nói: “Mai là ngày toàn huyện đánh địa lôi để phụng

    sự chiến dịch đây”. Anh nói thêm: “Trước đây cũng có các hoạt động

    đánh phối hợp chiến dịch, chuyến ni trên nói rõ đánh để phụng sự chiến

    dịch”. Hỏi ra mới biết anh là chi ủy viên phụ trách dân quân xã này.

    Chính trị viên L. người nhỏ nhắn, đen gầy. Trước từng học Trường Võ

    bị Sơn Tây. Mộng ước của anh khi xin vào học Trường Võ bị là sau này sẽ

    làm một ông sĩ quan tự mình lái xe Jeep, có con chó bẹcgiê thò cái lưỡi

    dài nằm oai vệ trên dãy ghế phía sau xe. Bởi vậy khi ở trường rất chú

    trọng học lái xe. Thích diện bộ vào, đi bạt phố hơn là đi tác chiến. Lúc

    vỡ mặt trận Huế, hối tiếc sao mình lại bước chân vào con đường binh

    nghiệp làm chi. Nhưng vẫn cố gắng làm tròn mọi nhiệm vụ. Vẫn thích

    đánh Tây và đã đánh thì đánh rất hăng. L. chủ trương sống ngày nào tận

    hưởng ngày hôm ấy, không cần quan tâm đến ngày mai. Anh không ghi

    nhật ký hay giữ bất cứ một kỷ vật gì. Có lần mang đọc lại những bức thư

    của người thân, đọc thật kỹ, xong mang đốt. Tuy nhiên rồi vẫn được kết

    nạp vào đoàn thể (Đảng), được rèn luyện và tiến bộ dần như ngày nay.

    12-6-1950 Chiều, vừa ăn cơm xong, Đại đội trưởng còn đang hớt tóc

    thì nhận được lệnh của Tiểu đoàn báo động. Bố trí theo đúng kế hoạch

    đã định, trường hợp có địch tấn công. Cũng là dịp tập chiến đấu trong

    làng. Mà làng ở đây lắm ngách ngõ, cây cối rậm rịt.

    13-6-1950 Bốn giờ sáng, đang ngủ lại nhận được thông tin mới. Bảy

    giờ tối hôm qua địch tập trung năm trăm quân ở đồn Hồ Xá, chắc là sẽ

    càn quét vùng Vĩnh Linh đây. Báo động, đơn vị tập hợp xong chỉ sau

    năm phút. Tiểu đoàn trưởng Ấn căn dặn: “Lần đầu tiên đơn vị ta chiến

    đấu ở làng, anh em phải hết sức bình tĩnh. Giữ liên lạc ngang giữa các

    trung đội. Cho dù quân địch từ hướng nào tiến đến cũng cứ bình tĩnh

    như thường... ”

    Trời hè sắp sáng, đục mờ, phơn phớt sương. Anh em bẻ lá ngụy trang,

    Liên lạc chạy đi chạy lại. Xa xa có tiếng mõ báo chuẩn bị, có thể sắp có

    báo động. Rồi tiếp đến tiếng mõ báo động thật. Đồng bào một số chạy

    tránh đi nơi khác, một số ỷ có bộ đội, vẫn nán lại ở nhà, có người còn

    cười chê những người chạy kia nhát.

    Trung đoàn bộ chuyển quân, mấy o cấp dưỡng đi lạch bạch. Hai chú

    văn thư lễ mễ khiêng tấm đá in litô to tướng. Một vệ cậu khác ôm cây

    đàn mandolin. Khẩu Chiêu hòa hai nòng hộ vệ đi sau cùng.

    Bảy giờ, có lệnh cho bộ đội quay trở về nấu ăn. Không biết vừa rồi

    báo động giả hay báo động thật. Hỏi mới biết, trước chỉ định làm cuộc

    diễn tập thôi, nhưng rồi có tin địch tập trung thật, nên ta chuẩn bị sẵn

    sàng chiến đấu. Song chúng chỉ quanh quẩn ở gần vị trí, cũng đủ kịp

    thời gian cho dân quân giật nổ hai quả bom cảnh cáo.

    Tôi về Tiểu đoàn 227, gặp lại Chính trị viên Kinh Kha. Anh Kha cũng

    có làm thơ, anh phổ biến cho anh em văn nghệ mấy kinh nghiệm lấy tài

    liệu trong thời gian chiến dịch. Anh nói đại ý :

    Phải dự kiến trước về mỗi trận đánh, mỗi thời gian. Lúc chiến đấu

    xảy ra, ta sẽ chú ý cái gì là chính, ví dụ nét mặt anh đội viên (chiến sĩ)

    lúc xung phong hay là lúc bắt trói tù binh chẳng hạn, khác nhau chỗ

    nào. Lúc “lâm sự”, chúng ta phải tập trung suy nghĩ, chú ý quan sát cho

    có chủ đích, thì mới chộp được những chi tiết hay.

    Mỗi tuần anh em văn nghệ, báo chí nên họp nhau một lần để rút

    kinh nghiệm về cách khai thác tài liệu. Chờ xong chiến dịch mới gặp lại

    nhau, e quá chậm trễ và thậm chí có thể có sự mất mát - ví dụ có thể có

    anh em hy sinh lắm chứ.

    Chú ý làm bật nổi ưu thế tinh thần, ý thức tất thắng của bộ đội ta.

    Phải nuôi dưỡng tinh thần ấy nhưng đừng đi quá trớn, ví dụ xung

    phong không đúng lúc sẽ thiệt hại cho mình. (Anh kể lại, trong trận X,

    có mấy chục chiến sĩ hăng máu đuổi địch xa quá. Đi quá đà, không kịp

    trở lại đơn vị, bị địch phản kích). Khi chỉ huy tử trận, người kế tiếp lên

    thay ngay. Đề cao tinh thần quân nhân cách mạng, coi thường chiến lợi

    phẩm, v.v…

    Kinh Kha hay cười khi nói chuyện, cái cười kiểu mệ, phớt đời, tôi

    thoáng thấy một nét làm mình rờn rợn. Chẳng hạn cái cười của anh sau

    câu nói: “Chuyến ni nhất định gian lao đây. Mình trù rồi, cho mất đi

    chừng năm chục chú”.

    Đêm xuất quân.

    14-6-1950 Chiều nay sửa soạn xuất quân. Tôi đi cùng đại đội 153.

    Đại đội ăn cơm đoàn kết, có mời đồng bào. Các hỏa thực thi nhau nấu

    cho thật ngon, bày vẽ ra bốn món, năm món. Tập trung ở đại đội bộ, có

    mời đồng bào trong làng: anh cán bộ xã, cụ già áo nâu tóc trắng, các

    mẹ, các o. Hội đồng binh sĩ đi kiểm tra, chấm điểm hơn thua, xem ai

    nấu ngon nhất. Mời các mẹ cùng đi nhìn từng mâm, cho ý kiến. Các o

    giúp bộ đội nấu ăn ngắm công trình của mình, thậm thụt cười với nhau.

    Ý kiến bình phẩm khen chê: “Thứ gạo ni có giã lại”. -“Mít là bất thành

    vấn đề rồi” (bởi ngày nào bộ đội chẳng ăn độc mỗi món canh mít non

    nấu với lá lốt ấy). -“Món thịt ram ni, tay mô làm cứng đấy”.

    (Sau bữa cơm chiều) tập trung tất cả các đơn vị thuộc trung đoàn trên

    trảng cát làm lễ xuất quân. Hoàng hôn. Bộ đội từ các thôn kéo đến, la

    hét hò reo, tung bụi cát mù như khói. Đàn bò đi ăn về thấy bộ đội đông,

    hoảng sợ chạy tán loạn y như khi chúng gặp Tây, chúng chạy băng từ

    rẫy này sang rẫy khác. Những người đến trước chuẩn bị giành thơm của

    người đến sau mang theo. Anh nào cũng thích trái thơm vùng đất đỏ

    Vĩnh Linh này. Nước ngọt lịm. Trừ mấy ông nội vụ đeo lủng lẳng ở đòn

    gánh cả một chùm quả xâu ngang như một chuỗi tràng hạt khổng lồ

    thì anh em không dám động đến. Thứ nớ của chung toàn đơn vị mà. Rút

    tiền ăn tiêu chuẩn của anh em (một ngày bảy đồng tiền thức ăn) mua

    dự trữ đấy.

    Tám giờ tối, đống củi lớn chất giữa bãi cát bắt đầu cháy. Bốn đơn vị

    đứng vòng quanh theo hình chữ nhật, giữ đội hình. Các chỉ huy cấp

    trưởng lại bận đi nghiên cứu địa hình lần nữa, chỉ huy buổi lễ hôm nay

    giao cho cán bộ chính trị điều khiển. Chính trị viên Kinh Kha trực ban,

    điều hành buổi lễ. Dáng anh quân nhân thi sĩ thấp bé lọt thỏm giữa

    rừng người vui ồn ào như ong vỡ tổ.

    Bỗng có tiếng dõng dạc hô: Nghiêm! Chỉ huy trưởng Chiến dịch Lê

    Bá Vận (cùng các quan khách) đến khai mạc. Im lặng. Bộ đội đứng

    nghiêm như tượng đá. Lửa trại bén cũng vừa đến lúc đỏ rần rật. Gió

    nhẹ lung lay, tàn lửa bay tơi tả. Giọng chỉ huy Lê Bá Vận sang sảng, dứt

    khoát, gọn mà sắc: “Sau thời gian học tập huấn luyện bấy nay, hôm nay

    tôi trịnh trọng tuyên bố chiến dịch bắt đầu…”. Ông nhấn mạnh ý nghĩa

    trọng đại của chiến dịch, “Vì vậy tôi tuyên bố và yêu cầu trận ra quân

    đầu tiên của chiến dịch phải là một trận thắng lợi hoàn toàn... ”

    Ông vừa dứt lời, bộ đội nãy giờ im phăng phắc bỗng rào lên la hét,

    đầu lắc lư, tay tung mũ lên trời. Đồng thời tiếng mõ, trống, chiêng,

    thanh la cùng vang lên ầm ầm, náo loạn. Mọi người phấn khởi, tưởng

    như ai cũng có thể xông vào trận địa ngay lúc này.

    Vị đại diện Tỉnh ủy phát biểu, hứa với bộ đội sẽ động viên các đoàn

    thể nhân dân thực hành khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến”, Tỉnh sẽ

    lãnh đạo tốt sự phối hợp chặt chẽ quân - dân - chính (để phục vụ chiến

    dịch). Trước khi dứt lời, anh hô to: “Hồ Chủ tịch muôn năm!”. Hàng

    nghìn người rào rào đáp lại. Chắc là vị diễn giả ta thích chí quá, mặc dù

    cái mũ bộ đội vẫn cầm ở tay, anh vẫn đưa tay lên chào theo kiểu nhà

    binh và quay đủ bốn hướng. Tiếng hoan hô càng ào ạt hơn. Khẩu hiệu

    “Trung đoàn chủ lực quyết thắng!” vang lên, át cả tiếng trống chiêng.

    Đại biểu đoàn cán bộ Văn nghệ đi theo chiến dịch cũng phát biểu vài

    lời, nguyện cố sức theo dõi và thể hiện ngay bằng tác phẩm trong đó

    có những dòng máu anh em chiến sĩ ta đã và rồi sẽ đổ xuống. Và kết

    thúc: “Xin hẹn: Đêm nay quyết một câu thề/ Ngày mai chiến thắng trở về

    liên hoan”.

    Nhạc sĩ Nguyễn Hồng ôm đàn ra đứng ngay sau vị trí của người trực

    Ban chỉ huy Trung đoàn tối hôm đó là Chính trị viên Kinh Kha. Anh

    Nguyễn Hồng có vẻ hơi bàng hoàng, sau đôi kính trắng phản chiếu ánh

    lửa, hai mắt anh lộ vẻ xúc động. Người đông quá, đêm rộng quá, không

    khí quyết thắng tưng bừng quá, chắc anh thấy mình quá nhỏ bé, giọng

    hát của mình quá yếu ớt. Kinh Kha giới thiệu nhạc sĩ. Từ các phía, tiếng

    hoan hô lại vang lên: “Ủng hộ văn nghệ!”. “Yêu cầu xích tới đây, xích

    tới gần đây hơn chút nữa, phía này ở trên chiều gió!”

    Không khí trở lại im phăng phắc khi anh cất giọng hát bài hát địch

    vận Mong người bên tê chiến lũy. Không ngờ mọi người nghe chăm chú

    đến thế. Tiếng hát ấm trong tiếng đệm bập bùng của cây đàn sáu dây.

    Im lặng lắm. Chỉ nghe tiếng lửa cháy rần rật, và giọng người hát ngân

    nga. Một vài tiếng khen: “Úi chà, úi chà, hay quá”. Tiếp ngay sau, người

    khác bảo: “Xuỵt, xuỵt, im mà nghe!”

    Hát xong nhạc sĩ cúi đầu chào. Lại tiếng hoan hô. Lại tiếng chiêng,

    tiếng trống. Bộ đội lại hò reo, tung mũ, tung cả khăn tay. Cờ phất tới tấp.

    Một đội viên cầm cây cờ hiệu, phất mạnh quá, cờ sút ra khỏi cán bay

    theo gió. Anh ngừng tay ngơ ngác nhìn quanh. Một người bạn nhặt trả,

    anh tra vội vào cán rồi lại phất cờ, hò hét. Các cây đèn pin - chỉ có các

    vị chỉ huy mới có đèn pin - tha hồ chiếu loang loáng vào các hàng quân,

    chỉ thấy người là người. Không biết sáng kiến của ai, một người đánh bật

    lửa lên, rồi những người khác bắt chước làm theo, những tia lửa xanh

    nhấp nhánh như một bầu trời sao. Càng lâu ánh bật lửa càng nhiều,

    tiếng reo hò càng mạnh. Vừa lúc này tự nhiên trời nổi gió, ngọn lửa trại

    cháy càng to hơn. Mùi dầu lửa, mùi xăng từ các bật lửa nghe khen khét.

    Một anh mang cờ hiệu vùng chạy ra, những tay khác cầm cờ chạy theo,

    thế là mọi người vác cờ rùng rùng chạy vòng quanh bếp lửa trại. Những

    người khiêng trống khiêng chiêng cũng bắt chước làm theo. Hai chiến

    sĩ hứng chí, nhảy ra múa võ, biểu diễn bài quyền. Một anh hàng binh

    người Phi giật chiếc trống con ở tay chú liên lạc, đánh lấy đánh để, vừa

    đánh vừa reo, mặt trống thủng lúc nào không hay. Một người dân đứng

    xem ở vòng ngoài, nói: “Thế này thì Tây chết hết, Tây chết hết”.

    Đoàn cờ xí trống chiêng dừng lại trước chỗ Ban chỉ huy đứng. Năm

    anh bộ đội xông vào bế xộc thủ trưởng Vận đặt lên kiệu tay, chạy vòng

    quanh bếp lửa trại.

    Trước khi kết thúc, Chính ủy Trung đoàn Trần Văn Bành nói thêm

    mấy lời, tuyên bố cấp trên quyết định đặt tên chiến dịch này là Chiến

    dịch Phan Đình Phùng, và trận đầu tiên quyết thắng của Trung đoàn chủ

    lực sẽ được gọi là trận Cao Thắng, Cao Tất Thắng, anh nhấn mạnh. Cao

    Thắng là tên một vị tướng trẻ của anh hùng liệt sĩ Phan Đình Phùng.

    Tất thắng, tất thắng. Trận này nhất định phải là trận thắng trọn vẹn.

    “Chiến sĩ Trung đoàn 18 vừa đánh thắng trận Xuân Bồ, mừng thọ Hồ

    Chủ tịch. Còn Trung đoàn chủ lực ta quyết dâng lên Người thành tích

    trận Tất Thắng”.

    Sau buổi lễ, bộ đội hành quân luôn. Đi đến quá nửa đêm, trú giữa

    trảng cát. Sáng, các đơn vị vẫn ở yên vị trí của mình. Chỉ có anh em nội

    vụ được phép vào xóm nhà dân thổi cơm. Bộ đội được lệnh tìm nơi có

    bóng cây nghỉ, chờ đến tối sẽ lại tiếp tục hành quân. Ngày giáp chiến

    sắp đến. Mau lên, mau lên, náo nức quá rồi.

    15-6-1950 Chúng tôi họp, dựa vào kế hoạch do Chính ủy Trần Văn

    Bành trình bày (xem sổ tay S4) để phân công nhau. Chính ủy tiếp cánh

    báo chí, văn nghệ chúng tôi trong gian nhà tranh. Anh vừa dự họp

    tham mưu về. Anh ngồi trên chiếc chiếu rách trải lên tấm phên cót trải

    xuống đất. Anh đang ghi chép gì đó, tay tựa lên bàn viết, nó là tấm ván

    bắc ngang một đầu lên chiếc cối đá giã gạo, đầu kia lên chiếc ghế gãy

    chân. Bên cạnh, hai chiến sĩ đang tranh thủ ngả lưng trên chiếc bạt trải

    xuống đất.

    Tối, có lệnh: Hành quân lần này phải kín đáo hơn. Lúc nghỉ chân, có

    ai bẻ lá để lót ngồi, thì khi đứng dậy đi tiếp phải tìm vất nơi kín đáo,

    không được để lại dấu vết.

    16-6-1950 Ngày cuối cùng trước khi ra trận.

    Đến nơi nghỉ, đã có ngọn đèn con thắp sáng và nồi nước chè đun sẵn.

    Lại có cả rá khoai lang nữa chứ. Nền nhà quét sạch sẽ, đã trải sẵn phên

    liếp cho anh em nằm. Bà mẹ già lụm đụm dậy đón bộ đội.

    Các trung đội trưởng đã dẫn cán bộ tiểu đội đi xem địa hình nơi sẽ

    bố trí quân ta phục kích từ chập tối. Tôi không ngủ, ngồi chờ họ trở về.

    Nhẩn nha hỏi chuyện một tiểu đội trưởng về nhiệm vụ tiểu đội anh. Anh

    đáp: “Xung phong. Phải xung phong rất mạnh bởi địch có ưu thế về địa

    vật hơn ta. Xung phong không tích cực, có thể nguy với chúng”. Anh em

    trong đơn vị có người hơi băn khoăn về địa điểm giấu quân của mình lộ

    liễu quá. Tiểu đội trưởng Thanh nói với tôi: “Nhiệm vụ của chúng tôi

    là phải chiếm được đồi cao, anh ạ. Chỗ ấy trong tầm pháo địch, mỗi lần

    côngvoa1 nó đi là nó bắn dọn đường suốt hai bên, ở đấy hiện còn vết ca

    nông lỗ chỗ (của mấy cuộc hành quân trước), cứ cách 15 - 20 mét là một

    quả”. Tiểu đội trưởng Tâm, vết viên đạn xuyên qua tay lần trước ở đường

    số 9 nay đã teo miệng sẹo lại: “Anh muốn coi trận đánh thì cứ đứng chỗ

    tiểu đội chúng tôi bố trí là thấy rõ hơn đứng đâu hết”-“Cũng không bằng

    chỗ tiểu đội tôi”, một anh khác cãi. -“Cảnh bộ đội xung phong đẹp lắm,

    anh ạ. Từ trên đồi cao, sẵn đà lao xuống”- một anh nào đó nói.

    Tiểu đội phó Cơ, trong vành môi còn ngạm (ngậm) một mảnh đạn

    nhỏ kỷ niệm trận Cửa Tùng năm ngoái: “Khi nớ mà anh chụp cho một

    tấm ảnh thì đẹp vô cùng”. Anh em bộ đội ai cũng thích được nhà báo

    chụp ảnh. Một chiến sĩ: “Từ trước đến chừ, anh em được chụp ảnh

    nhiều lắm. Rứa mà trung đội không giữ được cái mô cả. Mang đi triển

    1 Convoi: đoàn xe hộ tống. Còn có nghĩa là một cuộc hành quân bằng xe đi trên

    đường, trong đoàn công voa thường có xe chở xăng dầu, chở lương thực, chở

    đạn dược vv... (BTV).

    lãm mô trên Phân khu, anh em có chộ1 (ảnh mình) bao giờ đâu. Lần ni

    anh chụp, anh phải nhớ cho anh em tui một tấm, nghe”.

    Tiểu đội trưởng Tiểu đội súng cối, người Nghệ, giọng nói chậm và

    nhão nhoẹt: “Tôi ngại cho khẩu xoaxăng2(60mm) của tôi quá, anh ạ.

    Địa hình thì có mà địa vật không. Chẳng có chi che chắn mình cả. Bắn

    xong ba phát, xì khói ra, thế nào Tây hắn cũng phản pháo, tương ca

    nông trở lại chỗ mình”.

    Trong căn nhà tối - cấm thắp đèn - anh em nằm trên những tấm lá

    chuối tươi vừa chặt ngoài vườn vào lót thay chiếu, nói chuyện rì rầm.

    Tiểu đội trưởng Thanh: “Từ đây ra đến chỗ giấu quân chỉ chừng 500

    mét, anh ạ. Chờ lúc nào nghe súng chính diện của Tiểu đoàn 302 nổ,

    chúng tôi mới được phép vận động ra đấy”. Anh chỉ cái đồng hồ đeo ở

    cổ tay to tướng: “Đi bình thường mất 25 phút, vận động nhanh thì chỉ

    hết 15 phút thôi”.

    Xoay qua chuyện chiến lợi phẩm. Cơ nói: “Trận ni cầm chắc chỉ được

    một ít ba lô và mũ cao bồi thôi, còn toàn là súng đạn. Côngvoa ni hắn

    chở toàn vũ khí mà. Hồi đánh trận Hạ Cờ kia, anh em thu được bao

    nhiêu là vật dụng, lại còn có cả tiền Đông Dương nữa chứ. Có cậu đến

    nay vẫn chưa tiêu hết tiền” - “Ừ, trận ấy ta còn bắt được mấy cô con

    gái thật đẹp. Sau mình thả ra cả”. -“Thật đấy, anh ạ, bắt được con gái

    thì trên có cho giết cũng không giết được. Ngó mần răng ấy (trông thế

    nào ấy)”. -“Đàn bà con gái, ai mà giết được. Đến bắt được con đầm cũng

    rứa thôi”. -“Không những đầm mà Tây cũng rứa, nó đầu hàng rồi là

    mình không bắn được nữa. Khi đang xung phong thấy nó ngồi trên xe

    nghiêng nghiêng ngó ngó, tức quá, nghĩ bụng chuyến ni tau mà tóm

    được tao giết chết mi ngay tại trận để Ban chỉ huy khỏi hay biết. Rứa

    mà khi thấy hắn giơ hai tay run rẩy đầu hàng, mình không nổ súng

    được nữa. Xung phong được rồi là hả cơn giận. Nghĩ lúc đó mình giết nó

    như giết con cá nhốt trong âu, thú vị gì”. -“Tui hồi đánh trận Thạch Xá

    cũng rứa, anh ạ. Thằng quan hai Tây chạy xuống giơ tay đầu hàng, tui

    1 Nhìn thấy (BTV)

    2 Soixante: sáu mươi.

    đã định bắn, nhưng thấy bộ dạng hắn sợ sệt quá, tôi đạp cho một đạp

    vào lưng, thúc hắn chạy trước, mình chạy theo sau, bắt sống hắn cho

    rồi.”-“Ngay cả lính Tây đen - một chiến sĩ nào nói chen vào - Tui là tui

    gai (ghét) bọn nớ lắm, nhất định bắt được là giết. Hồi đánh trận Đông

    Hà, chính thằng Môhamêt đó (nay là hàng binh phục vụ trong quân ngũ

    ta), khi thấy hắn vứt khẩu súng xuống đất, miệng lắp bắp camarát3, thế

    là mình hết giận, giết không đành nữa”. Lại tiếng của anh Cơ: “Bọn bảo

    vệ với lính khố đỏ, thằng mô trợn trợn, tui cho mấy bạt tai, còn khi hắn

    đã đầu hàng rồi, làm sao mà giết được. Cái mặt chúng nó lúc ấy sao mà

    trông u mê, đần độn thế”.

    Tiểu đội trưởng Tân ngồi tựa sát người vào lưng tôi, lúc này nói trầm

    ngâm: “Tui mà bắt được thằng Đông thôn tui, tui nhất định tui giết.

    Tha đứa mô thì tha, chớ tui dứt khoát không tha thằng Đông. Mả cha

    hắn, đưa Tây về làng giết trâu đốt nhà, cán bộ xã thôn ai làm việc chi

    hắn khai ra cho Tây bắt hết cả... ”

    Tôi hỏi: “Lúc xung phong, trong bụng các anh có thấy sợ không?”-

    “Khi nớ (lúc ấy) thì quên hết. Trước khi súng nổ, nghĩ còn sợ, sợ thật, sợ

    ca nông hắn giã, sợ phi cơ hắn nhào xuống giết mình trước, còn khi đã

    xung phong rồi, thôi không còn biết sợ chi nữa”.

    17-6-1950 Hoàng hôn. Tập hợp tiểu đoàn trên rú. Tiểu đoàn trưởng

    phát lệnh chiến đấu mà dáng điệu vẫn tươi cười. Khẩu súng lục đeo

    trễ xuống đùi, xà cột tòn ten bên vai. Anh người Bắc, cao và gầy, giọng

    nói lưu loát. Động viên anh em mấy lời. Xong, cán bộ hội ý, trong khi

    anh em được ngồi nghỉ tại chỗ. Bỗng mấy băng Bren ròn rã ngắt ngang

    câu chuyện rì rầm của chiến sĩ. Ta đã khai hỏa đánh đồn Sen Hạ rồi đó.

    Súng 12ly7 của địch bắt bắt chụp chụp trả lời. Moọc chê ình ình. Có ai

    kêu: “Sướng quá. Tiếng 81 của mình nổ đó”. -“Không phải, đó là tiếng

    bom phóng... ”, ai đó cãi.

    Chúng tôi vào nhà uống nước, uống cho đã cơn khát chờ đợi mấy

    hôm nay. Không khí có cái gì oi bức, căng căng. Súng bên phía đồn

    3 Camarade: Chào bạn (BTV).

    vẫn nổ đều, quyết liệt. Mừng. Bao ngày chờ đợi. Giờ chỉ còn cái lo là kế

    hoạch không thực hiện được. Ta công đồn nhằm phục kích đánh quân

    chi viện là chính, mà chưa chắc địch dám tiếp viện cho đồn bị tấn công.

    Gia đình tôi vào xin nước uống đang ăn tối giữa sân. Bếp lửa đỏ rần

    rật: bà con luôn nấu sẵn nước phục vụ bộ đội. Tôi uống rất nhiều, có

    phải tại bữa thịt bò được Đại đội trợ chiến mời ban chiều xào quá mặn?

    Nhớ lời đại đội trưởng hô hào anh em: “Ăn thật sự, ăn thật no vào để tác

    chiến thật sự”. Trong nhà còn có hai ba người hàng xóm, mấy anh dân

    quân (áo nâu, lựu đạn), anh chính trị viên xã đội (chiếc mũ bê rê trên

    đầu, áo vải đen, răng trắng nhuộm đen nham nhở). Anh ngồi xổm dưới

    đất, cầm nghiêng cái công văn chăm chú đọc bên ánh đèn. Một người

    nhìn ra vườn về phía đồn và nói: “Coi thử đã có lửa cháy chưa.”-“Chưa,

    chưa mô. Muốn coi, ra đứng trên chòi gác thì thấy rõ ràng, chỉ sợ ca

    nông hắn bắn thôi”.

    Tôi bàn góp: “Ca nông thì chết ai mà sợ”. Chính trị viên xã đội: “Anh

    nói rứa chứ tôi đã bị rồi, tôi sợ lắm. Ca nông đặt trên đồn Phú Thiết hắn

    có thể bắn tới tận Ba Cửa (bờ biển?). Tui bị trận pháo ở Rợn năm ngoái,

    đúng 147 quả. Ông chủ tịch huyện cầm sổ tay bút chì, cứ nghe nổ một

    tiếng, ông gạch một gạch. Đếm tổng cộng có 147 gạch. Nhờ có cái hầm

    tốt, không thì chết hết rồi”.

    Tôi sang Tiểu đoàn chủ công 302, vì ở đấy không có phóng viên nào,

    mà đó là đơn vị chủ công, chịu trách nhiệm nổ súng đầu tiên.

    Một anh dân quân đưa tôi từ thôn Sen Thượng về thôn Sen Hạ tìm

    Ban chỉ huy Tiểu đoàn. Vào nhà, mấy anh trong thôn đội đang ăn cơm

    trưa, xắc cốt1 và tập giấy vất cạnh mâm cơm. Anh em đều mặc may ô tự

    may bằng vải thô - tiếng vùng này gọi là vải to, vải khổ nhỏ mỗi nhà tự

    dệt lấy, sợi bông thô như sợi đũi vì sợi bông tự trồng được bà con kéo

    bằng xa quay tay. Bên cạnh, một chiếc chõng tre, chân chỉ cao chừng

    hai tấc, hai đầu có buộc sẵn hai sợi chạc tre to như niệt cày, tất cả còn

    xanh màu tre tươi. Đấy chính là cái cáng chuẩn bị tải thương.

    1 Sacoche: Túi bằng vải dày hoặc bằng da, đeo ở bên mình, để đựng giấy tờ, sổ

    sách, v.v…(BTV).

    Anh em lại đưa tôi sang nhà thôn đội trưởng, anh cũng đang ăn cơm

    trưa. Răng đen, cũng áo may ô vải to như mọi người, nhưng lại bận

    chiếc quần soọc Âu may bằng thao bùng nhùng, chắc thao cũng là của

    nhà tự nuôi tằm dệt lụa, tự túc cái mặc.

    Tôi ngồi lên chiếc võng chờ anh ăn xong bữa. Vui miệng khen: “Chà,

    anh có cái võng tuyệt quá”. -“Ngó rứa chớ không phải võng mô”. - Cáng,

    để cáng thương binh, phải không?” Anh cười: “Chính đó”.

    Hôm nay, các chú liên lạc trực đều đi phục vụ hết cả. Thôn đội trưởng

    phải gọi đến mấy anh du kích: “Hôm nay Hóa có đi tập trung không?”-

    “Có” -“Khương?”-“Không”. -“Thế Khương đưa anh cán bộ đây qua khỏi

    bến lội rồi trở về luôn, nghe”.

    Tôi mượn chiếc nón đan của anh nào đó đội lên đầu để ngụy trang

    cho đúng dáng người dân thường, cởi bớt quần dài, lội xuống đầm. Đi

    qua giữa đầm lính trên đồn có thể nhìn thấy, nhưng lúc này mình đã ở

    ngoài tầm đạn súng trường, súng máy của hắn rồi, khỏi lo chi - cậu du

    kích dẫn đường bảo thế. Tên chú là Khương. Một thiếu niên mới lớn.

    Bộ áo quần đà (nâu), khăn lúp (?) trên đầu. Lưng đeo chiếc dao găm, vỏ

    dao may bằng da trâu phơi khô, chưa qua thuộc, cứng như gỗ. Quả lựu

    đạn buộc quanh lưng, bên dưới chiếc áo cánh bằng một sợi mây, làm

    nhô vạt áo phía sau.

    - Bên Sen Hạ có bộ đội mình đóng không? - Tôi hỏi.

    (Cười) - Không biết. Cấp chỉ huy bảo đưa đi là tui đưa đi, biết răng

    mà nói. Việc quân sự, hôm qua còn thấy họ dưới ấy sáng nay họ đi rồi

    cũng không hay.

    - Chú có thích đánh Tây không?

    Anh quay lại nhìn tôi bằng con mắt nửa ngạc nhiên, nửa cười cười,

    tưởng tôi nói đùa:

    - Anh còn hỏi!

    - Nhưng thích đánh ở nơi mô?

    - Đánh thôn ni.

    - Không sợ rồi Tây đến khủng bố à?

    - Hừ, đánh cho hắn chết thiệt nhiều ở thôn ni cho lần sau, hắn có

    muốn đến hắn cũng gờm.

    - Chú có ưng đánh đồn Sen Hạ không?

    (Cười) - Tui mà được đánh, thôi còn nói chi nữa!

    Tôi định bảo “Cậu chờ đến tối nay” cho cậu sướng. Nhưng nghĩ đến

    chuyện giữ bí mật lại thôi:

    - Chú có ưng giết được Tây không?

    - Ồ, được tự tay mình giật bom, thích lắm.

    - Chú đã được tự tay giật lần mô chưa?

    Cậu dừng bước, tụt xuống ruộng cho ngang tầm tôi đứng, rồi chỉ tay

    về quả đồi cạnh đường số 1:

    - Đó, Tui giật bom ở cái đồi nớ. Anh có nhìn thấy cây đa lá xòe ra như

    cái tàn không? Lần đầu tiên du kích bố trí bốn quả bom tự động. Bọn

    hắn đi sửa cầu, bom nổ ba trái. Chết mười lăm tên. Xã ni, đứng thứ nhất

    về thôn chiến đấu là thôn tui đó. Lần thứ hai được giật bom. Hôm ấy

    mình không ra lấy được súng chiến lợi phẩm vì đồi tráng (trống trải)

    quá. Tối, đi sục sạo kiểm soát mặt đường, thấy còn ba bàn chân, một

    chiếc giày, một dúm ruột, một con mắt, thịt máu tung tóe ra khắp nơi.

    Áo quần rách bay dính mỗi bụi cây một mảnh. Cái mũ cao bồi móc trên

    ngọn cây. Tui lượm được chiếc mù soa có thêu chữ và một con dao xếp

    sáu lưỡi có nam châm rất đẹp. Hôm sau, đi làm vệ sinh chiến trường,

    đào lỗ chôn mấy bàn chân, thịt đã bấy ra, trông ghê quá.

    - Chú có thích đi Vệ quốc đoàn không?

    - Có chớ. Nhưng anh y tá huyện về lựa (tuyển quân) nói em không đi

    được. Nhà em đã có hai người anh đi bộ đội rồi. - Cậu vẫn say sưa câu

    chuyện giật bom - Hôm ấy còn lượm được một mảnh báng súng và một

    khúc nòng Bờrâuninh1 to bằng cái cán rạ (rựa).

    - Bờrâuninh hay Cạcbin?

    1 Browning: tên một loại súng liên thanh của Mỹ.

    - Bờrâuninh chớ. Bờrâuninh có chân. Cạcbin1 không có chân mà cầm

    nhẹ tâng tâng.

    Thấy cậu có vẻ rành về vũ khí, tôi hỏi:

    - Thế chú đã biết bắn Bờrâuninh chưa?

    - Chừ, có súng là bắn được tất. Súng trường Mỹ, bức kích pháo em

    đều bắn được.

    - Chú nói tôi nghe, bức kích pháo bắn thế nào nào?

    - Dễ ợt. Loại cũ có cái cò trông như cái giàng xay. Loại mới cò là cái

    núm tròn tròn, cứ vặn một nấc thì nghe tách một cái. Súng có đạn mà

    vặn tách một cái là đạn nổ rồi đó. Hôm đoàn xe của hắn từ trong đi ra,

    bọn em mang bức kích pháo đặt bên đường, bắn vô cái xe đi sau cùng.

    Đạn nổ tóe lửa phụt lên. Hắn bắn trả hai băng Bren rồi đi tiếp, không

    dám dừng lại.

    Cậu du kích vẫn say sưa kể chuyện chiến đấu. Chúng tôi lội qua bàu

    nước rất rộng. Nước lút sâu tới cổ. Lội qua bàu rồi vượt đường quốc lộ ở

    đoạn có cây cầu xi măng trắng và mặt đường bị đạn cày phá nham nhở.

    - Lần trước, bọn em đánh tụi lính đến sửa chữa chính cây cầu ni đó.

    Hai anh em lội qua khỏi bàu nước, cậu đưa tay chỉ con đường phía

    trước, lém lỉnh nói với tôi:

    - Anh có ưng bận quần (mặc quần) thì bận, không thì cứ để người rứa

    đi cho mát. Chỗ ni không lo gặp các o thanh nữ mô. Còn gặp thanh niên

    mình thì của ai cũng như ai cả.

    Và cười hóm hỉnh nhe bộ răng vàng khè. Tôi hỏi: “Từ đây đi còn chỗ

    nào phải lội nữa không?”

    - Không. Anh yên tâm đi. Du kích không nói lừa cán bộ mô.

    18-6-1950 (Ghi tại chỗ, trên đồi ém quân) Anh em đã nằm yên ngủ

    một chút, lấy sức sáng mai đánh giặc. Họ nằm ngửa trên đội, dưới lưng

    lót bằng lá bẻ ở các bụi bờ. Nghe hơi nóng dưới đất bốc lên và sương

    1 Carbine.

    đêm tỏa xuống ẩm áo quần. Giấc ngủ chập chờn, chốc chốc phải đưa

    tay xua muỗi vo ve bên tai hay chích vào má ngứa ran. Và kiến đất ở đâu

    kéo nhau đến hàng đàn hàng lũ, đầu tiên bò lên mặt, sau đó xộc vào

    cổ, vào tai rồi lần đến nách, bụng, háng, vào những chỗ kín nhất. Tiếng

    súng công đồn của ta đã ngớt song bọn địch trong đồn như vẫn còn giật

    mình, thỉnh thoảng chồm dậy sủa ằng ặc một tràng 12ly7. Tiếng súng

    vọng vào đồi cây trong đêm khuya, không có tiếng súng trả lời.

    Tôi mơ màng nửa ngủ nửa thức nghe tiếng quay máy điện thoại, và

    tiếng anh tiểu đoàn trưởng hỏi: “Alô, alô, tình hình địch vẫn không

    có chi thay đổi chứ? Vẫn còn mười xe ở Phú Thiết? Vâng, nghe rõ rồi,

    vâng, vâng... ”

    Bầu trời nhiều sao long lanh, nghĩ tới những giọt nước mắt mừng vui

    của đồng bào ngày mai khi nghe tin quân ta thắng trận.

    Nắng vừa lên thì hai chiếc máy bay Spitfire cũng vừa đến, rú ga lồng

    lộn quanh đồn, bắn mấy băng rồi đi thẳng. Buồn cười cho nó, tiếng hú

    rù rù như tiếng chiêng ở xa chưa tắt hẳn, moọc chê và bom của ta đã

    phóng vào đồn. Lại có ầm ì. Tiếng xe vận tải hay tiếng tàu bay? Mọi

    người nín thở để nghe cho rõ. Một anh thì thào: “Xe, xe”. Người đứng

    bên cạnh thích thú vỗ vào vai bạn: “Chết cha hắn rồi!”. Nhưng không,

    đó vẫn là chiếc máy bay đầm già muôn thuở, dơ đôi càng lênh khênh sờ

    soạng khắp vùng, và có lẽ không thấy có gì khác lạ, hắn cũng bỏ đi luôn.

    Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Tháp cẩn thận lau lại ống nhòm, quan sát

    đoạn đường quốc lộ 1. Giữa hai mé đồi, hàng mít xanh im lặng, chiếc

    cầu trắng vẫn đợi chờ. Đại đội trưởng X. - tôi không biết tên anh - đến

    gần, nóng nảy hỏi: “Hắn bắt đầu đi chưa anh? Chưa? Sao hắn không đi

    để người ta bóp cổ cho rồi”.

    Điện thoại. Ban chỉ huy Mặt trận báo cho biết, đoàn xe đêm qua nghỉ

    ở đồn Phú Thiết vừa xuất phát. Chúng đã cho một trung đội đi trước

    xục xạo kiểm soát đường. Anh em chuẩn bị, thay những cành lá ngụy

    trang bắt đầu héo vì nắng bằng những cành lá mới. Các đội trưởng dặn

    dò đôi điều cần thiết cuối cùng. Xa lắm, bên kia Dốc Sỏi, có thể nhìn

    thấy màu áo ka ki của mấy tên địch đi tới đi lui cảnh giới. Bên này, nấp

    sau các bụi cây, hàng trăm đôi mắt của quân ta mở to, theo dõi chúng

    từng bước một. Song chờ đợi mãi, vẫn không thấy gì khác hơn. Mấy tên

    địch trông thấy lúc nãy cũng đã tụt xuống chân đồi, rồi rút đi đâu mất

    tăm. Không thấy tăm hơi công voa của chúng.

    Anh em ta lại chui vào bụi cây, tránh bớt nắng mặt trời càng gần trưa

    càng gay gắt.

    Nắng oi. Gió Nam nhẹ không đủ phe phẩy cành lá ngụy trang. Anh

    em nằm ngổn ngang theo từng tổ một dưới bóng cây. Tranh thủ chợp

    mắt một chút bù những đêm hành quân mệt nhọc. Có cậu nằm dọc

    mương nước cạn, mình cong như con tôm kho. Có cậu chỉ đặt lưng lên

    một đám đất bằng, chân thò vào trong bụi. Nhiều tiếng ngáy đều đều.

    Những giọt nắng theo gió trôi qua trôi lại trên mấy anh lính ngủ ngon

    lành. Trong bụi cây, trung đội phó kê mảnh giấy lên đầu gối viết báo

    tường. Viết xong lẩm nhẩm đọc lại rồi gọi chiến sĩ ngồi bên cạnh:

    - Sinh ơi, bài mi viết mô đưa tao coi nào.

    Sinh quay lại, hé mắt nhưng nheo lại ngay vì chói nắng:

    - Dạ, tui chưa chép lại xong, anh ạ.

    Bỗng có tiếng động cơ ô tô chạy. Chuông điện thoại tới tấp, báo tin

    địch đến. Đồng loạt, chiến sĩ vùng dậy, mở chiếc khăn tay buộc che cò

    súng lau mồ hôi trán. Ai cũng tươi và tỉnh táo như vừa được tắm nước

    lạnh. Tây đi kia rồi. Có nghĩa là vào rọ rồi, các con ơi. Người nhấc ống

    nước đeo bên vai, tu một ngụm. Người sửa lại quai dép cho chắc. Tiểu

    đoàn trưởng tươi cười kéo chiếc nịt Mỹ (thắt lưng Mỹ, chiến lợi phẩm),

    vỗ vỗ vào khẩu súng lục đeo trễ xuống bên hông.

    Súng ở chính diện đã nổ.

    18-6-1950 (Ghi tiếp tại chỗ). Chiều, nắng vẫn to. Cháy thịt da vì tay

    áo xắn cao. Mồ hôi thấm hết áo trong đến áo ngoài. Nước lạnh uống

    ừng ực từng ống tre một. Hai chiếc Spitfire lại lồng lộn. Hình như vẫn

    hai chiếc máy bay ban sáng. Chúng nó chỉ có hai chiếc thôi hay sao! Bà

    đầm già rè rè liệng quanh tìm tòi, nhìn lên thấy rõ hai dấu hiệu cờ tam

    tài sơn dưới cánh như đôi mắt cú vọ, thật đáng ghét.

    Dọc đường vào thôn T.L. Có đơn vị bộ đội tạm rút về. Nóng và khát

    nước. Có anh vác súng những hai, ba chiếc, có anh chỉ ôm cái áo đi mưa.

    Các nội vụ viên vẫn gánh cơm đi ngược chiều. Trông thấy có những cái

    nồi, chiếc rá vẫn dùng xới cơm úp hững hờ bên trên, nhiều chiến sĩ hỏi

    xin cho uống vì tưởng đấy là nồi đựng nước vối. Hóa ra canh. Mùa này

    bữa ăn bộ đội cho dù ở trận địa cũng phải có canh thì anh em mới nuốt

    nổi, cho nên nội vụ cấp dưỡng đành chịu khó lỉnh kỉnh thế này. Gió

    Nam thổi khô cơm trong rá, lớp trên mặt như đã bắt đầu quánh lại. Mấy

    chiến sĩ gánh cơm áo quần nâu bạc màu dính bệt mồ hôi. Chân tay cũng

    màu nâu và cũng nhoáng ướt mồ hôi.

    Tôi theo anh Tiểu đoàn trưởng pháo đi ngược ra trận địa. Anh em

    chiến sĩ ở đây cũng đang ăn cơm. Các gánh đạn 75 ly ngụy trang lá

    xanh, xếp vuông vắn trông như bờ ruộng. Con trâu béo mập được dùng

    để kéo pháo, cái cổ quen kéo cày lâu ngày của nó đã thành u, thản nhiên

    ăn cỏ dưới mép ruộng (bờ ruộng). Lại gặp lính cấp dưỡng với lỉnh kỉnh

    nồi niêu, rá cơm, ống tre đựng nước cá nhân. Các thùng gỗ đựng nước

    đã cạn hết, chỉ còn trơ xác chè bên trong. Bữa ăn tranh thủ vội vàng.

    Kìa, hai chiếc Spitfire kia lại đến. Lại có chiếc bà đầm già nữa. Nó liệng

    hai vòng, chắc nó đã chỉ điểm mục tiêu, e đại bác địch sắp giã tới nơi.

    Bộ đội tiếp tục di chuyển pháo cho kịp giờ khai hỏa. Nơi đây cách đồn

    địch chừng hai cây số. Khẩu đại bác 75 ly cổ lỗ, bánh xe to đùng như

    bánh xe bò. Nòng thép bóng xanh, đầu nòng chụp chiếc mũ da. Tôi lật

    chiếc mũ che nòng súng, đưa ngón tay sờ những đường rãnh bên trong

    nòng, anh pháo thủ bảo tôi đấy là những “đường khương tuyến1”. Cảm

    thấy thương thương tuy hơi buồn vì nó cổ quá. Lúc nãy, trên đường đi

    đến đây tôi lần theo vết bánh xe hằn. Khẩu pháo quá nặng cán nát đá

    mặt đường sứt sẹo thành những vết thương, cỏ nát, bụi bờ quằn oẹo

    xuống. Nhưng ngụy trang kín hẳn, không nhìn ra hình thù gì.

    Cải con trâu đực2 vào cỗ pháo, lúc đầu nó hục hặc không chịu. Con

    trâu to béo thế mà trông quá nhỏ bé trước cỗ pháo thép. Hai bên, buộc

    1 Rãnh xoắn.

    2 Cải: Tiếng thôn quê miền Trung, tương đương thắng (đặt cái ách kẻo cổ xe lên vai con vật – đây là cỗ pháo lên vai con trâu).

    thêm hai hàng dây dài. Cả trung đội xúm lại kéo pháo phụ sức cho trâu.

    Để một mình con trâu kéo thì nó chết mất vì kiệt sức. Hai người nhảy

    lên ngồi vắt vẻo trên đầu nòng, giữ để cho phần đuôi khẩu đại bác khỏi

    chúi xuống quá, chạm sát mặt đất gây thêm lực cản. Con đường đồi gồ

    ghề, xe lắc lư từng bước, nghiêng bên này chúi bên kia. Mấy người lại

    xúm vào dùng sức tay phụ quay bánh xe nặng nhọc. Bỗng cất lên câu hò

    kéo dây xứ Nghệ, để anh em bộ đội kéo cho nhịp ngàng. Như nghe theo

    điệu hò, con trâu cũng cúi đầu ngúc ngắc, tức giận vì cái cày này hôm

    nay sao quá nặng so với ngày thường. Nó hì hục bước từng bước ngắn.

    Nắng hè gần tắt rồi, chiếu những ánh cuối cùng lên lá ngụy trang. Cỗ

    pháo vẫn nặng nhọc đi ngang qua giữa đồi sim lúp xúp.

    Chập chõa tối, chúng tôi đến gần đồn Sen Hạ, đuổi kịp đội xung kích

    đã đến đấy trước. Anh em sẵn sàng vào đồn ngay tối hôm nay, sau khi

    trọng pháo nổ diệt những công sự đề kháng chính của địch. Đi đầu đội

    xung kích là khẩu đội SKZ. Mỗi chiến sĩ vác một viên đạn trông giống

    cái chày. Bước chân lính xung kích như dài hơn bước chân lính khác nhờ

    được trang bị những đôi dày sơn đá cồm cộp, có vẻ hùng dũng và quyết

    liệt. Bước đi chắc. Vũ khí nhẹ toàn là tiểu liên Sten, Thompson, thỉnh

    thoảng mới thấy có vài khẩu Mút. Có anh vác thanh kiếm Nhật dáng

    cong cong tao nhã, vỏ bóng loáng, mảnh đồng ngăn cách chuôi và lưỡi

    kiếm ánh vàng vì được lau chùi quá cẩn thận. Mỗi anh cài một mảnh vải

    trắng ở cầu vai áo để dễ nhận ra nhau khi xung trận. Có anh đỏm dáng

    buộc cả chiếc khăn mùi soa hồng của mình vào đấy. Bộ đội hành quân

    trong ánh hoàng hôn, bóng nhòa với đồng ruộng, tỏa một vẻ đẹp mạnh

    và vui. Lẫn giữa hàng quân, tôi đếm một-hai-ba-bốn, ờ có đến bốn cái

    thang mới đóng bằng tre tươi, thân tre còn xanh rói. Thang ngắn, vắt

    ngang trên vai anh chiến sĩ. Những cái thang này sẽ dùng vắt lên hàng

    rào thép gai, cho bộ đội xung kích trèo lên đó mà vào bên trong đồn địch.

    Đến tối thì súng trong đồn bắt đầu nổ từng phát rời rạc. Súng trường

    cách nhau nửa phút một phát, 12ly7 cũng chỉ bắn từng hai, ba viên thôi.

    Chắc chúng tiết kiệm số đạn dược ít ỏi còn lại sau hai đêm bị tấn công.

    Muốn tiết kiệm đạn nhưng vẫn lo cho nên phải bắn để tỏ vẻ ta sẵn sàng

    đây. Trời tối hẳn thì 12ly7 nổ dày hơn, từng loạt ngắn hai ba viên.

    Chờ tiếng súng nặng của ta khai hỏa. Mãi đến chín giờ rưỡi đêm vẫn

    chưa nghe pháo ta bắn. Sau mới biết hóa ra ta mới bắn được hai phát

    cối 120 ly thì súng bay mất culát1, tìm mãi mới thấy. Năm phát đại bác

    75 ly đầu ta bắn đều chệch mục tiêu, không khống chế được ụ đặt khẩu

    đại liên 12ly7 của địch, nó vẫn xả đạn đến gai tai. Nhìn rõ ánh lửa chớp

    lên khi ca nông ta bắn. Phía bên phải chỗ tôi đang đứng là đại bác 75ly,

    phía bên trái là cối 120 ly.

    Trận đánh đồn một lần nữa lại không dứt điểm.

    Lại một đêm nữa cùng bộ đội ngủ trên đồi, muỗi và kiến. Hơi đất.

    Nguồn: Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ hồ Gươm. Tập ký của Phan Quang. NXB Trẻ, 2016.

    Tác giả gửi www.trieuxuan.info

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,815,639

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/