Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,818,578

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ hồ Gươm (1): Trở về với quê hương

Phan Quang

  • Thứ ba, 14:39 Ngày 21/07/2020
  • 15-11-1949 (Chiến khu Ba Lòng, Quảng Trị). Hôm nay một ngày vất vả

    nhưng nhiều cái may. Con đò từ Bến Trấm ngược dòng sông Thạch Hãn

    trong đêm, tinh mơ mới cập bến Ba Lòng. Tìm mãi mới gặp trạm giao

    liên. Anh trưởng trạm hơi ngỡ ngàng gặp anh cán bộ nói đặc giọng quê

    miềng, rứa mà coi giấy tờ thì ra ông nhà báo từ ngoài vùng tự do Liên

    khu vô mãi tận đây. Anh liền gọi một chú giao liên giao nhiệm vụ. Chú

    tươi cười: “Dạ, eng muốn đi mô em đưa eng tới nơi. Nhưng lúc ni gần trưa

    rồi. Phải ăn chút chi cho chắc bụng đã rồi đi mô mới đi. Eng ăn cơm tạm

    với bọn em. Ngó rứa nhưng đường xa lắm. Đói không leo rừng được mô”.

    Quảng Trị, Thừa Thiên cữ này đang giữa mùa mưa, cái bãi bồi ven

    sông phủ lớp bùn non, phải tháo dép đi chân đất mới đỡ trơn trượt.

    Đến chân rừng già, xuống suối rửa chân thật sạch, mang dép vào. “Eng

    cẩn thận, lỡ đạp phải côộc cây dưới lá giữa đường mòn thì có khi lủng

    (thủng) chân đó” - chú lại dặn. Mà phải đi mau, không đến nơi trời tối

    em không trở lui về trạm kịp. Đêm mô cũng có việc”.

    Tôi theo em loay hoay trèo lên tụt xuống mấy cái dốc, vào giữa

    rừng già mới thấy xa xa có trạm anh bộ đội cầm súng gác. Chú giao

    liên nói: “Eng đến trình giấy tờ. Em không được phép vô bên trong.

    Em về đây”.

    Anh bộ đội đọc kỹ “Giấy thông hành” (giấy công tác) của tôi rồi chỉ

    đường cho đi tiếp. Qua hai trạm gác nữa, khá xa nhau mới tới được cơ

    quan Phân khu bộ Quân sự. Chỉ huy trưởng Hà Văn Lâu1 chuẩn bị đi

    công tác. Anh bộ đội cận vệ của thủ trưởng đã đeo ba lô trên vai. May

    mà anh Hà Văn Lâu và tôi có quen nhau ở Thừa Thiên, hồi mặt trận Huế

    mới vỡ. Xem giấy tờ xong, anh tươi cười ngồi ghé xuống bàn tre, rút cây

    bút tự tay viết giấy giới thiệu cho phép phóng viên về sinh hoạt với các

    đơn vị bộ đội. Anh trực tiếp dẫn tôi sang cái lán bên, bảo cô văn thư

    đánh máy luôn cho anh ký tên, đóng dấu rồi đưa tôi, giọng cười cười:

    “Cầm cái ni, từ cấp trung đoàn trở xuống, anh muốn về sinh hoạt với

    đơn vị mô thì về, và bất cứ lúc nào”.

    Bắt tay nhau, anh lật đật lên đường. Phải ra bến sông ngay, nếu

    không có thể lỡ chuyến đò. Anh về Bến Trấm, rồi lên xã Phong Sơn

    (huyện Triệu Phong), xuôi về vùng xen kẽ, chỉ đạo các đội du kích địa

    phương. Lúc này tôi mới đọc tờ giấy giới thiệu, “cho phép ông Hoàng

    Tùng2 phóng viên báo Cứu Quốc Liên khu IV ở Phân khu Bình Trị Thiên

    được phép lưu động trong các đơn vị bộ đội Vệ quốc đoàn và Dân quân

    cùng các mặt trận trong Phân khu để thi hành phận sự”.

    __

    1 Hà Văn Lâu, sinh năm 1918, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự Phân khu Bình Trị Thiên thời kháng chiến chống Pháp, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao.

    2 Bút danh của nhà báo Phan Quang (BTV).

    Nhà ngoại giao Hà Văn Lâu khi là Phó trưởng đoàn đàm phán chính phủ nước Việt Nam

    Dân chủ Cộng hòa (thứ 3 từ trái sang) tại Hội nghị Paris. Cạnh ông phía bên phải là

    Trưởng Đoàn, Bộ trưởng Xuân Thủy, bên trái là thành viên kiêm người phát ngôn của

    Đoàn, nhà báo Nguyễn Thành L ê.

    Có tờ giấy này lận lưng kèm Thẻ nhà báo, lại có thêm Giấy thông

    hành Liên khu ủy cấp nữa thì yên tâm quá.

    20-11-1949 Tranh thủ đến trình giấy tờ sinh hoạt Đảng với Tỉnh

    ủy Quảng Trị. Lại gặp may. Anh Trần Trọng Hoãn, trước từng làm

    việc với nhau ở Đoàn thanh niên Cứu quốc, nay gọi theo bí danh là

    anh Tân1 vừa được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy. Anh cho nghe đôi nét tình

    hình, dặn dò những nơi nên đến, những vùng hẵng tạm tránh để đỡ

    hiểm nguy, tối thiểu ba tháng cố gắng đến đây một lần để Ban Tổ

    chức ký chứng nhận là anh vô đây có tham gia, chứ không bỏ bê sinh

    hoạt Đảng.

    Lại phải xuôi Bến Trấm, về đồng bằng theo đường ven biển vào Thừa

    Thiên. Vùng này mình quá quen, đi lại không biết bao nhiêu lần trên

    __

    1 Vào công tác tại Nam bộ và tại nhà tù Côn Đảo, anh được gọi là Hai Tân (Trần Trọng Tân), nguyên là Trưởng ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương, Phó bí thư thường trực Thành ủy TP. Hồ Chí Minh.

    con đường số 68 từ Chợ Sãi Quảng Trị vào thôn Vân Trình rồi dọc theo

    doi cát ven bờ phá Tam Giang mà qua Cửa Thuận.

    Cứ lên đường đã, đến đâu hay đó. Phải làm sao có bài gửi về tòa soạn,

    chứ mình đi đã hai tháng rồi, chắc ở nhà sốt ruột, phóng viên kiểu chi

    mà biền biệt không thấy tăm hơi.

    14-12-1949 (Ngoại ô thành phố Huế). Cả tuần nay nằm dài ở làng T.T.1

    Anh Thường vụ Thị (Thị ủy Thuận Hóa) có cho nghe sơ tình hình nội

    thành Huế, nhưng chắc phải giữ bí mật, các anh chỉ nói chung chung,

    không đủ cho mình làm tin, viết bài. Hơn nữa, cũng toàn chuyện cũ,

    nhiều người đã biết, báo đã đăng rồi.

    __

    1 Làng Thanh Thủy Chánh, nơi có cây Cầu ngói Thanh Toàn - cầu gỗ có mái che lợp ngói.

    Bút tích Phân khu trưởng Hà V ăn Lâu gần 60 năm sau.

    Mấy tháng trước, các ông Ph. ông Ch. (nhạc sĩ Phạm Duy, nhà thơ Chế

    Lan Viên) đã lần lượt có mặt tại đây, nghe nói cũng nghỉ tại ngôi nhà

    rường mát mẻ dành cho khách, có bộ phản ngựa bằng gỗ gõ mát rượi,

    mùa này đặt lưng xuống lúc đầu còn thấy lạnh lạnh, vậy mà cứ ngủ

    ngon ru, cả ban ngày, cơm trưa xong vẫn đánh một giấc. Một phần cũng

    tại chẳng có việc chi làm. Tôi đang chờ cơ hội, đã có ý định nhất quyết

    mà không hé răng lộ với ai. Hai ông ấy rất muốn vào nội thành Huế

    gặp bạn bè cũ, nhưng lãnh đạo Thị không cho, lỡ có chuyện chi xảy ra,

    không khéo địa phương phải chịu kỷ luật với Trung ương vì không quan

    tâm bảo vệ văn nghệ sĩ. Cuối cùng Thịđã tổ chức cuộc họp mặt ở vùng

    ta kiểm soát cho an toàn. Thị cho cơ sở ta móc nối báo tin cho nhiều

    văn nghệ sĩ ở nội thành ra gặp ông Ph. và ông Ch., mọi người cả ngoài

    lẫn trong đều hưng phấn.

    Các ông ấy quá nổi tiếng, mình là con tốt đen, có chi mà sợ, dù sao

    cẩn thận vẫn hơn, “nói trước bước không rời”, biết đâu chẳng có người

    cản. Đích thân tôi phải vào bằng được trong ấy, tự mình nhìn ngó, hỏi,

    nghe rồi viết một bài phóng sự tại chỗ thì chắc chắn sẽ anh em ở nhà

    nhiều người giật nảy mình, “thằng này ghê quá”. Tôi đã móc nối với

    mấy cậu Việt Dũng1, các cậu thay nhau tuần nào cũng từ trong Huế ra

    báo cáo tình hình với lãnh đạo. Có cậu là học sinh, dáng con nhà giàu,

    nói tiếng Tây làu làu. Cũng có đứa mặt mũi cháy đen, áo quần lếch

    thếch, hỏi làm chi mà sống, nói “em bán rao kẹo đậu phụng, kèm thuốc

    lá Cotab”. Lang thang suốt ngày các nẻo phố, kẹo đậu phụng rẻ, dễ bán,

    thuốc lá Cotab thì bán điếu lẻ cho nên cũng nhiều người mua, “có hôm

    gặp may em kiếm được bộn”.

    - Bộ dạng anh đây, anh có vô trong nớ một bữa được không?

    Thằng nhóc bĩu môi: Dễ ợt. Anh muốn đi em đưa anh đi. Anh chờ em

    ra chuyến sau. Nói thì nói rứa nhưng mình cũng phải chuẩn bị.

    - Lúc mô em lại ra?

    - Em không biết. Các anh bảo đi thì đi, làm sao nói trước. Anh muốn

    vô, chờ em. Vô ra dễ ợt.

    1 Học sinh, thiếu niên hoạt động ở nội thành.

    Thằng bé này tin được đây. Tôi nghĩ

    bụng, nhưng kiên quyết không hé

    chuyện này với ai. Chỉ còn cách là chờ

    nó trở ra thôi. Chẳng biết hôm nào.

    16-12-1949 Cơm ngày hai bữa ở

    đây khá. Thức ăn thì sang nhất lặp đi

    lặp lại là món canh cá sông, nhưng

    cá tươi, các chị nhà chủ lại biết cách

    cho rau ớt mùi mè vào thơm lựng.

    Được cái gạo de An Cựu xứng danh.

    Thật tình chẳng mấy khi mình được

    chén loại cơm trắng nấu gạo này.

    Cơm ấy, chan với canh cá ấy, no căng

    bụng rồi còn vẫn muốn ăn thêm.

    Cơm trưa xong, tôi đang ngủ mơ màng thì nghe có người nói chuyện,

    giọng xứ Nghệ quen quen. Mở mắt ra: Bùi Hiển!

    - Anh vô rồi à? Tới đây lúc nào?

    - Cũng khá lâu rồi, thấy ông nằm mình để yên cho ông ngủ.

    Ra cái vùng khói lửa này lại có sức hút anh em văn nghệ mạnh đến thế!

    18-12-1949 Hoàng hôn qua đồn địch, có cảm giác kỳ thú. Chưa phải

    đêm, nhưng đã qua ngày. Ánh sáng chập chõa; sáng trước mặt, tối sau

    lưng và hai bên người. Con đường chỉ còn là vệt trắng mờ mờ, chạy dọc

    lũy tre đen sẫm.

    Các nhà đỏ đèn, đồn địch cũng sáng. Anh cán bộ dân quân thị xã

    cùng đi nói:

    - Trước mặt chúng ta là đồn, chính con đường này đưa thẳng vào sào

    huyệt hắn đây. Nhưng ban ngày đồng bào làng này vẫn qua lại, chẳng

    bao giờ bọn Bảo vệ nó hỏi cả1.

    __

    1 Bảo vệ quân, lính Sài Gòn thời ấy.

    Ảnh chụp tại Ngoại thành Huế, 1949. Phan Quang ở đầu từ trái sang

    Đi một đoạn nữa, chúng tôi rẽ sang trái. Anh T. chỉ tay:

    - Anh có thấy cái nhà sát đường đi kia không? Bên kia nhà là “vị trí”

    của hắn đó.

    Chúng tôi quặt qua phía đông để tránh đồn, băng qua mấy nhà, vườn

    này luồn qua ngõ khác, len giữa những hàng dâm bụt, hoa màu ngâu

    đã tím sẫm. Một gia đình ăn cơm ngoài sân, dưới chút ánh sáng gượng

    gập, như tranh giành tuyệt vọng ngày với đêm. Đến đồng ruộng, quay

    nhìn lui, dưới bóng cây dương liễu và mấy cổ thụ sum suê đen sịt, một

    góc mái đồn nhạt hơn, ngọn đèn le lói chiếu. Tôi phải nhờ đến đôi mắt

    nhà binh để ước xem từ chỗ chúng tôi đứng cách mũi súng địch bao xa.

    Anh T. nheo mắt ngắm, đọc con số chính xác như sắp ra lệnh cho

    lính bắn moọc chê:

    - Một trăm... , một trăm hai mươi mét.

    Anh T. nói:

    - Có lần tôi cải trang qua đây ban ngày, thấy rõ ràng thằng lính gác

    nó nhòm mình.

    Từ vị trí địch, cứ vào khoảng mươi phút một, có mõ cầm canh. Bốn,

    năm tiếng mõ tre, mỗi thứ một âm giai nhỏ to riêng biệt, tiếng phát

    ra từ giữa đồn và bốn tiếng đáp lại từ bốn góc tường rào, gọi và trả lời

    nhau, nhằm chắc chắn là lính canh vẫn thức; thanh mõ ở góc đồn gần

    chúng tôi nhất, đập mạnh vào tai chói chang đến rợn người.

    Bước chân xuống chiếc bè để qua con hói cạn thì trời tối hẳn. Mặt

    con hói lúc này chỉ còn là một vệt xám sáng hơn trên bờ. Một ông lão

    nhà gần đó lặng lẽ ra giúp chống bè đưa cán bộ sang sông. Chiếc bè nhỏ

    xíu, chúng tôi đi qua từng chuyến hai người một, và suốt thời gian chở

    “bộ đội”, tôi không nghe ông hé miệng nói một tiếng nào.

    Lên bờ, gặp ngay mấy anh dân quân khu phố đợi sẵn. Họ cho biết

    hôm nay có hai xe chở lính commăngđô1 và bọn lính Bảo vệ từ cái đồn

    gần Sân vận động ra. “Thành ra chúng em có cuộc họp mà phải tạm

    hoãn để đề phòng”.

    __

    1 Commando: lính biệt kích (BTV).

    Từ các lối đi hẹp trong con hẻm, chúng tôi bước sang những con

    đường rộng rãi, thẳng tắp, có bóng hàng cây dương liễu cao nổi trên

    nền trời nặng mây mù, trông như dãy bờ rào cao vút. Mưa bay bay rắc

    phấn vào người. Hai bên đường là những ngôi nhà có vườn rộng. Có dãy

    tường gạch thẳng, cao ngang đầu người, như viền lối đi, thỉnh thoảng lại

    tụt vào nhường cho cái cổng có hai cánh cổng lớn, song sắt thưa, nhìn

    vào thấy một mảng tường ngôi nhà lầu bên trong. Nhà cao, kiến trúc

    lối mới; gác có sân thượng, có bày chậu hoa nhưng không có ánh đèn

    lửa. Tôi thầm đoán chắc đây là biệt thự của các cụ quan to hưu trí. Đánh

    nhau, các cụ đã vào ở hẳn giữa nội thành cho yên thân. Chắc chỉ có các

    “lão bộc” trông nhà, trời chưa tối các ông đã đóng kín mọi cửa ngõ, nép

    mình ở đâu đó, đề phòng tên bay đạn lạc, mặc kệ thiên hạ bên ngoài.

    Xa xa, các cột đèn đường song song, màu đỏ úa bệnh hoạn giữa

    sương đêm mờ, như không muốn soi sáng phố phường nữa. Tuy vậy,

    ánh đèn, những ngôi nhà cao, bóng dương liễu trên nền trời vẫn làm

    tôi thích thú. Lần đầu được đặt chân vào “trong nớ”. Khác với lần sang

    sông Bao Vinh giữa ban ngày, nhìn cánh cửa nhà, phố xá san sát nằm

    ngoan ngoãn dưới ngọn cờ tam tài, tôi thấy bực bội ít mà tiếc rẻ nhiều.

    Thế ư? Những cái đó thuộc về phía địch? Cả những cô gái thon thả

    khăn hồng choàng cổ, tóc dài buông lỏng sau lưng, đi trên chiếc đò

    nhỏ từ phía chợ về, họ cũng ở trong quyền kiểm soát của Tây? Tiếc

    nuối bâng khuâng...

    Đêm nay, đi giữa ngoại ô thành phố Huế, lại thấy vui, như thể những

    cái này, tất cả những cái này đều thuộc quyền ta; chúng ta đã lấy lại

    được hết rồi.

    Anh T. đưa chúng tôi thẳng vào một nhà khá lớn. Tường vôi trắng nổi

    bật trong đêm. Lên mấy bậc cấp xi măng, chúng tôi gõ cửa. Trong nhà

    vụt im. Một lát sau, mới có tiếng hỏi rụt rè:

    - Ai đó?

    - Mở cho vô với, tôi đây, T. đây.

    Tiếng guốc lê, cửa vặn, hé sáng ánh đèn. Có hai người đàn bà cùng

    mấy em bé đang ngồi ăn trên bức phản. Một cô gái khoảng mười chín,

    hai mươi, mềm mại trong chiếc áo cánh hồng chạy ra tươi cười:

    - Trời! Anh T. Rứa mà làm em hết hồn.

    Gia đình không có bóng đàn ông, cho đến khi chuyện trò xong ra về,

    tôi cũng không hỏi tại sao.

    Nhà có tầng lầu, lối kiến trúc nửa Tây nửa ta. Tường cao, quét vôi

    trắng pha xanh lơ, ban đêm trông sạch mắt. Trên cánh cửa là sách ra

    vào, bức hoành phi phô ba chữ vàng. Chiếc bàn bằng gỗ gõ lửng lơ giữa

    đôi trường kỷ bóng lộn.

    Cô gái bưng mấy ly nước ngọt đến mời khách. Lát sau, bà mẹ bưng

    lên đĩa nem, kèm theo mấy múi tỏi đã bóc vỏ sẵn. Bà là bà cô bên vợ của

    một anh cán bộ công tác tại thành. Bà tươi cười, dịu dàng giọng xứ Huế:

    - Mời các anh dùng vài chiếc, uống miếng nước. Chà, tiếc nhà hôm

    nay không có sẵn rượu, mời các anh dùng một chén.

    Anh T. bồng lên hôn một em bé kháu khỉnh với mái tóc búp bê, chiếc

    áo lấm tấm hoa. Tôi cầm tay cháu. Bàn tay phải của cháu cụt mất ngón

    giữa và nửa ngón cái. Bà mẹ giải thích:

    - Đó là tại hôm trước đánh nhau ở đây, hắn dính đạn, chữa mất mấy

    tháng mới lành.

    Tự nhiên tôi không muốn ngồi yên một chỗ nữa mà bức xúc đi lại

    quanh quẩn trong phòng, ngắm chiếc thuyền buồm tí hon làm bằng

    sừng trâu đặt trên nóc cái tủ ly và cố lần, may ra đọc được mấy chữ

    trong đôi câu đối chữ Hán. Bà chủ nhà kể:

    - Hôm trước, có mấy thằng an ninh dắt Tây vô đây. Hắn lục lọi, thấy

    cái buồng đóng, đòi mở cửa. Thiệt tình hôm ấy trong người có chìa

    khóa mà tôi run quá, tìm không ra. Rứa là cả ba bốn đứa hè nhau đạp

    phăng cánh cửa. Cũng chẳng thấy gì bên trong. Hắn huýt chó, thúc chó

    lên lầu, những con chó không chịu nghe nên phải trở ra.

    Cô gái:

    - Úi chà, mấy bữa ni đêm mô bọn an ninh cũng vác súng đi sục sạo

    từng nhà. Bất thần, chưa biết hắn vô nhà mô khi mô.

    Rồi hạ thấp giọng, cười cười:

    - Bữa ni sắp đến kỷ niệm Ngày toàn quốc kháng chiến rồi mà. Hắn sợ

    quân mình ở ngoài vô trong ni hoạt động.

    Cô gái hay cười, và có nụ cười xinh tệ. Hàm răng trắng đẹp. Và thoang

    thoảng có cả chút mùi nước hoa. Cô này được ta giao nhiệm vụ, cho nên

    hay lui tới trên phố, mua giúp thuốc chữa bệnh cho dân quân và cán bộ

    thành. Cô có đứa em gái 14 tuổi thay chị đi làm việc ấy vừa bị bắt ngay

    sáng nay vì mang trong người mấy gói thuốc Tây không có toa bác sĩ. Cả

    nhà đang lo cho em. Hắn còn con nít chắc không can chi.

    Bà mẹ nói:

    - Tây mần như rứa mà có tránh khỏi mô. Cán bộ ta vô ra như đi chợ.

    Hôm tê có mấy anh đến mạn ni, chả hiểu tại sao an ninh biết được,

    hắn huy động ầm lên cho xe đi vây các ngả. Tôi ngồi cứ lo cho anh em.

    Không biết họ đi lén cách chi mà tài, chẳng anh mô can chi cả.

    Sau chừng nửa tiếng, chúng tôi tạm biệt gia đình. Mưa lúc này to

    hạt hơn nhiều. Bà chủ nhà tiễn chân cán bộ, bảo cho mượn nón nhưng

    chúng tôi chối từ.

    Vậy là không vô tiếp được nữa. Anh T. quyết định cả nhóm trở lui.

    Đường về, vẫn con đường ấy nhưng lúc này tối đen. Sau lưng chúng

    tôi, chỉ ba trăm thước đã là đồn. Trước mặt, không còn xa mấy là tới chợ

    Cồn. Lẽ ra phải tránh khúc này. Nhưng anh T. cứ bình thản đi, và tôi cứ

    theo anh.

    Bỗng hai anh dân quân đi trước dò đường chạy lộn lại hớt hải báo tin

    có Tây phục kích phía gần chợ. Một anh tíu tít giục chúng tôi lộn lại

    ngay vì con đường này thẳng và thoáng, địch có thể bắn tước bình(?).

    Tổ đi trước dò đường có ba người, dân quân tại chỗ. Anh đi đầu, cách

    hai anh sau chừng dăm thước, vừa bị địch bắt. Lúc anh đi đến sát chợ,

    có tiếng hô, nhỏ thôi: “Đứng lại, giơ tay lên!”. Tên lính địch đã nấp sẵn

    sát vào bờ tường, xa không nhìn thấy, anh dân quân không còn cách gì

    kịp trở tay. Hai anh dân quân kia giục chúng tôi lui ngay, và quả quyết

    rõ ràng mình có nghe tiếng súng địch lên quy lát.

    Thôi đành phải nhanh chân trở lại. Không thể lưu luyến nơi đây, bởi

    không loại trừ địch biết ta vô, cho quân đi vòng bọc phía sau, thì chúng

    mình không còn đường rút - anh T. phân tích.

    Đường quay về, bước một bâng khuâng. Thế là hỏng mất kế hoạch

    của tôi rồi. Tôi định vào quanh quẩn vùng ven ngủ lại, sáng mai lên phố

    chơi. Anh em trong nội thành đã hứa thu xếp giúp. “Vô Huế không khó

    khăn chi mô, có người còn chơi thuyền sông Hương được nữa là”. Chiều

    nay, nghe tôi kể chuyến vô hụt, một em Việt Dũng nói:

    - Các anh đi cách nớ không hay mô. Anh muốn vô thì đi một mình.

    Phải thay quần áo. Buổi sáng, lúc viên chức đi làm, anh đi lẫn với họ.

    Quần trôpican1, sơ mi ximili trắng, áo punlôvơ2 màu, mũ phờlêsê3 đen,

    chiếc xe đạp cũng phải cho chiến, rứa là đúng kiểu. An ninh chả mấy

    khi hỏi giấy tờ hạng dân thầy đó. Mình với họ lẫn lộn với nhau, đố cha

    thằng mô biết. Em đi trước, có gì em ra dấu cho anh. Dễ ẹc”.

    Về cơ quan, một lúc sau được tin cơ sở xác nhận: Đêm qua đúng là

    bọn com-măng-đô có bố trí phục suốt đêm ở chợ Cồn và bắt một anh

    liên lạc người của ta. Đồng bào đi chợ sáng có nhìn thấy bọn lính, tên

    mô cũng ướt như chuột lột, có dẫn theo một người bị trói đưa ô trong

    phố... 4

    25-12-1949 Gặp em Việt Dũng khác, ra một mình. Nghe kể, cậu

    cười: “Anh vô với em. Dễ ẹc” - Đụng tới chuyện vô ra nội thành, cậu nào

    cũng dễ ợt, dễ ẹc. - “Đi đàng hoàng ban ngày, sợ chi anh. Em có thể đưa

    anh về nhà bà chị ruột em, anh nghỉ đêm tại đó, sáng hôm sau tha hồ

    bạt phố, lúc nào chán, em đến dẫn đường anh ra”.

    Em chợt nhớ: “Ồ, nhưng mà hôm ni ngày cúng Phật, các trạm kiểm

    soát nghỉ tất, khỏi lo chuyện giấy tờ. Mình đi luôn đi, anh”.

    Đúng hôm nay nhằm ngày lễ Phật, không biết lễ chi, chỉ thấy nhiều

    người dân đi chùa. Tôi theo cậu thiếu niên, đến sông Vân Dương, ngoắc

    đò ngang đàng hoàng sang sông, đàng hoàng đi ngang qua trước cổng

    bốt dân phòng của địch, đàng hoàng thẳng lên phường Vỹ Dạ không

    __

    1 Tropical.

    2 Pull over: áo thun len cao cổ.

    3 Mũ phớt nhãn hiệu Fléchet.

    4 Đoạn ghi chép này được sửa sang chút ít cho “văn hoa”, trở thành bài báo, đầu đề Một chuyến vô hụt, dưới bài ghi rõ: “Ngoại ô Thuận Hóa, ngày 18-12-1949”.

    gặp chút trở ngại nào. Thế là quyết, từ đây đi

    luôn qua Đập Đá, thả bộ la cà vào nơi phố xá

    đô hội. Hai anh em đang ung dung tản bộ, chợt

    thấy đằng xa có hai, ba tên lính Bảo vệ quân

    đầu đội mũ rộng vành, vai mang súng đi ngược

    về phía mình. Cậu Việt Dũng vội kéo tôi tạt

    qua cái cổng xây ven đường, vào một khuôn

    viên rộng có ngôi nhà bề thế khuất giữa vườn

    cây trái xanh tươi. Cậu dẫn tôi thẳng tới cuối

    vườn, nép cạnh rặng tre. Cậu dặn, nếu nguy

    cấp thì theo lối này thoát ra sông, bờ sông này nhiều lục bình lắm, lặn

    xuống dưới ấy, chỉ thò mũi lên mà thở, hắn có tìm cũng chẳng thấy

    chúng mình mô. Tôi nhìn qua các hàng cây trong vườn, thấy bên kia

    hàng tre xanh, thấp thoáng có bóng mấy chiếc mũ rộng vành theo cái

    ngõ xuôi xuống bến sông, càng thêm phấp phỏng, bụng dạ rối bời. Vừa

    lúc ấy, một bà từ trong nhà ra nói nhỏ: “Hai anh vô nhà, chớ đứng lâu

    chi đây, làm bọn hắn sinh nghi”.

    Chúng tôi bước lên mấy bậc cấp vào ngôi nhà chính, được bà đưa tay

    mời ngồi xuống bộ tràng kỷ giữa gian phòng cổ kính. Bà này hình như

    là người giúp việc gia đình. Một bà khác, cao tuổi hơn, ăn mặc cũng

    giản dị, từ buồng trong bước ra, ung dung pha trà rót ra chén mời khách

    như không hề có chuyện gì xảy ra. Bà tuyệt nhiên không hỏi han, các

    anh từ đâu đến, có cần chi không... Chỉ dặn: “Hai anh ngồi chơi, dùng

    nước tự nhiên. Bọn lính có vô, hai anh đừng có nói năng chi hết, để mặc

    tui ra nói chuyện với họ”.

    Nói xong bà lui vào nhà trong, để hai chúng tôi ngồi đó.

    Lát sau, nghe vài tiếng súng nhỏ nổ lẻ tẻ. Tôi càng lo, vội rút chiếc

    Thẻ nhà báo gấp nhỏ lại, nhét vào một cái gờ mé dưới mặt bàn. Trước

    khi vô nội thành, tôi đã cẩn thận gửi lại cơ quan mọi giấy tờ, sổ tay ghi

    chép, song cái thẻ này bất khả ly thân, nếu không có, lúc trở ra một

    mình sang vùng ta kiểm soát, thiếu cậu Việt Dũng đi cùng, có thể gặp

    rắc rối với dân quân ta. Nhìn bộ quần áo đúng mốt mà anh em mượn

    giúp cho tôi mặc trước khi vô thành, thay bộ áo cánh vải nâu tuềnh

    Phan Quang (1948)

    toàng diện từ xứ Nghệ vào, thấy mình cũng ra dáng thanh niên Huế,

    yên tâm được chút. Chợt ngó xuống hai bàn chân thì hỡi ôi! Mặc dù đôi

    xăng đan da vừa mượn, đeo vào nhìn tươm tất, song trên mu đôi bàn

    chân thì sần sùi, đen đủi, trên mỗi mu chân, lộ rõ hai vết chéo chữ thập

    trắng hếu. Đấy là dấu hai sợi dép râu cắt từ săm xe hơi của đôi dép lốp

    đã bao ngày cùng tôi trèo đèo lội suối dọc dãy núi Giăng Màn (Trường

    Sơn), rồi băng qua các trảng cát nắng bỏng Quảng Bình, Quảng Trị, mấy

    cái vệt trắng mách lẻo ấy (do quai dép che ánh nắng mặt trời) biết lấy

    chi xóa sạch hay bôi đen lúc này! “Mình bị bắt ở đây thì vô duyên quá,

    lại phải chịu kỷ luật thôi”.

    Ngôi nhà tĩnh lặng tưởng như không có người. Hai bà già đều biến

    đâu mất. Đảo mắt nhìn quanh, thấy hoành phi, câu đối treo la liệt, nhìn

    lên hoành phi đọc được hai Thúc Giạ. Nghĩa là gì? Làm sao hiểu nổi! Mà

    đọc lõm bõm, chưa chắc đúng. Bỗng nhiên trong đầu tôi lóe sáng: Hay

    đây chính là tư dinh của cụ Thượng nhà thơ xứ Huế Ưng Bình Thúc Giạ

    thị: “Chiều chiều bên bến Văn Lâu/ Ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm/ Ai thương

    ai cảm ai nhớ ai mong...”.

    Sau mấy tiếng súng lẻ tẻ kia, tình hình bên ngoài vẫn im re. Lát sau,

    người đàn bà cao tuổi từ nhà trong bước ra, lần này trên khuôn mặt

    hiền từ nở nụ cười: “Chừ thì hai anh có thể đi rồi đó. (Hồi nãy) chỉ là

    mấy chú lính Bảo vệ được ngày nghỉ, mang súng đi tìm con chim, con

    cu bắn kiếm chút thức ăn tươi đó thôi. Không can chi, không đời mô họ

    dám bước vô trong sân vườn nhà ni”.

    CHUẨN BỊ ĐI VÀO CHIẾN DỊCH

    15-02-1950 Bên phá Tam Giang

    ... Mưa lầy nhầy cả tháng rồi. Những mong sắp đến Tết trời sẽ hửng

    lên, nhưng vẫn cứ mưa hoài. Xóm làng vừa trải qua trận càn quét lớn

    của địch, ủ ê dưới màn mưa mỏng đục lờ. Phá Tam Giang vắng ngắt, dạt

    dào một màu nước bạc như lúc nào cũng thấp thỏm lắng nghe xem có

    tiếng máy ca nô của địch bất thần xộc đến đổ quân không. Xa mù bên

    kia phá, nhô lên chiếc tháp chuông nhọn nhà thờ, xen một vài đốm

    trắng giữa màu cây xanh. Ấy là lô cốt địch. Trong gió bấc, thỉnh thoảng

    dội lại mấy tiếng đại bác ình ình, nghe như vọng từ cõi âm ty.

    Những ngày cuối năm, đơn vị ráo riết chuẩn bị hành quân năm mới.

    Chiều ba mươi, tôi cùng mấy anh em rời Trung đoàn bộ Trung đoàn

    95 về một đại đội ăn Tết với chiến sĩ, đi theo con đường cái men doi

    cát mỏng chạy giữa phá và biển từ cửa Thuận An ra Đại Lược. Bên phải,

    sóng biển thét gào. Bên trái, phá Tam Giang mịt mù nước bạc. Mưa nhẹ

    hạt song đi ngược gió, nước cứ hắt vào mặt, mỗi giọt nước rơi vào cổ

    luồn xuống dưới áo buốt tựa kim châm. Càng về chiều, gió bấc càng hút.

    Bàn tay tôi tê cóng. Chân đi vấp đá mặt đất không thấy đau. Đường rất

    vắng, thỉnh thoảng một vài anh nuôi bộ đội cải trang làm dân thường,

    hay một người đàn bà đi phiên chợ cuối năm về, bước vội vã.

    Đến thôn Vĩnh Tuy tôi để ý hai em nhỏ, hai chị em, đứng bên đường,

    trên một mô đất cao, mắt nhìn ra phá Tam Giang. Em nhỏ chừng lên

    ba hoặc lên bốn là cùng, mặc chiếc áo cánh đen rách ngắn cũn cỡn, bên

    ngoài quàng thêm một chiếc áo nâu rộng thùng thình có phần lành lặn

    hơn. Chắc vì trời rét, ai đó lục chiếc áo cũ mặc thêm cho em. Bên cạnh,

    đứa lớn, trạc chín mười tuổi ngồi xổm, tay ôm ngang lưng em kéo sát

    vào mình, miệng ghé sát tai em nói thì thầm như dỗ. Em bé vùng vằng

    không chịu. Giá bấc hun hút, tôi nhìn rõ mái tóc em lớn xơ xác bay và

    đôi chân gầy không mặc quần của em bé tím ngắt. Tôi dừng lại hỏi:

    - Răng các em đứng đây. Ba mạ em đi mô?

    Em lớn ngước nhìn tôi, mấp máy môi định nói nhưng rồi quay mặt đi

    không trả lời. Em nhỏ nước mắt ròng ròng, miệng mếu xệch: “Mạ! Mạ!”

    Tôi bước đến gần các em hơn:

    - Hai em đứng chi đây cho rét?

    Em lớn làm như không nghe tiếng, càng ôm chặt em vào người, dỗ dành:

    - Em, em về đi, chị thương, về nhà chị rang bắp cho ăn.

    Nghe giọng nói, tôi biết chính em cũng sắp khóc đến nơi. Em bé cứ

    đứng yên một chỗ, vùng vằng dẫm chân, miệng gọi:

    - Mạ! Mạ!

    Tôi đặt tay lên đầu em:

    - Mạ em đi mô?

    Em bé quay lại, ngước mắt nhìn tôi. Trời ơi! Bao giờ tôi quên được đôi

    mắt ấy! Dưới mái tóc lòa xòa còn mịn như tơ, đôi mắt đen lay láy mở

    to, long lanh như hai ngôi sao giữa khuôn mặt bé choắt, tái xanh nhem

    nhuốc. Đôi mắt em nhìn tôi nửa như cật vấn nửa như khẩn cầu, đôi mắt

    trẻ con sao mà sâu xa đến vậy! Đôi mắt em ngây thơ như mắt bồ câu

    nhưng cũng già dặn như mắt người đàn bà từng đau khổ. Đôi mắt ấy

    ngước nhìn tôi. Lát sau chắc là nhận ra đây là chú bộ đội, em lại đưa tay

    chỉ ra phá mênh mông mà gọi: Mạ! Mạ!

    Tôi linh cảm nguyên nhân nhưng chưa dám tin, chưa nỡ tin. Tôi ngồi

    xuống, ôm cả hai em vào lòng, che gió cho chúng và hỏi:

    - Mạ các em đi mô?

    Em lớn mím chặt môi để khỏi mếu rồi không cầm được nữa, gục đầu

    vào cánh tay tôi bật khóc nức nở. Còn em bé cứ một mực chỉ tay ra mặt

    phá bạc mênh mông và tiếp tục gọi độc hai tiếng: Mạ! Mạ!

    Trong trận càn hôm trước, địch đã bắt được mẹ các em, kéo mẹ các

    em ra phá, vứt lên ca-nô. Dưới màn mưa đục lờ, phá vắng vẻ lạnh lùng

    dạt dào một màu sóng bạc. Thỉnh thoảng trong cơn gió, nghe mơ hồ

    như có máy ca-nô. Cha các em, địch đã bắn chết trong một trận càn

    trước nữa. Sót lại các em với bà ngoại ốm đau ngoài sáu mươi tuổi. Đôi

    mắt ngây thơ ấy chưa hiểu nổi mẹ sao mãi không về. Em chỉ thấy người

    ta giằng mẹ em đi, kéo xềnh xệch mẹ em ra phía ấy. Đã hai chiều nay,

    em không chịu ngủ trong lòng bà hay để yên cho chị ẵm. Em cứ vùng

    chạy ra đây ngóng bề nước bạc mênh mông mà gọi: Mạ! Mạ!

    Gió bấc thổi tạt những tiếng kêu non nớt. Mưa rơi hòa lẫn nước mắt

    em chảy ngoằn ngoèo xuống má. Mẹ em bao giờ về? Có bao giờ về nữa

    không? Tôi ôm chặt hai em bé vào lòng. Da các em lạnh buốt. Hai anh

    bộ đội cùng đi quay mặt nhìn đi nơi khác. Rất xa, đâu từ phía đồn Sịa,

    bờ bên kia phá Tam Giang, một băng súng máy nổ dài như mỉa mai

    những con người đang chờ mong có phong pháo nổ đón tổ tiên về vui

    Tết với cháu chắt chiều cuối năm.

    Hôm sau, tôi cùng đơn vị hành quân ra Quảng Trị. Chắc còn lâu mới

    có dịp trở lại bên phá Tam Giang này. Số phận người mẹ các em nhỏ tội

    nghiệp rồi sẽ ra sao? Chuyện ấy xảy ra như cơm bữa ở vùng ven, địch ta

    tranh chấp. Nhưng đôi mắt mở to của em bé vẫn theo tôi, theo tôi. Đôi

    mắt đen lay láy của em, vừa ngạc nhiên vừa khẩn cầu, và giọng nói còn

    ngọng của em cứ Mạ! Mạ!... {Đoạn ghi chép trên được sửa lại thành bài ký, đầu đề Bên phá Tam Giang. 60 năm sau, nhà thơ Nguyễn Xuân Thâm đọc lại, có làm bài thơ Đôi mắt.}

    ĐÔI MẮT

    Thơ Nguyễn Xuân Thâm

    1.

    Hai em bé

    Chị lên chín em lên ba

    Đứa nhỏ không mặc quần

    Cả hai đâu áo ấm

    Trong cái rét thấu xương cuối năm

    Ngồi ngóng bên bờ phá lớn

    Hai hôm rồi Tây lùng

    Mẹ các em

    Giặc bắt chở ra ngoài phá

    2.

    Ba mươi Tết

    Hành quân qua đây

    Đứng lại, ôm vào lòng cả hai đứa nhỏ

    Lấy áo che gió

    Cho chúng chút hơi ấm của người

    Bắt gặp đôi mắt đứa bé

    Đôi mắt đen lay láy mở to

    Long lanh trên gương mặt âu lo

    Tái xanh nhem nhuốc

    Nửa như khẩn cầu chở che

    Nửa như cật vấn

    Đôi mắt trẻ con sao sâu xa

    Như mắt người đàn bà từng đau khổ lắm

    Đứa em cứ chỉ tay ra phá

    Phá đầy nước bạc, sương mù, tháp nhà thờ

    Bập bẹ kêu: mạ! mạ!

    (Viết theo bài Bên phá Tam Giang của Phan Quang, 1950. Đã in ở báo Quân đội nhân dân Cuối tuần. 2016).

    TẾT Ở ĐẠI ĐỘI 150. HÀNH QUÂN NĂM MỚI

    17-02-1950 Mùng một Tết Canh Dần. (Đồng bằng huyện Hải Lăng,

    Quảng Trị). Tết kháng chiến lần thứ tư có vẻ thanh bình. Đường gió

    lạnh nhưng vẫn đông người. Bộ đội, đồng bào, áo trấn thủ, mũ cao

    bồi chiến lợi phẩm lấy được của địch lẫn với tà áo vải dù bay, chiếc

    nón dinh mới. Có phải vì lạnh mà người ta thích đi, dù là đi ra chỗ

    gió? Các quán dọc đường cửa he hé nhưng bên trong đông người, hầu

    hết là bộ đội xa quê. Đôi nơi mùi bánh khoái bay ra thơm, làm chảy

    nước miếng.

    Đồng bào sửa soạn Tết khá rộn. Năm nay bộ đội về ăn Tết với bà con

    giữa xóm thôn; ai cũng vui, nhất là vững dạ. Dẫu sao cũng yên ổn được

    trong mấy ngày đầu xuân. Ba năm rồi, ở vùng này ba lần Tết không ra

    gì. Lần đầu, thật ra không có Tết; Tây đổ bộ nhằm vào hôm tất niên, ai

    nấy lo gánh gồng chạy tản cư. Năm sau, Tết trong vòng kiểm soát của

    địch, nấu nồi bánh tét cứ che che giấu giấu, chỉ sợ bọn lính Bảo vệ xộc

    vô khuân đi. Năm ngoái, Tết về, đã có chút tự do nhưng nhiều người

    dân vẫn phập phồng. Đêm Giao thừa, cả gia đình ngồi quanh nồi bánh

    tét, nơm nớp chờ nghe tiếng mõ báo động. Tết năm nay, có bộ đội mình

    về, thôi tha hồ vui xuân nhé.

    Đường sá xóm làng được sửa sang. Dưới mưa phùn lạnh, dân làng kéo

    nhau ra cuốc cuốc cào cào, áo các o bay phấp phới. Các chị, các o gánh

    từ trên rú về những gánh cát trắng như gánh theo cả nguồn vui. Đường

    làng được mặc áo mới, trắng màu tinh khiết. Đi ngang qua đồng lúa,

    nhìn về làng trông như dải thắt lưng thao mới của một cô áo màu xanh

    của tre, chè, mít, chuối...

    Hôm qua, ba mươi Tết, có tiếng heo kêu, tiếng chày giã gạo - chắc

    chắn là gạo nếp rồi. Giã thêm vì có thêm bộ đội về. Trên đường làng,

    anh lính nội vụ (cấp dưỡng) đi lẫn với đồng bào, ai cũng vội vàng bận

    rộn, hướng về phía “chợ kháng chiến”. Mọi người đều vội. Cuối năm,

    hình như trái đất xoay nhanh hơn. Và máu cũng chảy mạnh hơn - vì

    trời lạnh.

    Thấy đường đi xuôi gió, tôi nhập vào đoàn. Cái chợ tạm, họp trong

    lùm cây sát hàng mưng được trồng từ xưa làm mốc giới giữa hai làng

    Phương Lang và Cổ Lũy. Chật ních người đi chợ Tết. Người nào cũng kè

    chiếc áo tơi cùng cái lịp (nón lá). Dưới mái tranh mấy cái chòi tranh nhỏ

    dùng làm quán bán hàng, các cô hàng xén ngồi chờ khách, chợ Tết khác

    ngày thường là trước mặt các cô có thêm hai thẩu quả xếp bánh thuẫn

    và bánh in (bánh làm bằng bột nếp đóng khuôn) ngoài bọc giấy lục, giấy

    hồng. Phiên chợ thành ra càng đầy màu sắc. Rau cải xanh. Thịt bò đỏ.

    Cải củ trắng. Tơi nón xám. Áo quần đen. Khăn choàng nâu. Rõ ràng là

    một phiên chợ Tết, chỉ thiếu màu sặc sỡ của bó hoa làm bằng giấy ngũ

    sắc và mấy cái lung tung dành cho trẻ.

    Ban chỉ huy Đại đội cho người ra mời tôi về dự lễ tuyên thệ của Hội

    đồng binh sĩ vừa mới bầu xong sáng nay, ba mươi Tết.

    Trong đình làng rộng thênh thang, lúc này đã đông nghịt những

    chiếc áo trấn thủ xám, bộ áo quần bộ đội hầu hết bạc màu. Đây là giờ

    anh em được tự do khi chờ đến khi làm lễ. Trống nện thùng thùng.

    Không khí vui nhộn lan khắp đội viên và cán bộ như một chén rượu

    nồng. Bộ đội hát thật to, reo hò đến vỡ cổ. Một bài hát vừa dứt, hay có

    câu ai nói dí dỏm là mọi người cùng hoan hô, hoan hô, tung mũ lên trời.

    Trống kẻng, mõ tre thẳng tay nện. Bỗng một giọng hát cất lên trong

    đình, có anh chính trị viên tiểu đoàn vừa đến tham dự. Trông bộ đội hát

    vui quá. Hai ba người múa tay theo nhịp. Một đội viên cầm mõ đánh,

    đánh mạnh quá cái dùi bay đâu mất, anh vác cái mõ nện luôn vào cột

    đình cho phát ra tiếng. Gió lạnh cuối năm không có ở đây, dù ngôi đình

    làng bốn bề trống lộng.

    Các thành viên mới được bầu của Hội đồng binh sĩ Đại đội 150 ra mắt

    và làm lễ tuyên thệ. Nhà báo được mời lên phát biểu ý kiến. Tôi phải

    nghẹn ngào thú thực mình rất cảm động. Nói xong, vừa thốt ra hai

    tiếng cảm ơn, anh em bộ đội đã hùa tới, nhấc bổng tôi gieo vào dòng vui

    hồn nhiên, phấn khởi của họ, đuổi hết trong tôi nỗi buồn vô nghĩa, cuối

    mùa của anh tạch tạch xè (tiểu tư sản), chút sầu ba mươi Tết xa nhà, xa

    bạn, không gặp được ai quen thân.

    Buổi chiều, ăn bữa cơm đoàn kết tất niên. Bữa tiệc này toàn do anh

    em cán bộ nấu, để cho các đội viên nội vụ thảnh thơi một ngày, đi bầu

    Hội đồng binh sĩ. Bên ngoài mưa bắt đầu rơi rồi nặng hạt dần. Tiếng

    mưa rơi xuống các tàu lá chuối lộp bộp nghe như âm vang trống mõ

    ban sáng.

    Gió lạnh, cải ngoài vườn nhà đều nở trông như một bầy bướm vàng

    bất động. Không có chi mời khách, bà mẹ chủ nhà đội nón ra vườn, tìm

    hái mấy quả ớt tươi chia cho mỗi mâm vài quả. Anh em ngồi vào mâm,

    chén tự nhiên, vui như hội. “Cơm và thức ăn nấu đã lâu, có phần nguội

    mất rồi, nhấm nhiều nhiều ớt vào, các đồng chí nghe” - anh cán bộ hôm

    nay làm đầu bếp xoa xoa hai bàn tay.

    Đến gần nửa đêm, chúng tôi cùng thức dậy đợi Giao thừa. Ngồi

    tựa lưng sát vào nhau, cùng uống ngụm nước chè tàu, nhấm lát mứt

    gừng - một chút quà đặc biệt đơn vị dành dụm từ bao lâu - cho ấm

    cổ mà nói chuyện tâm tình. Sao những ngày giao nối giữa hai năm

    Sửu và năm Dần này trời rét đến thế nhỉ! Da cứ tê đi, cả người đét lại;

    được bao nhiêu áo quần đem ra mặc, người bó chặt như con mắm. Gió

    mùa đông bắc làm môi nứt nẻ, thỉnh thoảng thè lưỡi liếm thấy miệng

    mình khô khốc. Đêm ba mươi Tết, anh đại đội trưởng đi nghiên cứu

    địa hình, nơi đơn vị sẽ ém quân đánh trận đầu năm trở về, cứ la rét

    om lên. Rét cóng tay, mình không có cách nào mở được mấy chiếc

    cúc quần để... Anh em bộ đội lại không có đủ chăn dày, mấy hôm nay

    không đêm nào ngủ thẳng giấc, hai giờ sáng đã lục đục kéo nhau dậy

    nói chuyện nhảm, chọc khuấy nhau cho ấm người. Một cán bộ trung

    đội nói với tôi:

    - Đầu mùa rét này, tôi được nhận cái mền (cấp theo tiêu chuẩn) ở

    Quân nhu, anh ạ. Nhưng đến cái trận Phò Trạch vừa rồi, thấy anh em

    chết chôn trần tội quá, tôi cho luôn cái mền. Hy vọng ra giêng, chắc

    cũng sắp hết rét.

    Buổi trao đổi đầu năm hóa thành câu chuyện tâm tình. Giọng nói mọi

    người càng lâu càng nhỏ lại, như tỉ tê với nhau. Chuyện nhà, chuyện

    cửa, chuyện tình duyên... “Các cậu ạ, mình nói thiệt... ”, - “... Tao kể,

    bọn bay đừng cười…” Tiếng càng nhỏ nhẹ, ngọn đèn dầu hỏa bé tí hình

    như tỏa ra hơi nóng nhiều hơn. Mứt gừng cũng làm cho ấm giọng. Khói

    thuốc nội hóa nhãn hiệu PAX tỏa say say. Ồ, đây là một gia đình ấm êm

    nhất. Bà con dân làng cùng bộ đội hút thuốc lá PAX (Hòa Bình), cùng

    ước mơ chuyện mai sau...

    “... Nói thiệt, hôm kia lên xin phép ban chỉ huy mình ngượng ghê. Chỉ

    tại gia đình mình phong kiến quá. Ai lại đến bữa ni mà lại nhắn con về

    cưới vợ trước Tết. Mình xin là xin rứa thôi, chứ đã biết trước là không

    được phép. Bỏ tiểu đội mình cho ai lúc này? Chẳng qua để có cái cớ viết

    thư cho ông bố, ông khỏi rầy... Vợ con cái con khỉ! Sang năm độc lập rồi,

    có chuyện chi mới tính... ”.

    Đúng Giao thừa, tất cả mọi người đứng dậy, thắp nén hương lên bàn

    thờ các chiến sĩ (mới hy sinh trong trận vừa qua) đặt chính giữa nhà.

    Vòng truy niệm tết lá xanh non, đẹp uy nghi. Chung quanh, trưng bày

    các tờ báo tường của các trung, tiểu đội thuộc đơn vị. Anh M. chỉ cho tôi

    đọc một bài viết có cái giọng khôi hài nghịch ngợm, lỗi chính tả chưa

    sửa, dưới ký tên Khai. Qua số báo Tết anh em vừa làm dán sát kề bên,

    trong cái khung kẻ bằng mực đỏ có mấy dòng chữ viết nắn nót:

    Thương tiếc các đồng chí:

    (...)

    NGUYỄN KHAI, 22 tuổi

    Hy sinh tại trận Phò Trạch ngày 27-01-1950

    Anh M. để tôi đọc, còn anh đứng bên lặng yên không nói. Tự nhiên,

    tôi hình dung ngay một anh chàng dong dỏng cao, trẻ trung vui nhộn,

    mới hôm nào còn đánh trống và hoan hô đến vỡ cổ... Lúc ra trận, nghe

    lệnh, anh thét to lên câu hát: “Quân xung phong, nước non đang chờ... ”1

    Hương trầm xao xuyến, tôi tưởng thấy khóe mắt tất cả các bạn đứng

    quanh tôi lúc này đều rưng rưng2.

    20-02-1950 Hành quân năm mới.

    Hôm nay mùng bốn, hết Tết rồi.

    Trên bàn thờ, một vài bông mai bắt đầu rụng cánh. Đã qua ba hôm

    __

    1 Bộ đội Bình Trị Thiên thích câu hát đó mỗi lúc xung phong.

    2 Đã chỉnh lý thành bài Tết ở đại đội 150, đăng báo Cứu Quốc Liên khu 4.

    vui Tết, sáng mai xuất quân năm mới sớm - anh em bộ đội đêm hôm

    qua thì thầm với nhau trước khi đi ngủ. Gió vẫn lạnh, mưa chưa thấy

    thưa hạt. Trời rét quá, vẫn rét cứng người; da cứ tím lại, càng sần sùi.

    Anh em cán bộ trong Đại đội đã lên Tiểu đoàn ăn “tiệc” đầu năm,

    bữa cơm đoàn kết chấm dứt ba ngày xuân vui chơi và mở màn năm

    mới chiến chinh. Những ngày đầu năm Canh Dần này, giá mà trời cho

    ấm lên một chút thì con người cứ là phơi phới. Nghe nói năm nay

    tích cực chuẩn bị, tiến tới tổng phản công, năm... tổng phản công -

    có người bảo chớ có tếu quá, khó khăn trước mắt vô vàn. Ồ, chúng ta

    có quyền lạc quan. Ai đó có đặt ra câu sấm: “Năm con cọp, về đồng

    bằng”, có biết rằng mình lạc hậu quá rồi không? Chúng ta đã về với

    đồng bằng, với ruộng nương từ cái năm chuột, năm trâu kia; năm con

    cọp thì phải vào luôn các phố phường mới thú vị. Vào đi! Vào mà bước

    dạo trên mặt cầu Tràng Tiền, mà mở phiên tòa xử tội mấy đứa Việt

    gian bán nước...

    Ngồi co ro trong nhà, thả cho đầu óc tưởng tượng.

    Chị chủ nhà ngồi ôm con thu thu trong chiếc mền, giọng nhẹ nhàng kéo tôi trở về thực tại:

    - Bộ đội đến thì vui, bộ đội đi thì buồn. Nếu mai kia anh em có trở lại,

    làm răng chẳng thiếu vắng bớt một đôi người. Ra trận, cách chi khỏi chết!

    Tôi không biết đáp thế nào, giọng trầm ngâm của người đàn bà góa

    rơi vào yên lặng.

    Tối, anh em trở về, tiếng cười nói vang lên từ ngoài ngõ. Hễ đi vắng

    thì thôi, về đến nơi là rộn cả nhà. Bà chủ hối con đi đốt hai trách lửa

    than thật lớn, cho anh em vây quanh hơ tay cho bớt buốt, và xông áo

    quần giặt chưa khô để sáng mai đi sớm. Gia đình và bộ đội chuyện trò

    ấm đậm.

    Chị chủ nhà lại sai đứa con gái nhỏ:

    - Mi nhớ cho kỹ mặt các anh, đến hôm bộ đội trở lại, coi có thiếu mặt

    anh mô không. Mi đã thuộc hết tên anh em đây chưa?

    Em bé nhìn quanh rồi chỉ vào tôi:

    - Anh ni con chưa biết.

    Tôi ghé vào tai nói cho em biết tên, rồi đưa tay vuốt mái tóc lơ thơ

    cháy nắng hè chưa kịp đen trở lại. Nó ngước mắt nhìn tôi rồi bảo mẹ:

    - Chừ, con biết hết rồi đó.

    Tình lưu luyến giữa bộ đội và đồng bào thắm thiết lạ. Một thứ tình

    cảm chân thật, chắc nịch như rẫy sắn nương khoai, xuất từ những tấm

    lòng chất phác, không mảy may gượng gạo. Nhất là các bà mẹ chiến

    sĩ hiền từ, các mẹ thương mấy đứa bộ đội như con mình đẻ ra. Sau cái

    trận Phò Trạch ấy, ta thắng lợi nhưng cũng tổn thất, có mẹ nhìn những

    đứa trước hay lui tới nhà mình nay không thấy, mẹ lặng lẽ cầm nón

    đi sang các nhà khác tìm. Tìm mãi không thấy mặt mấy đứa quen, mẹ

    hiểu chúng nó đã hy sinh ở mặt trận hết cả rồi, òa ra khóc. Anh em phải

    phân trần, nói cho mẹ rõ những anh này mất, còn những anh kia đơn

    vị cử đi công tác sang một vùng khác, mẹ mới chịu thôi, nhưng trong

    bụng nửa tin nửa ngờ, không biết anh ni có nói thiệt hay không.

    Ở đây, lại có chuyện nhỏ hôm qua làm tôi xúc động:

    Ngày đầu năm, anh em tổ chức bữa cơm đoàn kết với người trong gia

    đình mình nơi mình ở. Góp hai chục đồng tiền tiêu chuẩn sinh hoạt phí

    của mình vào; rồi trong nhà có chi, anh em cùng ăn nấy. Dĩ nhiên ngày

    Tết, thế nào chẳng có chút “ưu”.

    Tối, sinh hoạt nội bộ, anh chiến sĩ chính trị báo cáo với cả tổ:

    - Tôi xin tin anh em rõ, nhà anh em văn phòng Đại đội ta ở đây; anh

    chị trong nhà cho ăn bữa cơm chiều không chịu lấy tiền, cho nên dư

    được một trăm sáu mươi đồng. Chúng ta sẽ bỏ chung vô quỹ...

    Anh tiểu đội liên lạc nói chen:

    - Dạ, tôi cũng xin báo cáo, ở nhà anh em liên lạc chúng tôi nghỉ, bà

    chủ cho ăn suốt ngày không nhận tiền mua thức ăn, anh em chỉ góp

    gạo thôi, nên cũng thừa được hơn hai trăm...

    A, lại “câu chuyện quả na”(?) rồi. Ấm êm và đậm đà biết mấy! Anh

    em hoan hô. Anh chiến sĩ chính trị kết luận:

    - Được thế càng hay, ta bỏ chung nhau vậy.

    Chúng tôi dậy sớm chuẩn bị để đúng tám giờ hành quân. Ba lô gọn

    ghẽ, súng ống đã lau chùi mấy ngày đầu năm. Trước khi lên đường, anh

    chính trị viên tập hợp, căn dặn thêm đôi lời. Ba hôm Tết, sống vui với

    đồng bào nhưng ăn vẫn chưa thấy ngon. Giá mà đánh được cái đồn nào

    hay bắt sống được vài chục tên, rồi trở về cùng nhau quây bên bếp lửa

    hồng mà kiểm điểm (rút kinh nghiệm); bát nước chè uống vào lúc đó có

    nhạt đi nữa thì cũng cứ thấm vào mà nở từng thớ ruột già ruột non, anh

    em ạ. Lúc đó ta lại tổ chức “ăn Tết”, cái Tết của lính Vệ quốc đoàn sẽ

    còn vui gấp mấy… Còn sớm thế mà phía sau lũy tre, mấy bà mẹ ra lặng

    lẽ nhìn. Vì phải giữ bem, chẳng có đưa mô chào các mẹ một lời, nhưng

    rậm rịch chuẩn bị ba lô, giày dép, biết chúng nó lại đi rồi: Bà ơi bà làng

    ta buồn quá/ Họ đi rồi hoa lá ngẩn ngơ/ Họ đi rồi ai chờ ai đợi/ Họ đi rồi vời

    vợi hàng cau/ Họ đi họ hát với nhau/ Lòng mình những muốn theo màu áo

    xanh… Cậu Minh Huệ từ xứ Nghệ mới vô mà đã cảm thông, làm được

    mấy vần thơ hay đọc tặng bộ đội.

    Trời vẫn rét ngọt nhưng may không mưa, và xem chừng có cơ hửng

    nắng. Đường làng kín gió, đồng bào lũ lượt ra ngõ đứng xem. Đại đội

    chúng tôi được phân công đi tiền vệ. Anh em đi hàng một, người ngụy

    trang cành lá, nhìn từ xa trông y một giậu mướp di động theo dọc đường

    làng. Và lá cờ đỏ con con dẫn đầu phất phơ theo gió lạnh. Mọi người

    bảo nhau, đi nhanh hơn cho ấm, chuyện trò nho nhỏ cho đường đỡ xa.

    Khoảng mười giờ, đến thôn Xuân Viên. Sau ba mươi phút nghỉ ngơi,

    bắt đầu chặng đường cực nhọc. Để tránh cái đồn địch chắn ngang trước

    mắt, chúng tôi đi ra trạng cát men bờ biển. Sóng vỗ ầm ầm. Gió rét thổi

    ngược. Trời lại bắt đầu mưa, mưa nhẹ, rất nhẹ thôi; không, nói bầu trời

    đậm đặc sương mù thì đúng hơn. Mọi thứ ở đây đều một màu xám đục,

    rặng phi lao men bờ xác xơ.

    Anh em hành quân thỉnh thoảng bỏ sai cự ly, vô tình đi gần sát nhau,

    hình như đi gần nhau thì đỡ rét hơn. Anh đại đội trưởng thỉnh thoảng

    lại phải nhắc:

    - Nhớ cự ly mỗi người cách nhau năm bước, nghe!

    Qua hết làng Phương Lang thì trời gần tối. Mây mù nhiều hơn, sóng

    biển càng vỗ mạnh. Mấy bóng nhà tranh xám xịt của cái thôn nghèo lọt

    thỏm giữa mấy hàng cây dương liễu cằn.

    Lính nội vụ đã được cho đi trước, cho nên anh em đến đây chỉ một lát

    là đã có cơm ăn. Đôi chân mỏi quá rồi, giá được nghỉ lâu lâu hơn một

    chút. Nhưng chỉ mười lăm phút sau, có lệnh tiểu đoàn cho tập hợp, tiếp

    tục đi.

    Lần này, đại hội chúng tôi trở lại làm hậu vệ. Tối trời, mưa bay, gió

    rét; càng về khuya càng rét. Gió quét nước mưa vào mặt. Con đường

    trước mắt lúc này chỉ còn là một vệt mờ. Đêm đầu năm không trăng

    không sao. Chiếc áo trấn thủ tuồng như rộng quá và lồng ngực mình

    nhỏ hơn mọi ngày, gió cứ lùa vào giữa hai lần áo.

    …Đến một trảng cát bụi bờ nhô lúp xúp, có lệnh bước đi nhè nhẹ,

    cấm ho, cấm nói chuyện. Người đi trước tôi quay lại, chỉ tay về phía trái,

    lầm bầm gì đó, tôi nín thở, gắng lắm mới hiểu được:

    - Đồn Chợ Cạn đó, anh thấy không?

    Tôi chẳng thấy gì, ngoài những đám bụi bờ đen đen ngay trước mặt.

    Lặng im đến ghê rợn. Lệnh cấp trên cũng như mọi thông tin đều truyền

    miệng, người nghe rỉ tai nói lại với người đi trước hoặc ngay sau mình.

    - Đó, tiếng chúng nó trong đồn, anh có nghe rõ không?

    Đúng là có tiếng âm vang theo chiều gió lúc mạnh lúc nhẹ, cho nên

    tiếng nghe lúc xa vắng, phân biệt được tiếng nói tiếng cười. Ai nấy cố

    giữ cho thật êm. Có vài người ho nghẹn ngào trong họng, thành tiếng

    ục ục. Chỉ có tiếng gió rít, tiếng sóng biển ầm ầm, buồn chán, khó chịu.

    Vai đẫm sương. Mắt buồn ngủ.

    …Chờ mãi và chạy mãi, gần nửa đêm đến địa điểm trú quân. Ở đây nhà

    cửa dân bị địch đốt nhiều lần, không còn cái nào ra cái nhà. Nơi tôi nghỉ

    là một túp lều, mái lợp ngói nhưng vách bằng đất nện. Nhà trống không,

    mỗi một bộ giường tre lung lay đặt chính giữa. Bà mẹ chủ nhà nói:

    - Mái ngói ni mới lợp năm ngoái. Sẵn ngói lượm từ mái ngôi nhà cũ,

    làm như ri cho khỏi bị đốt. Trước, mái lợp tranh, đã cháy hai ba dạo rồi.

    Mẹ đi đi lại lại, lăng xăng săn sóc anh em:

    - Các eng nằm, coi được mấy người, thiếu mấy chỗ. Cứ đứng hoài,

    biết cách răng mà liệu.

    Tôi bắt chuyện:

    - Mẹ ơi, Tết rồi, đây có chi vui không, mẹ?

    - Rứa rứa thôi. Nhưng cũng được. Hơn năm ngoái. Ngó năm ni so với

    năm ngoái đó thì đủ biết sang năm chắc còn vui nữa, các eng hè?

    Mẹ đánh thức đứa cháu nhỏ dậy nấu nước nóng mời anh em:

    - May quá, mấy bữa trước hết chè tươi; sáng ni không biết chi xui tui mua

    một bó hai chục đồng, nếu không, chừ anh em cũng uống nước hâm thôi

    (nước lã hâm nóng), tội nghiệp. Tết nhứt, tôi chả mần chi cả. Răng xong

    thôi. Ai muốn bày biện, chờ sang năm độc lập, bủa sức mần (tha hồ làm).

    Nhà không có chiếu, cũng không cả rơm để lót ổ. Anh em mượn mấy

    cái áo tơi lá, trải ra đất nằm. Rét thế này, chỉ còn biết lấy hơi người

    nương ấm nhau thôi. Nhà chật quá, bộ đội nằm đất đã cứng như nêm.

    Ai đó kêu to:

    - Thằng cha mô bày ra cách may áo trấn thủ đơm khuy một bên hông

    là dốt. Không biết bộ đội mình hành quân không có đêm nào được nằm

    ngửa mà ngủ à? Nằm nghiêng, mới có đủ chỗ nằm. Mà nằm nghiêng,

    mấy cái nút áo trấn thủ cứ cộm lên thọc vào hông, đau chết đi được.

    Chúng tôi vừa nằm yên một lát, nghe tiếng bà mẹ hỏi:

    - Lâu ni ta có được trận mô to không, các eng?

    Anh con trai vừa đi dẫn đường cho bộ đội về, gắt:

    - Để yên anh em nghỉ, mạ.

    Bà cứ nói:

    - Dân bầy tui chỉ trông có tin thắng trận để mà mừng...

    Tôi đã thiu thiu, vẫn nghe được câu cuối cùng của bà, sau một hồi im

    lặng. Bà nói với chính mình, giọng rất nhỏ:

    - Rét ni mà anh em đi từ đâu hôm đến chừ, làm chi không mệt!

    NHỮNG NGÀY CHUẨN BỊ.

    21-4-1950 (Chiến khu Ba Lòng, Quảng Trị). Chờ đợi bấy lâu, mãi hôm

    nay mới được về đồng bằng. Dưới kia đang mùa lúa chín, còn trên này

    ngô đại trà đã trổ cờ; ở hội nghị trưa nào cũng được ăn bắp non. Mùa

    lúa mới đã gửi những hạt vàng đầu tiên lên chiến khu cho bộ đội. Tuy

    miệng người dân chưa được nhai miếng cơm dẻo và thơm mùi gạo mới

    đầu mùa, nhưng giá gạo chợ Ba Lòng từ sáu lon (bơ sữa bò) lên tám, rồi

    mười, mười hai lon một trăm đồng. Sáng qua tôi được chứng kiến cảnh

    chị đàn bà người dân tộc thiểu số Vân Kiều người chắc nịch như một

    khúc gỗ, da bóng loáng đồng đen dưới cái nắng đầu mùa, khủng khỉnh

    trước thúng gạo của người buôn vừa đưa từ đồng bằng lên, đòi cho được

    mười bốn lon một trăm đồng mới chịu đong.

    Chị mua xong, chậm chạp bước đi, chiếc gùi mây đựng gạo đeo sau

    lưng ngấp ngõm theo bước chân, rồi nhanh chóng khuất bóng giữa

    biển ngô rậm rạp. Ngô cũng tốt lắm, làm tôi liên tưởng tới chuyện mùa

    này được to, như lời một người làng tình cờ gặp hôm qua giữa đường

    cho biết, “cứ như ri rồi lúa sẽ không biết chôn đâu cho hết”(chôn để

    giấu không cho địch cướp lúa gạo). Anh nói: “Miễn là trời cho gặt hái

    được trọn vẹn, thì không lo thiếu gạo cho bộ đội”. Nhưng nghe đồn ở

    các đồn bốt của chúng, Tây cũng đã cho đắp sân, rèn hái và lùa trâu

    về, chuẩn bị cướp mùa màng, cố phá hoại kế hoạch của ta chuyển sang

    chuẩn bị tổng phản công. Đồng bào lo lắm. Nhưng bà con vẫn tin rằng

    cho dù có mất mát ít nhiều thì rốt cuộc lúa gạo ta vẫn giữ được phần

    hơn. Mấy mùa trước, mùa nào Tây chẳng tung lực lượng ra cướp bóc.

    Mà rốt cuộc chúng chỉ giục giã thêm dân quê nỗ lực gặt ngày gặt đêm

    cho mau trắng đồng, rồi chôn chôn giấu giấu cho trống cửa nhà. Tôi tin

    rằng dân sẽ gặt hái được. Trận thắng Hà My của Trung đoàn chủ lực vừa

    rồi cũng làm cho địch nao núng ít nhiều. Hơn nữa người dân quê sống

    chết thì họ cũng đeo cho bằng được hạt lúa, hạt lúa mồ hôi nước mắt,

    hạt lúa máu xương mà họ còn quý hơn đôi con ngươi của mình. Tôi tin

    rằng địch có làm gì thì làm, hạt lúa rồi sẽ vẫn là hạt lúa của chúng ta.

    Nhiều người xúc cảm về mùa lúa tháng ba này. Hôm gặp tôi ở cơ

    quan đoàn thể (Đảng), Dương Tường đọc cho nghe bài thơ anh mới làm

    nhân cảm xúc khi đi qua đồng lúa mênh mông và nhìn đồn bốt địch lọt

    vào giữa đồng lúa. Tôi không nhớ bài thơ, nhưng có hai câu rất thích

    và tôi cho là trội nhất trong bài. Hai câu thơ ví đồng lúa ngợp sóng gió

    đùa trông như sóng biển đang trào lên, hùng mạnh và vĩ đại, sắp nuốt

    phăng những cái đồn bốt dường như bé xíu, vô nghĩa trước cái rộng lớn

    vô cùng của thiên nhiên. Và hồi chiều, khi cùng chờ chuyến đò xuôi

    bến Trấm, anh Hiên1cũng kéo tôi vào một cái quán ở Ba Lòng ngâm

    cho nghe một bài thơ anh vừa mới làm nhân mùa lúa này. Bài thơ nghệ

    thuật kém nhưng cảm xúc mạnh, gợi những cành lúa đang vươn lên mơ

    hát cảnh thanh bình giữa thời chuẩn bị tổng phản công. Được mùa hiện

    đang là nguồn cảm hứng của văn nghệ sĩ kháng chiến.

    Nắng đầu tháng ba ở chiến khu oi ghê gớm. Người như cứ muốn khô

    quắt lại. Ngồi trong nhà mà cảm thấy hừng hực tưởng như có ai đốt lửa

    ngay cạnh mình, đốt trên mái nhà, đốt dưới giường nằm. Cũng tại vì

    nhà cửa tạm bợ, cái mái che là mấy tấm tranh mỏng tanh, cửa giả thì

    không có, trống huơ trống hoác, trong nhà chẳng khác ngoài trời. Sao

    ở đây không ai trồng dừa nhỉ. Thật là thiệt thòi. Giá có một quả dừa mà

    nhấp môi chút nước ngọt mát như sữa thì năng lượng con người không

    đến nỗi phải mất mát nhiều đến thế này.

    Tình cờ, tôi gặp lại bài Gió Lào của Nguyễn Tuân in trong Tập văn

    cách mạng và kháng chiến. Càng đọc càng thấy nắng thêm gay gắt. Ở đây

    gió Lào đầu mùa chưa mạnh lắm, dù sao cũng đỡ bức bối hơn tại Nghệ

    An. Thế mà người mình đã thẫn thờ, sinh ra gắt gỏng một cách vô cớ.

    Sách đọc không vào, chữ nghĩa từ trang giấy cứ lởn vởn ngoài mi mắt

    và ru cho mắt ríu lại chứ không vào trong đầu. Thảng hoặc có một đôi

    mảnh nào lọt được vào đầu thì y như nó làm giặc trong ấy, nó quấy rối,

    quay cuồng làm cho cái đầu muốn nứt ra.

    Con đường từ Phân khu bộ về bến đò, tôi đi giữa buổi xế trưa. Nắng

    hấp lưng, nắng cháy mặt. Nắng làm giòn chiếc ba lô đeo bên mình

    nhưng lại làm cho người mình hóa thành nước. Mặt đỏ hồng quân,

    phừng phừng như đang đi chữa cháy. Mồ hôi thấm hết áo trong áo

    ngoài, dính bệt hai lần áo vào da thịt. Mồ hôi làm trôi bụi đường bám

    dọc hai ống chân. Chiếc khăn cầm ở tay đã ướt sũng, đưa lên lau mặt

    nghe thoảng mùi gây gây, cảm giác nhờn nhờn. Tôi cúi đầu đi cặm cụi,

    tay nâng vạt áo đã mở hết khuy cho khỏi dính vào ngực, và may ra đón

    được chút gió họa hoằn có thổi lại. Ngẩng đầu chợt nhìn thấy anh Vệ

    1 Lê Đình Hiên, bút danh Tân Trà.

    quốc đoàn đang đi trước mình, tự nhiên tôi sửng sốt. Trời, sao anh lại

    có thể mang chiếc ba lô may bằng dạ nhỉ. Giữa cái nóng nực này. Chất

    dạ gợi cho tôi một cảm giác ghê rợn: cái ba lô của anh tỏa ra sức nóng

    có khác gì một cái rẫy đang cháy giữa trưa. Tôi quay mặt, chờ cho anh đi

    xa hơn một chút mới bước theo. Gió ơi, nồm nam ở đâu cả rồi?1

    Tôi lên đường về lại đồng bằng, chuẩn bị tham gia chiến dịch mùa

    hè một ngày nắng gắt như thế này đây. Chiến dịch chưa biết sẽ bùng ra

    ngày nào và ở đâu là trận địa chính, nhưng chương trình của (cánh báo

    chí, văn nghệ) chúng tôi trong ba tháng tới là phối hợp tổ chức phong

    trào văn nghệ nhân dân ở cả ba tỉnh Bình-Trị-Thiên.

    Hè năm nay, phải cố gắng viết được một cái gì.

    “Hè năm nay, phải viết được một cái gì”. Đó là câu nói của Chế Lan

    Viên. Mới hôm nào đây tại cái bãi bồi trồng bắp (ngô) ven sông Thạch

    Hãn này, Hoan nắm chặt tay tôi, dặn đi dặn lại. Hôm ấy, tôi từ đồng

    bằng lên. Anh Hà Văn Lâu nhắn tin khẩn, bảo tôi phải về ngay cơ quan

    để dự họp. Họp gì đây? Về tới nơi mới biết, chứ chuyện bem, ai dám

    nhắn qua người khác. Hóa ra là để chuẩn bị tham gia CZ (chiến dịch)

    mùa hè. Đúng như mong muốn của mình.

    Tôi từ đồng bằng lên, đi mau trên con đường mòn độc đạo khuất giữa

    bãi ngô. Chợt nghe tiếng reo: Diêu2! Tôi ngẩng đầu: Hoan! Chúng tôi

    ôm choàng lấy nhau, mừng lắm. Hoan vẫn mặc bộ áo quần nâu, vai đeo

    túi dết. Thấy thấp thoáng đằng sau mấy dãy bắp có cái quán nhỏ nhô

    lên mái lá, Hoan hớn hở: “Vô đây! Vô đây cái đã!”.

    Hoan kéo tôi tạt luôn vào cái quán, một chòi lá thô sơ mới dựng.

    Hai dãy ghế dành cho khách ngồi là hai đoạn cộc tre tươi kê lên hai

    cái cọc tre chôn xuống đất. Bàn tre cũng được chôn chân xuống đất,

    mặt bàn lát tấm phên đan bằng tre, chỗ màu trắng chỗ còn xanh bởi

    nan tre chưa kịp khô hết. Vậy mà cái quán này lại có bán thịt bò tươi!

    __

    1 Nam nồm hai ngọn giành nhau/ Bỗng dưng nam trước nồm sau nhịp nhàng (ca dao Quảng Trị). Nam là gió Lào, thổi mạnh vào buổi sáng, nồm là gió đông nam từ biển thổi vào, mạnh về chiều và đêm, mùa hè ngày nào cũng thế.

    2 Phan Quang Diêu, tên khai sinh của nhà báo Phan Quang (BTV)

    Hoan hứng chí kêu luôn năm lạng, nhờ chị

    chủ quán thái lát, luộc tươi, nước luộc thịt

    chị đập bẹp hai củ gừng to cho vô nồi, còn

    nước chấm là nước múc trong chum, cho

    một muỗng ruốc tép vào, khuấy tan nấu

    sôi lên, lại còn thêm gừng cùng mấy lát ớt

    xanh nữa chứ.

    Ăn hết thịt, uống một bát nước luộc thịt

    cay xè, toàn mùi gừng và gừng, chẳng thấy

    thịt đâu, vậy mà người cứ tỉnh táo hẳn lên.

    Thì ra ông Hoan có chuyện vui. Đêm nay

    Tỉnh ủy làm lễ chính thức kết nạp ông vào Đảng tại cơ quan Văn phòng.

    Hoan bảo tôi quay lại để cùng dự buổi lễ “cho vui”. Thoạt đầu tôi chưa

    nghĩ ra ngay, lát sau mới vỡ, có lẽ là tại Hoan vẫn nhớ cậu Diêu này từng

    là Bí thư chi bộ tòa soạn báo Cứu Quốc, và mới mấy tháng trước đây

    thôi, ở ngoài đó nhà thơ còn là “quần chúng ngoài Đảng”.

    Ảnh chụp tại Đô Lương, Nghệ An tháng 10-1949 trước khi Chế Lan Viên và Phan Quang

    lần lượt vào chiến trường Bình Trị Thiên. Từ trái sang: họa sĩ Văn Bình, nhà thơ Chế Lan

    Viên, Phan Quang, nhà thơ Gia Ninh

    Bút tích Chế Lan Viên

    Tôi cũng hào hứng, hai anh em cùng theo nhau vào cơ quan tỉnh ủy

    đóng ở bờ rừng, đi hết chiều ngang bãi bắp, leo thêm một chặng đường

    núi nữa tới nơi khô ráo là cơ quan.

    Sáng sớm hôm sau, chia tay nhau, ai đi đường nấy. Hoan dặn tôi mà

    như thể Hoan tự dặn mình là chính: “Hè năm nay phải viết được một

    cái gì!”1

    24-4-1950 (Đồng bằng Thừa Thiên). Sáng nay, lúc đi ngang qua thôn

    Đại Lộc, chúng tôi được đồng bào cho biết tối hôm qua có loa rao, bà

    con chuẩn bị sẵn sàng vì có một chiếc tàu địch ghé sát bờ, gần cửa

    Thuận An. Như vậy thì chưa chắc tối nay đã có thể qua đò Cửa Thuận

    được vì nghe nói hình như địch đã bố phòng ở thôn Tư xã Hương Hải.

    Mặc kệ, cứ vào cho gần đã, rồi sẽ tính sau.

    Nắng vẫn gắt nhưng về chiều đã bắt đầu có gió nồm. Dải đất kẹt giữa

    phá Tam Giang và biển cứ hẹp lại dần. Bên phải là phá. Nước đã cạn,

    lộ những chiếc sáo đánh cá như những vệt nâu sẫm trên mặt nước ánh

    lên màu bạc do mặt trời chiếu. Vài ba cánh buồm trắng lộng gió. Sát

    đường đi, lúa chín chưa đều, màu xanh chen lẫn màu vàng. Cánh đồng

    phẳng đẹp một cách trơn tru, đến nỗi tôi có cảm giác muốn đưa tay

    vuốt ve, mơn man như vuốt một tấm nhung. Vào đến thôn Vĩnh Trị, dải

    đất càng hẹp lại, nhà dân ở sát đụn cát; đường làng là lối mòn giữa hai

    luống khoai lang. Đồng bào đang cào cỏ. Một chị bón bèo vào gốc cho

    khoai nhiều củ. Trâu ăn bình thản. Chú bé giữ trâu ngất ngưởng trên

    lưng con vật, đang chăm chú đan chiếc quạt nan. Thấy chúng tôi mồ

    hôi nhễ nhại, áo cởi phanh ngực, chú bảo bạn: “Phải chi mình đan xong

    1 Tám năm sau, tại một bức thư gửi từ Bệnh viện Nam Ninh, nơi anh đang điều

    trị, Chế Lan Viên nhắc: “Diêu này, lại nhớ những ngày hai đứa ăn gần 400 gam

    thịt bò, chỉ rành thịt bò, ở chiến khu Quảng Trị, không cốt ngon, chỉ cốt bổ, để chống

    sốt rét, rồi Diêu đi chiến dịch và Hoan chuẩn bị vào Thừa Thiên”. Hơn 20 năm

    sau nữa, trong bức thư cuối cùng viết trên giường bệnh ở Bệnh viện Chợ Rẫy,

    TP. Hồ Chí Minh, sau khi mổ lấy cục u ác tính ở phổi, anh lại gợi kỷ niệm xưa:

    “Chúng ta nhớ Sơn Trung, nhớ Núi Nưa, nhớ Ba Lòng ăn thịt bò”, vẫn là bữa thịt

    bò tại cái quán rách trên bãi bắp thượng nguồn sông Thạch Hãn này.

    thì tặng cho anh ni cái quạt”. Vài ba người mang lúa ra dên (rê) bớt bụi

    và dẹp (thóc lép). Thỉnh thoảng, bước đi trên những đoạn đường phơi

    toóc, cảm giác xôm xốp dễ chịu dưới chân, làm nhớ lại những lần bước

    trên sân nhà đang phơi lại rơm cho thật khô để đánh đụn dành đun nấu

    sau ngày mùa. “Hết mùa toóc rạ rơm khô/ Bạn về quê bạn, biết nơi mô mà

    tìm... ”

    Chúng tôi hỏi thăm còn bao xa nữa thì đến bến Đò Cửa. Một cụ già

    mình trần, ngực nở, tuy già nhưng vai còn cuồn cuộn bắp thịt đáp:

    “Gần đến rồi đó. Nhưng nghe chừng hắn gác suốt ngày, nghe hắn ở mô

    trong thôn Tư”.

    Hắn đây là Tây, cũng có khi chỉ là lính Bảo vệ. Chúng tôi định đến

    gần gần ít nữa sẽ hỏi thêm tin tức hoặc nghỉ lại kiếm cái gì ăn, chờ trời

    tối hẳn. Thấy chúng tôi hăm hở bước, một em chăn trâu hỏi:

    - Các anh không sợ răng lại cứ đi?

    - Có chuyện chi rứa em, - tôi hỏi.

    - Hình như có Tây, dân trong nớ đang chạy dạt ra ngoài ni đó.

    Nhìn về phía làng quả thật sát vào xóm nhà có mấy toán đông người

    tụ tập. Hình như họ ở phía trong kia ra, vừa đi vừa kháo chuyện. Tuy

    vậy giữa đồng, người ta vẫn cuốc cày. Chúng tôi tiến đến gần làng, bắt

    chuyện với mấy người. Một ông đầu đội mũ cát, áo quần bà ba may

    bằng lụa xa xị1 trắng, mặt chưa già nhưng cố nuôi ba chòm râu mép.

    Một cụ già người miền biển, thân hình vạm vỡ, da đen bóng vì thường

    xuyên ở trần và dang nắng; một anh nông dân áo phanh ngực; mấy cô

    thanh nữ mặc áo quần toàn đen vừa đi tới, dáng vội vàng. Họ cho biết

    chiều nay một chiếc ca nô cập bờ biển, mấy thằng Tây chạy giỡn trên

    bãi cát; một thằng còn cắm cả một lá cờ tam tài trên đụn cát. Tàu chiến

    của bọn nó đậu khá gần bờ.

    Chúng tôi tìm dân quân thôn hỏi địch tình, xem đêm nay có thể tìm

    cách vượt sang bên kia cửa Thuận được không. Bỗng một tiếng nổ đanh

    __

    1 Xa xị, tên một loại lụa dệt bằng sợi nhân tạo, quen thuộc tại miền Trung thời trước. Gọi “lụa xa xị” để phân biệt với “lụa tơ tằm”

    rồi tiếng rú và tiếp theo tiếng “ình”! Moọc chê1! Mọi người xao xác.

    Mấy người co giò chạy. Tiếp theo, có tiếng súng trường khá gần, càng

    làm mọi người thêm hốt hoảng. Ai nấy chạy tạt ra phía bắc. “Moọc chê

    nổ chỗ mô? Xa hay gần?”. Ông mặc bộ áo quần xa xị trắng hồi nãy vừa

    nghe tiếng nổ đầu tiên trông bộ đã hớt hơ hớt hải, vừa chạy vừa thở

    hồng hộc, đôi guốc xách tay. Chúng tôi đi chậm, ông ta bỏ đường cái

    nhảy xuống nương khoai để vượt mặt tôi băng lên trước. Đằng sau ai

    nói, có người dính đạn bị thương ở chân.

    Chúng tôi đi chậm thôi vì không có tiếng súng bắn tiếp. Gặp một anh

    dân quân tay nắm quả lựu đạn, anh vừa đi điều tra địch tình về. Anh

    cho biết ban chỉ huy xã đội xã Hương Hải lúc này không còn có ai. Ông

    chính trị viên xã đội được lệnh điều đi công tác nơi khác, chiều nay ở

    nhà sửa soạn đồ đạc. Mấy ông xã đội trưởng, xã đội phó đang bận dự hội

    nghị xa. Đành phải tìm đến Ủy ban xã vậy.

    Tìm mãi mới gặp được một ông ủy viên. Mới nhìn thấy mặt, tôi đã có

    ác cảm vì cái bộ dạng hào lý của y. Mặt béo bự, áo quần xốc xếch, có vẻ

    như y vừa đi dự một bữa RTC (rượu thịt chó) ở đâu về. Thoạt tiên chúng

    tôi lấy tình đồng chí ra động viên, rồi trình bày yêu cầu, nhờ y bố trí

    cho việc qua sông. Y từ chối luôn, nói đêm nay không thể nào qua được

    vì tàu địch đậu rất sát bờ, đèn pha chiếu sáng rực cả góc trời. Chúng tôi

    nằn nì mãi, nói tối hôm qua vẫn có người qua bến Đò Cửa (Cửa Thuận

    An) được đấy, cuối cùng y mới viết cho một giấy giới thiệu đến một

    người ở thôn Tư để người ấy chỉ giúp cho tới trạm Bưu vụ. Chỉ có thế.

    Dân quân giờ đi làm nhiệm vụ hết rồi, không còn ai ở nhà để dẫn, chúng

    tôi phải tự xoay xở lấy.

    Đến trạm Bưu vụ thì tình hình khác hẳn. Anh em giao thông viên

    đang ăn cơm để chuẩn bị đưa cán bộ sang bờ Nam. Chúng tôi chờ một

    lát. Anh trưởng phòng tập hợp anh em, điểm số người tối nay qua sông.

    Đoàn gồm có năm người chúng tôi, một cán bộ quân sự, một ông thầy

    thuốc phải sang sông gấp vì có con bệnh nặng đang đợi bên Làng Hà.

    Anh giao thông bưu vụ đi đầu, lưng gùi một cái gùi to tướng chắc đựng

    1 Mortier: súng cối (BTV).

    thư từ tài liệu. Anh yêu cầu mọi người bỏ dép để không lưu lại dấu chân

    bất thường trên đường cát dẽ (ẩm vì) có sương đêm.

    Trăng mờ. Đường cát sục khó đi. Tình hình có vẻ căng thẳng. Cấm nói

    chuyện, hút thuốc. Trước khi khởi hành, anh trưởng trạm đã căn dặn:

    Nếu giữa đường có ai xin nhập vào đoàn thì phải xem giấy má cẩn thận,

    để sơ sẩy không khéo mất cả đoàn cán bộ đấy.

    Bắt đầu bằng một cuốc léo qua đụn cát cao để ra sát bờ biển. Cái đụn

    dễ cao đến hơn một trăm mét mà dốc tới 45 độ. Cát sục lút đầu gối, mỗi

    bước chân trèo lên lại dường như tụt xuống, mỗi bước nhích lên chừng

    được hai tấc là cùng. Chân mỏi rã rời. Ai nấy thở dốc như thổi bễ. Chân

    run. Đi mấy bước lại phải nghỉ vì đầu gối cứ muốn khuỵu xuống. Lúc

    quỳ gối xuống đất để tạm lấy hơi, cảm thấy khoan khoái vô cùng. Trước

    mặt tôi có người bò bốn chân. Tôi định bắt chước nhưng vừa cúi người

    thì hai cái xắc đeo hai bên hông cứ tụt xuống, thành ra lúng ta lúng

    túng mãi. Lên đến đỉnh dốc, mồ hôi vã ra như tắm. Mệt đến nỗi tưởng

    như bao nhiêu sinh lực trong người mình tối nay đã vứt hết vào cái dốc

    cát ấy cả rồi.

    Ra sát bờ biển. Đường dễ đi hơn. Sóng biển vỗ ầm ầm. Sương mờ.

    Trước mặt, trời và biển giao nhau, không phân rõ chân trời. Sóng đùa

    vào bờ thành những đợt bọt trắng xanh ánh lên một màu lân tinh ghê

    rợn. Cảm giác đầu tiên là hãi hùng. Không phải sợ địch (chiếc tàu Tây

    đậu sát bờ không rõ đã đi chưa, chẳng nhìn thấy đèm đóm). Cái hãi

    hùng là thấy mình quá nhỏ bé trước cảnh trời biển bao la, biển cứ như

    đang dâng lên trong một đêm mờ sương vừa có tin giặc lùng sục.

    Chúng tôi lần theo mép nước cho đỡ mỏi chân. Hồi nãy đi trên đụn

    cát, mỗi bước chông chênh, anh em đều nói giá lúc này có gặp Tây phía

    trước thì cũng đành để cho chúng bắt thôi, không sao chạy nổi nữa.

    Bọt sóng xanh, màu xanh ma quỷ cứ ào ào lao vào bờ. Lúc sóng rút ra

    để lại trên bờ cát muôn vàn vì sao, cả một dải ngân hà rực rỡ chất lân

    tinh. Qua khỏi quãng mà tầm mắt ngược với chiều trăng chiếu, thấy chỉ

    còn lại nước trên bờ. Và mỗi bước đi của người đi trước lại để lại muôn

    vàn vì sao ở dấu chân. Kìa, ngay ở gót chân của họ cũng bám theo một

    vì sao lấp lánh.

    Chúng tôi đi rất nhanh. Phía trước bỗng có ánh lửa lập lòe, đỏ rồi tắt,

    tắt rồi đỏ. Anh giao thông viên cho biết đó là dấu hiệu bên bờ Nam báo

    cho biết có người của ta bên ấy muốn sang sông. Nhìn thấy dấu hiệu

    nhưng còn phải đi gần nửa tiếng đồng hồ nữa mới đến bến đò. Mừng rỡ

    quá khi thấy bóng một người đi ngược lại đón. Hỏi: “Sao hôm nay các

    anh vô khuya vậy?”

    - Trong kia ra đông hay ít, anh?

    - Trên ba trăm, toàn dân công vận tải.

    Ồ, con đường người ta qua lại bình thường như vậy mà lão ủy viên ủy

    ban xã Hương Hải cứ dọa non dọa già. Tôi nhớ lại bộ mặt đáng ghét của

    anh chàng nào đó ngồi bên cạnh y lúc đó vào hùa:

    - Úi dào, cho dù (các anh) có qua được đò rồi thì ở trạng cát bên kia

    chúng nó cũng phục kích luôn. Dạo ni chẳng có dân quân canh gác chi

    cả, Tây muốn phục kích chỗ mô thì cứ phục.

    Lát sau gặp nhiều đoàn người đi ngược lại, gánh những đôi thùng gỗ

    vuông ẽo ẹt trên vai. Hình như là những thùng đạn. Chân bước nhanh

    và vững chãi. Nói chuyện rì rầm. Người tôi vui hẳn lên. Có nhiều đoàn

    ra tức là đường phía trước không có chi nguy hiểm. Sắp đến vùng xung

    yếu, gặp được người đi ngược chiều với mình là điều mừng nhất.

    Mấy chiếc ghe nằm dài trên bãi cát báo hiệu sắp đến bến đò. Ánh lửa

    lập lòe bên bờ Nam trông càng rõ. Tới bến, đò chưa sang. Chúng tôi sà

    xuống cạnh một cây đèn mù mịt, mua mấy chục đồng bánh đòn và kẹo

    lạc. Suốt buổi chiều lo chạy vạy chuyện sang ngang, chưa ai có hột cơm

    vào bụng.

    Khách đã vào đò, còn chờ thêm người cho đầy. Tôi khoát nước rửa

    tay. Ôi, một giọt nước rơi xuống mang theo một vì sao xanh sáng, đẹp

    như pháo hoa. Gió. Lạ thật. Hồi nãy cả đoàn người chúng tôi rất căng

    thẳng thì tịnh không hề có lấy một hơi gió, thế mà bây giờ yên ổn thì

    gió nồm lại lên lồng lộng. Cởi phanh cúc áo cho gió lồng vào người,

    nghe sướng đê mê.

    Sang bờ Nam, chúng tôi lại đi sát mặt nước. Để mặc cho sóng biển

    xao vào, ướt đến nửa ống chân. Sóng xô vào rồi vội vã rút ra để lại

    những tiếng rì rào rất nhỏ. Bây giờ thì đoàn chúng tôi đúng là một đoàn

    đi chơi giỡn sóng, đi ngay bên mép nước, chốc chốc lại chạy vội sang

    phía bờ cát để tránh những con sóng quá to. Bọt sóng vẫn xanh huyền

    diệu, một màu xanh mát lạnh người. Tôi vừa đi vừa cố ý giẫm lên vì sao

    người đi trước vừa để lại, để cho nó dính vào gót mình rồi vứt lại cho

    người đi tiếp sau.

    Có tiếng moọc-chê ình ình ở đâu khá xa. Người thầy thuốc Nam đi

    trước tôi mỗi lần nghe tiếng nổ lại khom người xuống tránh, vừa né

    người vừa nhìn lui phía sau khiến chúng tôi cười rộ. Đúng là tiếng súng

    của bọn địch đóng ở bờ bên kia, đêm chúng thường bắn sang mạn này

    mà chúng biết chắc là có nhiều đoàn dân công, bộ đội ta vẫn vào ra

    nhưng không làm gì được. Nhưng tiếng nổ của súng bắn vòng cầu hú

    họa thì có nghĩa lý gì bên cạnh tiếng vỗ ầm ầm hùng vĩ của biển mênh

    mông. Mặc kệ tiếng súng, chúng tôi đã lấy lại được phong thái vui vẻ

    thường ngày. Điều lo nghĩ bây giờ là cái bụng đói cồn cào đang đòi ăn

    riết. Nhưng còn phải đi bộ hai tiếng đồng hồ nữa trên trảng cát này may

    ra mới tìm được cái quán ăn. Và còn phải đi nữa sang hẳn một con sông

    đến bờ bên kia ngủ mới thật sự yên tâm.

    25-4-1950 (Đồng bằng Nam Thừa Thiên). Tôi đi một mình về thôn

    Đồng Di qua cánh đồng khô. Lúa chín vàng. Nhiều thửa đã gặt xong, chỉ

    còn trơ chân rạ. Gió mát. Đất trắng. Gợi ngày hè ở đồng quê. Còn nhớ

    ngày này mấy tháng trước, khi tôi vào lần đầu, thì nơi đây là một cánh

    đồng nước mênh mông. Đêm ấy có tin Tây tập trung ở đồn Sư Lỗ, chúng

    tôi phải di chuyển bằng đò. Hôm nay trở lại, cánh đồng đã khô, và người

    ta đã bắt tay làm mùa khác rồi. Chóng quá.

    Giữa cánh đồng bạn gặt lẫn bọn trẻ con mót lúa chạy lăng xăng.

    Ai nấy làm việc có vẻ vội vàng. Một chị phụ nữ gánh đậu hũ từ phía

    tây đi lại. Thấy dáng đi nhanh nhẩu của chị, tôi đoán chị đã bán hết

    hàng, nhưng khi chị đến gần, tôi vẫn hỏi một câu: “Có còn đậu không

    chị?” Hỏi để cho người ta vui thêm một chút. Chứ được mùa thế này,

    gánh đậu hũ mang ra đồng, có đâu còn lại để mang trở về. Được mùa,

    chim chóc cũng no. Trâu bò phè phỡn, mới nửa buổi sáng đã no kềnh

    bụng, xuống ao nước dầm mình, hếch mũi lên thở phì phò trong khi cái

    miệng cứ nhai lại một cách thản nhiên, ngờ nghệch.

    Bên đường có cái am nhỏ với lùm cây. Một chú bé từ đó chạy ra, đòi

    xem giấy tờ. Xem xong, hỏi tôi có mang vũ khí không. Tôi không tránh

    khỏi mỉm cười. Nghe đồn phong trào nhân dân võ trang ở Thừa Thiên

    chặt chẽ lắm. Người nào ra đường cũng phải mang theo vũ khí, cán bộ

    cũng như thường dân. Không có vũ khí, phải chịu phạt đào hầm trú ẩn

    hoặc giao thông hào. Người ta kể lại có ông cán bộ cấp trên nào đó bị

    dân quân xã bắt phải đào hầm cả ngày vì trót không mang theo cái gọi

    là dùng để giết giặc khi cần.

    Gió nam ở cánh đồng không khó chịu như ở rừng. Nhẹ, mát, làm

    người đỡ bức khi làm việc giữa đồng nắng. Nhưng đầu óc tôi cũng nhẹ

    tênh như gió, không nghĩ ra được cái gì sâu sắc, ngoài cái cảm giác nhẹ

    nhàng, thoải mái và yêu đời.

    29-4-1950 Tôi định tranh thủ những ngày còn ở Thừa Thiên, trong

    khi chờ bọn Minh Huệ tới cùng đi tham gia chiến dịch, để nghiên cứu

    phong trào nhân dân bảo vệ mùa màng ở những làng quanh thành phố

    Huế. Chiều nay, sau khi gặp Huyện ủy Hương Thủy nắm sơ qua chủ

    trương của địch và cách thức đối phó của ta, tôi theo một cán bộ huyện

    về xã An Thủy (An Cựu), vào một thôn sát nội thành. Cách đây hơn một

    tuần, địch cho một tiểu đoàn quân chủ lực phối hợp với quân yểm hộ

    từ các đồn kéo về càn quét các xã Hồng Thủy, An Thủy, Bích Thủy, đóng

    lại mấy ngày, định huy động người gặt cướp mùa màng. Chúng không

    đạt được mục đích vì đồng bào tản cư hết, chẳng bắt được ai. Nhân công

    chúng mang theo từ Huế về thì không gặt được vì gồm toàn bọn lưu

    manh, tù hình sự, phần lớn không biết gặt mà cũng chẳng có đủ liềm

    hái. Chúng chỉ gặt cướp được có sáu mẫu ruộng. Chúng xoay ra dụ dỗ

    đồng bào về gặt hái, rồi chờ cướp lúa bó hoặc lúa khô.

    Chiều vẫn nắng to nhưng có gió mát. Đồng rộng thênh thang. Gặt đã

    gần xong, những thửa nào còn lúa đã chín vàng rực. Ruộng khô, đất nứt

    nẻ. Hình như tất cả mọi người trong làng đều đổ ra đồng ruộng, đông

    lố nhố. Các điểm trắng là áo cánh của các o thanh nữ nổi bật trên nền

    lúa vàng. Đây một toán người đang gặt. Kia một tốp lom khom bó lúa.

    Những người bứt rạ thì xa lết (ngồi xổm). Một toán chuẩn bị trưa gieo

    mạ, đạp nước từ dưới hói lên. Ai nấy đều vội vàng. Nhanh lên, nhanh tay

    lên nữa đi. Địch đang cố cướp phá mùa màng của ta...

    Đồng lúa làng Thanh Thủy chưa chín hẳn, màu xanh pha vàng. Đi

    ngang qua hai người đang ngồi trên xe đạp nước, anh cán bộ huyện hỏi:

    - Lúa chín rồi, còn đạp nước làm chi nữa, anh?

    - Đạp ươm sẵn cho ruộng luôn bùn, màu mỡ. Cắt xong lúa, làm mùa

    khác ngay.

    Mặc cho địch làm gì thì làm, người dân quê chưa gặt xong mùa này đã

    tính làm mùa khác. Cuộc sống cần lao cứ chảy không một phút ngừng.

    Nông dân tranh thủ thời gian từng buổi, từng giờ. Gặt chưa xong, đã

    bắc mạ. Vừa gặt lúa đồng sâu vụ trước vừa cào cỏ lúa đồng cạn vụ sau.

    Lúa chưa vào bồ, đã tính chuyện trồng khoai. Có nhìn người dân quê

    làm việc trong ngày mùa mới thấy hết giá trị thời gian của một ngày.

    Trời rạng sáng đã mắt nhắm mắt mở nuốt vội bát cơm để kịp ra đồng.

    Chiều tối, dắt trâu đạp lúa trên sân nhà, chỉ ngưng tay khi nghe tiếng

    gà gáy đầu. Mà cái đêm mùa hè nó mới ngắn làm sao. Đến người đàn

    bà ở nhà lo bữa cơm trưa mang ra đồng cho chồng con cũng phải cố

    giữ ngọn lửa trong bếp sao cho lúc nào cũng rần rật, để cho nồi cơm

    gạo mới khỏi nhão, để còn nấu kịp thức ăn cho bạn gặt về. Cơm sáng

    vừa xong, lo tiếp ngay bữa lỡ (nửa buổi sáng), bữa trưa, bữa chiều, bữa

    khuya... Nhất là trong mùa gặt phải giành giật với địch từng lượm lúa

    này. Lúa ngoài đồng gặt mang vội về nhà. Lúa ở nhà hối hả phơi khô

    mang đi cất giấu. Con người cứ quay như cái máy.

    Lội qua mấy cái hói, chúng tôi đến gần thôn Nhất Đông Hạ tìm gặp

    đồng chí Thường vụ xã ở đây. Nhìn ra bờ tre đằng xa thấy một đám đông

    người đang chạy nhốn nháo. Thoạt nhìn tưởng một trận đá bóng. Riêng

    tôi lấy làm ngạc nhiên: đá bóng giữa lúc nhân công thiếu thốn vì ngày

    mùa bận rộn thế này? Bỗng từ một thửa ruộng, một cụ già gọi giật:

    - Này, người ta chạy xuôi về, hai anh lên chi trên nớ?

    Ra người ta đang chạy tránh Tây thật. Từ mọi nẻo trong làng, người

    đổ ra đông như khi tan hội. Thợ gặt vác đòn xóc, người bứt toóc tay cầm

    liềm, mấy con bé mót lúa ôm kè kè bó lúa vừa mót được. Họ băng qua

    con hói, ra cánh đồng. Lẫn giữa đồng bào một vài dân quân súng vác

    ngang, tay cầm lựu đạn. Chúng tôi gặp Tiến, Thường vụ Xã ủy trong

    tốp này.

    Người trong làng vẫn tiếp tục đổ ra, nhưng cánh đồng ruộng ở đây xa

    khu dân cư, người ta vẫn bình thản làm việc. Người cắt lúa cứ cắt, người

    bứt rạ cứ bứt, người đạp nước đôi chân vẫn guồng đều đều. Duy một chị

    phụ nữ ôm gói áo quần là có vẻ hớt hơ hớt hải:

    - Ôi trời, khi chúng đến gần tôi mới biết, cả bọn mặc quần xanh, ở

    trần trùng trục đông lắm.

    - Ở xóm mô?

    - Hắn đã qua khỏi cầu chưa?

    Ai cũng hỏi nhưng chẳng ai biết sao mà trả lời.

    Phía trong làng bỗng có tiếng súng trường nổ, tiếp sau là mấy băng

    trung liên giòn giã. Trời bắt đầu mưa. Muốn có cơn giông từ trưa nhưng

    không mưa được. Lúc này cũng chỉ rắc lác đác mấy hạt. Chúng tôi ghé

    vào một nhà trong xóm Vân Thê đập (để phân biệt với Vân Thê làng).

    Tiếng súng trường tiếp tục nổ rời rạc. Bỗng ình, ình, bức kích pháo địch

    bắn ra. Vài người nhát gan chạy ra đường, ngó về phía làng. Phần đông

    bình tĩnh. Đồng bào ở đây đã quen lắm cảnh này. Có ai nói:

    - Moọc chê đó. Trừ phi chúng giã ca nông1 mới sợ, chứ cái thứ moọc

    chê ấy không với tới đây mô.

    Mưa gõ nhịp mạnh hơn. Trời càng oi. Tôi ra đường nhìn đạn moọc

    chê nổ. Sau tiếng ình, một đám khói trắng nhỏ bốc lên giữa đồng rồi

    loãng dần và tan, không để lại dấu vết gì.

    Chập tối, chúng tôi về thôn Nhất Đông Hạ. Thôn này cách đồn Vân

    Dương có một con hói, ở đây dân vẫn gọi là sông, sông Vân Dương, có

    chiếc cầu nổi bắc tạm cho đồng bào tiện đi lại. Cái cầu chỉ cách vị trí

    địch chừng 400 mét. Vào làng, mấy biểu ngữ đập vào mắt: “Cắt mau

    1 Canon: Đại bác (pháo).

    giấu kỹ, không một hạt lúa vào tay giặc”. Không rõ đồng bào đã trở về từ

    lúc nào, công việc làm ăn rộn rịp. Trong một cái sân, đôi trâu bình thản

    đi vòng, đạp một giã lúa vừa mới xếp. Cạnh đấy mấy chị phụ nữ quạt lúa

    bằng tay. Kế bên, một chiếc xe quạt tung thóc lép và bụi phủ kín một

    góc vườn. Khói cơm chiều đùn lên trên mái rạ. Vẫn cái vui ngày mùa.

    Sang một nhà khác, mấy người đang đắp rơm khô thành đụn.

    Mấy anh dân quân áo quần còn dính bùn đất mà chúng tôi gặp dọc

    đường cho biết địch ra lúc nãy hơn bốn chục tên, chỉ một tiểu đội Tây

    còn lại là lính ngụy Việt binh đoàn. Chúng có mang theo năm, sáu chục

    người dân từ trên thành phố về để mang vác. Chúng có vào một nhà ở

    bên kia sông - chúng vẫn chưa dám vượt qua chiếc cầu phao - xúc lúa

    trong nhà đổ xuống sông. Dã man thế đấy. Không cướp được thì phá.

    Một tốp địch xuống sông, định chèo chiếc đò của nhà ai đó chất đầy lúa

    bó mới gặt về, thì bị dân quân ta bắn mấy phát súng trường rồi nã sang

    hai quả moọc chê. Chúng hoảng hốt nhận chìm đò và tháo chạy. Đội

    trưởng dân quân hô: “Toàn đại đội xung phong!” Thật ra cả đội chỉ có

    mấy người, chẳng có ai xung phong mà chỉ nằm yên la hét. Địch vẫn co

    giò chạy. Tiếng đạn moọc chê lần sau nghe nổ giữa cánh đồng là súng

    địch bắn trả. Có một cây tre đúng đạn gãy, đổ chắn ngang đường.

    Một anh dân quân, áo quần đen dính bùn, đến đặt tay lên vai anh

    Tiến nói có vẻ như nũng nịu:

    - Anh Tiến!

    Tiến ngẩng đầu, chờ đợi. Anh dân quân hạ thấp giọng:

    - Đạn!

    - Ừ, có rồi. Bốn trăm viên. Mình đang cho đi lĩnh.

    Lại vấn đề đạn. Dân quân ở đây hăng nhưng đạn thì lúc nào cũng

    thiếu. Có những trận, như trận chống càn trước đây, ta chỉ có lựu đạn

    và dao găm.

    Một người đang đắp rơm thành đụn, thấy chúng tôi, nói vui:

    - Hắn bắn rát, làm cho tre bị thương bộn đi (khá nhiều).

    Cơm tối xong, anh Tiến đưa hai chúng tôi ra ngủ ở một ngôi nhà trơ

    trụi giữa cánh đồng, rồi xin lỗi, anh phải đi. Đêm nào anh cũng lo chỉ

    đạo việc chuyên chở lúa hột đi gửi các thôn xa vị trí địch, giữ ở đấy an

    toàn hơn. Đò thì nhờ bên xã Hồng Thủy giúp. Bên ấy lúa còn xanh, đò

    thuyền chưa dùng tới, anh em cho mượn. Khó nhất là thiếu nhân công.

    Con người như chia năm xẻ bảy ra mà vẫn làm không hết việc. Cán

    bộ xã càng xoay như chong chóng, việc chung việc riêng. Tôi ngồi ghi

    chép đến khuya; đi ngủ, vẫn chưa thấy anh Tiến về. Sáng thức dậy, thấy

    anh nằm còng queo trên ba chiếc ghế đẩu kê liền nhau. Hôm qua chờ

    chuyến đò cuối chở thóc đi gửi vào lúc hai giờ sáng, xong anh mới về.

    Nhà tôi nghỉ gần con sông. Nghe vọng lại tiếng xe đạp nước dồn dập,

    vội vàng, liên tục như không một lúc nào ngơi. Trong mơ màng giấc

    ngủ tôi vẫn nghe tiếng guồng nước, và khi trở mình trong đêm thanh

    vắng tiếng đạp nước nghe càng rõ hơn. Sáng thức dậy, vẫn nghe tiếng

    xe đạp nước. Không rõ suốt đêm hôm qua bà con ngủ lúc nào.

    30-4-1950 Buổi sáng, đang chuẩn bị làm việc thì có tiếng la: “Trâu

    ra! Trâu ra phía Cồn Tròn!”Trâu ra là tiếng lóng dùng để báo động cho

    dân biết có Tây đi càn. Lại chạy. Có tiếng súng địch bắn lẻ tẻ. Sau mới

    biết, kỳ thực là bộ đội ta bố trí trận giả, nổ mấy phát súng đì đùng, để

    cho mấy anh công an đang bị địch bắt giam trên cái bốt gần sân vận

    động thừa cơ chạy trốn. Địch phát hiện, đuổi theo bắn vớt đuôi mấy

    băng đạn, nhưng không tài chi bắt lại được. Xáo xác một lúc rồi trở về,

    ai lo việc nấy.

    01-5-1950 Hôm nay kỷ niệm Ngày Quốc tế lao động. Thị đội trưởng

    G. và tôi đi về phía làng Xuân Hòa. Vẫn nắng hè gió lộng. Đồng gặt

    vẫn vui rộn ràng. Trên trời hai chiếc máy bay Anh Spitfire ù ù vút qua,

    không làm ai chú ý.

    Con đập ngăn sông Vân Thê. Gió cuốn bụi mù. Hàng tre trồng ven

    con sông đào ấy gục ngả nghiêng, không một cây nào thân còn nguyên

    vẹn. Mười ngày trước, địch về đóng quân ở đây, cướp phá mùa màng.

    Cả một lũy tre xanh tốt bị chúng chém gục xuống hết, cho chúng rộng

    tầm quan sát. Thân tre đổ hỗn độn, cành lá đã khô trắng. Xóm nhà cạnh

    đường trơ cảnh điêu tàn. Nhà nào không cháy thì bị phá, vách đổ, cột

    gãy, mái hiên sập. Ở ngã ba đường, cái hố địch dùng để bố trí súng máy

    hôm nào giờ vẫn há hốc miệng. Trong một góc vườn, còn có một cái

    hầm lớn hơn, bốn phía có đóng cọc, chần ván, đổ đất chặt phía ngoài: ấy

    là công sự, nơi chúng ngủ lại ban đêm. Địch đi rồi, mấy tấm ván người

    ta cũng cứ để nguyên dưới đất, chẳng ai buồn kéo lên. Chiếc cầu khỉ

    giao nối hai bờ con hói đã bị địch chặt ngang, cứ chúi mũi xuống dòng

    nước như hờn dỗi. Nghe nói thôn sắp bắc cầu lại. Cầu mới nhất định

    vững chãi hơn.

    Trên một cái cổng tre, bố trí theo kiểu rào làng kháng chiến, băng cờ

    bay giỡn với gió. Cờ giấy rực rỡ giữa màu trắng khô của đất, của thân

    các cây tre rào. Khẩu hiệu đơn sơ, viết nghệch ngoạc trên tấm cót hoặc

    trên vài mảnh giấy con. Được dán cẩn thận vào hàng rào là tờ giấy in lời

    hiệu triệu của ông Ủy viên lao động của xã sở tại và “Lời kêu gọi toàn

    dân canh tác” của Trung ương, kèm thêm mấy tờ truyền đơn của Hội

    nông dân, Đoàn thanh niên cứu quốc. Làng quê vẫn là của mình.

    Gặp một người đàn ông đi ngược lại, gánh một gánh nặng khoai lang

    củ. Những củ khoai mới dỡ, da tươi màu hồng tím hay trắng đục, mủm

    mỉm như cổ tay em bé. Anh ở trần, bắp thịt cuồn cuộn. Chiếc đòn gánh

    nhún nhảy theo nhịp bước, một nhịp điệu nhanh vui. Bà già bồng cháu

    ra hóng gió dưới bóng mát của giàn bí bên đường. Cháu bé xinh, đôi mắt

    xanh mở to. Đôi mắt ngây thơ thấy cái gì cũng nhìn chăm chú. Cánh tay

    em đưa lên hạ xuống đánh nhịp giữa không trung. Tôi bồng cháu hôn.

    Cháu đưa tay ấn vào má tôi đẩy ra, nghếch đầu nhìn ngơ ngác.

    Dọc đường thấy có cờ và khẩu hiệu không mấy xa vị trí địch. Một em

    bé chăn trâu kể lại. Sáng nay em nghe bọn lính bảo vệ trong đồn bảo

    nhau: “Ôi, bọn Việt Minh treo cờ khắp nơi. Có đứa mô chịu khó ra xé mấy

    cây cờ đi!”. Chẳng đứa mô dám chịu khó. Chúng đoán mang máng, bên

    kia sông dân quân ta đã nằm chực sẵn. Đứa nào dại xông ra thế nào cũng

    ăn đạn. Rồi còn mìn tự động, còn lựu đạn gài bẫy, đứa nào cũng ngại.

    Chúng tôi đi ngang qua cầu. Từ ngày địch cắm được cái bốt bên kia

    sông, chúng hay lên xuống quãng này. Anh G. chỉ cho tôi đọc mấy dòng

    chữ bọn lính viết trên vách ngôi miếu: “Anh em Vệ quốc đoàn, anh em

    chiến đấu cho ai? Có phải cho cộng sản không?” Ngay bên dưới mấy dòng

    ấy là nét chữ nguệch ngoạc của một anh dân quân hay của một chú

    bé chăn bò, viết bằng than củi, đập lại: “Anh em Việt binh đoàn, anh em

    chiến đấu cho thực dân Pháp và phản động Mỹ”.

    Vào nhà anh Lam, đọc tờ báo Ánh Sáng (xuất bản tại Sài Gòn) có

    sẵn ở đấy. Báo đăng tin nội các bù nhìn Nguyễn Phan Long đổ, Trần

    Văn Hữu lên thay Long làm thủ tướng. Tên Marcel Bazin giám đốc mật

    thám bị giết lúc tám giờ sáng trên đường Catinat ngay giữa trung tâm

    thành phố Sài Gòn...

    08-5-1950 Trở vào vùng ven thành phố Huế, nơi đây năm ngoái

    tôi đã vào1. Trời mưa. Nghỉ chờ đêm tối ở gần chỗ qua sông, nhà ông

    lão chống đò ngang. Ông vừa đi gặt về. Nhà bé tẹo, kê một bộ ván đã

    chật hết. Ba phía đắp vách đất dày cao sát mái. Ông lão nói: “Phía

    (vách) ni phòng lô cốt bên kia sông (bắn sang), phía ni phòng lô

    cốt trước mặt, phía ni phòng đạn bắn từ trên kia. Có hôm hắn (lính

    ngụy) vô đây hỏi tại sao làm hầm, tôi nói vui: Chỉ sợ Tây chứ Việt

    Minh không sợ. Tôi dốt nát, không hiểu biết rồi súng bên mô bắn,

    cứ mần ri cho chắc bụng. Nhiều hôm hắn bắn dữ, súng nổ mau như

    rang mè (vừng)”.

    PQ.

    Nguồn: Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ hồ Gươm. Tập ký của Phan Quang. NXB Trẻ, 2016.

    Tác giả gửi www.trieuxuan.info

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,818,578

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/