Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập34,471,616

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Trần trụi giữa bầy sói

Bruno Apitz

  • Thứ ba, 12:27 Ngày 01/09/2020
  • Các nhóm trên sườn đồi phía bắc chạy qua quãng đất trống sang khu vực không mắc dây điện. Những đơn vị người Đức và người Nam Tư bảo vệ hai bên sườn bằng những loạt súng nhằm vào những tháp canh ở chung quanh. Các nhóm Ba Lan do Pribula lãnh đạo đã quẳng các tấm ván và cánh cửa lót trên các chướng ngại vật. Cùng một lúc, dây thép bị cắt đứt ở năm sáu chỗ, và với tiếng hét gầm lên reo mừng thắng lợi, Pribula và những người của anh bò qua các lỗ đã mở. Trên các tháp canh ở xa, lửa súng liên thanh chĩa thẳng vào họ, những bọn lính canh đang lồng lộn ném lựu đạn ra bốn phía ấy, đã bị những nhóm Đức và Nam Tư dập tắt ngay. Những chai đựng chất cháy ném lên tháp canh, nổ rất to. Những ngọn lửa cháy lan đi, đuổi bọn lính gác phải chạy xuống. Pribula và một đội nữa đã xông được lên một tháp canh; trong một cuộc vật lộn giáp lá cà, phút chốc bọn lính gác bị hạ ngay, và Pribula quay luôn khẩu liên thanh nhả những loạt đạn vô cùng phấn khởi sang những tháp canh khác còn bị chiếm đóng.

    Đồng thời với việc khởi sự trên sườn đồi phía bắc, cuộc tấn công ở ngoài cổng cũng bắt đầu.

    Riômăng sau khi ngắm cẩn thận đã chĩa khẩu liên thanh từ phía sau khung kính cửa sổ không ai trông thấy được, nhả từng hồi đạn liên tiếp sang dãy hành lang của tháp canh chính. Ô kính bị vỡ nát tung tóe những mảnh kính bắn ra chung quanh người anh. Một tên lính canh bị trúng đạn. Hắn buông rơi súng trong không và ngã gục. Những tên khác bị bắn đột ngột, chúi người xuống.

    Mấy giây sau, những người trên dãy nhà khối đầu lao ra khỏi chỗ nấp của họ. Được cổ vũ bởi những tiếng hô chiến đấu bằng đủ thứ tiếng, người Đức, người Pháp, người Tiệp, người Ha Lan qua các sân.

    Khẩu liên thanh của Riômăng khạc ra những tràng đạn hung dữ vào những tháp canh hai bên cổng, được sự bảo vệ ở bên sườn này, các toán đặc biệt của đội tuần tra ra tới cổng sắt đúc, dùng xà beng thúc tung cánh cổng ra.

    - Ngừng bắn! - Bôkhâu hét sang Riômăng, lập tức khẩu liên thanh kìm nỗi căm hờn của nó lại. Ngoài cổng, hầu như cùng một lúc đó, đơn vị đặc biệt đã chạy vội lên bậc cầu thang tháp chính, và hàng trăm người của các nhóm khác kéo ùa qua cánh cổng đã mở, ngoắt sang hai bên những hàng dây thép gai. Lựu đạn ném vào những người đang xông lên, súng máy nổ ran, nhưng những người khởi nghĩa vẫn kéo lên tháp canh như những đàn ong. Những tiếng hô chiến đấu và những tiếng nổ, tiếng súng khắp chung quanh hàng rào lẫn lộn với tiếng ầm ầm của chiến trận đang diễn ra ngoài vùng quê. Đằng sau ngọn đồi, những cột khói nâu vàng nhạt bốc lên trời. Chiếc máy bay quan sát lại xuất hiện; lúc này nó bay lượn vòng chậm chạp gần như ngay trên trại. Những máy bay bay thấp hẳn xuống mặt đất. Tiếng lạch tạch của súng máy trên máy bay có thể nghe thấy rất rõ; chúng đang bắn vào những chiếc xe của bọn phát-xít chạy trốn.

    Bị bọn cầm đầu bỏ rơi và bị hoang mang về cuộc tấn công bất ngờ, bọn lính gác không làm sao đối phó lại. Cơn phẫn nộ của các tù nhân chồng chất bao nhiêu năm nay bùng lên như một trái bom. Bị dồn vào chỗ một bên là mặt trận lúc này đã thấy rõ với một bên hàng ngàn tù nhân thịnh nộ mà sức chiến đấu mỗi lúc một lớn lên mỗi khi cướp thêm một khẩu các-bin, mỗi khi một khẩu liên thanh bị gục xuống, bọn lính gác không còn tinh thần nào chống lại với cơn bão táp.

    Những tên không kịp chạy đã bị bắt làm tù binh, những tên không chịu hàng bị giết ngay. Hết tháp canh này đến tháp canh khác bị các nhóm chiến đấu tấn công và chiếm lĩnh ngay lập tức.

    Bỗng Krêmơ biến mất. Kơn đang bận với những anh em bị thương đem về trạm hét những anh em hộ lý đang chạy ra chạy vào:

    - Các anh ngốc thế, sao không canh giữ! Hai phát đạn vào phổi! Các anh muốn anh ấy chảy máu đến chết ư? Chạy đi! Tìm anh ấy đi! Đem anh ấy về đây!

    Làm sao Krêmơ không có ai giúp đỡ lại có thề luồn ra được?

    Mặc độc có chiếc quần ngắn và chiếc áo lót, với một cái áo ngoài vắt lên vai, anh đã lẻn ra ngoài giữa lúc không ai để ý đến mình. Anh không đi được xa. Thở hổn hển, anh lảo đảo đi đến khối 38. Anh ngồi xuống một chiếc ghế dài, rên rỉ. Những người còn lại trong khối và không thuộc những nhóm chiến đấu đến vây quanh anh.

    - Anh ở đâu đến thế?

    Krêmơ thở mệt nhọc, mắt anh long lanh những tia cháy rực.

    - Trời ơi, Vante, anh phải về y xá ngay đi.

    Krêmơ tức tối đẩy Runki ra, khi Runki định đỡ anh đứng dậy.

    - Lui ra!

    Nhưng Runki không lui.

    - Anh đang bị thương, rất nguy hiểm.

    Những người khác muốn vào giữ giúp anh.

    - Đi đi! - Krêmơ càu nhàu. - Tôi ở đây thôi!

    Anh nhìn các tù nhân nhưng không thấy nỗi lo sợ cho anh hiện trên gương mặt họ, anh chăm chú nghe những tiếng nổ, tiếng ầm ầm bên ngoài.

    - Mẹ kiếp! Quỵ vào giữa lúc kết thúc...

    - Vante, anh sẽ khỏe nếu anh cần thận giữ mình.

    Runki nhẹ nhàng đặt bàn tay lên vai anh.

    - Đứa bé đâu, đứa bé đâu? Tôi đã đem nó đến cho anh. Anh để nó đâu rồi?

    - Ồ, nó ở đây chứ đâu, Vante, đây này.

    Mấy người chạy vào nhà ngủ. Họ đem đứa bé đến đặt nó lên đầu gối anh.

    Nét mặt của Krêmơ dịu lại. Anh cười cái cười ấm áp trìu mến và vỗ vỗ vào đầu nó.

    - Cái con bọ dừa này...

    Bỗng Krêmơ buồn rượi và nói như van nài:

    - Để tôi ở đây, các cậu ạ. Để tôi ở đây với các cậu. Tôi thấy khỏe lắm.

    Họ đem đến một cái nệm cỏ và làm cho anh một chỗ dựa giữa cái bàn và cái ghế. Krêmơ ngả người ra, cảm động, cười với Runki đang vỗ về anh:

    - Đó, Ôttô, anh bạn của tôi ơi...

    Runki cười mỉm vỗ vào người anh.

    Bao giờ cũng vậy, khi con người có quá nhiều điều phải nói với nhau thì họ không tìm ra lời. Nhưng điều không thể biểu lộ được đang diễn ra bên ngoài kia đã biểu lộ trong sự thành thật mộc mạc của Krêmơ và trong cái dịu dàng vụng về của Runki; và tiếng ồn ào, tiếng súng chung quanh trại đã đưa vào đó ý nghĩa của nó.

    Krêmơ nhắm mắt lại.

    Khi Riômăng nhả loạt đạn thứ nhất, khi tiếng kêu nhân lên nghìn lần vang lên và khối người chạy qua các sân thì Fơxtê đang nằm lịm trên mặt đất, vì kiệt sức, bỗng chồm dậy. Qua cửa sổ boong-ke, anh nhìn thấy cơn bão táp và tiếng hét mà anh thốt ra trước sự việc xảy đến không tin được ấy, gần như xé toang lồng ngực. Khi cánh cổng sắt bên ngoài sắp bị bật ra, anh ta lao ra khỏi buồng, dẫm lên cả những xác chết, chạy đến xà lim số 5.

    Hơfen và Krôpinxki đang điên dại đấm vào cửa gào thét. Fơxtê nhấc cái then ra, nhưng xà lim vẫn bị khóa.

    Bỗng Bôkhâu, Riômăng, Kôđixéc và Van Đalen hiện ra. Họ dừng phắt lại khi thấy những xác chết nằm ngổn ngang. Bôkhâu hét vào trong bóng tối mờ mờ của hành lang:

    - Hơfen, Krôpinxki, các anh ở đâu?

    - Đây, đây!

    Fơxtê chạy đến chỗ họ.

    - Cửa bị khóa, tôi không có chìa khóa.

    Bôkhâu nhảy đến xà lim.

    - Tôi đây, Bôkhâu đây, các anh có nghe thấy tôi không?

    - Có, có, có! Ối trời ơi! Hécbe! Có, có có, chúng tôi có nghe thấy!

    - Đứng xa cửa ra. Tôi bắn vào ổ khóa đấy!

    Bôkhâu rút súng.

    - Cẩn thận, tôi sắp bắn đây này!

    Những phát súng nổ ran. Bôkhâu trút hết cả băng đạn, hợp lực lại với nhau, họ lay lay và kéo cánh cửa ra. Cái ổ khóa bị vỡ lung lay, kêu lẹt rẹt. Cả Hơfen và Krôpinxki đều xô người vào cánh cửa. Cánh cửa mở tung, họ loạng choạng văng ra ngoài. Những người đứng ngoài đỡ họ. Thở hổn hển, Hơfen rũ xuống như một cái giẻ trong tay Bôkhâu.

    Hàng trăm tù nhân đã trèo lên các mái nhà, trên các lối đi rầm rập những người nhộn nhịp, ở những chỗ có ngách trông ra được, các tù nhân bị kích động đến điên người nhìn những anh em khởi nghĩa chạy ùa lên xông tới các tháp canh, họ thấy những chiến sĩ xuất hiện trên nóc tháp canh.

    - Họ đã chiếm được các tháp canh rồi!

    Hàng trăm người chạy lên khoảng đất trống trên sườn đồi phía bắc. Một xưởng máy đang cháy dưới thung lũng gần Hôttenxtết. Những tiếng nổ như sấm liên tiếp theo nhau mỗi lúc một nhanh hơn. Khói trắng khói đen bốc lên trời. Tự trang bị bằng gậy gộc, đá, cành cây, bằng tất cả những gì họ nhặt được trên mặt đất, các tù nhân chạy đến khu vực không mắc dây điện, trèo lên những cái ụ vừa hét vừa lao vào những lỗ trống. Những tên SS đã bị các chiến sĩ bắt được, lại bị họ kéo giằng ra khỏi tay các chiến sĩ, bị đưa về trại qua những lỗ trống ở hàng rào và bị đẩy đi lên trước, giữa những tiếng gào thét như điên dại của đám người trở về khối 17, nơi có dây thép gai bao bọc xung quanh. Các tù nhân vũ trang đều đã đứng gác ở đó, tay cầm những khẩu các-bin đã cướp được. Muylơ và Brenđen đưa tên Xvailinh run lẩy bẩy đến đó làm tên tù binh đầu tiên.

    Pribula và nhóm của anh đã lao vào tận trong rừng trên đường đi đến Hốnenxtết.

    Trong khi đó, Bôkhâu và các đồng chí đã đem những người được giải thoát vào phòng tên Manđrìn. Boong-ke đầy chật những chiến sĩ. Vài người chạy vội vào trong kéo những xác chết từ hành lang vào nhà tắm của boong-ke. Hơfen và Krôpinxki ngồi trên chiếc võng nhà binh. Fơxtê đã đem đến cho họ một cốc nước. Những con người kiệt sức ấy hăm hở uống cạn cốc nước hồi phục sức khỏe đó.

    Một anh liên lạc chạy vào báo cáo cho Bôkhâu biết là tất cả các tháp canh đều đã bị chiếm lĩnh.

    Vô cùng sung sướng, Bôkhâu ôm lấy Hơfen và Krôpinxki.

    - Tự do. Tự do!

    Anh hét vào mặt họ, và cười, vì đến lúc đó, trong người anh không còn chỗ để nghĩ đến gì khác.

    Cùng với các đồng chí ILK, anh chạy sang phía bên kia chiếc nhà cổng, chạy vào phòng giấy tên Rainơbốt.

    Trên tháp canh chính, một chiến sĩ xé giật lá cờ chữ thập ngoặc[108] xuống và kéo lên một miếng vải trắng mà anh mang sẵn từ đâu đến.

    Bôkhâu đã nhanh chóng tìm ra cách làm thế nào cho cái đài chạy được. Anh mở máy phóng thanh, tiếng kêu của anh vang lên trong trại, vào các nhà khối:

    - Các đồng chí! Chúng ta đã thắng lợi! Bọn phát-xít đã chạy trốn! Chúng ta đã tự do! Các bạn có nghe rõ tôi không? Chúng ta đã tự do!

    Bôkhâu nấc lên và áp trán vào máy phóng thanh, nỗi vui tràn ngập của anh tan ra thành những giọt nước mắt mà anh không thể kìm được.

    Nhưng trong các nhà khối, mọi người ở lại đã đứng vụt cả dậy. Tiếng kêu rực lên như ngọn lửa, tạo ra một đám cháy lớn của hang ngàn giọng người kêu thét! Nó như vang mãi không hết, rầm rầm, nhắc đi nhắc lại mãi:

    Tự do! Tự do!

    Người người cười, khóc, nhảy múa! Họ nhảy cả lên bàn, vung tay, người nọ hét vào mặt người kia, hét, hét như điên như cuồng. Không thể ngăn lại được nữa. Họ chạy ùa ra khỏi các nhà khối. Ai cũng chạy ra hết, như một ngọn nước thủy triều dâng lên, đám người đông đảo tràn ngập trên sân kiểm soát.

    Tất cả thành một tiếng kêu, một cơn lũ ra cổng!

    Không phải bỏ chạy một cách vô ý thức, mà là bị lôi cuốn bởi tình trạng say sưa khi cuối cùng đã được thoát ra, họ đi, đi qua cái cổng kinh khủng, đáng căm ghét, miệng hò hét phấn khởi điên cuồng, lao vào những cánh tay của tự do đã mở rộng.

    Những người ở trong nhà khối với Krêmơ cũng bị cuốn theo ra ngoài với nỗi hân hoan vô hạn. Tự do! Hạnh phúc của họ to lớn quá đến nỗi họ bỗng quên anh và chạy cả ra. Krêmơ vừa cười vừa chửi:

    - Họ đã quên cả chúng mình, đồ quỷ, mẹ kiếp, quên cả việc đem chúng mình đi theo nữa!

    Anh đã gào quá dữ tợn với đứa bé đến nỗi nó cùng kêu lên sợ hãi và khóc.

    - Gào lên, phải, gào lên đi! Nào, gào lên với tất cả mọi người đi! Họ đang gào lên tất cả đấy! Có nghe thấy không?

    Quên rằng mình đang yếu, anh bế đứa bé đang khóc trên cánh tay, loạng choạng bước ra ngoài.

    Ra đến đường, mấy tù nhân đang vui sướng chạy kịp đến chỗ anh. Họ muốn giữ cho anh đi và đỡ lấy cho anh cái gánh nặng đang kêu khóc trên tay.

    - Tránh ra! - Anh gào lên không cho ai mó vào, và anh vừa thở vừa sung sướng đi trên con đường dẫn đến sân kiểm soát.

    Anh thấy họ đã đứng tất cả trên đỉnh đồi, giữa đám họ là Bôkhâu đang ở trong tình trạng không có cách nào ngăn nổi cơn lũ mà chính anh đã gây ra.

    Và Krêmơ lại cùng thấy - tim anh gần như dừng lại vì một niềm vui điên cuồng.

    - Anđrê! - Anh hét lên. Anđrê, Anđrê! Marian!

    Tiếng kêu của anh không át được đám ồn ào này nhưng họ đã trông thấy anh.

    - Vante!

    Hơfen sung sướng khập khiễng đi đến chỗ anh, dây thòng lọng còn lủng lẳng trên cổ.

    - Bế lấy đứa bé, tôi bế nặng quá rồi.

    Những người khác cùng đã đến chỗ Krêmơ. Riômăng và Van Đalen đỡ con người sắp khuỵu xuống. Hơfen giật lấy đúa bé trong tay anh. Đứa bé lại càng kinh hãi thét to hơn nữa khi con người râu ria mọc tua tủa ấy áp nó vào lòng. Hơfen lảo đảo đi lên trước đường như đầu gối anh sắp quỵ xuống. Krôpinxki đỡ lấy đứa bé. Cười, hét, lắp bắp với một giọng nói đặc biệt lẫn lộn cả tiếng Đức với tiếng Ba Lan, anh giơ ra cho mọi người xem cái gói yêu quý.

    Bỗng Krôpinxki chạy vụt đi, giơ đứa bé ra đằng trước, anh chạy về phía cổng, vào giữa thác người cuồn cuộn.

    - Marian! - Hơfen gọi theo. - Cậu chạy đi đâu đây?

    Nhưng cơn lốc đã cuốn anh vào trong.

    Krôpinxki nâng cao cái bọc đang kêu khóc lên trên đầu để nó khỏi bị bẹp trong cái thác người không thể ngăn lại được.

    Đứa bé dập dờn như một cái vỏ lạc trên những đầu người nhấp nhô.

    Nó quay tít trong dòng lũ chảy băng qua những khe cổng hẹp. Dòng người cuốn nó trôi theo trên những ngọn sóng đã được giải phóng, chẳng còn bị cái gì ngăn cản lại.

    __

    [1] Bukhânvan (Buchenwald): một trong những trại tập trung lớn nhât ở châu Âu trong đại chiến thứ hai, khét tiếng về những vụ tàn sát hằng loạt người bị bắt giam. Tên những trại tập trang như Bukhânvan, Đakhao (Dachau). Aosơvít (Auschwitz)... gắn liền với lịch sử những hành động dã man của bọn phát-xíc Đức (N.D.)

    [2] Tên viết tắt của hai chữ Schutz - Staffel (xin đọc là Sulz Staphel: đội cảnh binh đặc biệt của Đức Quốc xã (N.D.).

    [3] Một cái sân lớn, chung quanh đóng cọc giăng dây thép gai để lập hơp và kiểm số tù nhân trong trại (N.D).

    [4] Bibelforscher: một phái của Cơ-đốc giáo, dùng Thánh kinh để chống lại tiến hóa luận

    [5] Tên gọi quân đội Liên Xô.

    [6] Những danh từ “chỉ huy” dùng cho một tên SS nào đó trong cuốn sách này đều dịch lừ chữ “führer” (xin đọc là fuyrơ, chỉ những tên trong quân đội Quốc xã Đức được giao nhiệm vụ cai quản việc gì, dù ở cương vị nhỏ nhất, xem them chú thích về chữ ( führer ) dưới.

    [7] Rapportführer một chức vụ SS trong trại tập trung trông coi việc điểm danh và theo dõi các nhân viên.

    [8] Khối có hai nghĩa: một căn nhà trong trại tập trung chứa một số tù nhất định, theo đơn vị dân tộc hay theo cách phân phối tù nhân, đồng thời cũng chỉ những tù nhân ở trong căn nhà đó.

    [9] Zakariat: tên. Jankôpxki: họ, Vacsava: thủ đô Ba Lan.

    [10] Tiếng Ba Lan: “Phải, phải”.

    [11] Một loại guốc ở phương Tây thay cho giày, kín mũi, không có quai như guốc ở nước ta.

    [12] Gốc ở tiếng Ý, có nghĩa là cai, đốc công v.v... Trong trại, người được chỉ định phụ trách một đội, một toán làm việc gì nhất định gọi là Kapô.

    [13] Ở chữ Đức: Internationales Legcrkomúee (nghĩa như trên).

    [14] Nguyên văn: “Nix Boses? Gar mix Boses?”. “Không xảy ra chuyện gì chứ? Chắc không có tai nạn gì chứ?”.

    [15] Commando: dùng theo nghĩa của bọn Quốc xã để chỉ một toán người mà chúng giao cho một nhiệm vụ nhất định trong trại có tính chất khổ sai.

    [16] Thượng sĩ: dịch chữ Hauptscharführer (xin đọc haupt-safuyrơ) một cấp bậc của bọn SS tương đương với thượng sĩ.

    [17] Theo nguyên văn, những nhân vật không phải người Đức trong truyện đều nói những câu sai văn phạm và lủng củng. Do đó, văn dịch giữ nguyên tinh thần ấy.

    [18] Nguyên văn: “Con mối tội nghiệp”, ý nói một vật yếu đuối dễ chết.

    [19] Những khẩu hiệu của bọn Quốc xã trong thời kỳ Hítle

    [20] Xem chú thích đã dẫn ở trên. Đây chỉ Hơfen, người phụ trách đội Commanđô phòng đồ đạc.

    [21] Nguyên văn: “Sự phản đối của Bôkhâu đã cất gió ra khỏi cánh buồm của anh”. Một thành ngữ trong Anh văn và cả Đức văn.

    [22] Tên của Hơfen. Hơfen là họ.

    [23] Tên của Runki.

    [24] Ngoài tên Svan là chỉ huy trưởng trại Bukhânvan, những tên khác cũng đều gọi là chỉ huy trại. Chúng tôi dịch chữ Lagerführer (Đức) chức chỉ huy trưởng có thể gọi là tư lệnh, nhưng ở đây không hoàn toàn có tính chất quân sự nên chúng tôi dùng chữ chỉ huy trưởng cho sát hơn.

    [25] Một số người được chỉ định cho các khối, coi như phụ vào trùm khối, vừa phụ trách sinh hoạt vật chất, vừa như cần vụ chung của anh em tù nhân.

    [26] Một thứ rượu mạnh, cất bằng nho.

    [27] Hauptsturmílihrer: Một cấp bậc của SS tương đương với cấp đại úy.

    [28] Sturmbannführer: Một cấp bậc của SS tương đương vớí cấp thiếu tá.

    [29] Ý nói không ai thèm ngó đến chúng nữa

    [30] Chỉ Svan, tên chỉ huy trưởng

    [31] Chỉ Svan

    [32] Cà phê làm bằng một thứ thứ phẩm.

    [33] Tên đứa bé là tên con trai.

    [34] Boong-ke (Bunker): một căn hầm trong trại tập trung dùng làm nơi tra tấn tù nhân. Xin đừng lẫn với ụ súng ngầm ta vẫn gọi là boong-ke.

    [35] Đảng quốc gia xã hội Đức, gọi tắt là Quốc xã, đảng phản động cầm quyền của bọn Hitle.

    [36] Tên của Suyp.

    [37] Ernst Thälmann, vị lãnh tụ xuất sắc của giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Đức bị bọn Quốc xã bắt giam và lén lút hạ sát. Cuộc đời của Thälmann gắn liền với những năm đấu tranh oanh liệt của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Đức.

    [38]Tiếng Nga: tốt lắm, đúng lắm

    [39] Tiếng Nga: không, không, không.

    [40] Nguyên văn: Xấu một nửa còn hơn tệ

    [41] Câu nói ám chỉ bọn Hitle chủ trương dùng chiến tranh chớp nhoáng (Blitzkreg) để tiêu diệt đối phương, nhưng chúng đã thất bại ngay từ khi chúng áp dụng lối chiến tranh ấy.

    [42] Tiếng Đức: Nhân dân Đức. Ở đây: hỡi nhân dân Đức!

    [43] Xem chú thích đã dẫn ở những chương trên.

    [44] Bunker: tiếng Đức, một căn hầm trong trại tập trung dùng để tra tấn tù nhân (xem chú thích ở trên)

    [45] Nguyên văn: Mấy cây gỗ mục chúng mày!

    [46] I-a-vôl: tiếng Đức: tuân lệnh, vâng

    [47] Ba Lan có rất nhiều người theo đạo Thiên Chúa.

    [48] Bánh trắng làm bằng bột mì ngon và đắt hơn bánh đen làm bằng lúa mạch.

    [49] Kác là tên Vunđelich là họ.

    [50] Nguyên văn: “Traubenzucker” một chất đường lọc ở nho.

    [51] Nguyên văn: lại có thêm gió thổi vào buồm của nó (thảnh ngữ phương Tây).

    [52] Tên của Xvailinh (Gotthold Zweiling).

    [53] Hainie (tiếng Đức) một danh từ dùng để phỉ báng, chỉ những con người vô dụng.

    [54] Tiếng Đức, xin đọc là Đe Fuyrd, Lãnh tụ, ở đây chỉ Hitle.

    [55] Tiếng đồng chí dùng theo nghĩa của bọn đảng viên quốc xã với nhau

    [56] Tiếng Ba lan: phải, được rồi, ừ...

    [57] Một loại kìm của bác sĩ sản khoa dùng trong trường hợp đẻ khó

    [58] Reichsheini: tiếng Đức, danh từ của bọn SS dùng để chỉ Himle, một trong những cánh tay đắc lực của Hitle, lãnh tụ bọn SS

    [59] Faraday, Maxwell, Heinrich Hertz, Marconi: tên những nhà khoa học trong lịch sử về cơ học và điện lực học.

    [60] Chữ tắt của Oberkommando der Wehrmacht: Bộ chỉ huy tối cao của quân đội quốc xã.

    [61] Coi Krôpinxki như một thứ đồ vật không đáng nhớ tên.

    [62] Nguyên văn: Anh thật là một con chó ranh ma...

    [63] Mandrin: một tên gọi chệch của Mandrak, tên SS chuyên môn tra tấn tù nhân trong boong-ke (Xem chương 6 phần này).

    [64] Tên của Bôkhâu (Herbert Bochow)

    [65] Tên của Bôgoxki (Leonid Bogorski)

    [66] Tiếng Nga: Tốt

    [67] Theo nghĩa xưng hô giữa bọn đảng viên Đảng quốc xã (Nazi) với nhau.

    [68] Tak: Tiếng Ba Lan: Ừ, sao?

    [69] Tên của Kluttich (Rober Kluttig)

    [70] Đọc là Oorrait (tiếng Anh): tốt lắm

    [71] Bàn tấn (nguyên văn tiếng Đức là Bock): một kiểu bánh xe có trụ xoay ở giữa, chung quanh có những cái móc để buộc chân tay vào đó và có thể vặn căng lên hoặc nới ra.

    [72] Đôpgie: tiếng Ba lan: Tốt.

    [73] Một đội Commanđô khổ sai, phải làm những việc vô ích như kéo những tảng đá nặng, hết đi lên lại đi xuống, và rất ít khi được ăn uống.

    [74] Không để một tảng đá nào không lật hết lên (Thành ngữ trong nguyên văn).

    [75] Tiếng chuyên môn thường dùng: êtô (do chữ étau của Pháp).

    [76] Nguyên văn tiếng Pháp: “Non, Camarade Herbert”

    [77] Tiếng Pháp: được, được.

    [78] Tên chồng mụ: Gotthold Zwelling

    [79] Alfaire: tiếng Pháp: việc, vấn đề, vụ, chuyện.v.v.

    [80] Tiếng Đức: bùn, phân, hèn hạ. Tụi SS coi anh em tù nhân như những thứ đó.

    [81] Thủ đô nước Áo (Viena)

    [82] Tiếng Ba Lan (đọc là đốp-giê): tốt

    [83] Một thứ “hội đồng” gồm những sĩ quan cao cấp của SS để kiểm tra sự trung thành của Đảng viên Quốc xã

    [84] Tiếng Ba Lan, xin đọc là Tắc: vâng, ừ, gì cơ?.v.v.

    [85] Đeo phù hiệu xanh trên áo: tù thường phạm. Tù chính trị đeo phù hiệu đỏ.

    [86] Câu trong kinh Thánh.

    [87] Tiếng Đức: chính sách thực tế, chủ trương thực tế.

    [88] Nguyên văn: gạt bỏ được hạt nổ đi.

    [89] Nach uns die Suntflút (Tếng Pháp: Après nous, de délnge): cứ liều một cái rồi ra sai thì ra.

    [90] Một câu trong Kinh Thánh: Kính mừng Maria ơn phúc, Đức Chúa Lời ở cùng Bà...” (N.D).

    [91] Một trong những trạm lập ra ở chung quanh trại để các tù nhân báo cáo về công việc của họ hoặc để trừng phạt tù nhân. Ở Bukhânvan, trạm số hai được coi là nơi để xử bắn tù nhân.

    [92] Tiếng Anh bồi: “Ông hiểu không, thưa ông?”.

    [93] Tiếng Đức: đồng chí. Bọn đảng viên Quốc xã cũng gọi là đồng chí.

    [94] Nem (đọc là nai-n): không.

    [95] Lãnh tụ cầm đầu những lớp người nổi lên chống chế độ nô lệ thời La Mã cổ đại.

    [96] Chỗ này tác giả chơi chữ, dùng klugarsch (thông minh khéo léo) đối với chữ Schissarch (cái rắm) trong ngôn ngữ giữa hai tên Kluitich và Rainơbốt, chúng tôi chỉ dịch đủ nghĩa. không đổi vần được

    [97] Ném cát vào mắt họ mà thôi (nguyên văn).

    [98] Mớ tóc chải xuống trán: hình ảnh điển hình, tượng trưng cho Hítle.

    [99] Tên của Hitle, tiếng gọi thân mật hay coi thường đối với chữ Adolf.

    [100] Một hình thức pháp luật trong đó bị cáo có thể lấy lý do mình không có mặt tai chỗ khi xảy ra vụ gì để giấu tội.

    [101] Tiếng Đức. xin đọc là Ve-ma-kh (Quân đội Quốc xã). Danh từ đó chính nghĩa là:” Lực lượng phòng thủ”, nhưng bọn Quốc xã lợi dụng để che dậy những kế hoạch xâm lược của chúng.

    [102] Nguyên văn: con xúc xắc đã ném xuống! Ý nói: không cưỡng lại được cái chiều hướng ấy.

    [103] Tiếng Ba Lan: Đây này!

    [104] Dachau: một trại tập trung khác ở Đức tương tự Bukhânvan.

    [105] Ý nói một bài ca vĩnh biệt trước khi chết, đồng thời có ý nghĩa là một tuyệt tác..

    [106] Ý nói tinh thần của anh em tù nhân sẽ nhụt bớt.

    [107] Tín hiệu quốc tế dùng trong những trường hợp khẩn cấp đặc biệt.

    [108] Cờ của bọn phát-xít

    Hết.

    Nguồn: Trần Trụi giữa bầy sói. Tiểu thuyết của Bruno Apitz. Người dịch: Hoàng Tố Vân, Xuân Oanh. NHà văn Triệu Xuân, Thái Thành Đức Phổ biên tập. NXB Văn học, 2005.

    www.trieuxuan.info

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập34,471,616

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/