Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,818,898

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiếng trống đồng đền Thiên Hoàng/ Gặp lạnh dưới xích đạo/ Nơi xích đạo trở thành tên nước/ Khoảnh khắc ở Lima

Phan Quang

  • Thứ ba, 14:24 Ngày 28/07/2020
  • TIẾNG TRỐNG ĐỀN THIÊN HOÀNG

    Một hồi trống đại gióng lên, thong thả đổ hồi và kết thúc bằng ba tiếng dõng dạc. Tiếng trống trầm hùng, sâu, vang xa trong không gian yên tĩnh. Có phải đây là tiếng trống xưa từng làm lung lay bóng nguyệt?

    Người chủ lễ mặc lễ phục, đầu đội mũ đen, tay cầm hốt gỗ, cung kính cúi đầu.

    Người phụ lễ mang tới cho chúng tôi một cành lá tươi, xen giữa lá xanh đính những dải nhỏ bằng giấy trắng có ý nghĩa như những lá bùa. Chúng tôi đặt cành lá lên chiếc án thư. Đó là lễ vật viếng thiên hoàng Minh Trị và hoàng hậu.

    Trước mặt chúng tôi là điện thờ oai nghiêm, cánh cửa bằng gỗ mộc đóng kín, ổ khóa và các góc cửa được trang trí những lá đồng chạm. Một hồi trống nữa gióng lên và đổ dồn. Khách viếng nghiêng mình. Lễ mặc niệm Minh Trị thiên hoàng kết thúc.

    Người chủ lễ thong thả dẫn chúng tôi theo hành lang bên trái quay trở lại. Trước khi làm lễ mặc niệm, chúng tôi đã được rửa tay nơi đây. Một người đàn ông cũng mặc đồ tế, nhúng cành lá tươi vào một ang đồng đựng nước, vẩy lên hai bàn tay khách để “tẩy trần”; một người khác cầm sẵn một tờ giấy trắng cho khách lau tay.

    Đền thờ vua Minh Trị thật ra là cả một công viên, nơi hành hương và vui chơi công cộng. Chỉ những “quốc khách” hoặc “công khách” (theo cách nói của người Nhật) mới được mời vào đền thờ, còn nhân dân và khách du lịch thì phải đứng từ xa, cách một bái đường và cả một khoảng sân, mà ngưỡng vọng.

    *

    *   *

    Minh Trị thiên hoàng (tiếng Nhật đọc là Meiji) là một trong những nhà vua nổi tiếng nhất lịch sử cận đại. Thậm chí người Nhật còn cho rằng 45 năm triều đại Minh Trị (ông lên ngôi năm 1868, mất năm 1912) là thời kỳ huy hoàng nhất trong lịch sử hai ngàn năm của đất nước Phù Tang. Ông đã bãi bỏ chính sách bế quan tỏa cảng kéo dài mấy trăm năm, mở cửa ra nước ngoài, học tập kinh nghiệm các nước Âu-Mỹ đã trải qua bước đường công nghiệp hóa, ban hành hiến pháp (Hiến pháp Minh Trị), cải cách thể chế chính trị, phát triển mạnh mẽ sản xuất, tăng cường tiềm lực quân sự và chấn hưng văn hóa dân tộc. Nước Nhật Bản mau chóng hùng cường đã làm thế giới sửng sốt, các cường quốc Âu - Mỹ giật mình bằng trận thắng lớn năm 1905, chỉ sau ba mươi năm duy tân, đánh chìm hạm đội hùng mạnh của Nga hoàng, đập tan luôn huyền thoại Hải quân Nga đời đời làm bá chủ đại dương.

    Chính sách tự lực tự cường của vua Minh Trị về sau bị giới quân phiệt Nhật phát triển thành chủ nghĩa xâm lược, đẩy tới cuộc chiến tranh thế giới ở Thái Bình Dương, gây bào thảm họa cho các dân tộc châu Á. Dù sao, đối với người Nhật, Minh Trị vẫn là biểu tượng của sự trỗi dậy dân tộc và niềm tự hào quốc gia. Hằng năm, vào dịp kỷ niệm ngày sinh của Minh Trị (3 tháng 11) trùng hợp với mùa thu (mùa thu ở Nhật Bản thực sự bắt đầu từ tháng 11 dương lịch), người ta làm lễ long trọng. Trong các hình thức hội hè, đặc biệt không thể thiếu cuộc thi cắm hoa tươi.

    *

    *   *

    Thật ra, nơi đền thờ vua Minh Trị (Minh Trị thần cung) là cả môt quần thể những công trình nghỉ ngơi, giải trí và thể thao của nhân dân. Giữa thủ đô Tokyo lúc nào cũng đông nghịt người, ầm ầm xe cộ, môi trường bị ô nhiễm, có một quần thể kiến trúc dân tộc nằm trong một khu cây xanh, rộng đến cả trăm hécta, thật là kỳ thú. Người ta ước tính khu rừng quanh đền thờ có đến mười hai vạn cây gồm 305 loài, được nhân dân khắp nước Nhật đưa đến trồng vào khoảng thời gian 1915-1920, là những năm xây dựng khu “thần cung”. Điện thờ chính xây theo lối kiến trúc dân tộc, tiếng Nhật gọi là nagare-zukuri bằng một loại gỗ quý mang từ đảo Kiso về. Một điểm nổi bật của lối kiến trúc này là nét lượn của mái hai đầu hồi, tạo ấn tượng phóng khoáng và gây cảm giác thư giãn lạ lùng. Ngoài điện chính còn có những công trình khác, như nhà cất giữ những vật lưu niệm có liên quan đến cuộc sống của thiên hoàng, được coi là “quốc bảo” và nơi gọi là “võ đạo trường”. Cũng được coi như bao gồm trong quần thể “thần cung”, nhưng cách biệt, là viện bảo tàng đặt ở khu thể thao gồm bể bơi, sân bóng bầu dục, sân chơi bóng chày, sân quần vợt, sân vận động quốc gia, cung thể dục… với thiết bị tiện nghi hiện đại. Người Nhật vốn ham chuộng thể thao. Các sân vận động thường đông nghịt người. Còn ngày Tết (Nhật Bản ăn tết dương lịch) người ta ước tính có đến từ 1,5 đến 2 triệu người đến vui chơi ở công viên bao quanh đền thờ. Ngày thường cũng không vắng khách. Chúng tôi đã gặp những phụ nữ địu con đến trước thần cung chịu lễ cầu phúc. Buổi lễ hết sức đơn giản: người chủ lễ đứng ở bên đường, cầm cành lá tươi nhúng vào lọ nước trong, vẩy lên đầu cháu bé – thế là xong. Nhiều đôi nam nữ thanh niên đến đây làm lễ cưới. Cung đình gắn với dân dã, thiết bị cực kỳ hiện đại trong kiến trúc dân tộc cổ truyền, sinh hoạt văn hóa mà vẫn tạo được nguồn thu hợp lý… Minh Trị thần cung đúng là một di tích lịch sử cho người Nhật nuôi dưỡng lòng tự hào, tìm những giờ thư giãn, để rồi sau đó vươn tới đỉnh cao của khoa học, kỹ thuật và cạnh tranh kinh tế.

    1992

    GẶP LẠNH DƯỚI XÍCH ĐẠO

    Điều ngạc nhiên đầu tiên của tôi khi đến Libreville, thủ đô Gabon, nước thuộc châu Phi xích đạo, là khí hậu. Mặc dù máy bay đến muộn trong đêm, nhưng theo thói quen từ nước nhà, năm giờ sáng tôi đã thức giấc. Mặc chiếc áo cộc tay, tôi một mình ra bãi biển. Gió sớm từ Đại Tây Dương thổi vào, se lạnh như trời cuối thu Hà Nội, đến nỗi tôi phải trở lên phòng khoác thêm chiếc áo mỏng, mới thả bộ ra mép nước.

    Ấy thế mà nhìn vào bản đồ, thủ đô Libreville nằm gần như đúng đường xích đạo. Nhất là chúng tôi vừa rời sân bay Nội Bài dưới oi nồng của trưa hè 36 độ C; ghé sang Paris vào chiều vẫn nóng 31-32 độ, ai cũng chuẩn bị tinh thần để chịu đựng cái nắng nóng châu Phi. Hóa ra mùa hè là mùa dễ chịu nhất ở Libreville, nhiệt độ ban ngày chẳng mấy khi vượt quá 25 độ C, tuy cũng có lúc hơi oi ả một chút.

    Đúng là vào mùa khô, ở đây cũng nóng dữ dội – như lời bác Louis Vũ Văn, một Việt kiều định cư tại đây hơn bốn mươi năm cho biết – nhưng tháng sáu, tháng bảy lại là lúc điều hòa nhất dễ chịu nhất; và chính vì vậy mùa này là mùa hội nghị, du lịch, tham quan… khách quốc tế đổ đến Libreville.

    Gabon là đất nước được thiên nhiên ưu đãi. Hôm đến thăm Anta Clara, một thắng cảnh cách thủ đô chừng bốn mươi lăm phút xe hơi, một nghị sĩ Uganda nói với tôi, giọng như một thoáng ghen tị:

    - Thông thường nơi nào dưới lòng đất có dầu mỏ, thì trên mặt đất khô cằn. Ấy thế mà Gabon là nước xuất khẩu dầu lửa, thành viên của tổ chức OPEC, mà cảnh sắc thì hãy xem kia, xanh tươi biết mấy. Rừng ở đây vốn là rừng nguyên sinh vào loại trù phú nhất châu Phi.

    Gabon là nước dân số chỉ một triệu hai mươi vạn người (35% tập trung tại thủ đô) nhưng trải rộng trên diện tích 267.670 kilômét vuông, hơn hai phần ba diện tích nước ta, và có bờ biển dài tới ngàn kilômét. Sông chính là Ogôuê, mà các phụ lưu của nó tưới 90% lãnh thổ cả nước. Chỉ với hơn một triệu dân, nước này đứng đầu thế giới về xuất khẩu ván ép. Và từ khi phát hiện và khai thác dầu mỏ, tiền của đổ về đây như nước, tạo nên một lớp người cực kỳ giàu có, trong khi đời sống nhân dân ở các vùng núi (ba phần tư lãnh thổ là rừng) vẫn trong trình độ bán khai.

    Sinh sống trên đất Gabon đến mấy chục bộ lạc chia làm sáu nhóm. Được các nhà hàng hải Bồ Đào Nha phát hiện từ nửa cuối thế kỷ XV, sau bao nhiêu thăng trầm, trở thành thuộc địa của Pháp năm 1883. Từ 1910 là một bộ phận của “nước” Châu Phi xích đạo thuộc Pháp (AEF).

    Một điều khá thú vị đối với tôi khi tìm hiểu về đất nước Gabon là sự trùng hợp của những thời điểm lịch sử. Năm 1883, năm thực dân Pháp đặt nền đô hộ của họ lên rừng núi châu Phi này cũng là lúc triều đình nhà Nguyễn ký với Pháp hiệp định công nhận nền thống trị ngoại bang trên khắp ba kỳ. Và Gabon cũng như nhiều nước châu Phi thuộc Pháp, đã giành lại nền độc lập của mình nhờ tác động của Điện Biên Phủ.

    Nói vậy e không được khiêm tốn chăng?

    Vâng, nhưng sự thật lịch sử - như nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài thừa nhận - là sau thắng lợi Điện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam, nhiều nước thuộc địa của Pháp hồi đó, trước hết là Angiêri đã đứng lên đấu tranh đòi độc lập. Một cú sốc bất ngờ đối với Pháp, vì trong nhận thức của chính giới và không ít người Pháp thời bấy giờ, ba nước Bắc Phi: Angiêri, Tuynidi, Marốc là một phần lãnh thổ, là một phần máu thịt của nước Pháp. Để tránh sự sụp đổ hoàn toàn và tiêu vong mọi ảnh hưởng, bằng luật 23-6-1956, Pháp quyết định phân chia AEF (Afrique Equatoriale Francoise - vùng châu Phi xích đạo thuộc Pháp) thành năm nước, tức là Gabon, Sát, Camơrun, Cônggô và Cộng hòa Trung Phi ngày nay. Một trong những người đo đạc và thực hiện việc phân chia biên giới quốc gia ấy là bác Louis Vũ Văn, công chức đạc điền đến từ Nam Bộ Việt Nam.

    Cuộc phân chia biên giới kéo dài tới bốn năm. Ngày 17 tháng tám năm 1960 (tháng tám, lại một sự trùng hợp nữa?) Gabon tuyên bố độc lập, một nền độc lập gắn bó chặt chẽ với “chính quốc” cũ của mình.

    Ở Gabon, tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức. Trẻ em học tiếng Pháp từ lớp vỡ lòng. Tầng lớp trí thức phần đông được đào tạo tại Pháp. Từng xảy ra một chuyện cắc cớ. Khi nước này phát động phong trào xóa mù chữ, vấn đề đầu tiên đặt ra là: Chữ gì? Chữ Pháp chăng? Đương nhiên.

    Tôi không kịp tìm hiểu những con số để có thể chứng minh mà không sợ hồ đồ, ảnh hưởng của Pháp đối với nền kinh tế Gabon. Điều đập vào mắt là thu nhập quốc dân tính theo đầu người, với nguồn dầu lửa và các hàng xuất khẩu khác như gỗ dán, cao su, cà phê… tăng lên, thì sự chênh lệch về mức sống trong dân cư càng mở rộng. Giá cả sinh hoạt, ít nhất ở thủ đô Libreville đắt đỏ đến mức làm kinh ngạc nhiều công dân những nước giàu có như Canađa, Bỉ… đến thăm thành phố này, vì ở Libreville đắt đỏ hơn Paris!

    Ở khách sạn, tôi hỏi người phục vụ: trái cây, rau xanh mua từ đâu? Anh ta nhún vai: từ Pháp! Hằng ngày máy bay chở đến. Giá một cây cải xanh ở chợ bằng 25 frăng Pháp (khoảng 4,5 đô la Mỹ). Tại một hiệu ăn Việt Nam (hiệu ăn bình dân không gắn máy lạnh) một đĩa mười chiếc bánh cuốn to bằng ngón tay hoặc một bát phở (gọi là xúp Hà Nội) chẳng lấy gì làm ngon giá 60FF (khoảng 11 USD). Một người Pháp lấy vợ Việt Nam, từng sống ở Hà Nội cuối những năm 60, thời chiến tranh phá hoại ác liệt, mời tôi uống bia: “Chắc ông đã uống thứ bia này ở Việt Nam?”. Tôi nhìn nhãn hiệu: bia Castel, đúng với quy cách loại BGI sản xuất tại Tiền Giang chai nâu, nút vàng, nghe nói đang cạnh tranh lấn lướt bia 333 Sài Gòn!

    Castel là một chi nhánh của BGI, có cơ sở tại Librơville. Người Pháp ấy nói tiếp: “Một anh bạn của tôi, chủ hãng Castel ở đây, đã sang liên doanh với tỉnh Tiền Giang của các bạn”.

    Ông O. nghị sĩ Gabon nói:

    - Ông biết không, bộ trưởng dầu mỏ của chúng tôi là người gốc Hoa. Em trai của ông ta là Chủ tịch - Tổng giám đốc của Công ty dầu mỏ quốc gia lớn nhất Gabông. Một trong những người giàu nhất nước này.

    Và ông bạn người Pháp lấy vợ Việt Nam kia còn nói thêm, lần này chỉ riêng cho tôi nghe, vừa nói vừa cười tủm tỉm:

    - Ông bộ trưởng là người hết sức đẹp trai, đã lấy một phụ nữ da đen không lấy gì làm hấp dẫn bởi vì nàng là con gái… tổng thống! Kinh doanh và tình ái, hai mà là một, một mà là hai mà.

    Trụ sở quốc hội Gabon được xây dựng trên một ngọn đồi, cách trung tâm thành phố chừng mười lăm phút xe hơi. Đấy đồng thời là Trung tâm Hội nghị quốc tế, có tên văn hoa là “Thành phố của nền dân chủ”. Từ khách sạn đến Trung tâm Hội nghị, con đường có đoạn chạy men một dãy tường đồ sộ, oai nghiêm lượn theo địa thế, bao quanh mấy quả đồi. Ở cổng lớn có anh lính mặc áo rằn ri đứng gác. Bên trong là hai… gọi là gì nhỉ? “Lâu đài” thì e quá đáng, “biệt thự” thì không xứng với tầm cỡ kiến trúc kia. Vì hai ngôi nhà đều đồ sộ gấp mấy cái “Biệt điện” trên Đà Lạt, và uy nghiêm hơn hẳn các lầu “Nghênh Phong”, “Vọng Nguyệt” vốn của toàn quyền Pháp và vua Bảo Đại xưa xây tại Cầu Đá, bãi biển Nha Trang chúng ta.

    Đó là nhà riêng của thủ tướng. “Nhà riêng” chứ không phải “tư dinh”. Vì đây là nhà do ngài bỏ tiền ra xây dựng, là tài sản riêng; còn tư dinh nơi gia đình vị đứng đầu chính phủ sống hằng ngày, là công thự của Nhà nước!

    Lương công chức khá cao. Còn đời sống của người dân thường chắc không đến nỗi quá khó. Nếu tin theo lời những người nước ngoài đang sống ở Gabon mà tôi có dịp trò chuyện, thì thực phẩm cơ bản của họ vốn là củ sắn (mì) và quả chuối xanh luộc. Nhưng họ ít chịu lao động cần cù, và kiếm được tiền là họ tiêu pha ngay cho đến rỗng túi mới thôi: “Đó là căn bệnh của những dân tộc kém phát triển, bỗng chốc giàu có lên nhờ của cải trời cho”, vẫn anh bạn người Pháp phát biểu.

    - Ông có kỳ thị chủng tộc không đấy? Tôi hỏi.

    - Tuyệt nhiên không. - anh bạn đáp - Ông xem người da đen chạy bàn kia (chúng tôi đang ngồi trong một quán ăn Việt Nam khác), không phải người Gabon đâu, anh ta từ Sénégal sang kiếm việc làm đấy. Người Gabon không chịu khó – anh bạn vẫn khăng khăng nói tiếp. - Tôi làm cố vấn cho một ngân hàng. Xin cung cấp cho ông vài số liệu tham khảo: năm 1960, khi Gabon độc lập, nước này phải nhập khẩu 2% lương thực. Hiên nay, mua từ nước ngoài 98% nhu cầu về ăn. Năm ngoái cả nước sản xuất những một trăm năm mươi tấn gạo!

    Tôi ghi chép những điều trên không qua kiểm chứng và hoàn toàn không có ác ý. Bởi vì những người Gabon tôi gặp ở đường phố đều nhiệt tình xởi lởi; người lái xe taxi không đòi tiền puốc-boa; ở thủ đô dân ăn mặc đơn sơ (xứ nóng mà), nhưng tôi không nhìn thấy cảnh ăn mày. Dịch vụ xã hội khá tốt. Dọc bãi biển, vài chiếc xe tư nhân (không phải xe taxi) kiên nhẫn chờ khách du lịch – chắc là người chủ xe làm thêm. Dưới bóng râm của rặng bàng, những chiếc xe đẩy bán đồ giải khát bình dân: nước dừa, nước ngọt đóng chai, bia, côca…, tương tự ở miền Nam nước ta.

    Cuộc sống khá thanh bình. Nhưng nghe nói đấu tranh chính trị giữa các đảng phái căng thẳng lắm. Nước chỉ hơn một triệu dân mà quốc hội đông tới một trăm hai mươi nghị sĩ, vì các bộ tộc, các đảng chính trị đều đòi có đại diện của mình trong cơ quan quyền lực tối cao, và nhất là vì lương của nghị sĩ cao ngất nghểu.

    Ấn tượng cuối cùng của tôi về Gabon đêm rời sân bay quốc tế Libreville là một sự phấp phỏng. Tôi đến đây dự một hội nghị quốc tế. Cũng như đại biểu nhiều nước khác, chúng tôi đều mua vé khứ hồi, đã có OK và xác nhận chuyến bay rời Gabon. Theo thông lệ, bốn mươi tám giờ trước giờ bay, OK trên vé chúng tôi đã được tái xác nhận. Hơn thế, những người tổ chức hội nghị còn nhiệt tình và chu đáo đến mức không yêu cầu khách phải đến trụ sở hãng hàng không, mà buộc Hãng hàng không quốc gia Air Gabon đặt một bàn giấy tạm thời ngay trong tòa nhà Quốc hội để ghi nhận giờ bay, chuyến bay cho khách mời của Quốc hội.

    Nhưng khi đoàn khách đến sân bay (mỗi đoàn đều có người hướng dẫn và nhân viên an ninh mặc thường phục mang máy bộ đàm theo bảo vệ), đưa vé ra thì các cô nhân viên hàng không tỉnh bơ, nguây nguẩy lắc đầu: Hết chỗ! Các ông sẽ bay chuyến… ngày kia!

    Trả lời xong, các cô rũ áo vào phòng trong để khách đứng trước quầy vé nhìn nhau. Lúc này đã gần nửa đêm.

    Tôi nhìn quanh: một số đoàn cũng lâm vào cảnh ngộ như tôi, đang dở khóc dở cười, trong khi các đồng nghiệp khác may mắn hơn, làm xong thủ tục, đã ngồi lai rai bia Castel trong phòng chờ của các VIP.

    Điều kỳ diệu (lần này quả là kỳ diệu) là cuối cùng, mặc dù phấp phỏng lo âu, đêm hôm ấy tôi vẫn có thể rời Gabon để đến Paris vào sáng sớm hôm sau, kịp nối chuyến đáp về Việt Nam.

    1993

    NƠI XÍCH ĐẠO TRỞ THÀNH TÊN NƯỚC

    Một con lươn thanh mảnh hình tam giác bằng đá hoa cương sáng chia đôi quảng trường lát đá sẫm màu. Cạnh bên này kẻ dòng chữ: Vĩ tuyến 0,00 Nam. Đối diện, cạnh kia ghi Vĩ tuyến 0,00 Bắc. Đoạn lươn này vật chất hóa con đường chỉ có trong tưởng tượng của loài người: xích đạo. Nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp bảo tôi đứng hai chân hai bên con lươn ấy, mặt nhìn thẳng về hướng tây. Anh cũng xoạc chân đứng y như tôi, và hướng ống kính cho thật đúng tâm, bấm máy. Anh có kinh nghiệm, chỗ này là nơi đạt khuôn hình đẹp nhất. Trong ảnh, sau lưng tôi rồi sẽ hiện lên Đài kỷ niệm sừng sững như một tòa nhà ba mươi mét cao, tâm tòa nhà nằm đúng trên đường xích đạo, trên nóc mái bằng đỡ một đài quan sát thiên văn nhỏ. Anh nói:

    - Như vậy là bạn đã đứng trên hai bán cầu. Chân trái bạn đặt trên bán cầu Bắc, chân phải bạn dẫm xuống bán cầu Nam. Bạn xứng đáng được phong làm Hiệp sĩ dòng Del Intinan.

    Người ta mời tôi quay mặt lại, bước mươi bước cho đến gần đài kỷ niệm hơn. Một cụ già đứng sẵn ở đây trịnh trọng đọc mấy câu bằng tiếng Tây Ban Nha, rồi nâng cao tấm giấy viết bằng lối chữ cổ gothic lên ngang mày, trao cho tôi. Đấy là tấm bằng chứng nhận Hiệp sĩ P. Q. đã đặt chân đến Mitad del Mundo (Trung tâm Thế giới), ở vĩ độ 0,00, kinh độ 78027’8’’Đông, trên độ cao 2483 mét so với mặt biển. Nhờ chiến tích ấy, tôi được phong làm hiệp sĩ.

    Phóng tầm mắt ra xa, thấy một ngọn núi hùng vĩ, chóp núi phủ tuyết trắng lấp lánh dưới ánh sáng mặt trời. Băng tuyết vĩnh cửu ngay ở xích đạo, quả là kỳ quan. Đấy là ngọn núi lửa Cayambe cao năm nghìn tám trăm mét. Người ta bảo đỉnh ngọn Cayambe là nơi xa trung tâm trái đất, chứ không phải đỉnh Hymalaya như ta hằng tưởng. Vì trái đất, như nhà bác học Newton quả quyết ba trăm mấy chục năm trước đây, không phải là một quả cầu lý tưởng. Nó có hình một quả cam hơi dẹt, khúc giữa phình ra do tác động của lực ly tâm trong quá trình trái đất xoay tựa một con quay quanh cái trục của nó.

    Nhằm xác định lý thuyết ấy, năm 1736 người ta cử một đoàn khoa học do nhà vật lý lỗi lạc người Pháp La Condomine dẫn đầu đến tận địa điểm này, cách thủ đô Quito mười lăm cây số về phía bắc, làm công việc quan trắc. Đoàn có nhiệm vụ đo và tính toán chính xác độ dài của chu vi trái đất ở xích đạo cùng những thông số khác liên quan đến địa cầu. Cùng thời gian, một đoàn bác học khác do nhà vật lý Maupertuis lãnh đạo được phái lên Bắc Cực đo đạc chu vi trái đất theo hướng bắc – nam ở kinh độ 10. Chiều dài của kinh tuyến 1 ngắn hơn vĩ tuyến 0 khá nhiều, chứng minh sự chính xác của lý thuyết Newton. Xích đạo vậy là được loài người thừa nhận dài đúng bốn mươi ngàn kilômét; và đến lượt con số này được lấy làm cơ sở xác lập hệ đo lường tính theo đơn vị mét phổ biến trên phần lớn địa cầu cho tới ngày nay.

    Đài kỷ niệm, cũng như thị trấn Mitad del Mundo tôi đặt chân tới hôm nay, được chính phủ nước sở tại xây cất nhằm tôn vinh các nhà bác học và kỷ niệm hai trăm năm mươi năm Ngày đoàn bác học La Condamine thực thi nhiệm vụ. Hai bên con đường lớn dẫn đến đài kỷ niệm, tượng các nhà bác học được dựng trên những bệ cao. Tôi nghĩ vui: chắc hẳn cũng để làm nhẹ bớt cái tội nước này dám chiếm đoạt xích đạo làm quốc hiệu riêng của mình: Equador, Ecuador, Equateur… người Tây Ban Nha, người Anh, người Pháp đều thống nhất coi Xích đạo là quốc hiệu của nước Trung Mỹ nhỏ bé kẹt giữa một bên là Thái Bình Dương mênh mông, một bên là đất nước Brazil khổng lồ. Bởi xích đạo đâu phải chỉ đi qua có một nước. Riêng ở lục địa châu Mỹ, ngoài Equador (quốc hiệu chính thức viết theo tiếng Tây Ban Nha), còn có Colombia và Brazil; sang châu Phi có Sao Tomé, Gabon, Congo, Zaire, Uganda, Kenya, Somali; châu Á có các đảo Sumatra, Borneo, Moluques… Dù sao, từ Thái Bình Dương tiến vào đất liền theo chiều quay của trái đất, nơi đặt chân đầu tiên của xích đạo trên đất liền là đất nước này.

    Quần thể Mitad del Mundo được thành lập với tham vọng trở thành một kỳ quan cho loài người thăm viếng. Cái tôi gọi là đài kỷ niệm trên kia, thực tế là cả một viện bảo tàng hoàn chỉnh ở mấy tầng dưới, lưu giữ di sản và tái dựng lối sinh hoạt của dân bản địa: người Indiens (một tên gọi rất chung), người Mestizos… dưới thời văn minh Incas và trước đó nữa. Đường xích đạo chạy qua tâm ngôi nhà ấy, tiếp tục đi thẳng và xuyên qua tâm một nhà thờ mới xây dựng ở phía sau, vào lối cổng chính ra theo cửa sau, rồi nó tiếp tục bổ đôi một đấu trường thể thao vắt hai nửa trên hai bán cầu. Có thể coi xích đạo nơi này là con đường chia đôi sân bóng, từ đó hai đội bóng đá khởi đầu cuộc giao tranh.

    - Nếu có một trận đấu giao hữu giữa đội tuyển bóng đá Nam bán cầu với đội tuyển bóng đá Bắc bán cầu, thì không có sân cỏ nào trên thế giới thích hợp bằng chỗ này - Anh Rodrigo Santillan, Chủ tịch Hội nhà báo Equador, nói vui với tôi.

    - Trở ngại sẽ là sự thiếu vắng những fan cuồng nhiệt. Có lẽ thỏa đáng hơn là dùng làm địa điểm đăng cai Hội nghị Thượng đỉnh Bắc Nam. – Tôi cười.

    Lúc máy bay đáp xuống phi trường mang tên tướng Mariscal Sucre ở thủ đô Quito vào khoảng hai giờ chiều, nắng hè nhàn nhạt, gió mát như gió đầu thu ở nước ta. Người tôi cứ lâng lâng, bước đi chông chênh thế nào ấy. Tôi ngỡ tại ngồi quá lâu trên máy bay. Hóa ra không phải. Nguyên nhân chính: Quito nằm trên sườn núi lửa Pichincha, ở độ cao gần ba nghìn mét so với mặt biển. Không khí khá loảng. Người chưa quen, đi bộ nhanh một quãng đường đã cảm thấy hụt hơi. Cayambe chưa phải là ngọn núi cao nhất nước. Còn có núi Chimborazo cũng là một hỏa diệm sơn cao những 6.270 mét, Cotopaxi 3.950 mét. Những quả núi lửa tưởng đã ngủ yên vĩnh viễn kia, thỉnh thoảng lại trở mình vô nguyên cớ, gây tai họa cho cư dân. Cách đây chưa lâu, báo chí thế giới đưa tin thành phố Quito mịt mù trong gió bụi do núi lửa phun ra và gặp gió mạnh tạt đến, đến nỗi sân bay phải tạm ngưng hoạt động, xe hơi chạy ban ngày bật đèn pha.

    Người châu Âu lần đầu tiên biết đất nước này vào giữa thế kỷ XVI. Các nhà hàng hải cắm lá cờ nước Tây Ban Nha lên xích đạo, rồi nhanh chóng bằng máu và nước mắt của dân bản địa, áp đặt nền văn minh Âu châu, thiết lập nên cái được gọi là “kỷ nguyên Tây Ban Nha” trong lịch sử vùng này. Lịch sử viết một cách mơ hồ, cư dân nguyên thủy của vùng đất ngày nay được gọi là Cộng hòa Equador là những người từ châu Á vượt biển sang. Họ lập thành những bộ tộc đầu tiên, dần dần thống nhất lại thành quốc gia quây quần chung quanh vùng thủ đô Quito hiện nay – lịch sử gọi là “Vương quốc Quito”. Khoảng giữa thế kỷ XV, nền văn minh Incas theo sự bành trướng của đế chế ấy từ phía Nam lục địa tràn lên, thiết lập chủ quyền và văn hóa của họ tại xứ sở này.

    Trước các đợt sóng chinh phục của người châu Âu có phương thức sản xuất cao hơn, nền văn minh Incas mau chóng lụi tàn. Thống kê dân số cho biết, ở nước Equador ngày nay, phân loại theo nhân chủng học, người Indiens chiếm khoảng ba mươi chín phần trăm dân số, người Mestizos bốn mươi mốt phần trăm; người da đen, người lai và các nhóm người nguồn gốc khác khoảng mười phần trăm. Người da trắng thật sự chỉ chiếm có một phần mười dân số, song ngôn ngữ chính thức của đất nước này là tiếng Tây Ban Nha. Dĩ nhiên, giữa những người bản địa với nhau, ngôn ngữ giao tiếp là tiếng Quechua.

    Cộng hòa Equador tựa lưng vào triền núi Andes kéo dài từ vùng xích đạo xuống tận cùng Nam Mỹ châu men theo bờ đông Thái Bình Dương. Đồng bằng chính nằm sát bờ biển, ở phía tây triền núi lớn. Chảy gần xích đạo là một con sông nhiều khúc rộng mênh mông và dài tới hai nghìn kilômét. Tên của nó là Rio Negro – Sông Đen, bởi do rừng cây nhiệt đới hai bên bờ tỏa bóng xuống, mặt nước sông nhìn đen ngòm. Giống như trường hợp Đà giang ở nước ta xưa kia, khi những người Pháp đầu tiên đặt chân, họ đã nhìn mặt nước sông in bóng rừng cây cổ thụ mà áp đặt tên cho nó là Rivière Noire (Sông Đen).

    Phía tây nước Equador thuộc lưu vực sông Amazon. Rừng nhiệt đới ở vùng này, còn gọi “rừng Amazon” trải trên địa phận ba nước Colombia, Equador và Brazil mênh mông, rừng liền hun hút rộng hơn cả nước Việt Nam ta. Nhiều nơi cho đến gần đây vẫn chưa có dấu chân người. Vùng biên giới ba nước vì vậy là căn cứ của các đường dây ma túy lớn nhất thế giới, trong đó có tập đoàn do tên Medellin khét tiếng cầm đầu từng chi phối chính trường một số nước Trung Mỹ – Medellin chính là nhân vật làm nền cho tác phẩm mới xuất bản gần đây của văn hào Gabriel Marquez: Nhật ký một cuộc bắt cóc.

    Cộng hòa Equador, ngoài đất liền còn một cụm đảo ven bờ Thái Bình Dương gọi là Galapagos, được coi như một khu bảo tồn thiên nhiên với nhiều quần thể sinh vật trên thế giới có một không hai. Galapagos là tên gọi một giống rùa khổng lồ. Đến những thập niên 90 của thế kỷ trước, các nhà khoa học ước lượng còn khoảng một vạn con rùa này. Chúng có thể thọ tới một trăm năm mươi tuổi, và cân nặng suýt soát hai tạ rưỡi mỗi con. Lại có những con chim cộc (cormoran) chỉ có thể di chuyển bằng chân chứ không biết bay. Vậy là xích đạo không chịu thua Bắc và Nam Cực, cũng có chim cánh cụt penguin của mình. Bên cạnh chim cánh cộc, có giống hải âu sải cánh cực lớn, duy nhất trên địa cầu chỉ có tồn tại ở bờ Đông Thái Bình Dương. Lịch sử khoa học cho biết, năm 1835 nhà bác học Charles Darwin đã thân hành đến quần đảo này sưu tầm tư liệu để viết nên công trình bất hủ của ông: Nguồn gốc muôn loài. Người ta bảo sở dĩ những con chim cộc ở Galapagos không biết bay vì thức ăn ở đảo quá dồi dào, và vì chúng chẳng phải lo ngại có kẻ thù nào bất chợt tấn công – một thí dụ nữa thuyết minh sự thích ứng của muôn loài vào môi trường tự nhiên. Quan sát quần đảo này, nhà bác học đi đến kết luận, có nhiều loài động vật khác nhau ngày nay, xưa kia cùng chung một thủy tổ.

    Thức ăn truyền thống của người dân Equador là ngô. Tôi ngạc nhiên và thú vị thấy, trong bữa tiệc thị trưởng Quito chiêu đãi trọng thể khách nước ngoài, mở đầu các món chính, mỗi thực khách được mời nếm một bắp ngô non mới luộc sốt dẻo, mượt mà, nằm đơn lẻ trên chiếc đĩa sứ lớn sang trọng, người phục vụ mặc đồng phục mang đến lễ phép đặt trước từng thực khách theo đúng cung cách ẩm thực Tây phương. Dọc các nẻo đường, thấy các phụ nữ đứng tuổi đội mũ Jipijapa truyền thống thu hoạch bông vải. Cạnh các cánh đồng bông hoặc nương ngô chưa tới mùa thu hoạch, thỉnh thoảng lại thấy một người hát rong đầu đội mũ rộng vành, mình khoác chiếc pancha dài, ôm đàn ghi ta lặng lẽ nhìn dõi theo đoàn xe chúng tôi cho đến khi khuất bóng. Không rõ anh ta mang đàn đến đây vì máu nghệ thuật hay để kiếm sống - bởi nhìn chung quanh anh, tôi không thấy có người nghe quần tụ. Có thể tôi gặp anh lúc này quá sớm hoặc quá muộn so với giờ tác nghiệp hằng ngày của người nghệ sĩ chăng.

    Người từ châu Á đặt chân sang lập nghiệp ở đây từ bao giờ? Họ đã vượt qua biển cả nào? Câu hỏi ấy luôn ám ảnh tôi những ngày ở Equador. Một câu hỏi các nhà sử học, dân tộc học, khảo cổ học… chưa có lời giải đáp. Tôi suy nghĩ miên man, nhất là sau lần tham dự đêm hội dân gian. Dưới ánh lửa trại bập bùng, đoàn nghệ thuật biểu diễn một liên khúc vũ đạo. Dễ dàng nhận ra những cảnh tái hiện sinh hoạt của dân quê, như làm đất, gieo hạt, hái bông (bông vải là cây trồng phổ biến ở xứ này), kéo sợi, dệt vải… và cuối cùng mở hội tế lễ và múa hát với nhau. Tự nhiên tôi liên tưởng những điệu múa chất phác và giản lược, đại thể như “Vui sản xuất”, “Mừng được mùa” của ta những năm 50 thế kỷ trước, khi miền Bắc vừa tìm lại được hòa bình.

    Lại nữa. Cảnh đốt đèn thăng thiên. Những ngọn đèn dầu đốt dưới một loại dù làm bằng vải hoặc giấy mỏng, hơi nóng của đèn đẩy cái dù lên cao trên bầu trời đêm, ở đó nhờ có thêm lực gió đẩy, tiếp tục lượn lờ trên bầu trời đen… Có những ngọn dù chưa kịp mở rộng sớm rơi xuống đất, có những chiếc chẳng may lửa bén vào vải bốc cháy giữa lưng chừng trời… Ôi, sao giống loại đèn thăng thiên tôi từng nhìn thấy một đêm hội nào thuở xa xưa ở vùng quê ta đến thế!

    Tiên tổ những người này có họ hàng với tiên tổ chúng ta chăng? Tôi bâng khuâng tự hỏi khi ngắm những ánh đèn đỏ chuệch chiếc thấp chiếc cao bay trên bầu trời đêm hội. Khi một ngọn đèn tắt ngấm vì nguyên nhân nào đấy khiến chiếc dù sớm rơi xuống đất, những người dự hội lại lớn tiếng hò reo tiếc rẻ. Tôi nói với Rodrigo: “Chắc hẳn chúng mình từng có họ hàng xa với nhau…”.

    2004

    KHOẢNH KHẮC Ở LIMA

    Tháng bảy, mùa hè ở nước ta, là giữa đông ở Pêru. Thủ đô Lima bàng bạc một làn mù nhẹ, càng về chiều càng ảm đạm và lạnh lẽo.

    Vừa bước xuống khỏi máy bay, quanh cảnh đập vào mắt mọi người, bên cạnh dòng chữ Welcome quen thuộc ở mọi sân bay quốc tế, là những tấm biển quảng cáo lớn: Coca Cola, Pepsi Cola, Toyota, National… Mỹ và Nhật, Nhật và Mỹ, hầu như bước chân tới đâu ta cũng thấy bóng dáng, như đôi cánh diều hâu đen ngòm, của hai siêu cường đang khống chế nền kinh tế Mỹ Latinh. Thật ra, những cái vòi của con bạch tuộc Mỹ đã từ lâu bám chắc vào lục địa này. Nhật Bản là kẻ đến sau nhưng không phải vì vậy mà kém phần lợi hại.

    Tuy nhiên, ở Pêru dường như một quá trình chuyển động đang bắt đầu. Cuộc tổng tuyển cử tháng tư năm 1984 vừa qua đưa APRA (Liên minh nhân dân vì cách mạng châu Mỹ) lên cầm quyền. Chủ tịch liên minh, ông Alain Garcia Perez, tổng thống đắc cử, năm nay mới ba mươi sáu tuổi, là tổng thống trẻ nhất Mỹ Latinh ngày nay.

    APRA giành được sự tin cậy của nhân dân Pêru lần đầu tiên kể từ khi phong trào chính trị này thành lập cách đây hơn sáu mươi năm, nhờ ở cương lĩnh vận động tiến bộ. APRA chủ trương chống lại chính sách của chính quyền Regan chạy đua vũ trang hạt nhân, gây tình hình căng thẳng, chống lại sự đục khoét của Hoa Kỳ đối với nhân dân Mỹ Latinh. Pêru, dưới sự cầm quyền của tổng thống mới, sẽ thực hiện một nền ngoại giao không phụ thuộc vào Mỹ, vì hòa dịu và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc.

    Cương lĩnh ấy được đề ra trên bối cảnh một nước trải qua mấy chục năm xáo động triền miên và liên tiếp suy thoái về kinh tế. Mặc dù rộng gấp bốn lần nước ta (về diện tích, Pêru xếp thứ mười tám trên thế giới) và chỉ phải nuôi có mười ba triệu dân, nước này đang nợ nần chồng chất. Lạm phát trầm trọng. Một buổi sáng, ở khách sạn, một nhà báo Ấn Độ cười, kể lại với tôi:

    - Tôi đổi mười đô la lẻ để tiêu vặt. Người ta đưa cho tôi cả một tập giấy bạc, những mười hai vạn đồng xôn (tiền Pêru), nhét căng cả túi. Và chính cô nhân viên ngân hàng lại mỉm cười chua chát khi thấy tôi lộ vẻ ngạc nhiên: “Ông đưa ra có mười tờ, ông thu về những bao nhiêu là giấy, còn gì nữa! Giá như ông đến đây chín, mười năm trước, thì một đô la ông chỉ đổi được bốn mươi lăm xôn thôi”.

    Năm 1980, tỷ lệ lạm phát ở Pêru là 80%. Hai năm vừa qua, lên 195,8%!

    Thủ đô Lima (hơn sáu triệu dân, chiếm một nửa dân số cả nước) là một thành phố đầy những cảnh trái ngược. Mấy trăm năm không có chiến tranh lớn, thành phố giữ được nhiều công trình cổ kính. Trường Đại học Lima thành lập năm 1551, chỉ mười sáu năm sau khi thành phố này ra đời, là trường đại học sớm nhất châu Mỹ Latinh. Viện bảo tàng Vàng của Lima chứa nhiều hiện vật bằng vàng rất có giá trị phản ánh nền văn minh đa dạng của lục địa này. Trung tâm thành phố với nhiều dinh thự uy nghi: Phủ tổng thống đối diện Tòa Tổng giám mục; ngay trước mặt Tòa án tối cao trang nghiêm là khách sạn năm sao Sheraton cực kỳ sang trọng của Mỹ. Nếu ta thả bộ dạo chơi qua vài đường phố, ta sẽ gặp những khu phố cũ chật chội, ồn ào, hỗn độn... Bất kỳ một hiệu ăn hoặc cửa hàng nào cũng không thiếu những người ăn xin túc trực trước cửa. Và như một nét bổ sung vai trò lũng đoạn kinh tế của Mỹ và Nhật Bản, các hiệu ăn nổi tiếng nhất và có lẽ cũng nhiều nhất ở đây là những hiệu ăn Tàu, treo biển Chifu mà ta thấy nhan nhản các nẻo phố!.

    Tháng bảy này ở Lima khá sôi động. Liên minh APRA rầm rộ chuẩn bị lễ nhậm chức của tổng thống mới, có nguyên thủ và đại diện đặc phái của nhiều nước Mỹ Latinh tham dự, vào 28 tháng bảy, ngày Quốc khánh của nước này. Trong khi đó, một số cuộc bãi công tiếp tục diễn ra. Đời sống người lao động khó khăn. Không khí bao trùm là chợ đợi, mong mỏi, xen lẫn lo âu.

    Một ngày biển động, đoàn nhà báo quốc tế chúng tôi được mời dùng bữa trưa ở hiệu ăn “Hoa hồng nước”. Đây là một nhà hàng xây dựng theo phong cách dân tộc trên mặt nước, ở một vùng biển vắng vẻ. Muốn đến nơi, phải đi theo một đập đá vươn ra biển, sóng vỗ trắng xóa hai bờ đập.

    Tôi nói, cho có chuyện, với người bạn nhà báo Pêru:

    - Ở đất nước tôi, đúng bờ bên kia của Thái Bình Dương, cũng có những nhà hàng chuyên các món ăn hải sản thế này.

    Nhưng anh lại đáp theo một hướng suy nghĩ khác:

    - Vâng. Nhưng bên nước anh là cuộc sống hoàn toàn khác. Cho dù có gặp những khó khăn thế nào chăng nữa, thì Việt Nam đã vượt qua cái mốc lịch sử. Còn chúng tôi...

    - Pêru đang có sự chuyển động theo chiều hướng tốt đấy chứ?

    - Hy vọng như vậy. Tôi mong chờ. Và tin tưởng nữa. Song chúng tôi cũng đã không ít lần mong chờ và không ít lần vỡ mộng. - Anh ghé tai tôi nói thầm - Chắc anh chưa biết, trong lịch sử, chính APRA cũng có thời kỳ bị nhiễm độc bởi chủ nghĩa chống cộng sản đấy. (Anh cười). Tuy nhiên không phải vì vậy mà tôi hoài nghi. Bởi sự chuyển động lần này đâu phải chỉ diễn ra ở riêng Pêru. Mặc dù chế độ chính trị hai nước khác nhau, tổng thống mới của chúng tôi là người nhiệt thành chia sẻ quan điểm của Phidel Castro về cách giải quyết vấn đề nợ nần của các nước thuộc thế giới thứ ba. Tôi mong ông ta sẽ giữ vững lập trường vì lợi ích dân tộc Pêru mà kiên quyết chống lại chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ.

    1985

    PQ.

    Nguồn: Du ký. Tác giả: Phan Quang. NXB Văn học, 2005.

    www.trieuxuan.info

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,818,898

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/