Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập38,414,553

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Thiên Long bát bộ

Kim Dung

  • Thứ sáu, 10:54 Ngày 11/12/2020
  • Bỗng nghe Bất Bình đạo nhân lên tiếng: “Ta có lời chúc mừng các ngươi! Mộ Dung công tử đã chịu ra tay giúp đỡ thì việc lớn có thể xong được. Chưa nói tới Mộ Dung công tử vô địch thiên hạ, ngay thủ hạ y là Đoàn tướng công đây cũng là cao nhân ít người bì kịp.” Đạo trưởng thấy Đoàn Dự cõng Vương Ngữ Yên, vẻ mặt rất là cung kính thì tưởng chàng cũng là thuộc hạ Mộ Dung Phục như bọn Đặng Bách Xuyên.

    Mộ Dung Phục vội nói: “Đoàn huynh đây là dòng dõi cao môn lệnh tộc nước Đại Lý, tại hạ vẫn phải kính phục.” Rồi y gọi: “Đoàn huynh! Lại đây cùng ra mắt mấy vị bằng hữu.” Đoàn Dự đứng sau lưng Vương Ngữ Yên, mũi ngửi hương thơm ngào ngạt, ghé mắt trộm nhìn người ngọc. Tuy chàng không dám nhìn thẳng mặt Vương Ngữ Yên, nhưng được nhìn bàn tay ngà ngọc của nàng cũng lấy làm mãn nguyện lắm rồi. Mộ Dung Phục gọi chàng mà chàng tựa như không nghe thấy.

    Y lại gọi lần nữa: “Đoàn huynh! Xin quá bộ lại đây hội kiến cùng mấy vị bằng hữu.” Hiện giờ Mộ Dung Phục đang muốn cầu cạnh các vị anh hùng trên giang hồ, nói chuyện với Đoàn Dự cũng không kiêu ngạo như trước. Ngờ đâu tâm thần Đoàn Dự để hết vào mười ngón tay búp măng của Vương Ngữ Yên, chẳng còn nghe ai nói năng gì nữa. Vương Ngữ Yên phải lên tiếng nhắc: “Đoàn công tử! Biểu huynh ta đang gọi công tử!” Đoàn Dự như người đang mơ chợt tỉnh, vội đáp: “Vâng vâng! Y gọi tại hạ làm chi?” Vương Ngữ Yên nói: “Biểu huynh ta mời công tử lại yết kiến mấy vị bằng hữu.” Đoàn Dự thực tình không muốn rời nàng, bèn hỏi lại: “Cô nương có đi không?” Vương Ngữ Yên đáp: “Y gọi công tử chứ không gọi ta.” Đoàn Dự nói: “Cô nương không đi thì tại hạ cũng không đi.”

    Bất Bình đạo nhân là một tay cao thủ bàng môn tả đạo, trước nay vốn tính kiêu ngạo, chẳng coi ai ra gì. Tuy lão thấy bộ pháp Đoàn Dự kỳ dị nhưng vẫn coi chàng là một nhân vật tầm thường, chẳng có chi đáng để ý. Bây giờ lão nghe chàng cùng Vương Ngữ Yên đối đáp với nhau, tưởng chàng khinh người không muốn hội kiến. Bất Bình đạo nhân là người lòng dạ hiểm sâu, tuy trong lòng căm hận mà ngoài mặt vẫn thản nhiên.

    Vương Ngữ Yên thấy ai nấy đều nhìn chòng chọc vào mình cùng Đoàn Dự, thì không khỏi bối rối. Nàng còn sợ biểu huynh hiểu lầm, liền cất tiếng gọi: “Biểu huynh! Tiểu muội bị người ta điểm huyệt, biểu huynh lại giúp tiểu muội.”

    Mộ Dung Phục không muốn lộ thái độ nhi nữ thường tình trước mắt mọi người, liền bảo Đặng Bách Xuyên: “Đặng đại ca! Đại ca lại giúp Vương cô nương đi!” Rồi lại quay sang gọi Đoàn Dự: “Đoàn huynh! Mời Đoàn huynh qua bên này!”

    Vương Ngữ Yên thấy Đoàn Dự vẫn đứng trơ ra đấy, liền giục: “Biểu huynh ta mời công tử qua bên kia. Công tử sang đi!” Đoàn Dự thấy Vương Ngữ Yên gọi Mộ Dung Phục sang chiếu cố cho nàng, coi mình như người ngoài, thì trong lòng chua xót vô cùng. Chàng thẫn thờ bước đến chỗ Mộ Dung Phục.

    Mộ Dung Phục nói: “Đoàn huynh! Tại hạ đưa Đoàn huynh đi ra mắt liệt vị cao nhân. Vị này là Bất Bình đạo trưởng, vị này là Ô tiên sinh, vị này là Tang động chúa.”

    Đoàn Dự chỉ dạ dạ mấy tiếng cho xuôi chuyện. Trong lòng chàng còn mải nghĩ: “Rõ ràng mình đứng ngay bên cạnh, sao nàng không bảo mình giải huyệt mà phải gọi biểu huynh? Thế là vừa rồi nàng gọi mình cõng, cũng chỉ là do nguy cấp nhất thời mà thôi. Giả tỉ biểu huynh chạy lại cõng nàng được, quyết nàng chẳng chịu để cho mình đụng đến. Nàng mà được nằm phục trên lưng biểu huynh, chắc là trong lòng tươi như hoa nở. Thậm chí bọn Đặng Bách Xuyên, Bao Bất Đồng… thuộc hạ của biểu huynh cũng được nàng coi trọng hơn mình. Mình với nàng đã không thân thích lại không quen biết, chỉ là chỗ bèo nước gặp nhau, thì khi nào nàng còn để tâm đến mình? Nàng cho ta liếc trộm mấy cái, hoặc nàng hạ cố đảo mắt lướt qua cái thân thấp hèn của ta một lượt đã là phúc lắm rồi. Nếu ta đòi hỏi gì thêm, e rằng mấy cái phúc nho nhỏ này cũng bị tước mất. Thôi, nàng không cần ta nâng đỡ nữa rồi.”

    Bất Bình đạo nhân và Ô Lão Đại thấy cặp mắt lờ đờ của Đoàn Dự nhìn ra quãng không, đi hội kiến với bọn mình mà chàng hờ hững chẳng để ý gì đến ai, cặp chân mày lại còn nhăn tít đầy vẻ âu sầu, rõ ràng xã giao miễn cưỡng. Bất Bình đạo nhân cười ha hả reo lên: “Thật là hân hạnh! Thật là hân hạnh!” Rồi lão đưa tay ra nắm lấy tay mặt Đoàn Dự. Ô Lão Đại hiểu ý Bất Bình đạo nhân, cũng nắm lấy tay trái chàng, lại còn bỉ ổi hơn Bất Bình đạo nhân. Tuy dụng ý của hai người giống nhau là muốn Đoàn Dự phải đau đớn rên la, nhưng Bất Bình đạo nhân không để lộ ra ngoài mặt, còn Ô Lão Đại thì đầy vẻ ác ý, ai cũng nhìn thấy.

    Hai người nắm tay Đoàn Dự rồi vận công lực xiết chặt lại. Bỗng nhiên Bất Bình đạo nhân cảm thấy chân khí trong người cuồn cuộn tiết ra. Lão cả kinh, vội giật tay ra, nhưng hiện nay nội lực Đoàn Dự đã rất thâm hậu, cố tay chàng hút chặt lấy bàn tay Bất Bình đạo nhân, lão không sao giật ra được. Một khi Bắc Minh thần công đã phát động thì nó hút nội lực của đối phương mỗi lúc một nhanh. Còn Ô Lão Đại thì quen nghề dùng độc, hắn nắm cổ tay Đoàn Dự để vận công phu độc chưởng, thúc đẩy chất độc ở bàn tay mình truyền sang Đoàn Dự. Bản tâm hắn không muốn giết chàng, chỉ muốn chàng tê nhức ngứa ngáy không chịu nổi, đợi chàng mở miệng van lơn rồi hắn sẽ cho thuốc giải độc, để ra oai cho ai nấy biết rằng chư tiên ba mươi sáu động, bảy mươi hai đảo đều là nhân vật phi thường, ai đã gặp thì chỉ có đường xuống ngựa đầu hàng. Ngờ đâu Đoàn Dự từ khi nuốt chu cáp rồi thì bất luận chất độc gì cũng không ngấm vào người chàng được nữa. Ô Lão Đại thấy độc chưởng mình không làm gì được Đoàn Dự, mà chân khí trong người lại bị hút đi cuồn cuộn. Lão sợ hãi la lên: “Ối chao! Ngươi dùng Hóa Công Đại Pháp rồi!”

    Đoàn Dự trong lòng trống rỗng chẳng biết gì, cứ than thân trách phận: “Chẳng bao giờ nàng muốn mình nâng đỡ nữa rồi. Trong cõi trời đất này ta còn sinh thú gì nữa đâu? Thôi, ta thà về Đại Lý, từ đây quyết không nhìn mặt nàng nữa. Hỡi ôi! Ta về chùa Thiên Long xuất gia đầu Phật, quy y dưới tòa Khô Vinh đại sư… Từ đây quán thân bất tịnh, rửa sạch lục căn, không nhiễm bụi trần…”

    Mộ Dung Phục không hiểu xảy ra chuyện gì, y thấy Bất Bình đạo nhân cùng Ô Lão Đại bị nguy khốn chỉ cho là Đoàn Dự vận nội lực để phản kích. Y vội dùng thủ pháp mau lẹ phi thường, vận động chân lực để chặn đứng hấp lực của Bắc Minh thần công rồi vừa kéo Bất Bình đạo trưởng cùng Ô Lão Đại ra, vừa la lên: “Đoàn huynh! Xin hạ thủ lưu tình.”

    Đoàn Dự giật mình trở về thực tại, liền thi triển công phu của bá phụ Đoàn Chính Minh truyền cho để thu Bắc Minh thần công lại. Ô Lão Đại cố sức giật được tay ra, lạng người về phía sau, loạng choạng mấy bước mới đứng lại được. Hắn thẹn đỏ mặt, vừa kinh hãi, vừa tức giận mà không biết làm thế nào, vẫn la lớn: “Hóa Công Đại Pháp! Hóa Công Đại Pháp!” Bất Bình đạo nhân thì kiến thức rộng hơn, biết nội lực của Đoàn Dự với Hóa Công Đại Pháp có chỗ khác nhau, chỉ lắc đầu chứ không nói gì.

    Đoàn Dự tủm tỉm cười nói: “Tinh Tú lão quái Đinh Xuân Thu là hạng đê hèn bỉ ổi, võ công của hắn so với ta thế nào được? Ngươi chẳng khác gì ếch nằm đáy giếng thấy trời bằng vung, không hiểu gì hết… Ha ha!” Chàng còn muốn chế giễu Ô Lão Đại mấy câu nữa, nhưng sực nhớ chuyện Vương Ngữ Yên coi mình như khách qua đường, bất giác lại thở dài sườn sượt.

    Mộ Dung Phục nói với Bất Bình đạo trưởng cùng Ô Lão Đại: “Đoàn huynh đây là dòng dõi chính thống họ Đoàn nước Đại Lý. Tuyệt kỹ Nhất Dương Chỉ và Lục Mạch Thần Kiếm của nhà này thiên hạ vô song, Tinh Tú Lão Quái bì thế nào được?”

    Y nói tới đây bỗng thấy tay mình mỗi lúc một sưng to lên mà không phải đau vì bị song chùy của gã lùn chấn động, trong lòng không khỏi kinh nghi. Y giơ tay lên coi thấy lưng bàn tay ẩn hiện sắc xanh, đồng thời ngửi thấy mùi tanh hôi khó chịu, chợt tỉnh ngộ ra: “Phải rồi! Tay mình bị chất độc trên Lục Ba Hương Lộ Đao thấm vào da thịt.” Y vội xoay thanh đao lại cho sống đao hướng ra ngoài, còn lưỡi đao hướng vào mình, rồi nói với Ô Lão Đại: “Ô tiên sinh! Tại hạ xin hoàn lại binh khí, xin tiên sinh tha lỗi cho!”

    Ô Lão Đại giơ tay ra mà không thấy Mộ Dung Phục xoay chuôi dao về phía mình, không biết làm thế nào để đón lấy, liền cười cười nói: “Xin lỗi các hạ, lưỡi đao này có chỗ cổ quái.” Hắn vừa nói vừa móc lấy một cái bình nhỏ, mở nắp ra dốc một chút phấn vào bàn tay rồi nắm lấy lưng bàn tay Mộ Dung Phục. Chỉ trong khoảnh khắc, thuốc ngấm vào da thịt, Mộ Dung Phục cảm thấy cánh tay mát rượi. Y biết là thuốc giải hiệu nghiệm, liền tủm tỉm cười, quăng thanh quỷ đầu đao sang trả cho Ô Lão Đại.

    Ô Lão Đại đón lấy dao rồi quay sang nhìn Đoàn Dự hỏi: “Đoàn huynh đối với chúng ta là bạn hay là thù? Nếu là bạn thì phải một lòng một dạ thành thực với nhau mới phải. Nếu là thù thì bất luận võ công cao đến đâu, chúng ta cũng quyết một trận tử chiến.” Hắn nói xong, giương mắt lên nhìn Đoàn Dự, vẻ mặt khẩn trương.

    Đoàn Dự chẳng để ý gì đến thái độ của Ô Lão Đại, mặt vẫn buồn rười rượi. Chàng cúi đầu xuống nói: “Lòng ta phiền muộn đến cực điểm, chẳng còn tâm trí đâu mà can thiệp vào việc người khác. Ta không phải là bạn mà cũng chẳng là thù với các ngươi, công việc rắc rối của các ngươi ta chẳng bận tâm đến làm chi. Hỡi ôi! Ta chỉ là một người đau khổ nhất thiên hạ, cổ kim chưa từng có. Nghĩ trời đất rộng dài miên viễn, một mình ta giọt lệ sụt sùi. Ta chỉ biết ta đang cảm thấy gì, còn ta muốn gì ta cũng không biết nữa. Những cuộc thắng thua trên chốn giang hồ chỉ nhỏ nhoi như con sâu cái kiến, có đáng chi mà ta phải bận lòng?”

    Bất Bình đạo trưởng thấy Đoàn Dự dở điên dở khùng, lảm nhảm luôn miệng những gì không rõ, mắt cứ chốc chốc liếc trộm Vương Ngữ Yên. Lão đoán tâm sự chàng đã chắc bảy tám phần, liền quay lại nói với Vương Ngữ Yên: “Vương cô nương! Lệnh biểu huynh là Mộ Dung công tử đầy lòng nghĩa hiệp, đã nhận lời giúp chúng ta cử sự, bần đạo mong rằng cô nương cũng tham gia.” Vương Ngữ Yên đáp ngay: “Dĩ nhiên là thế. Biểu huynh tại hạ đã nhận lời thì tiểu nữ cũng theo sau đạo trưởng để nghe sai bảo.” Bất Bình đạo nhân tủm tỉm cười nói: “Bần đạo đâu dám thế? Cô nương dạy quá lời.” Lão lại quay sang nói với Đoàn Dự: “Mộ Dung công tử đi cùng đường với bọn bần đạo, Vương cô nương cũng đồng ý theo luôn. Nếu Đoàn công tử chịu tham gia thì bọn bần đạo cảm kích vô cùng, còn nếu công tử không lưu tâm đến chuyện này thì cứ tùy tiện ra đi.” Lão vừa nói vừa đưa tay ra hiệu tiễn khách.

    Ô Lão Đại ngập ngừng: “Chuyện này… chuyện này…” Hắn thẳng như ruột ngựa, không hiểu ý tứ thâm trầm của Bất Bình đạo nhân. Hắn e rằng Đoàn Dự thấy lão đuổi khách mà bỏ đi, thì bí mật này sẽ bị tiết lộ, lăm le cây quỷ đầu đao toan ngăn trở, đâu có biết rằng, Vương Ngữ Yên đã ở lại thì có đuổi Đoàn Dự cũng không đi.

    Đoàn Dự chỉ di di chân trên mặt đất, đáp lời Bất Bình đạo trưởng: “Đạo trưởng bảo ta đi đâu bây giờ? Trời đất bao la bát ngát mà Đoàn Dự này không có chỗ dung thân. Ta… ta không biết đi đâu nữa.”

    Bất Bình đạo trưởng mỉm cười nói: “Đã thế thì Đoàn công tử cứ đi theo bọn ta, lúc lâm sự thì công tử cứ việc đứng nhìn cũng được, chẳng cần hỗ trợ làm gì.”

    Bất Bình đạo nhân thấy Ô Lão Đại vẫn có ý nghĩ ngờ, thì đưa mắt ra hiệu rồi nói: “Ô Lão Đại! Ngươi đừng cẩn thận quá! Lại đây! Ba mươi sáu vị động chúa, bảy mươi hai vị đảo chúa thì bần đạo mới nghe đại danh đến quá nửa, chưa được gặp mặt ai. Từ nay chúng ta đã chung một kẻ thù, ngươi nên dẫn Mộ Dung công tử, Đoàn công tử cùng bần đạo đi yết kiến mọi người.”

    Ô Lão Đại đáp: “Đương nhiên phải thế!” Rồi hắn gọi tên họ từng người để giới thiệu. Bọn này mỗi người hùng cứ một phương, chưa biết mặt nhau đến quá nửa. Lúc Ô Lão Đại dẫn bọn Mộ Dung Phục đi giới thiệu, chốc chốc lại có người lên tiếng: “Té ra y là động chúa động này.” “Đảo chúa đảo này oai danh lừng lẫy, hôm nay mới được gặp mặt.” Mộ Dung Phục tự hỏi: “Bọn này đã cùng lo đại sự mà sao lại không quen biết nhau, xem chừng bây giờ mới gặp nhau lần đầu.”

    Tổng số có một trăm lẻ tám tay cao thủ, lúc hỗn chiến bị Mộ Dung Phục đánh chết bốn người. Bọn thuộc hạ bốn người này nhìn Mộ Dung Phục đầy vẻ căm hờn, oán thù lộ ra ngoài mặt. Mộ Dung Phục dõng dạc nói: “Tại hạ lỡ tay gia hại mấy vị bằng hữu, trong lòng hối hận, từ đây xin hết sức chuộc lại lỗi lầm. Lúc này chúng ta đang gặp đại địch, vị nào không rộng lượng tha thứ thì hãy tạm gác lại mối thù, chờ khi nào xong việc lớn tại hạ sẽ mời đến Yến Tử Ổ ở Cô Tô để giải quyết.”

    Ô Lão Đại nói: “Hay lắm! Mộ Dung công tử đã nhanh nhẹn lại mau mồm miệng. Các bằng hữu ở đây nên bỏ hết oán thù để chống đại địch trước mắt. Nếu vị nào thiển cận không nghĩ tới mối thù chung, lại nhân cơ hội để báo tư thù, thì đó là hạng người thế nào?” Quần hào đều lớn tiếng nói: “Đó là con người làm hại đến toàn thể, chúng ta phải thanh toán họ trước.” “Giả tỉ bọn mình không trừ được Thiên Sơn Đồng Mỗ thì tính mệnh cũng chẳng còn, nói chi đến chuyện tư thù tư oán.” Có người lại nói: “Ổ gà đã lộn nhào thì chẳng cái trứng nào toàn vẹn. Ô Lão Đại cùng Mộ Dung công tử cứ yên lòng, không ai ngu xuẩn đến thế đâu!” Mộ Dung Phục nói: “Vậy thì hay lắm, tại hạ xin có lời tạ tội. Vị nào đối với tại hạ còn có mối hiềm khích, xin cứ nói ra cho biết.”

    Bất Bình đạo nhân nói: “Ô Lão Đại! Chúng ta đã cùng nhau tham dự việc lớn, cũng như người cùng đi chung một thuyền, phải che chở cho nhau. Thiên Sơn Đồng Mỗ có gì ghê gớm, ngươi nói cho mọi người nghe. Bần đạo phải biết trước mà phòng bị, để khỏi đột ngột mất mạng một cách vô ích.”

    Ô Lão Đại nói: “Các vị động chúa đảo chúa đã muốn tại hạ tạm thời chủ trương kế hoạch, nhưng Ô mỗ tài sơ trí thiển, không đương nổi trọng trách. Nay được các vị Mộ Dung Công tử, Bất Bình đạo trưởng, Kiếm Thần tiên sinh, Phù Dung tiên tử cùng giúp đỡ, trách nhiệm của tại hạ mới nhẹ đi được nhiều.”

    Trong đám đông có tiếng người nói: “Thôi đừng nói dài dòng rắc rối.” Có người nóng nảy thóa mạ: “Con mẹ nó! Bọn mình ruột nóng như lửa đốt, tính mạng treo đầu sợi tóc mà hắn còn rề rà dây cà dây muống. Bọn ta có đến đây để nghe kể chuyện cổ tích đâu?”

    Ô Lão Đại cười nói: “Hồng huynh đệ cứ mở miệng là nói văng mạng.” Rồi hắn ra lệnh: “Khâm đảo chúa đảo Hải Mã! Phiền đảo chúa ra giữ mặt đông nam, nếu có địch nhân đến thám thính thì phát tín hiệu cho anh em. Hoắc động chúa động Tử Nham: Phiền động chúa coi giữ mặt chính tây…” Ô Lão Đại phái tám tay cao thủ ra trấn giữ tám phương vị. Tám người này đều tuân lệnh, dẫn thuộc hạ chia nhau canh giữ.

    Mộ Dung Phục nghĩ thầm: “Tám vị động chúa và đảo chúa này đều là những nhân vật vừa hung hãn vừa kiêu ngạo, thế mà tuân theo hiệu lệnh của Ô Lão Đại một cách mau lẹ. Xem thế thì đủ biết kẻ đối đầu ghê gớm, khiến cho bọn họ khiếp sợ đến cùng cực. Mình đã ưng thuận giúp bọn họ vụ này, chắc là nguy hiểm lắm, hạ thủ phải tàn độc dứt khoát mới được.”

    Lão Đại đợi tám vị đảo chúa động chúa đi xa xa rồi mới nói: “Mời các vị ngồi xuống mà nghe tại hạ thuật lại những nỗi thống khổ của chúng ta.”

    Bao Bất Đồng cười khẩy: “Các vị giết người, đốt nhà, hạ độc, cướp bóc, không chừng còn nhiều hơn thiên hạ ăn cơm. Vị nào cũng hung tàn độc ác, chắc đã làm không biết bao nhiêu người đau khổ, thì còn kêu khổ sở cái gì? Hai chữ thống khổ từ miệng lão huynh nói ra thì nghe không thể xuôi được.” Mộ Dung Phục nói: “Bao tam ca! Tam ca cứ nghe động chúa thuật chuyện là hơn, đừng xen vào làm mất thì giờ!” Bao Bất Đồng ấm ức đáp: “Tại hạ thấy y nói không hợp lý, không chịu được nên có mấy lời nói thẳng mà thôi.” Gã nói thì nói vậy nhưng Mộ Dung Phục đã ngăn cản, nên cũng không nói nhiều nữa.

    Ô Lão Đại đau khổ cười đáp: “Bao huynh nói không sai đâu? Ô mỗ tuy bản lĩnh tầm thường nhưng tính khí lại quật cường, chỉ có mình áp bức người chứ chẳng để ai áp bức mình. Ngờ đâu, hỡi ôi!…”

    Lão Đại vừa than một tiếng “Hỡi ôi” thì bên cạnh cũng có tiếng người than “Hỡi ôi!”, nghe vừa thê lương vừa vang dội hơn nhiều. Mọi người quay lại thì thấy Đoàn Dự hai tay chắp sau lưng, ngửng mặt lên trời ngâm thơ thưởng nguyệt: “Mặt trăng trong sáng, Người đẹp đoan trang, Mà ta sầu não, Không thể không phiền”. Đây là bài Nguyệt Xuất trong Kinh Thi, chung quanh hầu hết là những tay võ biền vô học thì làm sao hiểu được? Mọi người bị chàng cắt đứt câu chuyện, đều trợn mắt lên nhìn đầy vẻ căm tức.

    Vương Ngữ Yên hiểu ý, nhưng chỉ sợ biểu huynh phiền lòng, liền đưa mắt liếc trộm Mộ Dung Phục. Nàng thấy y chỉ chăm chú nhìn Ô Lão Đại, chẳng để ý gì đến Đoàn Dự ngâm thơ, mới thấy yên lòng.

    Ô Lão Đại lại kể tiếp: “Mộ Dung công tử cùng các vị Bất Bình đạo trưởng lúc này đã là người một nhà, ta có nói ra cũng không sợ các vị chê cười. Bọn đảo chúa động chúa chúng ta tiêu dao nơi hải ngoại, ai cũng tưởng là tự do thoải mái lắm. Nhưng thực ra ai cũng bị mụ Thiên Sơn Đồng Mỗ quản thúc, nói thẳng ra là nô lệ của mụ. Năm nào cũng có một hai lần mụ phái người đến trách mắng vuốt mặt không kịp, chẳng khác gì mắng chó mắng mèo, người nhẫn nại đến đâu cũng không chịu nổi. Chắc là Bao huynh tưởng chúng ta bị mụ thóa mạ thì phải căm giận lắm, nhưng không phải đâu. Mụ phái người đến mắng chửi càng thậm tệ bao nhiêu thì chúng ta càng lấy làm sung sướng bấy nhiêu…”

    Bao Bất Đồng không nhịn nổi liền cắt lời: “Kỳ thật! Sao trong thiên hạ lại có hạng người hèn nhát đến thế, bị mắng chửi nhục nhã mà lại lấy làm sung sướng ư?”

    Ô Lão Đại nói: “Bao huynh chưa hiểu. Động nào đảo nào mà phúc đức được mụ phái người đến mắng chửi cho một chặp, coi như qua khỏi một năm tai nạn, đều mở yến tiệc mấy ngày để mừng được bình yên. Hỡi ôi! Làm con người mà phải chịu nhục nhã đến thế thì quả là hèn mạt thật! Giả tỉ sứ giả của Đồng Mỗ phái đến mà không chửi chúng ta là đồ mất dạy, đồ khốn kiếp, hoặc đào bới đến tổ tiên mười tám đời ra mà thóa mạ, thì còn khổ sở hơn nữa. Bao huynh nên biết rằng nếu mụ không phái người đến chửi mắng thì cũng có nghĩa là sẽ phái người đến đánh đập. Ai bị đánh ba chục côn lớn mà may mắn không gãy cái xương nào thì cũng bày tiệc ăn mừng”

    Bao Bất Đồng cùng Phong Ba Ác đưa mắt nhìn nhau, cùng ráng nhịn để không cười rộ lên. Đã bị đánh đập đến mấy chục côn mà còn mở tiệc ăn mừng, thật là chuyện ly kỳ cổ kim chưa ai nói đến. Thế nhưng Ô Lão Đại nói bằng một giọng rất thê lương, người chung quanh đều nghiến răng căm tức, dường như đó là chuyện thực.

    Đoàn Dự nhìn Vương Ngữ Yên, thấy nàng chăm chú nghe Ô Lão Đại thuật chuyện mà nét mặt lộ vẻ sợ hãi, bất giác chàng cũng để tai nghe hắn nói gì.

    Chàng vừa nghe mấy câu đã không nhịn được, vỗ đùi hỏi: “Có lý nào thế được? Có lý nào thế được? Mụ Thiên Sơn Đồng Mỗ này là thần tiên hay là yêu ma quỷ quái? Mụ càn rỡ đến thế thì ra khinh người quá đáng ư?”

    Lão Đại nói: “Đoàn công tử nói phải lắm! Mụ Đồng Mỗ chẳng những khinh khi chúng ta, mà còn ngược đãi không bằng chó lợn. Mụ không chỉ đánh bằng roi vọt, lại còn đóng đinh vào lưng chúng ta. Tư Mã đảo chúa! Xin đảo chúa cho mấy vị bằng hữu coi chỗ vết thương bị đánh bằng mãng tiên.”

    Một lão già gầy như que củi lên tiếng: “Thật là hổ thẹn!”, rồi cởi áo ra, trên lưng có năm lằn ngang sáu lằn dọc sâu hoắm, tựa hồ bên trong vẫn còn rỉ máu, ai trông thấy cũng phải ghê rợn, hiểu rằng lúc lão chịu đòn chắc phải đau đớn đến cùng cực. Một đại hán mặt đen lớn tiếng nói: “Thế đã thấm vào đâu. Xin các vị coi lưng tại hạ bị đóng đinh.” Hắn vừa nói vừa cởi áo ra, thấy ba cây đinh sắt to tưởng dài đến bảy tấc đóng vào lưng hắn. Đầu đinh đã rỉ ra, chứng tỏ hắn bị cực hình đã lâu rồi, không hiểu sao không nghĩ cách nhổ đinh ra. Lại thấy một nhà sư lên tiếng: “Thảm hình của thí chủ có lẽ chưa bằng tiểu tăng.” Nhà sư nói xong vén vạt áo tăng bào lên, mọi người nhìn thấy trên hông lão có một sợi dây sắt xỏ qua lỗ xương tỳ bà, cột thông lên đến cổ tay. Chỉ cần cổ tay nhà sư khẽ động đậy một chút là đã chạm đến xương tỳ bà, đau thấu ông bà ông vải!

    Đoàn Dự kêu lên: “Hỏng bét, hỏng bét! Sao thiên hạ lại có hạng người độc ác ghê gớm đến thế? Ô Lão Đại! Đoàn Dự này quyết tâm ra sức, chúng ta đồng tâm hiệp lực trừ cái họa lớn này cho võ lâm.”

    Ô Lão Đại nói: “Đa tạ Đoàn công tử có lòng trượng nghĩa giúp đỡ.” Hắn lại quay sang nói với Mộ Dung Phục: “Những người tụ hội ở đây không một ai là chưa bị mụ Đồng Mỗ áp bức hành hạ. Bọn tại hạ gọi đây là Vạn Tiên đại hội chẳng qua là tự dát vàng lên mặt, phải gọi là Bách Quỉ đại hội mới dành chính ngôn thuận. Chúng ta chỉ như cô hồn dã quỉ chịu tội dưới A Tì địa ngục, ai cũng sợ thủ đoạn ghê gớm của mụ, nên đành nuốt giận nhẫn nại cho qua ngày tháng. Ông trời có mắt, lão tặc bà tàn ác một đời, ắt phải có ngày đền tội.”

    Mộ Dung Phục bèn hỏi: “Các vị bị Thiên Sơn Đồng Mỗ áp chế mà chưa phản kháng, phải chăng võ công mụ cao cường tuyệt đỉnh, các vị động thủ với mụ lần nào cũng thất bại?” Ô Lão Đại đáp: “Võ công mụ ác tặc này dĩ nhiên là lợi hại phi thường. Có điều bản lĩnh mụ cao thâm đến mức nào thì không ai hiểu được.” Mộ Dung Phục hỏi: “Cao thâm khôn lường ư?” Ô Lão Đại gật đầu đáp: “Cao thâm khôn lường.” Mộ Dung Phục hỏi: “Các hạ nói mụ phải có ngày đền tội nghĩa là làm sao?”

    Lão Đại nhướng mày lên, tinh thần phấn khởi đáp: “Hôm nay huynh đệ tại hạ tụ họp ở đây chính là vì việc này. Ngày mùng ba tháng ba năm nay, tại hạ cùng Hoắc động chúa động Tử Nham, Khâm đảo chúa đảo Hải Mã phải cung phụng đủ thứ, nào trân châu bảo bối, nào gấm đoạn lượt là, nào sơn hào hải vị, nào các thứ phấn sáp, đưa lên ngọn Phiêu Diểu núi Thiên Sơn…” Bao Bất Đồng cười ha hả ngắt lời: “Mụ ác tặc đó đã là con quỷ già, còn dùng phấn sáp làm chi?” Ô Lão Đại đáp: “Mụ đã già, nhưng thị nữ nô bộc rất nhiều, chắc có kẻ thích dùng phấn sáp. Nhưng trên núi không có nam nhân, chẳng hiểu chúng trang điểm cho ai nhìn?” Bao Bất Đồng cười nói: “Chắc là để Ô tiên sinh ngắm chứ còn ai nữa?”

    Ô Lão Đại nghiêm mặt nói: “Bao huynh lại nói giỡn rồi! Bọn tại hạ lên tới ngọn Phiêu Diểu thì ai nấy phải dùng vải đen bịt mắt lại hết, chỉ được nghe chứ không được nhìn. Người trên ngọn Phiêu Diểu đẹp hay xấu, già hay trẻ, không ai biết cả.”

    Mộ Dung Phục hỏi: “Như vậy thì Thiên Sơn Đồng Mỗ là người như thế nào, các vị đã ai nhìn thấy mặt chưa?” Ô Lão Đại thở dài đáp: “Kể ra thì có người thấy rồi, nhưng lại bị cực hình rất thê thảm! Trước đây hai mươi ba năm có người cả gan vén tấm khăn đen che mặt để nhìn mụ, chưa kịp kéo khăn xuống thì đã bị mụ móc cả hai mắt, còn sai cắt lưỡi, chặt cụt hai tay.” Mộ Dung Phục hỏi: “Mụ chọc mù mắt là đủ rồi, còn cắt lưỡi chặt tay làm gì nữa?” Ô Lão Đại đáp: “Chắc là mụ không muốn người đó tiết lộ chân tướng mụ với ai, cắt lưỡi để không nói được, chặt tay để không viết chữ hoặc vẽ hình mụ được.” Bao Bất Đồng lắc đầu lè lưỡi nói: “Ghê quá, ghê quá!”

    Ô Lão Đại lại kể tiếp: “Tại hạ cùng bọn Hoắc động chúa, Khâm đảo chúa cả thảy chín người lên ngọn Phiêu Diểu thì ai nấy đều nơm nớp sợ mất mạng. Ba năm trước, mụ có dặn phải chuẩn bị một ít dược vật, có mấy thứ rất hiếm như trứng rùa ba trăm năm, sừng hươu dài đến năm thước, không tài gì tìm được. Thế nhưng bọn tại hạ phải tìm kiếm bằng bất cứ giá nào, nếu không muốn chuốc lấy cái họa sát thân. Ngờ đâu chín người run rẩy đưa vật phẩm lên rồi, mụ chỉ sai người ra nói: “Bấy nhiêu là đủ rồi, đuổi cổ bọn đê tiện ấy xuống núi”. Bọn tại hạ khác nào được đức hoàng thượng hạ chiếu phóng xá, nỗi mừng biết lấy chi cân, lập tức đưa nhau xuống núi. Ai cũng nghĩ ra khỏi nơi nguy hiểm này sớm được khắc nào hay khắc ấy, nhưng trong lòng vẫn lo ngay ngáy, sợ mụ lão tặc kiểm tra phẩm vật thấy không đầy đủ, sẽ bắt lại trị tội… Chín người bọn tại hạ xuống đến chân núi Phiêu Diểu, mở khăn bịt mặt ra thì thấy dưới chân núi có ba người chết. Trong đó có một người Hoắc động chúa quen mặt, là một cao thủ tại Nhất Phẩm Đường nước Tây Hạ, tên gọi Cửu Dực đạo nhân.”

    Bất Bình đạo nhân “Ái chà” một tiếng rồi nói:  “Té ra Cứu Dực đạo nhân bị lão tặc bà này sát hại. Thế mà trên giang hồ nhiều người đồn rằng nhà Mộ Dung ở Cô Tô đã hạ độc thủ” Bao Bất Đồng không nhịn được, chửi luôn: “Thúi lắm, thúi lắm! Chúng ta chả biết Đạo nhân chín cánh hay Hòa thượng tám đuôi gì ráo, thế mà họ lại đem món nợ này đổ lên đầu.” Câu “Thúi lắm” là gã mắng bọn đồn đại trên giang hồ, chứ không phải mắng Bất Bình đạo nhân, nhưng ai nghe cũng thấy chướng tai. Bất Bình đạo nhân không ra vẻ tức tối, lại tủm tỉm cười nói: “Cây lớn thường gặp gió dữ, ai cũng nghĩ tới nhà Mộ Dung Cô Tô.” Bao Bất Đồng nói: “Thúi…” Gã mới buột miệng ra một tiếng “thúi”, liếc mắt nhìn Mộ Dung Phục rồi ngừng lại không nói nữa. Bất Bình đạo nhân nói móc: “Sao Bao huynh chỉ nói có một tiếng rồi lại nuốt vào bụng ngay?” Bao Bất Đồng vừa nghe đã biết là lão nói xỏ, liền nổi giận đùng đùng quát hỏi: “Cái gì? Ngươi mắng ta nuốt thúi ư?” Bất Bình đạo nhân cười cười đáp: “Không dám! Bao huynh muốn nuốt gì thì cứ việc nuốt.”

    Bao Bất Đồng hậm hực muốn thóa mạ lão, nhưng Mộ Dung Phục đã gạt đi: “Trên đời thường có rất nhiều tiếng khen chê vô căn cứ, Bao tam ca để ý làm gì?” Rồi y quay lại hỏi Bất Bình đạo nhân: “Tại hạ nghe nói khinh công của Cửu Dực đạo nhân rất cao, mà tuyệt kỹ Nhất Thủ Lôi Công Đáng của y ba mươi năm nay cũng hiếm có địch thủ. Y cùng tại hạ trước nay chưa hề thù oán gì, mà dù có thù oán thì tại hạ cũng chưa chắc thắng được Củu Dực đạo trưởng, một nhân vật đã được thiên hạ tặng cho ngoại hiệu là Lôi Động Vu Cửu Thiên Chi Thượng.”

    Bất Bình đạo nhân mỉm cười nói: “Mộ Dung công tử quá khiêm nhượng rồi. Tuy Cửu Dực đạo nhân có tuyệt nghệ Sấm Động Chín Tầng Mây, nhưng Mộ Dung công tử trả lại cho y một chiêu Sấm Động Chín Tầng Mây, thì y cũng phải đứng đó chờ sét đánh chết mà thôi.”

    Ô Lão Đại nói: “Trong mình Cửu Dực đạo nhân có hai vết thương đều do mũi kiếm đâm vào. Trên giang hồ đồn đại y chết về tay nhà Mộ Dung Cô Tô, thật là hoang đường. Chính mắt tại hạ đã thấy thì còn sai sao được, giả tỉ là Mộ Dung công tử hạ thủ Cửu Dực đạo nhân thì phải dùng Lôi Công Đáng chứ!”.

    Bất Bình đạo nhân hỏi: “Y chết vì kiếm ư? Mà lại có tới hai vết thương thì thật là kỳ lạ!” Ô Lão Đại vỗ đùi đánh đét một tiếng, trầm trồ khen ngợi: “Bất Bình đạo trưởng quả nhiên danh bất hư truyền, vừa nghe đã thấy chỗ không hợp lý. Cửu Dực đạo nhân chết ở chân núi Phiêu Diểu, trong mình hai chỗ kiếm thương thì không hợp lý.”.

    Mộ Dung Phục tự hỏi: “Sao lại không hợp lý? Sao Bất Bình đạo nhân nghi ngờ mà mình lại nghĩ không ra?” Y nghĩ vậy, bất giác lộ vẻ ngơ ngác ra mặt.

    Ô Lão Đại bèn hỏi thử Mộ Dung Phục một câu: “Mộ Dung công tử có thấy như vậy là không hợp lý không?” Mộ Dung Phục không muốn miễn cưỡng nói bừa, toan đáp: “Cái đó tại hạ không hiểu” thì thốt nhiên Vương Ngữ Yên nói: “Chắc là Cửu Dực đạo nhân bị một vết thương giữa hai huyệt Phong Thị và Phục Thổ bên chân phải, còn một mũi kiếm nữa đâm đứt xương sống ở huyệt Huyền Khu ở sau lưng, chẳng hiểu có đúng thế không?”

    Ô Lão Đại cả kinh hỏi: “Lúc ấy cô nương cũng ở dưới chân núi Phiêu Diểu ư? Thế sao bọn tại hạ không… không thấy cô nương?” Thanh âm lão run run chứng tỏ đang sợ hãi vô cùng, giả tỉ lúc đó Vương Ngữ Yên có mặt thì chắc chắn nàng đã thấy hết những hành động sau đó của hắn, bí mật hắn đã bị tiết lộ rồi. Hắn lẩm bẩm: “Mình còn chưa khởi sự thì không chừng Thiên Sơn Đồng Mỗ đã biết trước.”

    Giữa đám đông lại có tiếng lắp bắp hỏi: “Sao cô nương lại… biết mà… tại hạ… không thấy…” Người này đã nói lắp, trong lúc vội vàng lại càng không rõ. Y cũng là một trong chín cao thủ đi theo Ô Lão Đại lên núi Phiêu Diểu để dâng lễ vật hồi tháng ba. Tuy mồm miệng vụng về những võ công của y rất lợi hại, nên dù y nói năng lắp bắp mà chẳng ai dám cười..

    Vương Ngữ Yên lạnh lùng nói: “Mùa xuân năm nay ta ở Giang Nam. Thiên Sơn lại thuộc Tây Vực, ta cũng chưa đến đó bao giờ.”

    Ô Lão Đại lại càng sợ hãi, nghĩ thầm: “Nếu cô này không được mục kích, thì tức là có người đưa tin đến, việc này đã đồn đại ra giang hồ rồi ư?” Nghĩ vậy y liền hỏi: “Cô nương nghe ai nói mà biết?”

    Vương Ngữ Yên đáp: “Ta đoán vậy thôi. Cửu Dực đạo nhân là một cao thủ ở Lôi Điện Môn, mỗi khi cùng ai động thủ liền thi triển khinh công, tay trái dùng thiết bài múa bốn mươi hai đường Thục Đạo Nan Bài Pháp để che đỡ trước ngực, sau lưng, bên hữu hạ bàn đều kín đáo như lồng sắt, đối phương khó lòng hạ thủ được. Cửu Dực đạo nhân chỉ có một chỗ sơ hở là mé hữu hạ bàn, đối phương dùng kiếm mà muốn đả thương y tất phải đâm vào khoảng giữa hai huyệt đạo Phong Thị và Phục Thổ ở đùi bên phải. Khi kiếm của đối phương đâm trúng chỗ này, Cửu Dực đạo nhân tất giơ thiết bài lên đỡ ngực, đồng thời sử chiêu Xuân Lôi Sa Động để đập vào bên trái đối phương, nhưng đối phương đã là cao thủ thì sẽ nhân cơ hội này chém vào lưng y. Ta đoán nếu hung thủ không dùng thế Bạch Hồng Quán Nhật thì cũng dùng thế Bạch Đế Trảm Xà, chém trúng Cửu Dực đạo nhân vào huyệt Huyền Khu trên xương sống. Cửu Dực đạo nhân phòng thủ chắc chắn, khó mà chém y bị thương được. Ai dùng phán quan bút hoặc khí giới ngắn để điểm huyệt thì tương đối dễ hơn, nhưng đã dùng kiếm thì phải ra hai chiêu đó mới hiệu nghiệm.”

    Ô Lão Đại thở ra một cái, nhẹ nhõm như trút được gánh nặng trong lòng. Hồi lâu hắn mới giơ ngón tay cái lên nói: “Khâm phục! Người nhà Mộ Dung ở Cô Tô thiệt không ai kém kiến thức. Cô nương phân tích hợp lý như chính mắt mình trông thấy.”

    Đoàn Dự không nhịn được, lên tiếng nói: “Vị cô nương họ Vương đây không phải là…” Vương Ngữ Yên mỉm cười nói: “Cô Tô Mộ Dung với ta là thân thích, gọi ta là người nhà Mộ Dung cũng không sai.” Đoàn Dự thấy trước mắt tối sầm lại, người chàng lảo đảo, bên tai vọng đi vọng lại câu nói “gọi ta là người nhà Mộ Dung cũng không sai” của Vương Ngữ Yên.

    Người nói lắp lên tiếng: “Té ra… như…” Ô Lão Đại không chờ y nói hết câu đã ngắt lời: “Cửu Dực đạo nhân đó bị thương đúng như Vương cô nương đoán. Y bị một vết đâm ở khoảng giữa hai huyệt Phong Thị và Phục Thổ, và bị kiếm chém đứt một đốt xương sống ở huyệt Huyền Khu.” Y cũng chưa yên tâm, bèn mở miệng hỏi gặn: “Cô nương suy đoán theo đạo lý võ học chứ chẳng phải mắt thấy tai nghe ư?” Vương Ngữ Yên gật đầu, “Vâng” một tiếng.

    Người nói lắp lại hỏi: “Giả tỉ bây giờ cô nương… muốn giết… Ô Lão Đại… thì làm thế nào?” Ô Lão Đại nghe y hỏi Vương Ngữ Yên cách giết mình thì nổi giận quát lớn: “Sao ngươi dám hỏi câu này?”

    Nhưng rồi hắn lại nghĩ: “Cô này tuy hiểu rộng về võ học, nhưng dẫu sao cũng còn nhỏ tuổi, thực không thể tin là cô đoán về cái chết của Cửu Dực đạo nhân tuyệt diệu đến thế. Biết đâu cô ta ẩn núp ở chỗ nào dưới chân núi Phiêu Diểu, chính mắt trông thấy hung thủ ra tay. Việc này quan hệ rất lớn, ta phải hỏi cho rõ mới được.” Hắn bèn cất tiếng hỏi: “Được lắm. Xin cô nương cho biết, muốn giết tại hạ thì làm thế nào?”

    Vương Ngữ Yên tủm tỉm cười, ghé vào tai Mộ Dung Phục nói nhỏ: “Biểu huynh! Lão này sở hở ở huyệt Thiên Tôn sau vai và huyệt Thanh Lãnh Uyên khuỷu tay. Biểu huynh xuất thủ đánh vào hai chỗ đó thì kiềm chế được lão ngay.”

    Trước mặt mấy trăm cao thủ, làm sao Mộ Dung Phục dám để một cô thiếu nữ chỉ điểm cho mất thể diện? Y hắng giọng rồi dõng dạc nói: “Ô động chúa đã hỏi, thì biểu muội, cứ việc đàng hoàng nói ra cũng chẳng hề chi.” Vương Ngữ Yên thẹn đỏ mặt lên, nghĩ thầm: “Bản ý mình là muốn tốt cho y, ai ngờ y lại giữ phong độ đại trượng phu khiến mình phải lúng túng.” Nàng liền đáp: “Biểu huynh! Nhà Mộ Dung ở Cô Tô hiểu biết các môn võ khắp thiên hạ, biểu huynh nói cho Ô Lão Đại nghe đi!”.

    Nhưng Mộ Dung Phục vốn tính cao ngạo không chịu nghe nàng chỉ điểm. Y quay sang Ô Lão Đại nói: “Ô động chúa võ công cao cường, đả thương động chúa không phải chuyện dễ dàng. Xin động chúa kể tiếp chuyện ở dưới chân núi Phiêu Diểu.”

    Ô Lão Đại nhất quyết điều tra có ai ẩn nấp dưới chân núi Phiêu Diểu vào lúc đó không, liền nói: “Vương cô nương! Cô nương đã không biết cách sát hại Ô mỗ, thì dĩ nhiên những lời cô nương vừa phân tích cách hạ sát Cửu Dực đạo nhân chỉ là giả dối để tự khoe hoặc để đùa giỡn mà thôi. Ô mỗ xin hỏi lại: Tại sao cô nương biết Cửu Dực đạo nhân táng mạng thế nào? Cô nương nên nói thực đi, chuyện này quan hệ rất lớn, không thể giỡn chơi được.”

    Từ lúc Vương Ngữ Yên chạy qua bên mình Mộ Dung Phục, Đoàn Dự vẫn để hết tâm trí vào nàng. Từng ánh mắt nàng âu yếm nhìn Mộ Dung Phục chàng cũng thấy, từng lời nàng kề tai nói nhỏ với Mộ Dung Phục chàng đều nghe rõ vì nội công chàng rất thâm hậu. Bây giờ Đoàn Dự nghe Ô Lão Đại ra giọng nghi ngờ Vương Ngữ Yên nói dối, chàng khó chịu vô cùng, khi nào chịu để kẻ khác đem lời khinh mạn vị thiên thần trong lòng mình? Đoàn Dự không nói gì, bước xéo chân phải, thi triển Lăng Ba Vi Bộ đánh võng vòng vèo ra phía sau Ô Lão Đại.

    Ô Lão Đại cả kinh quát lên: “Ngươi làm gì…”. Đoàn Dự giơ tay phải ra đặt, vào huyệt Thiên Tôn ở vai phải Ô Lão Đại, tay trái nắm lấy huyệt Thanh Lãnh Uyên ở khuỷu tay trái hắn. Hai huyệt đạo này là chỗ nhược của Ô Lão Đại, hễ bị đánh trúng tất phải trọng thương. Khi hai bên tỉ đấu thì cần nhất là giữ kín những nhược điểm không để đối phương biết, nếu bị đánh trúng vào chỗ khác, thương thế dĩ nhiên nhẹ hơn. Đoàn Dự xuất thủ chẳng theo chiêu thức nào hết, nhưng một là bộ pháp rất tinh diệu, chàng lướt đến phía sau mà lão không kịp đề phòng, hai là Vương Ngữ Yên đã hiểu rõ võ công Ô Lão Đại, biết hai huyệt đạo này là nhược điểm của hắn, đối phương chỉ cần ấn mạnh một cái là Ô Lão Đại sẽ thành phế nhân. Thực ra Đoàn Dự nội lực thâm hậu nhưng không thể tùy ý phát huy, dù chàng có nắm được hai chỗ nhược điểm của Ô Lão Đại cũng chẳng làm gì hắn được. Nhưng Ô Lão Đại đã bị Đoàn Dự nắm trúng yếu điểm, làm sao còn dám hung hăng? Hắn gượng cười nói: “Đoàn công tử võ công thần diệu, Ô mỗ kính phục vô cùng!” Đoàn Dự đáp: “Tại hạ chẳng biết chút võ công nào, hoàn toàn nhờ Vương cô nương chỉ điểm mà thôi.” Chàng nói xong liền buông tay ra, từ từ đi về chỗ cũ.

    Ô Lão Đại vừa kinh ngạc vừa sợ hãi, đứng ngẩn ra một lúc rồi nói: “Bữa nay Ô mỗ mới biết trời đất vô cùng, chưa chắc võ công Thiên Sơn Đồng Mỗ đã là đệ nhất thiên hạ!” Hắn nhìn theo Đoàn Dự, vẻ mặt vẫn còn kinh sợ.

    Bất Bình đạo nhân nói: “Ô Lão Đại! Ngươi đã được những bậc cao nhân bản lĩnh kinh người giúp đỡ, thực là đáng mừng!” Ô Lão Đại gật đầu nói: “Vâng, vâng! Chúng ta thêm được mấy phần thắng lợi.” Bất Bình đạo nhân nói: “Cửu Dực đạo nhân trúng kiếm hai chỗ mới uổng mạng, chắc không phải là nhân vật trong cung Linh Thứu núi Phiêu Diểu hạ thủ đâu.”

    Ô Lão Đại nói: “Đúng lắm! Tại hạ vừa thấy đạo nhân bị hai vết kiếm thương, cũng nghĩ giống như đạo trưởng. Thiên Sơn Đồng Mỗ không thích đi xa, người thường chẳng có ai dám bén mảng đến chu vi trăm dặm quanh núi Phiêu Diểu đâu, bởi thế mà mụ ít khi có dịp thi triển võ công. Tại hạ cũng biết có lần mụ phải sai người dẫn dụ mấy tay cao thủ đến núi Phiêu Diểu để hạ thủ giết chơi. Bởi thế quanh núi Phiêu Diểu trăm dặm, nếu có ai chết thì chắc chắn do chính mụ ra tay, mà trước nay mụ giết người thì chỉ một chiêu là lấy mạng ngay, không khi nào lại phóng liền hai chiêu vào đối phương cả.”

    Mộ Dung Phục nghe vậy cả kinh, nghĩ thầm: “Môn Gậy ông đập lưng ông của nhà Mộ Dung ta đã là một bản lĩnh kinh người trong võ lâm. Thế mà tại cung Linh Thứu trên đỉnh Phiêu Diểu núi Thiên Sơn còn có nhân vật ghê gớm hơn nhiều, giết người không cần đến chiêu thứ hai thì ghê gớm thật. Mình không tin nổi trên đời có người bản lĩnh tuyệt diệu đến thế!”

    Bao Bất Đồng không được thâm trầm kín đáo như Mộ Dung Phục, hễ không tin là hỏi ngay: “Ô động chúa! Ngươi nói Thiên Sơn Đồng Mỗ muốn giết người không bao giờ cần đến chiêu thứ hai, chắc là đối với hạng võ công tầm thường thôi. Chẳng lẽ lão cũng chỉ dùng một chiêu mà hạ sát được những tay cao thủ tuyệt luân ư? Toàn là chuyện bịa, không thể tin được.”

    Lão Đại đáp: “Bao huynh không tin thì tại hạ cũng không biết nói sao. Nhưng bọn ta đều phải chịu mụ Thiên Sơn Đồng Mỗ ức hiếp khinh khi, bảo sao nghe vậy không dám hé răng chống đối. Giả tỉ mụ không có tài năng siêu việt thì sao ba mươi sáu động, bảy mươi hai đảo đều phải nhịn nhục chẳng hề hó hé? Sao bọn ta chịu làm nô lệ hết năm này qua năm khác, không ai dám sinh lòng đối kháng?”

    Bao Bất Đồng gật đầu nói: “Chắc là bên trong có điều cổ quái, nếu không thì vị tất các vị lão huynh cam tâm làm tôi mọi cho mụ.” Tuy gã biết Ô Lão Đại nói hợp lý, nhưng vẫn cãi chơi: “Sai bét, sai bét! Ô động chúa bảo không ai dám sinh lòng chống đối, nhưng hiện giờ mọi người chẳng những sinh lòng chống đối mà còn mưu đồ phản nghịch nữa.”

    Ô Lão Đại đáp: “Vụ này đương nhiên cũng có lý do. Hôm đó tại hạ thấy Cửu Dực đạo nhân bị hai vết thương liền sinh nghi, xem đến hai xác chết kia thì cũng không phải một chiêu mà mất mạng ngay, rõ ràng họ đã trải qua một cuộc ác đấu, bị nhiều vết thương khắp trên người. Lúc đó tại hạ thương nghị cùng mấy vị bằng hữu họ Hoắc, họ Khâm, nêu ra nghi vấn: Bọn Cửu Dực đạo nhân ba người có phải đã bị nhân vật trong cung Linh Thứu hạ sát không? Nếu không phải thì ai đã dám cả gan gây chuyện động trời này ngay dưới chân núi Phiêu Diểu? Bọn tại hạ tuy trong lòng mờ mịt mà cũng phải đi cho lẹ. Đi thêm mấy dặm, An động chúa đột nhiên cất tiếng hỏi: Chẳng lẽ… lão phu nhân… mắc…?” Mộ Dung Phục thấy y bắt chước kiểu nói lắp thì nghĩ thầm: “Chắc hẳn tên nói lắp đó chính là An động chúa!”

    Ô Lão Đại kể tiếp: “Bọn tại hạ rời núi Phiêu Diểu chưa xa mấy, mà dù có ở ngoài vạn dặm cũng chẳng ai dám bất kính khi đề cập đến mụ lão tặc đó, vẫn gọi mụ là lão phu nhân. Lúc An huynh đệ đang nói dở câu thì mọi người chẳng ai bảo ai đều buột miệng tiếp lời: … mắc bệnh ư?”

    Bất Bình đạo nhân hỏi: “Không hiểu mụ Đồng Mỗ đã bao nhiêu tuổi?” Vương Ngữ Yên nhỏ nhẹ nói: “Chắc bà ta không thể còn trẻ được.” Đoàn Dự vội đáp: “Đúng thế, đúng thế! Danh hiệu mụ đã có chữ Mỗ, dĩ nhiên không còn trẻ. Ôi chao, không phải rồi! Giả tỉ sau này cô nương có tự xưng là Mỗ Mỗ thì chắc trông vẫn tươi trẻ như thường” Chàng thấy Vương Ngữ Yên đang chăm chú nghe Ô Lão Đại, không để ý đến mình nói gì thì mất cả hứng thú, bèn nghĩ: “Giả tỉ ta để tâm lắng nghe gã Ô Lão Đại này kể, mà lúc đó Vương cô nương hạ cố hỏi đến ta, ta không biết để trả lời thì quả là phí cả cơ hội ngàn năm một thuở.”

    Ô Lão Đại đáp: “Tuổi tác của Đồng Mỗ thì chẳng ai biết rõ. Bọn tại hạ ở dưới quyền mụ, kẻ ít cũng một hai chục năm mà người nhiều thì đến ba bốn chục năm rồi, chỉ trừ mấy vị ở Vô Lượng Động là mới qui thuộc về Linh Thứu Cung. Nhưng chưa một ai được thấy mặt mụ, mà cũng chẳng ai hỏi đến tuổi mụ cả.”

    Đoàn Dự nghe đến đây, nhớ tới mình cùng động chúa Vô Lượng Động đã có biết nhau, nhìn tứ phía thử xem thì thấy Tân Song Thanh đang đứng đằng xa, tựa vào một tảng đá, cúi đầu trầm ngâm có vẻ lo lắng.

    Ô Lão Đại nói tiếp: “Bọn tại hạ đều nghĩ rằng ai cũng phải chết. Dù Đồng Mỗ bản lĩnh có ghê gớm đến đâu chăng nữa, thì cũng chưa tu luyện thành tinh hay thành con người kim cương bất hoại. Chuyến này bọn tai hạ lên núi Phiêu Diểu dâng phẩm vật không được đầy đủ, Đồng Mỗ không trách phạt đã là chuyện lạ. Lúc ra về xuống đến chân núi, lại thấy bọn Cửu Dực đạo nhân bị hạ sát có nhiều vết thương chứ không phải một, càng khiến bọn tại hạ thêm lòng ngờ vực. Nói tóm lại bên trong vụ này tất có điều gì bí ẩn phi thường.”

    “Bọn tại hạ đều nghĩ giống nhau, nhưng người này chỉ nhìn người kia, chẳng ai dám mở miệng nói gì. Người thì vừa kinh ngạc vừa mừng thầm, có người âu sầu buồn bã. Ai cũng biết rằng đây là cơ hội để phá xiềng xích làm lại cuộc đời, nhưng Đồng Mỗ cai trị bọn tại hạ quá nghiêm khắc, chẳng có ai dám đề nghị đi do thám cho biết rõ thực hư. Lâu lắm, Khâm huynh đệ mới lên tiếng: An nhị ca đoán rất có lý. Nhưng… nhưng việc này rất nguy hiểm, theo ý kiến tiểu đệ thì chúng ta hãy quay về nhà bình tĩnh chờ đợi tin tức. Khi nào được tin xác thực, bấy giờ sẽ liệu cũng chưa muộn.”

    “Khâm huynh đệ là người lão thành trì trọng, kể ra thì ý kiến của y rất chu đáo, nhưng… bọn tại hạ nóng ruột quá, không chờ đợi được. An động chúa lại nói: “Sinh Tử… Phù…”, không cần nói hết mà mọi người cũng hiểu ngay. Lão ác bà nắm giữ đạo bùa sinh tử về tính mạng bọn tại hạ nên không ai dám phản kháng. Giả tỉ mụ có lâm trọng bệnh chết đi thì Sinh Tử Phù lại sang tay người thứ hai, đương nhiên bọn tại hạ lại làm nô lệ cho người đó. Nếu tên này mà tàn độc hơn mụ Đồng Mỗ thì bọn tại hạ lại phải chịu cảnh nhục nhã tệ hại hơn cả bây giờ. Tình trạng lúc đó như dây cung đã giương lên, không phóng tên ra không được. Bọn tại hạ cũng biết cuộc do thám này nguy hiểm phi thường, nhưng không ráng khám phá ra sự thật thì cũng không xong.”

    “Trong bọn tại hạ, nói về võ công và cơ trí thì An động chúa là số một, nhất là khinh công của y lại càng xuất sắc hơn nhiều”.

    Lúc ấy cả tám người đều đưa mắt nhìn An động chúa. Mộ Dung Phục, Vương Ngữ Yên, Đoàn Dự, Đặng Bách Xuyên cùng những người chưa biết mặt mũi An động chúa đều đảo mắt nhìn xem vị động chúa nói lắp này trông như thế nào. Vừa rồi Ô Lão Đại dẫn bọn Mộ Dung Phục cùng Bất Bình đạo nhân đến ra mắt các vị động chúa, đảo chúa, nhưng không thấy An động chúa trong số đó.

    Ô Lão Đại mỉm cười nói: “An động chúa tính ưa thanh tĩnh, không thích kết giao, xin các vị miễn trách. Lúc ấy mọi người đều muốn y đi xem động tĩnh ra sao. An động chúa liền nói: “Đã như thế thì không có lý nào tại hạ lại khước từ, xin đi thám thính”.

    Mọi người đều biết An động chúa không nói được trơn tru như thế, nhưng Ô Lão Đại không thuật theo giọng nói của y vì sợ mọi người buồn cười, vừa rồi y không chịu ra mắt bọn Mộ Dung Phục cùng Bất Bình đạo nhân hẳn cũng vì lẽ đó.

    Ô Lão Đại kế tiếp: “Bọn tại hạ chờ đợi nóng ruột cực kỳ khổ sở, quả là ba thu gom lại một ngày, chỉ lo An động chúa đã gặp chuyện gì bất trắc. Thực ra thì cái sợ An động chúa bị mụ ác tặc bắt được hạ độc thủ chỉ có một phần, mà cái sợ mụ nổi trận lôi đình đuổi theo hỏi tội bọn tại hạ còn lớn hơn nhiều. Nhưng dù có lo sợ cũng chẳng ích gì, vả lại đã phóng lao thì phải theo lao, mụ ác tặc đã muốn trừng trị thì mình cũng chẳng tài nào chạy thoát được. Chờ ròng rã ba giờ thì An động chúa trở về chỗ hẹn. Ai trông thấy y cũng vui mừng ra mặt, tựa như được cất bỏ tảng đá lớn đội trên đầu xuống. An động chúa nói ngay: “Lão phu nhân mắc bệnh không ở trên núi”. Rồi y kể lại lúc lên lên núi Phiêu Diểu, nghe lỏm được bọn thị nữ nói chuyện là mụ ác tặc mắc bệnh nặng, phải đi xa tìm thuốc điều trị.”

    Ô Lão Đại kể tới đây, trong đám đông có tiếng vỗ tay hoan hô. Họ đều đã biết tin Thiên Sơn Đồng Mỗ mắc bệnh nên mới dám tụ tập ở đây, nhưng bây giờ nghe Ô Lão Đại nhắc lại vẫn thấy khoái chí, nên lại hoan hô lần nữa.

    Đoàn Dự lắc đầu nói: “Nghe tin người ta mắc bệnh mà vui mừng, thật là cười trên sự đau khổ của người khác!” Cũng may tiếng hoan hô đang rầm rộ như sấm vang, nên chẳng ai để ý đến câu nói này. Ô Lão Đại lại nói: “Bọn tại hạ nghe thế, ai cũng vui lòng hả dạ, nhưng vẫn còn lo mụ ác tặc bày ngụy kế, giả bệnh để thám thính bọn tại hạ. Chín người thương nghị với nhau, hai hôm sau cùng lên núi Phiêu Diểu để nghe ngóng. Lần này, chính tại Ô mỗ nghe nói mụ lão tặc bị bệnh nặng, không còn nghi ngờ gì nữa. Nhưng Sinh Tử Phù ở đâu thì chưa điều tra ra được.”

    Bao Bất Động xen vào: “Trời ơi! Ô lão huynh, Sinh Tử Phù là cái thứ quỉ quái gì thế?” Ô Lão Đại thở dài đáp: “Chuyện này dài lắm, khó mà giải thích trong một lúc cho Bao huynh rõ được. Nói tóm tắt, chừng nào mụ ác tặc còn cầm Sinh Tử Phù trong tay, thì mụ có thể bắt bọn tại hạ phải chết bất cứ lúc nào.” Bao Bất Đồng hỏi: “Đó là một thứ pháp bảo cực kỳ lợi hại ư?” Ô Lão Đại cười khổ, đáp: “Có thể nói như vậy.”

    Đoàn Dự nghĩ thầm: “Bang chủ của Thần Nông Bang là lão râu dê Tư Không Huyền cũng vì sợ hãi Sinh Tử Phù của Thiên Sơn Đồng Mỗ nên mới nhảy xuống vực sâu tự tận. Quả nhiên pháp bảo này lợi hại khôn lường.”

    Lão Đại không muốn nói nhiều về Sinh Tử Phù, quay lại lên tiếng dõng dạc nói với mọi người: “Lão ác bà mắc bệnh nặng là một điều chắc chắn ngàn lần. Chúng ta phải nhân cơ hội này vùng lên để thoát khỏi xiềng xích, tại hạ tin rằng anh em ai cũng phấn khởi tinh thần, quyết liều một chuyến. Nhưng hiện giờ không thể biết được mụ ác tặc đã quay về cung Linh Thứu núi Phiêu Diểu chưa, mọi việc hành động cần được toàn thể thương nghị kỹ càng. Nhất là Bất Bình đạo trưởng, Mộ Dung công tử, Vương cô nương, … Đoàn công tử, bốn vị có cao kiến gì xin nói cho nghe.”

    Đoàn Dự nói: “Trước đây tại hạ nghe kể Thiên Sơn Đồng Mỗ tàn ác áp bức quí vị thật là bá đạo, trong lòng cũng bất bình, có ý lên núi Phiêu Diểu lý luận với lão phu nhân một phen. Nhưng Đồng Mỗ đang bệnh nặng, nhân lúc người ta gặp nạn mà ám toán thì đâu phải là hành động của người quân tử. Đừng nói là tại hạ chẳng có cao kiến chi hết, mà dù có cao kiến cũng không nói ra.

    Hồi 35: Cứu Đồng Mỗ tiểu tăng phạm giới

    Ô Lão Đại biến sắc mặt, vừa toan lên tiếng thì Bất Bình đạo nhân đưa mắt ra hiệu, rồi mỉm cười nói: “Đoàn huynh đã nói là đứng bàng quan, không giúp bên nào thì không góp ý kiến cũng là chuyện đương nhiên. Ô Lão Đại! Chúng ta muốn tiến đánh núi Phiêu Diểu thì cần nhất là phải biết rõ thực hư trong cung Linh Thứu. Bọn Ô huynh chín người đã lên núi thám thính, vậy sau khi mụ ác tặc rời khỏi cung Linh Thứu thì trong cung còn lại bao nhiêu tay cao thủ, cách bố trí thế nào? Ô huynh tuy không biết hết nhưng chắc cũng tìm hiểu được mấy phần, xin nói ra để mọi người cùng bàn định.”

    Ô Lão Đại đáp: “Nói ra xấu hổ, bọn tại hạ đến dò xét cung Linh Thứu mà chẳng ai dám vào thám thính. Cả chín người chỉ lo ẩn nấp, sợ gặp phải nhân vật lợi hại nào thì nguy to. Tại hạ nấp ở vườn hoa phía sau cung, bị một đứa bé gái bắt gặp, ăn mặc theo kiểu a hoàn. Tại hạ tránh không kịp, bị nhìn rõ mặt, liền nhảy xổ tới thi triển phép cầm nã bắt nó lại, thật là bí quá phải làm liều, không kể gì đến tính mạng nữa. Nhân vật trong cung Linh Thứu không phải tầm thường, dù nó chỉ là một đứa trẻ nít, nhưng biết đâu võ công thần diệu? Lúc đó tại hạ biết phen này mình mười phần chết chín…”

    Giọng y run lên, chứng tỏ nhớ đến tình trạng nguy hiểm khi đó, vẫn còn sợ hãi vô cùng. Mọi người lẳng lặng ngồi nghe Ô Lão Đại kể chuyện, thấy hắn vẫn đang bình yên vô sự, rõ ràng dù có gặp nguy hiểm thì cũng đã thoát khỏi. Nhưng bọn này hễ nghĩ đến Thiên Sơn Đồng Mỗ là người cứ run bắn lên, thế mà Ô Lão Đại dám lên tận núi Phiêu Diểu bắt người, dẫu vì tình trạng bắt buộc mà phải mạo hiểm thì cũng lớn mật vô cùng, nếu là hạng người tầm thường thì đành bó tay chịu chết. Ai cũng sinh lòng bội phục hắn.

    Ô Lão Đại kể tiếp: “Tại hạ xông vào, vận dụng toàn lực thi triển Hổ Trảo Công. Lúc đó tại hạ định bụng nếu một chiêu mà không bắt được con nhỏ, để nó kịp la lên cho người ta đến cứu, thì mình nhất quyết nhảy từ núi cao trăm trượng xuống chết cho sướng thân, nhất định không để lọt vào tay mụ ác tặc để bị hành hạ dã man. Ngờ đâu, tay trái tại hạ chụp xuống vai con nhỏ, tay phải nắm chặt được cánh tay nó, mà nó tuyệt không kháng cự chi hết, ngã lăn ra ngay, tựa như người không có võ công. Lúc đó tại hạ mừng vô kể, đến nỗi bủn rủn cả chân tay. Nói ra chỉ sợ các vị cười, con nhỏ đó lăn ra rồi thì cái tên Ô Lão Đại nhát gan này cũng suýt ngã theo.”

    Mọi người nghe đến đây đều cười ồ lên, đầu óc cảm thấy khoan khoái, hết cả lo lắng hoang mang. Tuy Ô Lão Đại tự cười mình nhát gan, nhưng ai nấy đều cho rằng hắn dũng cảm phi thường, dám lên tận núi Phiêu Diểu bắt người thì thật là kinh thiên động địa.

    Ô Lão Đại giơ tay ra vẫy, một tên thủ hạ liền xách một cái túi vải đen chạy ra, đặt xuống trước mặt Ô Lão Đại. Ô Lão Đại cởi dây cột, kéo miệng túi xuống, để lộ ra một người. Ai nấy đều ồ lên một tiếng, người trong túi là một đứa bé gái thân hình bé nhỏ.

    Ô Lão Đại dương dương đắc ý nói: “Con nhỏ này là do Ô mỗ bắt ở trên núi Phiêu Diểu đem về.” Mọi người hoan hô vang dội: “Ô Lão Đại bất hủ!” “Ô Lão Đại đáng mặt anh hùng hảo hán!” “Quần tiên ba mươi sáu động, bảy mươi hai đảo xin tôn Ô Lão Đại lên làm thủ lĩnh!”

    Tiếng hoan hô của mọi người xen lẫn với tiếng khóc hu hu của cô bé. Nó đang ôm mặt khóc nức nở.

    Ô Lão Đại nói: “Bọn tại hạ bắt được con nhỏ này rồi, vẫn sợ có người phát giác rượt theo, hấp tấp chạy xuống núi liền. Lúc tra hỏi con nhỏ này không khai thác được chút gì, đáng tiếc là nó bị câm điếc. Ban đầu bọn tại hạ tưởng nó giả vờ, đã nghĩ ra vô số biện pháp để thử thách, có lúc lại bất thình lình quát sau lưng nó một tiếng thật to thử xem nó có giật mình không. Nhưng thử gì thì thử, cũng thấy nó câm điếc thật.”

    Mọi người nghe tiếng cô bé khóc thì biết nó câm thật. Giữa đám đông có người cất tiếng hỏi: “Ô Lão Đại! Nó không nghe được, thì sao không viết chữ xem nó có hiểu không?” Ô Lão Đại đáp: “Nó chẳng hiểu chi hết. Bọn ta đã dùng đủ cách, dìm xuống nước lạnh, nhúng vào nước nóng, bắt nhịn đói, chẳng còn thiếu cách gì mà xem ra nó không phải là đứa ngoan cố, chỉ là một đứa nhỏ vừa câm điếc vừa ngu ngốc.”

    Đoàn Dự không nhịn được, cười hăng hắc nói: “Dùng thủ đoạn đê hèn để hành hạ một cô bé, thế mà không biết nhục ư?” Ô Lão Đại nói: “Bọn ta bị mụ Thiên Sơn Đồng Mỗ hành hạ còn thảm khốc gấp mười, mình trả oán một chút, có gì là nhục?” Đoàn Dự nói: “Các vị có báo thù rửa hận thì phải đối phó với chính mụ Thiên Sơn Đồng Mỗ mới hợp lý. Đi bắt nạt đứa con nít thì có ích gì đâu?”

    Ô Lão Đại đáp: “Dĩ nhiên là có ích.” Rồi hắn lớn tiếng gọi: “Các vị huynh đệ! Hôm nay chúng ta đồng tâm hiệp lực phản lại núi Phiêu Diểu, từ giờ phút này thì phúc cùng hưởng, họa cùng chịu. Vậy chúng ta phải uống máu ăn thề, mưu đồ đại sự. Có vị nào không đồng ý thì xin cho biết.”

    Lão Đại hỏi hai lần vẫn không thấy ai đáp lại. Hắn hỏi đến lần thứ ba thì một đại hán cao lớn đứng lên, lặng lẽ chạy về phía tây. Ô Lão Đại lớn tiếng gọi: “Khu đảo chúa đảo Kiếm Ngư! Ngươi đi đâu thế?” Đại hán không trả lời, cứ cắm đầu chạy như bay, chớp mắt đã vượt qua một thung lũng. Mọi người la lên: “Thằng cha này nhát gan, chưa lâm trận đã bỏ chạy. Mau chặn hắn lại!” Mười mấy người lập tức rượt theo, đều là những tay giỏi khinh công, nhưng Khu đảo chúa đã chạy xa rồi, chẳng hiểu họ có đuổi kịp hay không.

    Bất thình lình một tiếng rú thê thảm từ sau núi vọng lại, mọi người đều kinh ngạc nhìn nhau, cả mười mấy người đuổi theo Khu đảo chúa cũng dừng lại. Bỗng nghe một luồng gió rít lên vù vù, một vật hình tròn như quả bóng từ sau núi bay vù tới, rớt vào giữa đám đông.

    Ô Lão Đại nhảy vọt lên, giơ tay ra chụp được quả bóng đó, soi vào ánh đèn thì ra một cái đầu lâu, máu thịt bầy nhầy. Mọi người nhìn kỹ bộ mặt thủ cấp này thì thấy râu đâm tua tủa, hai mắt tròn xoe, chính là Khu đảo chúa vừa chạy trốn. Ô Lão Đại run sợ la lên: “Khu đảo chúa…” Nhất thời hắn nghĩ không ra, tại sao Khu đảo chúa vừa trốn đi đã mất mạng mau đến thế, rồi bỗng nảy ra một ý nghĩ cực kỳ khủng khiếp: “Chẳng lẽ Thiên Sơn Đồng Mỗ đã đến đây rồi?”

    Bất Bình đạo nhân cất tiếng cười ha hả rồi nói: “Kiếm Thần thần kiếm quả nhiên danh bất hư truyền! Huynh canh gác thật là nghiêm mật!” Phía sau thung lũng có một thanh âm vọng lại nghe rất rõ: “Kẻ nào lâm trận mà bỏ trốn thì ai cũng có quyền giết chết. Xin các vị động chúa, đảo chúa miễn trách cho ta.”

    Mọi người đang sợ hãi, bấy giờ mới hoàn hồn đồng thanh nói: “May mà được Kiếm Thần trừ diệt quân phản nghịch để đại sự của chúng ta không bị phá hoại.”

    Mộ Dung Phục cùng bọn Đặng Bách Xuyên đều nghĩ bụng: “Gã này tự xưng là Kiếm Thần, thật là ngông cuồng tự đại. Dù kiếm pháp y có giỏi đến đâu chăng nữa thì cũng không nên tự xưng là thần. Trên giang hồ chưa có nhân vật nào mang biệt hiệu chối tai như vậy, không hiểu kiếm pháp gã này cao đến mức độ nào?”

    Ô Lão Đại tự thấy xấu hổ vì mình nhát gan nhìn thần thấy quỉ. Hắn lớn tiếng nói: “Các vị huynh đệ hãy lấy khí giới ra, mỗi người đâm chém một nhát vào con tiểu quỷ này! Tuy nó câm điếc, nhưng cũng là nhân vật ở trong núi Phiêu Diểu, mũi đao dính máu ả tức là từ nay cùng núi Phiêu Diểu đối đầu một mất một còn. Chúng ta làm như vậy thì kẻ nào ăn ở hai lòng cũng không thể lùi bước được nữa.” Ô Lão Đại nói xong, liền rút soạt lưỡi quỷ đầu đao ra.

    Mọi người đều hoan hô: “Đúng lắm, phải làm như thế mới được! Đao kiếm chúng ta đã dính máu kẻ thù thì chỉ có tiến chứ không có thoái.”

    Đoàn Dự hốt hoảng la lên: “Làm thế không được, muôn ngàn lần không được! Mộ Dung huynh! Huynh nên ra tay ngăn cản, đừng để họ hành động bất nhân như vậy.” Mộ Dung Phục lắc đầu nói: “Đoàn huynh! Tính mạng của họ đều ràng buộc vào hành động này, chúng ta là người ngoài chẳng nên can thiệp vào việc không phải của mình.” Đoàn Dự động lòng nghĩa hiệp, tức giận nói: “Đã là bậc đại trượng phu, thì giữa đường gặp chuyện bất bình không thể nhắm mắt bỏ qua. Vương cô nương! Cô nương có trách mắng thì cũng đành chịu, tại hạ không thể không cứu cô bé kia được. Nhưng… nhưng sức tại hạ không trói nổi con gà, khó lòng mà cứu cô ta. Trời ơi! Đặng huynh, Công Dã huynh, sao nhị vị không động thủ đi? Bao huynh, Phong huynh, nhị vị tiếp ứng cho tiểu đệ xông vào cứu người được không?” Bọn Đặng Bách Xuyên bốn người bao giờ cũng hành động theo ý Mộ Dung Phục, thấy y không muốn can thiệp đành nhìn Đoàn Dự lắc đầu, nhưng gã nào cũng tỏ vẻ bần thần.

    Ô Lão Đại thấy Đoàn Dự kêu cứu lung tung, nghĩ rằng chàng công lực rất cao thâm, nếu sinh sự thì lắm rắc rối, mình không thể chần chờ, phải động thủ lẹ cho rồi. Hắn vung lưỡi quỷ đầu đao lên, hô to: “Ô Lão Đại động thủ trước tiên!”, rồi bổ lưỡi đao xuống cô bé đứng trong túi vải.

    Đoàn Dự la lên: “Hỏng bét!” Chàng vung ngón tay ra chiêu Trung Xung Kiếm phóng vào quỷ đầu đao của Ô Lão Đại. Nhưng chàng không thu phát Lục Mạch Thần Kiếm theo ý muốn được, có lúc hiệu nghiệm, có lúc không. Có khi chân khí đầy dẫy, uy lực mãnh liệt; có khi lại không huy động được một chút nội lực nào. Lúc này chàng chỉ trỏ lung tung, nhưng chân khí chỉ ra đến bàn tay rồi ngừng lại, không phát ra kiếm khí được.

    Lưỡi đao của Ô Lão Đại chém xuống gần đến mình cô bé, đột nhiên một bóng đen từ phía sau một tảng đá lớn vọt ra. Bóng đen giơ tay trái lên gạt phắt lưỡi đao của Ô Lão Đại, tay phải chộp lấy túi vải đặt lên lưng, cõng cả cô bé lẫn cái túi chạy thẳng về hướng tây bắc.

    Mọi người nhốn nháo, vừa la ó vừa rượt theo. Nhưng bóng đen cước lực thần tốc, chạy nhanh như biến không thể đuổi kịp. Mấy tên động chúa đảo chúa phóng ám khí theo vù vù, nhưng cũng không kịp, ám khí chưa đến đích đều hết đà rơi lả tả xuống đất.

    Đoàn Dự cả mừng, mắt chàng sáng rực lên, nhận ra bóng đen là một người mình đã gặp ở kỳ hội của Tô Tinh Hà. Chàng lớn tiếng la lên: “Té ra là Hư Trúc hòa thượng chùa Thiếu Lâm, Hư Trúc sư huynh, Đoàn mỗ xin chắp tay thi lễ. Chùa Thiếu Lâm của sư huynh là Thái Sơn Bắc Đẩu của võ lâm, quả nhiên danh bất hư truyền!”

    Cả bọn thấy người kia phóng một chưởng đẩy bật Ô Lão Đại ra, chân bước nhẹ nhàng, võ công thật là lợi hại; lại nghe Đoàn Dự hoan hô vang dội, gọi hắn là hòa thượng Thiếu Lâm. Danh tiếng phái Thiếu Lâm lừng lẫy xưa nay, ai cũng có ý nể sợ. Chỉ vì việc này liên quan trọng đại, cô bé đã bị cứu đi, nếu không giết nhà sư đó để diệt khẩu thì không chừng mưu đồ bị tiết lộ, đại họa tới ngay tức khắc. Mọi người láo nháo đuổi theo.

    Hư Trúc chạy thẳng lên núi. Đỉnh núi này tuyết phủ trắng xóa, ẩn hiện trong mây, không phải cao thủ khinh công mà trèo lên đỉnh thì phải mất bốn năm ngày. Bất Bình đạo nhân la lên: “Đừng sợ. Hòa thượng này leo lên núi là tự vào tuyệt lộ, không lẽ hắn bay lên trời hay sao? Chúng ta chỉ cần giữ chặt các đường xuống núi là hắn không thoát được.” Mọi người nghe vậy mới yên tâm trở lại. Ô Lão Đại bèn phân chia đệ tử các phái giữ chặt các đường xuống núi ở cả bốn phía. Y sợ nhà sư Thiếu Lâm đột phá được trùng vây, nên mỗi ngả đường đều đặt đến ba chặng gác, chặng đầu giữ không được thì còn chặng giữa, chặng giữa giữ không được đã có chặng sau, ít nhất cũng đủ thì giờ hô hoán gọi tiếp ứng. Y lại sắp xếp mười mấy cao thủ tuần tra bốn mặt, sau đó Ô Lão Đại mới cùng Bất Bình đạo nhân, An động chúa, Tang Thổ Công, Hoắc động chúa, Khâm đảo chúa, cả thảy mấy chục người lên núi tìm kiếm nhà sư này để trừ khử cho dứt hậu hoạn.

    Bọn Mộ Dung Phục được phân công canh giữ mặt phía đông. Phía này không hề có đường xuống núi, bề ngoài là mời giúp canh phòng, thật sự là bọn Ô Lão Đại không muốn họ tham gia. Mộ Dung Phục hiểu Ô Lão Đại còn nghi kỵ mình, chỉ khẽ cười rồi dẫn bọn Đặng Bách Xuyên qua mặt phía đông trấn thủ. Đoàn Dự chẳng sợ gì ai, không ngớt mở miệng ca tụng Hư Trúc là anh hùng hảo hán.

    ***

    Người cướp túi vải đựng cô bé đúng là Hư Trúc. Hôm đó Đinh Xuân Thu cùng Mộ Dung Phục ác đấu kinh hồn trong phạn điếm, về sau Du Thản Chi cứu A Tử chạy đi, Đinh Xuân Thu phân tâm để Mộ Dung Phục thừa cơ giật được tay ra trốn thoát. Lúc đó Hư Trúc cũng nhân lúc lộn xộn chui từ phòng trong ra rồi cướp đường chạy trối chết. Y chạy ra khỏi phạn điếm, rồi toan đi tìm bọn Tuệ Phương sư bá sư thúc để xin chỉ thị. Từ lúc Hư Trúc phóng chưởng đánh chết sư bá tổ Huyền Nạn, y kinh hãi vô cùng, mất cả chủ ý. Y chưa có kinh nghiệm giang hồ, lại không thuộc đường lối, không dám gặp nhiều người mà cũng không dám vào quán trọ, chỉ tìm những nơi hẻo lánh mà đi.

    Lúc đó ba mươi sáu động chúa và bảy mươi hai đảo chúa hẹn nhau đến hội họp tại hang núi, mỗi người đều dắt theo đệ tử nên nhân số rất đông. Hư Trúc dọc đường đã gặp bọn này, thấy nhiều nhân vật giang hồ bèn đi theo, hy vọng gặp bọn Tuệ Phương. Nhưng y thấy họ hình dung cổ quái, hành tung kỳ bí nên cũng sợ hãi, chỉ bí mật theo dõi. Hư Trúc chẳng hiểu gì về những chuyện ân oán giang hồ, nhưng bản tính nghĩa hiệp, sẵn dạ từ bi. Y thấy Ô Lão Đại vung quỷ đầu đao lên toan chém một bé gái câm điếc tuyệt không có khả năng kháng cự, liền thấy bất nhẫn vô cùng. Hư Trúc cũng chẳng hiểu ai phải ai trái, chỉ quyết cứu mạng cô bé, liền từ sau tảng đá lớn nhảy vọt ra, cướp lấy cái túi vải cõng lên lưng chạy trốn.

    Hư Trúc đề khí chạy lên núi, thấy càng lên cao rừng cây càng rậm rạp. Phía sau vẫn nghe tiếng người huyên náo rượt theo nhưng mỗi lúc một xa dần. Lúc nhà sư ra tay cứu người chỉ vì lòng nghĩa hiệp nhất thời, bây giờ mới nghĩ đến bọn người này rất đông. Võ công đã ghê gớm mà thủ đoạn cũng vô cùng độc ác. Chỉ một tên trong đối phương ra tay là mình đã không địch nổi, huống chi họ đông người như thế. Nhà sư đâm ra sợ hãi, nghĩ thầm: “Bây giờ phải tìm một nơi kín đáo mà ẩn núp để họ không tìm thấy, thì tính mạng mình cùng cô bé này mới giữ được an toàn.” Lúc này y đi không cần tìm đường, cứ lựa chỗ nào cây cối rậm rạp nhất là xông vào.

    Cũng may mà y đã nhận được bảy mươi năm công lực của vị lão nhân, chạy gần hai giờ mà chẳng thấy mệt nhọc chút nào. Nhà sư lại chạy một lúc nữa, trời bắt đầu sáng rõ. Mặt đất dưới chân y phủ đầy tuyết, thì ra chỗ này âm u lạnh lẽo, tuyết phủ quanh năm. Hư Trúc định thần nhìn xung quanh một lượt, tim vẫn đập thình thịch. Y tự hỏi: “Không biết mình phải chạy trốn đến chỗ nào mới yên?”.

    Đột nhiên sau lưng y có tiếng quát: “Tên tiểu quỷ xấu xa kia, ngươi tưởng trốn được ư? Ta tưởng ngươi phải hổ thẹn mà chết.” Hư Trúc giật mình la hoảng: “Úi chao!”, rồi co giò chạy lên đỉnh núi như phát điên. Y chạy được mấy dặm mới dám dừng chân ngoảnh đầu lại, thì không thấy ai đuổi theo. Y yên tâm, tự nói: “Hay quá! Không có người đuổi theo.”

    Y vừa dứt lời thì sau lưng lại có tiếng chế giễu: “Nam tử hán đại trượng phu gì mà nhát gan đến thế? Thật là đồ chuột nhắt mật nhỏ xíu!” Hư Trúc lại sợ cuống cuồng, cất bước chạy như bay, vẫn nghe thanh âm kia nheo nhéo ở đằng sau: “Đồ nhát gan, đồ ngu ngốc, chẳng được tích sự gì!” Dường như giọng nói chỉ cách chừng hai ba thước, người nói có thể với tay một cái là tóm được.

    Hư Trúc nghĩ thầm: “Hỏng bét, hỏng bét! Võ công người này cao cường đến thế, mình nhất định không thoát khỏi độc thủ của hắn rồi!” Y nghĩ thế, nhưng vẫn gia tăng cước lực đến tột độ, mỗi lúc chạy một mau hơn. Thanh âm kia lại cất lên: “Nhát gan đến thế thì còn ra vẻ anh hùng cứu người làm chi? Ngươi định chạy trốn tới đâu?”

    Lần này Hư Trúc nhận ra tiếng nói ngay sát bên tai, y sợ quá, hai chân nhũn ra suýt nữa té xuống, lảo đảo mấy bước rồi quay đầu lại nhìn. Lúc này trời đã sáng bạch, ánh mặt trời chiếu rõ cả khu rừng rậm rạp mà tuyệt không thấy bóng người. Hư Trúc nghĩ chắc người này ẩn nấp gần đấy, liền cung kính nói: “Tiểu tăng thấy người ta toan sát hại một cô bé nhỏ tuổi, nên không tự lượng sức mà xuất thủ cứu người, không dám tự nghĩ là có bụng anh hùng.”

    Thanh âm kia cười nhạt rồi nói: “Ngươi hành động mà không biết tự lượng sức, thì chỉ chuốc khổ vào thân mà thôi!”

    Thanh âm này tựa như ngay ở bên tai, Hư Trúc lại càng kinh hãi, hốt hoảng quay đầu nhìn lại mà phía sau nào thấy ai đâu? Nhà sư nghĩ bụng: “Thân pháp người này xuất quỷ nhập thần đến mức mình không trông thấy được, võ công y chắc chắn cao hơn mình mấy chục lần. Nếu y cố hại thì chỉ giơ tay lên một cái là lấy xong mười mạng Hư Trúc chứ đừng nói một. Nhưng nghe giọng điệu thì y chỉ trách mình bất tài nhát gan, dường như y không cùng phe với Ô Lão Đại.” Nghĩ vậy, Hư Trúc định thần lại rồi nói: “Tiểu tăng bất tài, dám xin tiền bối chỉ điểm cho.”

    Người kia lại cười nhạt, nói: “Ngươi có phải là đồ tử đồ tôn gì của ta đâu mà ta phải chỉ điểm cho ngươi?” Hư Trúc đáp: “Dạ, dạ! Tiểu tăng ăn nói càn rỡ mong tiền bối tha tội cho. Bên địch rất đông người, tiểu tăng không phải là đối thủ, tiểu tăng muốn kiếm đường tẩu thoát.” Y nói xong, lại đề khí tiếp tục chạy lên đỉnh núi.

    Thanh âm sau lưng lại vang lên: “Ngọn núi này là tuyệt lộ, bọn chúng canh giữ dưới chân núi cả rồi. Ngươi định chạy đi đâu cho thoát?” Hư Trúc hoang mang dừng bước, đứng ngẩn ra ấp úng: “Tiểu tăng… không biết làm thế nào, mà cũng không rõ đường đi. Xin tiền bối mở lòng từ bi chỉ điểm cho một lối thoát.” Giọng ở sau lưng lại cười hăng hắc, rồi hững hờ nói: “Hiện giờ chỉ có hai cách, một là ngươi chạy theo đường cũ xuống núi, xông vào trùng vây của địch mà giết sạch bọn yêu ma quỷ quái đó đi.” Hư Trúc đáp: “Một là tiểu tăng không đủ tài năng, hai là tiểu tăng không muốn giết người.” Thanh âm kia nói: “Vậy phải theo cách thứ hai, ngươi tung mình nhảy xuống vực sâu muôn trượng cho nát ra như cám, thì cả trăm điều cũng giải quyết xong hết!”

    Hư Trúc ngập ngừng: “Cái đó…” Y quay đầu nhìn lại, trên mặt đất phủ tuyết chỉ thấy có vết chân mình, không thấy vết chân người thứ hai nào nữa. Y nghĩ thầm: “Người này đi trên tuyết mà không lộ vết chân, võ công tuyệt diệu không thể tưởng tượng được.” Thanh âm kia lại hỏi: “Ngươi tính thế nào?” Hư Trúc đáp: “Tiểu tăng nhảy xuống vực thẳm mà chết thì cũng đành, nhưng lẽ nào để bé gái mà tiểu tăng đang cõng cũng phải chết theo. Như thế là cứu người mà lại hóa ra hại người, thật là không nỡ.”

    Thanh âm kia lại hỏi: “Ngươi có liên quan gì với núi Phiêu Diểu không? Sao không tìm cách thoát thân mà còn mạo hiểm cứu người làm chi?” Hư Trúc vừa chạy tiếp lên đỉnh núi vừa cất tiếng đáp: “Núi Phiêu Diểu hay cung Linh Thứu gì gì đi nữa thì tiểu tăng cũng mới nghe thấy hôm nay, chẳng quen biết ai trên đó cả. Tiểu tăng là đệ tử phái Thiếu Lâm, chuyến này mới vâng mệnh sư phụ xuống núi lần đầu. Bất luận là môn phái nào trên giang hồ, tiểu tăng cũng không có liên quan chi hết.” Thanh âm kia cười nhạt đáp: “Như vậy thì ngươi là một vị tiểu hòa thượng chùa Thiếu Lâm, thấy việc nghĩa mà làm phải không?” Hư Trúc đáp: “Là tiểu hòa thượng thì đúng, còn thấy việc nghĩa mà làm thì không dám nói. Tiểu tăng chẳng có kiến thức gì, nên hành động bừa bãi, hiện giờ trong lòng còn vô số vấn đề nan giải, không biết phải làm thế nào.”

    Thanh âm kia nói: “Nội lực của ngươi thâm hậu hiếm có, nhưng hoàn toàn không phải nội lực phái Thiếu Lâm là nghĩa làm sao?” Hư Trúc đáp: “Chuyện này nói ra dài lắm, chính là một vấn đề đã làm tiểu tăng rối trí.” Thanh âm kia giục: “Dài ngắn cái gì? Ta không cho phép người nói lăng nhăng để bưng bít, mau mau nói thật đi!” Giọng nói đó đầy vẻ uy nghiêm, khó mà không tuân theo được. Nhưng Hư Trúc nhớ lại Tô Tinh Hà đã dặn: ba chữ Tiêu Dao Phái là bí mật, chỉ có người bản phái mới được biết, nên tuy nhà sư biết người phía sau mình là một bậc tiền bối bản lĩnh cao thâm, nhưng đến mặt mũi còn chưa trông thấy, thì không dám đem chuyện bí mật trọng đại như vậy ra kể với y. Hư Trúc nghĩ vậy liền đáp: “Xin tiền bối lượng thứ, thực tình tiểu tăng có nhiều nỗi khổ tâm không thể trình bày được.”

    Thanh âm kia nói: “Được lắm! Đã thế thì ngươi đặt ta xuống thôi!” Hư Trúc giật bắn người lên, lắp bắp hỏi: “Cái… cái gì?” Thanh âm kia nhắc lại: “Ngươi đặt ta xuống đi, đừng hỏi lằng nhằng nữa.”

    Hư Trúc không phân biệt rõ thanh âm này là nam hay nữ, chỉ biết là giọng nói của người già cả. Y không hiểu nổi tại sao người bí mật này lại bảo mình đặt y xuống, thực ra là ý gì. Nhà sư liền dừng bước quay đầu nhìn lại thì phía sau vẫn chẳng thấy bóng một ai, còn đang ngơ ngẩn thì thanh âm kia cất tiếng mắng: “Xú hòa thượng, mau đặt ta xuống. Ta ngồi trong cái túi vải trên lưng ngươi chứ ở đâu? Ngươi tưởng ta là ai?”

    Hư Trúc hồn vía lên mây, kinh hãi quá bèn buông tay ra. Chiếc túi vải rớt xuống đất đánh “huỵch” một tiếng, người trong túi la lên: “Úi chao!” Tiếng kêu đau này cũng nghe rất già nua. Hư Trúc la lên một tiếng “Trời ơi!” rồi hỏi: “Tiểu cô nương! Là cô đấy à? Sao giọng nói của cô nghe già thế?” Y bèn cúi xuống, cởi miệng túi vải rồi đỡ cô bé dậy.

    Cô này thân hình nhỏ bé, chỉ khoảng tám chín tuổi, nhưng hai mắt sáng như điện rất có thần khí, đang quắc lên nhìn Hư Trúc trông rất oai nghiêm. Y há hốc miệng ra hồi lâu, không nói nên lời. Cô bé cất tiếng: “Ngươi thấy bậc trưởng bối mà không thi lễ, thì còn ra nghĩa lý gì?” Thanh âm cô ra vẻ người già mà vẻ mặt cũng rất nghiêm nghị. Hư Trúc ngập ngừng: “Tiểu… cô nương…” Cô bé vội gắt lên: “Tiểu cô nương với đại cô nương cái gì? Ta là Mỗ Mỗ đây!” Hư Trúc mỉm cười nói: “Hiện giờ chúng ta đang bị hãm nơi tuyệt địa, cô nương chẳng nên nói giỡn. Lại đây, chui vào trong túi đi, để tiêu tăng cõng lên lưng mà trèo núi. Chỉ trong chốc lát là địch nhân đuổi đến nơi!”.

    Cô bé đảo mắt nhìn Hư Trúc từ trên xuống dưới, đột nhiên thấy trên ngón tay y có đeo một cái nhẫn bảo thạch đen thì giật mình hỏi: “Ngươi… ngươi đeo cái gì thế kia? Đưa ta coi thử!” Thật ra Hư Trúc cũng không muốn đeo cái nhẫn này trên ngón tay, nhưng y biết đó là một vật rất trọng yếu không dám bỏ trong bọc, sợ sơ ý rớt mất. Nhà sư nghe cô bé hỏi tới cái nhẫn liền cười đáp: “Cái nhẫn đó không đẹp đâu.”

    Cô bé đột nhiên vung tay ra, nắm lấy cổ tay trái Hư Trúc, để ý nhìn rất kỹ cái nhẫn. Cô nắm bàn tay Hư Trúc lật qua lật lại nhìn một hồi lâu. Hư Trúc cảm thấy bàn tay cô run rẩy không ngớt, bèn quay đầu lại nhìn, thấy đôi mắt vừa to vừa trong trẻo của cô đầy nước mắt. Một hồi lâu, cô bé mới buông tay y ra.

    Cô bé lên tiếng hỏi: “Ngươi ăn cắp cái nhẫn này của ai?” Thanh âm cô cực kỳ nghiêm khắc, tựa như đang thẩm vấn đạo tặc. Hư Trúc có ý không bằng lòng, nói: “Kẻ xuất gia phải giữ nghiêm giới luật, sao lại trộm cắp được? Đây là vật của người ta cho tiểu tăng, sao cô lại bảo là đồ ăn cắp?” Cô bé nói: “Nói chuyện hồ đồ! Ngươi là đệ tử Thiếu Lâm thì sao người ta lại cho ngươi cái nhẫn này được? Ngươi mà không nói rõ đầu đuôi, thì bữa nay ta phải lột da róc xương để người biết thế nào là đau khổ.”

    Hư Trúc bất giác bật cười, nghĩ bụng: “Nếu mình không nhìn thấy người, chỉ nghe thanh âm thì chắc phải bị cô bé này dọa cho bở vía.” Y đáp: “Tiểu cô nương!…” Ba tiếng này vừa ra khỏi miệng, đột nhiên nghe đánh “bốp” một cái, má bên trái nhà sư đã bị một cái tát, may mà cô bé yếu sức nên tát không đau lắm. Hư Trúc tức giận hỏi: “Sao cô xuất thủ đánh người? Còn bé mà đã dã man vô lễ như thế ư?”

    Cô bé nói: “Pháp danh ngươi là Hư Trúc! Hừ! Linh, Huyền, Tuệ, Hư.. ngươi là đệ tử đời thứ ba mươi bảy phái Thiếu Lâm. Có phải ngươi kêu bọn tiểu hòa thượng Huyền Bi, Huyền Từ, Huyền Thống, Huyền Nạn bằng sư tổ không?”

    Hư Trúc giật mình kinh hãi, lùi lại một bước. Tại sao cô bé này mới tám chín tuổi đã biết lai lịch các bậc trưởng bối phái mình, lại dám gọi các vị sư bá tổ, sư thúc tổ mình là Huyền Từ, Huyền Bi bằng tiểu hòa thượng? Cô ta nói chuyện đâu có giống như trẻ nít? Y nghĩ thầm: “Người ta vẫn đồn rằng trên đời có chuyện hồn người chết mượn xác. Hay là… có linh hồn một vị tiền bối nào nhập vào người cô bé này?”

    Cô bé lại giục: “Ta hỏi ngươi, phải thì nói rằng phải, không thì nói rằng không, sao lại không đáp?” Hư Trúc liền đáp: “Cô nương nói không sai, nhưng cô gọi phương trượng đại sư bản tự bằng tiểu hòa thượng thì thái quá!” Cô bé nói: “Y chả là tiểu hòa thượng thì là gì? Ta ngang hàng với Linh Môn đại sư là sư phụ y, mỗi lần Huyền Từ gặp ta đều phải kính cẩn kêu bằng tiền bối. Ta kêu y bằng tiểu hòa thượng đã mười mấy năm nay rồi, có gì mà thái quá?” Hư Trúc lại càng kinh hãi. Linh Môn thiền sư là sư phụ Huyền Từ và là đệ tử đời thứ ba mươi tư chùa Thiếu Lâm. Những vị cao tăng nổi tiếng chùa Thiếu Lâm, Hư Trúc đều biết cả. Y càng nghe càng tin có linh hồn bậc trưởng bối nào đang nhập trong người cô này, liền hỏi: “Thế thì… thế thì cô là ai?”.

    Cô bé giận dữ nói: “Ban đầu ngươi cứ mở miệng là gọi ta bằng tiền bối, ta tưởng ngươi là kẻ cung kính biết lễ. Sao bây giờ ngươi dám kêu ta bằng cô? Nếu mỗ mỗ không nghĩ đến ngươi đã có công cứu mạng thì đã phóng chưởng đánh chết tươi rồi!” Hư Trúc nghe thấy cô bé tự xưng là mỗ mỗ thì hoảng hồn đổi giọng nói: “Mỗ mỗ! Tiểu tăng không dám hỏi đến tôn tính đại danh nữa!” Cô bé hài lòng nói: “Thế mới là phải. Ta hỏi ngươi, cái nhẫn bảo thạch ngươi đeo trên ngón tay ở đâu ra?” Hư Trúc đáp: “Tiểu tăng nói thực, đó là của một vị tiên sinh đã cho tiểu tăng. Thực ra tiểu tăng cũng không muốn nhận, vì mình là đệ tử phái Thiếu Lâm không được phép lãnh cái nhẫn này. Nhưng vị lão tiên sinh đó đến lúc lâm nguy không cho tiểu tăng phân giải…”

    Cô bé đột nhiên lại thò tay ra nắm lấy cổ tay Hư Trúc, run run hỏi: “Ngươi nói… vị tiên sinh đó đến lúc… lâm nguy à? Y chết rồi ư? Không! Không! Ngươi nói đi, tướng mạo vị tiên sinh đó như thế nào?” Hư Trúc đáp: “Lão tiên sinh đó râu dài ba thước, mặt đẹp như ngọc, phong độ cực kỳ tuấn nhã.” Cô bé càng run rẩy hơn, hỏi: “Làm sao y lại lâm nguy? Bản lĩnh của y…” Đột nhiên cô tức giận, quát mắng: “Thằng trọc thối tha này! Vô Nhai Tử bản lĩnh phi thường, chưa tán công thì làm sao chết được? Người như y đâu có chết dễ dàng như vậy?” Hư Trúc gật đầu đáp: “Dạ, dạ!” Cô bé tuy còn nhỏ tuổi nhưng cái thế khiếp người, Hư Trúc vừa kính cẩn vừa sợ hãi, nên mặc dầu chẳng hiểu gì hết vẫn không dám cãi lý, mà cũng không dám hỏi lại. Y tự hỏi: “Tán công là thế nào? Người ta chết dễ như không, sao cô này lại bảo là khó?”

    Cô bé lại hỏi: “Ngươi gặp Vô Nhai Tử ở đâu?” Hư Trúc hỏi lại: “Phải chăng tiền bối hỏi về lão tiên sinh mặt mũi khôi ngô, sư phụ của Thông Biện tiên sinh Tô Tinh Hà?” Cô bé đáp: “Dĩ nhiên là ta hỏi y. Hừ! Ngươi không biết cả tên tuổi y, rõ ràng ngươi bảo y đã cho ngươi cái nhẫn này là nói dối. Ngươi không những mặt dày vô sỉ mà còn to gan lớn mật nữa.”

    Hư Trúc hỏi: “Tiền bối có quen biết Vô Nhai Tử lão tiên sinh ư?” Cô bé tức mình quát lên: “Ta hỏi mi chứ có phải mi hỏi ta đâu? Mi gặp Vô Nhai Tử ở đâu? Nói mau” Hư Trúc đáp: “Tiểu tăng gặp lão tiên sinh đó trên một ngọn núi. Sở dĩ có cuộc gặp gỡ này là vì tiểu tăng ngẫu nhiên phá được thế cờ Trân Lung kỳ bí mà ra.”

    Cô bé vung tay toan tát y, nhưng lại rụt tay về, chỉ quát mắng: “Mi ăn nói hồ đồ. Thế cờ đó bày ra đã mấy chục năm, bao nhiêu kẻ sĩ tài trí còn chưa phá được. Gã thầy chùa ngu dốt như mi mà đòi phá giải ư? Mi còn nói láo thì ta không lịch sự nữa đâu!”

    Hư Trúc nói: “Tiểu tăng không có bản lĩnh phá thế Trân Lung đó đâu, chỉ vì khi đó ở vào thế cưỡi cọp, Thông Biện tiên sinh bức bách tiểu tăng phải đi một nước cờ, tiểu tăng đành nhắm mắt lại, cầm quân cờ đặt bừa xuống bàn. Ngờ đâu quân cờ đó chẹn họng chết hết một đám quân trắng bên mình, nhưng thế cờ thành trống trải rồi sau cùng phá giải được, chỉ là may mắn mà thôi. Vì tiểu tăng liều lĩnh đi một nước cờ mà rồi sau vướng phải tội lỗi không ít. Thật là tội nghiệt! Hỡi ôi! A di đà Phật! A di đà Phật!” Y chắp tay trước ngực, niệm Phật một hồi.

    Cô bé bán tín bán nghi nói: “Mi nói như vậy thì cũng hơi có lý…” Chưa dứt lời thì đột nhiên dưới sườn núi có tiếng gọi nhau văng vẳng, rồi tiếng chân người nhộn nhịp. Hư Trúc la hoảng: “Ôi chao!” Y hấp tấp bỏ cô bé vào lại túi vải rồi đặt lên lưng, co giò chạy lên núi như kẻ phát điên.

    Nhà sư chạy được một lúc thì tiếng la ó nghe đã xa xa. Y quay đầu lại, thấy vết chân mình in trên tuyết rõ mồn một, bất giác la hoảng lên: “Nguy rồi!” Cô bé hỏi: “Việc gì mà nguy?” Hư Trúc đáp: “Tiểu tăng lưu vết chân lại trên mặt tuyết thì dù có chạy xa đến đâu, họ cũng theo dấu vết đuổi đến nơi được.” Cô bé nói: “Phi thân đi trên ngọn cây thì không để lại vết chân. Đáng tiếc là võ công ngươi kém cỏi quá, có cái thuật khinh công nhỏ mọn mà cũng không biết. Tiểu hòa thượng! Xem chừng nội lực ngươi cũng khá, nhảy lên thử xem.”

    Hư Trúc nói: “Dạ! Để tiểu tăng thử.” Rồi y tung mình nhảy lên cao quá ngọn cây, nhưng lúc hạ xuống đáp vào cành cây thì nặng nề quá, cành cây gãy răng rắc rồi cả người lẫn cành rớt xuống. Đáng lẽ y té ngửa đè lên cái túi, nhưng tâm địa nhân từ, sợ mình đè cô bé bị thương, bèn cố lật mình té sấp xuống. “Binh” một tiếng, trán y đập vào một tảng đá rách da chảy máu, bèn la rầm lên: “Ôi chao! Ôi chao!” Rồi Hư Trúc lồm cồm gượng đứng lên, xấu hổ nói: “Tiểu tăng… ngu dốt quá, không nhảy được!”

    Cô bé nói: “Ngươi chịu bị thương chứ không đè lên ta, thế là biết cung kính mỗ mỗ. Mỗ mỗ một là muốn lợi dụng, hai là muốn thưởng công, bây giờ ta dạy cho ngươi cách phi thân. Nghe cho rõ đây: Lúc tung người lên thì phải co hai đầu gối lại, đề tụ chân khí vào huyệt Đan Điền, lúc chân khí đưa người lên rồi thì thả lỏng thân thể, phong bế huyệt Ngọc Chẩm…” Cô bé giải thích từ từ, rồi lại dạy cho Hư Trúc chuyển hướng lúc người đang ở trên không, tạt ngang hay vượt lên cao hơn nữa phải làm thế nào. Cô bé dạy xong rồi nói: “Ngươi hãy theo phương pháp của ta lại nhảy lên đi!”

    Hư Trúc nói: “Dạ! Để tiểu tăng thử nhảy một mình xem sao đã, sợ lúc té xuống làm đau tiền bối.” Nhà sư nói xong toan đặt cái túi trên lưng xuống. Cô bé tức giận quát lên: “Mỗ mỗ đã đem bản lĩnh dạy ngươi chẳng lẽ còn sai lầm ư? Thử làm cái quái gì? Nếu lần này ngươi lại té nữa thì mỗ mỗ lập tức giết chết ngươi đó.”

    Hư Trúc sợ hãi vô cùng, bất giác nghĩ mình đang cõng một hồn ma nhập vào xác người, thì mồ hôi toát ra như tắm, toan quăng cái túi vải ra xa nhưng lại không dám. Rồi y nghiến răng vận khí theo đúng phép của cô bé vừa truyền thụ, co hai chân tung mình nhảy lên. Lần này nhà sư vận khí theo đúng lời dạy của cô bé, bế huyệt Ngọc Chẩm, nên lúc nhảy, người y từ từ đưa lên trên không.

    Dù y đang lơ lửng trong không gian mà chuyển hưởng theo ý muốn cũng rất dễ dàng. Nhà sư mừng quá, la lên: “Được rồi! Được rồi!” Không ngờ y vừa mở miệng, chân khí tiết ra ngoài, người lại rớt xuống. May mà lần này rớt thẳng, hai chân đụng mạnh xuống đất chỉ thấy hơi đau, không đến nỗi ngã lăn ra.

    Cô bé lớn tiếng mắng: “Đồ ngốc! Giả tỉ ngươi muốn mở miệng ra nói thì phải biết điều hòa hô hấp đã. Bước thứ nhất chưa xong đã muốn đến bước thứ năm, thứ sáu rồi!” Hư Trúc nói: “Dạ dạ! Tiểu tăng ngu ngốc!” Nhà sư lại đề khí nhảy lên, rồi nhẹ nhàng đáp xuống một cành cây. Lần này cành cây chỉ rung chứ không gãy rời.

    Hư Trúc mừng thầm, nhưng không dám mở miệng hoan hô. Y theo lời của cô bé nhảy xa hơn một trượng đáp xuống cành cây thứ hai, rồi lại chuyển sang cành cây thứ ba. Càng lúc y vận khí càng thuận tiện, thân mình nhẹ nhõm, sức lực sung túc, càng nhảy càng xa. Về sau nhà sư nhảy một cái là vượt qua hai cành cây, rồi vọt từ cây nọ sang cây kia nhanh thoăn thoắt, lơ lửng trên không chẳng khác gì cưỡi gió mà đi. Y không khỏi vừa kinh hãi vừa mừng thầm. Đỉnh núi đầy tuyết phủ, cây mọc dày chi chít, nhà sư nhảy chuyền từ ngọn cây này sang ngọn cây kia thì người đi dưới đất không biết dấu vết đâu mà truy tìm. Chẳng bao lâu nhà sư đã vào đến giữa khu rừng sâu thẳm.

    Cô bé nói: “Được rồi! Thôi xuống đi!” Hư Trúc đáp ngay: “Vâng!”, rồi từ từ nhảy xuống, đỡ cô bé ra khỏi túi vải.

    Cô bé thấy mặt nhà sư lộ vẻ vui mừng không giấu được, thì lại cất tiếng mắng: “Tên tiểu hòa thượng này chẳng ra gì, mới học được một chút công phu thô thiển mà đã vui mừng tự mãn.” Hư Trúc nói: “Dạ dạ! Tiểu tăng nhãn giới rất thiển cận. Tuyệt nghệ mỗ mỗ dạy cho tiểu tăng thật là hữu dụng…” Cô bé nói: “Ngươi mới học một lượt đã hiểu ngay, mỗ mỗ nhìn ngươi quả đã không lầm. Nhưng nội lực của ngươi không phải thuộc phái Thiếu Lâm. Vậy ngươi đã học võ công của ai? Sao ngươi còn nhỏ tuổi mà nội công đã thâm hậu đến thế?”

    Hư Trúc cảm thấy trong lòng chua xót, cặp mắt bất giác đỏ hoe, đáp: “Đó là Vô Nhai Tử lão tiên sinh lúc lâm chung đã đem nội lực bảy mươi năm tu luyện truyền vào trong thân thể tiểu tăng. Thực tình tiểu tăng không dám phản bội phái Thiếu Lâm để đi theo phái khác. Nhưng khi đó Vô Nhai Tử lão tiên sinh chẳng đợi tiểu tăng nói năng gì, hóa giải ngay công lực Thiếu Lâm của tiểu tăng, rồi truyền công phu của mình sang. Tiểu tăng chẳng biết đó là phúc hay là họa. Hỡi ôi! Nhất định sau này tiểu tăng phải về lại chùa Thiếu Lâm, nhất định… nhất định…” Nhà sư cứ “nhất định” một hồi, mà chẳng biết nhất định phải làm gì.

    Cô bé ngơ ngẩn không nói gì, cầm túi vải trải lên tảng đá, ngồi trầm tư một lúc rồi nhẹ nhàng hỏi: “Vậy thì Vô Nhai Tử đã truyền chức chưởng môn phái Tiêu Dao cho ngươi ư?” Hư Trúc nói: “Thì ra… thì ra mỗ mỗ cũng biết đến phái Tiêu Dao?” Y từng nghe Tô Tinh Hà nói, người ngoài phái mà nhắc đến ba chữ “phái Tiêu Dao” thì quyết không để sống, bây giờ y thấy cô bé chính miệng nói ra mới dám nói theo. Y lại càng tin chắc cô bé này là một vị tiền bối nào mượn xác để hoàn hồn, là ma quỷ chứ không phải người. Dù có muốn giết cô này cũng không biết giết phải ai?

    Cô bé tức giận nói: “Ta mà lại không biết phái Tiêu Dao ư? Ta biết phái Tiêu Dao trước cả Vô Nhai Tử là khác.” Hư Trúc “Dạ dạ!”, nghĩ thầm: “Chắc bà này là hồn ma đã mấy trăm năm về trước, dĩ nhiên già hơn Vô Nhai Tử lão tiên sinh nhiều.”

    Bỗng thấy cô bé lượm một cành khô vạch xuống mặt đất đầy tuyết phủ thành một bàn cờ vây, ngang mười chín hàng, dọc mười chín hàng. Hư Trúc ngấm ngầm kinh hãi nghĩ thầm: “Cô này lại bắt mình đánh cờ thì hỏng bét.” Y thấy cô bé vẽ xong bàn cờ, lại vẽ quân cờ, khuyên tròn trống ở giữa là quân trắng, khuyên tròn có một chấm ở giữa là quân đen. Bàn cờ chi chít những quân, đến lúc cô bé vẽ xong một nửa, Hư Trúc đã nhận ra đó là thế Trân Lung bí hiểm của Vô Nhai Tử trước kia. Y nghĩ thầm: “Té ra cô này cũng biết thế cờ kỳ bí đó.” Rồi y tự hỏi: “Phải chăng ngày trước cô không phá nổi thế cờ này nên tức quá mà chết?” Y nghĩ đến đây thì ớn lạnh cả xương sống.

    Cô bé vẽ thế cờ xong, cất tiếng nói: “Ngươi bảo đã giải được thế cờ này, vậy đầu tiên đi thế nào, ngươi thử diễn lại cho ta coi!” Hư Trúc đáp: “Dạ!”, rồi vẽ một con cờ vít chết một đống quân của mình. Cục diện bàn cờ lập tức cởi mở, rồi y tiếp tục diễn lại những nước được Đoàn Diên Khánh truyền âm chỉ thị, phản kích lại quân đen. Bất giác mồ hôi cô bé toát ra ướt cả trán, miệng lẩm bẩm: “Ý trời, thật là ý trời! Trong thiên hạ làm gì có ai nghĩ ra phương pháp phải tự sát trước rồi mới giết người sau?” .

    Cô bé đợi Hư Trúc diễn lại xong cách phá thế Trân Lung, trầm ngâm một lúc rồi nói: “Xem ra tiểu hòa thượng là người thành thực chứ không phải ăn nói hồ đồ. Còn Vô Nhai Tử truyền cái nhẫn thất bảo này lại cho ngươi như thế nào, ngươi kể hết lại cho ta nghe. Ngươi phải nói cho thật đúng, chỉ sai nửa câu là mất mạng.”

    Hư Trúc đáp: “Vâng”, rồi nhà sư kể lại từ đầu, mình được sư phụ sai xuống núi, lý do phá thế cờ bí hiểm, Vô Nhai Tử truyền công trao nhẫn, Đinh Xuân Thu ám hại Tô Tinh Hà cùng Huyền Nạn đại sư, rồi mình đi kiếm bọn sư bá Tuệ Phương. Y từ từ kể lại cho cô bé không sót mảy may.

    Cô bé không nói một câu, chăm chú nghe xong mới lên tiếng: “Vậy thì Vô Nhai Tử rõ ràng là sư phụ ngươi. Thế mà ngươi không kêu y bằng sư phụ, lại kêu bằng lão tiên sinh, là nghĩa làm sao?” Hư Trúc bẽn lẽn đáp: “Tiểu tăng vốn là hòa thượng chùa Thiếu Lâm, nhất định không thể quy đầu môn phái nào khác.” Cô bé lại hỏi: “Ngươi không muốn làm chưởng môn phái Tiêu Dao ư?” Hư Trúc lắc đầu lia lịa, đáp: “Ngàn vạn lần không muốn.” Cô bé liền nói: “Vậy thì dễ lắm, ngươi trao cái nhẫn thất bảo đó lại cho ta. Ta thay ngươi làm chưởng môn phái Tiêu Dao, có được không?” Hư Trúc cả mừng đáp: “Chuyện đó tiểu tăng cầu còn chưa được.” Nói xong nhà sư tháo chiếc nhẫn bảo thạch ở ngón tay ra, trao lại cho cô bé.

    Cô bé thần sắc bất định, nửa như vui nửa như buồn, đón lấy chiếc nhẫn. Ngờ đâu ngón tay cô nhỏ quá, ngón giữa và ngón vô danh không thể đeo vừa, cô đành gắng gượng đeo vào ngón cái, dường như không vừa ý. Cô bé lại hỏi: “Ngươi còn nói Vô Nhai Tử trao cho một tấm đồ hình, dặn ngươi đến Vô Lượng Sơn ở Đại Lý tìm người để học Bắc Minh Thần Công. Tấm đồ hình ấy đâu?”

    Hư Trúc thò tay vào bọc lấy đồ hình ra. Cô bé mở ra xem, vừa thấy mỹ nữ cung trang trong bức đồ hình, đột nhiên cô sa sầm nét mặt, cất tiếng mắng: “Lão.. lão bảo ngươi đi tìm con tiện tì này để học võ công! Thì ra lão chết đến nơi mà vẫn không quên được con tiện tì, vẽ chân dung nó đẹp đến thế này!” Mặt cô đầy vẻ oán hận, liệng bức vẽ xuống đất, giẫm chân lên.

    Hư Trúc kêu: “Trời ơi!”, rồi vội cúi xuống nhặt lên. Cô bé tức tối hỏi: “Mi tiếc ư? Hư Trúc đáp: “Bức tranh đẹp như thế, dĩ nhiên đáng tiếc.” Cô bé hỏi: “Con tiện tì đó là ai, tên tiểu tặc Vô Nhai Tử có bảo ngươi không?” Hư Trúc lắc đầu đáp: “Không!” Y nghĩ thầm: “Không hiểu sao Vô Nhai Tử lão tiên sinh đã biến thành tên tiểu tặc Vô Nhai Tử rồi?”

    Cô bé vẫn hầm hầm tức giận nói: “Hừ! Tên tiểu tặc này si mê quá, đừng nói bây giờ mà ngay mấy chục năm về trước, dung mạo con tiện nhân kia cũng không xinh đẹp đến thế này.” Cô càng nói càng tức, thò tay ra toan giựt lấy bức họa, Hư Trúc vội cất ngay vào bọc. Cô bé không cướp được mỹ nhân đồ, tức quá thở lên hồng hộc, chửi mắng không tiếc lời: “Tên tiểu tặc vô lương tâm! Con tiện tì vô liêm sỉ!” Hư Trúc đứng ngẩn người ra, không hiểu vì lý do gì mà cô bé lại nổi giận. Y đoán là quỉ hồn đang nhập vào cô bé có quen biết mỹ nhân trong bức họa, hai người này có mối thù oán gì đó, nên bây giờ vừa thấy hình người trên bức vẽ là tức giận không nhịn được.

    Cô bé còn đang vừa thóa mạ vừa nguyền rủa, thì bụng Hư Trúc đột nhiên kêu òng ọc một hồi. Suốt đêm qua cho tới sáng nay y mãi lo chạy trốn, chưa được hạt cơm nào vào ruột, nên đói đến sôi bụng.

    Cô bé hỏi: “Ngươi đói lắm phải không?” Hư Trúc đáp: “Đúng thế! Trên ngọn núi đầy tuyết phủ này, chẳng có thứ gì ăn được.” Cô bé nói: “Sao lại không có? Trên núi này có gà rừng, có hươu nai, lại có cả sơn dương. Bây giờ ta dạy cho ngươi cách chạy nhanh dưới đất, để ngươi đi bắt gà rừng cùng hươu nai cầy cáo…” Hư Trúc không chờ cô bé nói hết vội xua tay ngắt lời: “Kẻ tu hành không thể sát sinh được! Tiểu tăng thà chịu chết đói, quyết không ăn mặn.” Cô bé tức mình mắng: “Tặc hòa thượng! Chẳng lẽ suốt đời ngươi không ăn mặn sao?”

    Hư Trúc nhớ lại hôm vào quán cơm đã bị một cô gái giả trai đánh lừa ăn một miếng thịt béo và húp nửa bát thang gà, nhăn nhó đáp: “Có một lần tiểu tăng bị người ta lừa gạt ăn phải đồ mặn, nhưng đó chỉ là vô tâm không biết, chắc đức Phật không bắt tội. Còn bảo tiểu tăng tự tay sát sinh thì nhất quyết không thể được.”

    Cô bé nói: “Ngươi không dám giết gà giết hươu, thế mà giết người thì còn đại ác hơn nhiều”. Hư Trúc kinh ngạc hỏi lại: “Tiểu tăng mà giết người ư? A di đà Phật! Tội lỗi, tội lỗi.” Cô bé nói: “Ngươi còn niệm Phật thì thật là buồn cười. Ngươi không đi bắt gà rừng cho ta ăn thì chỉ trong hai giờ nữa là ta phải chết, thế là ngươi giết ta đó!” Hư Trúc gãi đầu gãi tai nói: “Trên núi này chắc có rau thơm, có măng tre, để tiểu tăng đi kiếm về cho tiền bối dùng.” Cô bé sầm mặt lại, chỉ tay lên trời nói: “Lúc mặt trời lên tới đỉnh đầu mà ta không được ăn đồ huyết thực, nhất định là phải chết.” Hư Trúc cực kỳ kinh hãi, nói: “Sao tiền bối lại phải ăn đồ huyết thực?” Y nghĩ ngay tới loài quỷ hút máu, sợ đến lạnh xương sống.

    Cô bé lại nói tiếp: “Ta mắc một chứng bệnh kỳ quái là hàng ngày cứ đúng giờ ngọ không được ăn đồ huyết thực thì chân khí trong người tôi lên sùng sục, phát điên lên mà chết, e rằng nguy hiểm cho ngươi.” Hư Trúc vẫn lắc đầu quây quậy nói: “Đành chịu thôi. Đệ tử nhà Phật thì phải nghiêm thủ thành quy giới luật. Tự mình dĩ nhiên không được sát sinh, mà thấy người ta có ý định sát sinh cũng phải hết sức ngăn cản.”

    Cô bé quắc mắt lên nhìn, thấy y tuy ra chiều sợ hãi song rất kiên quyết, không chịu khuất phục mình. Cô liền đổi giọng cười hì hì rồi hỏi: “Ngươi tự xưng là đệ tử nhà Phật, nghiêm thủ thanh quy giới luật. Vậy có những giới luật gì?” Hư Trúc đáp: “Giới luật nhà Phật chia làm giới căn bản và giới đại thừa, hai thứ riêng biệt.” Cô bé cười khẩy hỏi: “Rắc rối nhỉ? Giới căn bản, giới đại thừa là những gì?” Hư Trúc đáp:“Giới căn bản tương đối dễ hơn và chia ra làm bốn bậc, một là ngũ giới, hai là bát giới, ba là thập giới và bốn là cụ túc giới tức là hai trăm năm mươi giới. Cư sĩ tu tại gia phải giữ gìn ngũ giới, đầu tiên là không sát sinh, thứ hai là không trộm cắp, thứ ba là không dâm tà, thứ tư là không nói dối, thứ năm là không uống rượu. Tỳ kheo xuất gia thì trước hết phải giữ bát giới rồi sang đến thập giới và cuối cùng rộng ra đến cụ túc hai trăm năm mươi giới, còn nghiêm mật hơn nhiều. Nói sao thì nói, không được sát sinh là giới cấm quan trọng nhất của đệ tử nhà Phật.”.

    Cô bé trầm ngâm một lúc rồi hỏi: “Ta nghe nói những bậc cao tăng cửa Phật nếu muốn thành chánh quả thì phải giữ Thượng thừa giới và còn kêu bằng Thập nhân, có đúng thế không?” Hư Trúc kinh hãi đáp: “Đúng thế! Giới đại thừa phải xả thân cứu người, hành xử theo thập nhân.” Cô bé hỏi: “Thập nhân là những gì?”

    Võ công Hư Trúc tầm thường, nhưng y thuộc kinh Phật làu làu, bèn đáp ngay: “Trong thập nhân thì một là cắt thịt nuôi chim ưng, hai là cúng thần cho hổ đói, ba là chặt đầu tạ cho trời, bốn là bẻ xương xuất tủy, năm là đem thân đốt thiên đăng, sau là móc mắt ra bố thí, bảy là lột da để chép kinh, tám là đâm vào tim để thề thốt, chín là đốt thân thể cúng Phật, mười là lấy máu tưới cho đất.”

    (còn tiếp)

    Nguồn: Thiên Long bát bộ. Tiểu thuyết của Kim Dung. Tác phẩm được bắt đầu được đăng trên tờ Minh báo ở Hồng Kông và Nam Dương thương báo ở Singapore vào ngày 03-09-1963 đến ngày 27-05-1966, liên tục trong 4 năm. Các Dịch giả: Hàn Giang Nhạn; Đông Hải; Nguyễn Duy Chính. NXB Văn học, 2002.

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập38,414,553

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/