Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập35,895,045

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Thiên Long bát bộ

Kim Dung

  • Thứ sáu, 10:54 Ngày 11/12/2020
  • Hai người đi chừng một dặm, A Châu cười nói: “Đoàn công tử! Nghĩ lại quả thật là xảo hợp, lão đồ đệ xấu xí đòi ngay công tử biểu diễn Lăng Ba Vi Bộ, còn bảo công tử giỏi hơn cả sư phụ lão.” Đoàn Dự cũng cười theo. A Châu lại tiếp: “Không biết kẻ nào ngầm phóng hơi độc ra. Gã tướng quân Tây Hạ luôn mồm mắng nhiếc nội gian, xem chừng chính người Tây Hạ làm chuyện này.” Đoàn Dự chợt nghĩ đến một người, bèn nói: “Hay chính là Lý Diên Tông, gã võ sĩ Tây Hạ mà tại hạ cùng Vương cô nương gặp nơi trạm xay lúa?” A Châu chưa gặp Lý Diên Tông nên không phỏng đoán gì được, chỉ nói: “Chúng ta về hỏi lại Vương cô nương xem cô nương nghĩ thế nào.”

    Bỗng nghe tiếng vó ngựa dồn dập, trên đường cái một người phi ngựa chạy như bay tới. Đoàn Dự tinh mắt, từ xa đã nhận ra người, mừng rỡ kêu lên: “A! Kiều đại ca kìa!” Chàng đang tính cất tiếng gọi, A Châu đã vội kéo áo chàng, nói: “Người thật tới rồi, chớ có lên tiếng.”rồi nàng vội vàng quay người đi. Đoàn Dự chợt hiểu ra: “A Châu đang giả làm Kiều đại ca, để đại ca trông thấy quả là không hay”. Chẳng mấy chốc Kiều Phong đã cưỡi ngựa đến gần. Đoàn Dự không dám đối diện với chàng, nghĩ bụng: “Khi Kiều đại ca tương hội cùng quần hào Cái Bang, chân tướng tất nhiên bại lộ. Không hiểu đại ca có phiền trách A Châu hay không?”

    *

    Nguyên Kiều Phong cứu được A Châu, A Bích hai nàng rồi biết tin anh em Cái Bang bị người Tây Hạ bắt hết thì trong lòng nóng nảy, chạy khắp nơi tìm kiếm. Thế nhưng đất Giang Nam ruộng lúa nương dâu bát ngát, đường thủy đường bộ giao tiếp tứ tung, không phải như miền bắc phần nhiều là đường độc đạo, nên khó bề tìm ra được. Kiều Phong kiếm mãi, may sao cũng gặp hai chú tiểu, mới hỏi ra chuyện, lập tức chạy đến Thiên Ninh Tự. Chàng thấy Đoàn Dự dáng người thanh tú, trạng mạo khôi ngô, liền nghĩ thầm: “Vị công tử này trông mặt mũi sáng sủa chẳng kém gì Đoàn Dự hiền đệ”. A Châu lúc ấy đã trở gót quay đi, chàng cũng không để ý, trong bụng chỉ mải lo lắng về anh em Cái Bang nên cứ quất ngựa chạy cho nhanh về phía trước.

    Kiều Phong chạy đến trước chùa Thiên Ninh, thấy độ mươi bang chúng Cái Bang đang áp giải bọn võ sĩ Tây Hạ bị trói từ trong chùa đi ra, Kiều Phong mừng quá nghĩ thầm: “Thì ra các huynh đệ Cái Bang đã chuyển bại ra thắng rồi.” Bang chúng Cái Bang thấy Kiều Phong đi rồi quay trở lại, tới tấp chạy ra nghênh tiếp, nói: “Bang chủ! Bây giờ nên phát lạc bọn man rợ này ra sao, xin bang chủ cho hiệu lệnh.” Kiều Phong nói: “Ta đã không còn là người Cái Bang nữa, hai tiếng bang chủ xin đừng gọi đến. Các huynh đệ có bị tổn thương không?”

    Bọn Từ trưởng lão trong chùa nghe tin Kiều Phong quay lại liền vội vàng chạy ra đón, người thì hổ thẹn, người thì vui sướng ra mặt. Tống trưởng lão cao giọng nói: “Bang chủ, hôm qua ở trong rừng hạnh, thám tử về cấp báo quân tình khẩn cấp Tây Hạ, Từ trưởng lão tự mình quyết định không cho Kiều bang chủ xem. Bang chủ có biết chuyện gì không? Từ trưởng lão, mau đem ra cho bang chủ xem nào.” Giọng nói của Tống trưởng lão xem ra có vẻ châm biếm.

    Từ trưởng lão mặt mày sượng sùng, lấy viên giấy bên trong cục sáp ong, thở dài đưa cho Kiều Phong rồi nói: “Ta quả là nhầm lẫn.” Kiều Phong lắc đầu không cầm.

    Tống trưởng lão chen lên, cầm lấy viên giấy mở ra lớn tiếng đọc: “Khải bẩm bang chủ! Thuộc hạ nghe nói tướng quân Hách Liên Thiết Thụ của Tây Hạ dẫn các cao thủ Nhất Phẩm Đường qua Trung Nguyên đối phó với bản bang. Bọn họ có một loại độc khí rất ghê gớm, khi phóng ra tuyệt không mùi vị, ai mà trúng phải thì không cử động được. Khi gặp bọn chúng phải bịt mũi lại, khống chế thủ lãnh để cướp lấy giải dược có mùi hôi thối kinh người, nếu không cực kỳ nguy hiểm. Khẩn cấp, khẩn cấp! Dịch Đại Bưu thuộc hạ Đại Tín Đà bẩm báo.”

    Tống trưởng lão đọc xong, cùng bọn Ngô trưởng lão, Hề trưởng lão nét mặt hầm hầm nhìn Từ trưởng lão. Bạch Thế Kính nói: “Dịch Đại Bưu huynh đệ gửi tin khẩn cấp về cũng còn đúng lúc, tiếc thay chúng ta không kịp mở ra xem. Cũng may anh em chỉ bị một phen hoảng vía, không ai bị thương tổn. Bang chủ, tất cả bọn thuộc hạ xin chịu lỗi, bang chủ đại nhân đại nghĩa lượng thứ cho.”

    Ngô trưởng lão nói: “Bang chủ vừa đi khỏi anh em đã ra nông nỗi này, không nhờ bang chủ và Mộ Dung công tử kịp thời đến cứu thì toàn thể Cái Bang chết sạch rồi. Bang chủ mà không quay về chủ trì đại cuộc, đứng đầu bản bang thì không xong, hỏng bét hết.” Kiều Phong ngạc nhiên hỏi lại: “Mộ Dung công tử nào?” Ngô trưởng lão nói: “Gã Toàn Quan Thanh nói năng lếu láo, bang chủ chẳng nên để vào tai. Kết giao bạn bè phỏng có chi là khó? Thuộc hạ tin rằng Bang chủ cùng Mộ Dung công tử mới quen biết nhau bữa nay.” Kiều Phong hỏi: “Mộ Dung công tử ư? Phải chăng Ngô lão nói đến Mộ Dung Phục? Ta chưa gặp y lần nào.”

    Từ trưởng lão cùng bốn lão Tống, Hề, Trần, Ngô mặt mày ngơ ngác, ai nấy ngớ ra nghĩ bụng: “Vừa mới đây y cùng Mộ Dung công tử dắt tay nhau vào giải độc cho mọi người, sao bây giờ bảo chưa biết Mộ Dung công tử?” Hề trưởng lão suy nghĩ một lát tỉnh ngộ ra, nói: “A phải rồi! Công tử vừa rồi chỉ tự xưng ở họ Mộ Dung chứ có bảo là Mộ Dung Phục đâu! Trong thiên hạ, người họ Mộ Dung hàng nghìn hàng vạn, chẳng có gì là lạ.” Trần trưởng lão nói: “Y đề thơ trên tường khẩu khí gây ông đập lưng ông, không phải Mộ Dung Phục thì còn ai?”.

    Bỗng có một giọng nói quái gở xen vào: “Gã công tử nhãi nhép kia công phu gì cũng biết, lại còn tinh diệu hơn chính chủ nhân, mà còn không phải Mộ Dung Phục ư? Chính là hắn, nhất định là hắn!” Mọi người nhìn xem ai nói, thì ra lão Nam Ngạc Hải Thần mắt nhỏ như mắt chuột, râu ngắn mặt vàng. Lão trúng độc bị trói, không nhịn được nữa nên xen vào nói góp.

    Kiều Phong lạ lùng hỏi: “Thế ra Mộ Dung Phục đã đến đây rồi ư?” Nam Hải Ngạc Thần giận dữ chửi: “Đồ rắm thối! Chính người vừa mới dắt tay Mộ Dung Phục đến đây, không biết dùng tà thuật gì khiến cho lão gia mềm như bún. Ngươi mau mau thả lão gia ra, nếu không… nếu không…” Lão ấp úng không biết “nếu không” thì sao, nghĩ đi nghĩ lại chỉ đằng hắng mấy tiếng.

    Kiều Phong nói: “Ngươi xem ra cũng là một cao thủ võ lâm, sao lại ăn nói lăng nhăng như thế? Ta đến đây bao giờ? Lại cùng Mộ Dung Phục dắt tay đi vào ư? Thật là hoang đường cổ quái!” Nam Hải Ngạc Thần tức đến thở hồng hộc, gầm lên: “Con mẹ thằng Kiều Phong, thật uổng cho ngươi làm tới bang chủ Cái Bang mà lại nói năng láo toét đến thế. Này các huynh đệ lớn nhỏ, có phải Kiều Phong vừa đến đây không? Tướng quân chúng ta chẳng mời y ngồi uống trà là gì?” Bọn Tây Hạ đồng thanh đáp: “Đúng thế! Mộ Dung Phục biểu diễn Lăng Ba Vi Bộ, Kiều Phong đứng vỗ tay khen, không lẽ còn giả được hay sao?”

    Ngô trưởng lão kéo tay áo Kiều Phong, khẽ nói: “Bang chủ! Người quang minh lỗi lạc không làm việc ám muội, chuyện bang chủ mới đến đây chẳng nên cãi làm gì.” Kiều Phong nhăn nhó cười gượng, nói: “Ngô tứ ca, đến từ ca cũng không tin ta nữa hay sao?” Ngô trưởng lão liền lấy chiếc bình thuốc giải đưa ra nói: “Bang chủ, thuộc hạ trả lại chiếc bình này, không chừng mai sau có việc dùng đến.” Kiều Phong ngạc nhiên: “Trả lại cho ta ư? Sao lại trả cho ta?” Ngô trưởng lão nói: “Bình thuốc giải này bang chủ vừa mới đưa cho thuộc hạ, không lẽ quên rồi ư?” Kiều Phong sững sờ hỏi lại: “Sao? Có thực Ngô tứ ca vừa mới gặp ta hay không?” Ngô trưởng lão thấy ông ta cãi tới cùng, trong lòng vừa thấy không vui, lại vừa cảm thấy băn khoăn.

    Còn Kiều Phong tuy xét việc tinh minh mau lẹ, nhưng cũng không thể đoán ra lúc nãy đã có người giả dạng mình đến Thiên Ninh Tự cứu người. Chàng nghĩ thầm trong việc này ắt có âm mưu trọng đại. Ngô trưởng lão, Hề trưởng lão đều là người thẳng thắn quyết không làm trò gian dối, nhưng kẻ bày mưu tính kế phải vô cùng lợi hại, bố trí tinh vi, mà nhằm mục đích gì chàng cũng không rõ.

    Quần hào Cái Bang được giải cứu vốn dĩ ai nấy đều cảm kích, nhưng nay thấy Kiều Phong nhất quyết phủ nhận lại chuyển sang kinh ngạc. Có người nghĩ rằng mấy hôm nay chàng gặp nhiều chuyện đau lòng, khiến cho thần trí thác loạn. Người khác lại cho rằng Kiều Phong còn có kế hoạch bí mật đối phó với Tây Hạ nên không tiện công khai thừa nhận. Có người lại cho rằng Mã Đại Nguyên quả đúng là bị chàng nhờ tay Mộ Dung Phục giết đi, lúc nãy nghe Toàn Quan Thanh châm biếm, e ngại gian mưu bại lộ nên khẳng khăng chối là mình không quen biết gì với họ Mộ Dung. Kẻ thì đoán chàng muốn quay lại ngôi bang chủ nên sắp đặt kế sách, người lại cho rằng chàng là người Khất Đan ra tay hại cả Tây Hạ lẫn Đại Tống. Mỗi người nghĩ một nẻo nên nét mặt kẻ thì hoài nghi, người thì sùng kính, kẻ lại băn khoăn, phẫn nộ, hoặc khinh bỉ, hận thù.

    Kiều Phong thở dài một tiếng, nói: “Dù sao thì các vị huynh đệ đều đã thoát hiểm rồi, Kiều Phong này xin cáo biệt.” Nói xong chàng chắp tay từ giã, xoay người nhảy lên ngựa, ra roi chạy ngay.

    Bỗng nghe Từ trưởng lão gọi to: “Kiều Phong! Hãy để Đả Cẩu Bổng lại đã!” Kiều Phong dừng ngựa, hỏi: “Đả Cẩu Bổng ư? Ta đã trao trả từ lúc còn ở rừng hạnh kia mà?” Từ trưởng lão nói: “Bọn ta lỡ bị bắt, Đả Cẩu Bổng rơi vào tay bọn ác cẩu Tây Hạ. Bây giờ tìm khắp mà chẳng thấy đâu, ắt hẳn nhà ngươi lấy được rồi.” Kiều Phong ngửa mặt lên trời cười một tràng dài đầy vẻ thê lương, rồi lớn tiếng nói: “Kiều mỗ với Cái Bang không còn dây mơ rễ, má, lấy Đả Cẩu Bổng để làm gì? Thì ra Từ trưởng lão coi thường ta quá.” Chàng thúc hai vế vào bụng ngựa, phóng như bay về phía bắc.

    Từ thuở nhỏ Kiều Phong đã được cha mẹ nâng niu, về sau được Huyền Khổ đại sư của chùa Thiếu Lâm dạy võ nghệ, lại bái Uông bang chủ Cái Bang làm thầy. Chàng bôn tẩu giang hồ từng gặp nhiều bước gian nan, nhưng vẫn được sư phụ cùng bằng hữu thương mến một cách chân thành. Ai ngờ hai ngày nay đất bằng nổi sóng, oai danh lừng lẫy cùng tiếng thơm của một vị bang chủ đại nhân đại nghĩa bỗng phút chốc tiêu tan, chàng bị người ta nhìn như một tên bán nước hại dân, nói dối vô liêm sỉ. Kiều Phong cứ để cho con ngựa tùy ý chạy đi, trong lòng ngổn ngang trăm mối: “Giả tỷ ta là người Khất Đan thật, thì trong mười năm qua chính tay ta giết biết bao nhiêu đồng bào, phá vỡ bao nhiêu kế hoạch của quốc gia, quả là đại bất trung. Nếu đúng là cha mẹ ta bị người Hán giết ngoài Nhạn Môn Quan, ba mươi năm qua ta nhận người khác làm cha mẹ, lại nhận kẻ đại cừu làm thầy, quả là đại bất hiếu, Kiều Phong hỡi Kiều Phong! Mi đã là người bất trung, bất hiếu như vậy thì còn mặt mũi nào sống ở trên đời nữa? Mà nếu như Tam Hòe Công không phải cha ta thì ta nào phải là Kiều Phong? Ta họ gì? Phụ thân đặt cho ta tên gì? Ha ha, ta không những là kẻ bất trung bất hiếu mà còn là đứa không họ không tên.”

    Kiều Phong lại nghĩ: “Không chừng mọi việc đều do một tên đại gian đại ác đặt ra, vu hãm cho ta thân bại danh liệt, không ngóc đầu lên được nữa. Kiều Phong này đường đường là bậc đại trượng phu, nếu vì phẫn nộ nhất thời mà bỏ đi, không ngó ngàng gì đến Cái Bang nữa, thì có phải là gian mưu của y đã thành công rồi ư? Không được! Thế nào ta cũng phải tra xét cho minh bạch.”

    Chàng suy nghĩ một hồi rồi quyết định việc đầu tiên là phải về núi Thiếu Thất tỉnh Hà Nam, hỏi lại Tam Hòe Công về thân thế lại lịch của mình. Sau đó sẽ vào chùa Thiếu Lâm khấu kiến Huyền Khổ đại sư để xin chỉ bảo chân tướng. Hai người này xưa nay thương yêu ta khôn xiết, chắc không nỡ giấu giếm.

    Khi đã định được chủ ý, trong lòng Kiều Phong không còn buồn phiền nữa. Có điều khi trước chàng là bang chủ Cái Bang thì khắp giang hồ đâu cũng là nhà, còn bây giờ không tiện đến tá túc tại các phân đà nữa, lại phải tìm những đường hẻo lánh mà đi để khỏi gặp các thuộc hạ cũ trong Cái Bang, tránh sinh ra rắc rối cùng phiền não. Đi được hai ngày, trong người cạn sạch tiền bạc, chàng đành phải đem bán con ngựa đoạt được của bọn Tây Hạ để làm lộ phí.

    Một hôm, Kiều Phong đến chân núi Tung Sơn bèn nhắm theo ngọn Thiếu Thất mà đi. Đây là nơi chàng sinh sống hồi còn nhỏ tuổi, chỗ nào cũng quen thuộc. Trong võ lâm thì Cái Bang là bang hội lớn nhất, Thiếu Lâm là môn phái lớn nhất, nếu như bang chủ Cái Bang đến bái phỏng Thiếu Lâm Tự ắt phải sắp đặt đủ loại nghi lễ, kinh động rất nhiều người. Vì thế mà từ lúc nhậm chức bang chủ Cái Bang đến nay, hàng năm chàng chỉ sai người đem đồ nhu dụng cùng quà cáp về vấn an cha mẹ và ân sư, chưa tự về thăm. Đến nay Kiều Phong mới quay về cố lý, nghĩ đến một hai giờ nữa sẽ rõ thân thể vốn mơ hồ, nên dù vốn là người trấn tĩnh trầm ổn, trong lòng chàng cũng thấy nao nao.

    Nhà cũ của chàng ở về phía đông núi Thiếu Thất. Kiều Phong rảo bước theo sườn núi, đến một khu vườn rau có cây táo lớn. Dưới gốc táo còn úp một cái nón cỏ và một chiếc bình trà đã sứt quai. Kiều Phong nhận ra là vật của phụ thân Kiều Tam Hòe, trong lòng nổi lên một niềm thương cảm: “Gia gia cần mẫn tiết kiệm, cái bình trà vỡ này dùng đã mấy chục năm nay mà cũng chưa vứt bỏ.”

    Kiều Phong nhìn lại cây táo, hồi tưởng khi còn nhỏ, mỗi mùa trái chín phụ thân đều nắm bàn tay bé nhỏ của chàng mà rung cho trái rụng. Những trái táo đỏ chín đến nứt ra, vừa ngọt vừa nhiều nước, từ lúc xa nhà đến nay chàng chưa được ăn thứ táo nào ngon đến thế. Kiều Phong nghĩ thầm: “Dù cho hai người không phải phụ mẫu thân sinh ta chăng nữa, nhưng cái ơn dưỡng dục kia, ta một đời báo đáp cũng không xong. Bất luận chân tướng thế nào, ta quyết không thay đổi cách xưng hô”.

    Kiều Phong đến trước ba gian nhà đất thấy ngoài sân có mảnh phên tre phơi đầy rau dưa. Một con gà mái dẫn đàn gà con đang bới cỏ tìm mồi. Bất giác chàng tủm tỉm cười, nghĩ thầm: “Không chừng tối nay má má giết gà làm cơm để khoản đãi đứa con lâu nay không gặp.” Chàng cao giọng gọi: “Gia gia! Má má! Con đã về đây!”

    Kiều Phong gọi luôn mấy tiếng không nghe đáp lại thì nghĩ bụng: “Phải rồi! Hai cụ nay đã cao tuổi, chắc lãng tai không nghe rõ”. Chàng đẩy cửa bước vào, trong nhà từ bàn gỗ ghế tre đến cày bừa cuốc xẻng vẫn gần như nguyên vẹn, nhưng sao không thấy bóng người?

    Kiều Phong lại gọi thêm mấy tiếng nữa: “Gia gia, má má ơi!” Vẫn không thấy ai trả lời, chàng hơi ngạc nhiên, lẩm bẩm một mình: “Không biết hai cụ đi đâu?” Chàng thò đầu nhìn vào trong phòng, bất giác giật nảy mình. Hai vợ chồng Kiều Tam Hòe nằm lăn lóc dưới đất, không động đậy.

    Kiều Phong nhảy xổ ngay vào nâng mẫu thân dậy thì thấy bà đã tắt thở nhưng thân còn hơi ấm, rõ ràng là mới chết chưa đầy một giờ. Chàng đến đỡ phụ thân lên thì cũng y như thế. Kiều Phong vừa kinh hoàng vừa đau xót, ôm thi thể phụ thân chạy ra ngoài cửa, xem xét kỹ dưới ánh sáng mặt trời, thấy gân cốt trước ngực đều bị đứt đoạn, hiển nhiên bị một tay cao thủ võ lâm dùng chưởng lực lợi hại đánh chết. Xem đến thi thể mẫu thân thì cũng không khác chút nào. Kiều Phong trong lòng bấn loạn, nghĩ thầm: “Gia nương ta là vợ chồng nhà quê trung hậu thực thà, sao lại bị cao thủ võ lâm đến hạ độc thủ? Chuyện này ắt hẳn vì ta mà ra.”

    Chàng liền xem xét kỹ càng ba gian nhà từ trước ra sau, nhảy cả lên mái xem có vết tích gì không. Song hung thủ vô cùng cẩn thận, một vết chân cũng không để lại. Kiều Phong mặt mày đẫm lệ, càng nghĩ càng đau buồn, nhịn không nổi khóc òa lên.

    Mới khóc được mấy tiếng thì sau lưng có tiếng người nói: “Đáng tiếc! Đáng tiếc! Chúng ta đến chậm mất rồi.” Kiều Phong đứng lên quay lại nhìn, thấy bốn nhà sư trung niên, phục sức theo lối chùa Thiếu Lâm. Kiều Phong tuy đã từng học võ phái Thiếu Lâm, nhưng sư phụ chàng là Huyền Khố đại sư cứ nửa đêm mới đến nhà chàng truyền thụ, thành ra chàng không biết mặt nhà sư nào trong chùa. Lúc này trong lòng chàng đau khổ, thấy người ngoài đến mà cũng không cầm được nước mắt.

    Một nhà sư dáng người cao cao, mặt đầy vẻ giận dữ, lớn tiếng quát mắng: “Kiều Phong! Con người như ngươi thật không bằng chó lợn. Vợ chồng Kiều Tam Hòe dù không phải là phụ mẫu thân sinh, song mười mấy năm trời dưỡng dục đâu phải ít công lao, ngươi nỡ nào ra tay sát hại?” Kiều Phong sụt sùi đáp: “Tại hạ vừa về đến nhà đã thấy song thân bị hại, đang muốn tra xét hung thủ là ai để báo thù. Sao đại sư lại nói như thế?” Nhà sư cao tức giận đáp: “Dòng giống Khất Đan tâm địa như lang sói, hành động như cầm thú. Chính tay ngươi hạ sát nghĩa phụ, nghĩa mẫu, tiếc rằng bọn ta đến chậm mất một chút. Họ Kiều kia! Ngươi muốn đến núi Thiếu Thất làm càn, e rằng không dễ dàng đâu.” Nói xong vung chưởng đánh vào ngực Kiều Phong. “

    Chàng đang định né tránh bỗng nghe sau lưng có hơi gió nhè nhẹ, biết rằng có người đánh lén. Kiều Phong không muốn động thủ cùng các nhà sư Thiếu Lâm một cách hồ đồ nên chân trái điểm một cái đã lạng người xa hơn trượng, quả nhiên một nhà sư Thiếu Lâm đá hụt vào quãng không.

    Bốn nhà sư thấy chàng né tránh một cách dễ dàng như vậy đều lộ vẻ kinh dị. Nhà sư cao lại quát mắng: “Võ công ngươi giỏi thì đã sao? Ngươi tưởng rằng giết nghĩa phụ nghĩa mẫu diệt khẩu là giấu được lai lịch xuất thân ư? Ngươi là nghiệt chủng Khất Đan, việc này đã đồn rầm khắp võ lâm, trên chốn giang hồ còn ai không biết? Ngươi làm chuyện đại nghịch như thế chỉ tăng thêm tội nghiệt mà thôi.” Một nhà sư khác mắng tiếp: “Ngươi trước đã giết Mã Đại Nguyên, nay lại giết vợ chồng Kiều Tam Hòe. Hừ, tưởng như thế là che giấu được chuyện xấu xa hay sao?”

    Kiều Phong nghe hai nhà sư nhục mạ, trong lòng chỉ cảm thấy xót xa, chẳng oán hận chút nào. Bình sinh chàng gặp khó khăn đã nhiều, tập được tính nhẫn nại. Chàng cố giữ bình tĩnh chắp tay thi lễ, nói: “Xin hỏi bốn vị đại sư pháp hiệu là gì? Phải chăng là những bậc cao tăng tại chùa Thiếu Lâm?”

    Một nhà sư người tầm thước tính tình dễ chịu hơn liền nói: “Bọn ta đều là đệ tử Thiếu Lâm. Ôi, nghĩa phụ nghĩa mẫu ngươi một đời trung hậu sao lại được báo đáp một cách thê thảm thế này! Kiều Phong, người Khất Đan các ngươi thật là tàn nhẫn!”

    Kiều Phong nghĩ thầm: “Mấy nhà sư này đã không chịu nói pháp danh, hỏi nữa cũng vô ích. Nhà sư cao kia bảo là họ đến cứu viện chậm một chút, hẳn là có người đưa tin. Ai biết trước gia nương ta gặp nguy hiểm? Ai thế nhỉ?” Chàng liền tìm cách hỏi: “Bốn vị đại sư lòng dạ từ bị định đến cứu gia nương tại hạ, tiếc thay chậm mất một bước…”

    Nhà sư cao kia tính nóng như lửa, vung quyền lên nhắm Kiều Phong đấm tới, quát lớn: “Bọn ta chậm một bước nên người mới làm chuyện hung ác này được. Ngươi còn tự đắc khoe khoang, buông lời khiêu khích nữa hay sao?”

    Kiều Phong biết bốn vị này vì lòng hảo tâm mà đến cứu gia nương mình, thực tâm không muốn động thủ xuất chiêu. Thế nhưng nếu không chế ngự được bọn họ thì vĩnh viễn sẽ không hiểu rõ trắng đen, chàng liền nói: “Tại hạ hết sức cảm kích hảo ý của bốn vị. Hôm nay không biết làm sao hơn, bất đắc dĩ phải đắc tội.” Nói xong, chàng chuyển mình quay vụt lại, đưa tay ra vỗ vào vai nhà sư thứ ba. Nhà sư này quát hỏi: “Ngươi động thủ thật sao?” Y vừa hỏi dứt câu đã bị vỗ trúng vai, nhũn người ra ngồi phịch xuống đất.

    Kiều Phong học võ từ phái Thiếu Lâm nên võ công gia số của bốn nhà sư chàng thuộc nằm lòng, liên tiếp xuất chưởng đánh ngã hết rồi nói: “Tại hạ thật là đắc tội! Xin hỏi bốn vị đại sư, các vị vừa bảo đến cứu chậm một chút, vậy làm sao biết được gia nương tôi sắp bị nạn? Ai đã báo tin cho các vị biết?”

    Nhà sư cao kia giận dữ đáp: “À, thì ra ngươi lại muốn tra hỏi cho biết người đưa tin để hạ độc thủ tiếp. Đệ tử Thiếu Lâm khi nào chịu cung khai với bọn chó Khất Đan? Ngươi cứ thử dùng độc hình xem bọn ta có nói lộ nửa lời hay chăng?”

    Kiều Phong than thầm trong bụng: “Hiểu lầm mỗi lúc một sâu, ta có trình bày cách nào bọn họ cũng nghĩ là mình đang lấy khẩu cung.” Chàng đưa tay xoa nắn trên lưng mỗi người mấy cái, giải hết huyệt đạo rồi nói: “Nếu Kiều mỗ muốn sát nhân diệt khẩu thì lúc này đã lấy mạng bốn vị rồi. Chuyện đúng hay sai, thể nào rồi đây cũng có ngày sông cạn đá bày.”

    Bỗng nghe từ sườn núi có tiếng người cười nhạt, nói: “Muốn sát nhân diệt khẩu cũng không dễ như thế đâu.”

    Kiều Phong ngoảnh đầu lại xem thì thấy đến hơn mười vị hòa thượng Thiếu Lâm, vị nào cũng tay cầm binh khí. Hai nhà sư đứng đầu chừng năm chục tuổi, tay cầm phương tiện sạn, đầu cây sạn hàn quang lấp lánh. Nhãn quan hai vị này loang loáng như điện, thoạt nhìn đã biết nội công thâm hậu. Kiều Phong không sợ hãi, nhưng cũng biết những người vừa đến võ công không phải tầm thường, nếu đã giao tranh thì phải giết vài người mới bảo toàn được tính mạng mà trốn thoát. Chàng chắp tay nói: “Kiều Phong vô lễ, xin có lời tạ tội với chư vị đại sư.” Đột nhiên thần hình chàng bay ngược về sau, lưng đụng gãy cánh cửa, chui tọt vào trong căn nhà đất.

    Biến cố diễn ra cực kỳ nhanh, các nhà sư cùng kinh hoảng kêu la, năm sáu người xông lên nhưng vừa đến cửa, một luồng kình phong từ bên trong đánh ra. Ai nấy đều vội vàng đưa chưởng lên vận nội lực chống đỡ, nghe bùng một tiếng, cát bụi tung bay. Tất cả bị ép lùi lại đến bốn năm bước. Mấy vị đứng vững lại rồi, đều thấy khí huyết trong ngực trào lên, sắc mặt nhợt nhạt, ngơ ngác nhìn nhau. Ai nấy trong bụng đều hiểu rõ chưởng lực của Kiều Phong tuy đã mạnh nhưng vẫn còn dư lực, nếu phóng tiếp chưởng thứ hai ra vị tất đã đỡ nổi. Mọi người cho rằng Kiều Phong là hạng cùng hung cực ác, còn dành sức để đánh nữa, có biết đâu chàng hạ thủ lưu tình, không cố ý giết người.

    Mười mấy hòa thượng đều thủ thế đề phòng. Một lát sau, hai nhà sư đứng đầu cầm phương tiện sạn cùng xuất chiếu Song Long Nhập Động, thân hình song song cùng tiến vào căn nhà đất. Hai cây sạn chạm nhau bật lên những tiếng leng keng, kết thành một màn lưới sáng lòe bảo hộ toàn thân. Nhưng trong nhà trống không, Kiều Phong biến đâu không thấy nữa, thi thể vợ chồng Kiều Tam Hòe cũng không còn.

    Hai nhà sư cầm phương tiện sạn thuộc Giới Luật Viện trong chùa Thiếu Lâm, một người là trì giới tăng, chuyên giám sát hành vi đệ tử bản phái, còn một người là thủ luật tăng, chuyên bôn tẩu giang hồ để tra xét công tội các đệ tử môn hạ. Hai vị này bản lãnh cao cường, kiến văn rộng rãi hơn người, thấy Kiều Phong biến mất trong khoảnh khắc đã là giỏi rồi, ôm theo cả thi thể vợ chồng Kiều Tam Hòe lại càng khó tưởng tượng. Các vị chia nhau tra xét ngõ trước vườn sau, đến cả xó bếp cũng bị lục lọi mấy lần. Hai nhà sư Giới Luật Viện cùng đề khí chạy xuống núi đuổi đến hơn hai chục dặm nhưng nào có thấy tung tích Kiều Phong đâu?

    Chẳng ai ngờ Kiều Phong lại ôm thi thể gia nương chạy ngược lên núi Thiếu Thất. Chàng tìm đến một sườn núi cheo leo thật kín đáo, an táng cha mẹ rồi cung kính dập đầu tám lạy, lâm râm khấn vái: “Gia gia ơi! Má má ơi! Chưa biết gia gia má má bị kẻ nào hạ độc thủ sát hại. Hài nhí nhất định tìm ra hung thủ, đưa đến mộ phần moi tim tế sống hai vị lão nhân gia.”

    Lần này Kiều Phong về nhà, chỉ chậm một phút mà không được gặp mẹ cha. Chàng nghĩ thầm: “Nếu gia nương trông thấy mình đã trưởng thành, tráng kiện khôi ngô chắc là mừng lắm! Giá như ba người được đoàn tụ một ngày nửa buổi thì cũng còn được an ủi phần nào.” Nghĩ đến đây, không cầm lòng được, Kiều Phong thổn thức không ra tiếng. Chàng tính tình cứng cỏi từ bé, ít khi khóc lóc, hôm nay vì đau thương đến cùng cực, căm phẫn đến tột độ, nên nước mắt tuôn trào không sao cầm được.

    Đột nhiên chàng nghĩ ra một chuyện quan trọng, kêu thầm: “Thôi nguy rồi! Ân sư ta là Huyền Khổ đại sư không chừng cũng bị nguy hiểm”.

    Kiều Phong bỗng hiểu ra mấy việc: “Hung thủ giết gia nương chỉ nửa giờ trước khi ta về đến nhà, không phải là chuyện ngẫu nhiên. Y đã dự mưu, hạ thủ xong rồi lập tức thông báo cho chùa Thiếu Lâm rằng ta đang lên núi Thiếu Thất giết hai ông bà để diệt khẩu. Các nhà sư đó tấm lòng nghĩa hiệp, thể nào cũng đến cứu viện, rồi chạm trán với ta. Hiện nay chỉ còn một người biết rõ thân thế của ta là Huyền Khổ sư phụ. Ta phải đề phòng hung thủ lại ra tay, rồi đem hết tội lỗi trút lên đầu mình.”

    Kiều Phong nghĩ đến Huyền Khổ đại sư vì mình mà phải chịu nguy hiểm, bất giác ruột nóng như lửa đốt, vội vàng cất bước chạy thẳng lên chùa Thiếu Lâm. Chàng biết rõ cao thủ trong chùa đông như kiến, nhất là mấy vị lão tăng trong Đạt Ma Đường mang tuyệt kỹ kinh người, nếu mình thò mặt ra tất nhiên bị chư tăng vây đánh, khó lòng thoát thân được. Do đó chàng chỉ tìm những nẻo đường hoang vắng, chông gai, cỏ rậm mà chạy, quần áo bị móc rách bươm, ống chân máu chảy đầm đìa nhưng chàng cũng không coi vào đâu. Lòng vòng theo đường nhỏ lên núi, xa thêm gấp rưỡi, chàng chạy mất hơn một giờ mới lên đến sau chùa. Lúc đó trời đã tối mịt, chàng trong lòng vừa mừng vừa lo, mừng là vì trời tối dễ bề ẩn nấp, lo là vì hung thủ nhân lúc đêm tối đánh lén, mình khó tìm ra tung tích.

    Mấy năm qua Kiều Phong ngang dọc giang hồ ít khi gặp kình địch. Nhưng lần này địch thủ không những võ công cao cường mưu mô quỷ quyệt, mà lại chưa lộ diện. Chùa Thiếu Lâm tuy là đầm rồng hang cọp nhưng đâu có đề phòng có người đến ám toán, nếu như hung thủ đánh lén thì e rằng Huyền Khổ đại sự khó mà thoát được tai kiếp. Kiều Phong cũng biết mình đang rất dễ bị hiềm nghi. Nếu như lúc này Huyền Khổ đại sư đã bị ám toán, không ai nhìn thấy hung thủ hình dạng thế nào, chàng bị người ta phát giác lén lút vào chùa thì dù có trăm cái miệng cũng không cãi nổi. Nếu lúc này Kiều Phong chỉ nghĩ đến mình thì đã tránh khỏi chùa Thiếu Lâm càng xa càng tốt, nhưng một là lo lắng đến sự an nguy của ân sư Huyền Khổ đại sư, hai là muốn nhân cơ hội này tróc nã hung phạm báo thù cho gia nương, nên dẫu cực kỳ nguy hiểm chàng cũng không coi vào đâu.

    Kiều Phong ở núi Thiếu Thất hơn chục năm nhưng chưa hề bước chân vào trong chùa Thiếu Lâm, thành thử phương hướng các phòng ốc tòa viện hoàn toàn không biết gì, cũng chẳng hiểu Huyền Khổ đại sư ngụ tại nơi nào. Chàng nghĩ bụng: “Nếu ta gặp được ân sư bình an vô sự, trước tiên bẩm rõ nội tình để lão nhân gia để ý đề phòng, sau đó sẽ hỏi thân thế lai lịch. May ra ân sư có thể đoán được hung thủ là ai”.

    Trong chùa Thiếu Lâm, điện, đường, viên, lạc nhiều vô kể, đông một tòa, tây một tòa rải rác khắp các sườn núi. Huyền Khổ đại sư không giữ chức vụ gì quan trọng, trong chùa ít ra cũng có tới hai chục cao tăng pháp hiệu chữ Huyền ăn mặc giống nhau, trong đêm tối biết tìm ông nơi đâu? Kiều Phong tính thầm trong bụng: “Chỉ còn cách khống chế một nhà sư Thiếu Lâm, bắt y dẫn mình đến gặp Huyền Khổ sư phụ, sau đó sẽ nói rõ việc bất đắc dĩ rồi trịnh trọng xin lỗi ông ta. Thế nhưng không được, tăng chúng Thiếu Lâm phần nhiều coi trọng nghĩa khí, nếu hiểu lầm ta mưu toan điều gì bất lợi cho Huyền Khổ đại sư, hẳn là thà chết chứ không chịu khuất phục dẫn đến nơi. Thôi! Ta đành xuống nhà bếp tìm một gã hỏa công bắt y dẫn đường. Nhưng hạng người này vị tất đã biết chỗ ở của sư phụ mình?”

    Chàng nhất thời chưa biết làm thế nào, qua tòa viện nào cũng phục ngoài cửa số nghe ngóng, hi vọng tìm được chút manh mối. Tuy chàng thân thể khôi vĩ nhưng thân thủ nhanh nhẹn, trồi lên hụp xuống nhẹ nhàng như mèo khiến chẳng một ai hay biết. Kiều Phong cứ dần dần mà tiếp, đến bên một tòa nhà nhỏ bỗng nghe bên trong có người nói: “Phương trượng có việc cần thương nghị gấp, mời sư thúc lập tức đến Chứng Đạo Viện.” Nghe một giọng già nua trả lời: “Được rồi! Ta sẽ đến ngay.” Kiều Phong nghĩ thầm: “Phương trường triệu tập các lão tăng để bàn việc quan trọng, không chừng sư phụ ta cũng có mặt. Ta nên theo vị này đến Chứng Đạo Viện”. Nghe kẹt một tiếng, cánh cửa mở, hai nhà sư đi ra. Nhà sư già đi về hướng tây còn nhà sư trẻ rảo bước về hướng đông, chắc là đi truyền tin chỗ khác.

    Kiều Phong nghĩ bụng: “Vị lão tăng này được phương trượng mời đến hội họp, chắc là vai vế cực cao, Chùa Thiếu Lâm không phải tầm thường, người có thân phận cao tất nhiên võ công thâm hậu”. Nghĩ vậy, chàng không dám theo sát, chỉ nhìn bóng sau lưng thấy vị lão tăng đi thẳng vào một tòa nhà ở hướng tây. Kiều Phong đợi ông ta vào trong rồi mới đi vòng ra phía sau, xem kỹ chung quanh không có ai mới phục xuống bên cửa số nghe ngóng.

    Trong lòng chàng vừa bi phẫn vừa tức tối, tự nhủ: “Kiều Phong này bôn tẩu giang hồ, đối với đồng đạo chính phái chuyện gì cũng quang minh lỗi lạc. Vậy mà hôm nay ta bắt buộc phải lén lút, nếu bại lộ hành tung thì thanh danh một đời Kiều mỗ mất hết, còn mặt mũi nào mà nhìn ai?”. Nhưng rồi chàng lại nghĩ: “Năm xưa sư phụ xuống núi dạy võ nghệ cho ta, dẫu có mưa to gió lớn cũng không bỏ một đêm nào. Ơn đức nặng như thế, ta dù tan xương nát thịt cũng chưa đủ báo đền. Cái nhục phải lén lút có chi là đáng kể?”

    Bỗng nghe ngoài cửa có tiếng chân bốn người bước vào, một lát lại thêm hai người nữa. Kiều Phong nhìn bóng in trên giấy dán cửa sổ, thấy có đến hơn mười người trong viện, liền nghĩ thầm: “Nếu họ thương lượng việc cơ mật của phái Thiếu Lâm mà ta nghe lỏm được, dù không cố ý nhưng cũng không ổn, chi bằng ta lui xa ra thì hơn. Nếu sư phụ quả có ở trong, hung thủ lợi hại cỡ nào cũng không thể đả thương ông giữa đám đông cao thủ. Đợi khi hội họp xong rồi, quần tăng phân tán, ta sẽ tìm cách gặp riêng sư phụ.”

    Chàng đang rón rén lùi ra, bỗng nghe từ trong nhà vang lên tiếng tụng kinh. Kiều Phong không hiểu gì về kinh Phật, nhưng nghe thấy giọng trang nghiêm lại có chiều thương xót. Phải một thời gian khá lâu, chàng mới dần dần hiểu ra có việc gì không ổn, nghĩ thầm: “Dường như các vị đang làm lễ cầu siêu, hay tham thiền nghiên cứu kinh điển gì đó, xem ra sự phụ ta không có ở đây”. Chàng lắng tai nghe kỹ, quả nhiên trong tiếng chư tăng tụng niệm không có giọng trầm trầm của Huyền Khổ đại sư.

    Trong lúc Kiều Phong vẫn chưa quyết định được nên tiếp tục chờ hay không, tiếng tụng kinh bỗng chấm dứt, một giọng oai nghiêm cất lên: “Huyền Khổ sư đệ! Sư đệ còn có điều gì muốn nói nữa không?” Kiều Phong cả mừng, thầm nghĩ: “Lão nhân gia có ở trong này, vẫn bình an. Thì ra người không lên tiếng đọc kinh.”.

    Một giọng trầm trầm đáp lại, Kiều Phong nhận ra ngay thanh âm của thụ nghiệp ân sư Huyền Khổ đại sư: “Ngày tiểu đệ thụ giới, tiên sư cho pháp hiệu là Huyền Khổ. Đức Phật Tổ có nói đến bảy nỗi khổ trên đời, đó là sinh, lão, bệnh, tử, gần kẻ không ưa, xa kẻ thân yêu, muốn điều không được. Tiểu đệ cố gắng thoát ra khỏi bảy nỗi khổ đó mà chỉ mong độ được cho mình chứ chẳng dám độ cho người, nói ra càng thêm hổ thẹn. Cái nỗi khổ gần kẻ không ưa kia, nguyên là một cảnh giới mà nhân sinh phải có. Gieo nhân nào thì ắt sẽ hái quả đó, các vị sư huynh thấy tiểu đệ tránh được một nghiệp, nên vui mừng mới phải.” Giọng ông nói cực kỳ bình tĩnh, có điều dùng nhiều ngôn ngữ nhà Phật nên Kiều Phong không hiểu ý nghĩa ra sao.

    Lại nghe giọng oai nghiêm ban nãy tiếp lời: “Mấy tháng trước đây Huyền Bi sư đệ chết vào tay gian nhân. Chúng ta hết sức truy tìm hung thủ, tựa hồ như phạm vào hai giới, là giới sân và giới nộ. Tuy nhiên cốt lõi của việc hàng ma phục quỷ, trừ gian diệt ác cũng là phổ cứu thế nhân. Chúng ta học võ là để tuyên dương Phật pháp, giải trừ khổ nạn cho chúng sinh…” Kiều Phong nghĩ thầm: “Giọng nói uy nghiêm này chắc là của Huyền Từ đại sư, phương trường chùa Thiếu Lâm”. Lại nghe nói tiếp: “… Loại trừ một ma vương là cứu được vô số người đời, Sư đệ! Kẻ đó phải chăng là Cô Tô Mộ Dung?”

    Kiều Phong nghĩ bụng: “Việc này lại dính líu đến nhà Mộ Dung đất Cô Tô. Nghe nói Huyền Bi đại sư bị ám sát tại nước Đại Lý, chắc họ nghi là Mộ Dung công tử hạ độc thủ.” Lại nghe Huyền Khổ đại sư đáp: “Phương trượng sư huynh! Tiểu đệ không muốn sư huynh cùng các vị sư huynh đệ phải lo lắng cho mình mà tăng thêm nghiệp báo. Kẻ kia nếu như biết buông dao đồ tể, quay đầu lại là thấy bờ ngay, còn như chấp mê không tỉnh ngộ là tự chuốc lấy cái đau khổ vào mình. Tướng mạo gã thế nào cũng bất tất đề cập đến nữa.” Huyền Từ phương trượng nói: “Được rồi! Sư đệ giác ngộ lớn, kiến thức cao, còn ta chưa dứt tính câu chấp, thật không bằng được…” Huyền Khổ nói: “Tiểu đệ muốn được tĩnh tọa một lúc để sám hối.” Huyền Từ đáp: “Thôi được! Sư đệ bảo trọng!”

    Lại nghe tiếng cửa mở kèn kẹt, một nhà sư cao gầy từ từ đi ra. Sau ông một trường là một đoàn người, tổng cộng mười bảy nhà sư. Cả mười tám vị đều chắp tay trước ngực, cúi đầu mặc niệm, vẻ mặt trang nghiêm.

    Sau khi chúng tăng đi khỏi, trong nhà lại im lặng như tờ, Kiều Phong nhất thời chưa dám hiện thân gõ cửa. Bỗng nghe Huyền Khổ đại sư lên tiếng gọi: “Khách từ xa đến sao lại ngập ngừng không vào?” Kiều Phong cả kinh, nghĩ thầm: “Ta nín thở bế khí, người khác đứng sát bên chưa chắc đã phát hiện ra. Sư phụ thính tai như thế, nội công quả là cao cường”. Chàng bèn đến trước cửa phòng, cung kính nói: “Sư phụ an hảo! Đệ tử Kiều Phong khấu đầu bái kiến sư phụ.”

    Huyền Khổ “A” lên một tiếng rồi hỏi: “Phong nhi đấy ư? Ta đang nghĩ đến con đây, chỉ mong được gặp con một lần. Vào đây mau!” Trong giọng nói đầy vẻ hoan hỉ. Kiều Phong cả mừng rảo bước tiến vào, quì xuống khấu đầu nói: “Bình nhật đệ tử ít khi được hầu hạ, để nhọc lòng sư phụ nhớ mong. Sư phụ cường kiện, đệ tử vui mừng khôn xiết!” Nói xong chàng ngẩng đầu lên, nhìn sư phụ đăm đăm.

    Huyền Khổ đại sư nét mặt đang hòa ái tươi cười, nhìn rõ Kiều Phong dưới ánh đèn dầu đột nhiên, sắc mặt đại biến, đứng phắt dậy, run run hỏi: “Ngươi… ngươi… thì ra là ngươi, ngươi là Kiều Phong đấy sao? Chính tay ta… ta dạy được học trò giỏi thật!” Vẻ mặt ông vừa kinh ngạc vừa thống khổ, dường như lẫn cả thương xót và tiếc nuối.

    Kiều Phong thấy trong giây lát mà nét mặt sư phụ đã biến đổi dị thường thì trong lòng kinh ngạc. Chàng nói: “Sư phụ! Hài nhi là Kiều Phong đây mà!”

    Huyền Khổ đại sư nói: “Hay lắm! Hay lắm! Hay lắm!” Ông nói ba câu “hay lắm” liên tiếp rồi không nói gì nữa. Kiều Phong cũng không dám hỏi, lẳng lặng chờ xem sư phụ có điều chi dạy bảo. Ngờ đâu chờ mãi vẫn không thấy Huyền Khổ đại sư lên tiếng, Kiều Phong nhìn lên khuôn mặt sư phụ, thấy hình như đã cứng đờ, vẻ mặt không thay đổi chút nào. Chàng không khỏi giật mình, cầm tay đại sư thì thấy đã hơi lạnh, lại để tay lên mũi, ôi thôi, sư phụ đã tắt thở tự lúc nào. Biến cố xảy ra quá đột ngột khiến Kiều Phong há hốc miệng, mắt mở trừng trừng, đầu óc rối loạn: “Sư phụ vừa trông thấy ta liền sợ hãi đến chết ư? Không thể như thế được, mặt ta có gì đáng sợ đâu? Hay là người sớm đã bị thương rồi?” Thế nhưng ông không dám xem xét thân thể ân sư.

    Kiều Phong cố gắng định thần, trong bụng đã quyết: “Nếu ta lẳng lặng trốn đi thì còn gì bản sắc hảo hán hiên ngang của Kiều Phong này? Việc hôm này dẫu có nguy hiểm vạn phần cũng phải tra xét cho minh bạch.” Chàng ra khỏi cửa, lớn tiếng kêu lên:“Phương trượng đại sư: Huyền Khổ sư phụ viên tịch rồi! Huyền Khổ sư phụ viên tịch rồi!” Chàng chân khí sung mãn, tiếng gọi truyền đi rất xa, vang rền cả khe núi, cả chùa cùng nghe thấy. Tiếng kêu tuy hùng hồn nhưng cũng thật là thống khổ.

    Huyền Từ phương trượng cùng quần tăng còn chưa về đến phòng riêng, nghe tiếng gọi của Kiều Phong vội vàng quay lại, rảo bước chạy đến Chứng Đạo Viện thì thấy một đại hán cao lớn đứng sừng sững bên cạnh cửa, giơ tay chùi nước mắt. Chúng tăng ai nấy đều ngạc nhiên, Huyền Từ chắp tay hỏi: “Thí chủ là ai?” Phương trường quan tâm đến an nguy của Huyền Khổ, không đợi Kiều Phong đáp đã vội vàng xông thẳng vào phòng, thấy Huyền Khổ vẫn còn sừng sững không ngã, lại càng ngạc nhiên. Các nhà sư cùng vào theo, cúi đầu tụng kinh.

    Kiều Phong vào sau cùng, quì xuống khấn thầm: “Sư phụ ơi! Đệ tử đến muộn quá, lão nhân gia đã bị độc thủ rồi. Tên hung đỗ kia lại gây thêm cừu hận, đệ tử gian nan đến đâu cũng phải đi tìm y về phân thây trăm mảnh để báo thù cho sư phụ.”

    Huyền Từ tụng kinh xong, quan sát Kiều Phong rồi hỏi: “Thí chủ là ai? Có phải thí chủ vừa hô hoán đấy chăng?”

    Kiều Phong nói: “Đệ tử là Kiều Phong, thấy sư phụ viên tịch không dằn nổi bị thương, làm kinh động đến phương trượng.” Huyền Từ nghe đến tên của Kiều Phong thì giật mình, trên mặt lộ vẻ lạ lùng, lại nhìn chàng một hồi nữa mới nói: “Phải chăng… phải chăng thí chủ là tiền nhiệm bang chủ Cái Bang?” Kiều Phong nghĩ thầm: “Tin tức trên giang hồ thật là mau lẹ. Đại sư đã biết ta không còn làm bang chủ Cái Bang, ắt hẳn biết nguyên do vì sao ta bị trục xuất khỏi Cái Bang.” Chàng bèn đáp: “Thưa vâng”

    Huyền Từ hỏi: “Vì sao thí chủ lại đang đêm lẻn vào tệ tự? Sao lại thấy Huyền Khổ sư đệ viên tịch?” Kiều Phong trong lòng có trăm ngàn điều muốn hỏi, nhưng nhất thời không biết bắt đầu từ đâu, đành đáp: “Huyền Khổ đại sư là ân sư đã dạy dỗ đệ tử, không biết ân sư bị thương ra sao, kẻ nào ra tay hạ thủ?”

    Huyền Từ phương trượng sa nước mắt, đáp: “Huyền Khổ sư đệ bị người đánh lén, ngực trúng một chưởng trầm trọng, gân cốt đứt hết, ngũ tạng cũng tan nát. Chỉ nhờ sư đệ nội công thâm hậu mới gượng được đến bây giờ. Chúng ta có hỏi địch nhân là ai, y bảo không quen biết, lại hỏi tướng mạo tuổi tác hung thủ ra sao, y nói đến thất khổ của nhà Phật, trong đó gần kẻ không ưa là một. Sư đệ cho rằng gặp phải oan gia đối đầu là có cơ duyên giải thoát, nên hình dáng hung thủ nhất định không nói ra.”

    Kiều Phong chợt hiểu: “Thì ra chư tăng đã biết sư phụ bị trọng thương, lúc nãy niệm Phật tụng kinh chính là để tiễn người về cõi Tây phương”. Chàng nghẹn ngào nói: “Các vị cao tăng tâm địa từ bi mới không nghĩ đến oán thù. Còn đệ tử là kẻ trần tục, thể nào cũng bắt kẻ gian kia chặt ra muôn đoạn để báo thù cho ân sư. Quí tự là chốn thâm nghiêm, không biết hung thủ lẻn vào lối nào?”

    Huyền Từ trầm ngâm chưa đáp thì một lão tăng thân thể thấp bé đột nhiên cười khẩy nói: “Thí chủ lén vào chùa Thiếu Lâm, chúng ta cũng chẳng phát giác được mà ngăn trở. Hung thủ kia dĩ nhiên cũng có thể muốn đến thì đến, muốn đi thì đi như chỗ không người.”

    Kiều Phong khom lưng chắp tay nói: “Đệ tử có việc cấp bách bên mình, không kịp đứng ngoài sơn môn báo tin cầu kiến, thật là thất lễ, khẩn cầu các vị sư phụ lượng thứ cho. Đệ tử đã có uyên nguyên sâu xa với chùa Thiếu Lâm, quyết không dám có ý mạo phạm.” Chàng có ý nói nếu như phái Thiếu Lâm mất mặt thì mình cũng xấu lây. Kiều Phong cũng hiểu rằng mình lẻn vào hậu viện chùa Thiếu Lâm đến khi tự hô hoán mới có người biết, việc này mà truyền ra ngoài thì thể diện phái Thiếu Lâm bị tổn thương rất lớn.

    Lúc đó một chú tiểu bưng bát thuốc còn bốc hơi nghi ngút đi vào phòng, nhìn thi thể Huyền Khổ mà nói: “Xin sư phụ dùng thuốc.” Chú tiểu này vẫn phục thị Huyền Khổ, vừa tới Dược Vương Viện sắc một thang thuốc trị thương Cửu Chuyển Hồi Xuân Thang cho sư phụ. Y thấy Huyền Khổ vẫn đứng sững, không biết ông đã viên tịch rồi. Kiều Phong trong lòng thống khổ, nghẹn ngào nói: “Sư phụ đã…” .

    Chú tiểu quay đầu lại, vừa trông thấy Kiều Phong đột nhiên la hoảng: “Ngươi…Ngươi… lại đến nữa à?” Nghe choang một tiếng, bát thuốc rơi xuống đất, thuốc lẫn mảnh bát văng tung tóe. Chú tiểu nhảy lùi về sau hai bước đứng nép vào tường, kêu lên: “Chính là hắn! Hắn vừa đả thương sư phụ!”

    Y kêu lên như vậy, mọi người ai cũng kinh hoảng. Kiều Phong lại càng bàng hoàng, lớn tiếng hỏi: “Ngươi nói gì?” Chú tiểu này mới mười hai mười ba tuổi, trông thấy Kiều Phong cực kỳ sợ hãi, trốn vào sau lưng Huyền Từ phương trượng, bíu lấy tay áo ông mà kêu gọi rối rít: “Phương trượng Phương trượng!” Huyền Từ nói: “Thanh Tùng, không việc gì phải sợ. Con vừa nói gì, có phải kia là người đả thương sư phụ không?” Chú tiểu Thanh Tùng đáp: “Đúng rồi! Hắn phóng chưởng đánh trúng ngực sư phụ, con đứng ngoài cửa sổ trông thấy rõ ràng. Sư phụ, sao sư phụ không đánh hắn đi?” Y vẫn chưa biết Huyền Khổ đã viên tịch rồi.

    Huyền Từ phương trượng nói: “Con nhìn cho kỹ, chớ nên nhầm lẫn.” Thanh Tùng đáp: “Con thấy rõ ràng, hắn mặc áo sắc tro, mặt vuông, lông mày dựng ngược, miệng to, tai lớn. Đúng hắn rồi. Sư phụ ơi! Sư phụ đánh hắn đi, đánh hắn đi!”

    Kiều Phong lạnh dọc xương sống, nghĩ thầm: “Phải rồi! Hung thủ cải trang giống hệt, cố ý gieo vạ cho mình. Sư phụ nghe nói ta trở về cực kỳ hoan hỉ, nhưng thấy mặt ta giống hệt hung thủ mới đổi thái độ. Mười năm không gặp lại, ta từ một đứa trẻ đã thành người lớn, dĩ nhiên tướng mạo khác trước.” Chàng nghĩ đến Huyền Khổ đại sư trước khi chết nói liên tiếp ba lần “hay lắm”, lòng lại đau như dao cắt: “Sư phụ trúng phải đòn nặng nhưng không biết kẻ địch là ai, đến khi nghe ta xưng tên lại tưởng đồ đệ là hung thủ, quá đau lòng mà chết. Sư phụ đã bị trọng thương, trước lúc lâm chung không kịp nghĩ cho rõ, nếu đúng là ta hạ độc thủ sao còn quay lại xưng tên?”

    Bỗng nghe tiếng huyên náo rồi một đám người rảo bước chạy đến trước Chứng Đạo Viện. Hai nhà sư khom lưng cung kính tiến vào, chính là hai vị trì giới tăng và thủ luật tăng vừa giao chiến với Kiều Phong ở chân núi Thiếu Thất, Trì giới tăng mới nói được nửa câu: “Bẩm phương trượng…” Y liền trông thấy Kiều Phong, vẻ mặt vừa phẫn nộ vừa kinh ngạc, không hiểu sao hắn đã tới đây rồi. Tất cả những nhà sư khác cũng hầm hầm, chăm chăm nhìn Kiều Phong.

    Huyền Từ phương trượng thần sắc trang nghiêm, chậm rãi nói: “Kiều thí chủ tuy không ở Cái Bang nữa, nhưng cũng là một nhân vật nổi danh trong võ lâm. Hôm nay thí chủ giá lâm tệ tự ra tay đánh chết Huyền Khổ sư đệ, không hiểu vì lẽ gì, mong được chỉ giáo.”

    Kiều Phong thở dài một tiếng, phục xuống vái lạy thi thể Huyền Khổ mà khấn: “Sư phụ! Lúc sư phụ lâm chung cũng tưởng đệ tử hạ thủ, ôm hận mà viên tịch. Đệ tử tuy ngàn vạn lần không dám mạo phạm sư phụ, nhưng gian nhân gia hại sư phụ cũng vì đệ tử mà ra. Hôm nay nếu đệ tử tự sát để tạ lỗi cũng không ân hận, nhưng vậy thì mối đại cừu của sư phụ không ai báo phục. Đệ tử phải phạm vào sự tôn nghiêm của phái Thiếu Lâm, xin sư phụ tha thứ.” Chàng nấc lên hai tiếng rồi thổi mạnh, hai đĩa đèn dầu lập tức tắt ngóm, trong phòng tối đen như mực.

    Kiều Phong khi khấn nguyện đã tính toán kế sách thoát thân. Chàng vừa thổi tắt đèn, tay trái tung chưởng đẩy vào sau lưng thủ luật tăng. Phát chưởng đó dùng kình lực nhu hòa không làm tổn thương nội tạng của y, nhưng lại đấy thân hình cao to của y bay ra khỏi cửa.

    Trong bóng tối chư tăng nghe thấy tiếng gió, đều nghĩ rằng Kiều Phong chạy ra, liền dùng cầm nã thủ pháp chộp vào người thủ luật tăng. Các vị đều không muốn nặng tay giết chết Kiều Phong, chỉ định bắt giữ tra hỏi cho ra vì sao giết chết Huyền Khổ đại sư. Hơn chục cao tăng đó đều là hảo thủ bậc nhất của chùa Thiếu Lâm, mà đã là bậc nhất của chùa Thiếu Lâm thì cũng là bậc nhất trong võ lâm. Cầm nã thủ của mỗi vị không giống nhau, người nào cũng có chỗ độc đáo. Cùng một lúc, Cầm Long Thủ, Ưng Trảo Thủ, Hổ Trảo Công, Kim Cương Chỉ, Ác Thạch Chưởng… các tuyệt kỹ cầm nã tối cao của phái Thiếu Lâm đều chộp lên người thủ luật tăng. Các vị đại sư xuất thủ quả là kỳ diệu, trong đêm tối chỉ nghe tiếng gió mà vẫn không sai một li. Gã thủ luật tăng phen này chịu đủ loại khổ sở, chỉ trong phút chốc yếu huyệt toàn thân đều trúng cầm nã thủ pháp, thân thể lơ lửng trên không mà miệng không nói được tiếng nào, từ cổ chí kim chắc chưa ai phải chịu như thế bao giờ.

    Những cao tăng này rất lịch duyệt, thủ đoạn ứng biến cực kỳ mau lẹ. Các vị biết ngay là bắt lầm, có người lập tức phi thân lên mái nhà trấn giữ, Chỉ trong chớp mắt, mọi cửa trước cửa sau của Chứng Đạo Viện cùng các ngõ ngách, các nơi hiểm yếu đều có cao thủ án ngữ. Đừng nói gì Kiều Phong thân hình khôi vĩ, dẫu chàng có biến thành con chồn con cáo cũng chẳng thể nào thoát nổi.

    Chú tiểu Thanh Tùng vội lấy hỏa đao, hóa thạch, châm mấy ngọn đèn dầu trong phòng, mọi người mới hay người bị bắt nhầm chính là thủ luật tăng.

    Thủ tòa Đạt Ma Viện là Huyền Nạn đại sự liền ra lệnh cho quần tăng ở nguyên vị trí không được loạn động. Ai nấy đều nghĩ, Kiều Phong dẫu có lớn mật cũng không dám một mình xông vào một nơi đầm rồng hang cọp như chùa Thiếu Lâm để giết người. Thể nào hắn cũng có cường viện, không chừng sẽ nhân lúc nhốn nháo để thi hành độc kế điệu hổ ly sơn.

    Mười mấy vị cao tăng trong Chứng Đạo Viện cùng số tăng chúng đi theo trì giới tăng liền chia ra tra xét những nơi lân cận, dường như tảng đá nào cũng bị lật lên, lùm cây bụi cỏ nào cũng có người dùng côn bổng đập vào. Tuy các đại hòa thượng đều lấy từ bị làm tâm niệm, lấy hiếu sinh làm căn bản, mà công cuộc tìm kiếm này cũng khiến vô số ếch nhái, chuột bọ, châu chấu, kiến ong bị chết oan.

    Lục soát hơn một giờ sau, chỉ còn thiếu việc đào hết đất lên tìm, mà vẫn không thấy Kiều Phong đâu. Ai nấy đều cho thật là kỳ quái, có người buột mồm chửi rủa, thập giới của nhà Phật lại một phen bị vi phạm. Lúc đó di thể Huyền Khổ đại sư được đưa vào Xá Lợi Viện để thiêu hóa, còn thủ luật tăng thì được khiêng xuống Dược Vương Viện điều trị thương tích. Quần tăng ủ rũ lặng thinh, ai nấy đều cảm thấy mất mặt. Chùa Thiếu Lâm cao thủ đông như kiến, nhất là mười mấy vị cao tăng võ công tuyệt cao, tiếng tăm lừng lẫy khắp giang hồ, vậy mà để cho Kiều Phong tay không ra vào như chỗ không người. Đừng nói đến việc giết hay bắt được chàng, mà ngay việc chàng đào tẩu cách nào cũng chẳng ai đoán ra được.

    Thì ra Kiều Phong đã liệu rằng các nhà sư sẽ chạy ra truy tìm tứ phía, còn trong nhà đông nghẹt thì lại lơ là. Do đó khi chàng đánh bật thủ luật tăng rồi, lập tức co người chui vào gầm giường nơi Huyền Khổ đại sư vẫn thường nằm, mười ngón tay bám lên các thanh giường, thân hình ép sát vào dưới vạt giường. Mặc dầu cũng có người cúi xuống xem xét dưới gầm giường, nhưng không trông thấy chàng được. Đến khi đưa thi thể của Huyền Khổ đi rồi, chấp sự tăng liền đóng cửa Chứng Đạo Viện lại, không ai ra vào nữa.

    Kiều Phong nằm dưới gầm giường, nghe các nhà sư nhốn nháo đến quá nửa đêm, dần dần yên lặng trở lại. Chàng nghĩ thầm: “Đợi đến trời sáng thì thoát thân không phải là dễ, lúc này mà không chạy thì còn đợi đến bao giờ?”. Từ dưới gầm giường chàng len lén chui ra, khẽ đẩy cửa phòng, lạng người đến nấp đằng sau một gốc cây.

    Mặc dù tiếng người đã yên, nhưng Kiều Phong biết tăng chúng chùa Thiếu Lâm chưa bỏ cuộc mà vẫn tăng cường phòng bị. Chứng Đạo Viện ở cực tây của Thiếu Lâm Tự, nếu chạy về hướng tây sẽ vào ngay trong núi. Một khi đã ra khỏi chùa Thiếu Lâm rồi, các nhà sư sẽ phải dàn rộng ra phân tán lực lượng, dẫu có đón đường thì cũng không ngăn chặn được. Nhưng chàng không muốn động thủ, chỉ mong sau này bắt được hung phạm, dẫn đến chùa trình bày cho minh bạch. Hôm nay giao đấu với thêm một nhà sư là kết thêm một mối oán thù, giả tỷ lỡ tay đánh người bị thương hoặc chết thì không biết đến thế nào mà nói. Quần tăng thấy chàng mất tích ở phía tây chùa, ắt sẽ phòng thủ nghiêm mật hướng tây, nhất là các đường về núi Thiếu Thất. Kiều Phong tính toán một lát, cho rằng ổn thỏa nhất là đi ngược về hướng đông, xuyên qua chùa mà ra.

    Nghĩ vậy chàng nép người lần theo các gốc cây, qua bốn tòa phòng viện, nấp sau một cây bồ đề. Kiều Phong chợt phát hiện có hai nhà sư nằm phục sau một gốc cây phía trước mặt. Hai vị này nằm im không nhúc nhích, trong bóng tối thật khó mà nhìn thấy, may mà nhãn quang chàng sắc bén nên nhìn thấy một lưỡi giới đao lóe sáng lên. Chàng nghĩ thầm: “Thật là nguy hiểm! Ta chỉ đi lẹ một chút nữa là bại lộ hành tung”. Chàng nấp sau gốc cây chờ một lúc, hai nhà sư thủy chung vẫn không nhúc nhích. Cái kế “ôm cây đợi thỏ” quả là lợi hại, nếu như Kiều Phong hơi cử động là bị hai người đó nhìn thấy ngay, nhưng cũng không thể chần chờ ngồi đó mãi.

    Chàng trầm ngâm một chút rồi nhặt một viên đá nhỏ, dùng ngón tay búng ra, kình lực thật là xảo diệu, lúc đầu thì chậm nhưng sau thì nhanh. Viên đá lúc mới bắn ra không có chút thanh âm nào, nhưng được bảy tám trượng rồi mới rít lên vo vo, đập vào một gốc cây nghe cạch một tiếng. Hai nhà sư kia vội khom lưng chạy tới.

    Kiều Phong đợi cho hai nhà sư đó qua khỏi rồi tung mình nhảy lên, len luôn vào tòa viện bên cạnh, dưới ánh trăng nhìn rõ trên biển có ba chữ Bồ Đề Viện. Chàng đoán rằng hai nhà sư kia không thấy gì lạ thể nào cũng quay lại, thành thử không dừng mà chạy thẳng ra phía sau hậu điện. Chàng chợt thấy một bóng người cao lớn ở phía sau chạy vụt qua nhanh nhẹn dị thường, thân pháp trên đời ít gặp. Kiều Phong giật này mình tự hỏi: “Người này là ai mà thân thủ mau lẹ đến thế?”. Chàng đưa chưởng lên hộ vệ thân thể, quay đầu nhìn lại không khỏi bật cười, thấy trước mặt là một đại hán đứng khom người, thủ thế trước mặt, khí thế vững như núi. Thì ra trong hậu điện có một tấm bình phong, trên bình phong có gắn một chiếc gương đồng sáng bóng cực lớn, phản chiếu rõ thân mình. Trước tượng Phật có hai ngọn đèn dầu, dưới ánh sáng lờ mờ vẫn đọc được bốn hàng kinh văn khắc trên tấm gương: “Nhất thiết hữu vi pháp, Như mộng huyễn bào ảnh, Như lộ diệc như điện, Đương tác như thị quan.” (Những gì có hình tướng, Như bọt nước phập phồng, Như giọt sương lơ lửng, Thoắt đã rời thế gian). Kiều Phong mỉm cười, quay đầu lại toan trở gót, bỗng dưng ngẩn ngơ, dường như nghĩ ra một việc cực kỳ trọng yếu, nhưng đó là việc gì thì mơ hồ không rõ.

    Chàng bần thần một lát, ngẫu nhiên lại nhìn vào chiếc gương đồng thấy bóng sau lưng của mình, tự hỏi: “Chiếc gương này tuy lớn nhưng bộ vị không đúng, hình như không thể phản chiếu được bóng ta đi qua lúc nãy. Vậy sao ta lại nhìn thấy nhỉ?” Chàng còn đang xuất thần thì bên ngoài bỗng có tiếng chân, mấy người đi vào trong điện.

    Kiều Phong đang hoang mang chưa biết trốn đâu, thấy trên bàn thờ có ba pho tượng Phật, vội nhảy lên nấp vào sau lưng pho tượng thứ ba. Cả thảy sáu người chia thành hai hàng song song đi vào hậu điện, rồi mỗi người ngồi xuống một chiếc bồ đoàn, Kiều Phong từ sau pho tượng nhìn ra, thấy cả sáu nhà sư đều tuổi trung niên, nghĩ thầm: “Nếu lúc này mình lẻn ra ngoài, giả tỷ sáu nhà sư này võ công bình thường thì không thể nào biết được. Thế nhưng chỉ cần một người nội công cao thâm, mắt tinh tai thính thì sẽ phát giác ngay. Ta hãy đợi thêm một lúc nữa xem sao.”

    Nhà sư ngôi đầu bên phải nói: “Sư huynh, Bồ Đề Viện này trống rỗng làm gì có kinh sách? Sư phụ bảo bọn ta đến đây coi giữ cái gì?” Nhà sư ngồi đầu bên trái mỉm cười nói: “Đó là một điều bí mật trong Bồ Đề Viện, không tiện nói nhiều.” Nhà sư bên phải nói khích: “Hừ, tiểu đệ xem chừng cả sư huynh cũng không biết.” Nhà sư phía bên trái tức mình nói “Sao ta lại không biết? Nhất mộng như thị…” Y mới nói nửa câu, chợt nhớ phải cảnh giác lập tức im bặt. Nhà sư bên phải lại hỏi: “Nhất mộng như thị là thế nào?” Nhà sư ngồi trên bồ đoàn thứ hai liền nói: “Chỉ Thanh sư đệ! Ngày thường sư đệ ít nói, sao bữa nay lại hỏi nhiều thế? Nếu sư đệ muốn biết những bí mật trong Bồ Đề Viện thì sao không lên hỏi sư phụ đi?”

    Vị hòa thượng Chỉ Thanh kia không dám hỏi nữa, một lát sau mới nói: “Tiểu đệ đi ra sau tiểu tiện một chút.” Y nói xong liền đứng dậy, từ bên phải đi về cửa hông bên trái, lúc đi ngang sau lưng người thứ năm, đột nhiên vung chân phải đá trúng ngay huyệt Huyền Khu ở sau lưng, bên dưới đốt xương sống thứ mười ba. Nhà sư đó đang ngồi xếp bằng trên bồ đoàn, huyệt Huyền Khu ngay sát mép chiếu, bị đầu ngón chân của Chỉ Thanh đã trúng, thân hình từ từ ngã ra bên phải.

    Chỉ Thanh phóng cước vừa mau lẹ vừa nhẹ nhàng không một tiếng động, lại đi vào huyệt Huyền Khu của nhà sư thứ tư, rồi nhà sư thứ ba, chỉ trong nháy mắt đã đánh ngã ba người.

    Kiều Phong ngồi sau tượng Phật nhìn thấy rõ ràng, trong bụng rất lấy làm kỳ, không hiểu tại sao bọn sư Thiếu Lâm lại đánh lén nhau. Lại thấy gã Chỉ Thanh phóng cước đá vào nhà sư thứ năm, tức là thứ hai từ bên trái, đầu mũi chân vừa đụng vào huyệt đạo y thì nhà sư bị điểm huyệt đầu tiên mới ngã tới đất, đầu và xuống thêm gạch đánh huỵch một cái. Nhà sư ngồi đầu bên trái giật mình đứng bật dậy, vừa kịp thấy Chỉ Thanh đá ngã người ngồi bên phải mình, kinh hãi quát lên: “Chỉ Thanh, người làm gì thế?” ChỉThanh giơ tay chỉ ra ngoài nói: “Sư huynh trông kìa! Ai đến đó?” Nhà sư kia quay đầu nhìn ra, Chỉ Thanh liền tung chân phải đá mạnh vào sau lưng y.

    Cước pháp y cực nhanh lẽ ra phải trúng, thế nhưng cái gương đồng ở phía trước phản chiếu rõ ràng đòn đánh lén, nhà sư kia liền nghiêng người tránh qua, xoay tay trả lại một chưởng, kêu lên: “Ngươi có điên không?” Chỉ Thanh xuất chưởng nhanh như chớp phản kích, đến chiêu thứ tám thì bụng dưới nhà sư kia bị trúng một quyền, tiếp theo lại bị bồi thêm một cước. Kiều Phong thấy Chỉ Thanh ra chiêu âm độc, không phải võ công Thiếu Lâm, càng lấy làm kỳ.

    Nhà sư kia biết không địch nổi, la lên: “Có gian tế! Có gian tế!” Chỉ Thanh nhảy vọt tới, đánh một quyền trúng ngực, nhà sư đó lập tức lăn ra bất tỉnh.

    Chỉ Thanh vội chạy tới trước chiếc gương đồng, đưa ngón tay trỏ ấn vào chữ Nhất ở hàng chữ đầu tiên một cái. Kiều Phong lại thấy y ấn chữ Mộng ở hàng thứ hai, nghĩ thầm: “Nhà sư kia vừa nói lộ bí mật là Nhất Mộng Như Thị, nhưng trên tấm gương có đến bốn chữ Như, không biết y ấn chữ nào.”

    Chỉ Thanh không cần suy nghĩ, giơ ngón tay ấn chữ Như đầu tiên ở hàng thứ ba, rồi tiếp theo là chữ Thị ở hàng thứ tư. Tay y chưa rời khỏi tấm gương đã nghe những tiếng lách cách, tấm gương đồng từ từ ngả ra.

    Giả tỷ Kiều Phong nhân lúc này mà trốn đi thì thực là một cơ hội tốt, nhưng chàng nổi dạ hiếu kỳ, muốn biết vì lẽ gì mà nhà sư Thiếu Lâm kia lại ám hại đồng môn, sau tấm gương đồng có cất giấu vật gì, không chừng có thể liên quan đến việc Huyền Khổ đại sư bị hại.

    Nhà sư cuối cùng bị Chỉ Thanh đánh ngã đã hô hoán lên. Hơn trăm hòa thượng Thiếu Lâm đang tuần tiễu ở phía tây nghe thấy đều chạy đến, khắp bốn mặt đông tây nam bắc của Bồ Đề Viện đều có tiếng chân rầm rập. Kiều Phong còn đang phân vân chưa biết làm thế nào để bao nhiêu nhà sự khỏi phát giác ra mình, nhưng chàng lại nghĩ: “Quần tăng chăm chú cả vào Chỉ Thanh thì ta thoát thân cũng dễ, bất tất phải trốn ngay.” Chàng thấy Chỉ Thanh đưa tay mò trong lỗ hổng phía sau tấm gương, nhưng chưa lấy được gì cả. Lúc đó, tiếng chân từ phương bắc đã chạy đến cửa Bồ Đề Viện.

    Chỉ Thanh dậm chân thất vọng, đang định xoay mình chạy đi, Đột nhiên y nghĩ ra điều gì, cúi nhìn vào sau chiếc gương, khẽ reo lên: “À, đây rồi!” Y thò tay móc ra một cái túi nhỏ xíu, đút vào trong bọc rồi toan tìm đường trốn, nhưng bốn mặt quần tăng đã vây bọc hết, không còn đường chạy. Chỉ Thanh nhìn quanh quất rồi chạy ra cửa trước của Bồ Đề Viện.

    Kiều Phong nghĩ thầm: “Gã này chạy ra ngã đó, thể nào cũng bị bắt ngay”. Bỗng nhiên hơi gió ập tới, có người nhảy vào chỗ chàng đang nấp. Kiều Phong nghe gió mà định bộ vị, vươn tay trái ra đã chộp ngay được cổ tay địch nhân, tay phải đè luôn vào huyệt Thần Đạo trên lưng y khẽ vận nội lực, gã kia liền toàn thân mềm nhũn không nhúc nhích gì được nữa. Kiều Phong bắt được rồi, chăm chú nhìn kỹ tướng mạo kẻ địch, tưởng ai hóa ra Chỉ Thanh. Chàng ngạc nhiên một chút, lập tức hiểu ra: “Phải rồi. Gã này cũng định chui vào đằng sau tượng Phật để trốn như ta, lại đúng ngay pho tượng thứ ba, chắc là vì pho tượng này to hơn cả. Mà tại sao lúc đầu y chạy ra cửa trước, rồi lại lén quay trở vào đây? Ồ, là để đánh lạc hướng năm nhà sư nằm dưới đất, nếu người khác vào hỏi, cả năm vị đều nói là y chạy ra cửa trước rồi, không ai tra xét gì Bồ Đề Viện nữa. Ôi, người này quả là đa mưu túc trí.”

    Kiều Phong nghĩ bụng không thể thả Chỉ Thanh ra, bèn ghé vào tai y nói nhỏ: “Ngươi mà la lên là ta phóng chưởng đánh chết liền, có hiểu không?” Chỉ Thanh gật đầu.

    Bảy tám nhà sư chạy vào cửa lớn, trong đó có ba người cầm đuốc, đại điện sáng bừng lên. Quần tăng thấy năm nhà sư nằm lăn dưới đất, đều sửng sốt, lập tức xôn xao lên: “Tên ác tặc Kiều Phong lại hạ độc thủ rồi!” “Trời ơi! Chỉ Trầm, Chỉ Uyên sư huynh đấy ư?” “Ôi thôi, không xong rồi. Chiếc gương đồng này mới bị đẩy ra, Kiều Phong ăn cắp kinh thư ở Bồ Đề Viện rồi. Mau mau bẩm báo phương trượng.” Kiều Phong nghe mấy nhà sư lao xao bàn tán, không khỏi gượng cười: “Lại thêm nợ đổ lên đầu ta.” Chỉ trong giây lát, trong điện đã đông nghẹt hòa thượng.

    Kiều Phong thấy Chỉ Thanh cố sức cựa quậy để thoát thân, liền đoán ngay: “Lúc này quần tăng đang nhốn nháo, bọn Chỉ Trầm, Chỉ Uyên lại chưa tỉnh, chính là cơ hội tốt để Chỉ Thanh bỏ đi. Y cứ đường hoàng đi ra không ai nghi ngờ, vì người nào cũng đổ riệt cho ta là hung thủ.” Rồi chàng lại nghĩ: “Gã Chỉ Thanh này cũng chưa phải là tinh khôn lắm, lúc này việc gì y phải trốn? Y cứ ngang nhiên đi ra cũng chẳng ai hỏi đến.”

    Đột nhiên trong điện im bặt, không ai mở miệng. Kế đó chúng tăng đồng thanh nói: “Tham kiến phương trượng, tham kiến thủ tòa Đạt Ma Viện, tham kiến thủ tòa Long Thụ Viện.”

    Nghe lốp bốp mấy tiếng nhẹ, có người đã xuất chưởng vỗ năm nhà sư Chỉ Trầm, Chỉ Uyên tỉnh lại, rồi hỏi: “Lại là thủ đoạn của Kiều Phong phải không? Sao hắn lại biết bí mật trong tấm gương đồng?” Chỉ Trầm đáp: “Không phải Kiều Phong mà là Chỉ Thanh…” Đột nhiên y tung mình nhảy lên chửi: “Giỏi thật! Sao ngươi dám ra tay ám toán đồng môn?”

    Kiều Phong nấp ở sau lưng pho tượng không sao đoán nổi y đang chửi ai. Bỗng nghe tiếng một người kinh hãi kêu lên: “Chỉ Trầm sư huynh, sao sư huynh lại lôi kéo tiểu đệ?” Chỉ Trầm giận dữ đáp: “Ngươi đánh ngã năm người chúng ta, ăn trộm kinh thư, thật là lớn mật. Bẩm phương trượng, tên phản tặc Chỉ Thanh này mở trộm tấm gương đồng trong Bồ Đề Viện để lấy cắp kinh thư.” Người kia kêu lên: “Cái gì? Cái gì? Từ nãy tiểu đệ vẫn ở bên cạnh phương trượng, làm sao có thể ăn trộm kinh được?”.

    Một giọng già nua khàn khàn nói: “Đóng chiếc gương đồng lại, rồi tường thuật tình hình xem thế nào.” Chỉ Uyên đến đóng chiếc gương lại như cũ. Bây giờ Kiều Phong nhìn trong gương thấy tình hình quần tăng ngoài điện thật rõ ràng. Một nhà sư đang hoa chân múa tay cực kỳ khích động, Kiều Phong đưa mắt nhìn y không khỏi giật mình, chính là Chỉ Thanh. Chàng ngạc nhiên quay lại nhìn nhà sư bị mình bắt, thấy tướng mạo giống hệt người ở dưới kia, nhìn kỹ mới thấy hơi khác, trông thoáng qua thì không thể nào phân biệt được. Kiều Phong nghĩ thầm: “Trên đời này sao lại có hai người giống nhau đến thế, chắc là anh em sinh đôi. Thật là diệu kế, một người xuất gia vào chùa Thiếu Lâm, một người ở ngoài chờ đợi, gặp thời cơ liền giả trang làm hòa thượng để vào chùa trộm kinh. Nhà sư Chỉ Thanh đã không rời phương trượng nửa bước thì còn ai nghi ngờ nữa.”

    Chỉ Trầm kể lại việc Chỉ Thanh dò hỏi bí mật của chiếc gương đồng, mình vô ý nói hớ bốn chữ, Chỉ Thanh giả vờ đi tiểu rồi ngầm đá ngã bốn người, sau đó động thủ đánh ngã mình. Bọn bốn người Chỉ Uyên liên tiếp phụ họa, chứng thực lời Chỉ Trầm không sai chút nào.

    Huyền Từ phương trượng thần sắc vẫn thản nhiên, đợi Chỉ Trầm nói xong mới chậm rãi hỏi lại: “Ngươi trông rõ là Chỉ Thanh chứ?” Chỉ Trầm và cả bọn Chỉ Uyên cùng đáp: “Bẩm phương trượng, bọn đệ tử và Chỉ Thanh không thù không oán, lẽ nào lại vu hãm cho y?” Huyền Từ thở dài: “Việc này bên trong còn nhiều uẩn khúc. Nãy giờ Chỉ Thanh ở cạnh ta không rời nửa bước, cả thủ tòa Đạt Ma Viện cũng có mặt.”

    Phương trượng đã nói vậy, quần tăng trên điện không ai dám lên tiếng nữa. Thủ tòa Đạt Ma Viện là Huyền Nạn đại sư cũng nói: “Chính ta cũng thấy Chỉ Thanh luôn luôn kề cận phương trượng sư huynh, làm sao y đến Bồ Đề Viện trộm kinh được?” Thủ tòa Long Thụ Viện là Huyền Tịch liền hỏi: “Chỉ Trầm! Khi gã Chỉ Thanh kia động thủ với ngươi, quyền cước có gì khác lạ không?” Nghe giọng ông ta đúng là giọng nói già nua khàn khàn khi nãy. Chỉ Trầm kêu lên một tiếng rồi đáp: “Đúng rồi! Bây giờ đệ tử mới nghĩ ra. Gã Chỉ Thanh kia lúc động thủ cùng đệ tử, không sử dụng võ công bản môn.” Huyền Tịch nói: “Ngươi có nhận ra chiêu thức của y thuộc môn phái nào không?” Ông thấy Chỉ Trầm hoang mang không trả lời được, bèn hỏi thêm: “Y sử trường quyền hay đánh nhập nội? Cầm nã thủ? Hay là Địa Đường, Lục Hợp, Thông Tí quyền?” Chỉ Trầm đáp: “Y… y… đại khái sử dụng công phu âm hiểm lạ thường, mấy lần đánh trúng đệ tử.”.

    Huyền Tịch, Huyền Nạn cùng mấy vị lão tăng tiền bối đưa mắt nhìn phương trượng, ai nấy nghĩ thầm hôm nay bản tự gặp phải đối thủ bản lãnh tuyệt luân, thủ đoạn huyền ảo, khiến cho ai nấy như lạc trong đám sương mù. Trước mắt phải cố làm sao tra xét cho ra, đồng thời trấn tĩnh mọi người thấy chuyện quái lạ cũng đừng hoảng hốt. Nếu không tăng chúng sẽ rối loạn nhốn nháo, e rằng hậu hoạn không giải quyết êm thấm được.

    Huyền Từ chắp hai tay trước ngực nói: “Kinh thư cất trong Bồ Đề Viện là kinh luận Đại Thừa do cao tăng tiền bối soạn ra để xiển dương Phật pháp, độ hóa thế nhân. Nếu là đệ tử Phật môn lấy được, tụng niệm nghiên cứu dĩ nhiên có ích rất nhiều. Còn như kẻ thế tục lấy được mà không biết tôn trọng thì tội nghiệt không phải nhỏ. Các vị sư đệ, sư điệt trở về bản viện nghỉ ngơi đi, ai làm việc nấy” .

    Quần tăng nghe lời đều giải tán, chỉ còn bọn Chỉ Trầm, Chỉ Uyên vẫn cãi cọ với Chỉ Thanh, Huyền Tịch trừng mắt nhìn, bọn chúng hoảng hồn không dám ý kiến gì nữa, rồi cũng đi ra.

    Trong điện chỉ còn ba vị Huyền Từ, Huyền Nạn, Huyền Tịch ngồi trên bồ đoàn ngay trước tượng Phật. Huyền Từ đột nhiên cất tiếng hô: “A Di Đà Phật, thật là có lỗi!” Tiếng hô vừa dứt, ba nhà sư phi thân nhảy lên, chuyển người ra phía sau tượng Phật, từ ba phương vị khác nhau xuất chưởng đánh vào Kiều Phong.

    Kiều Phong không ngờ ba nhà sư đã nhìn vào tấm gương đồng phát hiện tung tích của mình, cũng không ngờ ba vị lão tăng bảy tám mươi tuổi chưa nói gì đã xông lên đánh liền, xuất chưởng mau lẹ ghê gớm đến thế. Chỉ trong chớp mắt chàng thấy khó thở, ngực như bị ép lại, ba vị cao tăng Thiếu Lâm hợp công quả là ghê gớm. Chiêu số của ba nhà sư không còn phân biệt được phương hướng từ đâu tới, trái phải trên dưới trước sau chỗ nào cũng bị chưởng lực bao trùm, muốn xông ra chỉ còn cách dùng ngạnh công phản kích, không đả thương đối phương thì chính mình sẽ bị thương. Chàng không kịp suy tính, đành vận sức vào song chưởng đẩy ra trước, pho tượng Phật ngã ầm xuống. Kiều Phong thuận tay xách luôn Chỉ Thanh, tung mình vọt ra, bỗng thấy sau lưng có tiếng gió rít, chưởng lực chưa đến mà kình phong đã đến rồi.

    Kiều Phong không muốn đối chưởng với các cao tăng Thiếu Lâm, tay phải liền chộp lấy tấm bình phong có gắn tấm gương đồng, xoay tay lật ngược lại che chắn sau lưng. Nghe “choảng” một tiếng lớn, một chưởng của Huyền Nạn đã đánh trúng tấm gương đồng, chấn động tê buốt cả cánh tay Kiều Phong, bình phong chỗ chung quanh tấm gương vỡ thành mấy mảnh.

    Kiều Phong dựa vào chưởng lực của Huyền Nạn vọt thêm một trượng về phía trước, bỗng nghe sau lưng có người hít một hơi chân khí, thanh âm không phải tầm thường. Kiều Phong biết ngay một vị sắp sử Phách Không Thần Quyền, tuy chàng không sợ nhưng cũng không muốn tỉ đấu nội lực, lại cầm chiếc gương đồng che sau lưng, vận kình vào tay phải.

    Lúc đó quyền phong đối phương nghiêng nghiêng đánh tới, phương vị hơi lạ. Kiều Phong ngạc nhiên, hiểu ra nhà sư kia không đánh thẳng vào mình, mà đánh vào lưng Chỉ Thanh. Kiều Phong không hề quen biết Chỉ Thanh, lúc trước vốn không muốn cứu y, nhưng khi nắm y trong tay tự nhiên nảy ra ý muốn chiếu cố, bèn đẩy chiếc gương đồng ra che cho. Lần này chiếc gương chỉ kêu bốp một tiếng chứ không ngân nga nữa, thì ra đã bị chưởng lực của Huyền Nạn đánh nứt từ trước, bây giờ lãnh Phách Không Quyền của Huyền Từ thành ra vỡ nát.

    Kiều Phong khi giơ chiếc gương ra sau lưng đã xách Chỉ Thanh nhảy lên mái nhà, thấy thân thể y nhẹ bổng, so với tấm thân to lớn không hợp chút nào. Trong lòng còn đang ngờ vực, bỗng chàng thấy đầu gối nhũn ra, chân khuỵu xuống. Từ khi Kiều Phong bôn tẩu giang hồ, chưa từng gặp tay đối thủ nào lợi hại đến thế, nên không khỏi giật mình. Chàng chuyển thân một cái, thế tấn lại vững chãi như một hòn núi, khí độ trầm hùng tưởng chừng như không coi cường địch vây quanh vào đâu.

    Huyền Từ liền nói: “A Di Đà Phật! Thiện tại! Thiện tai! Kiều thí chủ đã đến chùa Thiếu Lâm giết người, lại còn phá vỡ cả tượng Phật là sao?” Huyền Tịch cũng quát lớn: “Nếm một chưởng của ta!” Song chưởng của ông ta đưa ra quyện thành vòng tròn, rồi từ từ đẩy tới. Chưởng lực chưa đến, Kiều Phong đã thấy khó thở. Chưa kịp nháy mắt, chưởng lực của Huyền Tịch đã ào ào đổ tới chẳng khác nào cuồng phong bão tố.

    Kiều Phong vứt chiếc gương vỡ xuống, hữu chưởng trả lại một chiêu Kháng Long Hữu Hối trong Hàng Long Thập Bát Chưởng. Hai luồng chưởng lực chạm nhau nghe ầm một tiếng, cả Huyền Tịch lẫn Kiều Phong đều phải lùi lại ba bước. Kiều Phong chấn động toàn thân, đuối sức buông Chỉ Thanh tuột xuống, nhưng nhờ nội lực thâm hậu chỉ vận chân khí lên là lập tức tinh thần lại phấn chấn. Không đợi Huyền Tịch đánh tiếp chưởng thứ hai, chàng kêu lên: “Không đấu nữa, cáo từ” rồi một tay xách Chỉ Thanh, phi thân trở lên mái nhà.

    Huyền Nạn, Huyền Tịch cùng kêu lên một tiếng, kinh dị vô cùng. Phát chưởng vừa rồi của Huyền Tịch đã tập trung hết công lực bình sinh, có tên là Nhất Phách Lưỡng Tán. Chưởng này đánh vào đá thì đá vỡ nát, mà đánh vào người thì hồn phách đều tan. Lộ chương pháp đó chỉ có một chiêu, vì chưởng lực quá ư rùng rợn nên không cần tới chiêu thứ hai, kẻ địch đã toi mạng rồi. Người xuất chiêu này phải có nội lực bài sơn đảo hải, muốn biến chiêu hay thay đổi thế đánh đều không được. Thế mà Kiều Phong tiếp chiêu đó rồi, chẳng những không chết tại đương trường, mà chỉ trong chớp mắt đã phục hồi nguyên lực, xách người nhảy lên nóc nhà chạy mất.

    Huyền Nạn than rằng: “Võ công người này quả là giỏi thật.” Huyền Tịch nói: “Nếu như không sớm trừ khử, hậu hoạn không biết sẽ đến đâu.”

    Huyền Nạn gật đầu, còn Huyền Từ nhìn theo phía Kiều Phong vừa chạy, ngẩn người ra không nói năng gì. Khi Kiều Phong vọt đi, còn quay lại nhìn tấm gương đồng bị Huyền Từ phương trượng đánh một quyền vỡ thành mấy chục mảnh tung tóe dưới đất, mảnh nào cũng phản chiếu bóng mình. Kiều Phong vô cùng ngạc nhiên, không hiểu sao cứ mỗi lần trông thấy bóng mình lại băn khoăn trong dạ, khó có thể giải thích được tình trạng cổ quái này. Nhưng khi đó chuyện chạy cho xa chùa Thiếu Lâm là khẩn cấp, trong đầu chàng tuy nổi lên một mối nghi ngờ nhưng cũng quên ngay.

    Kiều Phong đã thuộc hết đường lối trên núi Thiếu Thất, luồn xuống sau núi rồi kiếm những đường mòn cheo leo mà chạy. Luôn mấy dặm không nghe tiếng các nhà sư đuổi theo, chàng yên tâm, bèn bỏ Chỉ Thanh xuống đất quát lớn: “Ngươi tự mình đi đi, đừng nghĩ tới chuyện chạy trốn.” Ngờ đâu Chỉ Thanh vừa chạm đất người đã nhũn ra, rơi phịch xuống tưởng chừng như đã chết. Kiều Phong giật mình, để tay vào mũi y thấy hơi thở yếu ớt như có như không. Chàng lại sờ vào cổ tay, thấy mạch nhảy vừa yếu vừa chậm, xem chừng sắp chết đến nơi.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Thiên Long bát bộ. Tiểu thuyết của Kim Dung. Tác phẩm được bắt đầu được đăng trên tờ Minh báo ở Hồng Kông và Nam Dương thương báo ở Singapore vào ngày 03-09-1963 đến ngày 27-05-1966, liên tục trong 4 năm. Các Dịch giả: Hàn Giang Nhạn; Đông Hải; Nguyễn Duy Chính. NXB Văn học, 2002.

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập35,895,045

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/