Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,164,561

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Thiên Long bát bộ

Kim Dung

  • Thứ bảy, 10:24 Ngày 31/07/2021
  • Thiên Long bát bộ

    Lúc Hư Trúc đã làm chủ tình hình ở cung Linh Thứu, bọn sáu người Mộ Dung Phục, Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Bao Bất Đồng, Phong Ba Ác, Vương Ngữ Yên cùng xuống núi Tiêu Dao. Cả bọn đều thấy mình tham gia vào vụ nổi loạn trong cung Linh Thứu đã là vô lý, nổi loạn bất thành thì lại càng chẳng hứng thú gì, mặt mày bí xị. Chỉ riêng Vương Ngữ Yên là cười nói được, khi nàng ở cạnh biểu ca thì cõi nhân gian biến thành cực lạc.

    Sáu người đi theo hướng Đông trở về Trung Nguyên. Một buổi chiều, họ đang đi ngang một khu rừng rậm thì đột nhiên Phong Ba Ác la lớn: “Có mùi máu.” Y rút soạt thanh đơn đao, đi đến chỗ có mùi, nghĩ thầm: “Mười chỗ có mùi máu thì hết chín chỗ có đánh nhau.” Y chạy thẳng vào, mùi máu càng lúc càng nồng, đột nhiên thấy mười mấy thi thể ngổn ngang, binh khí tứ tán, máu đọng chưa khô, hiển nhiên chết chưa lâu. Trận đại chiến này đã kết thúc rồi. Phong Ba Ác dừng lại than: “Chao ôi! Ta lại đến chậm một bước.”

    Bọn Mộ Dung Phục cũng đến nơi, thấy các thi thể đều mặc quần áo lam lũ, lưng đeo túi vải, đều là người trong Cái Bang. Công Dã Càn hỏi: “Có người là đệ tử bốn túi, có người năm túi, không hiểu sao đều chết ở đây?” Đặng Bách Xuyên nói: “Chúng ta nên chôn cất mấy cái tử thi này.” Công Dã Càn hưởng ứng: “Đúng thế. Công tử cùng Vương cô nương hãy sang bên kia nghỉ chân, để bốn người bọn thuộc hạ thu dọn chỗ này.” Y liền nhặt một cây thiết côn, bắt đầu đào hố. Bỗng nhiên trong đám thi thể có tiếng rên rỉ, Vương Ngữ Yên kinh hãi níu lấy tay Mộ Dung Phục.

    Phong Ba Ác chạy đến la lên: “Lão huynh chưa chết ư?” Trong đám thi thể có một người từ từ ngồi dậy, mở miệng nói: “Ta chưa chết, nhưng… cũng… sắp chết rồi.” Đó là một lão cái trạc ngũ tuần, tóc hoa râm, mặt đầy vết máu trông rất dễ sợ. Phong Ba Ác lập tức móc ra một viên thuốc trị thương nhét vào miệng lão.

    Lão cái nuốt viên thuốc, rồi lại nói: “Chắc không ăn thua gì đâu. Bụng ta trúng hai đao, không sống được nữa rồi.” Phong Ba Ác hỏi: “Ai đã ra tay hại các vị?” Lão cái lắc đầu đáp: “Nói ra xấu hổ, chính là nội loạn trong Cái Bang chúng ta.” Hai gã Phong Ba Ác. Bao Bất Đồng đều “A” lên một tiếng. Lão cái nói: “Lẽ ra không nên nói với người ngoài, nhưng tình thế đã nát bét đến thế này thì không giấu giếm được nữa. Không biết quí tính đại danh các vị là gì, đa tạ đã ra tay giúp đỡ… Đệ tử Cái Bang tự tàn sát lẫn nhau…, đồng đạo võ lâm chưa từng quen biết lại cứu giúp. Vừa rồi… nghe các vị định chôn cất thi thể bọn ta, tấm lòng nhân nghĩa đến thế, lão… lão vô cùng… cảm kích.” Bao Bất Đồng cãi: “Sai bét, sai bét! Ngươi chưa chết, không phải là thi thể. Dĩ nhiên chúng ta không định chôn ngươi, sao ngươi lại cảm kích chuyện đó?” Lão cái nói: “Huynh đệ Cái Bang… giết chúng ta, lại không thèm đắp điếm thi thể, còn nói gì là… hảo huynh đệ nữa? Thật là không bằng… giống cầm thú.” Bao Bất Đồng toan cãi là cầm thú cũng không biết đắp điếm thi thể, nhưng gã thấy Mộ Dung Phục liếc mắt bèn thôi không nói nữa.

    Lão cái lại nói: “Xin quí vị báo tin cho Ngô trưởng lão của tệ bang, nói rằng tân bang chủ là thằng lỏi Trang Tụ Hiền chỉ là hình nộm, hoàn toàn để tên gian tặc Toàn Quan Thanh điều khiển. Chúng ta không phục tên họ Trang làm bang chủ, Toàn Quan Thanh liền sai người đến giết. Bây giờ chúng lại toan đi gia hại Ngô trưởng lão, xin lão nhân gia hết sức đề phòng.”

    Mộ Dung Phục gật gật đầu, nghĩ thầm: “Thì ra là thế.” Y đáp: “Lão huynh cứ yên tâm, chúng ta chắc chắn sẽ đưa tin. Nhưng không biết Ngô trưởng lão hiện đang đâu?” Lão cái hai mắt đã lạc thần, nhìn trân trân ra ngoài xa, từ từ lắc đầu nói: “Ta… ta cũng không biết.”

    Mộ Dung Phục lại nói: “Cũng không sao. Chúng ta chỉ cần loan tin này ra giang hồ, tự nhiên sẽ truyền đến tai Ngô trưởng lão. Không chừng bọn Toàn Quan Thanh nghe được tin đồn, lại không dám gia hại Ngô trưởng lão nữa.” Lão cái gật đầu lia lịa, đáp: “Đúng thế, đúng thế! Xin đa tạ!” Mộ Dung Phục hỏi tiếp: “Lai lịch của tân bang chủ Trang Tụ Hiền của quí bang thế nào? Bọn ta ít hiểu biết, hôm nay mới nghe thấy cái tên đó lần đầu.” Lão cái giận dữ đáp: “Thằng lỏi đầu sắt này…”

    Bọn Mộ Dung Phục cùng giật mình la lên: “Là tên quái nhân đầu sắt đó ư?” Lão cái đáp: “Ta từ Tây Hạ về, cũng chưa gặp hắn bao giờ, chỉ nghe huynh đệ trong bang kể lại. Tên tiểu tử đó vốn chụp một cái mặt nạ sắt trên đầu, sau này được Toàn Quan Thanh tìm cách lột ra. Ôi chao, mặt hắn bây giờ sứt sẹo ghê tởm hơn cả ma quỉ, nhưng chuyện đó thì khỏi cần nói làm gì. Thằng lỏi này võ công lợi hại vô cùng. Mấy tháng trước bản bang mở đại hội ở Quân Sơn để cử ra bang chủ, mọi người tranh luận mãi không quyết định được, cuối cùng phải dựa vào võ công cao thấp. Thằng lỏi đầu sắt đánh chết liên tiếp mười một cao thủ trong bang, hiển nhiên giành được ngôi bang chủ. Rất nhiều huynh đệ không phục, tên gian tặc Toàn Quan Thanh bèn…” Giọng lão càng lúc càng lào phào, tựa như sắp tuyệt khi đến nơi.

    Đặng Bách Xuyên bèn nói: “Lão huynh! Để bọn ta xem vết thương đã. Trị thương xong rồi hãy kể tiếp.” Lão cái đáp: “Bụng thủng rồi, ruột đổ ra rồi… Đa tạ, bất quá…” Lão nói đến đây, gắng gượng đưa tay sờ sờ trong áo, nhưng yếu sức quá rồi. Công Dã Càn hiểu ý liền hỏi: “Phải chăng tôn giả muốn lấy vật gì ra?” Lão cái gật đầu, Công Dã Càn bèn dần dần lấy đồ vật trong bọc của lão ra, để vào lòng bàn tay lão. Nào là hỏa đao, hóa thạch, ám khí, thuốc men, lương khô, bạc vụn… đủ thứ, thứ nào cũng thấm đầy máu tươi.

    Lão cái nói: “Ta… ta không xong rồi. Bản văn này rất quan trọng, mong ân công nghĩ tình đồng đạo giang hồ mà giao lại cho trưởng lão nào trong Cái Bang cũng được, chỉ đừng giao cho thằng lỏi đầu sắt hay tên gian tặc Toàn Quan Thanh. Tiểu lão ở dưới cửu tuyền cũng cảm kích đời đời.” Nói xong, lão đưa tay phải ra, không ngớt run run, lấy từ tay Công Dã Càn một tờ giấy lớn màu vàng, được xếp ngay ngắn.

    Mộ Dung Phục nói: “Các hạ yên tâm. Thương thế của các hạ chắc là khó trị rồi, nhưng chúng ta bảo đảm sẽ trao bản văn này cho trưởng lão quí bang.” Y bèn cầm lấy tờ giấy vàng đó.

    Vị lão cái nhỏ giọng nói: “Tại hạ họ Dịch, tên là Dịch Đại Bưu, phiền túc hạ chuyển lời. Ta ở Tây Hạ về, bản văn này là thông báo của quốc vương Tây Hạ kén phò mã. Chuyện này thật không nhỏ chút nào, liên quan đến vận khí cùng an nguy của Đại Tống. Nhưng ta vừa về đến Trung Nguyên đã bị bọn gian đồ bản bang hạ thủ, chỉ mong gặp được Ngô trưởng lão mà thuật lại, nào ngờ không gặp nữa rồi. Chỉ mong túc hạ nghĩ đến ngàn vạn sinh linh… sinh linh…” Lão không nói tiếp được nữa, thở mỗi lúc một gấp, đột nhiên thổ ra một bóng máu tươi, tròng mắt trợn ngược lên. Lão nhìn bộ mặt tuấn tú của Mộ Dung Phục bỗng nhớ tới một người, vội hỏi: “Các hạ là ai? Là Cô Tô… Cô Tô…”

    Mộ Dung Phục đáp: “Không sai. Tại hạ là Mộ Dung Phục ở Cô Tô.” Lão cái quát lên: “Ngươi… ngươi là cừu nhân của bản bang…” Rồi lão đem hết sức tàn để giật lấy tờ giấy vàng trong tay Mộ Dung Phục.

    Mộ Dung Phục để lão đoạt lại, nghĩ thầm: “Trước kia Cái Bang cho rằng ta giết chết phó bang chủ Mã Đại Nguyên của họ. Gần đây lời đồn đại đã giảm nhiều, nhưng người này mới ở Tây Hạ về chưa rõ tình hình, hiển nhiên vẫn coi ta là đại cừu nhân. Lão sắp chết rồi, thôi chẳng để ý làm gì nữa.”

    Lão cái dùng sức cả hai tay, toàn xé bỏ tờ giấy, đột nhiên duỗi chân ra một cái, máu miệng ộc ra, đứt hơi chết rồi !

    Phong Ba Ác gỡ tay lão lấy lại tờ giấy, thấy viết bằng bút son đầy chữ nước ngoài ngoằn ngoèo, dưới cùng có đóng một con dấu thật to. Công Dã Càn hiểu văn tự mấy nước, cầm lấy xem từ đầu đến cuối rồi nói: “Quả nhiên đây là bản văn của quốc vương Tây Hạ chiêu phò mã. Công chúa Tây Hạ đến tuổi cập kê, quốc vương muốn tìm một thanh niên chưa thành gia thất, khôi ngô tuấn tú, văn võ song toàn, đến tiết Trung Thu tháng tám năm nay sẽ mở cuộc tuyển chọn. Nhân sĩ bất luận nước nào, tự tin mình là nhân tài hạng nhất, đến trước ngày đó hãy gửi danh thiếp xin gặp, quốc vương sẽ sắp xếp tiếp kiến. Ai không được tuyển làm phò mã, cũng sẽ căn cứ vào tài đức mà thu dụng, phong cho quan tước. Dù người kém cỏi cũng được tặng thưởng vàng bạc…”

    Công Dã Càn đọc chưa xong, Phong Ba Ác đã nổi lên cười ha hả rồi nói: “Vị nhân huynh Cái Bang này thật là tức cười. Y xách bản văn này từ Tây Hạ về, chẳng lẽ muốn tên ăn mày nào đi qua Tây Hạ xin làm phò mã ư?”

    Bao Bất Đồng nói: “Sai bét, sai bét! Tứ đệ chưa hiểu đấy thôi. Các vị trưởng lão Cái bang tất nhiên đều vừa già vừa xấu, nhưng đệ tử trong bang thiếu gì người văn võ song toàn, thông minh tuấn tú? Nếu đệ tử nào trúng tuyển ngôi phò mã nước Tây Hạ thì Cái Bang không vinh dự hay sao?”. Đặng Bách Xuyên chau mày nói: “Trước nay thường nghe nói hảo hán Cái Bang chẳng ai mưu cầu công danh phú quý, sao lão Dịch Đại Bưu này lại bị lợi lộc mê hoặc đến thế?” Công Dã Càn nói: “Đại ca! Lão nói việc này không phải chuyện nhỏ, có quan hệ đến vận mệnh an nguy của nhà Đại Tống, còn bảo chúng ta nghĩ đến sinh linh thiên hạ gì gì đó. Nếu lão nói đúng sự thực thì không phải là họ cầu công danh phú quý cho Cái Bang đâu.” Bao Bất Đồng lắc đầu nói: “Sai bét, sai bét!”

    Công Dã Càn nhìn Bao Bất Đồng hỏi: “Tam đệ lại có cao kiến gì nữa?” Bao Bất Đồng đáp: “Nhị ca! Nhị ca hỏi tiểu đệ lại có cao kiến gì ư? Chữ “lại” đó tỏ ra đệ đã đưa ra cao kiến một lần rồi, nhưng đệ đã nói gì đâu? Như vậy đủ chứng minh nhị ca không tin là đệ có cao kiến chi hết, và ý tứ câu này phải hiểu là: “Bao lão tam lại nói tầm bậy gì đó?” Có phải thế không?”

    Phong Ba Ác tuy ưa đánh nhau với người ngoài, song với huynh đệ thì gã không đánh. Còn Bao Bất Đồng có tính thích tranh luận, bất chấp kẻ thân người sơ, kẻ trên người dưới, ai nói gì không hợp ý là hắn cãi đến kỳ cùng. Công Dã Càn đã hiểu tính khí hắn, chỉ mỉm cười nói: “Tam đệ đã từng phát biểu vô số cao kiến. Chữ “lại” đây là thật sự mong ngươi “lại” có cao kiến.”

    Bao Bất Đồng lắc đầu nói: “Sai bét, sai bét! Lúc nhị ca nói câu này miệng cứ cười cười, nhất định không có thành ý.” Y còn muốn nói nữa, nhưng Đặng Bách Xuyên ngắt lời, hỏi: “Tam đệ! Theo ý kiến của tam đệ thì Dịch Đại Bưu lấy bảng văn tuyển phò mã nước Tây Hạ về, nhờ chúng ta giao cho trưởng lão Cái bang, là lão có dụng ý gì? Bao Bất Đồng đáp: “Cái này… tiểu đệ không phải Dịch Đại Bưu thì làm sao mà biết được lão có dụng ý gì?”

    Mộ Dung Phục nhìn sang Công Dã Càn để hỏi ý kiến gã. Công Dã Càn mỉm cười nói: “Ý kiến của ta khác hẳn với Bao tam đệ.” Gã biết trước rằng bất luận mình nói gì, Bao Bất Đồng cũng phản đối, chi bằng nói chặn đầu trước đi là hơn. Bao Bất Đồng trợn mắt nhìn Công Dã Càn nói: “Sai bét, sai bét! Lần này nhị ca đoán sai rồi. Tiểu đệ nghĩ rằng nhị ca nghĩ thế nào thì tiểu đệ cũng nghĩ đúng như thế, không sai chút nào.” Công Dã Càn cười nói: “Thế thì tuyệt diệu!”

    Mộ Dung Phục hỏi: “Nhị ca nghĩ thế nào?” Công Dã Càn đáp: “Hiện nay thiên hạ phân làm năm nước Đại Liêu, Đại Tống, Thổ Phồn, Tây Hạ và Đại Lý, trừ nước Đại Lý nhỏ bé ở nơi xa lánh tại Thiên Nam là không tranh giành với ai, còn bốn nước kia đều có chí thôn tính thiên hạ..

    Bao Bất Đồng nói: “Nhị ca nói vậy là không đúng rồi. Nước Đại Yên ta hiện nay tuy không có đất đai cương thổ, nhưng công tử chẳng giờ phút nào là không nghĩ tới việc phục quốc. Biết đâu ngày sau Đại Yên ta lại tiếp bước oai hùng của tổ tiên mà trung hưng cơ nghiệp?”

    Mộ Dung Phục, Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Phong Ba Ác đều đứng nghiêm chỉnh, vẻ mặt trang trọng đồng thanh nói: “Chí hướng phục quốc, nhất quyết không lúc nào quên được.” Rồi người rút đao, kẻ tuốt kiếm, vung binh khí lên ngang ngực.

    Tổ tông của Mộ Dung Phục xưa kia vốn thuộc tộc Tiên Ty. Thời kỳ loạn Ngũ Hồ ở Trung Quốc, họ Mộ Dung dòng dõi Tiên Ty đánh Đông dẹp Bắc oai phong lừng lẫy, dựng ra mấy triều đại Tiền Yên, Hậu Yên, Nam Yên và Tây Yên. Về sau nhà Yên bị nhà Bắc Ngụy diệt, người họ Mộ Dung tản cư đi khắp nơi nhưng vẫn truyền đời dặn con cháu phải cố mà trung hưng phục quốc. Nhưng qua các triều đại Tùy Đường, họ Mộ Dung ngày càng suy yếu, triển vọng khôi phục Đại Yên ngày càng mờ mịt nhưng chí hướng vẫn chưa tắt hắn.

    Đến cuối đời Ngũ Đại, trong họ Mộ Dung xuất hiện một nhân vật kỳ tài trăm đời cũng hiếm thấy là Mộ Dung Long Thành, sáng tạo ra tuyệt kỹ Đẩu Chuyển Tinh Di thế gian vô địch, dương danh thiên hạ. Mộ Dung Long Thành theo di huấn của tổ tông, tụ tập anh hùng, mưu toan phục quốc. Nhưng đại thế trong thiên hạ phân ly lâu ngày tất phải hợp lại, Triệu Khuông Dẫn đã dựng lên nhà Đại Tống, bốn bể thanh bình, lòng người đều mong thịnh trị. Mộ Dung Long Thành tuy võ công cao cường, rút cục cũng không làm được gì, chết trong uất hận.

    Mấy đời sau, bao nhiêu tráng chí hùng tâm cùng võ công của Mộ Dung Long Thành dường như đã truyền cả lại cho Mộ Dung Phục. Nhưng đối với nhà Tống thì mưu đồ trung hưng Đại Yên lại là hành vi phản nghịch vô đạo, vì vậy Mộ Dung Phục chỉ ngấm ngầm tụ tập hào kiệt, tích thảo dồn lương, không lộ chút phong thanh nào ra ngoài. Trong võ lâm chỉ biết Cô Tô Mộ Dung là một thế gia võ công cực cao, hành vi kỳ bí gần như tà môn ngoại đạo, chẳng ai biết nhà Mộ Dung đang nuôi hoài bão chí lớn trong lòng. Hành động của nhà Mộ Dung khác hẳn những phái võ khác, người luyện võ tầm thường chỉ thấy Mộ Dung như cái đinh trước mắt, phái nào cũng ghen ghét. Công phu Gậy ông đập lưng ông lại càng tích thêm tiếng ác vào cho nhà Mộ Dung.

    Lúc này ở nơi hoang dã bốn phía không người, Bao Bất Đồng đề cập đến chí lớn phục Yên, mọi người bất giác nổi dạ anh hào rút kiếm tuốt đao, khảng khái hiên ngang bày tỏ chí hướng.

    Vương Ngữ Yên từ từ quay đi, lẳng lặng ra chỗ khác. Mẫu thân nàng vốn cho rằng chuyện xưng đế xưng vương chỉ là mộng tưởng hão huyền đã mấy trăm năm của họ Mộ Dung, việc phục quốc chẳng hy vọng gì, cái họa diệt tộc lại rõ ràng trước mắt. Vì thế mà mẫu thân nàng mới cấm cửa Mộ Dung Phục đến nhà, ẩn cư một nơi hẻo lánh ở Linh Hồ, không muốn quan hệ tới nhà Mộ Dung cho thêm rắc rối.

    Công Dã Càn nhìn theo Vương Ngữ Yên một lúc, rồi nói: “Đại Liêu và Đại Tống đánh nhau đã mấy trăm năm, Đại Liêu tuy chiếm được thượng phong, nhưng muốn diệt được Đại Tống còn là chuyện khó. Tây Hạ cùng Thổ Phồn hùng cứ phương Tây, mỗi nước có đến mấy chục vạn tinh binh. Bất luận Tây Hạ hay Thổ Phồn mà chịu trợ giúp Đại Liêu thì nhà Đại Tống tất phải nguy ngập. Còn nếu một trong hai nước này giúp đỡ Đại Tống thì cái ngày diệt vong của Đại Liêu sắp đến.”

    Phong Ba Ác lớn tiếng đáp: “Nhị ca nói đúng lắm. Trước nay Cái Bang vẫn trung thành với Tống triều, phen này lão Dịch Đại Bưu sang Tây Hạ lấy bảng văn về chắc là muốn nhà Đại Tống có tay thiếu niên anh hùng nào đi dự tuyển ngôi phò mã nước Tây Hạ. Giả tỉ Tống Hạ liên hôn với nhau, tất trở nên thiên hạ vô địch.”

    Công Dã Càn gật đầu nói: “Nói là thiên hạ vô địch thì chưa chắc, nhưng nhà Đại Tống lương thảo phong phú của cải dồi dào, còn Tây Hạ binh cường mã tráng. Hai nước này mà liên minh với nhau thì Đại Liêu cùng Thổ Phồn đều không địch nổi, còn nước Đại Lý nhỏ xíu kia thì chẳng nhắc đến làm gì. Theo ta suy đoán, thì sau khi Tống Hạ liên minh, việc đầu tiên là họ thôn tính Đại Lý, sau đó mới đánh Liêu.” Đặng Bách Xuyên nói: “Chắc là Dịch Đại Bưu tính toán như thế, nhưng việc Tống Hạ liên minh không phải dễ dàng đâu. Các nước Đại Liêu, Thổ Phồn, Đại Lý mà biết tin này, nhất định tìm cách phá hoại.” Công Dã Càn nói: “Chẳng những họ bày kế phá hoại, mà họ đều muốn lấy công chúa Tây Hạ.”

    Đặng Bách Xuyên nói: “Không hiểu công chúa Tây Hạ đẹp hay xấu, tính tình ôn nhu hòa nhã hay là ngang tàng ngỗ ngược?” Bao Bất Đồng cười ha hả nói: “Đại ca lo lắng làm chi? Chẳng lẽ đại ca muốn qua Tây Hạ ghi tên ứng tuyển để tranh ngôi phò mã hay sao?”

    Đặng Bách Xuyên cười đáp: “Giả tỉ Đặng đại ca của tam đệ mới hai mươi tuổi, võ công cao gấp mười, hình mạo đẹp gấp trăm, thì ta đã lập tức bay qua Tây Hạ rồi.” Rồi gã nghiêm mặt nói tiếp: “Việc mưu đồ phục quốc của nước Đại Yên ta mấy trăm năm nay thủy chung vẫn như hoa trong gương, trăng dưới nước, không thành sự thực, xét cho cùng chỉ vì chưa được một lực lượng đáng kể nào viện trợ. Nếu họ Mộ Dung cùng nước Tây Hạ kết mối thân tình, khi chúng ta khởi nghĩa ở Trung Nguyên, Tây Hạ đưa quân viện trợ, thì đại sự làm sao mà không thành tựu?”

    Công Dã Càn tán thưởng: “Đúng thế! Đời Xuân Thu, hai nước Tấn Tần liên hôn, Tấn công tử Trùng Nhĩ vong quốc chạy ra ngoài được Tần Mục Công cho quân giúp đỡ, cuối cùng xưng hiệu Tấn Văn Công lập bá nghiệp một thời.”

    Bao Bất Đồng chỉ định nói chơi, thế mà nghe xong ý kiến của Đặng Bách Xuyên và Công Dã Càn, gã bèn gật đầu lia lịa nói: “Không sai! Chỉ mong rằng việc này giúp ích cho việc trung hưng phục quốc nước Đại Yên ta, còn công chúa Tây Hạ đẹp hay xấu, dịu dàng hay ngỗ ngược thì cũng không quan trọng. Giả tỉ quốc vương Tây Hạ chịu gả cho Bao lão tam một con heo nái, Bao lão tam cũng ráng nhắm mắt cưới làm vợ.”

    Mọi người đều cười ồ, đưa mắt nhìn Mộ Dung Phục. Mộ Dung Phục hiểu bốn gã này muốn mình đi Tây Hạ ứng tuyển ngôi phò mã. Y nghĩ thầm: “Kể về tài mạo nhân phẩm, văn tài võ học thì hiện nay trên đời khó mà kiếm được một chàng trai đủ tư cách như mình, việc đi Tây Hạ cầu thân mười phần có thể nắm vững đến sáu bảy. Nhưng nếu quốc vương Tây Hạ tính tới gia thế thì mình tuy là dòng dõi vương tôn nước Đại Yên nhưng đã suy vong từ lâu rồi, ở Đại Tống mình chỉ là một tên bạch đinh áo vải. Nếu bốn nước Đại Tống, Đại Lý, Đại Liêu, Thổ Phồn phái vương công đến cầu hôn, thì mình không có chút danh vị nào, thua người ta là chắc chắn.” Y nghĩ đến đây, bất giác đưa mắt nhìn bảng văn.

    Công Dã Càn đi theo Mộ Dung Phục đã lâu, đoán được tâm lý của y, bèn nói: “Trên bảng văn ghi rất rõ ràng. Người ứng tuyển không cần gia thế, chỉ cần nhân phẩm cùng bản lĩnh. Đã thành phò mã thì tự nhiên sẽ có tước vị, còn bản lĩnh thì không thể do vua chúa ký thánh chỉ ban tặng được. Công tử! Hùng tâm của họ Mộ Dung đã mấy trăm năm, nay đặt cả vào công tử…” Hắn nói đến đây, tâm thần kích động, âm thanh run rẩy.

    Bao Bất Đồng nói: “Công tử làm Tấn Văn Công thì bốn huynh đệ chúng ta sẽ làm Hồ Mao, Hồ Yển, Giới Tử Thôi…” Y bất giác nghĩ tới Giới Tử Thôi về sau bị Tấn Văn Công thiêu sống, câu nói này quả là không nên chút nào, bèn cười rồi im bặt.

    Mộ Dung Phục mặt trắng bệch ra, tay chân run rẩy. Y cũng thấy đây là cơ hội ngàn năm khó gặp, trước nay mỗi khi công chúa kiếm chồng đều do quốc vương sai đại thần làm mối mà tuyển chọn con cháu của đại quan trong nước, không hề thông cáo rộng rãi ra khắp thiên hạ để công khai lựa chọn như kiểu này. Y không tự chủ được, quay lại nhìn sau lưng Vương Ngữ Yên thì thấy nàng đứng dưới một gốc liễu, tay phải nắm lấy một cành rủ xuống, mắt nhìn xuống sông, chỉ mặc một tấm áo mỏng manh, trông thực đáng thương.

    Dĩ nhiên Mộ Dung Phục biết rằng biểu muội từ nhỏ vẫn nuôi một mối thâm tình với mình. Cô mẫu cùng song thân mình có chuyện bất hòa, nhiều phen ngăn trở những cuộc gặp gỡ giữa nàng và mình, thế nhưng một cô gái yếu đuối không biết võ công mà dám phiêu bạt giang hồ tìm mình, tình ý thật là thế gian hiếm có. Y tự nhủ: “Mộ Dung Phục này bôn tẩu bốn phương, ôm một tấm lòng trung hưng phục quốc, đến võ công cũng không thể chuyên tâm rèn luyện, thì còn kể gì đến chút tình nhi nữ? Nhưng biểu muội lại thâm tình với mình đến thế, làm sao mà không động lòng được? Nếu lúc này mình đột nhiên bỏ nàng ra đi cầu hôn với một cô công chúa chưa từng gặp mặt, về lý thì không sai, nhưng về tình thì thật là bất nhẫn.”

    Công Dã Càn đằng hắng rồi nói: “Công tử! Từ xưa đến nay, những người làm nên đại sự đều không câu nệ tiểu tiết. Đã là đại anh hùng, đại hào kiệt thì phải phá bỏ cửa quan tình ái.”

    Bao Bất Đồng phụ họa: “Sau này khôi phục lại được nước Đại Yên, công tử lên ngôi chúa tể một nước, thì chuyện tam cung lục viện không phải nói làm gì. Khi đó công chúa nước Tây Hạ sẽ lên ngôi chánh cung nương nương, còn vị biểu muội họ Vương được phong làm Tây cung nương nương, thế là xong hết. Trong lòng công tử có sủng ái cô nàng hơn một tí thì cũng đâu có ai cấm được?” Bao Bất Đồng thường ngày chỉ ưa chặn họng người ta, nhưng bây giờ là lúc thương nghị đại sự, gã nói toàn những lời hợp đạo lý.

    Mộ Dung Phục gật đầu, nghĩ thầm: “Phụ thân ta lúc sinh thời đã căn dặn, ngoài việc trung hưng Đại Yên thì thiên hạ không còn gì là đại sự nữa. Vì chuyện phục hưng đại nghiệp thì cha anh có thể giết, con em càng có thể giết, bằng hữu chí thân có thể ruồng bỏ, tình yêu trai gái càng không nên để vào lòng. Tuy Vương Ngữ Yên đối với ta một mối thâm tình, nhưng ta trước sau chỉ coi nàng như một cô biểu muội chứ đã có tình ý gì đâu mà ngại?” Trước nay y cũng nghĩ rằng sau này sẽ cưới nàng làm vợ, nhưng cho rằng đó là chuyện dĩ nhiên, không cần nghĩ ngợi gì nhiều. Bao Bất Đồng nói cùng có lý, sau này đại sự thành rồi, mình sẽ đặt nàng vào ngôi phi tần, gia tâm sủng ái một chút là xong hết.” Y trầm ngâm một lúc rồi không lý gì đến Vương Ngữ Yên nữa, lên tiếng nói: “Các vị nói rất có lý. Đây quả là một cơ hội rất tốt để mưu đồ khôi phục nước Đại Yên. Nhưng đại trượng phu không thể thất tín, ta phải đưa bảng văn này tới Cái Bang.”

    Đặng Bách Xuyên nói: “Đúng thế! Đừng nói Cái Bang không có nhân vật nào so được với công tử, mà cho dù có kình địch thật sự, chúng ta cũng không thể giấu giếm bảng văn một cách đê hèn vô sỉ.” Phong Ba Ác phụ họa: “Dĩ nhiên là thế. Đại ca cùng nhị ca theo công tử qua Tây Hạ cầu thân, còn tam ca cùng tiểu đệ đem bảng văn qua Cái Bang. Từ nay đến ngày trung thu tháng tám sang năm còn lâu lắm, bọn họ có chọn người ứng tuyển cũng còn kịp chán, không thể trách bọn ta xử ép họ được.”

    Mộ Dung Phục nói: “Chúng ta làm việc phải quang minh lỗi lạc. Bây giờ ta thân hành đem bức bảng văn này giao cho trưởng lão Cái bang, rồi mới đi Tây Hạ.” Đặng Bách Xuyên vỗ tay reo lên: “Công tử nói đúng lắm. Chúng ta không nên để người khác dị nghị sau lưng mình một câu nào.” Công Dã Càn, Bao Bất Đồng, Phong Ba Ác cũng gật đầu khen phải, rồi đem an táng thi thể bọn Cái Bang.

    Mộ Dung Phục gọi Vương Ngữ Yên lại nói: “Biểu muội! Bọn Cái Bang này bị giết có liên quan đến một việc lớn. Ta phải thân hành qua Tổng đà Cái Bang, tiện đường đưa biểu muội về Mạn Đà Sơn Trang trước.” Vương Ngữ Yên giật mình, kinh hãi nói: “Muội… muội không về nhà đâu. Mẫu thân thấy muội sẽ giết chết ngay.” Mộ Dung Phục cười đáp: “Cô mẫu tuy tính tình nóng nảy nhưng chỉ có mình biểu muội là con, sao lại giết chết? Nhiều lắm là người trách mắng mấy câu mà thôi.” Vương Ngữ Yên nói: “Không… không…! Muội không về nhà đâu, nhất định phải theo biểu huynh đi Cái Bang.”

    Mộ Dung Phục đã quyết ý đi Tây Hạ cầu thân, nhưng đối với Vương Ngữ Yên cũng thấy khó nghĩ. Y liền nói: “Thôi đành thế này vậy. Biểu muội là một cô gái nhỏ tuổi mà đi theo chúng ta xuất đầu lộ diện trên chốn giang hồ, thật có nhiều điều bất tiện. Biểu muội đừng đi nữa, nếu không muốn về Mạn Đà Sơn Trang thì về nhà ta ở Yến Tử Ổ tạm trú. Xong việc rồi ta sẽ quay về với biểu muội, được không?”

    Vương Ngữ Yên hai má ửng hồng, mừng thầm trong bụng. Nguyện vọng cả đời nàng là được kết duyên đôi lứa với biểu huynh rồi cùng ở Yến Tử Ổ. Bây giờ nàng nghe Mộ Dung Phục bảo mình về Yến Tử Ổ, tuy chưa công khai cầu hôn, nhưng sự tình đã rõ ràng lắm rồi. Nàng không nói gì, chỉ từ từ cúi đầu xuống, khóe mắt lộ ra những tia sáng hoan hỉ.

    Đặng Bách Xuyên cùng Công Dã Càn nhìn nhau, cảm thấy mình đang lừa gạt một vị cô nương ngây thơ chất phác, trong lòng không khỏi áy náy. Bỗng nghe “bốp” một tiếng, Phong Ba Ác tự tát vào mặt mình một cái rất mạnh. Vương Ngữ Yên ngẩng đầu lên, ngạc nhiên hỏi: “Phong tứ ca! Tứ ca làm sao thế?” Phong Ba Ác đáp: “Tiểu huynh đánh… đánh một con muỗi đấy thôi.”

    Cả đoàn sáu người lại lên đường về hướng đông. Chưa tới hai ngày thì Đoàn Dự đã từ phía sau đuổi tới, mừng rỡ chào hỏi: “Ái chà! May quá, lại gặp Đặng đại ca, Công Dã nhị ca, Bao tam ca, Phong tứ ca cùng Vương cô nương rồi. Mọi người cũng đi về hướng đông, thế thì chúng ta cùng đi lại càng vui vẻ.”

    Tuy Bao Bất Đồng rất chán ghét Đoàn Dự, nhưng chàng đã từng cứu tính mạng của Phong Ba Ác, Mộ Dung Phục, Vương Ngữ Yên. Vì thế đã không tiện công khai đuổi chàng đi, nhưng trên đường không khỏi có lời qua tiếng lại. Tuy nhiên Đoàn Dự bất kể là nghe thấy hay không cũng bỏ ra ngoài tai hết, ung dung tự tại, mặc ai nói gì thì nói.

    Đoàn người đi dọc đường cũng nghe tin Cái Bang tranh ngôi minh chủ võ lâm với phái Thiếu Lâm. Mộ Dung Phục cùng bọn Đặng Bách Xuyên ngấm ngầm thương nghị, nếu Cái Bang cùng phái Thiếu Lâm tranh đấu thành thế lưỡng bại câu thương, nhà Mộ Dung ở giữa ngư ông thủ lợi thì không chừng đoạt được danh hiệu minh chủ võ lâm, hiệu lệnh cho hào kiệt giang hồ. Đây thật là một cơ duyên rất tốt không nên bỏ lỡ, họ bèn chuyển hướng đi đến Thiếu Lâm Tự, không ngờ vừa tới chân núi Thiếu Thất đã gặp Tinh Tú lão quái Đinh Xuân Thu.

    Mấy tháng nay, Đinh Xuân Thu mở rộng môn phái, thu nạp rất nhiều đồ đệ. Bất luận lục lâm hắc đạo hay yêu quái tà môn, ai đến quy đầu lão cũng nhận ngay. Mới vài tháng mà bọn tiểu tặc ở Trung Nguyên tranh nhau nghênh tiếp lão ở dọc đường, đông đảo như kiến bu thịt thối.

    Mộ Dung Phục đã suýt bị Đinh Xuân Thu hại mạng trong kỳ hội của Tô Tinh Hà, lần đại chiến thứ hai ở phạn điếm cũng may lắm mới thoát thân. Chuyến này lại gặp nhau, Mộ Dung Phục thấy đối phương quá đông người thì không khỏi ngấm ngầm kiêng nể. Nhưng Phong Ba Ác lại là một nhân vật không sợ trời không sợ đất, mới nói qua nói lại ba câu đã xông vào đánh nhau với bọn môn đồ phái Tinh Tú. Đoàn Dự muốn đưa Vương Ngữ Yên tránh ra, nhưng Vương Ngữ Yên lo lắng cho biểu huynh nên không chịu bỏ đi. Môn đồ phái Tinh Tú tràn lên đông đúc như nước thủy triều, chỉ chốc lát đã nhấn chìm bọn Mộ Dung Phục trong biển người.

    Đoàn Dự thi triển Lăng Ba Vi Bộ né tránh bọn môn đồ phái Tinh Tú, khi nghe thấy thanh âm của phụ thân liền chạy vào chùa để gặp mặt. Đến khi Diệp Nhị Nương nói Mộ Dung Phục đang bị Đinh Xuân Thu đánh cho thất điên bát đảo, chàng liền nghĩ thầm: “Ta phải mau mau chạy ra để cõng Vương cô nương thoát hiểm”, rồi vọt đi như bay.

    Hồi 41: Mười tám kỵ sĩ Yên Vân, khí thế thiên binh vạn mã

    5 / 5 ( 2 bình chọn )

    Đinh Xuân Thu đã sát hại hai vị cao tăng Huyền Thống, Huyền Nạn của phái Thiếu Lâm. Quần tăng chùa Thiếu Lâm xem hắn là kẻ đại thù, phải giết được hắn mới cam tâm. Mọi người nghe nói kẻ thù đã lên núi Thiếu Thất thì nhốn nháo cả lên. Huyền Sinh hô lớn: “Hôm nay mọi người phải cố gắng bắt Đinh Lão Quái để báo thù cho hai vị sư huynh Huyền Thống, Huyền Nạn.”

    Huyền Từ dõng dạc nói: “Khách ở xa đến, mình phải tiên lễ hậu binh!”. Quần tăng đồng thanh “Vâng!” một tiếng. Huyền Từ lại nói: “Các vị sư huynh! Chư vị bằng hữu! Chúng ta cùng ra xem những cao chiêu của phái Tinh Tú cùng nhà Mộ Dung tỉ đấu, có nên chăng?”

    Quần hùng vốn đang chờ đại sư nói câu này, nghe xong như được gãi đúng chỗ ngứa. Những thiếu niên anh hào tính tình nóng nảy nhưng địa vị chưa cao, tức thời chạy đi như ong vỡ tổ. Theo sau là tứ đại ác nhân, hảo hán các nơi, họ Đoàn nước Đại Lý, rồi đến cao tăng các chùa lục tục rảo bước đi ra. Tiếng khí giới chạm nhau vang lên loảng xoảng, thì ra là các nhà sư Thiếu Lâm hàng chữ Tuệ đang lấy binh khí trao cho sư phụ và các vị sư thúc, sư bá.

    Quần tăng Thiếu Lâm cả bốn đời Huyền Tuệ Hư Không đều cầm binh khí, xếp thành hàng ngũ kéo ra khỏi chùa. Mọi người vừa ra đến cửa sơn môn, một nhà sư chạy đến báo tin: “Phái Tinh Tú có đến hơn ngàn người, đang bao vây bọn Mộ Dung công tử ở sườn núi, ác đấu chưa ngừng.” Huyền Từ gật gật đầu, liền đứng trên một phiến đá nhìn xuống, chỉ thấy đầu người lố nhố đen ngòm.

    Tiếng reo hò theo gió vang lên núi: “Hôm nay Tinh Tú Lão Tiên thân hành độc chiến, dĩ nhiên bách chiến bách thắng.” “Các ngươi chỉ là mấy tên yêu ma tiểu quỷ, dám ngang bướng chống đối thì to gan thật!” “Mau mau vứt binh khí mà xin Tinh Tú Lão Tiên tha mạng.” “Tinh Tú Lão Tiên lên núi Thiếu Thất, chỉ dùng ngón tay út điểm một cái cũng đủ làm cho chùa Thiếu Lâm phải sụp đổ.”

    Bọn đệ tử mới của phái Tinh Tú chưa học võ công đã học cách nịnh sư phụ trước. Hơn ngàn người hoan nghênh nghe điếc cả tai, núi Thiếu Thất lại càng giống một nơi thánh địa để xưng tụng công đức. Cả ngàn năm nay, quần tăng Thiếu Lâm tụng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” trước Phật tượng, chưa bao giờ khí thế rầm rộ bằng bọn đệ tử phái Tinh Tú tụng niệm sư phụ lúc này. Đinh Xuân Thu vuốt chòm râu bạc ra chiều đắc ý, cặp mắt lim dim tựa như chếnh choáng hơi men.

    Huyền Sinh vận khí vào đan điền, quát lớn: “Kết thành La Hán đại trận!” Năm trăm nhà sư Thiếu Lâm đồng thanh hô to: “Kết thành La Hán đại trận!” Những bóng áo đỏ, áo xám chuyển động loạn cả lên, năm trăm nhà sư chùa Thiếu Lâm, phía đông một toán, phía tây một đội, tản ra khắp một vùng núi.

    Quần hùng nghe danh La Hán đại trận của phái Thiếu Lâm đã lâu, nhưng cả trăm năm nay phái này chưa phải đại chiến với người ngoài nên chỉ trong phái mới biết, còn người ngoài chẳng ai hiểu. Lúc này họ thấy quần tăng y phục đủ màu đỏ xám vàng đen, khí giới cũng đủ loại đao kiếm trượng câu, người nào cũng chạy như bay, chỉ trong chớp mắt đã vây bọn phái Tinh Tú vào giữa.

    Phái Tinh Tú đông người hơn tăng lữ chùa Thiếu Lâm, nhưng phần lớn là bọn mới gia nhập nên chỉ là một toán quân ô hợp, mạnh ai nấy đánh. Nếu quần tăng lập thành trận thế hợp lực tấn công thì bọn chúng dĩ nhiên chân tay lính quính, chẳng biết ứng phó cách nào. Bây giờ tiếng ca tụng lão tiên giảm bớt đi nhiều, cũng lắm tên im lặng không lên tiếng, trong lòng đã muốn đổi bài ca xưng tụng “Tinh Tú Lão Tiên…” thành “Thiếu Lâm Thánh Tăng…”

    Huyền Từ phương trượng cất tiếng: “Đinh tiên sinh phái Tinh Tú giá lâm núi Thiếu Thất, chỉ vì muốn đối địch với phái Thiếu Lâm. Vậy xin các vị anh hùng cứ đứng ngoài mà xem phái Thiếu Lâm kháng cự với cao nhân phương Tây.”

    Anh hùng các lộ Hà Sóc, Giang Nam, Xuyên Thiểm, Hồ Quảng đều la ó: “Tinh Tú Lão Quái tàn hại võ lâm. Chúng ta phải coi hắn là kẻ thù chung, tru diệt cho hết.” Quần hùng đều rút binh khí ra, toan hợp sức với phái Thiếu Lâm giết địch.

    Bọn Mộ Dung Phục, Đặng Bách Xuyên đã giết được hơn hai mươi tên môn đồ phái Tinh Tú, bây giờ thấy mọi người đến, đều lùi lại mấy trượng, tạm thời ngưng đấu, nhưng bọn thuộc hạ phái Tinh Tú cũng không tiến lên đuổi đánh.

    Đoàn Dự hết lạng sang đông lại vòng sang tây, đã đến đứng bên Vương Ngữ Yên. Chàng nói: “Vương cô nương! Giả tỉ tình hình nguy hiểm thì tại hạ lại cõng cô nương chạy ra.” Vương Ngữ Yên đỏ mặt đáp: “Ta không bị thương mà cũng không bị điểm huyệt, ta… ta tự đi…” Nàng nhìn sang Mộ Dung Phục một cái rồi nói tiếp: “Biểu huynh ta võ nghệ cao cường, thừa sức bảo vệ cho ta. Đoàn công tử cứ tùy tiện ra đi.”

    Đoàn Dự nghe vậy không khỏi đau lòng, nghĩ thầm: “Ta có bản lĩnh gì đâu, làm sao sánh với biểu huynh nàng võ công cao cường được?” Nhưng bảo chàng bỏ ra đi, thì làm sao chàng có thể ra đi? Chàng ngượng ngùng nói: “Cái đó… cái đó… À, Vương cô nương, gia gia tại hạ đã đến đây, đang ở ngoài kia.” Vương Ngữ Yên cùng Đoàn Dự đã trải qua bao cơn hoạn nạn, đã cùng đi biết mấy dặm đường, thời gian kề cận nhau không ít, nhưng trước nay Đoàn Dự chưa bao giờ nhắc đến chuyện gia đình, mà cũng chưa từng kể đến thân thế mình trước mặt nàng bao giờ. Đối với Đoàn Dự thì Vương Ngữ Yên là một vị thiên tiên, còn mình là kẻ phàm tục dưới trần gian. Trong con mắt của thiên tiên thì vương tôn công tử hay thứ dân đâu có khác gì nhau?

    Vương Ngữ Yên biết rõ Đoàn Dự đối với mình một mối chân tình, nhưng chỉ đem lòng cảm kích vì thấy chàng mấy phen hi sinh để cứu mình, ngoài ra ở con người ấy chẳng có gì khiến nàng phải động tâm. Nàng biết chàng chỉ là một gã đồ gàn, tình cờ hiểu được một bộ pháp xảo diệu cùng với một môn kiếm khí lúc linh nghiệm lúc không, so với biểu ca nàng thì thật một trời một vực. Nhưng lúc này nàng nghe nói gia gia chàng đang ở đây thì cũng hơi hiếu kỳ, liền hỏi: “Phải chăng lệnh tôn từ Đại Lý đến đây? Công tử vừa gặp lệnh tôn rồi phải không?”

    Đoàn Dự cả mừng đáp: “Phải rồi. Vương cô nương! Tại hạ dẫn cô nương đến gặp gia phụ, được chăng? Gia phụ gặp cô nương chắc là mừng lắm.” Vương Ngữ Yên hai má ửng hồng đáp: “Ta không gặp.” Đoàn Dự hỏi: “Sao cô nương lại không muốn gặp gia phụ?” Chàng thấy Vương Ngữ Yên không đáp, liền cố tìm chuyện làm nàng vui, lại nói: “Vương cô nương! Nghĩa huynh tại hạ là Hư Trúc cũng ở đây, y lại quay về làm hòa thượng. Ái chà! Đồ đệ của tại hạ cũng ở đây, thật là náo nhiệt.” Vương Ngữ Yên biết đồ đệ của Đoàn Dự là Nam Hải Ngạc Thần, nhưng chưa bao giờ hỏi vì sao chàng lại thu tên đệ tam ác nhân Hung Thần Ác Sát làm đồ đệ. Nàng nghĩ đến dáng vẻ quái dị của Nam Hải Ngạc Thần, khóe miệng bất giác nở một nụ cười. Đoàn Dự thấy mình dụ được nàng mỉm cười liền cả mừng. Tuy hiện ở giữa vòng vây phái Tinh Tú, nhưng chàng được nghe Vương Ngữ Yên cười nói dịu dàng thì dù việc tày trời cũng không để ý đến nữa.

    Quần tăng chùa Thiếu Lâm đã bố trí xong La Hán đại trận, tiền hậu tả hữu có thể hô ứng bảo vệ nhau dễ dàng. Bọn đồ đệ phái Tinh Tú từ phía Tây tấn công vào, mới trong chớp mắt đã bị thương mấy tên, Đinh Xuân Thu nói: “Các ngươi tạm ngừng tay, không được vọng động.” Rồi lão hô lớn: “Huyền Từ phương trượng! Phái Thiếu Lâm các ngươi tự xưng là thủ lĩnh võ lâm Trung Nguyên, nhưng ta xem ra không chịu nổi một trận.”

    Bọn đệ tử cũng hò reo phụ họa: “Phải rồi! Tinh Tú Lão Tiên đã tới đây, bọn trọc đầu chùa Thiếu Lâm tất phải chết hết, không đủ chỗ mà chôn.” “Võ lâm thiên hạ đều bắt nguồn từ phái Tinh Tú. Chỉ có võ công phái Tinh Tú chúng ta mới là chính thống, ngoài ra đều là tà ma ngoại đạo.” “Bọn người không học võ công phái Tinh Tú đều là tà ma quỷ quái, sắp rước họa vong thân.” Đột nhiên có tên gân cổ xướng lên; “Tinh Tú Lão Tiên, đức ngang trời đất, danh lừng vũ trụ, cổ kim khó sánh.” Hàng ngàn người nhao lên phụ họa, có kẻ khua chiêng đánh trống, có người thổi tiêu thổi địch, khí thế thật là rầm rộ. Phần lớn quần hùng chưa được thấy cảnh tượng phái Tinh Tú kết đoàn hô khẩu hiệu, tuy có phần kinh hãi nhưng không khỏi bật cười.

    Giữa những tiếng đàn sáo trống chiêng, từ dưới chân núi bỗng có tiếng vó ngựa vọng lại, mỗi lúc một rõ hơn. Chỉ chốc lát đã có bốn lá cờ vàng từ sườn núi tiến ra, rồi thấy rõ bốn con ngựa chạy tới, kỵ sĩ cầm cờ tung bay trước gió. Trên bốn lá cờ đều đề năm chữ: “Trang bang chủ Cái Bang”. Lên đến sườn núi, bọn kỹ sĩ gò cương dừng lại, xuống ngựa tìm chỗ đất cao để dựng cờ lên. Bốn kỵ sĩ này ăn mặc theo kiểu bang chúng Cái Bang, lưng đeo túi vải, tay cầm cờ hiệu, không nói một lời.

    Quần hùng la lên: “Cái Bang bang chủ Trang Tụ Hiền đã đến!” Bốn lá cờ vàng chẳng có vẻ gì kiêu ngạo mà tự có thanh thế, bốn người cầm cờ tuy không nói một lời mà thân thủ nhẹ nhàng linh hoạt, so với kiểu mèo khen mèo dài đuôi của phái Tinh Tú thì làm cho người ta kính nể hơn nhiều.

    Cờ vàng vừa dựng lên xong, một trăm mấy chục con ngựa chạy nhanh lên núi. Đi đầu là hơn trăm tên đệ tử sáu túi, theo sau là ba bốn chục tên bảy túi, mười mấy tên tám túi, sau đó một chút là bốn vị trưởng lão đeo chín túi trên lưng. Bọn Cái Bang đều lặng lẽ không ai nói gì, nhảy xuống ngựa, chia ra đứng hai bên. Trước nay bang chúng Cái Bang khi có chuyện quan trọng thì vẫn giữ lề lối ăn mày không đi ngựa đi xe, nhưng bây giờ phá lệ chẳng khác gì các môn phái khác trên giang hồ. Nhiều bậc kỳ túc võ lâm thấy vậy lặng lẽ lắc đầu đầy vẻ bất mãn.

    Rồi lại nghe tiếng vó ngựa lộp cộp, hai con tuấn mã lông xanh song song tiến lên. Kỵ sĩ bên trái là một thiếu nữ áo tía, rất xinh đẹp nhưng cặp mắt lờ mờ không ánh sáng. Nguyễn Tinh Trúc vừa trông thấy đã buột miệng la lên: “A Tử!” Bà lại quên mình đã cải dạng nam trang, thanh âm vẫn là giọng nữ nhân.

    Kỵ sĩ bên phải mình mặc cẩm bào, nét mặt trơ trơ như xác chết. Những vị biết nhiều hiểu rộng trong quần hùng vừa nhìn là biết ngay gã đeo mặt nạ, không muốn để ai nhìn rõ bản tướng mình. Mọi người đều nghĩ: “Đây chắc là bang chủ Cái Bang Trang Tụ Hiền, đến đây để tranh ngôi minh chủ võ lâm với phái Thiếu Lâm, nhưng tại sao lại phải giấu mặt không cho ai thấy?” Có người đoán: “Đây chắc là một nhân vật nổi tiếng võ lâm, Trang Tụ Hiền chỉ là tên giả. Đã làm đến bang chủ Cái Bang thì sao có thể là hạng vô danh tầm thường được?” Có người lại đoán: “Chắc gã không nắm chắc phần thắng nên che mặt để lỡ bị thua dưới tay quần tăng Thiếu Lâm thì rút lui cũng đỡ xấu hổ.” “Không chừng gã là Kiều Phong tiền nhiệm bang chủ Cái Bang, trở lại nắm quyền rồi đến kiếm chuyện với phái Thiếu Lâm cùng quần hùng Trung Nguyên”. Cũng có người suy từ Trang Tụ Hiền ra ba chữ Tụ Hiền Trang, những từ đó lại gợi nghĩ tới Kiều Phong. Du thị huynh đệ đã chết dưới tay Tiêu Phong, Tụ Hiền Trang cũng không hiểu đã bị ai đốt thành bãi đất trống, chẳng ai ngờ rằng tân bang chủ Cái Bang lại là Thiếu trang chủ Du Thản Chi của Tụ Hiền Trang năm trước.

    A Tử nghe tiếng mẫu thân gọi, nhưng lúc này nàng đang có việc quan trọng, chưa muốn gặp mẫu thân để nói chuyện gia đình. Nàng giả vờ không nghe, bảo Trang Tụ Hiền: “Hiền ca! Chỗ này đồng người lắm phải không? Tiểu muội nghe hò hét những gì Tinh Tú Lão Tiên, đức ngang trời đất, danh lừng vũ trụ, cổ kim khó sánh. Có phải tên tiểu tử Đinh Xuân Thu dẫn đám quân tôm tép của hắn đến không?” Du Thản Chi đáp: “Không sai. Môn hạ của hắn đông lắm.” A Tử vỗ tay cười nói: “Thật là tuyệt diệu! Ta đỡ phải mất công lặn lội đến phái Tinh Tú đường xa ngàn dặm.” Lúc này bọn đệ tử Cái Bang ba túi, bốn túi, năm túi phải đi bộ cũng đã chạy lên núi, bày thành đội ngũ đứng ở phía sau Du Thản Chi cùng A Tử.

    A Tử quay lại vẫy tay một cái, hai tên đệ tử Cái Bang móc trong túi ra một vật gì sắc tía rồi vung tay tung ra trước gió, thì ra là hai lá cờ lớn bằng đoạn tía. Hai gã cầm cờ nội lực rất thâm hậu, giữ hai lá cờ lớn bay phần phật trên không tựa như có cán. Trên mỗi lá cờ đều thêu sáu chữ đỏ như máu:“Đoàn chưởng môn phái Tinh Tú”.

    Hai lá cờ vừa mở ra, bọn phái Tinh Tú nhốn nháo cả lên, thi nhau la ó: “Chưởng môn phái Tinh Tú là Đinh lão tiên lừng danh bốn biển. Sao lại có tên họ Đoàn nào đòi làm chưởng môn?” “Ăn nói hồ đồ không biết xấu hổ!” “Chức vị chưởng môn có lý nào tự phong lên được?” “Con tiểu yêu nào dám tự xưng là chưởng môn bản phái? Mau mau bước ra đây cho lão gia băm làm xíu mại.” Bọn to mồm thóa mạ đều là những tên mới gia nhập sau này. Còn bọn Sư Hống Tử, Thiên Lang Tử… dĩ nhiên hiểu rõ lai lịch A Tử, nghĩ đến cái bóng vĩ đại của Tiêu Phong che sau lưng nàng đều âm thầm hoảng sợ.

    Các tăng lữ cũng như quần hùng thấy thêm một vị chưởng môn phái Tinh Tú nữa xuất hiện thì vừa kinh hãi vừa mừng thầm, ai cũng cho là bọn tà ma tự chống đối nhau, thật là hảo sự.

    A Tử vỗ tay ba cái rồi dõng dạc nói: “Đệ tử phái Tinh Tú nghe đây! Theo qui củ của bản phái, ai có võ công cao cường sẽ được làm chưởng môn. Nửa năm trước đây, Đinh Xuân Thu tỉ đấu với ta, đã bị ta đánh cho lăn quay xuống đất, đã dập đầu lạy ta mười tám lạy, tôn ta lên làm sư phụ, rồi hai tay cung kính dâng chức chưởng môn cho ta. Chẳng lẽ hắn chưa thông báo cho các ngươi hay sao? Đinh Xuân Thu, mi thật là lớn mật! Mi là đại đệ tử của ta, lý ra phải nêu gương cho bọn sư đệ, sao lại dám khi sư diệt tổ, lừa dối bọn đàn em?” Thanh âm nàng rất trong trẻo, ai cũng nghe rõ từng chữ một.

    Mọi người nghe vậy đều rất ngạc nhiên, nàng chỉ là một thiếu nữ mười sáu mười bảy tuổi, hai mắt lại mù lòa, sao làm chưởng môn được? Đoàn Chính Thuần và Nguyễn Tinh Trúc nhìn nhau kinh hãi. Hai người đều biết con gái mình là môn hạ của Đinh Xuân Thu phái Tinh Tú, tính nết cực kỳ cổ quái điêu ngoa, song võ công cũng chỉ tầm thường, không hiểu sao lại dám phản thầy. Nàng đã vuốt râu hùm thì chuyện này khó mà dàn xếp cho êm được. Hiện giờ nước Đại Lý vẻn vẹn chỉ có mấy người đến núi Thiếu Thất, làm sao chống nổi phái Tinh Tú để cứu nàng thoát hiểm?

    A Tử ngang nhiên giương cờ chưởng môn phái Tinh Tú trên núi Thiếu Thất, hàng ngàn hàng vạn con mắt trông vào, Đinh Xuân Thu nhịn làm sao được? Lão giận muốn phát điên nhưng ngoài mặt vẫn mỉm cười đầy vẻ ôn hòa, nói: “Tiểu A Tử! Trong bản phái, ai giỏi võ công là được giữ chức chưởng môn, câu đó không sai. Ngươi dám dòm ngó địa vị chưởng môn, tất phải có bản lĩnh ghê gớm! Hãy tới đây tiếp ta ba chiêu có được chăng?”

    Đột nhiên mắt lão hoa lên, trước mặt cách ba thước đã xuất hiện một người, chính là Du Thản Chi. Gã này xuất hiện cực kỳ đột ngột, Đinh Xuân Thu nhãn lực phi thường mà cũng không nhìn rõ gã đến từ lúc nào. Lão bất giác kinh hãi, lùi lại một bước dài.

    Đinh Xuân Thu đã lùi xa dần đến năm thước, mà thấy Du Thản Chi chỉ cách mình ba bước, không thể hiểu nổi vì sao đối phương vọt nhanh đến thế mà không lộ vẻ gì cố gắng. Đinh Xuân Thu thấy võ công hắn ghê gớm, lại nhìn thấy bộ mặt trơ trơ vàng khè như xác chết thì càng hoảng hốt. Lão chưa kịp mở miệng chất vấn: “Ta muốn cùng A Tử tỉ thí, sao ngươi lại nhúng tay vào?”, đã vội xoay tay nắm một tên đệ tử liệng tới.

    Du Thản Chi ứng biến cực nhanh, cũng lập tức xoay tay chụp lấy một tên đệ tử Cái Bang ba túi, đẩy về phía trước. Tên đệ tử ba túi này tựa như một thứ ám khí khổng lồ vọt tới trước mặt Đinh Xuân Thu, còn đang lơ lửng trên không thì đụng vào tên đệ tử phái Tinh Tú do Đinh Xuân Thu liệng ra nghe “ầm” một tiếng. Mọi người đứng xem, thấy hai luồng kình lực mạnh ghê gớm đều nghĩ thầm: “Hai tên đệ tử này đụng nhau tất phải gãy xương nát thịt mà chết.”

    Ngờ đâu hai tên này không kêu la gì hết, chỉ nghe tiếng vù vù rồi mọi người đều ngửi thấy mùi hôi thối đến phải buồn nôn. Quần hùng nín thở lùi lại, người thì đưa tay lên bịt mũi, người thì lấy thuốc giải ra uống, đều biết Đinh Xuân Thu cùng Trang Tụ Hiền đã truyền chất âm độc vào thân thể đệ tử. Hai tên đệ tử chạm vào nhau đều té lăn xuống đất không nhúc nhích, chết cả rồi.

    Đinh Xuân Thu và Du Thản Chi trao đổi một chiêu không phân cao thấp, đều ngấm ngầm sợ hãi lùi lại mấy thước. Cả hai lại túm lấy đệ tử liệng ra, hai tên này cũng đụng nhau trên không, bay mùi tanh tưởi, mất mạng lập tức.

    Hai bên đều sử một môn võ công âm độc của phái Tinh Tú là Hủ Thi Độc. Chúng nắm lấy người sống để liệng ra, nhưng vừa nắm lấy ai là người đó phải chết ngay, khắp thân thể xác chết đều đầy chất độc. Nếu đối phương dùng tay để gạt xác chết đó tất phải nhiễm độc, giả tỉ dùng khí giới để gạt thì chất độc cũng qua binh khí mà truyền vào tay người. Thậm chí đối phương có né tránh hay phóng chưởng cách không ra đỡ cũng khó mà tránh khỏi độc khí xâm nhập vào mình.

    Hôm đó Du Thản Chi cùng A Tử đi theo Toàn Quan Thanh, gã đã không có kinh nghiệm giang hồ lại chẳng nghi ngờ gì, chưa tới hai ngày đã kể hết cho Toàn Quan Thanh nghe lai lịch của mình. Toàn Quan Thanh nghĩ: “Tên này nội công cao cường hiếm thấy, nhưng võ công tầm thường quá thì cũng chẳng có công dụng gì.” Y điều tra biết được A Tử là môn đồ của Tinh Tú lão quái Đinh Xuân Thu, bèn nảy ra một kế, liền bảo Du Thản Chi theo A Tử mà học võ công phái Tinh Tú. Trước mặt A Tử thì gã tán dương võ công Du Thản Chi là thiên hạ vô song, khuyên A Tử biểu diễn võ công đã học cho Du Thản Chi chỉ điểm.

    Du Thản Chi cùng A Tử đều còn trẻ tuổi, một người si mê, một người mù lòa, đều bị y thao túng dễ như nhau. A Tử biểu diễn từng chiêu, rồi lại thuyết minh rõ cách tập luyện. Công phu Hủ Thi Độc của Du Thản Chi cũng học từ đó ra. Yếu quyết của Hủ Thi Độc hoàn toàn dựa vào nội công thâm hậu và độc chất tích chứa trong mình, chộp người ta một cái là chết ngay, rồi dùng xác chết đã nhiễm độc làm ám khí, không cần chút xảo diệu nào. Môn nhân phái Tinh Tú ai ai cũng hiểu nguyên lý môn này, chỉ vì không luyện được đến nơi mà thôi. Hồi A Tử ở thành Nam Kinh đã bắt rất nhiều trùng độc rắn độc về để luyện, nhưng ngay cả độc chưởng cũng luyện chưa xong, nói chi đến môn Hủ Thi Độc cao cường.

    A Tử vốn rất tinh ranh nhưng hai mắt đã đui mù, không nhìn rõ sắc mặt Du Thản Chi. Tính mạng nàng đã do Trang công tử cứu được từ tay Đinh Xuân Thu, lại nghe Toàn Quan Thanh hoa ngôn xảo ngữ thổi phồng Du Thản Chi lên. Dù nàng thông minh gấp mười cũng không đoán nổi vị Trang công tử võ công cái thế này lại đang học lén võ nghệ của mình.

    Mỗi khi A Tử trình diễn chiêu nào, Du Thản Chi lại theo đúng phép mà diễn thử. Trong người gã đã có chất hàn độc của con băng tằm, lại luyện nội công thượng thừa của Dịch Cân Kinh, kiêm cả sở trường hai phái chính tà. Nội lực gã không phải tầm thường, những chiêu thức sơ đẳng ở tay y phóng ra cũng có oai lực mãnh liệt đến gãy cây, vỡ đá.

    A Tử nghe bằng tai, chỉ còn biết khâm phục gã. Du Thản Chi cũng truyền thụ cho nàng một ít phương pháp tu luyện nội công thượng thừa trong Dịch Cân Kinh. A Tử theo đó mà luyện tập, tuy không tiến bộ nhiều nhưng cũng thấy thân thể nhẹ nhàng khỏe khoắn, gân cốt linh hoạt. Nàng cho là tập một thời gian sẽ có công hiệu thần kỳ.

    Lúc đó Du Thản Chi đã hiểu rõ thần lực của bản thân mình có liên quan rất lớn đến những đồ hình lão tăng lõa thể trong quyển sách cổ quái kia. Vì y muốn khoe khoang trước mặt A Tử, nên ngày nào cũng tìm chỗ vắng người để chuyên cần luyện tập. Một hôm, gã đang căn cứ theo đường nét trong đồ hình để luyện công, thì nghe một luồng gió mạnh lướt qua, quyển sách bay ra mấy trượng. Lúc đó Du Thản Chi đang tập theo tư thế trồng chuối ngược, chân chống lên trên đầu cắm xuống dưới, nội tức đang luân chuyển cuồn cuộn theo mấy đường kinh mạch, vừa ngẩng đầu lên thì thấy cuốn quái thư đã nằm trong tay một nhà sư trung niên. Du Thản Chi vội la lên: “Sách của ta, mau trả cho ta…” Vì y vừa kinh ngạc vừa sợ hãi, nội tức trong kinh mạch bỗng chạy loạn lên làm gã không nhúc nhích gì được. Nhà sư kia khẽ cười, chạy đi. Du Thản Chi lại càng lo lắng, trăm ngàn xương cốt trong người đều cứng đờ ra như gỗ.

    Người đoạt được quyển Dịch Cân Kinh chính là Cưu Ma Trí. Gã tinh thông Phạn văn lại thông minh quán thế, so với Tiêu Phong cùng A Châu chỉ mở mắt nhìn chữ mà không hiểu, với Du Thản Chi giãy giụa lung tung làm ướt sách mới coi được đồ hình, tất nhiên gã tập luyện thuận lợi hơn nhiều.

    Du Thản Chi cứng đờ ra đến sáu giờ, huyệt đạo mới giải được, thổ ra một đống máu tươi chẳng khác gì lâm trọng bệnh. May mà y đã luyện thuộc lòng đến sáu bảy phần đồ hình trong sách, nên cứ thế mà tập luyện tiếp, nội công mỗi ngày lại tăng lên.

    Sau đó Toàn Quan Thanh giúp Du Thản Chi tháo cái đầu sắt ra, dùng mặt nạ da người để che diện mạo đã bị bắt nung đỏ làm biến dạng, rồi dắt đi tham dự đại hội Cái Bang ở Quân Sơn trong Động Đình Hồ. Du Thản Chi nội công thâm hậu, chiêu thức quái dị, trong Cái Bang không ai chống nổi, liền chiếm được ngôi bang chủ. Toàn Quan Thanh cũng chính thức gia nhập lại Cái Bang, được phong lên trưởng lão chín túi. Tuy Du Thản Chi làm bang chủ, nhưng sự vụ trong bang hoàn toàn do Toàn Quan Thanh điều khiển. Gã họ Toàn thấy trong bang từ trưởng lão đến đệ tử có rất nhiều người bất phục Du Thản Chi, thật là lo lắng, nhưng không thể giết hết được, bèn đưa ra đề nghị tranh đoạt ngôi võ lâm minh chủ ở Trung Nguyên với phái Thiếu Lâm. Y muốn bang chủ Trang Tụ Hiền trở thành võ lâm đệ nhất nhân, khi đó trong Cái Bang còn ai dám không phục nữa?

    A Tử vốn là người hiếu thắng, tuy mắt đui mù mà tính nết vẫn không thay đổi. Toàn Quan Thanh đưa ra đề nghị này rất hợp ý nàng. Du Thản Chi không màng tới chức võ lâm minh chủ gì gì hết, nhưng A Tử cực lực tán thành nên gã cũng đồng ý làm theo. Thế rồi Toàn Quan Thanh thận trọng sắp xếp kế hoạch cực kỳ tinh vi. Việc tính đúng thời gian gửi thiệp mời, khiến cho anh hùng hảo hán khắp nơi đến tụ tập tại chùa Thiếu Lâm cùng lúc vào ngày rằm tháng sáu, chính là kiệt tác của hắn.

    A Tử cho rằng mình được Trang công tử võ công đệ nhất thiên hạ che chở, thì còn sợ gì lão Đinh Xuân Thu nhãi nhép nữa? Nàng bèn tự xưng là “Đoàn chưởng môn phái Tinh Tú”, sai người may cờ hiệu, đến núi Thiếu Thất diễu võ dương oai.

    Lúc bang chúng Cái Bang kéo đến núi Thiếu Thất, đã thấy rất nhiều môn nhân phái Tinh Tú tụ tập trên núi, việc này cũng không ra ngoài dự liệu của Toàn Quan Thanh. Y bèn dặn Du Thản Chi, hễ Đinh Xuân Thu vừa mở miệng thì phải lập tức tiến ra động thủ, để tránh cho A Tử khỏi phải khó xử.

    Đinh Xuân Thu biết đối phương lợi hại, nên lão vừa xuất thủ đã thi triển ngay môn Hủ Thi Độc cực kỳ âm hiểm. Muốn thi triển công phu này thì mỗi chiêu phải hy sinh một tên đệ tử, bất luận đối phương né tránh hay đỡ gạt đều khó lòng thoát khỏi kịch độc. Nếu là tay võ công cao tuyệt cũng phải nhảy lùi ra xa mười trượng mới khỏi bị chất độc nhiễm vào mình, lúc đối phương ra chiêu phải lập tức thi triển khinh công tuyệt đỉnh, chạy trốn ngay mới kịp. Nhưng như thế thì đánh nhau làm sao được nữa? Không ngờ Du Thản Chi đã được A Tử chỉ bảo công phu này, y bèn hy sinh tính mạng đệ tử Cái Bang để chống lại Đinh Xuân Thu. Hai người cứ mỗi khi liệng ra một tên đệ tử, lại lùi ba bước rồi liệng tên khác ra. Chín tiếng ầm ầm vang lên không ngớt, chỉ trong khoảnh khắc hai bên đã liệng ra tổng cộng mười tám xác chết nằm lăn dưới đất, sắc mặt xanh lè trông vừa kinh tởm vừa thê thảm vô cùng.

    Bọn đệ tử phái Tinh Tú cực kỳ sợ hãi, chen chúc tranh nhau lùi lại, chỉ sợ sư phụ tóm được. Miệng chúng vẫn không ngớt ca tụng công đức, nhưng giọng nói run run, lời lẽ nhạt phèo, nghe chẳng hứng thú gì nữa.

    Quần hùng Cái Bang thấy bang chủ đột nhiên thi triển võ công âm độc, tuy là bất đắc dĩ, nhưng họ cũng cực kỳ khó chịu, nghĩ thầm: “Hành vi của bản bang xưa nay lấy nhân nghĩa làm gốc, thế mà sao bang chủ lại thi thố môn võ công đê hèn tàn ác này trước quần hùng thiên hạ? Như vậy chẳng hóa ra làm ô danh tiên tổ, biến thành đồng loại với phái Tinh Tú ư?” Có người lại nghĩ rằng:“Giả tỉ là cựu bang chủ Kiều Phong thì nhất quyết phải dùng chính đạo chống chọi với tà thuật của Tinh Tú Lão Quái.”

    Đinh Xuân Thu đang định túm lấy tên thứ mười, thì tay lại chụp vào chỗ không, quay đầu lại nhìn thì thấy bọn đệ tử mình đã tránh xa hết. Bỗng nghe đánh vù một tiếng, Du Thản Chi đã liệng người thứ mười tới. Thế là Đinh Xuân Thu tự đào lỗ để chôn mình, trong lòng vừa kinh hãi vừa tức giận, lập tức tung mình nhảy lùi vào giữa đám đông. Xác tên đệ tử Cái Bang đã bay đến nơi, bọn đệ tử phái Tinh Tú hô hoán ầm ĩ, muốn bỏ trốn cũng không kịp nữa, bảy tám gã đã bị xác chết liệng trúng. Xác chết này độc địa vô cùng, vừa chạm vào là bảy tám tên này mặt đen xạm lại, nằm lăn ra đất, giãy đành đạch mấy cái rồi chết ngay lập tức.

    A Tử đắc ý cười ha hả nói: “Đinh Xuân Thu! Trang bang chủ là hộ pháp của chưởng môn phái Tinh Tú. Ngươi đánh thắng y trước rồi mới được động thủ với chưởng môn là ta đây. Bây giờ thì ngươi thua hay là ngươi thắng?”

    Đinh Xuân Thu vừa căm giận vừa buồn bã. Lão thua trận phen này không phải do công phu kém cỏi. Trang Tụ Hiền tuy nội lực thâm hậu, nhưng mấy lần gã liệng xác chết đều dùng một thủ pháp giống nhau, không có chi là biến ảo tài tình. Như vậy đủ thấy gã chỉ học được một chút công phu nông cạn của bản môn do A Tử truyền cho, còn những chỗ xảo diệu biến hóa bên trong thì không biết gì. Lão thua oan chỉ vì bọn môn hạ phái Tinh Tú khiếp đảm sợ chết, không được gan dạ như bọn đệ tử Cái Bang, lúc lâm nguy thì phe ta tranh nhau lui lại để trốn tránh, còn phe địch thì vì đại nghĩa không sợ chết. Lão chợt nghĩ ra một kế, liền ngửa mặt lên trời cười ha hả.

    A Tử chau mày nói: “Cười ư? Ngươi còn cười được ư? Có gì đáng cười đâu?” Đinh Xuân Thu vẫn cười không ngớt, đột nhiên nghe tiếng gió lộng vù vù, lão túm luôn tám chín tên đệ tử phái Tinh Tú liệng về phía Du Thản Chi như tên bắn liên châu.

    Du Thản Chi không biết sử chiêu Liên Châu Hủ Thi Độc, chỉ nắm được ba tên đệ tử Cái Bang liệng ra, đến cái xác thứ tư do Đinh Xuân Thu liệng tới thì không kịp đón đồ. Gã buộc phải nhảy vọt lên không để tránh, chưa đến nỗi phải chạy lùi về phía sau, tức là chưa thua chiêu này. Nhưng Đinh Xuân Thu chỉ đợi gã né tránh là giơ tay trái ra vẫy một cái. Bỗng nhiên A Tử rú lên một tiếng rồi bay nhào về phía Đinh Xuân Thu.

    Mọi người đứng xem đều cả kinh thất sắc. Công phu Cầm Long Công, Khống Hạc Công có cao thâm đến đâu thì cũng chỉ bắt địch nhân, hoặc đoạt binh khí trong cự ly bốn năm thước. Những tay cao thủ tuyệt đỉnh có thể dùng Cách Sơn Thần Quyền đả thương đối phương, nhưng gọi là “cách sơn” cho oai chứ cũng không thể vận nội lực để đánh người xa ngoài hai trượng được. Lúc này Đinh Xuân Thu đứng cách A Tử đến bảy tám trượng, thế mà chỉ vẫy tay một cái đã giật tung được A Tử vọt khỏi lưng ngựa rồi hút về bắt lấy, bản lĩnh này thật không thể tưởng tượng nổi. Chung quanh có không ít cao thủ đứng xem, nhưng ai thấy cái vẫy tay của Đinh Xuân Thu cũng tự cho mình còn kém lão xa lắm, nếu không kinh hãi thì cũng phải khâm phục.

    Mọi người không hiểu Đinh Xuân Thu bắt được A Tử không phải chỉ nhờ vào nội lực của mình, mà còn dựa vào một trong Tinh Tú Tam Bảo gọi là Nhu Ti Sách, tức là một sợi dây bện bằng tơ của một loại tuyết tằm sống gần Tinh Tú Hải. Giống tuyết tằm nhỏ hơn tầm thường, không có chất độc nhưng nó nhả ra một thứ tơ bền chắc khác thường, chỉ một sợi cũng khó mà bứt đứt. Tiếc rằng tuyết tằm không biết kéo kén mà nhả tơ cũng rất ít, may thì gặp chứ không thể tìm mà được. Ngày trước, A Tử đã dùng một cái lưới cá trong suốt để bắt Chử Vạn Lý, làm nhục đến nỗi y xấu hổ phải tự vẫn mà chết, cái lưới đó cũng có pha tơ tuyết tằm. Sợi dây Nhu Ti Sách này của Đinh Xuân Thu bằng tơ tuyết tằm nguyên chất, rất mảnh mà lại trong suốt, ngay giữa ban ngày cũng khó nhìn thấy được. Đinh Xuân Thu liệng chín cái thây độc ra là cốt để bắt buộc Du Thản Chi phải né tránh không che chở cho A Tử được, cũng là để người ngoài phải rối mắt, ai cũng chăm chú nhìn Liên Châu Hủ Thi Độc của lão, nên chẳng ai phát giác lão quăng Nhu Ti Sách bắt A Tử.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Thiên Long bát bộ. Tiểu thuyết của Kim Dung. Tác phẩm được bắt đầu được đăng trên tờ Minh báo ở Hồng Kông và Nam Dương thương báo ở Singapore vào ngày 03-09-1963 đến ngày 27-05-1966, liên tục trong 4 năm. Các Dịch giả: Hàn Giang Nhạn; Đông Hải; Nguyễn Duy Chính. NXB Văn học, 2002.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,164,561

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/