Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,514,556

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Thiên Long bát bộ

Kim Dung

  • Chủ nhật, 08:13 Ngày 16/05/2021
  • Thiên Long bát bộ

    Gia Luật Hồng Cơ vỗ vỗ lên vai chàng, cười nói: “Không sao cả đâu.” Ông quay sang nói với Tả quân tướng quân Gia Luật Mạc Ca: “Gia Luật Mạc Ca! Ta phong ngươi làm Nam viện khu mật sứ, phò tá Tiêu đại vương phụ trách quân quốc trọng sự.” Gia Luật Mạc Ca cả mừng, vội vàng quì xuống tạ ơn, sau đó khom lưng tham bái Tiêu Phong, nói: “Thuộc hạ tham kiến đại vương.” Hồng Cơ nói: “Mạc Ca! Ngươi xin lệnh Tiêu đại vương, thống lĩnh nghịch quân quay về Thượng Kinh. Chúng ta đến vấn an Hoàng thái hậu.”

    Trên núi chiêng trống nổi tưng bừng, Gia Luật Hồng Cơ cùng bá quan đi xuống. Các loạn tướng đã đưa Hoàng thái hậu, Hoàng hậu các người ra khỏi tù xa, cung kính mời vào doanh trại. Gia Luật Hồng Cơ tiến vào trong trướng, mẹ con vợ chồng gặp nhau quả là cải tử hoàn sinh, tưởng chừng như từ một kiếp khác quay về. Ai nấy tấm tắc tán dương công lao vĩ đại của Tiêu Phong.

    Gia Luật Mạc Ca lại dẫn Tiêu Phong đi gặp các bộ thuộc trong Nam viện. Lúc nãy Tiêu Phong xông pha trong chốn thiên quân vạn mã, thần dũng tuyệt luân, ai nấy đã thấy cả rồi. Quan quân Nam viện đều là thuộc hạ cũ của Sở vương nhưng một là Tiêu Phong thần oai lẫm liệt, mọi người đem lòng kính ngưỡng không dám không phục; hai là Sở vương tính tình nóng nảy chẳng được ai ưa; ba là bọn chúng vừa làm loạn phạm thượng, trong bụng nơm nớp lo âu; thành thử Tiêu Phong vừa đến là ai ai cũng nghe lệnh răm rắp.

    Tiêu Phong nói: “Hoàng thượng đã miễn tội theo phản thần làm loạn cho các ngươi. Từ nay tất cả phải biết hối cải, đừng ăn ở hai lòng.” Một viên tưởng râu tóc bạc phơ tiến lên bẩm: “Bẩm đại vương! Hoàng thái thúc và Thế tử bắt giữ gia quyến chúng tôi, bức bách chúng tôi phải theo. Nếu như chống lại, Thế tử sẽ chém hết cả nhà, thành thử chúng tôi bất đắc dĩ mà phạm tội lỗi. Xin đại vương tâu cho thánh thượng rõ.”

    Tiêu Phong gật đầu: “Nếu đã thế, từ nay những chuyện đã qua không nhắc đến nữa.” Chàng quay lại bảo Gia Luật Mạc Ca: “Cho tam quân nghỉ ngơi ăn uống xong, lập tức nhổ trại hồi kinh.”

    Sau đó các quan chức lớn nhỏ trong Nam viện tiến lên tham kiến. Tiêu Phong chưa làm quan bao giờ nhưng đã là bang chủ Cái Bang nhiều năm, lãnh đạo quần hào một cách uy nghiêm. Việc chỉ huy quân Khất Đan với thống lĩnh hào kiệt Cái Bang không khác nhau nhiều, Tiêu Phong chỉ cần để ý một ít lề luật riêng của nước Liêu. Ngoài ra mọi sự đều do Gia Luật Mạc Ca điều động giải quyết cho nên cũng đâu vào đấy.

    Tiêu Phong thống lĩnh đại quân xuất phát chưa được bao lâu thì Hoàng thái hậu và Hoàng hậu đã phái sứ giả tới trung quân ban tặng áo mũ vàng bạc. Tiêu Phong tạ ơn xong, Thất Lý cũng đưa A Tử tới nơi. Cô nàng mặc áo gấm, cưỡi tuấn mã, nói là đều do Hoàng thái hậu ban cho, Tiêu Phong thấy thân hình loắt choắt của nàng lọt thỏm trong bộ cẩm bào rộng thùng thình, khuôn mặt thon thon bị cổ áo che khuất đến một nửa thì không khỏi tức cười.

    A Tử không được chính mắt trông thấy Tiêu Phong bắn chết Sở vương, bắt sống Hoàng thái thúc, chỉ nghe Thất Lý kể lại mà thôi. Khi người ta thuật lại chuyện gì, thể nào cũng thêm mắm thêm muối, nên công lao của Tiêu Phong lại càng thêm phần ly kỳ rùng rợn. A Tử vừa gặp chàng đã nói dỗi: “Tỉ phu ơi! Tỉ phu lập đại công mà không chịu nói trước, để tiểu muội đứng trên sườn núi xem đại ca xông ra rồi lại trở về có phải khoái không? Tỉ phu cứ làm tiểu muội lo sốt vó.” Tiêu Phong đáp: “Đó chẳng qua là hên vận lập được chút công, ta có tính trước được đâu? Cô nói chuyện thật là con nít.”. A Tử gọi: “Tỉ phu qua đây.” Tiêu Phong tiến đến bên nàng, thấy khuôn mặt xanh xao hơi ửng hồng và chiều phấn khởi, thân hình xúng xính trong bộ áo xiêm thật chẳng khác gì một con rối nhỏ, vừa buồn cười lại vừa khả ái. Chàng không nhịn được phá lên cười ha hả.

    A Tử phụng phịu nói: “Muội nói chuyện đứng đắn mà sao tỉ phu lại cười, có gì khôi hài đâu?” Tiêu Phong đáp: “Ta thấy cô mặc bộ y phục này chẳng khác gì hình nộm, thật là thú vị.” A Tử hậm hực đáp: “Lúc nào tỉ phu cũng chỉ coi muội là một đứa trẻ con, cứ trêu chọc mãi.” Tiêu Phong vẫn cười: “Không phải thế đâu. A Tử ơi, lần này cứ tưởng hai huynh muội ta phải mất mạng, ai ngờ chết đi sống lại nên mới vui đùa một chút đấy thôi. Còn những tước vị Nam viện đại vương, Sở vương gì gì đó ta thật không màng, được sống tốt là mừng lắm rồi”.

    A Tử hỏi: “Tỉ phu cũng sợ chết sao?” Tiêu Phong ngẩn ngơ giây lát rồi gật đầu đáp: “Có chứ! Gặp lúc nguy hiểm ai mà chẳng sợ chết.” A Tử nói: “Muội lại tưởng tỉ phu là bậc anh hùng hảo hán không biết sợ chết. Nếu tỉ phu sợ chết, sao lại dám xông vào đám phản quân hàng nghìn hàng vạn?” Tiêu Phong đáp: “Cái đó gọi là xông vào chỗ chết để tìm đường sống. Nếu ta không liều lĩnh xông vào thì chết chắc, không phải là dũng cảm hay không dùng cảm, mà là ở bước đường cùng phải thế. Tỉ như mình bao vây một con gấu hay một con cọp, nó không chạy được thì phải liều mạng quay lại cắn thôi.” A Tử mỉm cười nói: “Tỉ phu lại đem ví mình với giống súc sinh rồi.”

    Lúc đó hai người đang cưỡi ngựa đi song song, đưa mắt nhìn ra thấy một vùng thảo nguyên cờ xí rợp trời, đội ngũ tề chỉnh dài dằng dặc không biết đến đâu là cùng, tứ phía đều là vệ sĩ cùng thuộc hạ.

    A Tử vô cùng khoan khoái, nói: “Hôm trước tỉ phu giúp muội đoạt được chức đại sư tỉ phái Tinh Tú, muội nghĩ bụng trong phái Tinh Tú cả hai ba đời có đến mấy trăm đệ tử, ngoài sư phụ ra thì muội có quyền nhất, đã đắc ý lắm rồi. Nhưng bây giờ so với tỉ phu chỉ huy thiên quân vạn mã thật chẳng thấm vào đâu. Tỉ phu ơi, Cái Bang không cho tỉ phu làm bang chủ, ái chà, một cái bang hội nhỏ xíu đã lấy gì làm quí? Bây giờ tỉ phu đem binh mã tới giết sạch chúng cho được việc.”

    Tiêu Phong lắc đầu lia lịa nói: “Cô lại nói chuyện trẻ con rồi. Ta là người Khất Đan, Cái Bang không cho ta làm bang chủ là phải. Trong Cái Bang toàn là thuộc hạ cùng bằng hữu cũ của ta, sao lại giết họ?” A Tử đáp: “Bọn chúng trục xuất tỉ phu ra khỏi bang, đối xử tệ bạc thì giết đi là phải. Không lẽ lúc này tỉ phu còn coi bọn họ là bằng hữu?”

    Tiêu Phong không biết nói sao, chỉ lắc đầu, nhớ đến việc mình đoạn nghĩa tuyệt giao với bạn bè ở Tụ Hiền Trang, không khỏi bùi ngùi.

    A Tử lại hỏi: “Giả tỉ bọn chúng nghe tin tỉ phu làm Nam viện đại vương nước Liêu lại đâm ra hối hận, mời về làm bang chủ Cái Bang, thì tỉ phu về hay không về?” Tiêu Phong mỉm cười đáp: “Làm gì có chuyện đó? Anh hùng hảo hán ở Đại Tổng đều coi người Khất Đan là quân dã man hung ác, lại là cừu địch. Ta ở nước Liêu làm quan càng lớn thì họ lại càng căm hận.” A Tử nói: “Úi chà, thế thì đã sao? Bọn chúng căm hận mình thì mình cũng căm hận lại bọn chúng.”

    Tiêu Phong đưa mắt nhìn về hướng nam, thấy núi non trùng điệp ở chân trời, nghĩ bụng: “Qua dãy núi kia là đến Trung Nguyên”. Chàng là người Khất Đan nhưng ở phương nam từ thuở nhỏ, trong thâm tâm chàng yêu thích Đại Tống hơn Đại Liêu nhiều. Giả tỉ Cái Bang cho chàng làm một tên đệ tử hạng bét chưa được đeo túi, e rằng chàng còn khoái hơn chức Nam viện đại vương.

    A Tử nói tiếp: “Tỉ phu ơi! Muội thấy hoàng thượng thật là anh minh nên mới phong tỉ phu làm Nam viện đại vương. Từ nay về sau mỗi khi nước Liêu đánh với nước nào, tỉ phu đem quân xuất chinh thể nào cũng bách chiến bách thắng. Tỉ phu chỉ cần xông vào trận địch, đánh chết nguyên soái bên kia, tất nhiên chúng sẽ vứt đao thương quì xuống xin hàng, thế là mình toàn thắng.”

    Tiêu Phong mỉm cười nói: “Bộ hạ của Hoàng thái thúc đều là quan binh nước Liêu, xưa nay vẫn nghe lệnh hoàng thượng. Do đó mà khi Sở vương bỏ mạng, Hoàng thái thúc bị bắt, họ mới đầu hàng. Trường hợp hai nước giao tranh thì lại khác hẳn, giết được nguyên soái thì còn phó soái, giết được đại tướng quân thì còn phó tướng. Họ chiến đấu đến cùng, ta đơn thương độc mã thì làm gì được?”

    A Tử gật đầu nói: “Thì ra là thế! Tỉ phu ơi! Tỉ phu bảo là xông vào trận địch, bắn chết Sở vương, bắt Sống Hoàng thái thúc cũng chưa phải là dũng cảm, thế thì trong đời tỉ phu còn có việc gì dũng cảm thực sự? Kể cho muội nghe có được không?”

    Xưa nay Tiêu Phong không thích kể cho người ta nghe những sự tích anh hùng của mình. Khi chàng còn ở Cái Bang, mỗi khi ra tay trừ gian diệt ác, dù cho ác đấu kịch liệt đến thế nào, khi về tới bản bang cũng chỉ nói sơ qua là đã giết được người này người nọ. Còn những việc từng trải gian nan, dù cho người khác vặn hỏi thế nào chàng cũng không chịu nói ra. Lúc này nghe A Tử hỏi vậy, chàng nghĩ lại đời mình đánh hàng trăm trận chưa hề chạy trốn, những chuyện dũng cảm quả là không nói làm gì. Chàng bèn đáp: “Ta đi đánh nhau, phần lớn là bị người ta ép không đánh không được, chẳng có gì gọi là dũng cảm.”

    A Tử nói: “Muội biết rồi! Trong đời tỉ phu dũng cảm nhất là khi ác đấu tại Tụ Hiền Trang.” Tiểu Phong ngạc nhiên hỏi lại: “Làm sao cô biết?” .

    A Tử đáp: “Hôm trước ở Tiểu Kính Hồ, tỉ phu bỏ đi rồi, gia gia má má cùng các thủ hạ của phụ thân nói chuyện, ai cũng bội phục tỉ phu võ công đảm lược ghê gớm, đơn thân phó hội ở Tụ Hiền Trang độc đấu quần hùng, chỉ cốt để trị thương cho một thiếu nữ. Lúc đó song thân chưa biết A Châu tỉ tỉ chính là con ruột, nói tỉ phu đối với nghĩa phụ, nghĩa mẫu cùng ân sư cực kỳ tàn độc, nhưng với phụ nữ lại rất đa tình. Họ kết luận tỉ phu vong ân phụ nghĩa, tàn nhẫn hiếu sắc, quả là tệ hại xấu xa, bất cận nhân tình.” Nói tới đây cô bé bật cười khanh khách.

    Tiêu Phong lẩm bẩm: “Vong ân phụ nghĩa, tàn nhẫn hiếu sắc! Hỡi ơi! Anh hùng hảo hán Trung Nguyên tặng Tiêu mỗ tám chữ đó sao?” A Tử an ủi: “Tỉ phu đừng tức giận làm chi. Má má muội hết lời ca tụng tỉ phu, nói nam nhân si tình là tốt rồi, ngoài ra không còn gì quan trọng. Má má phê bình gia gia đối với tình nhân thì phụ nghĩa hiểu sắc, đối với con cái thì tàn nhẫn vô tình, không sao bì kịp tỉ phu. Tiểu muội đứng một bên cũng vỗ tay tán thành.” Tiêu Phong gượng cười lắc đầu.

    Đại quân đi mấy ngày thì đến Thượng Kinh. Bá quan cùng trăm họ đã được tin, ra tận ngoài xa nghênh tiếp. Soái kỳ của Tiêu Phong đi đến đâu, bách tính cũng thắp hương phục lạy, hoan hô không dứt. Chàng ra tay dẹp loạn, bảo toàn tính mạng được cho vô số quân sĩ nước Liêu. Non nửa dân số Thượng Kinh là gia quyến của quân ngự doanh, đối với chàng lại càng cảm kích. Ngựa Tiêu Phong đến đâu trăm họ reo hò đến đấy: “Đội ơn Nam Viện đại vương cứu mạng!” “Cầu trời phù hộ cho Nam viện đại vương sống lâu trăm tuổi, đại phú đại quí!”

    Tiêu Phong tai nghe những lời chúc tụng, mắt thấy dân chúng nước mắt chạy quanh, quả thực thành tâm thành ý. Chàng nghĩ thầm: “Người ở ngôi cao, nhất cử nhất động đều quan hệ đến họa phúc của muôn dân. Khi ta bắn chết Sở vương, chỉ là dũng khí nhất thời, trước cứu nghĩa huynh, sau tự cứu mình, không ngờ lại là thi ân cho bách tính. Than ôi! Lúc ở Trung Nguyên ta hết sức làm điều tốt, vậy mà lại bị chê trách là kẻ đại gian đại ác đệ nhất giang hồ. Qua đến Bắc quốc, vô tình lại thành cứu tinh cho trăm họ. Chuyện thị phi thiện các thực khó mà phân biệt được.”

    Chàng lại nghĩ: “Nơi đây là chỗ ở của song thân ta, năm xưa chắc là hai vị thường qua lại con đường này. Ôi, ta chẳng được biết tướng mạo song thân, hai vị cưỡi ngựa rong ruổi bên nhau thế nào lại càng khó hình dung.”

    Thượng Kinh là kinh đô của nước Liêu. Thời bấy giờ Đại Liêu là cường quốc đệ nhất trong thiên hạ, cường thịnh hơn Đại Tống nhiều. Thế nhưng người Khất Đan sống du mục là chính, quen nay đây mai đó, quán xá cùng nhà cửa tại Thượng Kinh thật thô sơ hủ lậu, so với Trung Nguyên còn kém xa.

    Quan chức thuộc Nam viện liền ra nghênh tiếp Tiêu Phong vào phủ Sở vương. Tòa vương phủ rất rộng lớn, bên trong trần thiết cực kỳ xa xỉ hoa lệ. Tiêu Phong một đời nghèo khổ, chưa từng vào nơi sang trọng như thế. Chàng đi coi một hồi thấy không quen mắt, liền sai thuộc hạ dựng hai cái lều trướng, ông và A Tử mỗi người ở một cái, sống đơn sơ giản dị như xưa.

    Đến ngày thứ ba, xa giá Gia Luật Hồng Cơ cùng Hoàng thái hậu, Hoàng hậu, các phi tần, công chúa… mới về đến Thượng Kinh, Tiêu Phong suất lãnh bá quan tiếp giá. Trong triều tấp nập bận rộn luôn mấy ngày. Đầu tiên là tiệc mừng dẹp yên đại loạn, luận công ban thưởng, phủ tuất gia đình Bắc viện khu mật sứ cùng các quan binh tử trận. Hoàng thái thúc tự biết không còn mặt mũi về đến triều đình, nên đã tự tử chết ở dọc đường. Hồng Cơ là người thủ tín, không hề truy cứu quan binh phản nghịch, chỉ xử tử hai mươi tên thuộc hạ đầu sỏ của Sở vương mưu việc phản loạn. Trong hoàng cung mở tiệc khao thưởng công lao binh sĩ, đại yến liên tiếp ba ngày. Dĩ nhiên Tiêu Phong là đệ nhất anh hùng nơi bàn tiệc. Các món ban thưởng của Gia Luật Hồng Cơ, Hoàng thái hậu, hoàng hậu, các phi tần, công chúa cùng với tặng phẩm của văn võ bá quan, đúng là chất cao như núi.

    Khao thưởng xong xuôi, Tiêu Phong mới đến Nam viện xem xét công việc. Mấy chục tộc trưởng trong các bộ tộc nước Liêu đều đến tham kiến, nào là Ô Ngỗi, Bá Đức, Bắc Khắc, Nam Khắc, Thất Vi, Mai Cổ Tất, Ngũ Quốc, Ô Cổ Lạp… rồi còn gì nữa chàng không nhớ hết. Sau đó là quan quân trong Bì thất đại trướng của hoàng đế, san quân của hoàng hậu, rồi các cấp thị vệ trong Hoằng Ninh cung, Trường Ninh cung, Vĩnh Hưng cung, Tích Khánh cung, Diên Xương cung lần lượt đến chào. Nước Liêu tổng cộng có năm mươi chín thuộc quốc, nào là Thổ Cốc Hỗn, Đột Quyết, Đảng Hạng, Sa Đà, Ba Tư, Đại Lương, Hồi Cốt, Thổ Phồn, Cao Xương, Cao Ly, Vu Khuých, Đôn Hoàng… Những nước đó đều có sứ thần tại Thượng Kinh, nghe tin Tiêu Phong nắm giữ binh quyền, mang đến tặng những món đồ trân bảo để cầu thân. Tiêu Phong ngày ngày khi thì tiếp khách, khi gặp thuộc hạ, mắt thấy toàn là vàng bạc châu báu, tai nghe toàn những câu xưng tụng tán dương, không khỏi chán ngán.

    Cứ thế đến hơn một tháng Gia Luật Hồng Cơ mới gọi ông vào điện, bảo: “Hiền đệ nhận chức Nam viện đại vương trấn thủ Nam Kinh, chờ cơ hội tiến đánh Trung Nguyên. Ca ca không muốn xa cách ngươi, nhưng muốn ngươi lập kỳ công lưu lại nghìn thu. Ngươi sớm chọn ngày thống lĩnh ba quân tiến xuống phía nam.”

    Tiêu Phong nghe hoàng thượng sai mình đem quân nam chinh, trong lòng kinh hãi, nói: “Tâu bệ hạ! Nam chinh là đại sự, cực kỳ quan trọng. Hạ thần chỉ là một kẻ dũng phu, quả không sở trường về quân lược.”

    Gia Luật Hồng Cơ cười nói: “Nước ta vừa trải qua một cơn biến loạn, phải để sĩ tốt nghỉ ngơi. Ở Đại Tống hiện nay Thái hậu đang nắm quyền, trọng dụng Tư Mã Quang, sửa sang việc triều chính không có chỗ nào sơ hở, lúc này chúng ta chưa tính chuyện nam chinh đâu. Tiêu hiền đệ! Ngươi đến trấn thủ Nam Kinh, phải luôn luôn để tâm đến việc thôn tính Nam triều. Chúng ta phải nắm bắt cơ hội, hễ Nam triều có nội biến là lập tức ra quân. Còn lúc này nội bộ họ đang vững vàng, Liêu quốc ta đem binh đến đánh ắt là dùng sức nhiều mà thành công ít.”

    Tiêu Phong đáp: “Vâng! Quả là như thế!” Hồng Cơ nói: “Ngươi có biết sao ta lại hiểu Nam triều nội chính khéo léo, nhân tâm qui phục hay không?” Tiêu Phong đáp: “Thần mong được bệ hạ chỉ điểm.” Hồng Cơ cười ha hả nói: “Đường lối xưa nay vẫn thế, cứ việc đem nhiều tiền bạc mua kẻ gian tế làm gián điệp. Ở phương Nam thiếu gì kẻ tham tiền hèn hạ vô liêm sỉ, ngươi hãy ra lệnh cho Nam viện khu mật sứ đừng tiếc tài vật, vung tiền ra mua được càng nhiều càng tốt.”

    Tiêu Phong vâng lệnh lui ra, trong lòng buồn bã. Chàng trước nay chỉ kết giao với anh hùng hào kiệt, tuy chứng kiến đã nhiều chuyện hãm hại, mai phục, hạ độc, nhưng giết người đốt nhà thì có, chứ đem tiền bạc đi mua chuộc người thì chưa bao giờ. Hơn nữa, chàng là người Liêu nhưng được nuôi dưỡng ở Trung Nguyên từ ngày còn thơ ấu cho đến lúc trưởng thành, bây giờ được hoàng đế giao cho việc tính toán tiêu diệt nhà Đại Tống, trong lòng chán nản, nghĩ thầm: “Ca ca có lòng tốt phong ta làm Nam viện đại vương, nếu ta từ quan ngay thì không khỏi phụ tấm thịnh tình, sứt mẻ tình nghĩa huynh đệ. Ta cứ xuống Nam Kinh làm quan sáu tháng một năm rồi xin từ chức cũng chưa muộn. Khi đó giả tỉ nghĩa huynh không chịu, thì ta mới treo ấn bỏ đi, ca ca cũng đành chịu chứ chẳng làm gì được.” Chàng nghĩ thế bèn suất lãnh bộ thuộc, dắt A Tử xuống Nam Kinh.

    Nam Kinh của Đại Liêu chính là Bắc Kinh ngày nay, khi đó còn gọi là Yên Kinh hoặc U Đô, là kinh đô của U Châu. Khi xưa Thạch Kính Đường được nước Liêu hết sức giúp đỡ lập nên nhà Hậu Tấn, nên cắt mười sáu châu Yên Vân để đền ơn. Mười sáu châu Yên Vân bao gồm U, Kế, Trác, Thuận, Đàn, Doanh, Mạc, Tân, Quy, Nho, Võ, Úy, Vân, Ứng, Hoàn, Sóc đều là những nơi quan trọng ở Ký Bắc, Tấn Bắc. Sau khi mười sáu châu này được cắt cho nước Liêu rồi, ba triều Hậu Tấn, Hậu Chu, Đại Tống đều đã nhiều phen chinh phạt, mà vẫn không lấy lại được. Mười sáu châu Yên Vân địa thế rất thuận lợi cho nước Liêu đồn trú trọng binh, mỗi lần đem quân xuống đánh phương nam chỉ phải tràn qua một dải bình nguyên, bên Đại Tống không có địa thế gì để phòng thủ. Hơn trăm năm qua Tống Liêu giao binh, Đại Tống thắng ít thua nhiều, hiển nhiên chủ yếu là do lực lượng không bằng, nhưng người Liêu từ cao đánh xuống khống chế được chiến trường cũng có phần tiện nghi rất lớn.

    Tiêu Phong vào thành rồi, thấy phố xá ở Nam Kinh rộng rãi, thị tứ phồn hoa hơn Thượng Kinh nhiều. Người đi đường đều là dân chúng Nam triều, bên tai nghe toàn tiếng nói Trung Nguyên, thật chẳng khác gì đã quay về Trung Thổ. Tiêu Phong và A Tử đều rất vui thích, hôm sau liền ăn mặc giản dị, đi du ngoạn khắp nơi.

    Thành Yên Kinh vuông vức ba mươi sáu dặm, có tới tám cửa. Phía đông là cửa An Đông, cửa Nghinh Xuân; phía nam là cửa Khai Dương, cửa Đan Phượng; phía tây là cửa Hiển Tây, cửa Thanh Tấn; còn phía bắc là cửa Thông Thiên, cửa Củng Thần. Hai cửa phía bắc gọi là Thông Thiên, Củng Thần có ngụ ý thần phục phương Bắc, tuân theo thánh chỉ của hoàng đế Bắc quốc. Vương phủ của Nam viện đại vương ở về phía tây nam. Tiêu Phong và A Tử đi chơi được nửa ngày, thấy chợ búa, phố xá, chùa chiền san sát khắp nơi, không phải đi xem một lúc mà hết được.

    Khi đó Tiêu Phong giữ chức Nam viện đại vương, không chỉ cai quản mười sáu châu Yên Vân, mà cả phủ Đại Đồng thuộc đạo Tây Kinh, phủ Đại Định thuộc đạo Trung Kinh cũng phải tuân theo lệnh chàng. Vì oai quyền quá lớn, chàng không thể ở trong lều trướng lụp xụp được, đành dọn vào vương phủ. Ông trông coi công việc mấy ngày, thấy đầu vàng mắt hoa thật là khổ sở, thấy Nam viện khu mật sự là Gia Luật Mạc Ca tinh minh mẫn cán, quen thuộc chính vụ, liền giao hết cho y.

    Tuy nhiên làm quan to cũng có chỗ hay, trong vương phủ không thiếu gì dược phẩm quý giá, A Tử tha hồ dùng làm thức ăn hàng ngày. Nhờ bổ dưỡng như thế, nội thương của nàng mỗi ngày một đỡ, đến đầu mùa đông đã có thể đi lại một mình. Nàng đã dạo chơi khắp trong thành Yên Kinh, về sau lại bảo Thất Lý đưa đi du ngoạn ngoài thành trong phạm vi mười dặm.

    Một hôm trời vừa tạnh mưa tuyết, A Tử mặc áo cừu vào điện Tuyên giáo của Tiêu Phong, nói: “Tỉ phu ơi! Tiểu muội ở trong thành mãi chán quá. Tỉ phu dắt muội đi săn nhé!”

    Tiêu Phong ở trong cung điện đã lâu cũng thấy ngán ngẩm, nghe nàng nói thế trong bụng cũng khoái, bèn sai thuộc hạ chuẩn bị ngựa để ra ngoài săn bắn. Chàng chỉ đem vài tên tùy tùng để phục thị A Tử, lại ngại làm kinh động đến dân gian nên thay áo lông cừu quân sĩ thường mặc, rồi đeo cung, giắt tên, nhảy lên ngựa cùng A Tử đi ra cửa Thanh Tấn ở phía tây thành.

    Đoàn người ra khỏi thành hơn chục dặm, mới bắn được mấy con thỏ. Tiêu Phong nói: “Chúng ta thử qua phía nam xem thế nào.” Chàng quay đầu ngựa sang hướng nam, lại đi hơn hai chục dặm, thấy một con hươu nhỏ từ trong bụi chạy ra. A Tử lắp tên vào cung, ngờ đâu cánh tay còn yếu quá, không giường cánh cung lên được. Tiêu Phong đưa tay trái quàng sau lưng A Tử nắm lấy cây cung, tay phải kéo dây cung rồi buông tay nghe vút một tiếng, mũi vũ tiễn phóng ra, con hươu ngã ngay xuống. Bọn tùy tùng reo ầm cả lên.

    Tiêu Phong buông tay ra, nhìn A Tử mỉm cười, bỗng thấy mắt nàng ươn ướt thì lấy làm kỳ, hỏi: “Sao thế? Cô không thích ta giúp bắn dã thú ư?” A Tử nước mắt chảy dài xuống má, thổn thức đáp: “Muội… muội thành phế nhân mất rồi, giương cái cung tầm thường cũng chẳng xong.” Tiểu Phong dỗ dành: “Cô đừng nóng nảy, khí lực sẽ dần dần hồi phục. Nếu sau này vẫn không khỏi, ta sẽ truyền cho cô phép tập luyện nội công, thể nào cũng tăng gia khí lực.” A Tử đang khóc, bật cười nói:“Tỉ phu đã nói thì phải giữ lời, thể nào cũng dạy muội rèn luyện nội công đấy nhé.” Tiêu Phong đáp: “Cô cứ yên tâm! Ta nhất định dạy cho cô.”

    Đang lúc nói chuyện, bỗng nghe hướng nam có tiếng vó ngựa dồn dập, một đại đội nhân mã chạy tới trên mặt tuyết. Tiêu Phong đưa mắt nhìn ra, thấy đội này toàn là quan binh người Liêu, nhưng không giương cờ hiệu. Chúng vừa đi vừa nói chuyện xôn xao, ca hát vang lừng, sau ngựa buộc theo khá nhiều tù binh, tưởng chừng như vừa thắng trận trở về. Tiêu Phong tự hỏi: “Mình đâu có giao chiến với ai, bọn này đánh trận ở đâu trở về thế kia?”. Chàng thấy đám quan binh rẽ qua phía đông trở về thành, liền quay sang bảo một tên tùy tùng: “Ngươi lại hỏi bọn kia, xem chúng đi đâu về?” Gã tùy từng liền đáp: “Vâng” rồi nói: “Chắc là các anh em đi thu hoạch về.” Y giục ngựa chạy thẳng đến chỗ bọn kia.

    Y tới gần bèn nói mấy câu. Bọn quan binh nghe nói Nam Viện đại vương đang ở tại đây liền lớn tiếng reo hò, lập tức nhảy xuống đất, tay cầm dây cương dắt ngựa tới trước Tiêu Phong, khom lưng thi lễ rồi hô to: “Đại vương thiên tuế!”

    Tiêu Phong giơ tay đáp lễ, bảo: “Được rồi!” Chàng thấy đoàn quân này phải hơn tám trăm người, trên lưng ngựa chất đầy quần áo đồ dùng. Số người bị bắt cũng đến bảy tám trăm, phần lớn là phụ nữ còn trẻ nhưng cũng có một số thanh niên, đều mặc y phục người Tống, ai nấy khóc lóc kêu gào.

    Gã đội trưởng nói: “Hôm nay đến phiên đội Hắc Lạp Đốc bọn thuộc hạ đi thu hoạch, nhờ hồng phúc đại vương nên kiếm được cũng kha khá.” Y quay lại ra lệnh: “Các ngươi đem những cô gái xinh đẹp nhất, vàng bạc châu báu quí giá nhất dâng lên, xin đại vương thiên tuế thu dụng.” Bọn quan binh cùng hô to: “Tuân lệnh!” Chúng lựa ra hơn hai chục cô gái đẩy đến trước đầu ngựa Tiêu Phong, lại gói rất nhiều đồ kim ngân trang sức đầy một tấm chăn da. Bọn lính Khất Đan chăm chú nhìn Tiêu Phong, ánh mắt đầy vẻ tôn kính, hiển nhiên nếu được Nam Viện đại vương thu dụng đám mỹ nữ và vàng bạc này thì lấy làm vinh dự lắm.

    Ngày trước Tiêu Phong ở ngoài Nhạn Môn Quan đã thấy quan binh nhà Đại Tống bắt người Khất Đan, lần này lại thấy quan binh Khất Đan đi bắt người Đại Tống, những người bị bắt đều thê thảm khốn khổ chẳng khác gì nhau. Chàng ở nước Liêu ít lâu, hiểu biết đại khái quân tình Liêu quốc. Triều đình nước Liêu không phát lương thảo cho quân đội mà cũng không trả tiền. Quan binh cần gì đều phải cướp đoạt của bên địch, mỗi ngày đều sai lính qua đánh cướp các nước lân bang Đại Tống, Tây Hạ, Nữ Chân, Cao Ly. Công việc này họ gọi là “thu hoạch”, mà thực ra là hành động của quân cường đạo. Quan binh Tống triều cũng qua thu hoạch của người Liêu để trả thù. Vì thế mà dân chúng ở vùng biên giới cực kỳ khổ sở, ngày nào cũng nơm nớp, sáng lo chiều, chiều lo tối. Tiêu Phong thấy những hành động này cực kì tàn nhẫn vô đạo, có điều chàng không tính chuyện lâu dài, chỉ định bụng giữ chức một thời gian rồi xin cáo quan ở ẩn, thành thử không đưa ra chủ trương gì về các việc quân quốc đại sự. Nhưng bây giờ chính mắt chàng thấy thảm trạng những người bị bắt, không khỏi đem lòng thương hại, bèn hỏi gã đội trưởng: “Ngươi đi thu hoạch ở đâu về thế?”

    Gã đội trưởng cung kính đáp: “Bẩm đại vương, bọn tiểu nhân đi thu hoạch bên ngoài địa hạt Trác Châu, bên Đại Tống. Từ khi đại vương tới đây, thuộc hạ không dám đi thu hoạch quanh bản châu nữa.”

    Tiêu Phong nghĩ thầm: “Thế thì trước đây bọn chúng vẫn cướp bóc người Tống ngay trong châu quận này.” Chàng dùng tiếng Hán hỏi một thiếu nữ đang đứng trước đầu ngựa: “Cô là người ở đâu?” Thiếu nữ kia quì xuống, khóc lóc đáp: “Tiểu nữ là người ở Trương gia thôn, cầu đại vương khai ân, tha cho tiểu nữ trở về đoàn tụ với song thân.” Tiêu Phong quay đầu nhìn bọn kia, hết thảy mấy trăm người bị bắt đều quì xuống, chỉ có một thanh niên đứng sừng sững không chịu quì.

    Tên này trạc mười sáu mười bảy tuổi, mặt dài mà gầy, cằm nhọn, đôi mắt láo liên không có vẻ khiếp sợ. Tiêu Phong liền hỏi: “Chú bé kia! Nhà ngươi ở đâu?” Gã đáp: “Tiểu nhân có một việc cơ mật, muốn bẩm lên đại vương.” Tiêu Phong đáp: “Được, ngươi lại đây!” Gã đưa hai tay đang bị dây thừng trói chặt lên, nói: “Xin đại vương dời ra xa bọn thuộc hạ, việc này không thể để người ngoài nghe thấy được.” Tiêu Phong động tính hiếu kỳ, tự hỏi: “Một thằng nhỏ thế này làm gì mà biết được chuyện cơ mật đại sự? Gã từ biên giới phía nam qua đây, chắc là biết chuyện gì về quân tình Đại Tống chăng?” Chàng đã có bụng khinh khi gã là người Tống mà đem chuyện cơ mật bẩm báo cho người Khất Đan, là loại Hán gian vô liêm sỉ, nhưng nghe nói là có chuyện cơ mật trọng đại, có nghe cũng chẳng hề gì, bèn phóng ngựa ra khoảng chục trượng, vẫy tay bảo: “Lại đây!”

    Gã thanh niên kia liền chạy tới, giơ hai tay lên nói: “Xin đại vương cắt dây trói, tiểu nhân có vật để trong bọc muốn trình lên.” Tiêu Phong rút đơn đao cài sau lưng, vung lên chém xuống, thế đao tưởng chừng chẻ y làm đôi nhưng lại rất chuẩn xác, chỉ cắt đứt sợi dây thừng trói hai tay. Gã hoảng hốt, lùi lại hai bước, ngẩn ra nhìn Tiêu Phong. Tiêu Phong mỉm cười, tra đao vào vỏ, hỏi: “Ngươi có cái gì?”

    Gã thanh niên thò tay vào bọc, móc ra một vật cầm trong tay, nói: “Đại vương xem thì biết.” Gã nói xong liền đến trước đầu ngựa Tiêu Phong, chàng đưa tay ra toan đón lấy. Đột nhiên, gã ném thẳng vật ở trong tay vào mặt Tiêu Phong, chàng vung roi ngựa lên đánh văng ra ngoài, thì ra là một cái túi nhỏ. Cái túi đó rơi xuống đất, bột trắng tung tóe khắp nơi, chính là một túi vôi sống, nếu ném trúng vào mắt là mù ngay lập tức. Đây là một thủ đoạn thấp hèn mà bọn trộm gà bắt chó, đạo tặc hạng bét thường dùng.

    Tiêu Phong hừ một tiếng, nghĩ thầm: “Thằng nhỏ này to gan thật, thì ra không phải Hán gian”. Chàng hỏi: “Ngươi tên là gì? Sao lại cố ý hại ta?” Gã mím chặt môi, không trả lời. Tiêu Phong dịu giọng nói: “Ngươi cứ nói đi, ta sẽ tha mạng cho.” Gã đáp: “Ta đến báo thù cho song thân không được, chẳng còn gì để nói nữa.” Tiêu Phong hỏi: “Song thân ngươi là ai? Không lẽ bị ta giết chết sao?”

    Gã thanh niên tiến lên hai bước, mặt đầy vẻ bi phẫn, trỏ tay vào mặt Tiêu Phong lớn tiếng mắng: “Kiều Phong! Ngươi giết chết gia gia, má má, cả bá phụ ta, ta hận… hận không thể ăn tươi nuốt sống, rút gân lột da, xé xác ngươi thành muôn mảnh.”

    Tiêu Phong nghe y gọi cái tên cũ của mình, lại mắng mình giết song thân và bá phụ, chắc là một món nợ ngày trước ở Trung Nguyên. Chàng bèn hỏi: “Bá phụ cùng phụ thân ngươi là ai?” Gã đáp: “Ta không muốn sống nữa, cũng cần cho ngươi biết, nam nhi họ Du ở Tụ Hiền Trang không phải là phường tham sinh úy tử.”

    Tiêu Phong “À” lên một tiếng rồi nói: “Thì ra ngươi là con cháu của Du Thị Song Hùng, như vậy lệnh tôn là Du Câu nhị gia.” Chàng ngừng lại một chút, nói tiếp: “Hôm đó ta bị quần hùng Trung Nguyên vây đánh ở quí trang, bắt buộc phải ứng chiến, đó là việc bất đắc dĩ. Lệnh tôn và lệnh bá phụ đều tự vẫn mà chết đấy chứ!” Tới đây chàng lắc đầu nói tiếp: “Hỡi ôi! Tự vẫn hay bị giết thì cũng chẳng khác gì nhau. Hôm đó ta đoạt mất binh khí của bá phụ và gia gia ngươi để đến nỗi họ phải tự vẫn. Tên ngươi là gì?”

    Gã thanh niên đứng ưỡn ngực ra lớn tiếng đáp: “Ta là Du Thản Chi. Ta không cần ngươi phải giết, quyết noi theo gương sáng của bá phụ và gia gia.” Nói xong, gã thò tay vào ống quần, rút ra một thanh đoản đao, giơ lên đâm vào ngực. Tiêu Phong lại vung roi ngựa ra quấn lấy thanh đao, đoạt mất. Du Thản Chi cả giận mắng: “Ta muốn tự vẫn, ngươi cũng không cho ư? Tên Liêu cẩu đáng chết kia, mi thật là lòng lang dạ thú!”

    Lúc này A Tử đã giục ngựa đến bên Tiêu Phong, quát lên: “Thằng tiểu quỉ kia, sao dám mở miệng mắng người? Ngươi muốn chết ư? Ha ha, chẳng phải dễ đâu.” Đột nhiên Du Thản Chi nhìn thấy một cô gái xinh đẹp thanh tú, gã đứng ngây người ra mà nhìn, không nói nên lời. A Tử lại nói: “Tiểu quỉ! Cái cảnh mù lòa thích thú lắm, ta sẽ cho ngươi được nếm mùi.” Nàng quay lại nói với Tiêu Phong: “Tỉ phu! Tên tiểu tử này thật là hiểm độc, dám dùng vôi sống để ám toán. Chúng ta lại dùng vôi đó hất vào mắt y cho biết.”

    Tiêu Phong lắc đầu, quay sang bảo tên lãnh binh đội trưởng: “Hôm nay các ngươi đi thu hoạch, bắt được bao nhiêu người Tống đều giao lại cho ta, có được chăng?”. Gã đội trưởng mừng rỡ vô cùng, vội đáp: “Được đại vương để mắt tới thì còn gì bằng, bọn thuộc hạ xin đa tạ ân đức.” Tiêu Phong nói: “Quan binh nào bắt được từ binh, nhớ đến vương phủ lĩnh thưởng.” Hắn vui vẻ đáp: “Bọn tiểu nhân thành tâm dâng lên đại vương, không cần ban thưởng.” Tiêu Phong nói: “Các ngươi để những kẻ bị bắt lại đây, về thành trước đi, nhớ đến lãnh thưởng”. Bọn quan binh khom lưng tạ ơn. Gã đội trưởng nói: “Vùng này không có bao nhiêu dã thú, chắc đại vương muốn đem bọn Tống trư làm bia sống chứ gì? Trước đây Sở vương vẫn thích trò này lắm. Tiếc là hôm nay bọn thuộc hạ bắt được phần nhiều là đàn bà, chạy không nhanh. Lần sau sẽ cố bắt những con heo Tống khỏe mạnh”. Y nói xong thi lễ, kéo quân về.

    Câu nói “muốn đem bọn Tống trư làm bia sống” vừa lọt vào tai, Tiêu Phong không khỏi rùng mình, trước mắt hiện ra cái cảnh tàn bạo của Sở vương năm xưa: mấy trăm người Tống chạy thục mạng trên mặt tuyết chẳng khác gì dã thú, trong khi những bậc quí nhân Khất Đan cười ha hả, giương cung lắp tên bắn chết để giả trí. Còn người Tống nào chạy được xa, quân Khất Đan cưỡi ngựa reo hò đuổi theo, chẳng khác gì săn nai đuổi chồn, rốt cuộc cũng bắn chết hết. Bọn Khất Đan nhắc đến chuyện thảm khốc này không hề đổi giọng, hẳn là trước đây đã quen như thế. Chàng đưa mắt nhìn bọn người bị bắt, thấy ai nấy mặt tái mét, run cầm cập trong gió rét buốt. Dân chúng vùng biên giới này phần lớn hiểu tiếng Khất Đan, nghe đến chuyện bắn bia sống, sợ đến mất cả hồn vía.

    Tiêu Phong thở dài sườn sượt, nhìn xuống núi non trùng điệp ở phương Nam, nghĩ thầm: “Giả tỉ thân thế mình không bị tiết lộ thì đến bây giờ ta vẫn nghĩ mình là dân Đại Tống. Ta cùng bọn người này cùng nói một thứ tiếng, cùng ăn một thứ cơm, có khác chỗ nào đâu? Vì sao đã là người, lại phải phân chia ra Khất Đan, Đại Tống, Nữ Chân, Cao Ly gì gì để làm chi? Ngươi sang đất ta thu hoạch, ta sang đất ngươi đốt nhà. Ngươi chửi ta là Liêu cẩu, ta mắng ngươi là Tống trư.” Mất đến một lúc, lòng chàng cảm khái, tư tưởng cuồn cuộn như sóng biển.

    Tiêu Phong nhìn lại, thấy đám quan binh Khất Đan đã đi khuất rồi, bèn quay sang bảo đám nạn dân: “Bữa nay ta tha các ngươi về, mau chạy ngay đi!” Bọn người bị bắt vẫn tưởng Tiêu Phong thả cho họ chạy, sau đó sẽ bắn bia sống, nên vẫn chần chừ đứng đó. Tiêu Phong lại giục: “Các ngươi về rồi, tốt nhất là rời xa biên giới, để khỏi bị chúng đi thu hoạch mang về nữa. Ta chỉ cứu các ngươi được một lần, không cứu được lần thứ hai đâu.”

    Bấy giờ bọn nạn dân mới tin là thật, reo hò mừng rỡ quỳ mộp cả xuống, dập đầu nói: “Đại vương ân đức tày non, tiểu dân về nhà sẽ cầu trời khấn phật cho đại vương sống lâu, ở ngôi cao mãi mãi.” Bọn họ đã biết thân làm dân Tống bị quân Liêu bắt được rồi, trừ người giàu có đem tiền bạc gấm vóc ra chuộc mạng, còn không thì bỏ xác đất người, đến nắm xương cũng không được mang về xứ. Nhưng hai nước Tống Liêu giao tranh đã lâu năm, người giàu có đều di cư vào nội địa cả rồi, ở vùng biên giới chỉ còn lại dân nghèo khổ, làm gì có tiền chuộc mạng? Ai cũng biết thân phận mình không bằng súc vật, được vị đại vương nước Liêu tha cho về, nỗi vui mừng biết lấy chi cân?

    Tiêu Phong thấy bọn nạn dân vui mừng dắt díu nhau đi về phía nam, nghĩ thầm: “Người Khất Đan ta bắt họ tới đây, rồi lại thả họ về, khiến bọn họ phải nhọc nhằn khiếp sợ, còn có gì gọi là ân đức?”.

    Chàng thấy những người khốn khổ kia đi đã xa, chỉ còn Du Thản Chi sừng sững đứng đó, bèn nói: “Sao ngươi không chạy đi? Ngươi đã có lộ phí trở về Trung Nguyên chưa? Chàng vừa nói vừa thò tay vào bọc, định cho y ít tiền, nhưng trong túi không có đồng nào, chỉ có một cái gói giấy dầu nhỏ. Tiêu Phong bỗng chua xót trong lòng, nhớ ra trong cái gói là bộ Dịch Cân Kinh viết bằng chữ Phạn mà hôm trước A Châu ăn trộm được ở chùa Thiếu Lâm, bắt chàng phải cầm lấy. Nay người mất mà kinh còn, trông thấy di vật làm sao chàng chẳng đau thương? Tiêu Phong thuận tay bỏ cái gói trở lại vào bọc, nói: “Hôm nay ta đi săn không mang theo tiền. Nếu ngươi không có tiền tiêu thì theo ta về thành mà lấy.” Du Thản Chi lớn tiếng nói: “Gã họ Kiều kia! Mi muốn giết thì giết, muốn mổ thì mổ, không được bày trò làm nhục ta. Du mỗ dù có chết đói cũng không thèm nhận một đồng một chữ của mi.”

    Tiêu Phong nghĩ rằng gã nói không sai, mình là kẻ thù giết cha gã, mối thù không đội trời chung chẳng thể nào hóa giải, nói nhiều cũng vô ích. Chàng bèn bảo: “Ta không giết ngươi! Ngươi muốn báo thù thì lúc nào cũng có thể đến kiếm ta.”

    A Tử vội nói: “Tỉ phu ơi, không thả y được. Tên tiểu tử này nếu báo thù cũng không dùng võ công đàng hoàng chân chính, chỉ dùng thủ đoạn hạ lưu. Chi bằng nhổ cỏ tận gốc để khỏi di họa về sau.”

    Tiêu Phong lắc đầu: “Trên giang hồ bước nào cũng có chông gai, nơi nào cũng đầy hung hiểm, ta đi qua cả rồi. Gã thiếu niên này không làm gì nổi ta đâu. Ngày trước ta khiến cho bá phụ cùng phụ thân y phải tự vẫn, quả thực không cố ý, nhưng cũng là món nợ máu ta thiếu đã lâu. Có lý nào ta lại giết cả con cháu Du Thị Song Hùng nữa?” Chàng nói tới đây, thấy trong lòng chán nản bèn bảo: “A Tử! Chúng ta về thôi. Hôm nay chẳng còn gì mà săn bắn nữa.” A Tử bĩu môi nói: “Tiểu muội muốn bắt gã này về nghĩ cách hành hạ một phen cho bõ ghét! Tỉ phu thả y rồi, tiểu muội về thành còn có gì vui đâu?” Nhưng nàng không dám trái ý Tiêu Phong, đành quay đầu ngựa, cùng Tiêu Phong trở về. Đi được mấy trượng, nàng quay mặt lại nói: “Thằng lỏi kia! Ngươi về luyện võ công thêm một trăm năm nữa, rồi hãy đi kiếm tỉ phu ta báo thù.” Nói xong nàng mỉm cười, giơ roi quất ngựa chạy nhanh.

    Hồi 28: Chịu thảm hình, trở thành "thiết sửu"

    Du Thản Chi thấy Tiêu Phong dẫn người đi về phía tây trước sau vẫn không quay lại, mới tin là mình đã thoát chết. Gã lẩm bẩm một mình: “Sao tên gian tặc này lại không giết ta? Chắc y coi ta chẳng vào đâu, không thèm giết cho bẩn tay. Nay y đã làm tới chức đại vương gì gì đó ở nước Liêu, từ đây về sau việc báo thù của ta lại càng khó khăn gấp bội. Nhưng may mà ta đã biết y ở chỗ nào.”

    Du Thản Chi cúi xuống nhặt gói vôi sống, sau đó cố tìm lưỡi trủy thủ đã bị Tiêu Phong vung roi ngựa cướp lấy. Bỗng gã thấy trong bụi cỏ ở bên trái có một cái gói giấy dầu, chính là cái gói khi nãy Tiêu Phong lấy trong bọc ra. Gã liền nhặt lên mở ra xem, thì ra là một cuốn sách, giở thử mấy trang thì toàn là văn tự ngoằn ngoèo kỳ quái, chẳng hiểu được gì. Thì ra Tiêu Phong nhìn thấy vật lại nhớ đến người mà lòng đã thẫn thờ, lúc cất Dịch Cân Kinh, không bỏ vào trong túi lại bỏ ra ngoài. Khi chàng cưỡi ngựa chạy đi, gói giấy dầu liền rớt xuống bụi cỏ mà không hay biết.

    Gã nghĩ thầm: “Đây chắc là văn tự Khất Đan, cuốn sách này hẳn là vật hữu dụng của tên gian tặc nên y mới đem theo trong mình. Ta không thèm trả lại, để y cuống cuồng khổ sở cho bõ ghét!” Du Thản Chi nghĩ mình lấy được cuốn sách của Tiêu Phong tất làm khó cho y, liền cảm thấy khoan khoái trong lòng, cho là như vậy cũng báo thù cho phụ thân được chút ít. Gã gói cuốn sách lại vào tờ giấy dầu, cất kỹ trong túi rồi nhắm hướng nam mà đi.

    Từ thuở nhỏ, Du Thản Chi đã theo phụ thân học võ, nhưng tư chất kém cỏi, thân thể ốm yếu nên không hợp với võ công cương mãnh ngoại gia của Du Thị Song Hùng. Gã học võ ba năm chẳng ăn thua gì, thật không xứng đáng là danh gia tử đệ. Du Thản Chi học võ đến năm mười hai tuổi, phụ thân gã là Du Câu chán ngán, bàn cùng bá phụ gã là Du Ký: “Không ngờ nhà họ Du ta lại sinh ra con mèo què, để ra ngoài thì thiên hạ phải cười đến sái quai hàm. Hơn nữa khi người ngoài biết gã là con cháu Du Thị Song Hùng, thì họ phải dùng hết sức mà xuất thủ, chỉ một chiêu là gã phải uổng mạng. Chúng ta cho gã học văn để bảo toàn mạng sống còn tốt hơn”. Thế là từ năm mười hai tuổi, Du Thản Chi không học võ nữa, theo thầy đồ đọc sách.

    Song gã đọc sách cũng hay chểnh mảng, tâm trí cứ nghĩ đâu đâu. Một hôm thầy đồ dạy cho Du Thản Chi câu nói của Khổng Tử: “Học nhi thời tập chi, bất diệc lạc hồ” (Việc học siêng năng và chuyên cần, ắt thấy hứng thú). Gã nói: “Sư phụ nói thế, đệ tử chưa hiểu là nói về việc gì. Gia gia dạy đệ tử tập quyền, đệ tử rất siêng năng và chuyên cần mà chẳng thấy hứng thú chi hết.” Sư phụ gã tức mình nói: “Đức Khổng Tử chỉ nói đến học thuyết của thánh hiền để dựng đại nghiệp kinh bang tế thế, chứ ngài nói đến cái việc đánh quyền múa gậy để làm gì?” Du Thản Chi liền nói: “Được lắm! Sư phụ bảo bá phụ cùng gia gia đệ tử đánh quyền múa gậy là chẳng ra gì. Đệ tử phải đem chuyện này tố cáo với gia gia.” Đại khái là gã chọc giận để thấy đồ tức mình phải bỏ đi, hết thầy này đến thầy khác. Du Câu đã đánh gã không biết bao nhiêu lần, song càng đánh gã càng quật cường bướng bỉnh. Du Câu thấy con cứng đầu khó dạy cũng chẳng biết làm thế nào, chỉ thở dài rồi bỏ mặc gã muốn làm gì thì làm. Vì thế nên Du Thản Chi đã mười tám tuổi, lại con nhà danh giá mà vẫn văn dốt vũ dát. Từ khi bá phụ cùng phụ thân gã tự vẫn chết, thì mẫu thân cũng đập đầu vào cột tuẫn tiết theo, thì gã lênh đênh cô khổ, lưu lạc khắp nơi. Thâm tâm gã chỉ muốn đi tìm Tiêu Phong để báo thù.

    Hôm đại chiến ở Tụ Hiền Trang, Du Thản Chi có nấp ở sau nhà để xem đánh nhau nên đã nhớ rõ mặt Tiêu Phong. Gã nghe nói chàng là người Khất Đan, thế là cứ đi bừa về hướng Bắc. Y thấy trên giang hồ có tên du đãng dùng vôi bột ném mù mắt địch nhân, cảm thấy cách này có thể dùng được. Một hôm gã đến vùng biên giới rồi bị bọn kỵ binh Khất Đan đi thu hoạch bắt, tự nhiên lại gặp Tiêu Phong. Đó quả là một chuyện ông trời sắp đặt, không hẹn mà nên. Gã được Tiêu Phong tha rồi, vừa đi vừa nghĩ bụng: “Bây giờ mình phải chạy càng xa càng tốt để khỏi bị quân Khất Đan bắt lại. Rồi mình sẽ đi bắt rắn độc, tìm cách vứt vào giường Tiêu Phong, y chui vào chăn là bị cắn chết ngay. Còn vị tiểu cô nương kia… Trời ơi! Sao nàng lại xinh đẹp thế?”

    Gã nhớ đến dung mạo A Tử, bất giác nhiệt huyết nổi lên bừng bừng. Càng nhớ đến bộ mặt xanh mét nhưng thanh nhả mỹ miều của cô gái kia, trong lòng gã lại càng sung sướng vô cùng!

    Du Thản Chi cắm đầu đi mau, chỉ một lát đã qua mặt bọn nạn dân. Có người gọi cùng đi cho có bạn, nhưng gã cũng mặc, chỉ lầm lũi một mình. Du Thản Chi đi được mấy dặm thì bụng đói như cào, nhìn tả nhìn hữu để xem có thứ gì ăn được không, nhưng ở thảo nguyên bát ngát ngoài cỏ khô cùng tuyết trắng, chẳng có thứ gì nữa. Gã lẩm bẩm: “Giả tỉ mình là con bò hay con cừu lại tốt hơn, chỉ gặm cỏ uống tuyết cũng khoan khoái rồi. Hừ! Nhưng nếu mình là con cừu, người ta giết gia gia, má má là hai con cừu già để ăn thịt thì mình có báo thù không? Thù giết song thân không đội trời chung, lẽ nào không báo? Nhưng báo thù bằng cách nào? Mình lấy sừng húc kẻ đã giết gia gia mình ư? Cũng vô lý, người ta nuôi bò nuôi cừu là để ăn thịt, sao lại nói đến chuyện báo thù với chẳng báo thù?”

    Du Thản Chi đang nghĩ vẩn vơ, bỗng nghe thấy tiếng vó ngựa dồn dập. Ba tên kỵ binh Khất Đan đang ruổi ngựa trên mặt tuyết đến gần, vừa thấy gã thì reo hò mừng rỡ. Một tên quân Khất Đan tung thòng lọng ra trong vào cổ gã rồi giật mạnh một cái. Gã thấy nghẹt cổ khó thở, vội giơ tay toan gỡ ra, không ngờ tên Khất Đan huýt lên một tiếng còi rồi giật cương cho ngựa chạy nhanh. Du Thản Chi chân đứng không vững, té lăn xuống đất rồi bị tên Khất Đan lôi xệch đi. Gã kêu lên mấy tiếng thật to, nhưng cổ họng liền bị siết chặt lại, không kêu được nữa.

    Tên lính Khất Đan sợ Du Thản Chi chết ngạt nên dừng ngựa lại. Gã lóp ngóp bò dậy, vừa nới dây thòng lọng ở cổ ra một chút thì tên Khất Đan lại giật mạnh một cái, gã lảo đảo suýt ngã phịch xuống. Ba tên lính Khất Đan thấy vậy lại cười ồ, rồi một tên lớn tiếng nối xí xố với Du Thản Chi mấy câu, nhưng gã không hiểu tiếng Khất Đan chỉ lắc đầu quầy quậy. Tên Nhất Đan lại quất ngựa chạy, lần này không nhanh như trước. Du Thản Chi sợ nghẹt cổ không thở được, phải hấp tấp chạy theo, cứ bước hai bước chạy ba bước mới kip.

    Ba tên kỵ binh Khất Đan cứ phi về hướng bắc, Du Thản Chi không khỏi hoảng hồn mắng thầm: “Thằng cha Kiều Phong này giả nhân giả nghĩa, bảo tha mình rồi lại cho quân rượt theo bắt lại, Phen này bị y bắt được, chắc khó lòng thoát chết!” Từ ngày Du Thản Chi bỏ nhà đi về phương Bắc, lúc nào cũng nghĩ đến việc báo thù mà chẳng biết trời cao đất rộng là gì. Gã đột ngột gặp Tiêu Phong, cảnh tượng song thân bị thảm tử hiện ra trước mắt, nhiệt huyết sôi lên sùng sục. Gã cứ tưởng ném vôi bột ra là Tiêu Phong mù mắt ngay rồi rút dao đâm chết, nhưng ném không trúng, thế là chí khí lại tiêu tan. Gã đã tưởng may mắn thoát chết, ngờ đâu bị quân Khất Đan bắt lại.

    Lần trước bọn Khất Đan đi thu hoạch bắt được gã, cho đi theo dám phụ nữ. Dĩ nhiên đám này không đi nhanh được, nên gã đi theo chẳng khó nhọc gì, cũng không bị hành hạ, chỉ trừ một sống đao đánh vào lưng lúc bị bắt mà thôi. Lần này khác hẳn, gã đã bị ngựa lôi xệch đi, cứ chạy được vài chục bước lại trượt chân té nhào xuống một lần, mỗi lần té là dây thòng lọng lại xiết chặt vào gáy đến trầy da chảy máu. Tên kỵ binh Khất Đan vẫn cho ngựa chạy đều đều không dừng lại lúc nào, cũng chẳng thèm để ý xem gã sống hay chết, cứ thế kéo gã vào thành Nam Kinh. Lúc vào thành, mình mẩy Du Thản Chi bê bết máu, trông không ra hình người nữa. Gã chỉ mong được chết mau lẹ cho khỏi đau đớn.

    Vào thành rồi, ba tên kỵ binh Khất Đan còn cho ngựa kéo gã chạy mấy dặm nữa mới đến một tòa nhà to. Du Thản Chi thấy đường lót đá xanh, cổng cao cột lớn, chẳng biết đó là nơi nào. Chừng uống cạn tuần trà, tên Khất Đan lại kéo Du Thản Chi đến một khoảng sân rộng rồi đột nhiên huýt lên một tiếng sáo, thúc gót chân vào sườn ngựa phóng nhanh. Du Thản Chi không ngờ hắn phóng ngựa một cách đột ngột, chỉ chạy theo được ba bước rồi té nhào xuống

    Tên kỵ binh Khất Đan huýt sáo liên hồi, kéo Du Thản Chi chạy ba vòng sân, thúc ngựa chạy mỗi lúc một nhanh hơn. Mười mấy tên quan binh đứng ngoài xem, đều reo hò trợ oai. Du Thản Chi nghĩ thầm: “Ôi chao, thì ra bọn chúng muốn lôi ta đến chết.” Đầu mình chân tay gã đều va đập vào đá xanh lát dưới đất, khiến gã đau đớn khắp cả mình mẩy.

    Giữa tiếng cười rộ của bọn quan binh Khất Đan bỗng nổi lên giọng cười trong trẻo của một thiếu nữ. Du Thản Chi sắp hôn mê, mơ hồ nghe tiếng cô gái vừa cười vừa nói: “Ha ha! Cái diều người này khó mà thả lên được.” Du Thản Chi tự hỏi: “Diều người là cái gì vậy?”

    Gã còn đang suy nghĩ, bỗng thấy sau gáy bị siết chặt lại, rồi thân thể tung lên không trung. Thì ra tên kỵ mã Khất Đan quất ngựa phóng thật nhanh, lôi gã tung bay lên như cái diều giấy để làm trò chơi.

    Thân thể Du Thản Chi lơ lửng trên không, cổ gã bị siết chặt đau điếng, miệng mũi bị gió thốc vào dường như ngộp thở. Bỗng nghe cô gái vỗ tay reo lên: “Tuyệt diệu! Tuyệt diệu! Quả nhiên chẳng khác gì thả diều giấy.” Du Thản Chi ngoảnh mặt về phía có tiếng cười nói, thì thấy người đang vỗ tay hoan hô chính là thiếu nữ mặc áo tím nhan sắc mỹ miều. Du Thản Chi nhìn thấy nàng, không biết nên vui mừng hay nên tủi, người gã đang bay trên không trung, không thể suy nghĩ gì nhiều.

    Thiếu nữ kiều diễm này chính là A Tử. Nguyên nàng thấy Tiêu Phong buông tha Du Thản Chi, trong lòng không vui, bèn cưỡi ngựa theo chàng đi một lúc rồi cố ý lùi lại sau, dặn bọn tùy tùng đi bắt gã về và không được cho Tiêu đại vương biết. Bọn tùy tùng biết Tiêu Phong nuông chiều cô bé này, dĩ nhiên không dám trái lệnh. Nhân lúc chàng không để ý, chúng dừng lại trên sườn núi chờ đoàn người đã khuất, rồi mới quay lại đuổi theo bắt Du Thản Chi. A Tử về thành, tránh xa Hựu Thánh cũng là chỗ Tiêu Phong ở, ngồi chờ bắt Du Thản Chi về. Nàng hỏi bọn Khất Đan có phương pháp hành hạ tội nhân đặc biệt tân kỳ nào không, thì có gã đưa ra ý kiến: “Thả diều người.” A Tử thích thú vô cùng, hạ lệnh lập tức thi hành. Thế là cái diều Du Thản Chi được thả lên trời.

    A Tử xem đến lúc cao hứng, liền bảo: “Ngươi để ta thử một chút!” Rồi nàng tung mình nhảy lên yên ngựa tên Khất Đan đang cười, cầm lấy dây thòng lọng rồi giục tên quân: “Ngươi xuống đi!”

    Tên quân Khất Đan nhảy xuống ngựa để cho A Tử thả diều người. Nàng nắm đầu dây rồi phóng ngựa một vòng, hớn hở tươi cười, miệng liên tiếp hô: “Thú quá! Thú quá!” Nhưng thương thế nàng chưa bình phục hoàn toàn, bàn tay mềm nhũn ra tuột mất đầu dây. Du Thản Chi rớt xuống đất đánh hụych một tiếng, trán gả đụng vào cạnh sắc một phiến đá, bị thủng một lỗ, máu chảy ra như suối. A Tử cụt hứng la mắng: “Sao thằng khốn nạn này nặng đến thế?”

    Du Thản Chi đã đau đến chết người, lại nghe nàng mắng cái tội thân thế mình quá nặng, những muốn quay lại tranh luận, nhưng đau quá không nói nên lời. Một tên lính Khất Đan chạy lại tháo dây thòng lọng tròng cổ gã ra, một tên khác xé vạt áo buộc vết thương, nhưng máu tươi vẫn tuôn ra không ngớt, chưa cầm được.

    A Tử nói: “Các ngươi thả diều nữa cho ta coi, thả lên càng cao càng thích.” Du Thản Chi không hiểu tiếng Khất Đan, thấy nàng vừa nói vừa giơ tay chỉ trỏ lên nóc nhà, cũng đoán là chuyện không tốt lành gì.

    Quả nhiên một tên lính Khất Đan nhặt đầu dây lên, luồn qua nách rồi buộc sau lưng để khỏi làm gã nghẹt thở, rồi quát to một tiếng: “Lên!” rồi phóng ngựa chạy nhanh. Thoạt tiên Du Thản Chi bị kéo lê dưới đất mấy vòng, sau đó mới tung lên cao dần dần. Tên quân Khất Đan thả dây mỗi lúc một dài ra.

    Thân hình Du Thản Chi lên càng lúc càng cao, tên Khất Đan đột nhiên quát một tiếng rồi thả đầu dây ra. Du Thản Chi tựa hồ như mũi tên bật khỏi dây cung, bắn tung lên trời. A Tử cùng bọn quan binh reo ầm lên. Du Thản Chi không làm gì được, đành để cho người bay tít lên trời, nghĩ bụng: “Phen này chắc chết!”

    Khi tung lên hết đà, gã rơi xuống, đầu dưới chân trên, tựa hồ như đầu gã sắp đâm xuống nền đá xanh. Bốn tên quân Khất Đan liền tung dây thòng lọng ra tròng lấy hông gã rồi giật mạnh ra bốn phía. Du Thản Chi ngất xỉu, bốn luồng lực đạo giữ gã lơ lửng trên không, đầu chúc xuống chỉ còn cách mặt đất chừng ba thước. Tình trạng này cực kỳ nguy hiểm, nếu một trong bốn tên quân Khất Đan ra tay chậm một chút, sức mạnh bốn phía không cân bằng được, thì Du Thản Chi phải đập đầu xuống đá, vỡ óc ra mà chết. Thường ngày bọn Khất Đan vẫn đem dân Tống ra làm trò chơi như vậy, mười người chết hết chín. Dù là ở cánh đồng cỏ mặt đất mềm hơn, không vỡ sọ, nhưng từ trên cao rớt xuống thì cũng gãy cổ, kết quả giống nhau.

    Giữa tiếng hoan hô vang dội, bốn tên Khất Đan hạ Du Thản Chi xuống. A Tử lấy tiền ra thưởng cho mỗi tên năm lượng. Cả bọn quan binh sung sướng tạ ơn rồi hỏi: “Cô nương còn muốn xem trò gì nữa không?”

    A Tử thấy Du Thản Chi ngất xỉu không biết còn sống hay đã chết rồi. Hơn nữa, cô vừa dùng sức quả nhiều để thả diều người, ngực đau ê ẩm, không muốn xem nữa, liền đáp: “Ta xem chán rồi. Giả tỉ thằng lỏi này không chết thì sáng mai đem vào để ta nghĩ cách tiêu khiển khác. Gã đã toan ám sát Tiêu đại vương thì không thể để chết một cách dễ dàng được.” Đám quan binh dạ ran, lôi Du Thản Chi ra.

    Lúc Du Thản Chi tỉnh lại thì mũi ngửi thấy mùi ẩm mốc nồng nặc. Gã mở mắt ra nhìn mà chẳng thấy gì, tự hỏi ngay: “Ta còn sống hay chết rồi?” nhưng lập tức thấy toàn thân đau nhức, khát nước cháy cả cổ, gã cất tiếng gọi: “Nước! Nước!” mà chẳng có ai ngó ngàng tới.

    Gã gọi luôn mấy tiếng rồi ngất đi, mơ hồ thấy bá phụ cùng phụ thân giao chiến với Tiêu Phong, máu chảy lênh láng, lại thấy mẫu thân từ ái đặt gã ngồi vào lòng dỗ dành và bảo gã đừng sợ. Gã lại thấy A Tử hiện ra trước mắt thật là kiều mỵ, cặp mắt trong veo như nước hồ thu mà sắc sảo dị thường. Đột nhiên khuôn mặt nàng co rúm lại biến thành cái đầu rắn hình tam giác phùng hai má ra, xông lại cắn gã. Du Thản Chi sợ quá muốn chạy trốn, nhưng ngay cả ngón tay cũng không nhúc nhích được. Gã gắng gượng né tránh nhưng người vẫn cứng đờ. Rồi con rắn độc cắn giật ra từng miếng thịt ở trên tay, dưới đùi, sau lưng, trước cổ, khắp mọi chỗ trong người gã, nhất là ở trên trán bị cắn lại càng mạnh hơn. Gã thấy từng miếng thịt trên người rớt lả tả thì hết hồn, muốn la lên mà không kêu thành tiếng.

    Du Thản Chi trằn trọc suốt đêm. Lúc tỉnh thì bị hành hạ, lúc nằm mơ cũng khổ sở chẳng kém gì. Hôm sau hai tên lính Khất Đan áp giải gã đến yết kiến A Tử. Người gã hãy còn nóng ran, mới bước một bước đã ngã lăn ra. Hai tên Khất Đan liền lôi gã dậy, rồi vừa chửi mắng vừa dìu đến một tòa nhà rất lớn. Du Thản Chi tự hỏi: “Bọn này lôi ta đi đâu? Có phải đem đi giết chăng?” Đầu óc gã vẫn mê mẩn, không nghĩ cho rõ ràng được, chỉ mơ hồ biết chúng kéo mình qua hai hành lang. Đến một sảnh đường, hai tên Khất Đan dừng lại trước cửa rồi bấm báo mấy câu. Phía trong có thanh âm thiếu nữ đáp lại, cửa sảnh đường mở ra. Hai tên Khất Đan liền đẩy gã vào.

    Du Thản Chi ngẩng đầu nhìn thì thấy dưới nền trải một tấm thảm sặc sỡ. Tận phía trong có một thiếu nữ xinh đẹp ngồi trên tấm nệm, chính là A Tử. Nàng đặt đôi bàn chân trần trên tấm thảm, Du Thản Chi thấy đôi bàn chân nhỏ nhắn trắng như tuyết, trong như ngọc, mịn màng như gấm, trái tim gã bỗng đập mạnh, trong lòng rạo rực. Hai mắt gã nhìn chằm chặp vào đôi chân xinh đẹp kia, da bàn chân nàng trong bóng tưởng chừng phát ra ánh sáng, lại có ẩn hiện mấy đường gân xanh, chỉ muốn vươn tay ra vuốt ve cho hả dạ. Hai tên Khất Đan buông tay ra để Du Thản Chi đứng một mình, gã loạng choạng suýt ngã, rồi cố gượng đứng vững được. Đôi mắt Du Thản Chi vẫn không rời bàn chân A Tử, thấy mười ngón chân nàng đều phơn phớt hồng tựa như những cánh hoa nhỏ bé.

    A Tử đưa mắt nhìn Du Thản Chi thấy người gã bê bết máu me dơ bẩn, mặt mũi sưng vều, hàm dưới đưa ra, hai mắt đỏ ngầu như tóe ra những tia lửa thèm muốn. A Tử chợt nhớ lại một con sói bị thương, hôm ấy nàng cùng hai tên sư huynh đi săn ở Tinh Tú Hải, bắn một phát trúng con sói, nhưng nó chưa chết ngay. Con sói bị thương nặng cũng dương đôi mắt tóe lửa ra nhìn nàng, trông y hệt cặp mắt Du Thản Chi lúc này. Nàng đoán rằng con sói muốn chồm lại cắn mình, nhưng đang bị thương, miệng hộc máu ra không còn đủ sức. A Tử thích nhìn cặp mắt Du Thản Chi hầm hầm như dã thú, nàng còn muốn gã gầm lên những tiếng thê thảm. Nhưng gã suy nhược quá rồi, không còn chút sức nào để phản kháng, thực là chẳng thú vị gì. Hôm trước gã toan dùng vôi bột ném cho mù mắt Tiêu Phong, ăn nói quật cường không chịu quỳ lạy, lại không thèm lấy tiền của chàng. A Tử rất hứng thú, coi gã như một loài dã thú rất lợi hại, lại muốn hành hạ thêm cho gã bị thương khắp người, mỗi lần bị thương gã lại chồm lên cắn mình một miếng, dĩ nhiên không để gã cắn trúng. Thế mà khi bắt gã đem về chỉ đem thả diều người, cái loài dã thú không phản kháng này dùng làm trò chơi chẳng có gì thích thú. A Tử chau mày tự hỏi: “Không biết có phương pháp gì mới lạ hành hạ gã này cho vui?”.

    Đột nhiên Du Thản Chi kêu lên mấy tiếng “Hà hà” rồi không biết khí lực ở đâu nổi lên, gã nhảy đến bên A Tử tựa hồ con báo vồ mồi. Gã ôm chặt lấy đôi chân bé nhỏ của nàng, cúi rạp đầu xuống mà hôn hít hai bàn chân. A Tử cả kinh kêu thét lên. Hai tên lính Khất Đan cùng bốn ả nữ tỳ hầu cận đều la ầm lên, chạy vào cố gỡ nàng ra.

    Du Thản Chi bám dai như đỉa đói, dù chết cũng không buông. Tên quân Khất Đan lội mạnh quá, khiến A Tử đang ngồi trên chiếc nệm bỗng tuột xuống tấm thảm trải dưới đất. Hai tên Khất Đan vừa sợ vừa tức không dám lôi kéo nữa. Một tên đá mạnh vào lưng Du Thản Chi, còn một tên tát vào mặt gã. Những vết thương của Du Thản Chi vẫn còn sưng, cơn sốt chưa dứt, thần trí gã vẫn như người điên chưa tỉnh, bất luận tình cảnh gì trước mắt cũng chỉ thấy lờ mờ. Gã vẫn ôm chặt đôi chân A Tử, đặt môi lên hôn bàn chân nàng.

    A Tử thấy môi gã vừa khô vừa nóng áp vào chân mình thì trong lòng sợ hãi, nhưng cũng có cảm giác kỳ dị tê tê buồn buồn. Đột nhiên nàng thét lên lanh lảnh: “Ối chao! Thằng lỏi này cắn ta!” Rồi nàng vội bảo: “Các ngươi mau lùi ra xa! Gã này phát điên rồi, đừng để gã cắn đứt ngón chân ta.” Lúc này Du Thản Chi cắn mơn man ngón chân A Tử, không làm nàng đau, nhưng nàng sợ tên quân Khất Đan đánh đập gã làm cho gã nổi cáu lên cắn mạnh, nên phải bảo chúng lui ra.

    Hai tên lính Khất Đan không biết làm thế nào, đành buông tay ra. A Tử dỗ ngọt: “Mi đừng cắn ta nữa, buông ra đi, ta sẽ tha chết cho.” Lúc này tâm thần Du Thản Chi đã mê loạn, không hiểu nàng nói gì. Một tên Khất Đan rút đao ra khỏi vỏ toan chém đứt cổ gã cho rớt đầu ra, nhưng lại sợ chém không khéo làm bị thương đến A Tử, nên chần chừ chưa dám hạ thủ.

    A Tử lại dỗ dành: “Chao ôi! Ngươi không phải dã thú, cắn người làm gì? Mau nhả ra đi, ta sẽ kêu người đến trị thương cho ngươi, rồi thả ngươi về Trung Nguyên.” Du Thản Chi vẫn mặc kệ. Răng lưỡi gã vẫn nhẹ nhàng mơn man trên bàn chân A Tử chứ không cắn cho nàng đau, hai bàn tay gã âu yếm vuốt ve lưng bàn chân nàng. Tâm hồn gã thấy phiêu diêu khoan khoái, tựa như lúc làm diều người bay bổng lên không.

    Một tên lính Khất Đan phúc chí tâm linh, đột nhiên thò tay ra bóp cổ Du Thản Chi. Gã bị nghẹt thở phải há miệng ra, A Tử vội co đùi lên, rút ngón chân trong miệng gã ra. Nàng sợ gã phát điên lại cắn nữa, liền rút hẳn hai chân giấu sau tấm nệm. Hai tên quân Khất Đan túm chặt lấy Du Thản Chi rồi giơ quyền đấm vào miệng gã hơn mười cái. Gã hộc lên mấy tiếng, rồi thổ máu tươi ra làm dơ bẩn cả tấm thảm trải dưới đất.

    A Tử quát: “Các ngươi dừng tay!” Qua cơn nguy hiểm vừa rồi, nàng thấy gã còn dùng làm trò chơi được, chưa đến nỗi vô vị, nên không muốn đánh gã chết ngay. Hai tên quân Khất Đan liền ngừng lại không đánh nữa. A Tử ngồi xếp bằng trên nệm, để hai bàn chân trần xuống dưới mông, rồi tính toán: “Bây giờ hành hạ gã kiểu nào đây?”

    Nàng ngẩng đầu lên thấy cặp mắt Du Thản Chi vẫn nhìn mình trừng trừng, liền hỏi: “Sao ngươi lại nhìn ta?” Du Thản Chi chẳng kể sống chết, không nghĩ ngợi gì đáp ngay: “Cô nương đẹp quá, nên tiểu nhân cứ muốn nhìn hoài.” A Tử đỏ mặt lên, nghĩ bụng: “Thằng lỏi này thật là lớn mật, dám buông lời xúc phạm ta.”

    Nhưng trước nay nàng chưa từng được nghe một chàng trai nào mở miệng khen mình đẹp. Lúc còn học võ ở phái Tinh Tú, bọn sư huynh đều coi nàng là một đứa trẻ tinh ranh. Từ khi nàng theo Tiêu Phong, lúc chàng không sợ nàng gây chuyện thì lại lo nàng chết, chưa từng để ý đến nàng đẹp hay xấu. Bây giờ A Tử thấy Du Thản Chi khen mình thì trong bụng không khỏi khoan khoái, rồi quyết định: “Ta giữ gã bên mình để lúc nào buồn lại lôi ra tiêu khiển, như vậy cũng hay! Có điều tỉ phu ta đã tha gã, nếu biết ta bắt gã về dĩ nhiên nổi giận. Ta có giấu được hôm nay thì ngày mai cũng bị lộ, muốn tỉ phu ta trước sau vẫn không hay biết thì phải dùng cách gì đây? Ta có thể cấm mọi người xung quanh không được tố cáo với tỉ phu, nhưng lỡ tỉ phu bất ngờ đến đây trông thấy gã thì sao?”

    Nàng trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi lẩm bẩm: “A Châu tỉ tỉ rất giỏi cải trang, giả làm gia gia mà tỉ phu cũng không nhận ra. Ta đem gã này thay hình đổi dạng chắc tỉ phu không thể biết được. Nhưng lại sợ gã không tự nguyện, cải trang một lúc rồi gã rửa đi, khôi phục lại chân tướng thì chỉ mất công vô ích.”

    Đôi mày cong cong của A Tử nhíu lại, đột nhiên nghĩ ra được một kế, vỗ tay cười ha hả reo lên: “Tuyệt diệu! Ta cứ làm thế là được.” Nàng quay sang dùng tiếng Khất Đan chỉ bảo hai tên quân một hồi, chỗ nào chúng chưa hiểu hỏi lại thì nàng lại giải thích rõ ràng, rồi sai nữ tì đưa cho chúng năm chục lạng bạc. Hai tên Khất Đan nhận tiền rồi cúi mình thi lễ, kéo Du Thản Chi ra ngoài phòng. Du Thản Chi la lên: “Ta muốn ở đây nhìn nàng! Ta muốn nhìn cô bé xinh đẹp mà độc ác kia.” Mấy tên quân Khất Đan cùng bọn nữ tì không biết tiếng Hán, chẳng hiểu gã kêu la chuyện gì. A Tử nhìn theo gã cười hì hì, thưởng thức sáng kiến thông minh của mình, càng nghĩ càng đắc ý.

    Du Thản Chi bị kéo về phòng giam, quẳng xuống đống cỏ khô. Đến chiều có người mang lại cho gã một đĩa thịt cừu và mấy cái bánh bao. Người gã vẫn còn nóng ran, miệng nói lảm nhảm, người đưa bánh đến sợ quá, vội đặt thức ăn xuống rồi chạy đi ngay. Du Thản Chi suy nhược đến nỗi không biết đói nữa, thức ăn để đó mà vẫn không đụng đến.

    Chiều hôm ấy có ba người Khất Đan đến. Du Thản Chi tuy thần trí mê man, nhưng gã cũng lờ mờ hiểu là lại có những chuyện không hay xảy đến cho mình. Gã gượng đứng lên toan chạy trốn, hai tên Khất Đan lập tức nắm lại, ấn gã ngồi xuống, xoay mặt ngửa lên. Du Thản Chi lên tiếng mắng nhiếc: “Mấy con chó Liêu này muốn chết ư? Đại gia sẽ băm bọn mi ra thành muôn đoạn!” Tên Khất Đan thứ ba bưng một vật gì trắng toát giống như bông gòn hay tuyết, áp chặt vào mặt gã. Du Thản Chi thấy mặt mình vừa ướt vừa mát lạnh, đầu óc liền tỉnh táo nhưng hơi thở không thông. Gã nghĩ thầm: “Chắc bọn này bịt hết miệng mũi cho ta chết ngạt đây!” Nhưng gã biết ngay là mình đoán sai, chỗ miệng mũi có người chọc ra mấy lỗ, gã lại hít thở được như thường, chỉ còn cặp mắt là không mở ra được. Gã cảm giác mặt mình ướt đẫm, bị người xoa nắn tựa hồ như trát bột hay trát bùn vào.

    Du Thản Chi mơ hồ tự hỏi: “Không biết bọn ác tặc này đang dùng phương pháp cổ quái gì để giết ta đây?” Sau một lúc, gã thấy chất bột trên mặt mình được khẽ tháo ra, bèn mở mắt nhìn thì thấy một chiếc mặt nạ bằng bột mì. Tên quân Khất Đan hai tay bưng cái mặt nạ bằng bột ướt này rất cẩn thận, chỉ sợ làm hỏng. Du Thản Chi lớn tiếng mắng: “Quân Liêu cẩu hèn mạt! Ta sẽ cho bọn mi chết không có đất mà chôn.” Ba tên quân Khất Đan mặc kệ Du Thản Chi chửi bới kêu gào, chúng mang cái mặt nạ đắp bằng bột đi.

    Du Thản Chi sực nghĩ ra, lẩm bẩm: “Phải rồi! Chắc là chúng bôi thuốc độc vào mặt mình, chẳng bao lâu sẽ rữa nát da thịt, biến thành quỷ sứ…” Gã càng nghĩ càng sợ hãi rồi quyết định: “Nếu để chúng hành hạ rồi cũng chết, thà rằng tự tử trước đi còn hơn.” Gã có chủ ý rồi, liền đập đầu vào tường binh binh luôn mấy cái. Bọn ngục tốt nghe tiếng liền chạy vào trói chặt tay, chân gã lại. Du Thản Chi đã đập đầu đến choáng óc sắp ngất đi, để mặc bọn ngục tốt muốn làm gì thì làm.

    Qua mấy ngày, gã thấy mặt mình chẳng đau đớn gì mà cũng không nát rữa, nhưng hạ quyết tâm chết cho xong. Gã đói bụng, mà ngục tốt đưa cơm vào không ăn nữa.

    Đến ngày thứ tư, ba tên quân Khất Đan lại chạy đến chỗ Du Thản Chi lôi gã đi. Trong lúc đau khổ, gã bỗng nghĩ là A Tử gọi đến để hành hạ, thế thì dù đau đớn nhưng còn được thấy dung nhan người đẹp, cũng được an ủi phần nào. Gã ôm môi hy vọng đó, trên gương mặt nhăn nhúm thoáng hiện một nụ cười.

    Ba tên quân Khất Đan đưa gã qua mấy đường hẻm nhỏ rồi vào một căn nhà tối om, đến một chỗ than hồng bốc cháy ngùn ngụt chiếu sáng nửa căn phòng vách đá. Một tên thợ rèn vai u thịt bắp mình trần trùng trục đứng bên lò lửa, chăm chú nhìn một vật đen sì đang cầm trên tay. Ba tên quân Khất Đan đẩy Du Thản Chi đến trước mặt gã thợ rèn, hai tên chia nhau giữ chặt hai tay gã, còn một tên nắm lấy sau lưng. Người thợ rèn nghiêng đầu nhìn y, rồi lại ngắm nghía cái vật cầm trong tay, dường như đang so sánh.

    Du Thản Chi đưa mắt nhìn vật trong tay người thợ rèn, thì ra một cái mặt nạ bằng sắt, có bốn lỗ thủng ở miệng, mũi và hai mắt. Gã đang tự hỏi: “Không hiểu cái mặt nạ sắt này dùng để làm gì?”, bỗng người thợ rèn úp chiếc mặt nạ vào mặt gã. Du Thản Chi bất giác ngửa đầu ra sau để tránh, nhưng sau ót đã bị giữ chặt, người thợ vẫn lồng vào được. Sắt thép chạm vào da thịt làm mặt gã thấy mát lạnh, mà kỳ lạ nhất là chiếc mặt nạ này lồng vào mặt gã hết sức vừa vặn, mồm miệng mặt mũi chỗ nào cũng ăn khớp, dường như chế tạo để gã đeo.

    Du Thản Chi ngẫm nghĩ một lúc rồi hiểu ngay vụ này. Gã ớn lạnh cả xương sống, than thầm: “Trời ơi! Đúng là chúng làm cái mặt này để cho mình đeo rồi. Bữa trước bọn chúng lấy bột ướt đắp vào mặt mình, thì ra là làm khuôn mặt. Không biết chúng làm vậy là có dụng ý gì? Hay là…”. Du Thản Chi sắp đoán ra mục đích độc ác của bọn Khất Đan đúc mặt nạ, nhưng gã không dám nghĩ thêm nữa, chỉ cố cựa quậy lùi lại.

    Người thợ rèn tháo chiếc mặt nạ ra, gật đầu lia lịa ra vẻ hài lòng. Y lấy một cái kìm sắt to tướng, cặp lấy mặt nạ đặt vào lò lửa nung cho đỏ lên. Tay phải y cầm một cái búa sắt gõ beng beng vào mặt nạ một hồi, rồi lại đưa tay sờ đầu sờ gáy Du Thản Chi để sửa lại những chỗ không vừa khít. Du Thản Chi quát mắng: “Bọn Liêu cẩu trời đánh! Chúng mày định làm việc thương thiên nghịch lý gì đây? Chúng mày là những con quỷ hung tàn, trời sẽ giáng họa, không cho chết yên lành đâu! Ông trời sẽ ra tay sát hại cả đến gia súc cùng con cái của chúng mày.” Gã lớn tiếng chửi mắng ầm ầm, nhưng bọn Khất Đan chẳng hiểu chi hết. Tên thợ rèn đột nhiên quay đầu lại nhìn gã bằng cặp mắt hung dữ, giơ cái kìm sắt nung đỏ lên chỉ vào mặt gã. Du Thản Chi khiếp quá, mắt trợn lên miệng há hốc ra.

    Tên thợ rèn chỉ dọa thế thôi, cười ha hả rút kìm về. Đoạn y lại lấy ra một cái khuôn sắt hình nửa quả dưa, ướm vào sau gáy Du Thản Chi để sửa lại cho vừa khít. Người thợ rèn đặt cả mặt nạ cùng khuôn gáy vào lò lửa, nung cho đỏ lên, đoạn y lớn tiếng nói mấy câu. Ba tên quân Khất Đan đè ngửa Du Thản Chi trên mặt bàn, đầu thò ra ngoài. Lại thêm hai tên Khất Đan nữa đến tiếp tay giữ đầu gã không cho nhúc nhích. Cả thảy năm người giữ lấy chân tay đầu mình Du Thản Chi khiến gã không động cựa gì được nữa.

    Tên thợ rèn lấy kìm gắp cái mặt nạ nóng đỏ trong lò ra, dừng lại cho nguội bớt một chút. Đoạn y quát lên một tiếng thật to, áp chiếc mặt nạ vào mặt Du Thản Chi. Khói trắng bốc lên, mùi thịt khét lẹt bay ra, Du Thản Chi rú lên một tiếng ngất đi. Năm tên Khất Đan lật sấp người gã lại để tên thợ rèn lắp nốt miếng kia vào sau gáy gã, hai nửa úp vào nhau thành một cái lồng chụp quanh đầu Du Thản Chi. Cái lồng sắt hãy còn nóng bỏng, chạm vào da cháy xèo xèo, thịt cũng chín nhũn ra. Tên này là thợ rèn khéo nhất thành Yên Kinh, y chế tạo hai cái nửa đầu ráp vào nhau khít rịt, không hở sợi tóc.

    Du Thản Chi phải vào hỏa ngục, trải qua lửa nóng. Gã mê man không biết bao lâu mới hồi tỉnh, nhưng trước mặt sau gáy đau đớn không chịu được, lại tiếp tục ngất đi. Du Thản Chi ba lần ngất đi, ba lần hồi tỉnh. Gã lớn tiếng kêu gào nhưng chỉ phát ra những tiếng ú ớ không phải tiếng người.

    Gã nằm thẳng đơ không nghĩ ngợi gì, nghiến răng để cố chịu cái đau đớn khủng khiếp từ trước mặt đến sau gáy. Gã giữ nguyên như vậy đến hai giờ rồi gắng gượng giơ tay lên sờ mặt, thấy vừa lạnh vừa cứng ngắt, biết rằng mình đoán không lầm, cái mặt nạ đã chụp vào đầu rồi. Du Thản Chi căm phẫn vô cùng, cố gắng giằng ra, nhưng cái lồng sắt đã gắn chặt rồi, kéo thế nào cũng không nhúc nhích được. Gã tuyệt vọng không nhịn được nữa, khóc òa lên.

    Gã đang độ thiếu niên nên dù đau đớn đến đâu vẫn chịu đựng được, không đến nỗi chết. Mấy hôm sau vết thương dần dần bớt đau, gã cảm thấy đói bụng, ngửi mùi bánh mùi thịt thèm quá không nhịn được, liền bốc ăn. Lúc này Du Thản Chi đã đưa tay lên sờ khắp trên đầu trên mặt, biết rằng cái lồng sắt đã úp chụp kín cả đầu mình không còn cách nào tháo ra được. Mấy hôm đó gã tức giận điên cuồng, nhưng ba ngày sau dần dần bình tĩnh trở lại, tự hỏi: “Tên Liêu cẩu Kiều Phong dùng lồng sắt chụp lấy đầu mình là có dụng ý gì?”

    Gã vẫn cho rằng đây là mệnh lệnh của Tiêu Phong, còn dụng ý gì thì đoán mãi không ra. Thật ra, A Tử sai chế lồng sắt chụp vào đầu gã là để che mắt Tiêu Phong, việc này đều do gã đội trưởng Thất Lý theo ý A Tử mà thi hành.

    Hằng ngày A Tử vẫn hỏi Thất Lý về tình hình Du Thản Chi sau khi chụp lồng sắt vào đầu. Ban đầu nàng vẫn lo rằng Du Thản Chi đau đến chết mất, nhưng về sau nghe nói gã đã dần dần khỏe lại thì rất hứng thú. Một hôm A Tử được tin Tiêu Phong ra Nam Giao duyệt binh, liền bảo Thất Lý đem Du Thản Chi vào. Nàng ngồi trong Đoan Phúc cung, đợi ba tên lính Khất Đàn bộ hạ của Thất Lý dẫn Du Thản Chi vào. Gia Luật Hồng Cơ muốn chiều lòng Tiêu Phong, đã giáng chỉ phong A Tử làm Đoan Phúc quận chúa, cấp riêng cho nàng Đoan Phúc cung này để ở.

    A Tử vừa trông thấy Du Thản Chi, trong lòng xiết nỗi vui mừng. Nàng nghĩ bụng: “Thật là tuyệt diệu! Bây giờ thằng lỏi đã đeo bộ mặt này vào, dù đứng đối diện thì tỉ phu ta cũng không thể nhận ra được.” Du Thản Chi tiến lên mấy bước, A Tử vỗ tay khen ngợi rồi bảo Thất Lý: “Ngươi lấy năm chục lạng bạc thưởng thêm cho tên thợ rèn đã làm việc chu đáo!” Thất Lý nói: “Vâng. Đa tạ Quận chúa.”

    Du Thản Chi nhìn qua lỗ mắt trên mặt nạ thấy A Tử tươi cười lại càng xinh đẹp, trong lòng không khỏi rung động. A Tử nhận ra gã Du Thản Chi đeo mặt nạ kỳ dị vẫn nhìn mình không chớp mắt, liền hỏi: “Thằng lỏi ngu xuẩn kia! Mi nhìn ta làm chi vậy?” Du Thản Chi ấp úng: “Tiểu nhân… tiểu nhân không biết!” A Tử hỏi lại: “Mi đeo mặt nạ có dễ chịu không?” Du Thản Chi hỏi lại: “Cô nương thử đoán xem có dễ chịu không?” A Tử cười khanh khách đáp: “Ta đoán không ra.” Nàng thấy lỗ miệng Du Thản Chi rất hẹp, chỉ đủ để ăn cơm húp canh, còn muốn ăn thịt cũng phải xé nát ra mới đưa vào được, liền cười nói: “Ta bắt mi phải đeo mặt nạ là để vĩnh viễn mi không cắn ta được.”

    Du Thản Chi mừng thầm, hỏi: “Phải chăng cô nương muốn… muốn tiểu nhân ở bên cạnh để hầu hạ?” A Tử đáp: “Ái chà! Mi thật là khốn kiếp, muốn ở bên cạnh để nghĩ cách hại ta phải không?” Du Thản Chi nói: “Tiểu nhân chỉ thù một mình Kiều Phong, quyết không có ý hại cô nương.” A Tử hỏi lại: “Mi muốn hại tỉ phu ta thì có khác gì hại ta?” Du Thản Chi nghe vậy trong lòng chua xót, không biết trả lời thế nào.

    A Tử cười nói: “Mi muốn hại tỉ phu ta, thì lên trời cũng không khó bằng. Thằng lỏi ngu ngốc kia! Mi có muốn chết không?” Du Thản Chi đáp “Dĩ nhiên là tiểu nhân không muốn chết. Nhưng hiện giờ trên đầu tiểu nhân chụp một cái lồng sắt, người chả ra người, quỷ chả ra quỷ, thì dù chết hay sống cũng chẳng khác gì.” A Tử nói: “Nếu quả mi muốn chết thì ta cũng cho toại nguyện, nhưng không chết ngay được đâu.” Nàng quay sang bên cạnh bảo: “Thất Lý! Ngươi lôi nó ra chặt cánh tay trái!” Thất Lý dạ một tiếng rồi túm lấy tay Du Thản Chi.

    Du Thản Chi cả kinh la lên: “Không! Không! Tiểu nhân không muốn chết! Cô nương đừng… đừng chặt tay tiểu nhân.” A Tử cười lạt nói: “Ta đã nói sao là làm vậy, trừ phi mi dập đầu năn nỉ!”

    Du Thản Chi còn đang ngần ngừ, Thất Lý đã lôi gã đi. Gã không dám chần chừ nữa, quỳ mọp ngay xuống dập đầu lạy, cái đầu chụp lồng sắt chạm xuống đá xanh kêu boong boong như chuông. A Tử cười khanh khách, nói: “Từ nhỏ tới lớn ta chưa thấy ai dập đầu mà âm thanh dễ nghe như vậy. Mi cứ lạy thật lâu để ta nghe.”

    Du Thản Chi là tiểu trang chúa ở Tụ Hiền Trang, mặc dù mọi người trong trang đều biết gã là một tên đốn mạt văn dốt võ dát, nhưng con Du Ký chết non, Du Câu chỉ có mình gã, quý như hòn ngọc. Tiểu trang chúa mà gọi một tiếng thì gia nhân dạ răm rắp. Từ thuở nhỏ gã đã được nuông chiều, ăn sung mặc sướng, có bao giờ chịu khổ nhục như ngày nay? Lúc Du Thản Chi mới gặp Tiêu Phong, gã còn có khí phách quật cường, thà chết chứ không chịu quỳ lạy. Nhưng mấy bữa nay từ tâm hồn cho đến thể xác đã chịu không biết bao nhiêu đau đớn cực nhục, gã mất hết chí khí, bắt quỳ gã cũng quỳ, bắt lạy gã cũng lạy. A Tử khen gã dập đầu nghe êm tai, gã cũng dập đầu lia lịa vang lên những tiếng boong boong, lại còn hoan hỉ vì được người đẹp như tiên khen.

    A Tử mỉm cười nói: “Hay lắm! Từ đây trở đi, ta sai bảo điều gì, mi răm rắp thực hiện thì thôi, còn nếu trái lệnh thì lập tức ta sai chặt tay. Mi đã nhớ chưa?” Du Thản Chi nói: “Vâng, vâng.” A Tử nói: “Ta cứu mạng mi mà mi không biết cám ơn ta. Tiêu đại vương muốn bằm mi nát ra như cám, mi có biết không?” Du Thản Chi đáp: “Y là kẻ thù giết thân phụ tiểu nhân, cố nhiên không chịu buông tha.” A Tử nói: “Đại vương giả vờ tha mi, rồi lại sai bắt ngươi về để băm vằm mi ra. Ta thấy mi không đến nỗi hèn hạ lắm, nghĩ cũng tội nghiệp, nên sai người tìm cách giấu mi. Giả tỉ Tiêu đại vương lại gặp mi thì ắt mi phải chết, lại phiền hà đến ta nữa.”

    Du Thản Chi tỉnh ngộ nói: “À! Thế ra cô nương đúc cái lồng sắt này bịt đầu tiểu nhân là để cứu mạng. Tiểu nhân cảm kích vô cùng!”

    A Tử lừa được gã đem lòng cảm kích thì đắc ý vô cùng, mỉm cười nói: “Sau này mi có gặp Tiêu đại vương thì đừng nói năng chi hết, để y không nghe được thanh âm. Nếu mi lên tiếng, y nhận ra mi, tức khắc đem chặt cánh tay trái, rồi chờ mi tỉnh dậy lại chặt nốt cánh tay phải. Thất Lý! Ngươi kiếm y phục Khất Đan cho gã mặc, nhớ tắm rửa sạch những chỗ máu mủ trong người gã cho đỡ tanh hôi!” Thất Lý vâng lệnh, lôi Du Thản Chi ra ngoài.

    Chẳng mấy chốc tên đội trưởng lại đưa gã vào, đã mặc quần áo Khất Đan, Thất Lý muốn lấy lòng A Tử, cho gã mặc quần áo sặc sỡ giống như một tên tiểu sửu đóng vai hề trong tuồng kịch.

    A Tử cười to, nói: “Ta đặt tên cho mi là Thiết Sửu. Từ bây giờ nếu ta kêu Thiết Sửu thì mi phải vâng dạ ngay.” Rồi nàng cất tiếng gọi to: “Thiết Sửu!” Du Thản Chi vội đáp: “Dạ, dạ!”

    A Tử thích chí vô cùng. Đột nhiên nàng nhớ ra một điều, liền hỏi: “Thất Lý! Có phải nước Đại Tự bên Tây Vực mới đem biếu một con sư tử không? Ngươi kêu quản sư đem nó vào đây, gọi thêm mấy tên vệ sĩ đến nữa.”

    Thất Lý vâng lệnh chạy đi. Mười sáu tên vệ sĩ cầm trường mâu chạy vào trong điện, khom lưng thi lễ rồi đứng thẳng lên, chĩa mười sáu mũi trường mâu ra phía ngoài để bảo vệ cho A Tử. Lát sau ngoài điện có tiếng sư tử gầm thét, tám đại hán khiêng một chiếc cũi sắt vào. Trong cũi có một con sư tử đực lông vàng, bờm dài, nanh vuốt sắc nhọn, đang chạy quanh trông rất hung dữ. Gã quản sư tay cầm roi da đi trước.

    A Tử thấy con mãnh sư hung hăng đến phát khiếp, thì hớn hở nói: “Thiết Sửu! Ta bảo người làm một việc, ngươi có chịu nghe lời ta không?” Du Thản Chi đáp: “Vâng!” Gã trông thấy con sư tử thì trong lòng hồi hộp tự hỏi: “Không biết A Tử muốn ta làm gì đây?”, trống ngực đánh hơn trống làng. A Tử nói: “Ta không hiểu cái lồng sắt bịt đầu ngươi có kiên cố không. Ngươi thử thò đầu vào cho con sư tử cắn mấy miếng xem có vỡ được không?”

    Du Thản Chi nghe lệnh mà hồn vía lên mây, ấp úng: “Việc này… việc này… không nên thử. Giả tỉ nó cắn vỡ thì đầu tiểu nhân…” A Tử gắt gỏng: “Mi thật là vô dụng, việc nhỏ xíu thế mà cũng sợ. Đại trượng phu thì coi cái chết nhẹ như lông hồng mới phải. Mà ta xem chừng nó cắn không vỡ được đâu.” Du Thản Chi năn nỉ: “Cô nương! Chuyện này không đùa được. Nếu nó cắn không vỡ, thì cái lồng sắt cũng bị móp méo, rồi đầu tiểu nhân…” A Tử cười khanh khách nói: “Đầu ngươi có méo mó một chút cũng chẳng sao. Thằng lỏi này thật là lắm chuyện! Cái đầu mi vốn chẳng đẹp đẽ gì, mà dù méo mó thì cũng ở bên trong cái lồng chẳng ai trông thấy. Hà tất ngươi phải quan tâm nó đẹp hay xấu?” Du Thản Chi vội cãi: “Đâu có phải tiểu nhân nghĩ đến chuyện đẹp hay xấu..” A Tử sa sầm nét mặt gạt phắt đi: “Mi dám không nghe lời ta ư? Được lắm, ta quẳng ngươi vào trong cũi cho sư tử ăn thịt!” Đoạn nàng quay ra dùng tiếng Khất Đan nói mấy câu, Thất Lý dạ một tiếng rồi chạy lại, nắm lấy Du Thản Chi.

    Du Thản Chi nghĩ thầm: “Nếu người mình bị quẳng vào cũi cho sư tử cắn thì chắc chết. Thôi ta đành thò cái đầu sắt vào cũi còn đỡ hơn, việc sống hay chết phó mặc cho vận số.” Nghĩ vậy, gã la lên: “Đừng! Đừng! Tiểu nhân xin vâng lời cô nương!”.

    A Tử cười nói: “Thế mới phải! Ta bảo ngươi cái gì thì lập tức ngươi phải thi hành! Nếu bướng bỉnh để bản cô nương nổi nóng thì không hay đâu. Thất Lý! Ngươi đè gã ra đánh ba chục roi.” Thất Lý vâng lệnh, rút lấy cây roi da trong tay gã quản sư quất vào lưng Du Thản Chi. Du Thản Chi đau quá không chịu được, rú lên một tiếng: “Úi chao!”

    A Tử nói: “Tên Thiết Sửu kia! Ta cho mi hay, ta sai người đánh mi là tử tế với mi lắm rồi. Thế mà mi lại la làng, phải chăng không muốn ta đánh?” Du Thản Chi vội nói: “Không! Không! Tiểu nhân vui lòng lắm. Đa tạ ân đức cô nương.” A Tử bảo: “Thế thì tốt. Đánh đi!” Thất Lý quất veo véo một lúc mười roi. Du Thản Chi nghiến răng chịu đựng không dám hé miệng. May mà gã đã đội lồng sắt, roi da chừa đầu ra chỉ vụt vào lưng, nên gã có thể chịu đựng được.

    A Tử thấy gã không rên rỉ gì, hết cả hứng thú bèn hỏi: “Thiết Sửu! Ta hỏi đây, có phải ngươi thích việc ta đã sai người đánh mi không?” Du Thản Chi đáp ngay: “Vâng” A Tử lại hỏi: “Ngươi nói thực hay nói dối? Ta cho rằng ngươi lừa bịp ta.” Du Thản Chi nói: “Thực tình là như vậy, tiểu nhân không dám lừa bịp cô nương.” A Tử nói: “Mi đã thích thế, sao lại không cười mà reo lên?” Du Thản Chi bị nàng hành hạ nát ruột tan hồn, mất cả ý niệm thù hận, miễn cưỡng lên tiếng: “Cô nương thật là tử tế, tiểu nhân được ăn đòn khoan khoái vô cùng!”

    A Tử nói: “Thế mới phải chứ! Thử xem.” Nàng nói xong, đập bàn một cái, Thất Lý vung roi lên vụt một phát. Du Thản Chi cười ha hả, reo lên: “Đa tạ cô nương! Roi đòn này thật là sung sướng.” Chỉ chốc lát gã đã bị đánh đến hai chục roi, kể cả đợt trước tổng cộng hơn ba chục. A Tử vẫy tay nói: “Hôm nay thế là đủ rồi. Bây giờ mi thò đầu vào cũi đi.”

    Du Thản Chi đau ê ẩm cả người, loạng choạng bước đến bên cũi sắt. Gã nghiến răng thò đầu vào trong cũi. Con sư tử thấy có người thách thức, giật mình lùi lại, hai mắt nhìn chằm chặp vào cái đầu sắt một hồi rồi lùi thêm một bước nữa, miệng gầm gừ ra oai.

    A Tử bảo tên quản sư: “Ngươi giục sư tử đi. Sao mãi nó không chịu cắn?” Tên quản sư liền quát lên mấy tiếng, con sư tử nghe lệnh chồm lại há miệng thật to ngoạm lấy đầu Du Thản Chi, nghe tiếng sào sạo, hàm răng sư tử nghiến vào chiếc lồng sắt. Du Thản Chi sợ quá nhắm mắt lại, cảm thấy một luồng hơi nóng xông vào qua những lỗ hổng thì biết rằng cả cái đầu mình đã lọt vào hàm sư tử, rồi thấy trước trán và sau gáy đau đớn kịch liệt. Đó là do lúc người thợ rèn chụp cái lồng sắt nóng bỏng vào đầu gã, đầu và mặt bị cháy cả da thịt. Những vết thương mới liền da, bây giờ sư tử cắn vào lại loét ra.

    Sư tử cố sức cắn mấy cái mà không thủng, lại thấy ê răng. Nó nổi hung giơ vuốt lên cào vai Du Thản Chi. Gã đau điếng, hét lên một tiếng “Úi chao!”. Con sư tử thấy tự nhiên có tiếng thét trong miệng mình thì không khỏi giật mình, há miệng ra lùi lại một góc cũi sắt.

    Tên quản sư lại lớn tiếng quát tháo giục sư tử vồ Du Thản Chi cắn nữa. Du Thản Chi nổi giận, đột nhiên vươn tay nắm được gáy tên quản sư ra sức kéo mạnh, đút được đầu gã vào cũi sắt, gã quản sư rú lên. A Tử khoái chí vỗ tay cười ha hả: “Tuyệt diệu! Đừng ai can thiệp, để ta coi ai sống ai chết!”

    Mấy tên lính Khất Đan toan chạy lại gỡ gã quản sư ra khỏi tay Du Thản Chi, nhưng nghe A Tử nói vậy lại thôi.

    Gã quản sư ra sức cựa quậy, nhưng lúc này Du Thản Chi đã nổi hung tính, giữ lấy chằng chằng, nhất quyết không chịu buông tha. Gã quản sư chỉ còn mong con sư tử lại cứu mình, bèn thét lên: “Cắn! Cắn chết đi!” Con sư tử nghe gã giục rối rít, gầm lên một tiếng đinh tai nhức óc, nhảy chồm lại. Nó nghe chủ nhân giục cắn mà không biết cắn ai, bèn nhe hàm răng sắc nhọn trắng nhởn ngoạm rau ráu, cắn đứt nửa đầu gã quản sư, óc và máu tươi vọt ra tung tóe trên mặt đất!

    A Tử hớn hở reo ầm lên: “Ha ha! Thiết Sửu đại thắng! Thiết Sửu đại thắng!” Nàng vẫy tay ra lệnh cho bọn lính Khất Đan khiêng cũi sư tử và xác gã quản sư ra ngoài, rồi bảo Du Thản Chi: “Được rồi! Mi làm vừa lòng ta, ta muốn thưởng mi mà chưa biết thưởng gì.” Nàng chống tay lên má, ra chiều suy nghĩ.

    Du Thản Chị nói: “Cô nương! Tiểu nhân không dám mong cô nương ban thưởng, chỉ xin cô nương một việc.” A Tử hỏi: “Mi xin điều gì?” Du Thản Chi nói: “Tiểu nhân xin được ở luôn bên mình cô nương để hầu hạ.” A Tử hỏi lại: “Mi muốn hầu hạ ta ư? Để làm chi vậy? À phải rồi, mi muốn ở đây để chờ Tiêu đại vương đến thăm ta, thừa cơ hạ thủ, báo thù cho song thân phải không?” Du Thản Chi vội đáp: “Không! Không phải thế.” A Tử hỏi lại: “Không lẽ ngươi không định báo thù hay sao?” Du Thản Chi nói: “Tiểu nhân đến đây đúng là có ý báo thù, nhưng một là không đủ sức, hai là không muốn dính líu đến cô nương.

    A Tử nói: “Sao mi thích làm nô lệ cho ta?” Du Thản Chi đáp: “Cô nương là tiên hạ phàm, là người đẹp nhất trần gian. Tiểu nhân… chỉ mong ngày ngày được trông thấy cô nương.”

    Câu nói này thật là hỗn xược, nhưng A Tử nghe lại thấy thích thú. Nàng còn nhỏ tuổi, tuy nhan sắc mỹ miều song chưa trưởng thành hẳn, lại nàng bị trọng thương chưa khỏi, vẫn còn gầy nhom xanh mét. Du Thản Chi thấy nàng đẹp nhất trần gian thì thật là khó hiểu, nhưng nàng thấy ở đời có kẻ say mê nhan sắc của mình thì cũng khoan khoái trong lòng.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Thiên Long bát bộ. Tiểu thuyết của Kim Dung. Tác phẩm được bắt đầu được đăng trên tờ Minh báo ở Hồng Kông và Nam Dương thương báo ở Singapore vào ngày 03-09-1963 đến ngày 27-05-1966, liên tục trong 4 năm. Các Dịch giả: Hàn Giang Nhạn; Đông Hải; Nguyễn Duy Chính. NXB Văn học, 2002.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,514,556

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/