Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,165,671

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Thiên Long bát bộ

Kim Dung

  • Thứ hai, 08:14 Ngày 15/03/2021
  • Thiên Long bát bộ

    Tiết Thần Y biết rằng Vân Trung Hạc tuy bị trọng thương nhưng còn chữa được, còn Đàm Thanh tiêu tán hết cả thần hồn rồi, chẳng còn linh đơn diệu dược gì cứu y được nữa. Ông ta thấy Kiều Phong mới quát lên một tiếng, tùy tiện phóng ra một chưởng mà uy lực đã ghê gớm đến thế, nếu gã muốn lấy mạng mình thì vị tất đã có ai ngăn trở kịp. Tiết Thần Y còn đang trầm ngâm, chợt thấy Đàm Thanh đứng không nhúc nhích nữa, miệng hết ú ớ, hai mắt trợn ngược lên, xem ra đã tắt thở rồi.

    Vừa rồi Đàm Thanh lên tiếng nhục mạ Cái Bang, quần cái đều cực kỳ tức tối nhưng lúc đó chưa biết là ai, khí tức chẳng biết trút vào đâu. Bây giờ thấy Kiều Phong ra tay giết y, ai nấy đều thống khoái. Tống trưởng lão, Ngô trưởng lão là những tay hảo hán thẳng thắn mau lẹ đã toan cất tiếng hò reo, nhưng nghĩ lại Kiều Phong là giống Khất Đan đại ác, nên đành phải nén lòng. Ai nấy đều tự nhủ: “Có chàng làm bang chủ thì chuyện gì cũng dễ dàng, nếu không, từ nay bước đường sẽ đầy chông gai, Cái Bang chẳng thể duy trì được uy phong như trước nữa.”

    Lúc đó Vân Trung Hạc gượng đứng lên được, lảo đảo đi ra cửa, cứ ba bước lại thổ ra một ngụm máu. Quần hùng thấy y bị thương nặng nên không ai làm khó nữa, nghĩ thầm: “Gã này chửi mắng bọn mình, chẳng ai làm gì được y, lại phải để Kiều Phong ra tay.”

    Kiều Phong nói: “Hai vị Du huynh! Hôm nay tại hạ gặp ở đây rất nhiều bằng hữu, nhưng từ nay bạn bè đã trở nên địch thủ cả rồi. Trong lòng tại hạ xiết bao đau xót, mong hai vị cho xin mấy bát rượu.”

    Mọi người thấy chàng đòi uống rượu đều hết sức kinh ngạc, Du Câu nghĩ thầm: “Để xem y giở trò gì.”, rồi lập tức sai người nhà lấy rượu ra. Hôm nay Tụ Hiền Trang mở Anh hùng đại yến, rượu thịt chuẩn bị đầy đủ, nên chỉ giây lát đầy tớ đã mang rượu cùng chén ra.

    Kiều Phong nói: “Chén nhỏ thế này làm sao đủ hứng? Xin rót rượu ra bát lớn.” Hai tên trang khách bèn đem ra hai cái bát lớn và một vò rượu trắng mới mở nắp, để lên bàn trước mặt Kiều Phong, rồi rót đầy một bát, Kiều Phong nói: “Rót đầy cả hai bát đi.” Hai gã đầy tớ theo lời, rót đầy cả bát kia.

    Kiều Phong nâng một bát rượu lên nói: “Rất nhiều vị anh hùng tại đây ngày trước đã từng giao thiệp với Kiều mỗ, hôm nay dễ có điều vướng mắc, chi bằng chúng ta cạn chén tuyệt giao. Vị bằng hữu nào muốn giết Kiều mỗ thì xin mời đến đối ẩm một bát, từ nay về sau, giao tình coi như xóa bỏ hết. Kiều mỗ có giết người cũng không phải là vong ân, mà người giết Kiều mỗ cũng không phải là phụ nghĩa. Tất cả anh hùng thiên hạ ở đây đều chứng kiến cho.”

    Mọi người nghe chàng nói không khỏi rùng mình, trong đại sảnh im lặng như tờ. Ai cũng nghĩ thầm: “Nếu như ta tiến lên uống rượu, rất có thể bị y ám toán. Phách không thần quyền của y đánh ra, làm sao chống đỡ được?” Yên lặng một lúc, đột nhiên một người đàn bà mặc tang phục bước ra, chính là Mã phu nhân, quả phụ của Mã Đại Nguyên. Nàng nâng bát rượu lên, buồn thản nói: “Tiên phu ta táng mạng nơi tay ngươi thì còn tình cố cựu gì nữa?” Nàng đưa bát rượu lên môi nhấp một hớp, nói: “Tửu lượng ta kém không thể uống hết, sinh tử đại cừu cũng như bát rượu này.” Nói xong hắt bát rượu xuống đất.

    Kiều Phong đưa mắt nhìn thẳng, thấy nàng mi thanh mục tú, tướng mạo khá xinh đẹp. Đêm hôm trước ở trong rừng hạnh, dưới ánh lửa chập chờn chàng nhìn chưa rõ mặt, có ngờ đâu một người đàn bà liễu yếu đào tơ như vậy lại ghê gớm thế. Chàng không nói gì, cầm bát lên uống một hơi cạn sạch, quay sang vẫy tay bảo người nhà lại rót đầy hai bát.

    Mã phu nhân lui ra, Từ trưởng lão bước lại, lầm lì bưng rượu uống luôn. Kiều Phong lại uống bát nữa. Đến khi Truyền Công trưởng lão uống xong, Chấp Pháp trưởng lão Bạch Thế Kính bước tới. Lão vừa cầm bát lên, Kiều Phong liền nói: “Khoan đã!” Bạch Thế Kính hỏi: “Kiều huynh có điều gì dặn bảo?” Ông ta trước nay đối với Kiều Phong vẫn một niềm kính cẩn, bây giờ lời lẽ âm điệu cũng chẳng khác xưa, chỉ không gọi là bang chủ mà thôi.

    Kiều Phong thở dài: “Chúng ta là huynh đệ đã bấy nhiêu năm, không ngờ ngày nay đã hóa ra cừu địch.” Bạch Thế Kính ứa nước mắt nói: “Thân thế Kiều huynh, tại hạ vốn đã nghe đồn đãi, khi đó dù đem chặt đầu cũng quyết không tin, ai ngờ… ai ngờ lại là thật. Nếu không phải vì chuyện cừu hận quốc gia, Bạch Thế Kính này thà chết cho rồi, không dám coi Kiều huynh là địch thủ.” Kiều Phong gật đầu nói: “Ta cũng biết thế. Nhưng bạn bè đã thành cừu địch, lát nữa không khỏi có một trường ác đấu, Kiều Phong này có một việc muốn ủy thác lại cho trưởng lão.” Bạch Thế Kính nói: “Miễn là việc đó không liên quan gì đến quốc gia đại sự, Bạch mỗ nhất định sẽ tuân theo.” Kiều Phong mỉm cười, chỉ vào A Châu nói: “Các vị huynh đệ Cái Bang, nếu như còn nhớ tới chút công lao nho nhỏ của Kiều mỗ trước kia, xin chiếu cố cho cô nương này được bình an.”

    Mọi người nghe mấy câu của chàng tựa như trăn trối, lại thấy chàng cùng bằng hữu uống với nhau mỗi người một bát, sau đó sẽ đại chiến một phen. Vô số hào kiệt Trung Nguyên liên hoàn vây đánh, ai cũng biết dù chàng có giết được tám người, mười người, sau cùng cũng không thể thoát chết. Quần hào tuy hận chàng là dòng giống rợ Hồ làm nhiều điều bất nghĩa, nhưng thấy những hành vi nghĩa hiệp khẳng khái kia vẫn không khỏi động lòng hào khí.

    Bạch Thế Kính cùng Kiều Phong giao tình rất hậu, nghe chàng nói mấy câu chẳng khác nào di ngôn lúc lâm chung, liền khẳng khái đáp: “Kiều huynh hãy yên tâm. Bạch Thế Kính này thế nào cũng cầu khẩn Tiết Thần Y ra tay chữa trị. Nếu như Nguyễn cô nương đây có mệnh hệ nào, Bạch mỗ sẽ tự vẫn để tạ tội với Kiều huynh,” Mấy câu đó quả là minh bạch, giả tỷ Tiết Thần Y không chịu chữa thì lão cũng không thể ép được, nhưng nhất định sẽ hết sức hết lòng.

    Kiều Phong nói: “Kiều mỗ đa tạ.” Bạch Thế Kính nói: “Đến khi giao thủ, Kiều huynh chẳng cần phải lưu tình. Nếu Bạch mỗ chết dưới tay Kiều huynh thì Cái Bang sẽ có người khác lo liệu cho Nguyễn cô nương.” Lão nói xong nâng bát rượu lên uống một hơi cạn sạch. Kiều Phong cũng cầm bát của mình uống cạn.

    Kế đó là bọn Tống trưởng lão, Hề trưởng lão của Cái Bang cùng chàng đối ẩm. Khi người của Cái Bang uống rượu tuyệt giao xong rồi, anh hào các bang hội môn phái khác lần lượt đến, mỗi người uống một bát. Mọi người càng lúc càng kinh hãi, xem ra chàng đã uống đến bốn, năm chục bát lớn rồi, một vò rượu to đã hết, người nhà lại khiêng vò khác đến. Thần sắc Kiều Phong vẫn thản nhiên, bụng chỉ hơi phình ra một chút, ngoài ra không thấy gì khác lạ. Ai nấy đều nghĩ “Nếu uống như thế thì say cũng đủ chết, việc gì còn phải ra tay động thủ?”

    Ngờ đâu Kiều Phong càng uống thì khí lực càng thêm, hơn nữa mấy hôm nay chàng bị oan khuất quá nhiều, trong lòng buồn bực chưa có chỗ phát tiết. Bây giờ chàng gác hết qua một bên, phóng tâm uống rượu.

    Chàng uống cạn năm chục bát lớn rồi, Bào Thiên Linh và Khoái Đao Kỳ Lục cũng đã uống xong, đến lượt Hướng Vọng Hải tiến lên cầm bát rượu nói: “Gã họ Kiều kia! Ta uống với ngươi một bát!” Giọng nói có vẻ vô lễ. Kiều Phong hơi men chếnh choáng, liếc mắt nhìn nói: “Kiều Phong này cùng anh hùng thiên hạ uống rượu là có ý xóa bỏ những ân nghĩa ngày xưa. Còn ngươi có kết giao gì với ta mà cũng đòi uống rượu tuyệt giao?” Nói đến đây, không đợi ý đáp lời, chàng tiến lên một bước vươn tay ra chộp ngay ngực y, hất tay một cái ném ra cửa sảnh. Hướng Vọng Hải va vào bức tường trước mặt nghe “binh” một tiếng, lập tức ngất xỉu. Biến cố đó khiến cho đại sảnh nhốn nháo cả lên.

    Kiều Phong nhảy ra giữa viện, lớn tiếng quát: “Ai ra đây tử chiến với ta?” Quần hùng thấy chàng thần oai lẫm liệt, nhất thời không một ai dám xông lên. Kiều Phong lại quát: “Các ngươi không động thủ thì ta ra tay trước.” Chàng vung tay lên, bình bình hai tiếng đã có hai người trúng Phách không chưởng ngã lăn ra. Kiều Phong thừa thế xông lên tay đấm chân đá, chỉ chớp mắt lại đánh ngã mấy người nữa.

    Du Ký la lên: “Anh em đứng tựa cả vào tường, đừng rối loạn như thế!” Trong đại sảnh tụ tập đến hơn ba trăm người, nếu như cùng hợp công, Kiều Phong có giỏi đến đâu cũng không chống cự nổi. Thế nhưng người nhiều mà đất hẹp, chỉ độ vài chục người đứng gần Kiều Phong, còn đao thương kiếm kích bốn bề múa loạn lên, phần lớn chỉ cốt để phòng giữ cho mình khỏi bị thương. Du Ký vừa hô lên, giữa đại sảnh lập tức giãn ra một khoảng trống.

    Kiều Phong quát lên: “Để ta lãnh giáo Du Thị Song Hùng ở Tụ Hiền Trang.” Chàng vừa nói vừa vung tay trái lên chụp lấy vò rượu nhắm mặt Du Ký liệng tới. Du Ký liền đưa hai tay chặn lại, định hất sang một bên, ngờ đâu Kiều Phong đã tính sẵn, tay phải lại phóng chưởng nghe ầm một tiếng, chiếc vò liền vỡ tan thành trăm ngàn mảnh. Những mảnh sành đó khá sắc bén, bị chưởng phong cực kỳ lợi hại của Kiều Phong quạt tung ra, thật chẳng khác gì ám khí Kim tiền tiêu. Mặt Du Ký trúng luôn ba mảnh chảy máu đầm đìa, hơn một chục người ở bên cạnh cũng bị vạ lây. Tiếng chửi rủa, kêu la loạn cả lên.

    Đột nhiên nơi góc nhà có tiếng một thanh niên kinh hoàng gọi: “Bá phụ! Bá phụ!” Du Ký nhận ra tiếng của Du Thản Chi, đứa con trai duy nhất của em mình, liếc qua thấy trên má y máu me đầm đìa, thì ra cũng bị mảnh vỡ đâm phải, bèn quát lớn: “Cút ngay đi, mi ở đây làm gì?” Du Thân Chi đáp: “Vâng!” Y co người lại nấp sau cột nhà, nhưng vẫn thò đầu ra xem.

    Kiều Phong chân trái liền đá một cái, lại thêm một chiếc vò rượu nữa bay vụt ra. Chàng toan phóng chưởng đánh vỡ, bỗng thấy sau lưng có một luồng chưởng lực nhu hòa âm thầm phóng tới. Phát chưởng đó tuy mềm mại ôn nhu, nhưng ẩn tàng nội công cực kỳ hùng hậu. Kiều Phong biết đây phải là một đại cao thủ ra tay, không dám coi thường, vội vàng thu tay về đỡ. Hai người nội lực đụng nhau, đều phải khựng lại. Kiều Phong quay đầu nhìn, thấy y tướng mạo thấp bé xấu xa, chính là kẻ vô danh Triệu Tiền Tôn Lý Chu Ngô Trịnh Vương, gọi tắt là Triệu Tiền Tôn. Chàng nghĩ bụng: “Gã này nội lực khá thật, ta không nên coi thường”, bèn hít một hơi chân khí, phóng ra một chưởng nữa mạnh chẳng khác gì bài sơn đảo hải. Triệu Tiền Tôn tự biết một chưởng không chống đỡ nổi, lập tức tung song chương để đối phó với một chưởng của đối phương. Người đàn bà đứng bên cạnh y quát lên: “Sư huynh không muốn sống nữa ư?” Bà vừa nói vừa nắm lấy y nhấc qua một bên tránh được. Thế nhưng chưởng lực của Kiều Phong vẫn ào ào đẩy tới, ba người đứng sau Triệu Tiền Tôn bị bật ngược đập mạnh vào tường khiến cho bức tường rung chuyển. Vôi vữa đất cát bung ra từng mảnh rơi xuống rào rào.

    Triệu Tiền Tôn nhìn lại xem ai kéo mình ra, thì chính là Đàm bà, cả mừng nói: “Tiểu Quyên! Nàng đã cứu mạng ta.” Đàm bà nói: “Ta sẽ đánh y bên mé tả, sư huynh đánh mé hữu.” Triệu Tiền Tôn vừa kịp đáp “được lắm” thì đã thấy một ông già nhỏ bé gầy gò nhảy tới bên Kiều Phong, chính là Đàm công. Y thân hình loắt choắt nhưng nội công thật là hùng hậu. Tay trái vừa đánh ra tay phải đã phóng theo, chưởng trước chưa thu về thì chưởng sau đã đánh tiếp. Y đánh liên hoàn ba chưởng như ba làn sóng xô nhau, chưởng nọ đè chưởng kia khiến cho sức mạnh gấp ba đơn chưởng. Kiều Phong hô lên: “Chiêu Trường Giang Tam Điệp Lãng tuyệt diệu!” Chàng đẩy tả chưởng ra nghênh đón, hai thân hình cùng rung động. Lúc đó Triệu Tiền Tôn và Đàm bà cũng giáp công, rồi lại thêm Từ trưởng lão, Truyền Công trưởng lão, Trần trưởng lão cùng nhảy vào vòng chiến.

    Truyền Công trưởng lão kêu lên: “Kiều huynh đệ, Khất Đan và Đại Tống không thể đứng chung, bọn ta phải vì chuyện công mà quên tình riêng. Lão huynh xin đắc tội.” Kiều Phong cười đáp: “Bát rượu tuyệt giao đã uống, còn kêu huynh gọi đệ làm gì nữa? Xem chiêu đây!” Chàng nói xong liền phóng ra một cước. Tuy ngoài miệng Kiều Phong nói thế, song trong lòng chàng vẫn chưa quên tình cố cựu. Đối với quần hào Cái Bang chẳng những chàng không muốn giết, mà còn không muốn làm xấu mặt họ trước mọi người, nên ngọn cước đến nửa chừng đột nhiên chuyển hướng. Khoái Đao Kỳ Lục rống một tiếng, vọt lên không.

    Không phải y cố ý phi thân mà bị đá trúng mông. Thanh đơn đao trong tay đang vận kình chém xuống đầu Kiều Phong, khi bị hất lên vẫn còn lực đạo, chém ngập vào xà nhà một thước rồi dính cứng vào đấy. Thanh đao đó là vũ khí nổi danh của Khoái Đao Kỳ Lục, hôm nay gã gặp phải cường địch khi nào lại dám bỏ? Tay phải y nắm chặt chuôi đao, thân hình treo lơ lửng trên không. Tình trạng này vừa quái đản vừa buồn cười, nhưng quần hào trong đại sảnh đang chiến đấu trí mạng với Kiều Phong, không ai dám phân tâm để mắt đến Kỳ Lục, cũng không ai rỗi hơi cười một tiếng.

    Từ khi Kiều Phong học võ đến nay đã đánh hàng trăm trận chưa chịu thua ai, nhưng bị nhiều cao thủ hợp lực vây đánh nguy hiểm như thế này thì bình sinh chưa gặp. Men rượu bốc lên ngùn ngụt, chàng múa tít song chưởng khiến đối phương không có cách nào đến gần được.

    Tiết Thần Y tuy y đạo tinh thông nhưng võ công không thể xếp vào hạng nhất được. Về y thuật, ông ta là một thiên tài siêu việt, dường như không cần học cũng biết. Ông ta cũng học võ từ nhỏ, sư phụ là một nhân vật tiếng tăm lừng lẫy, nhưng năm xưa bỗng dưng Tiết Thần Y cùng bảy anh em đồng môn bị trục xuất khỏi môn phái. Ông đành phải tự mình dùng y |thuật để trao đổi võ công với người khác, bên đông học một chiêu, bên tây học một thức nên hiểu rộng biết nhiều, trên giang hồ ít ai bằng. Thế nhưng biết rộng về võ thuật cũng có cái hại là vì quá ôm đồm, không môn nào luyện được tới nơi, chẳng khác gì ăn nhiều nhai không kỹ.

    Danh tiếng y thuật như thần của ông lừng lẫy khắp nơi, ai cũng kính phục mấy phần. Nhưng mỗi khi ông hỏi đến võ nghệ là người ta đưa đẩy lấy lòng, chẳng ai chịu nói thực. Chính vì thế mà ông không khỏi tự đắc, cứ tưởng rằng võ công thiên hạ mười phần thì mình đã biết được tám chín. Lúc này Tiết Thần Y thấy Kiều Phong đấu với quần hùng, xuất thủ cực nhanh mà chiêu nào cũng cương mãnh phi thường, quả thật dẫu có nằm mơ cũng chẳng thấy. Ông không tưởng tượng được trên đời lại có người bản lãnh ghê gớm đến thế. Tiết Thần Y sợ tái mặt, trống ngực đánh hơn trống làng, không thốt nên lời, không nghĩ đến chuyện xông ra động thủ nữa.

    Ông đứng dựa vào tường, mỗi lúc một sợ hãi thêm, đã toan lẳng lặng lẻn ra khỏi đại sảnh nhưng lại không dám, nhìn qua thấy một lão tăng đứng ngay bên cạnh mình, chính là Huyền Nạn. Ông sực nhớ lại một việc hết sức ăn năn nên quay sang nói: “Đại sư phụ! Mới rồi tại hạ có nói một câu vô lễ, xin đại sư miễn trách cho.”

    Huyền Nạn bao nhiêu tâm trí để cả vào Kiều Phong, không nghe Tiết Thần Y nói gì, phải nghe nhắc lại lần nữa mới ngạc nhiên hỏi lại: “Cư sĩ có nói gì thất lễ đâu?” Tiết Thần Y đáp: “Lúc nãy tại hạ có nói: Kiều huynh một thân một mình vào chùa Thiếu Lâm mà không rụng một sợi tóc, lại còn bắt được một vị cao tăng đem đi, quả thật là lạ.” Huyền Nạn hỏi lại: “Thế thì đã sao?” Tiết Thần Y bẽn lẽn đáp: “Võ công Kiều Phong cao đến độ trên thế gian ít người bì kịp. Đến lúc này tại hạ mới biết y vào chùa Thiếu Lâm bắt được người là phải, quả khó mà ngăn trở.”

    Bản ý Tiết Thần Y nói câu này để xin lỗi Huyền Nạn. Song đại sư nghe xong lại càng khó chịu, bèn hừ một tiếng nói: “Phải chăng Tiết Thần Y muốn khảo sát võ công của phái Thiếu Lâm?” Ông không đợi trả lời, từ từ bước ra khẽ phất tay áo rộng thùng thình, kình phong phát ra vù vù đánh thẳng vào Kiều Phong. Đó là một trong bảy mươi hai tuyệt kỹ của phái Thiếu Lâm tên là Tụ Lý Càn Khôn, tay áo phất lên che khuất quyền kình từ bên dưới đánh ra. Xưa nay Thiếu Lâm Tự vẫn lấy chuyện tham thiền học Phật là gốc, còn luyện võ tập quyền là ngọn, chỉ giận dữ bực bội cũng là phạm giới, huống hồ ra tay đánh nhau? Thế nhưng chùa Thiếu Lâm là nguồn gốc của võ học thiên hạ mấy trăm năm qua, làm sao tránh né việc chiến đấu được. Môn Tụ Lý Càn Khôn này giấu quyền trong tay áo thật là kín đáo, đối phương không thể phán đoán được hướng đánh nên khó mà đỡ cho kịp. Hơn nữa, kình lực của cánh tay áo đó cũng ghê gớm, nếu kẻ địch đem hết tinh thần chú ý vào quyền chiêu giấu bên trong, thì vị đại sư sẽ biến khách thành chủ, dùng tụ lực đả thương người.

    Kiều Phong thấy đòn đánh tới, hai cánh tay áo rộng căng phồng như hai cánh buồm no gió, uy thế cực kỳ mãnh liệt, bất giác lớn tiếng: “Tụ Lý Càn Khôn quả là ghê gớm!” Chàng vừa hô vừa phóng một chưởng, trúng vào tay áo nhà sư. Tụ lực của Huyền Nạn trải ra một khoảng rộng, còn chưởng lực của Kiều Phong tập trung theo một đường nên khi hai luồng lực đạo chạm nhau chỉ nghe phần phật mấy tiếng, rồi trong đại sảnh xuất hiện một đàn bướm màu xám tro.

    Quần hùng cả kinh, nhìn kỹ lại thì ra đàn bướm đó chính là những mảnh tay áo Huyền Nạn bị bay tung lên. Ai cũng quay lại nhìn ông, thấy áo rách đến tận nách để lộ hai cánh tay gầy guộc dài ngoẵng, trông rất khó coi. Thì ra nội kình hai người xung kích, hai cánh tay tăng bào không chịu nổi, lập tức nát vụn ra.

    Chỉ qua một chiêu, Huyền Nạn mất hai ống tay áo, tụ lý không còn tất nhiên càn khôn cũng mất. Nhà sư giận muốn phát điên, sắc mặt xám xanh, có ngờ đâu tuyệt kỹ thành danh của mình bị Kiều Phong phá tan tành. Ông quả là mất mặt, liền múa tít song quyền tấn công tới tấp. Mọi người ai ai cũng biết đây chính là Thái Tổ Trường Quyền lưu hành rộng rãi trong dân gian. Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn chỉ nhờ vào một đôi quyền, một cây bổng mà thu được giang sơn cẩm tú, lập nên nhà Đại Tống. Các vị hoàng đế từ xưa tới nay không có ai thần dũng như Tống Thái Tổ, cho nên hai môn Thái Tổ Trường Quyền và Thái Tổ Bổng là phổ biến nhất thời đó, dẫu người chưa tập mà nhìn thấy cũng biết ngay.

    Quần hùng thấy vị cao tăng Thiếu Lâm lừng danh lại sử thứ quyền pháp rất thông thường chẳng có chi kỳ dị thì không khỏi ngạc nhiên. Nhưng khi lão tăng đánh ra ba quyền rồi, ai nấy đều phải trầm trồ: “Phái Thiếu Lâm nổi tiếng không phải ngẫu nhiên. Chỉ một chiêu Thiên Lý Hoành Hành ai cũng biết mà ông ta đánh ra uy lực đến thế.” Quần hào bội phục, nên cái hình ảnh tăng bào rách nát của Huyền Nạn không ai để ý đến nữa.

    Khi Huyền Nạn xuất thủ, mấy chục người đang vây đánh Kiều Phong đều biết không tiện giáp công, lùi lại hết, chỉ bao vây trùng điệp đề phòng Kiều Phong tẩu thoát, ngưng thần quan sát hai bên quyết chiến.

    Kiều Phong thấy mọi người lùi ra xem, trong bụng nảy ra một ý, hô lên một tiếng đánh ra chiêu Xung Trận Trảm Tướng, cũng ở trong Thái Tổ Trường Quyền. Chàng xuất chiêu đó trông nhẹ nhàng ung dung mà kình lực gồm đủ cả nhu lẫn cương. Quyền thuật đạt đến mức hoàn mỹ thì chỉ một chiêu cũng đủ thấy. Những người đến tham dự đại hội Anh hùng yến, nếu võ công không cao cường thì kiến thức cũng quảng bác, chỗ tinh yếu trong Thái Tổ Trường Quyền không ai không biết. Kiều Phong vừa ra chiêu, mọi người bất giác bật lên tiếng reo hò khen ngợi.

    Sau khi buột miệng hoan hô, nhiều người cảm thấy hối hận vì nhớ ra Kiều Phong là một kẻ đại địch. Reo hò như thế là cổ võ nhuệ khí đối phương mà tiêu giảm oai phong bên mình. Thế nhưng tiếng hò reo đã ra khỏi miệng rồi không thu về được nữa. Kiều Phong đánh ra chiêu thứ hai Hà Sóc Lập Uy cũng tinh diệu đến chỗ cùng cực, so với chiêu thứ nhất thực khó mà phân biệt được chiêu nào hay hơn chiêu nào, trong đại sảnh lại có một phen hô hoán. Nhiều người đã cảnh giác nên tiếng hò reo không vang dội như lần thứ nhất, nhưng cũng lắm tiếng xuýt xoa nho nhỏ “Ái chà!”, “Ôi chao!”… nghe còn sướng tai hơn lớn tiếng tán dương. Ban đầu Kiều Phong cùng mọi người ác đấu, quần hùng chỉ chuyên tâm chống đỡ, sợ chàng đánh đòn hung mãnh. Lúc này tạm thời bàng quan đứng xem mới thấy rõ võ công chàng tinh diệu tuyệt luân.

    Kiều Phong và Huyền Nạn trao đổi được bảy tám chiêu, ai cao ai thấp đã rõ. Hai người đều sử dụng những quyền chiêu bình thường không có gì kỳ lạ, nhưng Kiều Phong chiêu nào cũng nhường cho Huyền Nạn ra tay trước. Huyền Nạn xuất chiêu rồi, Kiều Phong mới trả đòn, nhưng không hiểu vì chàng tuổi trẻ tráng kiện, hay là thân thủ nhanh nhẹn hơn mà chiêu nào cũng ra sau tới trước. Thái Tổ Trường Quyền vốn chỉ có sáu mươi tư chiêu, chiêu nào cũng khắc chế lẫn nhau, Kiều Phòng nhìn rõ quyền chiêu của đối phương rồi sau đó mới ra chiêu áp đảo thì làm gì mà Huyền Nạn chẳng thua? Đạo lý đó ai mà chẳng biết, thế nhưng dám đem bốn chữ Hậu Phát Chế Nhân áp dụng vào một đại cao thủ như Huyền Nạn, mọi người nếu không chính mắt thấy thì không thể nghĩ đến.

    Huyền Tịch thấy Huyền Nạn che tả đỡ hữu rõ ràng không địch nổi, liền quát mắng: “Ngươi là giống chó má Khất Đan, dùng thủ đoạn ti tiện.” Kiều Phong thản nhiên đáp: “Tại hạ sử dụng quyền pháp chính tông của Thái Tổ bản triều, sao đại sư lại dùng hai chữ ti tiện?”

    Quần hùng nghe nói thế liền hiểu ngay vì sao chàng lại sử Thái Tổ Trường Quyền. Nếu Kiều Phong dùng một loại võ công khác để đánh bại Thái Tổ Trường Quyền, mọi người sẽ đổ tội cho chàng là làm nhục võ công khai quốc của Thái Tổ, càng làm sâu thêm thù nghịch Hồ Hán phân tranh. Đằng này cả hai bên đều sử Thái Tổ Trường Quyền thì ngoài việc so sánh võ công cao thấp, không còn chỗ nào để nhiếc móc nữa.

    Huyền Tịch thấy Huyền Nạn chỉ trong chớp mắt nữa là nguy hiểm đến tính mạng, không nói gì, vèo một tiếng phóng chỉ nhắm ngay huyệt Tuyền Cơ của Kiều Phong, chính là tuyệt kỹ điểm huyệt của phái Thiếu Lâm có tên là Thiên Trúc Phật Chỉ.

    Kiều Phong vừa nghe tiếng gió liền nghiêng người tránh né, nói: “Kiều mỗ ngưỡng mộ danh tiếng của Thiên Trúc Phật Chỉ đã lâu, quả nhiên lợi hại! Tuy nhiên đại sư dùng võ công của người Hồ Thiên Trúc, tấn công quyền pháp của Thái Tổ bản triều, lỡ mà thắng được tại hạ thì há chẳng mang tiếng thông Phiên mại quốc, làm nhục Trung Hoa hay sao?” Huyền Tịch nghe thế bất giác rùng mình. Hôm nay quần hùng vây đánh Kiều Phong chỉ vì cho rằng chàng là rợ Hồ Khất Đan. Võ công phái Thiếu Lâm do Đạt Ma lão tổ truyền thụ, mà Đạt Ma lại là người Hồ ở Thiên Trúc. Tuy nhiên phái Thiếu Lâm lập nên ở Trung Thổ, mọi môn phái của Trung Quốc đều có liên quan ít nhiều đến phái Thiếu Lâm, nên mọi người cơ hồ đã lãng quên mối liên quan đó. Bây giờ nghe Kiều Phong nói ra, ai nấy trong lòng chấn động.

    Trong quần hùng nhiều người có kiến thức, không khỏi nghĩ: “Chúng ta kính trọng Đạt Ma lão tổ như một vị thần minh, sao lại hận người Khất Đan đến tận xương tủy, cả hai đâu cùng dòng giống với mình? Ồ, bởi vì hai giống đó khác nhau xa. Người Thiên Trúc xưa nay đâu có giết hại người Trung Quốc, còn người Khất Đan thì hung dữ như lang sói. Như vậy không phải cứ thấy người Hồ là giết, cũng còn phải phân biệt thiện ác nữa. Thế thì bọn Khất Đan kia liệu có ai là người tốt hay không?” Lúc đó trong đại sảnh đang hồi kịch đấu, số đông thô lỗ không biết suy nghĩ thì chẳng nói làm gì, còn những người hiểu biết suy nghĩ đến đó rồi cũng bỏ qua, trong lòng chỉ băn khoăn: “Kiều Phong chưa hẳn đáng giết, cái lý của bên mình cũng chưa hẳn chắc như đinh đóng cột.”

    Huyền Nạn, Huyền Tịch lấy hai địch một mà vẫn thủ nhiều công ít. Huyền Nạn thấy Thái Tổ Trường Quyền của mình chiêu nào cũng bị khống chế, trói chân trói tay không thi triển được, đến lúc Huyền Tịch xông vào tấn công lập tức biến đổi quyền pháp sang La Hán Quyền của phái Thiếu Lâm.

    Kiều Phong cười nhạt nói: “La Hán Quyền cũng do người Hồ Thiên Trúc đem sang. Để xem võ công người Hồ lợi hại hay võ công Đại Tống lợi hại.” Chàng vừa nói vừa liên tiếp đánh ra mấy đòn Thái Tổ Trường Quyền nghe vù vù. Mọi người đều không biết phải cãi thế nào. Quần hào đến vây đánh chỉ vì đối phương là người Hồ, thế nhưng bên mình thì lại dùng võ công gốc tích Phiên bang, còn chính y lại sử dụng trường quyền do Thái Tổ bản triều sáng tạo.

    Bỗng nghe Triệu Tiền Tôn lớn tiếng hò hét: “Gã này giết cha, giết mẹ, giết thầy, sử dụng quyền pháp gì thì cũng đáng chết. Tất cả mọi người cùng tiến lên đi.” Y miệng thì la, chính mình cũng xông vào đầu tiên. Kế đó Đàm công, Đàm bà, Từ trưởng lão, Trần trưởng lão của Cái Bang rồi cha con nhà Thiết Diện Phán Quan họ Đơn… tất cả đến mấy chục người cùng ùa lên. Những người đó đều là hảo thủ võ công cao cường, đông mà không loạn, người này lên thì kẻ kia xuống chẳng khác gì xa luân chiến.

    Kiều Phong múa chưởng đánh ra, vừa đánh vừa nói: “Các vị bảo ta là người Khất Đan, thế thì Kiều Tam Hòe phu phụ có phải cha mẹ ta đâu. Chưa nói tới chuyện ta cực kỳ kính ái hai vị lão nhân gia tuyệt không có ý gia hại, mà dù ta có giết thì cũng không thể đổ lên đầu ta cái tội giết cha, giết mẹ được. Huyền Khổ đại sư là thu nghiệp ân sư của ta, nếu buộc tội ta giết thầy, thì Kiều mỗ phải là đệ tử Thiếu Lâm, các vị sao lại vây đánh một đệ tử Thiếu Lâm?”

    Huyền Tịch hừ một tiếng, nói: “Ngươi chỉ giành phần phải về mình, cưỡng từ đoạt lý.” Kiều Phong đáp trả ngay: “Nếu đã giành được phần phải thì không thể gọi là cưỡng từ đoạt lý. Nếu các vị không thừa nhận ta là đệ tử Thiếu Lâm thì không thể đổ cái tội giết thầy lên đầu ta được. Các vị muốn giết ta thì cứ quang minh lỗi lạc ra tay, việc gì phải đổ lên đầu ta vô số tội ác? Thế mới là cưỡng từ đoạt lý” Chàng miệng nói hùng hồn mà tay chân không ngừng chút nào, tay đấm Đơn Thúc Sơn, chân đá Triệu Tiền Tôn, khuỷu thúc một đại hán áo xanh chưa gặp, chưởng đánh một ông già râu bạc quên mất tên, vừa nói vừa đánh luôn bốn người. Kiều Phong biết những người này không phải là phường gian ác nên hạ thủ vẫn lưu tình, đã mười bảy mười tám người trúng đòn nhưng không ai đến nỗi chí mạng. Còn với huynh đệ Cái Bang thì lại càng lịch sự, Từ trưởng lão vừa xông đến, chàng liền né ra chỗ khác. Thế nhưng đối phương đông người quá, đánh ngã mười người thì lại có một chục đầy sinh lực xông vào thay thế. Một lát sau Kiều Phong nghĩ thầm: “Nếu cứ đánh mãi thế này trước sau gì mình cũng kiệt sức, tìm cách chạy trước đi là hơn.” Chàng vừa ra chiêu vừa tìm đường đào tẩu.

    Triệu Tiền Tôn đang nằm dưới đất không cử động được, nhưng vẫn phát hiện ra ý định của Kiều Phong, liền lớn tiếng nói: “Mọi người cố gắng lấy mạng tên chó má này, đừng để trốn thoát.” Kiều Phong chiến đấu đang hăng, hơi rượu bốc lên cùng với lửa giận mỗi lúc một cao. Nghe Triệu Tiền Tôn lên tiếng nhục mạ mình, không kiềm chế được nữa, chàng quát lớn: “Thằng chó má này lấy mạng ngươi đầu tiên.” Kiều Phong vừa quát vừa vận kình vào cánh tay, phóng Phách Không Chưởng nhằm đánh Triệu Tiền Tôn. Huyền Nạn và Huyền Tịch cùng kêu lên: “Nguy mất!” Hai người lập tức đưa tay phải đỡ phát chưởng của Kiều Phong để cứu mạng Triệu Tiền Tôn.

    Bỗng từ trên không một bóng người thấp thoáng rồi có tiếng kêu rống lên thảm thiết. Người này trước ngực trúng chưởng của Huyền Nạn, Huyền Tịch, sau lưng trúng Phách Không Chưởng của Kiều Phong, ba luồng lực đạo cùng ép lại, khiến y gân cốt đứt đoạn, phủ tạng tan nát, phun máu miệng ra, nằm mềm oặt dưới đất như một đống bùn.

    Biến cố này làm cho Huyền Nạn, Huyền Tịch phải kinh hãi, cả Kiều Phong cũng không khỏi ngạc nhiên. Thì ra đó chính là Khoái Đao Kỳ Lục. Y treo lơ lửng trên không cũng đã lâu, cố đong đưa người cho thanh đao bập vào xà nhà lỏng ra. Lúc y rơi xuống lại vừa đúng lúc ba người dùng toàn lực phóng chưởng, thật chẳng khác nào kê giữa đe sắt với búa tạ thì làm gì mà không nát người ra?

    Huyền Nạn nói: “A Di Đà Phật! Thiện tại! Thiện tai! Kiều Phong, ngươi lại gây thêm đại nghiệt.” Kiều Phong cả giận nói: “Ta chỉ giết gã có một nửa, sư huynh đệ các người hợp lực lại giết gã một nửa. Sao lại đổ cả cho ta?” Huyền Nạn đáp: “A Di Đà Phật! Tội nghiệt! Tội nghiệt! Nếu ngươi không hại người trước thì làm gì có trận đấu ngày hôm nay?”.

    Kiều Phong càng giận dữ nói: “Được lắm! Mọi việc cứ trút hết vào ta đi, thế thì đã sao?” Trong lúc ác chiến, tính hung dữ nổi lên, Kiều Phong tung hoành chẳng khác gì một con mãnh thú. Chàng vung tay phải chộp trúng một người chính là Đơn Trọng Sơn, đứa con trai thứ của Đơn Chính, tay trái đoạt lấy đơn đao trong tay y rồi cầm đập xuống một cái, đầu Đơn Trọng Sơn nát bét chết ngay tại chỗ. Quần hùng la lối om sòm, vừa kinh hãi vừa căm giận.

    Kiều Phong giết người rồi, ra tay lại càng điên cuồng, tay phải khi vung quyền khi phóng chưởng, tay trái cầm đơn đao khi phạt ngang khi chém xuống, uy thế cực kỳ mãnh liệt không ai đương cự nổi. Mấy bức tường trắng nhòe nhoẹt đầy máu tươi, dưới nền đại sảnh ngổn ngang xác chết, kẻ thì đầu một nơi mình một nẻo, kẻ thì cụt chân lòi ruột. Lúc này chàng không thể nghĩ đến tình cố cựu Cái Bang nữa, cũng chẳng còn nhìn xem đối thủ là ai, mắt đỏ long lên sòng sọc, gặp ai giết nấy. Hề trưởng lão cũng bỏ mạng dưới lưỡi đao của chàng.

    Hào kiệt đến dự Anh hùng yến, mười phần thì tám chín đã từng giết người, nổi tiếng võ lâm không phải chỉ nhờ vào giao du, nịnh nọt. Dù ai chưa chính tay giết người thì việc sát nhân phóng hỏa cũng đã thấy nhiều. Thế nhưng cuộc ác đấu kinh tâm động phách như hôm nay thì bình sinh chưa ai thấy qua. Địch nhân chỉ có một người nhưng nửa như mãnh thú, nửa như ma quỉ, thoắt ở bên này thoắt qua bên kia chém giết lung tung. Rất đông cao thủ tiến lên tiếp chiến đều bị chàng dùng những chiêu thức vừa nhanh nhẹn, vừa mạnh bạo, vừa độc địa, vừa tinh vi đánh chết. Địch thủ như con mãnh hổ điên cuồng, võ công lại không ai địch nổi, trong đại sảnh máu huyết vung vãi xác người ngổn ngang, tai nghe tiếng người sắp chết kêu la thảm thiết, tuy quần hùng không phải là hạng nhát gan sợ chết mà có đến già nửa muốn tháo chạy ra khỏi đại sảnh, dù Kiều Phong có tội hay vô tội cũng không dây dưa gì nữa.

    Du Thị Song Hùng thấy tình hình bất lợi, hai người tay trái cầm khiên, tay phải cầm đoản thương, đơn đao, hô lên một tiếng, múa khiên hộ thân xông vào hai bên tả hữu Kiều Phong. Kiều Phong đang lúc cuồng đả loạn sát không còn kiêng nể gì nữa, song vẫn chú ý nhìn chiêu thức đối phương, tâm ý không loạn chút nào nên vẫn giữ được chưa bị thương. Chàng thấy hai anh em họ Du tấn công tư thế độc địa, lập tức vù vù chém hai người hai bên ngã xuống để chiếm lấy tiên cơ, rồi xông vào tấn công Du Ký. Đao của chàng vừa chém xuống, Du Ký liền đưa khiên lên đỡ, nghe choang một tiếng, đơn đao của Kiều Phong bật trở lại, lưỡi dao quằn lên không còn dùng được nữa. Hai chiếc khiên của anh em họ Du đúc bằng thép nguyên chất bảo kiếm cũng không chặt nổi, huống chi trong tay Kiều Phong chỉ có một thanh cương đao tầm thường đoạt được trong tay Đơn Trọng Sơn?

    Du Ký múa khiên gạt được binh khí địch rồi, ngọn đoản thương trong tay liền sử thế Độc Xà Xuất Động, luồn dưới khiên ra, đâm vào bụng dưới Kiều Phong. Cùng lúc đó hàn quang lấp loáng, chiếc khiên trong tay Du Câu cũng quét vào hông đối phương.

    Kiều Phong nhanh mắt nhìn thấy mép chiếc khiên cực kỳ sắc bén chẳng khác gì một lưỡi đại phủ hình tròn, nếu bị quét trúng thân hình chắc chắn đứt đôi, quả là lợi hại vô cùng. Chàng liền quát lên “giỏi lắm!” rồi quăng thanh đao mẻ đi, hai tay đấm hai quyền vào giữa đôi khiên của hai đối thủ nghe choang choảng hai tiếng lớn. Du Thị Song Hùng thấy thân trên tê buốt, bị một quyền vô cùng hùng hậu của Kiều Phong làm chấn động đến mắt nổ đom đóm, hai cánh tay ê ẩm cầm không vững, cặp khiên cùng thương đao bốn món binh khí loảng xoảng rơi xuống. Tay trái hai người đều bị toạc hổ khẩu, máu chảy đầm đìa.

    Kiều Phong cả cười nói: “Tốt lắm! Để hai món lợi khí này cho ta!” Chàng cướp lấy hai chiếc khiên, múa lên che đỡ. Cặp cương thuẫn này quả là khí giới vừa , công vừa thủ cực kỳ lợi hại, chỉ nghe mấy tiếng rú “Trời ơi!” “Chao ôi!” đã có năm người chết vì hai chiếc khiên.

    Du Thị huynh đệ mặt mày xám ngoét, thần khí không còn. Du Ký kêu lên: “Hiền đệ! Sư phụ đã dạy rằng khiên còn người còn, khiên mất người chết.” Du Câu cũng đáp lại: “Đại ca! Hôm nay anh em mình thật là đại nhục, còn mặt mũi nào sống ở trên đời?” Hai người nhìn nhau gật đầu một cái, nhặt lấy đao thương của mình đâm cổ tự vẫn. Quần hùng cùng kêu lên: “Ối chà !” Thế nhưng đang lúc Kiều Phong múa cương thuẫn như gió cuốn, chẳng ai dám tới gần, mà dẫu có người dám cũng chẳng thể nhảy vào để cứu viện Du Thị huynh đệ được. Chỉ nghe tiếng một thanh niên khóc rống lên: “Gia gia! Bá phụ!” Chính là Du Thản Chi, con trai Du Câu..

    Kiều Phong sững sờ, không ngờ Du Thị huynh đệ của Tụ Hiền Trang lại tự sát. Chàng cảm thấy sống lưng ớn lạnh, hơi men tiêu đi quá nửa, trong lòng không khỏi bàng hoàng, nói: “Du gia huynh đệ sao lại phải tự vẫn? Ta trả lại các vị đôi cương thuẫn này.” Nói xong, chàng cung kính đặt hai chiếc khiên cạnh xác của Du Thị Song Hùng.

    Kiều Phong vừa cúi xuống chưa kịp đứng lên, bỗng nghe có tiếng một thiếu nữ kinh hãi la lên: “Cẩn thận!” Chàng lập tức nhích qua bên trái, ánh sáng xanh lấp loáng, một thanh kiếm đâm vụt ngang hông.

    Giả tỷ A Châu không kêu lên, chiêu kiếm đó cũng chưa chắc đâm trúng, nhưng thể nào chân tay chàng cũng luống cuống, mất thế thượng phong. Người đánh lén chính là Đàm công, lão đâm không trúng liền vội vàng nhảy ra thật xa.

    Trong khi Kiều Phong giao chiến với quần hùng thì A Châu nép tại một góc sảnh, nguyên khí trong người dần dần tiêu tán. Nàng thấy mọi người vây đánh Kiều Phong, nghĩ thầm: “Kiều đại gia đã biết là hung hiểm mà vẫn dấn thân đưa mình tới đây xin chữa bệnh. Ơn đức ấy dù ta tan xương nát thịt cũng khó mà báo đáp.”. Nàng trong lòng cảm kích, lúc thấy Kiều Phong trả lại cương thuẫn bất giác lo lắng, khi thấy Đàm công đánh lén liền kêu lên cảnh giác.

    Đàm bà giận dữ nói: “Con tiểu quỷ này gớm thật! Ta không giết mi thì mi còn nối giáo cho giặc.” Bà ta lạng người đi một cái, vung chưởng đánh xuống đỉnh đầu A Châu. Phát chưởng còn cách nửa thước thì Kiều Phong đã tung mình nhảy tới, chộp ngay lưng bà xô mạnh qua một bên, đụng “uỳnh” vào một chiếc ghế bành bằng gỗ lê, ghế vỡ vụn ra từng mảnh. A Châu tuy chưa bị trúng chưởng, nhưng bỗng mặt mày xám ngắt, người nhũn ra quỵ dần xuống Kiều Phong kinh hoàng nghĩ thầm: “Trong người nàng lại hết chân khí rồi. Ta đang bị vây đánh rát thế này, làm sao mà tiếp chân khí cho nàng được?”

    Tiết Thần Y cất tiếng lạnh lùng nói: “Cô nương này chỉ lát nữa là chân khí tiêu tán hết. Ngươi có truyền nội lực cho cô ta nữa không? Nếu để tuyệt khí đứt hơi rồi thì thần tiên cũng không cứu sống lại được nữa.” Kiều Phong lâm vào cảnh khó xử, biết Tiết Thần Y nói vậy là đúng sự thật. Nhưng nếu mình ra tay giúp đỡ A Châu thì bao nhiêu món binh khí của quần hùng chung quanh sẽ nhắm mình mà phóng tới. Trong đám này kẻ thì chết con, người thì mất bạn bè, ra tay còn dung tình gì nữa? Thế nhưng đứng giương mắt nhìn nàng đoạn khí mà chết thì cũng không xong.

    Chàng mạo hiểm đưa A Châu đến Tụ Hiền Trang, đã không được Tiết Thần Y ra tay chữa trị, lại để chết vì hết chân khí thì quả là đáng tiếc. Thế nhưng nếu lúc này chàng lại truyền chân khí giữ mạng cho cô ta thì đúng là đem một mạng đổi một mạng. A Châu bất quá chỉ là một cô thị tỳ giữa đường gặp gỡ, cũng chưa có gì gọi là giao tình, chàng ra tay cứu giúp chỉ là hành vi nghĩa hiệp bình thường, nếu đem mạng mình đổi lấy mạng cô ta, thì quả là hơi quá đáng. Kiều Phong nghĩ thầm: “Cô ta chẳng phải thân nhân, cũng không phải có ơn nghĩa gì với mình mà cần báo đáp, mình cố đến thế này cũng đã là hết lòng hết dạ rồi. Ta phải bỏ chạy ngay, Tiết Thần Y có cứu cô ta hay không thì trông vào vận số.”

    Kiều Phong liền cúi xuống nhặt đôi cương thuẫn lên lại, sử chiêu Đại Bằng Triển Xí, hai luồng bạch quang lấp loáng cuồn cuộn bọc quanh mình, từ từ tiến ra cửa sảnh. Quần hùng tuy đông người thật nhưng chiêu số của Kiều Phong ghê gớm, đôi khiên lợi hại vô cùng, thành ra không ai dám tới gần hơn một trượng. Chàng tiến được mấy bước, chân vừa đặt vào ngạch cửa, bỗng nghe giọng nói lạnh tanh của một lão già: “Giết con thị tì này trước đã, rồi sau sẽ báo thù!” Chính là tiếng Thiết Diện Phán Quan Đơn Chính. Đứa con trưởng của ông ta là Đơn Bá Sơn liền đáp: “Vâng!” Y vung đơn đao nhắm ngay đầu A Châu chém xuống.

    Kiều Phong cực kỳ kinh ngạc, không suy nghĩ gì nữa, lia chiếc khiên bên trái ra. Cương thuẫn xoay vòng vòng bay tới, thế đi vô cùng mãnh liệt. Bảy tám người đồng thanh la lên: “Coi chừng!” Đơn Bá Sơn vội vàng thu đao về đỡ gạt, thế nhưng hình lực Kiều Phong ném ra thật ghê gớm, cạnh chiếc khiên lại sắc bén vô cùng, chỉ nghe một tiếng choảng, cả người lẫn đao của Đơn Bá Sơn đứt làm hai đoạn, Dư lực của cương thuẫn vẫn còn, tiếp tục bay tới chặt đứt thêm một cái cột, ngói trên mái nhà loảng xoảng rơi xuống.

    Đơn Chính và ba đứa con còn lại đau lòng kêu rống lên. Thấy Kiều Phong lẫm lẫm thần uy, không ai dám công kích, nhưng sáu bảy người xông vào A Châu. Kiều Phong cất tiếng mắng: “Thật là đồ hèn mạt!” Veo véo liên tiếp bốn chưởng, chàng đánh dạt bọn đó ra rồi sấn lên, tay trái ôm A Châu, lấy chiếc khiên che cho nàng.

    A Châu thều thào: “Kiều đại gia! Tiểu nữ không sống được nữa rồi, đừng lý tới nữa. Đại gia mau mau tẩu thoát đi.”

    Kiều Phong thấy bọn này chẳng còn nghĩ gì tới công đạo, cả đám xông vào hiếp đáp một cô gái yếu đuổi đang hấp hối. Chàng nổi cơn cao ngạo, lớn tiếng nói: “Đã đến nước này, bọn chúng không để cho cô sống đâu. Chúng ta cùng chết nơi đây vậy.” Kiều Phong lại xoay tay phải cướp được một thanh trường kiểm, đâm chém tứ tung. Tay trái chàng ôm A Châu nên cử động không thuận lợi, lại thiếu đi một cánh tay để sử dụng. Thế nhưng Kiều Phong đã đến lúc không coi sống chết vào đâu nữa, múa tít thanh trường kiếm rảo bước đi ra. Vừa đi được hai bước, lưng bỗng đau nhói lên, thì ra đã bị người nào đó chém trúng một đao rồi.

    Kiều Phong liền phóng chân đi ngược về sau, hất kẻ đó văng ra một trường đụng vào một người khác, cả hai cùng chết ngay. Thế nhưng ngay lúc đó, vai của chàng lại bị đâm một mũi thương, rồi ngực lại bị đâm một kiếm. Chàng gầm lên một tiếng như sấm nổ, quát lớn: “Kiều Phong này biết tự xử lấy mình, quyết không để chết vào tay lũ chuột.”

    Nhưng quần hùng đang đắc thắng, khi nào chịu để chàng tự vẫn, hơn chục người cùng xông lên. Kiều Phong phấn khởi thần uy, tay phải vươn ra chộp trúng huyệt Đản Trung của Huyền Tịch, thuận tay giơ cao nhà sư lên. Mọi người kêu lên một tiếng, bất giác cùng lùi lại mấy bước.

    Huyền Tịch đã bị nắm trùng yếu huyệt rồi, dẫu võ công cao cường nhưng toàn thân tê liệt, không còn cử động gì được. Nhà sư thấy yết hầu mình chỉ còn cách cương thuẫn chừng một thước, Kiều Phong chỉ nhích tay một cái là đầu ông sẽ bị cắt đứt ngay, nên chỉ còn nước thở dài nhắm mắt chờ chết.

    Kiều Phong cảm thấy sau lưng, ngực phải, vai phải, ba chỗ bị thương cùng đau buốt như bị lửa đốt, lửa giận hạ xuống, bình tĩnh lại, liền nói: “Bản lĩnh của ta khởi đầu từ Thiếu Lâm Tự mà ra. Uống nước phải nhớ nguồn, không lẽ lại hạ sát cao tăng phái Thiếu Lâm? Hôm nay Kiều mỗ đằng nào cũng chết, giết thêm một người cũng chẳng ích gì.” Nói xong ông ném Huyền Tịch xuống đất, giang tay ra lớn tiếng nói: “Các ngươi ra tay đi!”

    Quần hùng nhìn nhau ngơ ngác, bị hào khí của chàng làm cho sững sờ, nhất thời không ai muốn động thủ. Lại có người nghĩ thầm: “Đến như Huyền Tịch lúc này y còn không muốn giết, lẽ nào lại ám hại sư phụ là Huyền Khổ đại sư?”

    Thế nhưng Đơn Chính mới bị Kiều Phong giết chết hai đứa con trai, thương tâm phấn khích, liền sấn lên vùng dao đâm thẳng vào ngực chàng. Kiều Phong biết mình đã bị trọng thương, không còn cách nào xung sát ra khỏi trùng vi, nên đứng yên không cử động. Chỉ trong chớp mắt, trong đầu chàng xoay chuyển rất nhiều, tự hỏi: “Thực ra ta là người Khất Đan hay người Hán? Kẻ nào ám hại cha mẹ cùng sư phụ ta? Ta một đời hành động nghĩa hiệp, sao hôm nay vô duyên vô cớ sát hại bấy nhiêu anh hùng hiệp sĩ? Ta chỉ vì muốn cứu A Châu mà để cho mình chết uổng, có phải là ngu muội đáng cho anh hùng thiên hạ chê cười hay không?”

    Trước mắt chàng chỉ còn khuôn mặt đen sì của Đơn Chính uốn éo biến dạng, hai mắt trợn trừng, thanh đao sắp cắm vào ngực mình. Kiều Phong vừa đau lòng vừa phẫn nộ, ngửa mặt lên trời hú lên một tiếng như tiếng rống của mãnh thú sắp lìa trần.

    Hồi 20: Chữ trên vách đá đã mòn - Hình xăm trước ngực vẫn còn trơ trơ

    Tiếng hú của Kiều Phong làm Đơn Chính muốn điếc cả tai, đầu óc lùng bùng, chân lảo đảo đứng không vững, quần hùng bất giác cũng lùi lại mấy bước. Đơn Tiểu Sơn đứng gần đó lập tức xông lên giơ đao đâm tới. Mũi đao chỉ còn cách ngực Kiều Phong chừng một thước mà chàng không hề có ý tránh né. Bọn Ngô trưởng lão, Bạch Thế Kính của Cái Bang đều nhắm mắt lại không nỡ nhìn cảnh tượng bi thảm.

    Đột nhiên từ trên không nghe vụt một tiếng, một người nhào xuống cực kỳ nhanh nhẹn, rơi ngay vào sống đao của Đơn Tiểu Sơn. Y không gượng nổi, phải hạ thấp tay đao xuống. Quần hùng đang la lên những tiếng kinh ngạc, thì từ trên không lại nhào xuống một người nữa, đầu xuống trước, chân xuống sau, cũng thật là mau lẹ. Nghe bốp một tiếng, đầu gã này va vào đầu Đơn Tiểu Sơn, cả hai cái đầu liền vỡ nát.

    Quần hùng định thần nhìn lại thì hai người nhào xuống đều là hảo hán đứng trên mái nhà canh chừng Kiều Phong đào tẩu, chắc là bị ai bắt dùng làm ám khí ném xuống. Trong sảnh lập tức đại loạn, tiếng người xôn xao ầm ĩ. Từ trên mái nhà tung xuống một sợi dây thừng, lướt ngang đầu mọi người như một cây nhuyễn tiên, quần hùng tới tấp đưa binh khí lên đỡ. Sợi thừng liền vòng trở lại, quấn vào hông Kiều Phong rồi kéo vụt lên.

    Ba vết thương của Kiều Phong đều đang tuôn máu, tay trái vẫn còn ôm A Châu nhưng không còn chút sức lực nào, khi chàng bị sợi dây thừng cuốn đi, A Châu lập tức tuột ra. Mọi người nhìn theo sợi thừng, thấy đầu dây kia đang nằm trong tay một đại hán cao to mặc quần áo đen, mặt bịt khăn đen chỉ lộ đôi mắt, đứng trên mái nhà.

    Đại hán cắp Kiều Phong vào nách, sợi dây lại tung ra quấn ngay vào cây cột cờ ngoài cổng Tụ Hiền Trang. Quần hùng kêu la ầm ĩ, lập tức cương tiêu, tụ tiễn, phi đao, thiết chùy, phi hoàng thạch, súy thủ tiễn đủ loại ám khí đều nhắm vào Kiều Phong cùng đại hán kia ném tới. Đại hán áo đen níu sợi dây thừng nhẹ nhàng đu người ra, đáp xuống đỉnh cột cờ. Lúc đó mới nghe chát chát, lách cách liên tiếp, mấy chục món ám khí bắn vào cây cột. Sợi dây thừng lại tung ra, quấn lấy một cây to cách xa bảy tám trượng, đại hán cắp Kiều Phong đu ra bay vượt qua cả cái cây, cách cột cờ đến hơn mười trượng mới rơi xuống. Y lại quăng dây lần nữa quấn vào một cái cây ở xa hơn, cứ thế vài lần đã biến mất không tăm tích, dĩ nhiên không để lại cả dấu chân.

    Kiều Phong tuy bị thương nặng song thần trí vẫn tỉnh táo. Đại hán quăng dây thừng cứu chàng thoát hiểm, nhất cử nhất động chàng đều nhìn rõ, Chàng hết sức cảm kích cái ơn cứu mạng, lại nghĩ thầm: “Quăng dây chuẩn xác như thế ta cũng làm được, thế nhưng dùng sợi dây làm nhuyễn tiên sử chiêu Thiên Nữ Tán Hoa đánh dạt cả mấy chục người, ta chưa đến trình độ đó.”

    Đại hán áo đen đặt Kiều Phong lên lưng ngựa, hai người cưỡi chung một con chạy thẳng về hướng bắc, vừa chạy y vừa lấy thuốc ra rịt vào ba chỗ vết thương cho Kiều Phong. Kiều Phong bị mất máu quá nhiều nên cực kỳ hư nhược, mấy lần suýt ngất đi. Nhưng mỗi khi sắp ngất, chàng hít mạnh một hơi, nội lực lưu chuyển rồi tinh thần lại trấn tĩnh. Đại hán phóng ngựa thẳng phía tây bắc, đường đi càng lúc càng hiểm trở. Về sau không còn đường lối nữa, con ngựa phải len lỏi vào những bãi đá chất chồng.

    Thêm nửa giờ nữa thì không còn đi ngựa được. Đại hán ôm Kiều Phong trong tay, xuống ngựa trèo lên đỉnh núi. Kiều Phong thân thể nặng nề mà y bồng cứ nhẹ như không, tuy ở nơi cheo leo hiểm trở mà vẫn chạy nhảy như bay. Về sau đến những vách đá dựng đứng không có chỗ để chân, đại hán lại ném dây thừng quấn vào cây bên kia vực mà nhảy qua. Y cứ thế mà qua tám cái khe núi, rồi trèo xuống một cái vực sâu, đứng dưới nhìn lên không thấy trời xanh, lúc đó mới dừng lại để Kiều Phong xuống.

    Kiều Phong gắng gượng đứng lên nói: “Đại ân không thể dùng lời mà cảm tạ, chỉ xin ân huynh cho Kiều Phong này được thấy chân diện.”

    Đại hán đưa cặp mắt sáng rực nhìn đi nhìn lại mặt Kiều Phong, một lát sau mới nói: “Trong sơn động có nửa tháng lương khô, đủ dùng trong lúc ngươi dưỡng thương. Địch nhân không có cách nào tìm đến đây được.” Kiều Phong nói “Xin vâng!” rồi nghĩ thầm: “Nghe thanh âm người này hình như tuổi không còn trẻ.” Đại hán áo đen xem xét chàng một hồi nữa, bỗng vung tay phải lên tát Kiều Phong bốp một cái. Y ra tay cực kỳ mau lẹ, Kiều Phong tuyệt nhiên không ngờ ân nhân lại ra tay đánh mình, phát thưởng đó thủ pháp cũng kỳ dị, thành thử không sao tránh được.

    Đại hán lại toan tát cái thứ hai. Hai cái tát chỉ cách nhau trong chớp mắt, nhưng Kiều Phong đã có chuẩn bị rồi, đời nào để bị đánh trúng nữa. Thế nhưng y là ân nhân cứu mạng nên Kiều Phong không có ý đối địch, cũng không có hơi sức để tránh né, chỉ đưa tay trái lên má, chĩa một ngón đón lấy chưởng tâm.

    Ngón tay đó trở đúng vào huyệt Lao Cung trong lòng bàn tay đại hán, nếu y tiếp tục đánh xuống, chưa chạm tới mặt Kiều Phong thì huyệt đạo đã bị ngón tay đâm trúng rồi. Bàn tay y còn cách má Kiều Phong độ một thước, lập tức biến chiêu thật lẹ, xoay lưng bàn tay đánh vào, Kiều Phong cũng nhanh nhẹn xoay ngón tay trỏ vào huyệt Nhị Gian trên lưng bàn tay y.

    Đại hán cười một tràng dài, tay phải giật về, tay trái liền chém tới. Ngón tay bên trái Kiều Phong lập tức dựng lên chỉ thẳng vào huyệt Hậu Khoát ở cạnh bàn tay. Y hơi đưa tay lên cao, nhưng vẫn tiếp tục đánh tới không chậm chút nào, Kiều Phong lại di động ngón tay hướng vào huyệt Tiền Cốc ở cổ tay đối phương. Chỉ trong khoảnh khắc, đại hán vũ lộng song chưởng biến chiêu hơn chục lần, còn Kiều Phong chỉ thủ mà không công, thủy chung vẫn đưa ngón tay nhằm vào huyệt đạo chống đỡ để đối phương không đánh tới được. Đại hán chỉ xuất kỳ bất ý tát được chàng một cái lúc đầu, sau đó không thể nào đánh trúng được nữa. Hai người kẻ đánh, người đỡ dù chỉ hời hợt trên không, nhưng đều sử dụng võ công thượng thừa.

    Được khoảng hai chục chiêu, đại hán thấy Kiều Phong tuy đã trọng thương mà vẫn biến chiêu thần tốc, nhận huyệt chuẩn xác, y thu chưởng về, nhảy lùi lại nói: “Ta không ngờ ngươi ngu xuẩn đến thế. Lẽ ra ta chẳng nên cứu ngươi làm chi.” Kiều Phong đáp: “Kiều mỗ xin kính cẩn nghe ân công giáo huấn.” Đại hán mắng: “Ngươi là đồ con lừa! Đã luyện võ công đến mức vô địch thiên hạ, sao lại vì một đứa con gái lưu lạc giang hồ mà bỏ mạng? Con bé đó đã không thân thích lại không ơn nghĩa gì với ngươi, cũng chẳng phải là giai nhân nghiêng nước nghiêng thành, chỉ là một con thị tì hạ lưu chứ là gì đâu. Trong thiên hạ sao lại có kẻ điên rồ như ngươi?” Kiều Phong thở dài một tiếng rồi đáp: “Ân công dạy phải lắm. Kiều Phong này đem thân hữu dụng mà làm chuyện vô ích, quả là sai lầm. Chỉ vì nhất thời bồng bột, nóng giận bực tức, tính dã man hung dữ nổi lên nên không kịp suy xét đến hậu quả.”

    Đại hán kia nói: “Ha ha! Tính dã man hung dữ nổi lên…” Y ngửa mặt lên trời, cất tiếng cười một tràng dài. Kiều Phong thấy trong tiếng cười đầy vẻ thê lương, không khỏi ngạc nhiên. Thốt nhiên đại hán đứng phắt dậy, nhảy vọt ra xa, thân hình lạng đi một cái đã khuất sau một tảng đá lớn. Kiều Phong gọi với theo: “Ân công! Ân công!” Chỉ nghe tiếng chân nhảy luôn mấy bước nữa, rồi mỗi lúc một xa. Kiều Phong cũng toan chạy theo, nhưng người lảo đảo muốn ngã, phải vịn vào vách núi mới đứng được.

    Chàng định thần quay lại, quả nhiên sau vách đá có một sơn động. Kiều Phong men theo vách núi, chầm chậm đi vào trong hang, thấy trên mặt đất để đầy thịt nướng, gạo rang, trái cây khô, đậu phộng, cá muối, toàn là lương thực để lâu được, tuyệt diệu nhất là có cả một vò rượu lớn. Chàng mở nắp ra, một mùi hương ngào ngạt xông lên mũi, vội thò tay vào cốc rượu ra uống thử, quả là loại mỹ tửu thượng đẳng. Kiều Phong cảm kích vô cùng, nghĩ thầm: “Sao ân công chu đáo đến thế, biết ta thích rượu, lại dự bị sẵn nơi đây. Đường núi hiểm trở khó đi, mang được vò rượu lớn thế này xuống đây, quả thật phí nhiều công sức.”

    Thứ thuốc đại hán nọ bôi lên vết thương cho chàng thật là công hiệu, lúc này đã cầm máu rồi, chỉ mấy giờ sau cơn đau đã giảm. Kiều Phong thân thể tráng kiện, nội công thâm hậu, mà vết thương chỉ ở ngoài da thịt, chỉ bảy tám ngày đã liền da đến non nửa.

    Trong bảy tám ngày đó, chàng chỉ nghĩ đến hai việc: “Cừu nhân ta là ai? Ân nhân ta là ai?” Cả hai người đều có bản lĩnh ghê gớm, xem ra chẳng kém gì mình. Trong võ lâm, những người thân thủ như thế chỉ đếm được trên đầu ngón tay, chàng liệt kê cả ra, nhưng nghĩ qua nghĩ lại cũng không thấy ai phù hợp. Cừu nhân chàng chưa hề thấy, chẳng thể nào đoán được thì cũng đành, thế nhưng vị ân nhân đã trao đổi đến hơn hai chục chiêu mà cũng không thể nào đoán được gia số môn phái. Chiêu thức thật là bình thường, nhưng trong cái đơn giản chất phác chứa đựng tinh túy cao siêu chẳng khác gì chàng sử Thái Tổ Trường Quyền ở Tụ Hiền Trang, không bộc lộ lai lịch chút nào.

    Mới hai ngày, Kiều Phong đã uống sạch vò rượu không còn một giọt. Chàng cố đợi đến ngày thứ hai mươi thì mấy chỗ vết thương đã khỏi bảy tám phần, nổi cơn thèm rượu không sao nhịn nổi. Chàng liệu chừng đã có đủ sức trèo núi vượt khe, bèn ra khỏi sơn động, trở lại giang hồ.

    Kiều Phong nghĩ bụng: “A Châu rơi vào tay bọn chúng, nếu chết thì đã chết rồi, nếu sống được thì mình cũng chẳng cần lo liệu cho cô ta. Việc quan trọng trước mắt là phải điều tra xem mình là giống người nào. Song thân và sư phụ cùng chết một ngày, thân thế ta lại càng mơ hồ chẳng biết hỏi ai, thôi thì phải ra Nhạn Môn Quan xem bài di văn trên vách núi.”

    Tính toán xong, Kiều Phong đi về hướng tây bắc đến một thị trấn, việc đầu tiên là tìm vào hàng rượu uống hai chục bát. Chàng còn mấy lạng bạc vụn, chỉ uống ba ngày đã hết sạch.

    Bấy giờ nhà Đại Tống làm chủ Trung Nguyên, chia thiên hạ ra thành mười lăm lộ, đặt kinh đô ở Đại Lương, gọi phủ Khai Phong là Đông Kinh, Lạc Dương ở Hà Nam là Tây Kinh, Tống Châu là Nam Kinh, Đại Danh là Bắc Kinh, tổng cộng tứ kinh, Khi đó Kiều Phong đang ở Nhữ Châu thuộc lộ Tây Kinh, đến Lương Huyện thì tiền bạc hết nhẵn, chàng bèn chờ đến đêm lẻn vào huyện đường, trộm mấy trăm lượng bạc trong công khố. Thế là nhà Đại Tống phải đài thọ cuộc hành trình của chàng, trên đường đi tha hồ ăn uống phủ phê, cao lương mỹ tửu. Chẳng bao lâu đã đến Đại Châu thuộc lộ Hà Đông.

    Ải Nhạn Môn Quan ở trên núi Nhạn Môn, cách Đại Châu ba mươi dặm về phía Bắc. Năm xưa trên đường hành hiệp giang hồ, Kiều Phong đã từng đến đây, nhưng khi đó đang có việc gấp nên chỉ đi qua, không để ý đến. Đến Đại Châu thì đã đầu giờ Ngọ, ghé vào uống một hơi mười bát rượu, ăn một bữa thật no rồi mới ra khỏi thành đi về hướng bắc.

    Kiều Phong cước trình nhanh nhẹn, chưa tới nửa giờ đã hết ba chục dặm đường. Chàng trèo lên núi, thấy hai rặng núi dựng đứng hai phía Đông Tây, giữa chỉ có một lối đi quanh co gập ghềnh, quả là cực kỳ hiểm trở. Kiều Phong nghĩ bụng: “Chim nhạn mỗi khi di cư xuống phương Nam tránh rét rồi trở về phương Bắc không thể vượt qua hai dãy núi cao, đều phải bay vào khe núi, thành thử mới gọi là Nhạn Môn. Hôm nay Kiều mỗ ở phương Nam đến đây, giả tỷ mà di văn khắc trên núi đá chứng tỏ ta là giống Khất Đan, thì sau khi ra khỏi ải Nhạn Môn Quan sẽ vĩnh viễn thành người phương Bắc, không bao giờ quay lại nữa. Thật không bằng loài chim nhạn, mỗi năm một lần vào nam ra bắc, tự do qua lại cửa quan.” Nghĩ đến đó chàng không khỏi bùi ngùi trong dạ.

    Nhạn Môn Quan là trọng trấn của nhà Đại Tống ở phương bắc, kiên cố hùng vĩ nhất trong hơn bốn chục cửa ải suốt cõi Sơn Tây. Chỉ ra khỏi cửa ải này vài mươi dặm là thuộc địa phận nước Liêu, trong ải có đặt trọng binh trấn giữ. Kiều Phong nghĩ rằng nếu theo cửa quan mà ra thì thể nào cũng bị binh lính tra hỏi, chàng bèn theo dãy núi cao phía tây mà đi vòng qua quan ải.

    Lên đến đỉnh núi cao nhất, chàng đưa mắt nhìn bốn phía thấy toàn là núi. Phía đông có núi Ngũ Đài cao vọt lên, phía tây là dãy Ninh Võ, phía nam có những ngọn Chính Dương, Thạch Cổ, còn phía bắc là Sóc Châu, Mã Ấp. Núi non chập chùng đến tận chân trời, cảnh tượng lạnh lẽo tiêu điều. Kiều Phong nhớ lại, năm xưa qua Nhạn Môn Quan đã nghe người bạn đồng hành kể chuyện rằng, đại tướng Lý Mục nước Triệu thời Chiến Quốc cùng đại tướng Chất Đô đời Hán từng trấn thủ Nhạn Môn Quan để chống giữ quân Hung Nô xâm lược. Nếu quả thực mình là dòng giống Khất Đan, hậu duệ Hung Nô, thì té ra hàng nghìn năm nay, bọn vào xâm lấn Trung Nguyên đều là tổ tiên mình cả.

    Chàng lại đưa mắt nhìn về hướng bắc nghĩ thầm: “Ngày trước Uông bang chủ cùng bọn Triệu Tiền Tôn phục kích bọn võ sĩ Khất Đan ở bên ngoài Nhạn Môn Quan, hẳn là sẽ chọn vị trí thuận lợi không xa quá mười dặm. Địa thế tốt thì phải ở sườn núi phía tây bắc kia, mười phần thì chắc đến tám chín, bọn họ mai phục ở chỗ đó.”

    Kiều Phong nghĩ thế, liền chạy xuống để sang sườn núi bên kia, trong lòng đột nhiên dậy lên một nỗi bi phẫn không biết từ đâu đưa tới. Chàng để ý thấy chỗ sườn núi đó có một khối đá lớn, Trí Quang đại sư kể là quần hùng Trung Nguyên ẩn nấp sau khối đá mà ném ám khí tẩm độc ra, xem chừng chính là chỗ này.

    Ngoài sơn đạo chừng vài bước là vực thẳm, mây mù che phủ không nhìn thấy đáy. Kiều Phong nghĩ thầm: “Mấy lời của Trí Quang đại sư không sai, khi má má ta bị bọn họ giết chết rồi, gia gia ta đứng đây nhảy xuống sơn cốc tự tận. Gia gia nhảy xuống vực mới phát hiện ta còn sống, không nỡ để ta phải chết theo nên mới vứt ta trở lên, rơi trên mình Uông bang chủ. Gia gia… gia gia đã viết gì trên vách đá nhỉ?”.

    Chàng quay đầu về phía trái, quả nhiên thấy một vách đá tự nhiên phẳng phiu nhẵn nhụi, nhưng chính giữa có một khoảng lớn đầy vết búa chém vào trông rất rõ. Rõ ràng đã có người cố ý xóa hết tự tích của người võ sĩ Khất Đan.

    Kiều Phong đứng ngẩn ngơ trước vách đá, đột nhiên lửa giận bốc lên, chỉ muốn vung đao chém giết một phen. Đột nhiên chàng nhớ lại: “Khi ta rời Cái Bang đã từng bẻ gãy thanh đao của Đơn Chính mà thề rằng: Dù ta là người Hán cũng vậy, mà là người Khất Đan cũng vậy, quyết không bao giờ tàn hại người Hán. Thế nhưng ở Tụ Hiền Trang, ta đã giết bao nhiêu người Hán? Bây giờ ta lại muốn giết người nữa, có phải là trái lời thề chăng? Than ôi! Sự việc xảy ra như thế, mình không giết người, người cũng giết mình. Nếu bó tay chịu chết để mặc người khác băm vằm thì còn gì là phong độ của bậc trượng phu nữa?”.

    Kiều Phong rong ruổi ngàn dặm chỉ cốt điều tra rõ ràng thân thế mình, rút cục chẳng được việc gì. Chàng càng nghĩ càng thêm bực bội, lớn tiếng gầm lên: “Ta không phải người Hán! Không phải người Hán! Ta là mọi rợ Khất Đan! Mọi rợ Khất Đan!” Chỉ nghe bốn bề sơn cốc vang dội thanh âm vọng lại:“Không phải người Hán… Không phải người Hán… Mọi rợ Khất Đan… Mọi rợ Khất Đan…”

    Trong lòng Kiều Phong bao nhiêu uất ức, thịnh nộ không có chỗ phát tiết, cứ hết chưởng này đến chưởng khác đập vào vách đá, tưởng chừng như muốn đem bao nhiêu oan khuất của một tháng qua trút cả lên đấy. Đá vụn bay tứ tung, mãi đến khi bàn tay ứa máu, tảng đá in những dấu tay màu đỏ, chàng vẫn chưa ngừng.

    Bất thình lình có tiếng trong trẻo của một cô gái vang lên từ sau lưng: “Kiều đại gia ơi! Đại gia đập nữa đi! Không chừng ngọn núi này đổ xuống mất thôi.” Kiều Phong giật mình quay đầu nhìn lại, thấy một thiếu nữ mặc áo hồng đứng tựa vào một cây hoa bên cạnh sườn núi, miệng mỉm cười. Đó chính là A Châu.

    Hôm trước chàng ra tay cứu A Châu là vì nỗi lòng nghĩa hiệp lại phấn khích nhất thời, thực ra chưa quan tâm đặc biệt gì đến cô tiểu a đầu này. Về sau ngay cả chuyện nàng còn sống hay đã chết, chàng cũng không còn rảnh rang mà nghĩ đến. Ngờ đâu nàng lại xuất hiện ở nơi này, Kiều Phong cũng thấy hoan hỉ, mỉm cười tiến đến nói: “A Châu! Xem ra cô đã mạnh khỏe rồi!” Có điều chàng đang cuồng nộ bỗng chuyển sang vui mừng, nụ cười trên môi có phần miễn cưỡng.

    A Châu hỏi lại: “Kiều đại gia? Đại gia cũng khỏe chứ?” Nàng ngơ ngẩn nhìn Kiều Phong một hồi, đột nhiên nhảy vào lòng chàng, nức nở mà nói: “Kiều đại gia! Tiểu nữ… tiểu nữ chờ ở đây đã năm ngày năm đêm, lúc nào cung phập phồng không biết đại gia có đến không, quả nhiên bây giờ lại được gặp nhau. Cảm ơn Trời Phật phù hộ, đại gia vẫn bình yên vô sự.”

    Nàng nghẹn ngào nói lẫn trong tiếng khóc, nhưng thanh âm đầy vẻ vui mừng, an ủi. Kiều Phong vừa nghe đã biết ngay nàng chân tâm lo lắng cho mình, cảm thấy xúc động trong lòng, liền hỏi lại: “Cô nương đây chờ ta đã năm ngày, năm đêm rồi ư? Cô… cô nương làm sao biết được là ta sẽ đến đây?”

    A Châu chậm rãi ngửng đầu lên, chợt nhớ ra mình đang gục vào lòng một người đàn ông, bất giác mặt thẹn đỏ bừng, lùi lại hai bước. Nàng nghĩ đến việc mình ôm chầm lấy chàng trong cơn xúc động, mặt càng đỏ như gấc chín, đột nhiên quay phắt đi chạy nấp vào sau một gốc cây.

    Kiều Phong hốt hoảng gọi theo: “A Châu, A Châu! Cô nương làm sao thế?” A Châu không trả lời, chỉ thấy tim đập loạn lên, một lúc lâu sau mới bước ra nhưng vẻ mặt vẫn còn bẽn lẽn, ấp úng không nói nên lời. Kiều Phong thấy vẻ mặt nàng khác lạ liền hỏi: “A Châu, cô nương có chuyện gì nan giải cứ việc nói cho ta nghe. Chúng ta đã hoạn nạn chi giao, đồng sinh cộng tử, thì còn có điều chi phải e dè?” A Châu lại đỏ mặt, nhỏ nhẹ nói: “Không có chuyện gì.”

    Kiều Phong nhẹ nhàng đặt tay lên vai cô gái, xoay mặt nàng ra hướng mặt trời, thấy dung nhan hãy còn tiều tụy nhưng trong màu xanh xao đã ẩn sắc hồng, không còn xám xịt như lúc đang bị trọng thương nữa. Chàng lại đưa tay xem mạch nàng, vừa chạm vào tay A Châu lập tức nàng run bắn lên, Kiều Phong vội hỏi: “Sao thế? Cô chưa bình phục hẳn hay sao?” A Châu lại càng thẹn thùng, vội đáp: “Không phải! Không… không có gì hết.” Kiều Phong thấy mạch nàng đã có sức lực, bèn khen: “Nghệ thuật diệu thủ hồi xuân của Tiết Thần Y quả thật danh bất hư truyền.”

    A Châu nói: “Cũng nhờ vị hảo bằng hữu Bạch Thế Kính của đại gia truyền cho bảy chiêu Triền Ti Cầm Nã Thủ, Tiết Thần Y mới chịu trị bệnh cho tiểu nữ. Vả lại bọn họ cũng muốn tra vấn xem tung tích vị tiên sinh áo đen kia ở đâu, nếu như tiểu nữ chết đi dĩ nhiên bọn họ không biết hỏi ai nữa. Thương thế mới đỡ một chút, ngày nào cũng có bảy tám người đến hỏi: Ác tặc Kiều Phong liên hệ với cô nương thế nào? Y chạy đi đâu? Tên áo đen cứu y là ai? Những chuyện đó tiểu nữ đâu có biết, nhưng khi nói thật là không biết thì bọn họ lại bảo là nói láo, đe dọa sẽ không cho ăn uống, sẽ dùng cực hình tra khảo, Thành thử tiểu nữ phải bịa đặt đủ thứ chuyện cho họ nghe, hoang đường nhất là chuyện về tiên sinh áo đen, bữa nay thì bảo là ông ta từ núi Côn Lôn đến, ngày mai lại bảo là ông xuất thân ở Đông Hải, toàn nói nhăng nói cuội mà bọn họ lại nghe lọt tai mới là kỳ.” Nàng kể tới đây, nhớ lại mấy bữa đó thuận mồm đặt chuyện mà bịp bợm được vô số anh hùng hào kiệt nổi danh, bất giác cảm thấy khoan khoái trong lòng, miệng cười tươi như hoa nở.

    Kiều Phong mỉm cười hỏi: “Thế bọn họ có tin lời cô nương không?” A Châu đáp: “Có người thì tin, có người lại không tin, phần lớn thì bán tín bán nghi. Tiểu nữ đoán chắc chẳng một ai biết lai lịch của tiên sinh áo đen, mình có nói dối bọn họ cũng không cãi được. Bởi thế mà câu chuyện càng nói càng ly kỳ cổ quái khiến cho bọn họ không biết đường nào mà mò, ai nấy sợ mất vía.” Kiều Phong thở dài: “Quả thực ta cũng không biết vị tiên sinh áo đen đó lai lịch thế nào. Không chừng ta mà nghe cô bịa chuyện cũng phải nửa tin nửa ngờ.”

    A Châu lấy làm kỳ, hỏi: “Đại gia cũng không biết ông ta là ai ư? Thế sao ông ta lại xông vào nơi đầm rồng hang cọp cứu đại gia ra? À phải rồi, những bậc đại hiệp cứu người trong cơn hoạn nạn đều như thế cả.”

    Kiều Phong thở dài nói: “Ta chẳng biết đi kiếm ai mà báo thù, cũng chẳng biết đi kiếm ai mà trả ơn. Ta là người Hán hay người Hồ, hành vi của ta đúng hay sai, ta cũng không tự biết. Kiều Phong hỡi Kiều Phong! Ngươi quả thật không đáng làm người!”.

    A Châu thấy Kiều Phong chán chường đau khổ, bất giác thò tay ra nắm lấy tay chàng an ủi: “Kiêu đại gia tự làm khổ mình làm gì? Mọi việc rồi cũng có lúc rõ ràng, chỉ cần đại gia vấn tâm không hổ thẹn, hành sự hợp lẽ trời, thế là đủ rồi.” Kiều Phong nói: “Thế nhưng ta tự vấn tâm có điều hổ thẹn, thế mới đau lòng. Hôm đó nơi rừng hạnh, ta đã từng búng gãy thanh đao thề rằng sẽ không tàn hại người Hán, ngờ đâu… ngờ đâu…” A Châu đáp: “Bọn người ở Tụ Hiền Trang không biết phân biệt trắng đen, vây đánh đại gia một cách hồ đồ. Nếu đại gia không trả đòn, không lẽ để yên cho họ chặt ra thành mười bảy hay hai mươi tám miếng hay sao? Trên đời này làm gì có chuyện vô lý đến thế?”

    Kiều Phong đáp: “Cô nói phải lắm.” Chàng vốn dĩ là một hảo hán tính tình sảng khoái, ít để tâm chuyện gì, có đau lòng cảm thán cũng chỉ một lúc. Chàng gác vấn đề đó sang một bên, nói: “Trí Quang đại sư và Triệu Tiền Tôn đều nói rằng trên vách đá này có viết chữ, không biết kẻ nào đã phá hủy mất rồi.” A Châu đáp: “Đúng thế! Tiểu nữ cũng đoán là đại gia sẽ ra ngoài Nhạn Môn Quan để xem lại di văn trên vách núi, nên vừa thoát hiểm là đến đây chờ đại gia ngay.”

    Kiều Phong hỏi: “Làm sao cô nương thoát hiểm được? Có phải Bạch trưởng lão lại giúp cô nương nữa không?” A Châu mỉm cười: “Không phải đâu. Đại gia còn nhớ hôm tiểu nữ giả trang thành nhà sư chùa Thiếu Lâm không? Ngay cả sư huynh đệ của y cũng không nhận ra.” Kiều Phong nói: “Đúng thế! Cái trò tinh nghịch của cô quả là ghê gớm.” A Châu nói: “Một hôm thương thế của tiểu nữ đã đỡ nhiều, Tiết Thần Y bảo không cần phải điều trị thêm nữa, chỉ cần nghỉ ngơi bảy tám ngày là phục hồi được như cũ. Câu chuyện tiểu nữ bịa ra càng lúc càng nhiều sơ hở, mà cũng chán ngấy rồi. Tiểu nữ lại lo lắng không biết đại gia ra sao, nên đến tối bèn cải trang thành một người…” Kiều Phong sửng sốt hỏi: “Lại cải trang! Thành ai thế?” A Châu đáp: “Tiểu nữ cải trang thành Tiết Thần Y.”

    Kiều Phong giật mình hỏi: “Cô nương làm thế nào mà hóa trang giống Tiết Thần Y được?” A Châu đáp: “Ngày nào lão ta cũng gặp tiểu nữ, nói năng cũng nhiều, nên thần thái cùng thanh âm của lão đã thuộc lòng, mà lão lại thường đến một mình. Đêm hôm đó tiểu nữ giả vờ ngất đi, lão bèn tới chẩn mạch, tiểu nữ bèn lật tay lại nắm đúng mạch môn khiến lão không còn cục cựa gì được, đành để cho tiểu nữ bố trí.”

    Kiều Phong không nhịn cười được, nghĩ thầm: “Lão Tiết Thần Y kia chỉ lo trị bệnh, có biết đâu mắc mưu con nhãi ranh này.”

    A Châu tiếp: “Tiểu nữ điểm huyệt lão ta, lột sạch cả áo lẫn giày. Công phu điểm huyệt của tiểu nữ tầm thường, sợ lão ta tự mình giải huyệt được, nên xé một cái chăn ra trói luôn chân tay, đặt lên trên giường trùm lại. Nếu ai ở ngoài cửa sổ nhìn vào chỉ tưởng tiểu nữ đang đắp chăn nằm ngủ, không nghi ngờ gì hết. Tiểu nữ mặc áo, đi giày, đóng khăn của lão vào, trên mặt nhồi thêm mấy nếp nhăn. Thế là mười phần đã giống đến bảy, chỉ còn thiếu bộ râu nữa là hoàn toàn…”

    Kiều Phong kêu lên: “Ồ, bộ râu của Tiết Thần Y hoa râm nửa đen nửa trắng, không dễ gì mà làm giả được.” A Châu nói: “Râu giả thì khó mà giống, chi bằng dùng râu thật.” Kiều Phong ngơ ngác hỏi: “Râu thật ư?” A Châu đáp: “Đúng vậy, dùng râu thật. Tiểu nữ lục trong hộp thuốc ra một con dao nhỏ, cạo sạch chòm râu của ông ta không chừa một sợi, gắn hết lên mặt mình, hình dáng màu sắc hoàn toàn giống hệt. Lão Tiết Thần Y tức đến chết được nhưng chẳng biết làm sao. Lão ta trị thương có phải do lòng tốt đâu, tiểu nữ có cạo râu ông ta cũng không thể nói là lấy oán báo ơn được. Huống chi lão cạo sạch râu rồi trông trẻ ra đến chục tuổi, mặt mày anh tuấn đáo để.”

    Nói đến đây hai người nhìn nhau cùng phá lên cười. A Châu tiếp tục: “Tiểu nữ giả làm Tiết Thần Y, đường hoàng ra khỏi Tụ Hiền Trang chẳng một ai dám hỏi han gì. Tiếu nữ còn sai người chuẩn bị ngựa, lấy tiền bạc rồi mới đi, rời khỏi trong ba chục dặm bèn nhổ bộ râu đi, lại biến thành một chàng thanh niên. Chắc là sáng hôm sau bọn chúng phát giác ra, thế nhưng trên đường tiểu nữ cải trang thêm mấy lần nữa, chúng có đuổi theo cũng vô phương tìm kiếm.”

    Kiều Phong vỗ tay khen: “Tuyệt diệu! Thật là tuyệt diệu!” Đột nhiên chàng nhớ lại cảm giác bất an khi thoáng nhìn thấy bóng sau lưng mình trong tấm gương đồng ở Bồ Đề Viện nơi chùa Thiếu Lâm, lúc đó chàng thấy hồi hộp mà không biết tại sao. Bây giờ nghe A Châu kể chuyện cải trang thoát hiểm, cái tâm trạng bất an ấy lại nổi lên, còn mạnh hơn cả lần trước. Kiều Phong trầm ngâm rồi bảo: “A Châu, cô quay người lại để ta xem nào.” A Châu không hiểu chàng muốn gì nhưng cũng nghe lời xoay lưng lại.

    Kiều Phong chăm chú nhìn, rồi cởi chiếc áo ngoài khoác lên người cô gái. A Châu bẽn lẽn xoay đầu lại, đôi mắt đầy vẻ ôn nhu, đắm đuối nhìn chàng mà nói: “Tiểu nữ không lạnh đâu…”

    Kiều Phong nhìn nàng khoác chiếc áo choàng của mình, lập tức hiểu ra, lật bàn tay nắm chặt lấy cổ tay cô gái, hậm hực nói: “Thì ra là ngươi! Ai sai khiến ngươi, nói cho mau đi.” A Châu hoảng hốt hỏi: “Kiều đại gia! Có chuyện gì thế?” Kiều Phong nói: “Ngươi đã từng giả trang giống ta, mạo nhận làm Kiều mỗ, phải không?”.

    Thì ra khi đó chàng chợt hiểu ra, trên đường chạy đến Thiên Ninh Tự cứu huynh đệ Cái Bang, chàng đã thoáng thấy sau lưng một người. Lúc đó không để ý, đến khi nhìn thấy bóng sau lưng mình trong tấm gương đồng, trong vô thức mới nhận ra người đó nhìn sau lưng giống hệt mình không sai một mảy. Cảm giác bất an từ đó mà nảy sinh, có điều chàng cứ mơ hồ không hiểu do đâu.

    Hôm đó Kiều Phong chạy tới nơi thì mọi người đã thoát hiểm, ai cũng bảo là vừa mới gặp chàng. Tuy chàng nhất định bảo là không phải, nhưng chẳng ai tin. Lúc ấy Kiều Phong chẳng hiểu ra sao, nghĩ bụng trừ phi có người mạo nhận mình thì không còn cách giải thích nào khác. Thế nhưng nếu có ai giả mạo, chẳng lẽ bọn Bạch Thế Kính, Ngô trưởng lão kề cận mình cả ngày đêm lại không nhận ra ư? Mặc dù lúc này A Châu không độn bông, thân hình nhỏ bé khác hẳn tấm thân vạm vỡ của chàng, nhưng nhìn thấy sau lưng nàng khoác chiếc áo của mình, chàng liền tỉnh ngộ. Giả mạo làm bang chủ mà đánh lừa được toàn thể Cái Bang, thiên hạ ngoài cô ta ra thì còn ai giả trang tuyệt diệu như vậy nữa đâu?

    A Châu không sợ hãi gì, cười lên khanh khách nói: “Thôi được, để tiểu nữ cung khai vậy.” Rồi nàng đem chuyện cải trang thành Kiều Phong thế nào, đem thuốc giải đến cứu quần hào Cái Bang ra sao, nhất nhất thuật lại. Kiều Phong bỏ tay nàng ra, gay gắt hỏi: “Ngươi giả làm ta đi cứu người là có dụng ý gì?” A Châu kinh ngạc đáp: “Tiểu nữ chỉ tinh nghịch cho vui, chứ có dụng ý gì đâu. Tiểu nữ cùng A Bích được đại gia cứu khỏi tay người Tây Hạ, đều rất lấy làm cảm kích. Tiểu nữ lại nghĩ bọn ăn mày đối xử tệ bạc như thế, nếu giả làm đại gia đến đưa thuốc giải độc khiến cho họ phải thấy ăn năn hổ thẹn, cũng là việc hay.” Nàng lại thở dài, tức mình nói tiếp: “Ngờ đâu ở Tụ Hiền Trang, họ vẫn tàn nhẫn với đại gia đến vậy, chẳng nhớ gì tới ân nghĩa ngày xưa.”

    Kiều Phong vẻ mặt mỗi lúc một thêm nghiêm trọng, nghiến răng hỏi: “Vậy sao người lại đến giết song thân ta? Sao lại mạo xưng ta lẻn vào chùa Thiếu Lâm ám hại cả sư phụ ta?” A Châu giật nảy người, kêu lên: “Sao lại thế được? Ai bảo tiểu nữ giết song thân cùng sư phụ của đại gia?”

    Kiều Phong đáp: “Sư phụ ta bị đánh trọng thương, người vừa trông thấy ta đến liền bảo là chính ta hạ độc thủ. Không phải ngươi thì còn ai vào đây?” Nói tới đây, Kiều Phong mặt đầy sát khí, từ từ giơ tay phải lên, chỉ chờ A Châu nói một câu ấp úng là đập xuống, dẫu đến mười A Châu cũng chết ngay tức khắc.

    A Châu thấy đôi mắt chàng tóe lửa, khiếp sợ vô cùng, hốt hoảng lùi lại hai bước. Nàng chỉ lùi thêm hai bước nữa là rơi ngay xuống vực sâu vạn trượng. Kiều Phong nghiêm giọng quát: “Đứng lại! Không được nhúc nhích!” A Châu sợ quá, nước mắt nhỏ ròng ròng, giọng run run đáp: “Tiểu nữ không… không giết song thân đại gia, cũng chẳng… chẳng giết sư phụ đại gia. Bản lĩnh sư phụ đại gia ghê gớm đến mức nào, làm sao tiểu nữ… ám hại được người?”

    Câu cuối cùng của nàng quả là có sức thuyết phục. Kiều Phong hồi tâm nghĩ lại, biết ngay mình trách oan. Lập tức chàng đưa vụt tay trái ra nhanh như chớp, giữ lấy vai nàng kéo vào vách đá cho khỏi sẩy chân rơi xuống vực, rồi mới nói: “Phải rồi! Phải rồi! Sư phụ ta chắc chắc không phải do cô nương ám hại.” Sư phụ Huyền Khổ đại sư là sư huynh đệ với các vị cao tăng Huyền Từ, Huyền Tịch, Huyền Nạn, đáng gọi là cao thủ bậc nhất võ lâm. Người viên tịch không phải do trúng độc, cũng chẳng phải do gươm đao hay ám khí đả thương, mà do chưởng lực trầm trọng đánh nát tạng phủ. A Châu là một cô gái nhỏ tuổi làm gì có nội lực thâm hậu đến thế? Nếu nội lực nàng có thể đánh chết được Huyền Khổ đại sư thì Đại Kim Cương Chưởng của Huyền Từ quyết không thể đánh cho nàng chín phần chết một phần sống được.

    A Châu đang giàn giụa nước mắt cũng phá lên cười, đấm nhẹ vào ngực chàng nói: “Đại gia kỳ cục, nói năng vô lý làm tiểu nữ sợ muốn chết. Nếu tiểu nữ có bản lãnh đánh chết được vị đại sư đó, thì ở Tụ Hiền Trang đã giúp đại gia giết sạch bọn khốn kiếp kia rồi.”

    Kiều Phong thấy nàng giận dỗi, trong lòng cũng thấy hổ thẹn, nói: “Mấy bữa nay thần trí ta hoang mang bất định thành ra ăn nói lăng nhăng, xin cô nương đừng trách.” A Châu cười đáp: “Ai mà thèm trách đại gia? Nếu tiểu nữ giận thật thì đời nào còn nói chuyện với đại gia nữa.” Nàng bỗng nghiêm trang lại, nhỏ nhẹ nói: “Kiều đại gia, dù đại gia đối xử thế nào thì suốt đời tiểu nữ cũng không bao giờ giận đại gia đâu.”

    Kiều Phong lắc đầu, bình thản nói: “Ta đã cứu mạng cô nương thật, nhưng cô nương cũng đừng để tâm làm gì.” Chàng ngơ ngẩn xuất thần, đột nhiên lại hỏi: “A Châu! Ai dạy cho nàng cái tuyệt kỹ hóa trang đó? Sư phụ nàng có còn đệ tử nào khác không?” A Châu lắc đầu: “Không có ai dạy hết. Tiểu nữ từ nhỏ đã thích bắt chước làm người này người khác cho vui, rồi càng tập luyện càng thêm giống, làm gì có sự phụ nào? Không lẽ chuyện chơi nghịch mà cũng phải tầm sư học đạo hay sao?”

    Kiều Phong thở hắt ra, nói: “Thế này thì lạ thật! Không lẽ trên đời này lại có người giống hệt như ta để sư phụ phải nhầm hay sao?” A Châu nói: “Đã có cái đầu mối đó thì cũng dễ. Chúng ta chỉ cần đi tìm người đó, khảo đả hỏi cho ra lẽ là xong.” Kiều Phong đáp: “Đã đành rằng thế. Nhưng trời đất mênh mông, biết tìm đâu ra y. Không chừng y cũng như cô, có tài nghệ hóa trang giống hệt người khác.”

    Chàng bước lại gần vách núi, xem kỹ những vết búa đẽo, nhưng nhìn đi nhìn lại cũng không nhận ra chữ nào, bèn nói: “A Châu cô nương! Ta muốn đi tìm Trí Quang đại sư, hỏi xem trên vách đá đã viết những chữ gì. Chưa tra xét rõ ràng thì thật ta ăn ngủ không yên được.” A Châu nói: “Tiểu nữ sợ ông ta không chịu nói.” Kiều Phong nói: “Nếu ông ta không nói thì mình bức bách van nài bằng được, chứ ta nhất định không bỏ cuộc.” A Châu trầm ngâm nói: “Trí Quang đại sư xem ra kiên cường không sợ chết, dẫu có bức bách van nài cũng chẳng đến đâu. Chi bằng…” Kiều Phong gật đầu: “Đúng rồi! Chỉ còn cách đi hỏi Triệu Tiền Tôn. Úi chà, gã này lại càng không sợ chết, chẳng khuất phục đâu, Nhưng ta đã nghĩ ra một cách đối phó với gã rồi.”

    Chàng nói tới đây, lại quay sang nhìn xuống vực thẳm rồi tiếp: “Ta định xuống đó xem.” A Châu giật nảy người, nhìn xuống vực chỉ thấy mây che mù mịt, bất giác run chân vội lùi thêm hai bước nữa, nói: “Không được! Không được! Đại gia muôn vạn lần không nên xuống. Dưới đó có gì để coi đâu?” Kiều Phong đáp: “Ta là người Hán hay người Khất Đan, chuyện đó cứ quanh quẩn mãi trong đầu không yên được. Dù sao ta cũng xuống tìm hiểu cho minh bạch, xem cái xác của người Khất Đan đó ra sao.” A Châu nói: “Người đó nhảy xuống đã ba chục năm rồi, nhiều lắm là còn vài nắm xương trắng, có gì để mà xem?” Kiều Phong đáp: “Chính là ta muốn xuống xem nắm xương tàn của y. Nếu quả đó là phụ thân sinh ra ta, thì phải xuống đem lên an táng cho tử tế mới phải đạo làm con.”

    A Châu sợ quá, kêu lên: “Không thể! Không thể như vậy? Đại gia nhân từ hiệp nghĩa, sao lại là dòng dõi Khất Đan tàn bạo ác độc được?” Kiều Phong nói: “Cô nương cứ ở đây chờ ta một ngày một đêm. Nếu giờ này ngày mai ta chưa lên thì khỏi phải chờ thêm nữa.” A Châu kêu lên một tiếng, khóc òa nói: “Kiều đại gia! Đại gia đừng xuống!”

    Kiều Phong tính tình cứng cỏi, không động lòng chút nào, tủm tỉm cười nói: “Bao nhiêu anh hùng hảo hán ở Tụ Hiền Trang còn chưa giết ta được, chẳng lẽ cái sơn cốc này lấy được mạng ta hay sao?” A Châu quýnh quáng không tìm được lời ngăn trở, đành nói: “Không chừng dưới đó có rắn độc, trùng độc, hay quái vật hung dữ thì sao? “

    Kiều Phong cười ha hả, vỗ nhẹ lên vai nàng, nói: “Nếu quả có quái vật thì tốt quá. Ta sẽ bắt lên cho cô nương tha hồ nghịch ngợm.” Chàng xem xét bốn phía hang núi, định tìm chỗ sườn núi nào dễ trèo xuống nhất.

    Giữa lúc ấy, phía đông bắc văng vẳng tiếng vó ngựa phi về hướng nam, nghe âm thanh phải đến hai chục con. Kiều Phong lập tức chạy vòng qua sườn núi, nhìn về phía có tiếng chân ngựa. Chàng đứng trên cao nhìn rõ hơn hai chục kỵ sĩ áo vàng giáp vàng đều là quan binh nhà Đại Tống, đi một dãy theo sơn đạo ở sườn núi bên dưới.

    Kiều Phong xem rõ rồi, không coi bọn họ vào đâu, nhưng chỗ chàng và A Châu đang đứng lại là độc đạo hiểm yếu từ ngoài ải tiến vào Nhạn Môn Quan. Năm xưa quần hùng Trung Nguyên chọn nơi này phục kích võ sĩ Khất Đan chính là vì thế, Kiều Phong nghĩ thầm: “Đây là nơi biên phòng hệ trọng, quan binh nhà Đại Tống gặp người lạ mặt thể nào cũng tra hỏi lôi thôi. Chi bằng mình tránh đi cho khỏi phiền phức,” Kiều Phong quay lại chỗ cũ, kéo A Châu nấp đằng sau tảng đá, nói: “Đó là quan binh nhà Đại Tống.”

    Chẳng bao lâu, hơn hai chục kỵ binh chạy lên núi. Kiều Phong từ chỗ nấp nhìn ra đã thấy tên quân sĩ đi đầu, không khỏi xúc động lẩm bẩm: “Năm xưa bọn Uông bang chủ, Trí Quang đại sư, Triệu Tiền Tôn hẳn cũng mai phục đằng sau tảng đá này, thấy bọn võ sĩ Khất Đan cưỡi ngựa chạy ngang yếu lộ. Hôm nay đá núi vẫn trơ trơ ra đó, mà các võ sĩ Tống Liêu năm nào đã biến thành xương trắng gần hết rồi.”

    Kiều Phong còn đang bâng khuâng nghĩ ngợi, bỗng nghe tiếng trẻ con kêu khóc, chàng giật mình như người nằm mơ sực tỉnh, tự hỏi: “Tại sao lại có trẻ nít khóc?” Tiếp theo lại nghe tiếng đàn bà kêu rú lên. Chàng thò đầu ra nhìn bọn quan binh Đại Tống, thấy tên nào cũng bắt được mấy người đàn bà, trẻ con ăn mặc theo lối du mục Khất Đan. Nhiều tên còn đưa tay sờ nắn bọn đàn bà con gái Khất Đan trông thật thô bỉ khả ố, người nào chống cự lại lập tức bị quát mắng đánh đập. Kiều Phong lấy làm kỳ lạ không hiểu nguyên do, chỉ thấy cả bọn vượt ngang qua tảng đá lớn, đi thẳng về phía Nhạn Môn Quan.

    A Châu hỏi: “Kiều đại gia! Sao bọn họ lại làm thế?” Kiều Phong lắc đầu nghĩ thầm: “Quan quản trấn thủ biên cương sao lại càn rỡ thế này.” A Châu lại nói: “Bọn quan binh này chẳng khác gì đạo tặc.”

    Kế đó, lại có thêm một đoàn khoảng ba chục tên quan binh khác đi về, dẫn theo một đàn bò cừu đến vài trăm con và mười mấy phụ nữ Khất Đan nữa. Một tên nói: “Lần này thu hoạch chẳng ra gì, không biết đại soái có nổi giận không?” Một tên quan quân khác nói: “Kể ra thì không lấy được nhiều bò cừu của bọn Liêu cẩu. Nhưng trong đám đàn bà có mấy đứa mặt mày không đến nỗi tệ, đem về cho hầu hạ đại soái thì ngài sẽ bớt giận ngay.” Gã thứ nhất lại nói: “Được có ba chục đứa đem về, làm sao đủ chia tới phần chúng mình? Đành phải vất vả thêm một ngày, mai lại đi thu hoạch.” Một tên cười nói: “Bọn Liêu cầu nghe tin chắc trốn sạch rồi. Muốn đi thu hoạch phải chờ mấy tháng nữa.”

    Kiều Phong nghe tới đây lửa giận xông lên, nghĩ bụng: “Hành vi của lũ quan binh này còn tệ hại hơn bọn đạo tặc hạng bét trên giang hồ.” Đột nhiên một đứa con nít đang được bế trong lòng mẹ khóc thét lên. Người phụ nữ Khất Đan gạt tay tên quân Đại Tống đang sờ soạng ra, vỗ về đứa nhỏ đang khóc. Y nổi giận, nắm lấy đứa nhỏ quật xuống đất rồi cho vó ngựa xéo lên, lập tức ruột gan đứa nhỏ lòi ra. Người đàn bà Khất Đan như chết đứng, không khóc nổi thành tiếng. Bọn quan binh cất tiếng cười rộ, vẫn tiếp tục rầm rập chạy qua.

    Kiều Phong đã từng chứng kiến vô số cảnh tàn bạo hung ác, nhưng công nhiên tàn sát con nít để làm trò đùa thì mới thấy lần thứ nhất. Chàng cực kỳ phần nộ, nhưng cố nén lại không phát tác ngay.

    Đoàn quan quân đó qua rồi, lại có thêm một toán hơn chục tên nữa hùng hổ đi tới, Những tên lính Đại Tống ngồi trên lưng ngựa, giơ cao trường mâu, đầu ngọn giáo nào cũng có bêu một cái thủ cấp máu chảy đầm đìa. Sau yên ngựa lại buộc một sợi dây dài, trói năm người đàn ông Khất Đan. Kiều Phong nhìn cách ăn mặc thấy cũng toàn là dân chúng chăn nuôi tầm thường. Hai người đã già đầu tóc bạc phơ, còn ba người kia là thiếu niên mười lăm, mười sáu tuổi. Chàng hiểu ngay, khi thấy bọn quan binh Đại Tống này qua cướp bóc, những người du mục Khất Đan tráng niên mạnh khỏe đều chạy thoát, chỉ có đàn bà con trẻ và người già yếu là bị bắt.

    Bỗng thấy một tên quan binh cười nói: “Chặt được mười bốn cái thủ cấp, bắt sống được năm con chó Liêu, công lao không lớn nhưng cũng không nhỏ. Bọn ta được thăng một cấp, thưởng một trăm lượng bạc là cái chắc rồi.” Lại một người khác nói: “Cao huynh đệ! Có một thị trấn Khất Đan cách đây năm mươi dặm về phía tây, ngươi có dám đến đó thu hoạch không?” Gã họ Cao liền đáp: “Có quái gì mà không dám? Ngươi khinh ta là lính mới chăng? Chính vì ta mới đến, đang cần lập chút công lao đây.” Bọn chúng vừa nói chuyện vừa đi đến gần tảng đá lớn.

    Một ông già Khất Đan trông thấy xác đứa trẻ vỡ bụng nằm dưới đất, đột nhiên gào to lên đầy vẻ bị thương, xông tới ôm lấy nó hôn hít không ngừng. Kiều Phòng không hiểu tiếng Khất Đan, nhưng chỉ nhìn cũng biết đứa bé bị ngựa xéo chết kia hẳn là thân nhân của ông lão. Tên lính đang nắm sợi dây trói ông già bèn ra sức giật liên hồi, kéo ông ta đi. Ông già Khất Đan như phát điên lên, nhảy xổ vào y. Tên lính kinh hãi, vung đao chém xuống người ông lão, lão còn cố sức giật mạnh một cái, kéo y ngã từ trên lưng ngựa xuống đất rồi há mồm cắn luôn vào cổ. Lúc đó một tên lính Đại Tống khác đang ngồi trên ngựa bèn vung đao chém phập vào lưng ông lão, lại cúi xuống xách cổ lão lôi ra, tên lính ngã dưới đất mới đứng dậy được. Hắn tức quá, lại vung đao chém liên tiếp mấy nhát vào người ông già, lão loạng choạng rồi té lăn xuống đất. Bọn quan binh đứa cầm trường mâu, đứa cầm đoản đao bu lại vây quanh.

    Ông lão Khất Đan đột nhiên đứng phắt dậy quay về hướng bắc, cởi phanh áo ra, ưỡn ngực cất tiếng hú lên, thanh âm thê lương bi thảm tựa như tiếng chó sói tru. Cả bọn quan quân đều lộ vẻ kinh hãi.

    Kiều Phong trong lòng thảng thốt, bỗng nhiên có cảm giác ông lão Khất Đan kia với mình có điều gì gần gũi tự sâu thẳm trong lòng. Chàng nghe tiếng hú như sói tru kia, bất giác nhớ lại hoàn cảnh lúc mình trúng mấy nhát đao tại Tụ Hiền Trang, cha con Đơn Chính dùng đao đâm tới. Khi đó biết mình sắp chết, trong lòng bi phẫn không sao nhịn được, đã rống lên như mãnh thú cùng đường.

    Mấy tiếng hú của lão già Khất Đan đã gợi lên trong lòng Kiều Phong một tâm tình thân cận. Chàng không nghĩ ngợi gì nữa, nhảy vọt từ đằng sau tảng đá ra, vươn tay chộp từng đứa từng đứa quan binh Đại Tống ném xuống vực sâu. Kiều Phong càng đánh càng hăng, phóng chưởng đẩy cả mấy con ngựa chúng cưỡi xuống thâm cốc, tiếng ngựa hí người kêu nổi lên ầm ĩ một lúc rồi ngừng bắt.

    A Châu và bốn người Khất Đan sống sót thấy chàng thần uy như vậy, ai nấy đứng thộn mặt ra mà nhìn. Kiều Phong giết sạch hơn chục tên quan binh rồi, cất tiếng hú lên một tràng dài, vang động cả khe núi. Chàng thấy ông lão Khất Đan kia trúng mấy nhát đao mà vẫn đứng sững như trời trồng, trong bụng kính trọng lão là một tay hảo hán, bước đến trước mặt thấy lão đã tắt thở chết rồi, vẫn hướng về phương bắc, ngực áo phanh ra. Kiều Phong nhìn vào ngực ông già bỗng hoảng hốt la lên một tiếng, lùi lại một bước, loạng choạng suýt ngã.

    A Châu cả kinh vội hỏi: “Kiều đại gia? Đại gia… làm sao thế?”, Nghe roạc roạc mấy tiếng, Kiều Phong đã xé toạc áo mình ra, để lộ bộ ngực đầy lông đen. A Châu nhìn vào thấy trên ngực chàng có xăm hình đầu một con chó sói xanh lè, há miệng nhe nanh, coi rất hung dữ. Nàng nhìn lại ông già Khất Đan, thấy ngực ông ta cũng có hình đầu chó sói giống hệt như của Kiều Phong. Cả bốn người Khất Đan kia cũng kêu lên những tiếng lạ lùng.

    Kiều Phong từ lúc ba tuổi có chút hiểu biết, đã thấy trên ngực mình có hình đầu con sói xanh, nhưng vì từ nhỏ đã có nên không coi là chuyện lạ. Đến khi lớn lên mới hỏi song thân, vợ chồng Kiều Tam Hòe bảo là xăm hình cho đẹp, trầm trồ khen ngợi một lúc, nhưng không nói rõ lai lịch vết xăm. Về thời Bắc Tống, xăm hình trên người là chuyện bình thường, có người xăm hết từ đầu đến chân. Nhà Đại Tống thừa kế giang sơn của họ Sài nhà Hậu Chu. Vị hoàng đế khai quốc nhà Hậu Chu là Quách Uy, nơi cổ có xăm hình một con chim sẻ, vì thế người ta thường gọi là Quách Tước Nhi. Huynh đệ trong Cái Bang thì mười người đến chín có thích hoa văn, nên Kiều Phong cũng chẳng nghi ngờ gì cả.

    Nhưng hôm nay chàng nhìn thấy lão già Khất Đan bị giết trên ngực có hình đầu chó sói xanh giống y hệt như mình, không khỏi cực kỳ kinh ngạc, Bốn người Khất Đan kia vây quanh chàng, vừa nói gì đó vừa chỉ vào ngực chàng. Kiều Phong ngơ ngẩn không hiểu họ nói gì. Ông già đột nhiên cởi áo mình ra, để lộ bộ ngực, trên đó cũng có xăm hình đầu chó sói. Ba gã thiếu niên cũng cởi áo, đứa nào cũng có xăm hình y hệt.

    Kiều Phong không còn nghi ngờ gì nữa, biết chắc mình là dòng giống Khất Đan. Hình đầu sói trước ngực, nhất định là ký hiệu một bộ tộc Khất Đan, người ta thích vào từ lúc sơ sinh. Chàng trước nay vẫn thống hận người Khất Đan, cho rằng họ tàn ác đê tiện, không giữ tín nghĩa, tàn sát người Hán cực kỳ thê thảm. Bây giờ chàng phải thừa nhận mình chính là giống người không bằng cầm thú kia, trong lòng đau khổ khôn cùng.

    Kiều Phong đứng sững một hồi, đột nhiên gầm lên một tiếng thật to rồi cắm đầu chạy vào rừng núi như nổi cơn điên. A Châu vội gọi: “Kiều đại gia! Kiều đại gia!” rồi lật đật chạy theo.

    Nàng chạy hơn mười dặm mới thấy chàng ngồi ôm đầu dưới một gốc cây, sắc mặt nhợt nhạt, những đường gân xanh nổi vặn cuồn cuộn trên trán. A Châu chạy đến ngồi cạnh chàng.

    Kiều Phong co rút người lại, ngồi nhích ra, nói: “Ta là giống mọi rợ Khất Đan không bằng con heo con chó. Từ đây trở đi, cô nương chẳng nên nhìn mặt ta nữa.”

    A Châu vốn dĩ cũng như bao nhiêu người Hán khác, thống hận người Khất Đan tận xương tủy. Nhưng trong lòng nàng Kiều Phong thật chẳng khác gì một vị thiên thần phải tôn thờ, Đừng nói chàng là người Khất Đan mà là mãnh thú, ma quỷ hay là gì đi nữa, nàng cũng không muốn bỏ chàng mà đi. A Châu nghĩ bụng: “Lúc này trong lòng Kiều đại gia vô cùng đau đớn, ta càng phải ôn nhu an ủi nhiều hơn.” Nàng bèn nhỏ nhẹ nói: “Bất luận dân Hán hay dân Khất Đan cũng có người tốt người xấu. Kiều đại gia, đại gia chả nên quan tâm làm gì.Tính mạng A Châu này đã được đại gia cứu thoát thì dù đại gia là người Hán hay người Khất Đan cũng vậy, A Châu không phân biệt chi hết.”

    Kiều Phong lạnh lùng đáp: “Ta không cần cô nương an ủi, thực ra trong lòng cô nương chẳng coi ta vào đâu, bất tất phải giả vờ tìm câu nói lấy lòng. Ta cứu mạng cô nương cũng chẳng phải do bản tâm đâu, chẳng qua chỉ nhất thời hiếu thắng tranh cường. Chuyện đó từ nay xóa hết, cô nương mau mau đi đi.”

    A Châu trong lòng bồn chồn, nghĩ thầm: “Kiều đại gia đã biết mình là người Khất Đan, không chừng sẽ đến sa mạc bắc phương, từ nay không trở lại Trung Nguyên nữa.” Nàng hốt hoảng, vội đứng lên năn nỉ: “Kiều đại gia! Nếu đại gia nhất định bỏ đi, tiểu nữ sẽ nhảy xuống vực thẳm tự tận. A Châu này biết rồi, đại gia là anh hùng hảo hán Khất Đan, không coi đứa a hoàn hạ tiện người Hán vào đâu, chi bằng đi tìm cái chết là hơn.”

    Kiều Phong nghe giọng nàng cực kỳ thành khẩn, trong lòng đâm ra cảm động. Chàng vẫn nghĩ mình đã là giống mọi rợ thì bao nhiêu người Hán trong thiên hạ đều coi như rắn rết chỉ muốn tránh xa, ngờ đâu A Châu đối với mình vẫn không khác chút nào. Kiều Phong bất giác đưa tay ra nắm lấy tay nàng, dịu dàng nói: “A Châu! Nàng là thị tì của Mộ Dung công tử chứ nào phải của ta, ta… ta nào có dám coi thường nàng?”

    A Châu đáp: “Tiểu nữ không cần đại gia an ủi, thực ra trong lòng đại gia chẳng coi tiểu nữ vào đâu, bất tất phải giả vờ tìm câu nói lấy lòng.” Nàng nhại lại mấy câu Kiều Phong vừa nói, thanh âm giọng điệu cũng giống hệt, nhưng trong ánh mắt đầy vẻ nghịch ngợm tinh ranh. Kiều Phong thốt nhiên cười ha hả, chàng đang buồn bực đến cùng cực, gặp được một cô gái thông minh lanh lợi an ủi như thế này, phiền não cũng khuây khỏa bớt.

    A Châu bỗng nghiêm nét mặt nói: “Kiều đại gia, tiểu nữ phục thị Mộ Dung công tử thì có, nhưng không phải đã bán mình cho công tử đâu. Chỉ vì tiểu nữ từ bé không cha không mẹ bơ vơ lưu lạc, một hôm bị người ta hiếp đáp, gặp được Mộ Dung lão gia cứu đem về. Tiểu nữ không nơi nương tựa, mới ở lại nhà ông ta làm một đứa a hoàn. Thực ra Mộ Dung công tử cũng không coi tiểu nữ như đầy tớ, lại còn mua cho mấy đứa nô tì phục thị nữa kìa. A Bích muội tử cũng thế, được phụ thân cô ta gửi vào nhà Mộ Dung lão gia ở Yến Tử Ổ để lánh nạn. Năm xưa, Mộ Dung lão gia và phu nhân có nói rằng, ngày nào thiếp và A Bích muốn rời khỏi Yến Tử Ổ, Mộ Dung gia trang sẽ vui vẻ để bọn thiếp đi…” Nàng kể đến đây, khuôn mặt bẽn lẽn. Thực ra khi đó Mộ Dung phu nhân nói rằng: “Ngày nào A Châu, A Bích về nhà chồng, toàn thể gia trang nhà Mộ Dung sẽ làm lễ vu qui, dùng kiệu hoa đưa ra khỏi cửa, không khác gì gả con gái cho người ta”. Nàng ngừng lại một chút rồi nói với Kiều Phong: “Từ nay trở đi tiểu nữ sẽ phục thị đại gia, làm kẻ nữ tì. Mộ Dung công tử không trách cứ gì đâu.”

    Kiều Phong xua tay lia lịa, nói: “Không được! Không được! Ta là một gã người Hồ man mọi, làm gì mà có nữ tì? Cô nương sống với gia đình phú quí đất Giang Nam đã quen, theo ta chỉ tổ phiêu lưu khổ sở, có gì là thú? Cô nhìn xem, một gã hán tử thô lỗ như ta liệu có đáng để cô nương phục thị không?”

    A Châu thản nhiên cười đáp: “Thế thì đại gia cứ coi tiểu nữ là một đứa nô tì đi cướp về được, vui vẻ thì thưởng cho một nụ cười, bực mình thì tha hồ đánh đập mắng nhiếc. Đại gia đã vừa lòng chưa?” Kiều Phong mỉm cười, nói: “Ta chỉ đánh ra một quyền là cô chết ngay tức khắc,” A Châu nói: “Vậy thì xin đại gia đánh nhè nhẹ thôi, đừng ra tay quá nặng.” Kiều Phong cười ha hả nói: “Đánh nhè nhẹ thì thà không đánh còn hơn. Thế nhưng ta chẳng cần nô bộc làm quái gì.” A Châu đáp: “Đại gia là một vị anh hùng Khất Đan, đi bắt vài cô gái người Hán về làm nô lệ có gì mà không được? Chính mắt đại gia cũng trông thấy quan binh nhà Đại Tống đi bắt người Khất Đan đấy thôi.”

    (còn tiếp)

    Nguồn: Thiên Long bát bộ. Tiểu thuyết của Kim Dung. Tác phẩm được bắt đầu được đăng trên tờ Minh báo ở Hồng Kông và Nam Dương thương báo ở Singapore vào ngày 03-09-1963 đến ngày 27-05-1966, liên tục trong 4 năm. Các Dịch giả: Hàn Giang Nhạn; Đông Hải; Nguyễn Duy Chính. NXB Văn học, 2002.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,165,671

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/