Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,163,850

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Thiên Long bát bộ

Kim Dung

  • Thứ tư, 08:25 Ngày 13/01/2021
  • Thiên Long bát bộ

    Lại nghe Triệu Tiền Tôn nói: “Nghe nói Cô Tô Mộ Dung Phục có cái trò gậy ông đập lưng ông lớn mật làm càn, loạn sát người vô tội. Ta cũng muốn gặp y một chuyến xem tên tiểu tử này có bản lĩnh gì mà đập được lưng ông Triệu Tiên Tôn Lý Chu Ngô Trịnh Vương này. Tiểu Quyên, nàng gọi ta đến Giang Nam, ta đĩ nhiên là phải đi rồi, huống hồ…”

    Triệu Tiền Tôn còn đang nói dở câu bỗng nghe có tiếng người khóc rống lên, cũng thê thảm nức nở hệt như tiếng y vừa khóc xong. Mọi người đều lấy làm lạ, nghe thấy người kia vừa khóc vừa kể lể: “Sư muội yêu quí của ta ơi, ta có chỗ nào không phải với nàng đâu? Sao lại bỏ ta đi lấy cái lão họ Đàm để cho ta đêm thương ngày nhớ không lúc nào khuây. Tiểu Quyên sư muội ơi! Ta nhớ lại lúc sư phụ hãy còn, coi ta và nàng như con đẻ. Sư muội bỏ ta thì còn mặt mũi nào mà sau này trông thấy sư phụ nữa?”

    Thanh âm ngữ điệu giống hệt giọng của Triệu Tiền Tôn không khác chút nào, nếu mọi người không thấy y há hốc mồm đầy vẻ ngạc nhiên thì ai cũng tưởng chính miệng y nói ra. Mọi người quay đầu nhìn lại thì người phát ra tiếng khóc là một thiếu nữ mặc áo dài màu hồng nhạt. Người con gái đó xoay lưng lại, chính là A Châu. Đoàn Dự, A Bích và Vương Ngữ Yên vốn đã biết nàng rất sở trường về bắt chước cử chỉ cùng giọng nói người khác nên không lấy gì làm lạ. Còn ngoài ra ai cũng vừa ngạc nhiên vừa buồn cười, tưởng rằng Triệu Tiền Tôn nghe xong thể nào cũng nổi giận đùng đùng. Ngờ đâu mấy lời của A Châu chạm vào vết thương trong tâm khảm, y vốn đã ngừng khóc rồi, lúc này lại đỏ hoe mắt, méo xệch miệng, cùng với A Châu kẻ xướng người họa hai bên giọt vắn giọt dài.

    Đơn Chính lắc đầu, dõng dạc nói: “Đơn mỗ tuy họ Đơn nhưng lại một vợ, bốn nàng hầu, con cháu đầy nhà. Còn vị Song Oai huynh kia, rõ là một mình một bóng, tịch mịch thê lương. Chuyện lỡ làng từ thuở xa xưa, hôm nay nhắc lại e rằng đến khuya cũng chưa hết. Song huynh, chúng ta được Từ trưởng lão và Mã phu nhân của Cái Bang mời đến Giang Nam để bàn về chuyện hôn nhân đại sự của các hạ chăng?” Triệu Tiền Tôn lắc đầu, đáp: “Không phải.” Đơn Chính nói: “Thế thì chúng ta đến đây để thương nghị đại sự của Cái Bang, đó mới là chuyện quan trọng:” Triệu Tiền Tôn thất nhiên nổi giận, hỏi: “Cái gì? Đại sự của Cái Bang mới là chuyện quan trọng, còn chuyện của ta với Tiểu Quyên không quan trọng hay sao?”

    Đàm công nghe tới đây không còn nhịn nổi nữa liền nói: “A Tuệ! Nếu nàng không ngăn những chuyện điên rồ của thằng cha kia lại thì ta không để yên đâu.”

    Mọi người nghe thấy hai chữ A Tuệ đều nghĩ thầm: “Thế ra khuê danh của Đàm bà là A Tuệ, còn tên Tiểu Quyên là do Triệu Tiền Tôn đặt ra”.

    Đàn bà dậm chân hậm hực nói: “Y có gì đâu mà bảo là điên rồ? Ông hại người ta thân tàn ma dại đến thế còn chưa mãn nguyện sao?” Đàm công ngạc nhiên hỏi lại: “Ta… ta… có làm gì đâu mà bảo là hại y?” Đàn bà đáp: “Ta lấy cái lão già vô tích sự như ông khiến sư ca phải buồn lòng…” Đàm công cãi: “Khi bà lấy tôi, tôi đâu có vô tích sự, cũng đâu đã già.” Đàm bà nổi giận nói: “Nói mà không biết xấu, bộ hồi đó ông đẹp trai lịch sự lắm hả?”

    Từ trưởng lão và Đơn Chính nhìn nhau lắc đầu, nghĩ thầm: “Ba người này đều là tiền bối có danh vọng trong võ lâm, vậy mà trước mặt mọi người tranh cãi về chuyện trai gái đời xửa đời xưa, quả thật nực cười.”

    Từ trưởng lão đằng hắng một tiếng rồi nói: “Phụ tử Đơn huynh ở Thái Sơn, phu phụ Đàm thị ở Thái Hàng Sơn cùng các vị huynh đài hôm nay giá lâm, tệ bang trên dưới ai nấy đều nở mày nở mặt. Mã phu nhân, xin phu nhân kể lại từ đầu cho mọi người nghe.”

    Vị Mã phu nhân kia vốn chỉ đứng thõng tay cúi đầu ở một bên, quay lưng về phía mọi người. Bà nghe Từ trưởng lão nói thế, chậm rãi xoay lại, nhỏ nhẹ nói: “Tiên phu bất hạnh qua đời, tiểu nữ chỉ biết trách mình số mệnh long đong, lại chưa được chút con nào để nối dõi nhà họ Mã…” Giọng bà ta tuy nhỏ nhưng thật thanh tao, từng chữ lọt vào tai khiến người nghe thật mủi lòng. Bà nói tới đây dường như đã xúc động, giọng nói thêm vẻ nghẹn ngào. Bao nhiêu vị anh hào trong rừng hạnh nghe nàng nói bất giác động mối thương tâm. Cũng một tiếng khóc mà Triệu Tiền Tôn làm cho mọi người bật cười, A Châu làm cho người ta kinh ngạc, còn Mã phu nhân khiến mọi người chua xót.

    Mã phu nhân lại tiếp: “Sau khi tiểu nữ an táng tiên phu rồi mới kiểm lại các di vật, ở nơi cất giữ quyền kinh tìm thấy một phong thư dùng xi gắn chặt. Trên bao thư có viết: Nếu như ta chết yên lành, phong thư này lập tức đốt ngay, nếu mở ra xem là khiến vong linh ta ở nơi cửu tuyền không yên ổn. Còn nếu ta chết bất đắc kỳ tử, phong thư này phải giao ngay cho các trưởng lão trong bản bang cùng đọc. Việc này trọng đại vô cùng, không được lầm lỡ.”.

    Mã phu nhân nói đến đây, khu rừng hạnh im phăng phắc, đến một chiếc kim rơi xuống đất cũng nghe. Bà ta ngừng lại một chút rồi nói tiếp: “Tiểu nữ thấy tiên phu viết trịnh trọng như thế, biết là việc lớn nên lập tức tìm bang chủ để trình di thư lên. Cũng may bang chủ đang cùng các trưởng lão đến Giang Nam về việc báo thù cho tiên phu. Vì lẽ đó tiểu nữ chưa trình được thư.”

    Mọi người nghe thấy bà ta nói có vẻ khác lạ, nhấn mạnh “cũng may” rồi “vì lẽ đó”, ai cũng liếc nhìn Kiều Phong.

    Kiều Phong từ chiều tối tới giờ thấy xảy ra âm mưu trọng đại nhằm vào mình, tuy đã dẹp yên Toàn Quan Thanh và bốn trưởng lão nổi loạn, nhưng chưa thể gọi là kết thúc. Bây giờ chàng nghe Mã phu nhân nói lại thấy nhẹ nhõm hơn, thần sắc thản nhiên nghĩ thầm: “Bọn họ có âm mưu gì cứ nói ra cho xong. Kiều mỗ bình sinh không làm việc gì ám muội thì còn sợ gì ai vu hãm.”

    Lại nghe Mã phu nhân tiếp tục: “Tiểu nữ biết lá thư này có liên hệ trọng đại đến bản bang, bang chủ và các trưởng lão lại không ở Lạc Dương, sợ lỡ việc nên lập tức đến Trịnh Châu cầu kiến Từ trưởng lão để nhờ lão nhân gia lo liệu. Chuyện về sau thế nào xin Từ trưởng lão nói cho các vị đây nghe.”

    Từ trưởng lão hắng giọng mấy tiếng rồi mới nói: “Việc này nói ra ân oán rất nhiều. Lão phu thấy quả là khó nghĩ.” Mấy câu đó thanh âm trầm buồn, xem ra có chiều u uất. Lão chậm rãi cởi một chiếc bao vải trên lưng xuống, mở ra lấy một cái bao bằng giấy dầu, lại từ bên trong bao lấy ra một phong thư, nói: “Đây là di thư của Mã Đại Nguyên. Tằng tổ, tổ phụ, rồi phụ thân của Đại Nguyên mấy đời đều là người trong Cái Bang, nếu không phải trưởng lão thì cũng là đệ tử tám túi. Ta biết Đại Nguyên từ bé, rất thuộc bút tích của y. Chữ trên bao thư này đích xác là do Đại Nguyễn viết. Khi Mã phu nhân giao cho ta phong thư, dấu niêm phong vẫn còn nguyên vẹn chưa ai đụng tới. Ta cũng lo rằng lỡ mất đại sự, lập tức mở ra xem mà không đợi tụ tập đủ các trưởng lão. Lúc mở bao thư thì có Thiết Diện Phán Quan đất Thái Sơn cũng đang ở đó, có thể làm chứng việc này.”

    Đơn Chính nói: “Đúng như vậy, lúc đó tại hạ đến thăm Từ lão tại nơi ẩn cư, chính mắt nhìn thấy ông ta bóc thư ra xem.”

    Từ trưởng lão mở phong bì lấy ra một tờ giấy, nói: “Ta vừa xem lá thư này, thấy nét chữ không phải là của Đại Nguyên đã hơi kinh ngạc, thấy đầu thư đề là Kiếm Nhiêm huynh đệ, lại càng kỳ quái. Các vị cũng đã biết, Kiếm Nhiêm là tên riêng của Uông bang chủ tiền nhiệm bản bang, nếu không phải là người giao tình rất hậu với ông ta thì không dám xưng hô như thế. Hơn nữa Uông bang chủ qua đời đã lâu, sao lại còn có ai viết thư cho ông? Ta chưa xem trong thư viết gì, vội giở đoạn cuối xem người ký tên, vừa đọc đến lại càng kinh ngạc thêm. Lúc đó ta buột miệng kêu lên: Ô! Thì ra là ông ta! Đơn huynh động tính hiếu kỳ, ngoái đầu sang coi rồi cũng bật lên tiếng: Ô! Thì ra là ông ta!”.

    Đơn Chính gật đầu, ý nói lúc đó quả là như vậy.

    Triệu Tiền Tôn chen vào: “Lão Đơn kia, thế là không được! Đó là mật thư của Cái Bang. Lão không phải là đệ tử một túi, hai túi, đến cả một tên ăn mày hạng bét đi xin cơm ăn cũng chưa phải. Sao lão xem trộm mật thư của người ta?” Ai cũng nghĩ ở điên điên khùng khùng, nhưng câu này quả là hợp lý. Đơn Chính mặt hơi đỏ lên, nói: “Ta… ta chỉ nhìn chỗ ký tên dưới lá thư chứ không nhìn bên trong lá thư viết gì.” Triệu Tiền Tôn nói: “Dù ăn cắp một ngàn lạng vàng hay ăn cắp một đồng tiền cũng là ăn cắp. Tiền nhiều ít khác nhau, nên có ăn cắp lớn ăn cắp nhỏ. Thế nhưng ăn cắp lớn cũng là ăn cắp mà ăn cắp nhỏ thì cũng là ăn cắp. Ngó trộm thư người ta thì không phải là người quân tử. Đã không phải là quân tử thì là tiểu nhân, đã là tiểu nhân thì là hạng đê hèn bỉ ổi. Đã đê hèn bỉ ổi thì nên giết quách đi.”

    Đơn Chính giơ tay xua xua năm đứa con, ý nói không được vọng động, cứ để cho y mặc sức nói càn rồi sau sẽ hay. Lão tuy trong bụng hết sức tức tối nhưng cũng cảm thấy có điều gì khác lạ, tự hỏi: “Gã này vừa gặp mình là đã tìm đủ cách để gây chuyện, không lẽ có thù oán gì với mình từ trước chăng? Trên giang hồ cũng chẳng mấy người không nể mặt Thái Sơn Đơn gia. Sao ta nghĩ mãi không ra nhỉ?”

    Mọi người đang chờ Từ trưởng lão nói tên người ký dưới lá thư, xem đó là hạng người nào mà khiến cho ông ta và Đơn Chính phải kinh ngạc. Khi họ nghe Triệu Tiền Tôn nói chuyện lôi thôi rắc rối thì nhiều người trừng mắt nhìn y ra chiều tức giận.

    Đàm bà thốt nhiên nói: “Các ngươi nhìn gì? Sự ca ta nói câu nào câu nấy đều trúng phóc.” Triệu Tiền Tôn thấy Đàm bà lên tiếng bênh mình, thật như mở cờ trong bụng, nói: “Các ngươi xem đó, đến Tiểu Quyên cũng còn nói thế thì làm sao mà trật được? Tiểu Quyên nói gì, làm gì xưa nay không bao giờ sai.”

    Bỗng dưng một giọng nói y hệt cất lên: “Đúng đó, Tiểu Quyên nói gì, làm gì xưa nay không bao giờ sai. Bà ta lấy Đàm công, không chịu lấy ngươi, cũng hoàn toàn là đúng!” Người nói chính là A Châu. Nguyên từ lúc triệu Tiền Tôn buông lời khinh miệt Mộ Dung công tử, nàng vẫn còn bực mình, nên cứ nhè y mà khiêu khích. Triệu Tiền Tôn nghe tới vậy nụ cười bỗng tắt ngấm, quả là trúng phải tuyệt kỹ gây ông đập lưng ông của nhà Mộ Dung.

    Lập tức có hai ánh mắt nhìn A Châu cực kỳ thắm thiết, bên trái là của Đàm công, bên phải là của Đơn Chính.

    Bóng người thấp thoáng, Đàm bà đã nhảy đến trước mặt A Châu, giơ tay tát một cái thật mạnh, quát lên: “Ta lấy chồng đúng hay sai thì việc gì đến con tiện tì này?” Bà ra tay cực nhanh, A Châu muốn tránh mà không kịp, người ngoài cũng không cách nào cứu viện. Chỉ nghe bốp một tiếng, khuôn mặt trắng nõn nà của A Châu đã hằn năm vết ngón tay thâm tím.

    Triệu tiền Tôn cười ha hả, nói: “Dạy cho con tiện tì này một bài học là phải, ai bảo mi xía miệng vô chuyện người khác.”

    A Châu nước mắt chạy quanh sắp òa lên khóc, Đàm công đã bước tới thò tay vào trong bọc lấy ra một cái hộp bằng ngọc nhỏ, mở nắp hộp, bôi cao vào đầu ngón tay xoa lên má nàng. Đàm bà đánh nàng một cái tát, thủ pháp cực kỳ nhanh nhẹn, nhưng bất qua cũng chỉ vung tay ra rồi rụt tay về, còn Đàm công thoa thuốc lên mặt, bao nhiêu động tác phiền phức mà lại càng mau lẹ hơn. Nàng chưa kịp né tránh, cao đã bôi vào mặt rồi, khuôn mặt đang sưng lên rát bỏng đột nhiên thấy mát rượi khoan khoái. Đồng thời bàn tay trái lại có thêm vật gì, nàng mở ra thấy một cái hộp ngọc bóng loáng, biết là Đàm công tặng cho mình loại diệu dược trị thương linh nghiệm. A Châu chưa kịp khóc đã bật cười.

    Từ trưởng lão không lý gì đến việc Đàm bà càu nhàu với Đàm công, hạ thấp giọng nói tiếp: “Các vị huynh đệ! Người viết lá thư đó là ai, lúc này không tiện nói ra. Từ mỗ ở trong Cái Bang hơn bảy mươi năm, thoái ẩn vào chốn sơn lâm đã ba mươi năm, không còn xông pha giang hồ, chẳng tranh chấp với ai, cũng không gây thù chuốc oán. Từ mỗ sống trên đời cũng đã nhiều, đã không con cháu lại không đồ đệ, tự thấy lòng không mảy may tư vị. Ta sắp nói mấy câu, liệu các vị có tin được không?” Quần cái đồng thanh đáp: “Không tin Từ trưởng lão thì còn biết tin ai?” Từ trưởng lão lại quay sang nhìn Kiều Phong, hỏi: “Ý bang chủ thế nào?” Kiều Phong đáp: “Kiều mỗ trước nay đối với Từ trưởng lão vẫn một lòng kính trọng, tiền bối hẳn đã biết rồi.”

    Từ trưởng lão nói tiếp: “Ta đọc xong lá thư đó, trong lòng nghi hoặc, vừa đau thương lại vừa phẫn nộ. Từ mỗ e mình có chỗ sai lầm liền trao cho Đơn huynh coi. Các vị nên biết rằng Đơn huynh cùng người viết thư trước nay giao hảo, có thể nhận ra bút tích của y. Việc này quan hệ rất lớn, Từ mỗ phải nhờ Đơn huynh kiểm tra cho rõ bức thư này là chân hay giả.”

    Đơn Chính trừng mắt nhìn Triệu Tiền Tôn ý như muốn bảo: “Ngươi còn nói gì nữa thôi?”, Triệu Tiền Tôn nói: “Từ trưởng lão đưa cho ngươi thì dĩ nhiên ngươi có thể coi. Thế nhưng lần đầu ngươi coi là coi lén. Cũng chẳng khác gì một tên đại đạo về sau phát tài không đi ăn cắp nữa, nhưng dẫu y có là tài chủ cũng không rửa được cái tiếng xuất thân đạo tặc.”

    Từ trường lão không thèm lý đến Triệu Tiền Tôn phá rối, nói tiếp: “Đơn huynh! Xin Đơn huynh tuyên bố cho mọi người hay bức thư là chân hay giả!”

    Đơn Chính đáp: “Tại hạ và người viết thư kết bạn lâu năm, trong nhà còn giữ nhiều thư từ của người đó nên lập tức dẫn Từ trưởng lão và Mã phu nhân về tệ xá lấy những lá thư cũ ra so, bút tích quả nhiên giống hệt, ngay cả giấy hoa tiên và phong bì cũng cùng một kiểu, quả là thư thật không còn ngờ gì nữa.”

    Từ trường lão nói: “Lão phu chẳng còn sống được mấy năm nữa nên làm việc gì cũng phải dè dặt. Huống chi việc này có quan hệ đến việc hưng suy của bản bang, cùng thanh danh và tính mệnh của một vị anh hùng hào kiệt, khi nào lại dám mạo muội, cẩu thả.”

    Mọi người nghe ông ta nói thế, ai nấy đưa mắt nhìn Kiều Phong, biết ngay người anh hùng hào kiệt mà ông ta ám chỉ chính là Kiều bang chủ. Có điều không ai dám nhìn thẳng, khi chạm vào ánh mắt ông là lập tức cúi đầu xuống.

    Từ trưởng lão nói tiếp: “Lão hủ biết Đàm thị phu phụ ở Thái Hàng Sơn cùng người viết thư quen biết nhau từ lâu, bèn đến Xung Tiêu Động thỉnh giáo. Đàm công, Đàm bà đã đem hết các điều ủy khúc nói rõ với lão phu. Lão phu thực không dám nói thẳng, đau thương biết bao, xót xa biết bao.”

    Bấy giờ mọi người mới rõ chính Từ trưởng lão mời vợ chồng Đàm công, Đàm bà và Đơn Chính tới Cái Bang để chứng minh việc này cho mình.

    Từ trưởng lão lại tiếp: “Lúc đó Đàm bà lại bảo có một vị sư huynh đã được mục kích việc này. Nếu mời được chính vị này lại thì rõ ràng lắm. Vị này chính là Triệu Tiền Tôn tiên sinh. Nhưng tiên sinh này tính khí khác người, không ai mời được, chỉ có Đàm bà là tiên sinh rất kính nể. Bức thư của bà vừa tới nơi, tiên sinh đã nhận lời tới ngay…”

    Đàm công đột nhiên nổi giận, nhìn Đàm bà hỏi: “Cái gì? Bà gọi y tới đấy ư? Sao không nói cho ta biết trước mà lại lén lút thậm thụt với nhau?” Đàm bà cũng giận, đáp: “Cái gì mà lén lút thậm thụt? Ta viết thư, nhờ Từ trưởng lão sai người đem đi là việc quang minh chính đại. Lão tính hay ghen bậy, biết được lại ầm cửa ầm nhà nên ta mới không cho lão hay.” Đàm công nói: “Làm việc giấu chồng là không giữ đạo xướng tùy, như thế không được!”.

    Đàm bà không thèm cãi, vung tay tát bốp một cái giữa mặt chồng. Đàm công võ công rõ ràng cao hơn vợ nhiều nhưng lại không đỡ gạt cũng chẳng né tránh, cứ để yên cho bà ta đánh một chưởng, rồi thò tay vào túi lấy ra một cái hộp nhỏ, quệt chút cao xoa lên mặt lập tức mặt bớt sưng liền. Người đánh đã nhanh, người chữa lại còn nhanh hơn. Lửa giận hai ông bà nháy mắt đã tiêu tan, người ngoài trông thấy ai cũng nực cười.

    Chỉ nghe Triệu Tiền Tôn thở dài một tiếng, thanh âm thật là ai oán bi thương, nói: “Thì ra là thế, thì ra là thế! Hỡi ôi! Nếu sớm biết thế này thì xưa kia ta chịu để cho nàng tát mấy cái, phỏng có khó gì!” Giọng y đầy vẻ hối hận.

    Đàm bà cũng buồn rầu nói: “Ai bảo xưa kia sư huynh hễ bị muội đánh một tát là đánh lại ngay, chẳng chịu nhượng bộ bao giờ.”

    Triệu Tiền Tôn ngẩn người đứng chết sững, xuất thần nhớ lại năm xưa, cô tiểu sư muội tính tình nóng nảy hay hờn, động tí là xuất thủ ngay. Mỗi khi mình vô duyên vô cớ bị nàng đánh, không nhịn được lại tranh cãi với nhau thành ra mối lương duyên không thể thành toàn. Bây giờ y thấy Đàm công bị tát cứ lẳng lặng chịu đòn không hề oán hận mới chợt hiểu ra, trong lòng đau đớn không chịu nổi. Mấy chục năm qua y trách móc tiểu sư muội bỏ mình đi theo người khác, tưởng phải có nguyên do gì trọng đại, ngờ đâu đối phương chỉ có một tuyệt kỹ gây bà đập lưng tôi mà thôi. Ôi, nếu như khi đó ta bảo nàng đánh thêm mấy cái thì chắc nàng lại không đánh nữa.

    Từ trưởng lão nói: “Triệu Tiền Tôn tiên sinh! Xin tiên sinh tuyên bố cho một câu, những việc viết trong lá thư kia là thật hay là giả?”

    Triệu Tiền Tôn vẫn lẩm bẩm một mình: “Ta đúng là ngốc tử, sao lúc đó lại không nghĩ ra? Học võ là để đánh kẻ thù, đánh ác nhân, đánh bọn tiểu nhân đê hèn, lẽ đâu lại đi đánh người mình yêu, đánh người trong mộng? Đánh là đánh yêu, chửi là chửi yêu, vài cái tát có gì quan trọng đâu mà ta không chịu nổi.”

    Mọi người thấy ông ta si tình cũng đáng thương nhưng cũng thật tức cười. Cái Bang đang có đại sự cần giải quyết, Từ trưởng lão mời người từ xa ngàn dặm đến làm chứng, lại gặp phải một tên si mê ngơ ngẩn, nói ra không biết có thể tin nổi hay không.

    Từ trưởng lão lại nhắc: “Triệu Tiền Tôn tiên sinh, chúng tôi mời tiên sinh tới đây là để nói về chuyện trong bức thư.”

    Triệu Tiền Tôn đáp: “Đúng rồi! Đúng rồi! Trưởng lão hỏi về việc lá thư chứ gì? Lá thư ấy tuy ngắn nhưng tình ý triền miên: Trước đây bốn mươi năm là bạn đồng học, tình cảnh còn như trước mắt. Mỗi lần muội nhớ đến lại tưởng mới hôm qua, sư huynh bây giờ tuy đầu sắp bạc mà bộ mặt tươi cười chẳng khác năm xưa.” Từ trưởng lão hỏi về lá thư của Mã Đại Nguyên để lại, y lại đọc thuộc lòng lá thư của Đàm bà.

    Từ trưởng lão không biết làm thế nào, quay lại nói với Đàn bà: “Đàm phu nhân! Xin phu nhân hỏi tiên sinh giúp cho.”

    Ngờ đâu Đàm bà thấy Triệu Tiền Tôn đem một lá thư bình thường của mình ra đọc trơn như cháo chảy, bất giác cũng thả hồn vào cõi hư vô, trong lòng xiết bạo cảm động, dịu dàng nói: “Sư ca! sư ca nói lại khi đó tình cảnh như thế nào?”

    Triệu Tiền Tôn đáp: “Tình cảnh còn như trước mắt, mọi chuyện ta cũng nhớ như mới hôm qua, sư muội tết hai bím tóc, mỗi bên buộc một sợi chỉ đỏ, hôm đó sư phụ dạy chúng mình chiêu Thâu Long Chuyển Phượng…” Đàm bà chầm chậm lắc đầu nói: “Sư ca, không phải Từ trưởng lão hỏi chuyện chúng mình thuở trước. Sư ca có tham dự cuộc huyết chiến ở Loạn Thạch Cốc ngoài Nhạn Môn Quan, tình hình lúc đó như thế nào, sư ca kể cho mọi người nghe đi.”

    Triệu Tiền Tôn run run nói: “Ngoài Nhạn Môn Quan ư? Nơi Loạn Thạch Cốc… ta… ta…” Mặt y đột nhiên biến sắc, xoay mình một cái về hướng tây nam là chỗ không người, y co giò chạy tuốt, thân pháp cực kỳ mau lẹ. Y đã chạy vào trong rừng thì thật khó mà đuổi kịp, mọi người cùng kêu lên: “Triệu Tiền Tôn tiên sinh! Đừng chạy, mau quay lại!” Triều Tiên Tôn nào có nghe, lại càng ra sức chạy nhanh.

    Đột nhiên có tiếng nói dõng dạc: “Sư huynh bây giờ đầu đã bạc, bộ mặt méo mó chẳng giống năm xưa…” Triệu Tiền Tôn lập tức đứng lại, quay đầu hỏi: “Ai nói đó?” Người kia nói tiếp: “Nếu không thế thì sao trông thấy Đàm công lại tự thẹn mình kém cỏi, co giò chạy trốn?” Mọi người nhìn xem ai nói, thì ra Toàn Quan Thanh.

    Triệu Tiền Tôn bực tức đáp: “Cái gì mà bảo thẹn vì mình kém cỏi? Y bất quá chỉ có công phu chịu đòn không đánh trả mà thôi, chứ có gì hơn ta đâu?”

    Đột nhiên từ bên kia khu rừng hạnh có tiếng một ông già nói: “Biết chịu đòn không đánh trả là công phu khó học nhất trong thiên hạ, há phải chuyện tầm thường”?

    Hồi 16: Ân xưa oán cũ, sớm bạn trưa thù

    Mọi người quay đầu nhìn lại thì thấy sau cây hạnh có một lão tăng mặt vuông tai lớn, tướng mạo uy nghiêm, mặc áo cà sa màu tro đang bước ra. Từ trưởng lão reo lên: “Trí Quang đại sư ở Thiên Đài Sơn đã đến! Hơn ba mươi năm không gặp, không ngờ đại sư vẫn tráng kiện như xưa.”

    Tên tuổi của Trí Quang đại sư không mấy vang dội, đám hậu bối trong Cái Bang không ai biết đến ông ta. Thế nhưng Kiều Phong và lục đại trưởng lão đều cung kính đứng lên, biết đại sư năm xưa từng dong buồm vượt biển đến những vùng hoang đảo xa xăm tìm cỏ cây lạ về chữa bệnh cho vô số dân chúng vùng Triết Mân Lưỡng Quảng. Vì thế mà đại sư mấy phen bị bệnh, võ công mất hết, nhưng ân huệ với bách tính không phải nhỏ. Mọi người tới tấp chạy lại thi lễ.

    Trí Quang đại sư quay sang Triệu Tiền Tôn, cười nói: “Võ công không bằng đối phương, chịu đòn không đánh trả đã là khó. Võ công cao hơn đối phương, chịu đòn không đánh trả lại càng khó hơn.” Triệu Tiền Tôn cúi đầu ngẫm nghĩ xem chừng đã hiểu.

    Từ trưởng lão nói: “Trí Quang đại sư ân đức tỏa khắp chúng sinh, không ai không kính trọng. Mười năm nay đại sư không còn hỏi đến chuyện chốn giang hồ, hôm nay Phật giá quang lâm quả là phúc lớn của Cái Bang, tại hạ vô cùng cảm kích.” Trí Quang đại sư nói: “Từ trưởng lão của Cái Bang và Đơn phán quan của núi Thái Hàng cùng gọi đến, lão nạp lẽ nào lại không đi? Thiên Đài sơn và Vô Tích chẳng xa xôi gì, hai vị lại nói là việc này liên quan đến phúc họa của lê dân nên đành phụng chiếu.”

    Kiều Phong nghĩ thầm: “Thì ra ông ta được Từ trưởng lão và Đơn Chính mời đến”. Chàng nghĩ tiếp: “Trí Quang đại sư đức cao vọng trọng, không thể nào tham dự âm mưu làm hại ta, có lão nhân gia đến đây cũng là chuyện tốt.”

    Triệu Tiền Tôn đột nhiên nói: “Trận chiến nơi Loạn Thạch Cốc ngoài Nhạn Môn Quan, Trí Quang đại sư cũng có tham dự, lão nói trước đi.” Trí Quang nghe nhắc tới Loạn Thạch Cốc ngoài Nhạn Môn Quan, lập tức sắc mặt lộ vẻ kỳ lạ, vừa bồn chồn vừa sợ sệt, thoạt tiên giống như thấy cảnh quá thảm khốc không muốn nhìn, sau cùng chuyển sang vẻ từ bi thương xót, thở dài nói: “Sát nghiệt nặng nề, chuyện này nhắc lại quả là xấu hổ. Các vị thí chủ, trận chiến nơi Loạn Thạch Cốc đã ba mươi năm rồi, sao hôm nay còn nhắc lại làm chi?” Từ trưởng lão nói: “Chỉ vì hiện nay tệ bang gặp phải biến cố trọng đại, có liên quan mật thiết đến là thư này.” Nói xong cầm thư đưa ra.

    Trí Quang đón lấy thư, xem đi xem lại hai lượt rồi lắc đầu nói: “Oan gia nên cởi không nên buộc, chuyện cũ nhắc lại làm gì? Cứ như ý kiến lão nạp, lá thư này nên hủy đi, không nên để lại vết tích gì là tốt hơn cả.” Từ trưởng lão đáp: “Mã phó bang chủ của bản bang chết thảm, nếu không tra xét rõ ràng thì nỗi oan của Mã phó bang chủ không bao giờ rửa sạch được, mà bản bang lại có nguy cơ tan vỡ.” Trí Quang đại sư gật đầu: “Nói thế là phải!”

    Đại sư ngẩng đầu lên nhìn vầng trăng lưỡi liềm chiếu xuống tàn cây một luồng ánh sáng nhợt nhạt, ngơ ngẩn một lát rồi quay sang nhìn Triệu Tiền Tôn nói: “Thôi được, chuyện lão nạp sai lầm năm xưa không giấu ai nữa, đành có sao nói vậy.” Triều Tiên Tôn nói: “Chúng ta vì nước vì dân, không thể nói là chuyện sai lầm.” Trí Quang lắc đầu: “Sai lầm là sai lầm, đừng dối người dối mình làm chi.” Ông quay sang phía mọi người, bắt đầu kể: “Ba mươi năm trước, hào kiệt Trung Nguyên nhận được tin là một đoàn võ sĩ Khất Đan sắp tấn công chùa Thiếu Lâm để đoạt lấy những đồ phổ võ công đã tàng trữ mấy trăm năm…”

    Mọi người ồ lên một tiếng nho nhỏ, nghĩ thầm: “Dã tâm của bọn võ sĩ Khất Đan quả không phải nhỏ”. Võ công tuyệt kỹ của chùa Thiếu Lâm là vật chí bảo của Trung Nguyên. Khất Đan và Đại Tống đã chinh chiến lâu năm, nếu chúng lấy được những võ công bí kíp của chùa Thiếu Lâm đem về dạy cho quân lính, quan binh Đại Tống không thể nào địch nổi.

    Trí Quang kể tiếp: “Việc đó quả là trọng đại. Nếu như Khất Đan thành công thì Đại Tống sẽ đứng trước cái họa mất nước, bọn con cháu Hoàng Đế chúng ta e rằng bị diệt chủng lưỡi đao dài, giáo nhọn của quân Liêu. Bọn ta thấy sự việc khẩn cấp, không kịp xem xét kỹ càng. Chỉ nghe nói bọn võ sĩ đó sẽ đi bằng lối Nhạn Môn Quan nên ngoài việc thông báo cho chùa Thiếu Lâm biết mà phòng bị, tất cả mọi người lập tức lên đường ra Nhạn Môn Quan nghinh địch, nếu không diệt được hết bọn chúng thì cũng cản trở gian mưu.”

    Mọi người nghe kể đến chỗ sắp đánh nhau với bọn Khất Đan đều nhiệt huyết sôi sùng sục. Nhà Đại Tống bao nhiêu năm nay bị quân Khất Đan lăng nhục, đánh trận nào thua trận ấy, chết quân mất đất, nhân dân đồ thán không phải là ít.

    Trí Quang đại sư chậm rãi quay đầu lại, chăm chăm nhìn Kiều Phong, hỏi: “Kiều bang chủ, nếu như bang chủ nghe được cái tin khẩn cấp như thế thì sẽ hành động ra sao?” Kiều Phong dõng dạc đáp: “Trí Quang đại sư Kiều mỗ kiến thức hẹp hòi, tài đức không đủ để mọi người kính phục, đến nỗi huynh đệ trong bang còn phải nghi ngờ, nói ra quả là hổ thẹn. Dù cho Kiều mỗ vô năng nhưng cũng là một kẻ nam nhi có cốt cách, những việc nghĩa khí như thế quyết phải biết chỗ nào đúng, chỗ nào sai. Đại Tống chúng ta bị quân Liêu cẩu hiếp đáp, thù nhà nợ nước ai mà chẳng nghĩ đến chuyện báo đền? Nếu như Kiều mỗ nghe thấy tin tức như vậy thể nào cũng suất lãnh huynh đệ bản bang đi suốt ngày đêm đến giúp một tay ngăn chặn.”

    Mấy lời của chàng quả là khẳng khái hiên ngang, ai nghe thấy cũng rung động trong lòng, nghĩ thầm: “Nam tử hán đại trượng phu phải như thế mới được.”

    Trí Quang gật đầu nói: “Kiều bang chủ nói vậy thì bọn ta ra ngoài Nhạn Môn Quan phục kích người Liêu không có gì sai trái, phải không?” Kiều Phong trong lòng tức tối, nghĩ thầm: “Ông nghĩ ta là hạng người gì? Nói thế chẳng hóa ra coi thường ta lắm sao?” Tuy nhiên chàng không tỏ ra giận dữ, chỉ nói: “Nghĩa khí anh hùng của các vị tiền bối, Kiều mỗ cực kỳ kính phục, chỉ tiếc không sinh ra sớm ba mươi năm để được theo các vị cùng đi giết quân Hồ Lỗ.”

    Trí Quang nhìn kỹ chàng một lần nữa, mặt thoáng vẻ lạ lùng, chậm rãi nói: “Khi đó chúng ta chia thành nhiều toán chạy đến Nhạn Môn Quan. Ta và vị huynh đệ này…” Ông chỉ vào Triệu Tiền Tôn rồi tiếp: “… đều ở toán thứ nhất. Toán của bọn ta cả thảy hai mươi mốt người, người đứng đầu cũng còn kém ta vài tuổi. Thế nhưng y võ công trác tuyệt, trong võ lâm địa vị tôn quí nên mọi người cử y lên làm thủ lĩnh đại ca, ai nấy nghe lệnh y mà hành sự. Trong toán chúng ta có Uông bang chủ của Cái Bang, Vạn thắng đao Vương Duy Nghĩa lão anh hùng, Địa tuyệt kiếm Hạc Vân đạo trưởng của phái Hoàng Sơn đều là những cao thủ hạng nhất võ lâm thời đó. Lúc đó lão nạp chưa xuất gia, xếp chung vào với quần hùng thật không xứng chút nào, chỉ có điều vì lòng yêu nước giết giặc không dám lùi lại phía sau, giết địch báo quốc không chịu kém người, có chút sức nào góp chút đó. Chính vị nhân huynh này lúc đó võ công cũng cao hơn lão nạp nhiều, còn bây giờ thì khỏi cần nói cũng biết.”.

    Triệu Tiền Tôn nói: “Đúng vậy! Khi đó võ công ta giỏi hơn người nhiều, ít ra cũng chừng này.”Y vừa nói vừa đưa hai tay ra, cao thấp cách nhau đến hơn một thước. Y cho thế còn chưa đủ, lại nhích hai bàn tay ra xa đến thước rưỡi.

    Trí Quang kể tiếp: “Bọn ta tới Nhạn Môn Quan thì trời đã về chiều, lại đi ra khỏi ải thêm độ mươi dặm nữa, vừa đi vừa hết sức phòng bị. Đột nhiên từ phía tây bắc vọng lại tiếng vó ngựa đang phi, nghe tiếng chân phải đến chục kỵ sĩ. Thủ lãnh đại ca giơ tay phải lên, tất cả anh em đều dừng lại. Mọi người trong bụng vừa vui mừng vừa lo lắng, không ai nói câu nào. Vui mừng vì tin tức không phải là giả, mình đã đến kịp để ngăn cản địch. Thế nhưng ai cũng biết bọn võ sĩ Khất Đan này mười phần lợi hại, tử tế thì đã không đến, đã đến ắt chẳng tử tế gì, lại toan tấn công vào phái Thiếu Lâm là Thái Sơn Bắc Đẩu của võ học Trung Quốc thì nhất định phải được tuyển lựa kỹ càng, vạn người lấy một chứ không phải tầm thường. Đại Tống đánh với Khất Đan thua nhiều thắng chẳng bao nhiêu, cuộc chiến hôm nay thắng bại thế nào thực khó mà biết được.”

    “Thủ lãnh đại ca giơ tay vẫy một cái, hai mươi mốt người chúng ta chia nhau ra ẩn đằng sau những tảng đá. Hang núi này mé tả là một vực sâu, đá mọc lởm chởm, thăm thẳm nhìn không thấy đáy.”

    “Tiếng chân ngựa mỗi lúc một gần, rồi có tiếng bảy tám người cùng hát một bài của người Liêu, điệu dài thườn thượt, lại giọng khô khan quê kệch, không ai hiểu gì cả. Ta nắm chặt cán đao, lòng bàn tay toát mồ hôi lạnh bèn lau vào ống quần cho khô, nhưng chẳng mấy chốc lại ướt nữa. Thủ lãnh đại ca nằm ngay cạnh ta, y biết ta hồi hộp lắm nên đưa tay vỗ vỗ lên vai, nhìn ta mỉm cười, lại giơ tay lên chém nhứ một cái ý nói giết sạch quân Hồ Lỗ. Ta cũng cười đáp lại, trong lòng thấy trấn tĩnh hơn nhiều.”

    “Con ngựa đi đầu của bọn Liêu đến cách bọn ta chừng ngoài năm chục trượng, ta từ sau đám loạn thạch nhìn ra xem thấy đám võ sĩ Khất Đan đều mặc áo lông, người giáo dài, kẻ đao ngắn, có đứa lại cầm cung tên, lại có đứa để con chim ưng thật lớn đậu trên vai. Cả bọn vừa đi vừa hát, không biết đằng trước có mai phục. Chỉ giây lát, ta đã nhìn rõ diện mạo của mấy tên Khất Đan đi đầu, đứa nào cũng tóc ngắn râu rậm, trông thật hung dữ. Bọn chúng tới càng lúc càng gần, tim ta mỗi lúc đập một nhanh hơn tưởng như sắp văng qua miệng ra ngoài…”

    Mọi người nghe Trí Quang kể chuyện, tuy biết là chuyện cũ ba mươi năm trước mà ai cũng thấy hồi hộp. Trí Quang quay sang Kiều Phong nói: “Kiều bang chủ, việc này thành hay bại liên quan đến sự yên nguy của nhà Đại Tống cùng sinh mạng của trăm vạn sinh linh, mà bên ta cũng không nắm vững phần thắng, chỉ có một điểm lợi là địch ở ngoài sáng, ta trong bóng tối. Không biết theo ý bang chủ thì phải làm thế nào?”

    Kiều Phong đáp: “Xưa nay đã có câu Binh bất yếm trả, việc này là chuyện hai nước giao tranh không thể nào theo nghĩa khí giang hồ, qui củ võ lâm được. Bọn Liêu cẩu khi giết lê dân nhà Đại Tống chúng ta có bao giờ nương tay đâu? Cứ như ý kiến của tại hạ thì nên dùng ám khí, mà ám khí phải tẩm độc cực mạnh.”

    Trí Quang giơ tay vỗ đùi đánh đét một cái, nói: “Phải lắm! Ý kiến của Kiều bang chủ cũng y hệt như bọn ta hồi đó. Thủ lãnh đại ca thấy bọn Liêu cẩu đến gần, hú lên một tiếng, mọi người liền phóng ám khí ra, đủ cả cương tiêu, tụ tiễn, phi đao, thiết chùy… loại nào cũng tẩm độc cực mạnh. Bọn Liêu cẩu kia kêu la hò hét, loạn cả lên, ngã ngựa đến quá nửa…”

    Trong đám bang chúng Cái Bang lập tức có người vỗ tay, rồi tiếng hoan hô nổi lên.

    Trí Quang nói tiếp: “Bấy giờ ta đã đếm được rõ ràng, võ sĩ Khất Đan cả thảy có mười chín tên, chúng ta dùng ám khí đã tiêu diệt được mười hai, chỉ còn lại có bảy tên. Bọn ta liền nhất tề xông ra, khoa đao kiếm lên chém một lúc chết sạch cả, không có mống nào chạy thoát.”

    Trong Cái Bang cũng vẫn có người reo hò, nhưng Kiều Phong, Đoàn Dự lại nghĩ: “Đại sư vừa nói bọn võ sĩ Khất Đan này được tuyển lựa rất kỹ, sao lại kém cỏi thế, chỉ giây lát đã bị giết sạch?”

    Chỉ nghe Trí Quang thở dài một tiếng nói: “Bọn ta chỉ mới cất tay đã giết sạch mười chín tên võ sĩ Khất Đan, tuy cũng vui sướng thật nhưng trong bụng đã thấy nghi hoặc. Bọn này tầm thường quá, không đứa nào chịu nổi một chiêu, nhất định không phải là hảo thủ. Chẳng lẽ tin tức không chính xác hay sao? Hay là người Liêu bày kế dụ địch để cho bọn ta vào tròng? Mới bàn bạc được vài câu lại nghe tiếng vó ngựa, từ hướng tây bắc có hai người cưỡi ngựa chạy đến.”

    “Lần này bọn ta không mai phục nữa, cùng tiến lên nghinh địch, thấy hai kỵ sĩ là một nam, một nữ. Người đàn ông thân thể khôi vĩ, tướng mạo đường đường, phục sức sang trọng hơn mười chín tên kia nhiều. Người đàn bà còn trẻ, trong tay bồng một đứa hài nhi. Hai người lỏng buông tay khấu, sánh vai nhau cười cười nói nói ra chiều thân mật, rõ ràng là một cặp vợ chồng. Họ trông thấy bọn ta liền lộ vẻ ngạc nhiên, nhìn lại thấy ngay xác mười chín tên võ sĩ nằm dưới đất. Người đàn ông liền lộ vẻ hung dữ, lớn tiếng quát tháo xí xố một tràng bằng tiếng Khất Đan, không hiểu y muốn nói gì.”

    “Thiết tháp Phương Đại Hùng tam ca đất Đại Đồng Sơn Tây giơ cây thục đồng côn lên, quát lớn: Tên Liêu cẩu kia, xuống nạp mạng đi! Y vừa gọi vừa vung côn đập xuống gã Khất Đan kia. Thủ lãnh đại ca trong bụng ngờ vực bèn kêu lên: Phương tam ca không được lỗ mãng! Chớ có giết y, phải bắt sống để tra hỏi xem thế nào.”

    “Thủ lãnh đại ca chưa nói hết câu, tay gã Khất Đan đã vươn ra chộp luôn thiết côn của Phương Đại Hùng, vặn nghe rắc một tiếng, xương tay Phương Đại Hùng đã gãy. Gã giằng lấy cây côn giơ lên vụt xuống, bọn ta kêu réo ầm lên, thấy không thể nào xông lên cứu kịp nên ai nấy liền phóng ám khí vào y. Gã người Liêu kia chỉ phất tay áo bên trái, một cái, một luồng kình phong hất bảy tám món ám khí dạt cả ra. Tính mạng Phương Đại Hùng xem ra không sao còn được, ngờ đâu y đưa côn ra hất một cái, cả Phương tam ca lẫn cây côn đều văng ra ngoài vệ đường. Miệng y vẫn lý lố chẳng biết nói gì.”

    “Mới có một chiêu, bọn ta ai nấy đều chấn động, biết rằng người này võ công cao cường trên đời hiếm có. Quả nhiên tin tức loan truyền không phải là giả, bọn ta e rằng phía sau còn nhiều hảo thủ nên phải lấy đông đánh ít, giết được tên nào hay tên ấy. Lập tức sáu bảy người liền xông lên tấn công hắn, bốn năm người khác cũng xúm lại đánh người đàn bà.”

    Ngờ đâu thiếu phụ đó hoàn toàn không biết võ nghệ, vừa bị chém một kiếm đã đứt lìa cánh tay, đứa trẻ trong tay liền rơi xuống đất, một người khác vung đao hớt đứt luôn nửa cái đầu nàng ta. Gã người Liêu kia võ công tuy cao cường thật nhưng đang bị sáu bảy cao thủ vây đánh thì làm sao có thể phân thân chống đỡ cho vợ con? Mấy chiêu đầu y chỉ cố đoạt binh khí của bọn ta, không làm ai bị thương cả, đến khi thấy vợ chết rồi, mắt y đỏ ngầu, vẻ mặt cực kỳ đáng sợ. Khi đó ta vừa chạm phải mục quang y, tự nhiên chân tay bủn rủn không dám tiến lên.”

    Triệu Tiền Tôn ngắt lời: “Cái đó không thể trách ngươi được! Cái đó không thể trách ngươi được!” Y trừ khi nói với Đàm bà ra, ăn nói với ai cũng ra chiều kẻ cả ngạo mạn nhưng mấy câu này xem ra vừa có phần đau buồn vừa có phần khiêm tốn.

    Trí Quang tiếp: “Trận ác chiến đó diễn ra đã ba mươi năm. Suốt ba chục năm qua không biết bao nhiêu lần ta nằm mơ thấy cái cảnh đó, từng chi tiết rõ ràng in hằn trong tâm khảm. Gã người Liêu vung hai tay ra, không biết y dùng thủ pháp cầm nã nào đoạt luôn được hai món binh khí trong tay hai huynh đệ, vừa chém vừa đâm, giết luôn hai người đó. Y thoắt nhảy xuống đất, thoắt lại vọt lên lưng ngựa, nhanh như chim cắt vồ mồi, biến ảo không khác gì ma quỉ. Đúng thế, y chẳng khác gì ma quỉ hóa thân, xông vào bên đông giết một người, chuyển qua bên tây giết thêm người nữa. Chỉ trong giây lát, trong hai mươi mốt người bọn ta đã có chín người bị y giết chết.”

    “Bấy giờ ai nấy đều tức giận, hai mắt đỏ ngầu. Thủ lĩnh đại ca cùng Uông Bang chúa và cả bọn ta đều liều mạng xông vào giao đấu với y. Thế nhưng võ công gã kỳ lạ không thể tưởng tượng được, chiêu thức sắp đánh về phương nào không ai đoán nổi. Khi đó mặt trời hoàng hôn đỏ như máu, bên ngoài Nhạn Môn Quan gió bấc thổi vù vù hòa lẫn tiếng kêu thảm khốc của các anh hùng hảo hán lúc lâm chung, chân tay, đầu lâu, binh khí, máu me tung tóe rơi rụng. Ai bản lĩnh giỏi mấy cũng chỉ lo tự vệ, không ai chi viện cho người khác được.”

    “Trước tình thế này, ta quả là vô cùng sợ hãi. Nhưng mắt thấy anh em từng người từng người chết thảm, không khỏi nhiệt huyết dâng lên, ta thu hết can đảm, cưỡi ngựa xông thẳng vào y. Hai tay ta cầm đại đao nhắm ngay đầu y chém xuống, biết rằng nhát này không trúng thì tính mạng coi như giao cho y.

    Lưỡi đao còn cách đầu y một thước, gã người Liêu kia đột nhiên chộp ngay một người đưa lên đỡ. Ta hốt hoảng nhìn lại thì ra là lão nhị trong Đỗ thị tam hùng ở Giang Tây, vội gượng giữ đao lại. Cán đao giật về trúng ngay đầu con ngựa ta đang cưỡi nghe đánh chát, con vật đau quá liền hí một tiếng, nhảy chồm lên. Ngay lúc đó gã người Liêu kia phóng chưởng đánh ra, con vật đang lúc nhảy dựng lên vừa đúng lúc để giúp ta một đòn, nếu không ít ta đã xương cốt gãy hết, còn sống sao được tới ngày nay?”

    “Chưởng lực của gã thật là khủng khiếp, hất ta cả người lẫn ngựa bật ngửa ra sau. Thân hình ta bay bổng lên, rơi xuống một ngọn cây, lơ lửng giữa trời. Khi đó ta hồn bất phụ thể, chẳng hiểu mình đang ở chỗ nào, đã chết chưa. Lát sau ta mới nhìn xuống, thấy anh em vây đánh gã người Liêu kia mỗi lúc một ít dần, chỉ còn độ năm sáu người. Vừa khi đó ta nhìn thấy vị nhân huynh này…” Nói tới đây ông chỉ vào Triệu Tiền Tôn kể tiếp: “… lạng đi một cái, té lăn xuống vũng máu, lại tưởng y cũng chết rồi.”

    Triệu Tiền Tôn lắc đầu nói: “Chuyện đó nói ra thật đáng hổ thẹn, nhưng cũng chẳng giấu giếm làm gì. Có phải ta bị thương đâu, vì sợ quá nên tim ngừng đập, mắt tối sầm, bất tỉnh nhân sự đó thôi. Quả đúng thế, ta là con quỷ nhát gan, thấy gã giết người nhiều quá bèn ngất xỉu.”

    Trí Quang nói: “Gã người Liêu kia lợi hại chẳng khác gì ma quỉ sát hại anh em, ai nói không sợ thì thật là nói bậy.” Ông ta nhìn lên vầng trăng non treo lơ lửng trên không rồi lại tiếp: “Lúc đó bên ta chỉ còn  bốn người chiến đấu với tên Liêu cẩu. Thủ lĩnh đại ca biết không xong, thế nào cũng chết cả bèn luôn mồm hỏi: Ngươi là ai? Ngươi là ai? Gã người Liêu kia không trả lời, chỉ trong chốc lát lại giết thêm hai người nữa. Y phóng chân phải lên đá trúng ngay huyệt đạo trên lưng Uông bang chủ, tiếp đó chân trái theo thế Uyên Ương Liên Hoàn, đá trúng huyệt đạo nơi mạng sườn của thủ lĩnh đại ca. Y dùng bàn chân mà đá trúng huyệt đạo, nhận huyện đã chính xác, cước pháp lại lạ lùng thực không thể tưởng tượng được. Nếu như chẳng phải chính mình cũng sắp chết đến nơi, hai người bị đá là hai người ta hằng kính ngưỡng thì chắc ta đã buột miệng hoan hô rồi.”

    “Gã người Liêu kia giải quyết hết cường địch liền chạy đến bên tử thi của thiếu phụ, ôm xác vợ khóc rống lên một hồi cực kỳ bi thảm. Ta nghe tiếng khóc của y không khỏi mủi lòng, thấy tên Liêu cẩu hung ác như ma quỉ kia cũng còn có nhân tính, thống khốc bị ai chẳng khác gì người Hán chúng ta.”

    Triệu Tiền Tôn lạnh lùng nói: “Thế thì có gì là lạ? Loài dã thú còn có tình vợ chồng cha con, có khác gì con người đâu? Người Liêu cũng là người, có khác gì người Hán?” Trong đám Cái Bang có mấy người la ó: “Quân Liêu cẩu hung tàn bạo ngược, còn hơn độc xà mãnh thú, khác xa người Hán chúng ta.” Triệu Tiền Tôn chỉ cười nhạt không đáp.

    Trí Quang kể tiếp: “Gã người Liêu kia ngồi khóc một hồi, ôm xác đứa con nhìn một lát, để hài nhi vào lòng mẹ, bước tới chỗ thủ lĩnh đại ca chửi bới một chập. Thủ lĩnh đại ca cũng không chịu nhịn, giương mắt hầm hầm nhìn y, khổ nỗi huyệt đạo đã bị điểm, không nói được câu nào. Hắn đột nhiên ngẩng đầu lên hú một tiếng dài, nhặt một thanh đoản đao dưới đất, vạch chữ lên sườn núi. Lúc đó trời đã tối mịt, ta lại ở cách y khá xa nên không rõ gã viết những gì.”

    Triệu Tiền Tôn nói: “Y khắc bằng chữ Khất Đan, ngươi có thấy cũng chẳng hiểu được.” Trí Quang đáp: “Đúng thế, ta có thấy cũng chẳng hiểu được. Khi đó bốn bề vắng lặng không một tiếng động, chỉ có tiếng dao khắc lên đá xoèn xoẹt, nghe cả tiếng đá vụn rơi xuống, ta nín hơi không dám thở mạnh. Không biết bao lâu, y vứt thanh đoản đao xuống nghe keng một tiếng, cúi xuống bồng xác vợ con lên, đi đến bờ vực thẳm tung mình nhảy xuống.”

    Mọi người nghe đến đây đều “A” lên một tiếng, không ngờ chuyện lại xảy ra như thế.

    Trí Quang đại sư kể tiếp: “Các vị bây giờ nghe kể còn thấy ngạc nhiên, lúc đó chính mắt ta nhìn lại càng kinh ngạc bội phần. Một người võ công cao cường như thế ở nước Liêu ắt phải có thân phận cao quí, lần này đoàn võ sĩ đến Trung Nguyên tập kích chùa Thiếu Lâm, nếu như y không phải là đại thủ lĩnh thì cũng phải là một nhân vật trọng yếu. Y bắt sống được thủ lĩnh đại ca cùng Uông bang chủ, còn bao nhiêu thì đã giết sạch, coi như toàn thắng rồi, ai ngờ đâu y lại nhảy xuống vực sâu tự tận chứ không thừa thắng tiến lên.”

    “Khi ta tới bên bờ vực nhìn xuống, chỉ thấy mây tỏa mịt mù, sâu không thấy đáy. Y cũng chỉ có cái thân máu thịt, dù cho võ công cao cường tới mực nào mà đã nhảy xuống thì cũng không sao sống sót. Ta giật mình kêu lên một tiếng. Ngờ đâu bên trong chuyện lạ lại có chuyện lạ hơn, ta vừa kệu thét lại có tiếng trẻ con khóc oa oa, rồi từ dưới vực sâu có một vật vọt lên rơi ngay trên mình Uông bang chủ nghe bịch một tiếng. Thế rồi tiếng hài nhi khóc oe oe vẫn không ngừng, hóa ra vật rơi vào người Uông bang chủ chính là đứa nhỏ lúc nãy. Khi đó ta đã bớt sợ, từ trên cây trèo xuống, chạy đến gần Uông bang chủ, thấy đứa bé Khất Đan nằm trên bụng ông vẫn đang khóc.”

    “Ta nghĩ một lúc mới hiểu rõ: nguyên lúc thiếu phụ Khất Đan bị giết, đứa con nàng tuy ngã xuống đất, nhắm mắt tắt hơi nhưng chưa chết hẳn. Gã người Liêu kia đang khóc lóc thảm thiết, sờ mũi con thấy không thở nữa lại tưởng vợ con chết cả rồi, nên ôm hai cái xác nhảy xuống vực tự tận. Đứa hài nhi bị chấn động, tỉnh lại khóc ré lên. Gã người Liêu kia thân thủ quả là ghê gớm, không muốn con phải chết theo mình dưới vực sâu, lập tức bế đứa trẻ quăng lên. Y lượng đúng phương vị khoảng cách nên nhắm ngay bụng Uông bang chủ mà ném, để cho hài nhi không bị thương. Gã đang ở lưng chừng, vừa phát giác ra đứa con chưa chết lập tức tung lên, tâm linh chuyển biến đã mau lẹ, sử lực lại không sai một li nào, tài trí đó, võ công đó ai mà không khiếp sợ.”

    “Ta nhìn anh em chết thảm, trong cơn đau lòng nhấc đứa bé Khất Đan lên định liệng vào vách đá cho chết luôn. Tay ta vừa giơ lên thì đứa trẻ lại khóc oa oa, khuôn mặt hồng hào, đôi mắt to đen láy nhìn ta. Nếu ta không trông vào mặt nó thì đã quật chết tươi rồi, chả còn chuyện gì nữa. Thế nhưng ta thấy khuôn mặt đứa trẻ thật đáng yêu không nỡ ra tay, nghĩ bụng: Hiếp đáp một đứa trẻ chưa đầy tuổi thì thật là hèn mạt, còn nói gì nam tử hán, đại trượng phu?”

    Trong Cái Bang có người la lên: “Trí Quang đại sư! Bọn Liêu cẩu giết hại người Hán chúng ta nhiều vô số kể. Chính mắt tại hạ nhìn thấy chúng cầm trường mâu xiên vào trẻ con người Hán, phóng ngựa bêu khắp phố phường để diễu võ dương oai. Bọn chúng giết trẻ con được, lẽ nào mình lại không giết được?” Trí Quang đại sư thở dài đáp: “Quả đúng như vậy, song tấm lòng trắc ẩn ai mà không có? Hôm đó ta thấy người chết thảm đã nhiều, không nỡ giết thêm một đứa trẻ nữa. Các ngươi nói ta sai lầm cũng được, nói ta nhát gan cũng được, nhưng ta vẫn để nó sống.”

    “Sau đó ta đến định giải huyệt cho thủ lĩnh đại ca và Uông bang chủ nhưng tài nghệ ta kém cỏi, lại thêm công phu đả huyệt của gã Khất Đan kia đặc dị, ta ra sức nào nắn, nào vỗ, nào thoa, nào bóp, hì hục đến đẫm mồ hôi, dùng đủ mọi cách mà thủ lĩnh đại ca và Uông bang chủ vẫn trơ trơ không nhúc nhích, cũng chẳng mở miệng nói được. Ta không còn cách nào khác hơn, lại sợ bọn Khất Đan tới tiếp viện nên dắt ba con ngựa tới, đem thủ lĩnh đại ca và Uông bang chủ buộc lên lưng ngựa. Chính ta cũng cưỡi một con, tay ôm đứa trẻ Khất Đan dẫn thêm hai con ngựa nữa chạy suốt đêm rời Nhạn Môn Quan tìm thầy thuốc chuyên về trật đả nhờ giải huyệt, cũng chẳng ăn thua gì. May sao đến tối hôm sau là đủ mười hai giờ, huyệt đạo hai vị tự nhiên khai thông.”

    “Thủ lĩnh đại ca và Uông bang chủ nhớ ngay đến chuyện võ sĩ Khất Đan tấn công chùa Thiếu Lâm, nên lập tức quay lại Nhạn Môn Quan xem xét tình hình. Thế nhưng chỉ thấy máu đổ thịt rơi đầy mặt đất, hiện trường vẫn nguyên vẹn so với hôm trước. Ta thò đầu ra nhìn xuống vực cũng không lần được một chút manh mối nào. Chúng ta bèn cùng nhau đem thi hài anh em mai táng, nhưng khi đếm lại chỉ có mười bảy tử thi. Đúng ra số người tuẫn nạn phải là mười tám, sao bấy giờ lại thiếu mất một?” Ông ta nói tới đây đưa mắt nhìn Triệu Tiền Tôn.

    Y nhăn nhó cười nói: “Trong đám này có một xác chết hồi sinh, đi đi lại lại được cho đến ngày nay. Cái xác ấy chính là Triệu Tiền Tôn Lý Chu Ngô Trịnh Vương ta đây.”

    Trí Quang lại nói: “Lúc đó ba người chúng ta cũng không lấy làm lạ, lại nghĩ trong lúc hỗn chiến, nhân huynh đây đã chết lặn xuống vực thẳm mất xác cũng là chuyện thường. Bọn ta mai táng anh em xong rồi, căm tức chưa tan, lại đem các xác chết Khất Đan liệng hết xuống dưới Loạn Thạch Cốc. Thủ lĩnh đại ca nói với Uông bang chủ: Kiếm Nhiêm huynh, gã Khất Đan kia mà muốn giết hại người chúng ta thật dễ như trở bàn tay, sao lại chỉ đá vào huyệt đạo để cho mình sống tới bây giờ?” Uông bang chủ đáp: “Việc đó ta cũng nghĩ mãi mà chưa ra, hai ta là nhân vật đầu sỏ giết cả vợ con yêu dấu của gã, cứ lý mà nói thì phải đuổi tận giết tuyệt mới đúng.”

    “Ba người bàn đi tán lại mãi vẫn không ra lẽ. Thủ lĩnh đại ca bèn nói: Gã khắc chữ trên vách đá chắc hẳn có thâm ý gì. Khổ nỗi cả ba người chúng ta không ai hiểu văn tự Khất Đan, thủ lĩnh đại ca bèn xuống suối lấy nước hòa máu đọng dưới đất tô lên vách đá, sau đó xé trường bào màu trắng, in vào đó. Y chỉ dùng một con dao găm mà khắc chữ sâu vào đá phải đến hai tấc, riêng thủ kình đó cũng đủ xưng hùng thiên hạ không ai bì kịp rồi. Ba người nhìn mà kinh ngạc, nhớ lại tình hình hôm qua trong lòng vẫn còn thảng thốt. Vào trong quan ải rồi, Uông bang chủ đi tìm một gã lái ngựa thường qua lại Thượng Kinh nước Liêu buôn bán, y có biết chữ Khất Đan, đưa tấm vải cho y xem, nhờ dịch ra chữ Hán rồi viết lên giấy.”

    Trí Quang thuật đến đó, ngẩng đầu nhìn trời, thở dài một tiếng rồi tiếp tục kể: “Ba người chúng ta đọc xong bản dịch rồi, người nọ nhìn người kia không sao tin nổi. Gã Khất Đan kia lúc đó đã quyết ý tự tận, lẽ nào còn dối trá? Bọn ta lại đi tìm một người khác cũng hiểu tiếng Khất Đan nhờ y dịch miệng lại từng câu, thì ý tứ cũng đúng như bản dịch trước. Than ôi! Nếu sự thực là vậy thì mười bảy huynh đệ chết oan, bọn võ sĩ không tội vạ gì mà bị liên lụy, còn đối với vợ chồng người Khất Đan thì chúng ta thật có lỗi không thể kể xiết.”

    Mọi người đang nóng lòng muốn nghe những hàng chữ Khất Đan trên vách núi kia có ý nghĩa gì, Trí Quang lại ngần ngừ không nói nữa. Có người nóng tính liền giục: “Những dòng chữ đó viết gì?” “Sao lại có lỗi với y?” “Tại sao lại oan cho vợ chồng người đó?” Trí Quang nói: “Các vị bằng hữu, không phải là ta có ý giấu giếm không chịu tiết lộ ý nghĩa của những chữ Khất Đan kia. Nếu như bản văn trên vách đá là sự thực thi hành vi của thủ lĩnh đại ca, Uông bang chủ và cả ta đều hết sức sai trái, không còn mặt mũi nào mà nhìn ai. Trí Quang này trong võ lâm chỉ là một tên vô danh tiểu tốt, có sai lầm thì cũng chẳng đáng gì. Thế nhưng thủ lĩnh đại ca và Uông bang chủ ở vào địa vị cao đến thế nào? Huống chi Uông bang chủ đã qui tiên rồi, ta đâu dám nói năng càn rỡ để làm tổn hại đến thanh danh hai vị? Xin anh em tha lỗi, ta không thể nói rõ ra.”

    Tiền bang chủ của Cái Bang là Uông Kiếm Thông oai danh lừng lẫy. Trên từ Kiều Phong và các trưởng lão, dưới đến các đệ tử ai ai cũng đều chịu ơn ông. Bang chúng Cái Bang tuy hiếu kỳ thật nhưng nghe nói chuyện này có liên quan đến thanh danh Uông bang chủ, không một ai dám hỏi thêm.

    Trí Quang lại kế tiếp: “Ba người chúng ta thương nghị một hồi, trong lòng ai nấy đều bán tín bán nghi nên quyết định tạm tha mạng cho đứa hài nhi Khất Đan, trước hết đến chùa Thiếu Lâm nghe ngóng động tĩnh đã, nếu như võ sĩ Khất Đan có đến tấn công thực bấy giờ sẽ giết đứa trẻ cũng chưa muộn. Bọn ta chạy suốt ngày đêm ngựa không ngừng vó, đến chùa Thiếu Lâm rồi thấy các lộ anh hùng đến đây tiếp tay cũng không ít. Việc này liên quan đến an nguy sống chết của hàng nghìn hàng vạn bách tính Thần Châu, chỉ cần tin tức loan ra là ai ai cũng muốn đóng góp chút công lao.”

    Trí Quang chậm rãi đưa mắt từ trái sang phải nhìn khắp mọi người nói tiếp: “Cuộc tụ hội ở chùa Thiếu Lâm năm đó qui tụ vô số võ lâm tiền bối, chẳng cần phải tường thuật chi tiết làm gì. Tất cả cẩn thận phòng bị, canh gác chặt chẽ, anh hùng các nơi đến tiếp viện mỗi lúc một đông. Cứ như thế từ tiết Trùng Dương tháng chín đến tháng chạp, hơn ba tháng trời chẳng thấy tăm hơi gì, mới định đi kiếm kẻ đưa tin kia để chất vấn thì không sao tìm thấy y được nữa. Bọn ta lúc ấy mới nghĩ rằng tin kia là giả, bị người ta đánh lừa. Trận chiến ở ngoài Nhạn Môn Quan hai bên chết uổng không ít.”

    “Thế nhưng chẳng bao lâu, quân thiết kỵ Khất Đan lại xâm phạm, tấn công Hà Bắc nên việc võ sĩ Khất Đan có đến tấn công chùa Thiếu Lâm nữa hay không chẳng ai còn để ý nữa. Bọn chúng đến hay không đến cũng chẳng sao, dù gì thì người Khất Đan cũng là kẻ tử thù của Đại Tống.”

    “Thủ lĩnh đại ca, Uông bang chủ và ta ba người đối với chuyện ngoài ải Nhạn Môn có phần hổ thẹn nên chỉ kể lại với phương trượng chùa Thiếu Lâm và báo tin cho thân nhân những anh em tử nạn, ngoài ra không hé răng với một ai. Đứa bé Khất Đan thì đem gửi nuôi tại nhà một nông dân dưới chân núi Thiếu Thất. Việc đã lỡ rồi, xử trí đứa hài nhi đó thế nào cũng thật là nan giải. Bọn ta đối với cha mẹ nó quả là tàn nhẫn nên không đành lòng giết nó. Thế nhưng nếu nuôi nó lớn khôn mà người Khất Đan đã thành kẻ tử thù của chúng ta thì phỏng có khác gì dưỡng hổ di hoạn? Về sau thủ lĩnh đại ca giao cho nhà nông đó một trăm lạng bạc, nhờ họ nhận thằng bé Khất Đan làm con, khi nó lớn lên tuyệt đối không cho nó biết gốc gác của nó. Vợ chồng họ vốn không có con, lập tức vui mừng nhận lời ngay. Hai người đó cũng chẳng biết đứa trẻ là nòi giống Khất Đan, vì khi chúng ta đem nó tới núi Thiếu Thất, trên đường đã thay quần áo như trẻ con người Hán rồi. Người dân Đại Tống thù hận Liêu cẩu tới xương tủy, nếu thấy hài nhi mặc y phục Khất Đan thể nào cũng làm hại nó…”

    Kiều Phong nghe đến đây đã đoán ra được tám chín phần, run run hỏi: “Trí Quang đại sư, thế… thế người nhà nông dưới chân núi Thiếu Thất ấy, y… y… họ gì?”

    Trí Quang đáp: “Chắc bang chủ cũng đoán được rồi, ta chẳng giấu làm chi. Người đó họ Kiều, tên là Tam Hòe.”

    Kiều Phong bàng hoàng kêu lên: “Không? Không! Đại sư chớ có nói láo, dựng chuyện ra để vu hãm cho ta. Ta đường đường là người Hán, sao lại là quân mọi rợ Khất Đan được? Tam Hòe công là… là… gia gia thân sinh ra ta, đại sư chớ có nói bậy…” Đột nhiên chàng nhảy xổ đến trước mặt Trí Quang, tay trái chộp luôn ngực ông ta.

    Đơn Chính và Từ trưởng lão cùng xông vào cứu, miệng la lên: “Không được!” Kiều Phong thân thủ cực nhanh, tay vẫn xách nhà sư nhảy tránh sang một bên.

    Con trai Đơn Chính là Đơn Trọng Sơn, Đơn Thúc Sơn, Đơn Qui Sơn ba người cùng xông lên phía sau Kiều Phong. Chàng chỉ dùng tay phải lần lượt chộp được Đơn Thúc Sơn rồi Đơn Trọng Sơn vứt ra ngoài xa, còn lần thứ ba thì nắm lấy Đơn Quí Sơn quảng xuống đất, giơ chân đạp lên cổ y.

    Đơn Thị Ngũ Hổ tiếng tăm lừng lẫy một dải Sơn Đông, năm anh em thành danh cũng đã lâu chứ nào phải hạng công tử nhà giàu ỷ thế cha, thế mà Kiều Phong tay trái cầm Trí Quang, tay phải liên tiếp chộp người, quăng ba đại hán nhà họ Đơn như liệng bù nhìn rơm, chẳng ai chống cự được mảy may. Mọi người trông thấy đều hết hồn, miệng há hốc ra.

    Đơn Chính và Đơn Bá Sơn, Đơn Tiểu Sơn cốt nhục tình thâm cũng muốn xông lên cứu viện nhưng thấy Kiều Phong đạp chân lên đầu Đơn Quí Sơn, biết rõ thần lực của chàng ghê gớm, chỉ ấn một cái là y vỡ sọ mất mạng. Vì thế mà ba cha con Đơn Chính phải dừng chân không dám tiến lại gần. Đơn Chính kêu lên: “Kiều bang chủ, có gì thì nói chuyện phải trái với nhau, không nên mạnh tay. Nhà họ Đơn chúng tôi với bang chủ không thù không oán, xin tha cho con tôi.” Đến như Thiết Diện Phán Quan mà cũng phải ngỏ lời van xin Kiều Phong!

    Từ trưởng lão nói: “Kiều bang chủ, Trí Quang đại sư được mọi người trên giang hồ kính ngưỡng, chớ nên hại mạng ông ta.”

    Bầu máu nóng của Kiều Phong sôi lên, lớn tiếng nói: “Đúng lắm, Kiều Phong này cùng nhà họ Đơn không thì không oán, lại hằng kính ngưỡng Trí Quang đại sư, Các ngươi… các ngươi muốn phế bỏ chức vị bang chủ của ta thì ta bưng hai tay trao lại, việc gì phải bịa chuyện khinh miệt ta? Kiều mỗ… đã làm chuyện gì xấu xa mà các ngươi phải bức bách ta đến thế?” Mấy câu sau chàng nói giọng nghẹn ngào, làm người nghe ai cũng đồng tình.

    Tiếng xương cốt trong người Trí Quang bỗng kêu răng rắc, mọi người biết tính mạng đại sư chỉ trong đường tơ kẽ tóc, sống chết tùy thuộc vào ý niệm của Kiều Phong. Ngoài tiếng gió thổi ngọn cây rì rào, tiếng giun dế sột soạt trong đám cỏ, tiếng thở của mọi người, không một ai dám lên tiếng.

    Một hồi sau, Triệu Tiền Tôn đột nhiên cười khẩy, nói: “Tức cười ơi là tức cười! Người Hán thì đã hơn gì ai, mà người Khất Đan thì cũng đâu phải là heo chó? Hiển nhiên là người Khất Đan, sao lại cố mạo nhận mình là người Hán, có gì đáng tự hào dâu? Đến cha mẹ thân sinh cũng không thèm nhận, thật uổng cái danh nam tử hán đại trượng phu.”

    Kiều Phong trợn mắt, hầm hầm hỏi lại: “Phải chăng tiền bối bảo Kiều mỗ là người Khất Đan?” Triệu Tiền Tôn đáp: “Ta làm sao chắc được. Có điều trong trận chiến ngoài Nhạn Môn Quan, gã võ sĩ Khất Đan kia hình dáng mặt mày giống hệt ngươi. Hôm đó Triệu Tiền Tôn này sợ đến xiêu hồn bạt vía, vỡ mật vỡ gan cho nên một trăm năm nữa ta vẫn nhớ rõ tướng mạo kẻ đối đầu. Trí Quang đại sư ôm đứa trẻ Khất Đan về, chính mắt ta trông thấy. Triệu Tiền Tôn ta có khác gì xác chết biết đi, trên thế gian này ngoài Tiểu Quyên ra chẳng còn nhớ tới một ai, cũng chẳng còn nhớ chuyện gì. Ngươi làm hay không làm bang chủ Cái Bang có liên quan đếch gì tới ta, việc quái gì ta phải vu hãm cho ngươi? Giả tỷ ta bịa ra chuyện năm xưa có tham dự việc giết hại cha mẹ ngươi thì được cái mẹ gì? Kiều bang chủ, võ công Triệu Tiền Tôn này so với ngươi thì kém xa, nếu như ta không muốn sống thì chẳng lẽ đến tự sát cũng không biết hay sao?”

    Kiều Phong chầm chậm buông Trí Quang đại sư xuống, đầu ngón chân hất một cái, thân thể to lớn của Đơn Quí Sơn văng ra, rơi xuống đất nghe đánh bịch. Đơn Quí Sơn nhún một cái đã đứng dậy ngay được, không bị thương tích gì. ,

    Kiều Phong chằm chặp nhìn Trí Quang, thấy ông thần sắc thản nhiên, tuyệt không có vẻ gì giả vờ hay gian dối, bèn hỏi: “Thế rồi sao nữa?” Trí Quang đáp: “Về sau thì các hạ tự biết rồi. Năm lên bảy tuổi các hạ đi hái hạt dẻ trong núi bị một con chó sói rượt, được một nhà sư chùa Thiếu Lâm cứu thoát, giết con ác thú rồi trị thương cho, sau đó ngày ngày đến dạy võ, có đúng thế không?”

    Kiều Phong đáp: “Đúng vậy! Thì ra chuyện này đại sư cũng biết.” Khi Huyền Khổ đại sư của chùa Thiếu Lâm truyền thụ võ công cho Kiều Phong có dặn chàng không được tiết lộ cho ai biết, trên giang hồ ai cũng tưởng Kiều Phong là đệ tử đích truyền của Uông bang chủ Cái Bang, có biết đâu ông ta và chùa Thiếu Lâm có liên hệ sâu xa.

    Trí Quang nói: “Nhà sư Thiếu Lâm đó được thủ lĩnh đại ca ủy thác việc dạy dỗ các hạ từ bé cho khỏi lầm đường lạc lối. Vì việc này, ta và thủ lĩnh đại ca cùng Uông bang chủ ba người đã tranh luận sôi nổi. Ta bảo là cứ để cho các hạ sống bình thường, làm ruộng kiếm ăn, đừng học võ để khỏi bị lôi kéo vào ân oán giang hồ. Thủ lĩnh dại ca bảo nếu làm như vậy thì có điều hối hận với lệnh song đường, nên phải nuôi dưỡng giáo huấn để các hạ trở nên một vị đại anh hùng.”

    Kiều Phong nói: “Các vị… các vị tiền bối sao lại có điều hối hận với song thân tại hạ? Người Hán và người Khất Đan giết hại lẫn nhau là chuyện bình thường, chả có gì mà phải hối hận.” Trí Quang thở dài, nói: “Di văn trên vách đá ngoài Nhạn Môn Quan đến nay chắc vẫn chưa mờ, sau này các hạ ra đó mà xem. Thủ lĩnh đại ca đã có chủ ý, Uông bang chủ cũng ngả theo, một mình ta không cãi lại được. Đến khi các hạ mười sáu tuổi mới được Uông bang chủ thu làm đồ đệ, rồi về sau biết bao nhiêu cơ duyên gặp gỡ. Dĩ nhiên là các hạ thiên tư trác tuyệt, người thường không sao theo kịp, thế nhưng nếu không có thủ lĩnh đại ca và Uông bang chủ đứng sau giúp đỡ e rằng cũng không dễ dàng đến thế.”.

    Kiều Phong cúi đầu ngẫm nghĩ, nhớ lại cuộc đời mình gặp biết bao nguy nan song lần nào cũng đổi dữ ra lành, chưa gặp chuyện gì quá đau đớn nặng nề, lại biết bao cơ duyên đưa đẩy không cầu mà được. Trước đây chàng vẫn tưởng mình có phúc tinh chiếu mệnh, bây giờ nghe Trí Quang đại sư nói mới hiểu có người giấu mặt giúp đỡ mà mình tuyệt nhiên không hay biết gì. Trong lòng chàng lại bàng hoàng tự hỏi: “Nếu đại sư nói thật thì ta là người Khất Đan chứ đâu phải người Hán? Uông bang chủ không phải ân sư của ta mà là kẻ thù giết cha giết mẹ. Bậc tiền bối đứng sau lưng ám trợ ta cũng nào phải tốt lành gì, chẳng qua thẹn với lương tâm nên tìm cách chuộc tội đấy thôi. Không, không! Giống Khất Đan hung tàn bạo ngược là tử thù của người Hán chúng ta, ta làm sao có thể là quân mọi rợ được?”.

    Lại nghe Trí Quang kể tiếp: “Uông huynh lúc đầu vẫn gia tâm đề phòng, nhưng về sau thấy các hạ học và tiến bộ thật nhanh, khẳng khái hào hiệp, đối với người thì nhân hậu, đối với ông ta thì kính cẩn tôn sùng, nên dần dần đem lòng yêu mến. Về sau các hạ công phu mỗi lúc một nhiều, uy danh mỗi lúc một lớn, trong Cái Bang ai nấy đều kính phục, ngay cả người ngoài bang cũng biết chắc chức vị bang chủ về ai. Thế nhưng Uông huynh vẫn dùng dằng chưa quyết, cũng chỉ vì các hạ dòng giống Khất Đan. Ông ta thử các hạ ba việc khó đều hoàn thành chu đáo, đến khi lập được bảy công lao mới đem Đả Cẩu Bổng pháp ra truyền thụ. Năm đó Thái Sơn đại hội, các hạ đánh bại chín kẻ cường địch, khiến cho Cái Bang uy chấn thiên hạ, ông ta mới hết do dự mà lập các hạ làm bang chủ. Cứ như lão nạp biết, trong mấy trăm năm qua, chưa có vị nào tiếp nhiệm bang chủ Cái Bang mà phải trải qua biết bao gian nan thử thách như các hạ.”

    Kiều Phong cúi đầu đáp: “Tại hạ vẫn tưởng ân sư Uông bang chủ có ý rèn luyện, bắt tại hạ phải trải qua nhiều gian khổ để có thể đảm đương việc lớn, có ngờ đâu… Có ngờ đâu…” Lúc này trong lòng Kiều Phong mười phân đã tin đến tám.

    Trí Quang nói: “Ta cũng chỉ biết tới đó mà thôi. Các hạ đứng ra làm bang chủ Cái Bang rồi, trên giang hồ ai cũng bảo bang chủ hành hiệp trượng nghĩa, tạo phúc cho lê dân, xử sự công chính, chỉnh đốn Cái Bang trở nên hưng vượng, ta trong lòng cũng mừng thầm. Lại nghe bang chủ mấy lần phá hỏng gian mưu, giết được vô số nhân vật anh hùng của Khất Đan, cái điều cố kỵ dưỡng hổ di hoạn năm xưa thành ra chuyện người nước Kỷ lo trời sập. Việc này kể ra vĩnh viễn chẳng nên nhắc tới nữa, mà không biết ai lại khuấy lên. Việc này có hay ho gì cho cả Cái Bang lẫn thân danh bang chủ đâu?” Nói tới đây ông thở dài một tiếng, sắc mặt buồn rười rượi.

    Từ trưởng lão nói: “Đa tạ Trí Quang đại sư đã thuật lại vụ này một cách thật rành mạch, khiến cho ai nấy tưởng như chính mắt nhìn thấy. Còn phong thư này…” Trưởng lão đưa phong thư ra, nói tiếp: “… là do vị thủ lĩnh đại ca kia viết cho Uông bang chủ, trong thư hết sức ngăn trở Uông bang chủ không nên truyền ngôi vị cho Kiều Phong. Kiều bang chủ chắc không ngại xem qua cho biết.” Nói xong đưa lá thư ra cho chàng.

    Trí Quang nói: “Để ta xem trước, có phải thư thật hay là thư giả?” Nói xong đại sư đưa tay đón lá thư đọc qua một lượt rồi nói: “Đúng vậy, quả nhiên là thủ bút của thủ lĩnh đại ca.” Ông ta vừa nói vừa dùng ngón tay xé ngay chỗ ký tên ở cuối lá thư bỏ vào mồm, lưỡi cuốn một cái nuốt chửng vào bụng.

    Khi Trí Quang xé lá thư, ông đã tiến tới gần đống lửa thêm mấy bước cách Kiều Phong khá xa, lại vờ như không đủ ánh sáng nên đưa tờ giấy lên gần mắt, lá thư đã kề tới miệng. Kiều Phong không ngờ vị lão tăng đức cao vọng trong kia cũng biết giảo hoạt, giận dữ gầm lên một tiếng, tay trái cách không điểm ra trúng ngay huyệt đạo nhà sư, tay phải giật tờ giấy nhưng vẫn chậm mất một chút, chỗ ký tên ở cuối lá thư đã bị nuốt mất rồi. Kiều Phong đành giải huyệt cho ông ta, hậm hực hỏi: “Đại sư… đại sư làm gì vậy?”

    (còn tiếp)

    Nguồn: Thiên Long bát bộ. Tiểu thuyết của Kim Dung. Tác phẩm được bắt đầu được đăng trên tờ Minh báo ở Hồng Kông và Nam Dương thương báo ở Singapore vào ngày 03-09-1963 đến ngày 27-05-1966, liên tục trong 4 năm. Các Dịch giả: Hàn Giang Nhạn; Đông Hải; Nguyễn Duy Chính. NXB Văn học, 2002.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,163,850

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/