Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,165,543

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Thiên Long bát bộ

Kim Dung

  • Chủ nhật, 10:46 Ngày 03/01/2021
  • Thiên Long bát bộ

    Quả nhiên nữ lang giật mình. Đoàn Dự không dám nhìn thẳng vào mặt nàng, trong bụng nghĩ thầm: “Nàng vì cái tên tiểu tử Mộ Dung Phục mà phải băn khoăn trong dạ. Nếu như nhìn vào mặt nàng, không chừng ta ghen tức đến chảy nước mắt mất”. Tà áo màu cánh sen của nàng hơi lay động, rồi giọng nói thánh thót như tiếng tiêu lại hỏi: “Tại sao các hòa thượng chùa Thiếu Lâm lại đổ oan cho Cô Tô Mộ Dung? Ngươi có biết không? Ngươi… ngươi cho ta biết.”

    Đoàn Dự nghe nàng nhỏ nhẹ cầu khẩn, cầm lòng không đậu muốn đem hết những điều mình hay biết nói cho nàng nghe. Song chàng nghĩ lại: “Mình biết chẳng có bao nhiêu, Huyền Bi đại sư bị trúng phải Vi Đà Chử mà chết, ai ai cũng bảo đó là thuật gậy ông đập lưng ông, trong thiên hạ chỉ có họ Mộ Dung ở Cô Tô là sở trường. Bao nhiêu tình tiết đó chỉ vài câu là hết, nàng nghe xong rồi lại giục mình đi trồng trà, kiếm được đề tài khác nói chuyện với nàng thật không phải dễ. Chi bằng mình phải tìm cách kéo dài câu chuyện, mỗi ngày cho ra một mẩu để ngày ngày nàng phải đến tìm mình hỏi chuyện, tìm không thấy là bồn chồn khó chịu”. Chàng đằng hắng một tiếng rồi bắt đầu vào chuyện: “Về võ công tôi chẳng biết tí gì cả. Cả những thế võ tầm thường như Kim Kê Độc Lập, Hắc Hổ Thâu Tâm gì gì đi nữa tôi cũng không hay, nhưng trong nhà tôi có anh bạn họ Chu, tên gọi Chu Đan Thần, ngoại hiệu là Bút Nghiễn Sinh. Trông bề ngoài anh ta cũng chỉ văn nhược nho nhã như tôi thôi, hay gọi là tín đồ gàn cũng được. Hà hà, thế mà võ công anh ta đáo để lắm. Một hôm nọ tôi thấy anh ta gấp cái quạt quay ngược đầu lại đánh “chát” một tiếng, cán quạt trúng vào bả vai một gã đại hán, gã này có rúm ngay lại, chẳng khác gì một đống đất lù lù, không sao nhúc nhích được nữa.”

    Nữ lang nói: “Ồ, đó là chiêu đả huyệt thứ ba mươi tám trong Thanh Lương Phiến, tên là Thấu Cốt Phiến, đảo ngược cán quạt đánh xéo vào huyệt Kiên Trinh. Vậy thì vị Chu tiên sinh đó thuộc bàng chi của phái Côn Lôn, đệ tử Tam Nhân Quan. Võ công phái này dùng phán quan bút còn lợi hại hơn dùng quạt. Ngươi nói vào chuyện chính đi, đừng nói chuyện võ công với ta nữa.

    Giả tỷ mà Chu Đan Thần được nghe nàng nói tất phải phục sát đất. Thiếu nữ không những nói được tên thủ pháp y dùng, lại cả sư thừa lai lịch, võ học gia số cũng kể đâu ra đấy. Nếu một nhà võ học danh gia như bá phụ Đoàn Dự là Đoàn Chính Minh hay phụ thân là Đoàn Chính Thuần chẳng hạn nghe thấy, cũng phải giật mình tự hỏi: “Cô nương nhỏ tuổi thế này mà sao kiến thức về võ học đã uyên bác đến thế?” Thế nhưng Đoàn Dự chẳng biết tí võ công nào, mấy lời cô gái kia thuận mồm nói ra chỉ thoáng qua tai chàng mà thôi. Chàng cũng không cần biết cô gái nói đúng hay sai, chỉ dán mắt vào đôi mày tha thướt cùng đôi môi đỏ thắm của nàng chứ không để ý gì đến võ nghệ.

    Nữ lang hỏi: “Vị Chu tiên sinh đó là người thế nào?” Đoàn Dự chỉ vào một phiến đá bên cạnh bụi trúc, nói: “Chuyện dài lắm, xin tiểu thư dời gót ngọc ngồi xuống kia để tiểu sinh từ từ nói rõ.” Nữ lang nói: “Ngươi cứ ba hoa chích chòe mãi, nói mau đi cho xong. Ta chẳng có hơi đâu mà ngồi nghe ngươi mãi.” Đoàn Dự đáp: “Hôm nay tiểu thư không rảnh thì sáng mai lại đây tìm tôi cũng được. Còn như ngày mai cũng bận, để vài ngày nữa cũng không sao. Miễn là phu nhân chưa cắt lưỡi tôi, tiểu thư hỏi đâu tôi xin nói đấy, nói hết không sốt mảy may.”

    Nữ lang khẽ dậm chân một cái, quay đầu đi không nhìn đến chàng nữa, hỏi Tiểu Mính: “Phu nhân có nói gì nữa không?” Tiểu Mính đáp: “Phu nhân nói: Tên ngỗ nghịch kia càng lúc càng loạn, đã gây thù chuốc oán với Cái Bang, lại đối đầu với cả chùa Thiếu Lâm, chỉ sợ rồi đây Cô Tô Mộ Dung nhà ngươi chết không có đất mà chôn.” Nữ lang vội nói: “Mẹ ta biết rõ biểu thiếu gia đang rơi vào cảnh ngộ hung hiểm, sao lại làm lơ không hỏi tới là sao?” Tiểu Mính đáp: “Dạ phải. Tiểu thư, chỉ sợ phu nhân cho kiếm, tiểu tì xin kiếu thôi. Chuyện mới rồi, xin tiểu thư chớ nói với ai thì tì tử mới còn được hầu hạ tiểu thư vài năm nữa.”

    Nữ lang nói: “Ngươi cứ yên tâm đừng lo, chẳng lẽ ta lại hại ngươi hay sao?” Tiểu Mính cáo biệt ra đi, trên mặt lộ vẻ khiếp sợ, Đoàn Dự nghĩ thầm: “Vương phu nhân giết người như ngóe nên ai ai cũng kinh hãi.”.

    Nữ lang từ từ bước lại phiến đá nhẹ nhàng ngồi xuống. Nàng không mời Đoàn Dự mà chàng cũng không dám mạo muội đến gần. Chàng đứng nhìn thấy gần chỗ nàng ngồi có một khóm bạch trà, còn hai khỏm nữa xa hơn một chút. Người đẹp ngồi gần danh hoa, phong cảnh lại càng tuyệt mỹ. Đoàn Dự thở dài một tiếng rồi đọc: “Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan… Không được, không được! Năm xưa Lý Thái Bạch lấy hoa mẫu đơn để so sánh với sắc đẹp của Dương Quý Phi, nếu như ông ta có diễm phúc được gặp tiểu thư thì mới biết rằng hoa kia tuy có rực rỡ nhưng làm sao biết giận hờn, biết nũng nịu, biết cười đùa, biết ưu tư, thực không thể nào bì kịp.”

    Thiếu nữ buồn bã nói: “Ngươi không ngớt khen ta đẹp, chẳng biết có thật không?” Đoàn Dự sửng sốt la lên: “Trời ơi! Ai không thấy vẻ đẹp của Tử Đô đã là người không có mắt. Đó mới là một chàng trai mà người ta còn bình phẩm như vậy, huống chi người diễm lệ tuyệt trần như tiểu thư? Chắc là tiểu thư nghe nhiều người ca tụng quá rồi nên chán ngấy phải không?”

    Nữ lang từ từ lắc đầu, khóe mắt hơi lộ vẻ bâng khuâng nói: “Trước nay ta chưa thấy ai nói ta đẹp hay không. Ở Mạn Đà Sơn Trang này trừ mẫu thân ta còn toàn kẻ hầu người hạ. Bọn chúng chỉ biết ta là tiểu thư của chúng, còn ai dám nói đến ta đẹp hay xấu?” Đoàn Dự hỏi lại: “Thế còn người ngoài cũng không ai nói gì sao?” Nữ lang hỏi: “Ngươi bảo người ngoài nào?” Đoàn Dự đáp: “Thế khi tiểu thư ra ngoài, người ta thấy tiểu thư đẹp như tiên giáng trần chẳng lẽ họ cũng im mồm sao? Nữ lang nói: “Ta chưa từng ra khỏi nhà, mà ra ngoài làm gì? Mẹ ta không cho ra ngoài. Ta chỉ sang Hoàn Thi Thủy Các bên nhà cữu mẫu đọc sách thôi, chẳng gặp ai là người ngoài cả. Bất quá chỉ có vài người bạn của biểu ca như Đặng đại ca, Công Dã nhị ca, Bao tam ca, Phong tứ ca, nhưng họ… nhưng họ đâu có gàn dở như anh.” Nàng nói tới độ bất giác mỉm cười.

    Đoàn Dự hỏi: “Không lẽ Mộ Dung công tử… y cũng chẳng bàn đến vẻ đẹp của tiểu thư ư?” Nữ lang từ từ cúi đầu xuống, rồi một tiếng nấc rất êm nhẹ, như tiếng đàn sắt thoảng lọt vào tai chàng. Tiếp theo tiếng nấc là mấy giọt lệ rơi trên ngọn cỏ, trong trẻo lấp lánh, chẳng khác gì những giọt sương buổi sớm. Đoàn Dự thấy vậy không dám hỏi thêm, cũng không biết nói thế nào để an ủi nàng.

    Hồi lâu nàng mới nghẹn ngào nói: “Chàng… chàng bận lắm, quanh năm không lúc nào nhàn rỗi. Họa hoằn chàng mới gặp ta, nếu không bàn luận võ công thì cũng nói chuyện quốc gia đại sự. Ta… ta chán võ công lắm rồi.” Đoàn Dự vỗ đùi reo lên: “Tiểu thư nói đúng lắm! Tôi cũng ngán ngẩm vô cùng. Chả thế mà bá phụ và gia gia tôi bắt tôi học võ, tôi nhất định không chịu rồi bỏ nhà trốn đi.”

    Nữ lang thở dài nói: “Ta vì muốn thỉnh thoảng được gặp chàng nên dù có chán ngán võ công, cũng phải xem quyền kinh đao phố, cố gắng nhớ trong lòng, phòng khi có chỗ chàng chưa thấu đáo thì ta phải giảng cho chàng nghe. Thế nhưng chính ta thì lại không học, làm thân con gái mà múa đao đánh gậy, xem ra bất nhã.” Đoàn Dự khen một câu tự đáy lòng: “Đúng vậy! Đúng vậy! Người đẹp thiên hạ vô song như cô, lẽ nào lại cùng người ta động thủ động cước, thật chẳng đâu vào đâu. Ối chà…” Chàng đột nhiên nghĩ ra, câu nói đó xúc phạm tới mẹ ruột mình. Thiếu nữ không để ý đến chàng, nói tiếp: “Từ nghìn xưa đến nay bất luận triều đại nào, vua quan nào cũng toàn chuyện hôm nay giết người, ngày mai người giết, ta thật không muốn biết đến làm gì. Thế nhưng đó là những chuyện chàng ưa thích nhất, thành thử ta phải đọc sách để nói cho chàng nghe.”

    Đoàn Dự rất lấy làm kỳ hỏi lại: “Sao tiểu thư lại phải xem sách hộ chàng? Tự chàng không đọc lấy được hay sao?” Nữ lang nguýt Đoàn Dự một cái rồi giận dỗi hỏi: “Thế ngươi tưởng chàng dốt chữ hay đui mù?” Đoàn Dự vội đáp: “Không, không đâu! Tôi bảo anh ta là người tốt nhất trên đời, thế có được không nào?”

    Thiếu nữ mỉm cười nói: “Chàng là biểu huynh ta, chị của mẹ ta làm dâu trong nhà họ Mộ Dung. Trong trang này trừ cữu phụ, cữu mẫu và biểu huynh thì không còn ai lui tới. Về sau khi cữu phụ qua đời, cữu mẫu cùng mẫu thân xảy ra xích mích, từ đó cấm cửa luôn cả biểu huynh ta không cho đến nữa. Ta chẳng hiểu chàng có phải là người tốt nhất trần đời không, mà cũng chưa gặp người tốt người xấu bao giờ.” Đoàn Dự hỏi lại: “Thế sao tiểu thư không hỏi phụ thân?” Cô gái đáp: “Phụ thân ta mất sớm, từ lúc ta chưa ra đời. Ta.., ta không biết cả mặt phụ thân.”

    Đoàn Dự ồ lên một tiếng: “Thế cữu mẫu tiểu thư là chị dâu của dì tiểu thư, còn cữu phụ là chồng của cữu mẫu chứ gì? Anh ta… anh ta… là con của hai người đó phải không?” Nữ lang bất giác phì cười đáp: “Ngươi ăn nói lẩn thẩn làm sao ấy. Ta là con gái mẫu thân ta thì chàng là biểu huynh ta chứ gì?” Đoàn Dự thấy mình làm cho nàng phải phì cười bèn lấy làm cao hứng nói: “À, tôi hiểu rồi. Chắc là biểu huynh tiểu thư bận quá, không có thì giờ đọc sách nên tiểu thư phải đọc giùm.” Nữ lang cười nói: “Kể ra nói thế cũng phải, nhưng ở trong còn có nguyên nhân khác. Thôi bây giờ ta hỏi ngươi: những hòa thượng chùa Thiếu Lâm vì cớ gì lại đổ oan cho biểu huynh ta giết người của họ?”

    Đoàn Dự thấy trên đầu mi nàng còn đọng một hạt nước mắt, nghĩ thầm: “Người xưa có nói: Lê hoa nhất chi xuân đái vũ (cành hoa lê lóng lánh mưa xuân) để ví với người đẹp đang khóc. Hoa lê tuy đẹp thật nhưng cành lê lại xù xì, mà sau trận mưa đóa hoa nào cũng đẫm nước, có phải quá đau lòng không? Phải ví Vương cô nương giống như đóa hoa trà điểm thêm giọt sương buổi sáng, thế mới thật là đẹp”.

    Nữ lang chờ hồi lâu thấy Đoàn Dự không đáp, bèn lay bàn tay chàng một cái nói: “Ngươi nghĩ gì vậy?” Đoàn Dự giật nẩy mình la lên: “Ôi chao!” Nữ lang cũng giật mình hỏi: “Sao thế?” Đoàn Dự đỏ bừng mặt đáp: “Tiểu thư đưa ngón tay chỉ lên lưng bàn tay tôi, tôi lại tưởng tiểu thư điểm huyệt.”

    Nữ lang không biết là Đoàn Dự nói đùa, giường tròn đôi mắt nhìn chàng nói: “Trên lưng bàn tay làm gì có huyệt đạo? Dịch Môn, Trung Chữ, Dương Trì ba huyệt đều ở cườm tay, hai huyệt Tiền Khoát, Dưỡng Lão ở gần cổ tay lại càng xa hơn nữa.” Nàng vừa nói vừa đưa tay mình ra chỉ cho chàng xem. Đoàn Dự thấy ngón trỏ bên tay trái nàng tròn trĩnh như ngó hành, điếm trên mu bàn tay trắng nõn, bất giác cảm thấy cổ họng khô ráo, đầu óc quay cuồng, ấp úng hỏi: “Cô nương tên họ là gì?” Thiếu nữ mỉm cười đáp: “Ngươi quả là lạ lùng. Được rồi, ta cho ngươi biết tên cũng chẳng hại gì. Nếu ta không nói, A Châu, A Bích hai đứa a đầu kia cũng nói.” Đoạn nàng lấy ngón tay vạch lên lưng bàn tay mình ba chữ: Vương Ngữ Yên.

    Đoàn Dự kêu lên: “Hay thật! Hay thật! Ngữ tiếu yên nhiên, hòa ái khả thân (nói cười duyên dáng, hòa nhã dễ thương).” Chàng nghĩ thầm: “Mình phải nói chặn trước chứ nếu như nàng giống tính mẹ, đang nói cười vui vẻ tự nhiên nổi nóng bắt mình đi trồng hoa thì tên với người chẳng ăn khớp nhau tí nào.” Vương Ngữ Yên mỉm cười: “Tên thì ai mà chẳng hay. Trong sử sách có biết bao nhiêu người đại gian đại ác, tên lại cực hay cực đẹp. Tỷ như Tào Tháo mà chẳng có tiết tháo chút nào, Chu Toàn Trung lại là một gã đại bất trung. Như ngươi tên là Đoàn Dự thì danh dự ngươi có lừng lẫy không? Hay lại chỉ là kẻ cô danh…” Đoàn Dự nói xen vào: “… điếu dự.” Cô danh điếu dự có nghĩa là cố tìm tiếng tăm bằng cách không chính đáng. Hai người cùng cười khanh khách.

    Bộ mặt diễm lệ của Vương Ngữ Yên vốn dĩ nhuốm chút u sầu, bây giờ rạng rỡ lại càng tăng thêm vẻ xinh tươi. Đoàn Dự nghĩ thầm: “Nếu như ta ngày ngày được làm cho nàng mở miệng tươi cười thì cuộc đời này cũng thỏa mãn lắm rồi, còn mong gì hơn nữa?”. Ngờ đâu cô gái chỉ cao hứng được giây lát rồi đôi mắt lại thoáng hiện nỗi sầu man mác. Nàng cất giọng u buồn nói: “Chàng… chàng lúc nào cũng nghiêm trang, chẳng bao giờ chàng nói với ta một câu chuyện bâng quơ. Ôi! Yên quốc, Yên quốc quan trọng đến thế hay sao?”

    Mấy chữ Yên quốc vừa lọt vào tai, Đoàn Dự vụt nảy ra một ý nghĩ, bao nhiêu điều rời rạc chợt liền lại thành một chuỗi: nào là họ Mộ Dung, Yến Tử Ổ, Tham Hợp Trang, Yên quốc… Chàng liền buột miệng hỏi: “Phải chăng công tử Mộ Dung vốn dòng họ Tiên Ti thời loạn Ngũ Hồ chứ không phải người Trung Quốc?” Vương Ngữ Yên gật đầu: “Đúng vậy, chàng là vương tôn họ Mộ Dung nước Yên nhưng đã mấy trăm năm rồi, sao còn giữ quan niệm cũ kỹ của ông cha làm chi nữa? Chàng không muốn làm người Trung Quốc, đến chữ Trung Quốc cũng không thèm học, sách Trung Quốc cũng không thèm đọc. Sách Trung Quốc có gì là không hay đâu? Có lần ta bảo chàng đọc sách chữ Tiên Ti cho nghe, chàng lại nổi giận đùng đùng. Hóa ra người Tiên Ti không có sách vở gì cả.”.

    Nàng từ từ ngẩng đầu lên, nhìn mây trắng lơ lửng xa xa, nhỏ nhẹ nói: “Chàng… chàng lớn hơn ta mười tuổi, chỉ coi ta như một cô em gái nhỏ. Ngoài việc đọc sách, ghi nhớ võ công ra ta chẳng biết việc gì nữa. Chàng có hiểu đâu rằng ta đọc sách là đọc cho chàng, nhớ võ công cũng vì chàng. Nếu không thà ta nuôi mấy con gà nhỏ cho nó nhảy nhót, hoặc gảy đàn viết chữ mà chơi còn thú hơn.”

    Đoàn Dự cất tiếng run run hỏi: “Tiểu thư tận tâm như vậy… mà chàng không biết ư?” Vương Ngữ Yên đáp: “Ta tận tâm với chàng, chàng biết chứ. Chàng cũng rất tốt với ta, có điều,.. có điều… đối với nhau chỉ như anh em ruột, ngoài những chuyện nghiêm trang ra không bao giờ nói chuyện gì khác. Chàng chẳng bao giờ thổ lộ tâm tư, cũng chẳng bao giờ hỏi đến tâm sự của ta.” Nói tới đây, đôi má Vương Ngữ Yên ửng đỏ ra chiều e lệ, trong ánh mắt dường như có vẻ thẹn thùng.

    Đoàn Dự toan cất lời hỏi đùa nàng: “Thế tiểu thư có tâm sự gì nào?” nhưng thấy nàng bẽn lẽn nên không dám đường đột, liền chuyển hướng: “Chẳng lẽ tiểu thư chỉ nói chuyện về võ học với anh ta, không nói tới những khúc thơ văn lãng mạn như Tí Dạ Ca hay Hội Chân Ký hay sao?” Câu nói vừa ra khỏi cửa miệng, chàng lại hối hận trong lòng: “Cứ để nàng thầm yêu trộm nhớ, tới đâu hay đó chẳng hơn sao? Lẽ nào ta lại về đường cho hươu chạy, đúng là một thằng ngốc”. Vương Ngữ Yên cả thẹn vội gạt đi: “Sao lại thế được? Ta phải giữ nền nếp con nhà khuê các, lẽ nào nói tới những chuyện thơ văn đó để biểu huynh khinh thường mình sao?” Đoàn Dự thở phào nói: “Vâng, như thế mới phải!”. Trong bụng tự trách thầm mình: “Đoàn Dự ơi, ngươi thật chẳng chính nhân quân tử chút nào”.

    Tâm sự Vương Ngữ Yên đã lâu chôn tận đáy lòng chưa từng nói với ai, chỉ một mình mình biết một mình mình hay. Nay gặp Đoàn Dự là người dễ tính phóng lãng, không hiểu sao nàng lại tin chàng đến thế, đem hết chuyện tâm tình ra thổ lộ. Thực ra chuyện nàng thầm yêu Mộ Dung biểu huynh thì A Châu, A Bích cùng lũ a hoàn Tiểu Trà, Tiểu Mính, U Thảo đều biết hết, có điều không dám nói ra mà thôi. Vương Ngữ Yên sau khi dốc bầu tâm sự, trong lòng cảm thấy hơi nhẹ nhõm bèn nói tiếp: “Ta nói với ngươi toàn chuyện vớ vẩn, chưa vào chính đề. Tại chùa Thiếu Lâm hiện có những ai tụ họp? Sao bọn họ lại muốn làm khó biểu huynh ta?”

    Đoàn Dự thấy không nói năng cù nhầy thêm được nữa đành kể: “Phương trượng chùa Thiếu Lâm là Huyền Từ đại sư có một vị sư đệ là Huyền Bi đại sư, sở trường về Vi Đà Chử.” Vương Ngữ Yên gật đầu: “Đó là môn thứ bốn mươi tám trong bảy mươi hai tuyệt kỹ của chùa Thiếu Lâm, tất cả có mười chín chiêu chử pháp, khi thi triển cực kỳ hung mãnh.” Đoàn Dự nói tiếp: “Huyền Bi đại sư đi đến Đại Lý chúng tôi, tại chùa Thân Giới ở Lục Lương Châu không biết vì sao bị người đánh chết, mà kẻ địch lại hạ thủ bằng chính cái môn Vi Đà Chử sở trường của ông ta. Họ cho rằng cái lối giết người đó chỉ có nhà Mộ Dung làm được, gọi là gậy ông đập lưng ông.” Vương Ngữ Yên gật đầu: “Ngươi nói rất có lý.”

    Đoàn Dự nói tiếp: “Ngoài phái Thiếu Lâm ra cũng còn nhiều người khác muốn tìm họ Mộ Dung báo thù.” Vương Ngữ Yên hỏi: “Còn những ai nữa?” Đoàn Dự đáp: “Phái Phục Ngưu có một người tên là Kha Bách Tuế, môn võ công tuyệt nghệ của ông ta là Thiên Linh Thiên Liệt.” Vương Ngữ Yên nói: “Hừ, phái Phục Ngưu có hai mươi chín chiêu Bách Thắng Nhuyễn Tiên, đó là chiêu thứ tư biến ra, tuy lối đánh kỳ dị nhưng không được liệt vào hạng võ học thượng thừa, chỉ được cái lực đạo cực kỳ cương mãnh thôi.” Đoàn Dự nói: “Kha Bách Tuế chết về thế Thiên Linh Thiên Liệt, thành ra sư đệ và đồ đệ ông ta đang kiếm nhà Mộ Dung để trả thù.”.

    Vương Ngữ Yên trầm ngâm rồi đáp: “Kha Bách Tuế rất có thể do biểu huynh ta giết, còn Huyền Bi đại sư thì không phải đâu. Biểu huynh ta không biết sử dụng Vi Đà Chử, môn võ công đó luyện rất khó. Thế nhưng nếu ngươi có gặp biểu huynh ta thì đừng nói là anh ấy không biết môn này, cũng đừng nói là ta bảo thế, anh ấy mà nghe được thì giận lắm đó…” Nói tới đây bỗng có hai ả nha hoàn Tiểu Mính và U Thảo chạy đến.

    U Thảo mặt sợ tái xanh, lắp bắp nói: “Tiểu thư ơi! nguy… nguy đến nơi rồi. Phu nhân hạ lệnh đem hai chị A Châu, A Bích…” U Thảo như bị nghẹn họng không sao thốt ra lời nữa. Tiểu Mính phải nói tiếp: “Đem hai chị ấy ra chặt cánh tay phải, phạt về tội tự tiện đến Mạn Đà Sơn Trang. Phu nhân lại bảo nếu gặp lần nữa thì sẽ chặt đầu. Biết làm… thế nào bây giờ?”

    Đoàn Dự vội nói: “Vương cô nương… cô nương… mau tìm cách cứu bọn họ mới được.” Vương Ngữ Yên cũng bối rối, nhíu mày nói: “A Châu, A Bích là hai đứa thị tỳ tâm phúc của biểu huynh ta. Nếu để chúng thành phế nhân thì ta còn mặt mũi nào với biểu huynh nữa? U Thảo! Hiện giờ chúng ở đâu? U Thảo vốn là bạn thân với A Châu A Bích, nghe tiểu thư có ý giải cứu cho, thấy có một tia hy vọng vội đáp: “Phu nhân truyền đưa hai chị ấy xuống Hoa Phì Phòng. Tiểu tì đã xin Nghiêm bà bà hoãn lại một chút đừng động thủ vội. Bây giờ tiểu thư đến cầu khẩn phu nhân, may ra còn kịp.” Vương Ngữ Yên nghĩ bụng: “Năn nỉ mẫu thân chưa chắc đã ăn thua, nhưng cũng không còn cách nào khác”. Nàng gật đầu rồi cùng U Thảo, Tiểu Mính đi ngay.

    Đoàn Dự nhìn theo tấm lưng uyển chuyển của nàng, muốn chạy theo nói thêm vài câu. Nhưng vừa cất bước lại thấy mình chẳng biết nói gì, liền tần ngần đứng lại. Chàng nghĩ lại câu chuyện mình cùng nàng vừa trao đổi bỗng dưng ngơ ngẩn.

    Vương Ngữ Yên hấp tấp đi lên nhà trên, thấy mẹ đang ngồi nghiêng nghiêng, ngắm một bức tranh hoa sơn trà trên tường đến xuất thần, vội gọi khẽ một tiếng: “Mẫu thân!” Vương phu nhân chậm rãi quay đầu, vẻ mặt cực kỳ nghiêm nghị nói: “Con muốn nói chuyện chi? Việc gì có liên quan đến nhà Mộ Dung là ta không nghe đâu đấy!” Vương Ngữ Yên nói: “Thưa mẫu thân! A Châu, A Bích chuyến này không phải có chủ ý đến đây. Xin mẫu thân tha cho chúng một phen.” Vương phu nhân hỏi lại: “Sao con biết chúng không có chủ ý đến đây? Con sợ ta chặt tay chúng thì biểu huynh không nhìn đến con nữa, phải không?” Vương Ngữ Yên mắt đẫm lệ nói: “Biểu huynh con cũng là cháu mẫu thân, Sao mẫu thân… lại oán hận chàng? Dù mẫu thân có điều xích mích với cữu mẫu, thì cũng chẳng nên giận lây đến biểu huynh con.” Nàng đánh bạo nói mấy câu mà trống ngực đánh thình thình, lại tự hỏi: “Sao ta dám cả gan mở miệng lý sự cả với mẫu thân?”.

    Vương phu nhân đôi mắt sáng như luồng điện lướt qua mặt con gái mấy lần, không nói năng gì rồi nhắm mắt lại. Vương Ngữ Yên không dám thở mạnh, không hiểu trong lòng mẫu thân đang nghĩ gì, ý định thế nào. Hồi lâu phu nhân mới mở mắt ra hỏi: “Sao con biết ta có chuyện xích mích với cữu mẫu? Xích mích ở chỗ nào?” Vương Ngữ Yên nghe giọng nói mẫu thân lạnh như băng giá lại càng sợ hãi, không nói nên lời. Vương phu nhân tiếp: “Con giỏi lắm! Bây giờ con lớn rồi, bất tất phải nghe lời ta nữa phải không?” Vương Ngữ Yên vừa bực mình vừa sợ, nước mắt tuôn rơi, nói: “Mẫu thân hờn giận cữu mẫu thì dĩ nhiên là cữu mẫu có điều không phải với mẫu thân. Thế nhưng không phải thế nào, mẫu thân có nói cho con nghe đâu. Bây giờ cữu mẫu qua đời rồi, mẫu thân đừng… đừng nhớ chuyện cũ làm gì nữa.” Vương phu nhân lớn tiếng hỏi: “Con nghe ai nói vậy?” Vương Ngữ Yên lắc đầu đáp: “Mẫu thân chưa hề nói với con, cũng chẳng cho người ngoài nào tới đây, còn ai kể cho con nghe nữa?”.

    Vương phu nhân thở phào một cái nhẹ nhõm, giọng nói đã có vẻ hòa hoãn: “Ta làm thế cũng chỉ vì con thôi. Trên đời hạng lưu manh nhiều quá giết sao cho hết được? Con còn nhỏ, chỉ là một đứa trẻ ngây thơ, tốt hơn hết không nên gặp kẻ xấu.” Nói tới đây là vụt nhớ ra một chuyện, bèn nói: “Còn tên thợ trồng hoa họ Đoàn, mồm mép như tép nhảy, không phải là người tốt. Gã chỉ nói với con một câu là phải sai thị tì giết ngay, không để cho gã nói đến câu thứ hai. Con nghe chưa?” Vương Ngữ Yên nghĩ thầm: “Một câu với chả hai câu, y nói chuyện với mình có đến một trăm câu, hai trăm câu rồi”.

    Vương phu nhân lại nói: “Sao? Xem chừng bộ mặt hiền lành, trái tim mềm nhũn như con suốt đời sẽ bị không biết bao nhiêu lần khổ sở.” Phu nhân vỗ tay hai cái, Tiểu Mính liền chạy vào. Vương phu nhân nói: “Mi truyền cho mọi người hay là ta ra lệnh: bất cứ ai còn nói với tên thợ trồng hoa họ Đoàn một câu nào là ta lập tức cho cắt lưỡi cả hai đứa.” Tiểu Mính nghe sợ xám mặt, tưởng chừng như phu nhân nói chuyện cắt lưỡi con gà con chó gì đó chứ không phải con người, dạ một tiếng rồi lập tức lui ra. Vương phu nhân lại xua tay bảo: “Con cũng đi ra.”

    Vương Ngữ Yên đáp: “Dạ!” Nàng đi đến cửa, dừng bước quay đầu lại nhắc: “Xin mẫu thân tha cho A Châu, A Bích, rồi dặn chúng nó không được bén mảng tới đây nữa.” Vương phu nhân lạnh lùng đáp: “Ta đã nói rồi! Có bao giờ ta nói hai lời đâu? Con đừng nhiều lời vô ích.”

    Vương Ngữ Yên cắn răng nói khẽ: “Con biết vì sao mà mẫu thân giận cữu mẫu, ghét biểu huynh rồi.” Dứt lời nàng dậm chân nhè nhẹ một cái, đoạn ra khỏi phòng.

    Phu nhân gọi: “Quay lại!” Hai tiếng đó không có gì lớn nhưng đầy vẻ uy nghiêm, Vương Ngữ Yên lại bước vào phòng cúi đầu không nói gì. Vương phu nhân vừa nhìn làn khói hương xanh ngắt bay quanh quẩn, vừa hỏi: “Yên nhi, con biết những gì? Đừng cố giấu ta! Nói hết đầu đuôi đi!” Vương Ngữ Yên mím môi nói: “Cữu mẫu trách mẫu thân giết người bừa bãi, đắc tội với quan nha, lại kết oán gây thù với võ lâm.”

    Vương phu nhân đáp: “Đúng đó! Chuyện này là chuyện riêng của nhà họ Vương, có liên can gì đến nhà Mộ Dung đâu? Bà ấy có quyền hành gì mà ước thúc ta? Hừ, họ Mộ Dung mấy trăm năm nay, lúc nào cũng mơ chuyện phục Yên, tính chuyện liên lạc anh hùng hào kiệt mà sai khiến. Liên lạc chưa xong lại gây gổ với người ta, đắc tội với cả Cái Bang lẫn phái Thiếu Lâm.”

    Vương Ngữ Yên nói: “Thưa mẫu thân, Huyền Bi hòa thượng của phái Thiếu Lâm nhất định không phải do biểu huynh giết. Anh ấy đâu có biết…” Nàng sắp nói ba tiếng Vi Đà Chử vội vàng nín bặt, nếu như mẫu thân hỏi gặng thì Đoàn Dự khó mà thoát khỏi cái họa sát thân, bèn nói trở ra: “Võ công chưa tới được mức đó.”

    Vương phu nhân nói: “Phải đó! Lần này y lên chùa Thiếu Lâm. Chắc là mấy tên thị tỳ hớt lẻo sang đây mách con chứ gì? Nam Mộ Dung, Bắc Kiều Phong, gớm, tên tuổi lẫy lừng quá nhỉ? Thế nhưng một thằng lỏi Mộ Dung Phục, thêm một gã Đặng Bách Xuyên lên chùa Thiếu Lâm thì làm được chuyện gì? Thật là không biết lượng sức mình.”

    Vương Ngữ Yên tiến lại gần, khẩn khoản nói: “Mẫu thân! Xin mẫu thân nghĩ cách nào cứu biểu huynh một phen, sai người tới tiếp ứng được không? Họ Mộ Dung chỉ còn mình biểu huynh nối dõi, nếu anh ấy có mệnh hệ nào thì nhà Mộ Dung ở Cô Tô phải đoạn tôn, diệt tộc.” Vương phu nhân cười lạt đáp: “Hừ! Cô Tô Mộ Dung! Nhà Mộ Dung có liên can gì đến ta đâu? Con mụ cữu mẫu nói Hoàn Thị Thủy Các tàng trữ sách vở còn nhiều hơn Lang Hoàng Ngọc Động của nhà này nữa cơ mà, để thằng con cưng Mộ Dung Phục của mụ đến chùa Thiếu Lâm đại hiển uy phong càng tốt chứ sao.”

    Vương Ngữ Yên nuốt lệ cúi đầu đi ra, cõi lòng trống rỗng không có định hướng, chẳng biết làm thế nào. Nàng đi tới dãy hành lang phía tây, thoảng nghe có tiếng người khẽ gọi: “Cô nương! Công việc ra sao?” Vương Ngữ Yên ngửng đầu nhìn lên, hóa ra Đoàn Dự, hoảng hốt nói: “Ngươi… ngươi đừng nói gì với ta nữa.”

    Thì ra Đoàn Dự thấy Vương Ngữ Yên đi rồi, chàng tần ngần đi theo sau rồi đứng chờ ngoài xa. Ngữ Yên ở trong phòng phu nhân đi ra, chàng cũng không tự chủ được lại lẽo đẽo theo sau, mới nhìn nét mặt sầu thảm của nàng đã biết ngay Vương phu nhân không ưng thuận, liền nói: “Phu nhân không dung cho thì ta tính cách khác chứ sao?” Vương Ngữ Yên đáp: “Mẫu thân ta không nghe thì còn cách nào nữa? Bà ấy… bà ấy còn nhất định thõng tay đứng nhìn biểu huynh gặp nguy nan.” Nàng càng nối càng đau lòng, không cầm được nước mắt.

    Đoàn Dự nói: “Ồ, nếu như Mộ Dung công tử cũng lâm nguy…” Rồi chàng sực nhở ra điều gì nói tiếp: “Cô nương hiểu võ công nhiều như thế, sao không đích thân đi giúp biểu huynh?” Vương Ngữ Yên mắt đẫm lệ ngước lên nhìn Đoàn Dự chăm chăm, tựa hồ như câu chàng nói rất là kỳ dị. Hồi lâu nàng mới đáp: “Ta… ta chỉ hiểu võ công nhưng lại không biết sử dụng. Ta đi thế nào được? Việc này mẫu thân còn khe khắt hơn.” Đoàn Dự mỉm cười nói: “Dĩ nhiên là phu nhân không cho rồi. Thế nhưng cô nương không tự mình lén đi được hay sao? Chính tôi đây cũng từng bỏ nhà trốn đi rồi sau trở về, cả gia gia lẫn má mà có trách phạt gì đâu?”

    Vương Ngữ Yên nghe chàng nói thế, xem ra hết bế tắc, đôi mắt sáng lên, nghĩ thầm: “Phải lắm! Ta lén đi cứu biểu huynh.” Nàng nghĩ đến chuyện vì đi cứu biểu huynh mà chịu gian nan vất vả thì trong lòng vừa chua xót lại vừa phấn khởi, lại nghĩ: “Gã này đã trốn nhà ra đi, ồ, mà sao trước nay ta không nghĩ đến chuyện này nhỉ?”.

    Đoàn Dự nhìn thần sắc cô gái biết nàng đã xiêu lòng nên càng ra sức cổ võ: “Cô nương cứ chui rúc ở Mạn Đà Sơn Trang này mãi, sao không ra ngoài mà xem phong cảnh hùng vĩ, thế giới bao la?”

    Vương Ngữ Yên lắc đầu: “Ta nghĩ cũng chẳng có gì đáng xem, chỉ cần đi tiếp ứng biểu huynh. Có điều trước này ta chưa từng luyện võ, nếu như anh ấy gặp nguy hiểm, ta cũng không giúp được gì.” Đoàn Dự nói: “Sao cô nương lại bảo là không giúp được gì? Giúp được nhiều lắm chứ. Khi biểu huynh có động thủ với người ngoài, cô nương chỉ cần đứng ngoài nói vài câu, cái đó gọi là đứng ngoài sáng nước. Mới đây tôi xem đánh cờ, người ta đã tưởng thua, tôi đứng ngoài chỉ cho vài nước liền lật ngược tình thế.” Vương Ngữ Yên nghe thấy có lý nhưng vẫn chưa đủ can đảm, ngần ngừ đáp: “Ta chưa từng ra khỏi cửa, chẳng biết Thiếu Lâm tự ở phương nào.”

    Đoàn Dự lập tức vớ ngay cơ , nói: “Tôi xin đi với cô nương, dọc đường có chuyện gì tôi sẽ ứng phó giùm cho.” Chàng vốn dĩ chẳng có bao hội nhiêu kinh nghiệm giang hồ, nhưng dại gì mà nói ra. Vương Ngữ Yên nhíu đôi mày xinh xắn, nghiêng đầu trầm ngâm không biết tính sao cho phải. Đoàn Dự lại hỏi: “Còn A Châu, A Bích ra sao rồi?” Vương Ngữ Yên đáp: “Mẫu thân ta không chịu dung tha.” Đoàn Dự tiếp lời: “Thôi thì đâm lao phải theo lao, nếu hai cô này bị chặt tay thì biểu huynh cô nương tất sẽ trách cứ. Sao bằng cứu cả hai người đó rồi cả bốn người cùng đi một lượt.” Vương Ngữ Yên lắc đầu lè lưỡi nói: “Đại nghịch bất đạo như thế khi nào mẫu thân ta chịu để yên? Ngươi thật là lớn mật.”

    Đoàn Dự biết rằng việc gì phải có liên quan đến biểu huynh mới lay chuyển được nàng, bèn lấy lùi làm tiến, nói: “Đã thế thì chúng ta ra đi tức khắc, để mặc hai cô A Châu, A Bích bị chặt tay. Sau này biểu huynh cô nương có hỏi đến thì cứ nói không biết là xong. Tôi nhất định giữ bí mật chuyện này.” Vương Ngữ Yên vội nói: “ Không được! Không được! Thế thì ta dối trá cả biểu huynh hay sao?” Nàng ngần ngừ một lúc rồi than: “Trời ơi! A Châu, A Bích là hai tên thị nữ tâm phúc, phục thị chàng từ thuở nhỏ. Nếu để chúng bị chặt cụt chân tay thì họ Mộ Dung với họ Vương lại kết thêm một mối thâm cừu.” Nàng dậm chân xuống đất nói: “Ngươi đi theo ta!”

    Đoàn Dự nghe bốn chữ “Ngươi đi theo ta” thật mừng không để đâu cho hết, trong đời chưa bao giờ nghe câu nào ngọt ngào đến thế. Chàng thấy nàng đi về hướng tây bắc liền lẽo đẽo theo sau. Chỉ một lát, Vương Ngữ Yên đã đưa chàng đến một căn nhà đá lớn, cất tiếng gọi: “Nghiêm má má! Mụ ra đây ta bảo!”

    Bỗng từ trong thạch ốc vẳng ra một chuỗi cười thật là quái đản, một giọng nói khàn khàn vọng ra: “Cô nương đến coi mụ chế phân bón hoa đó phải không?” Lúc nãy Đoàn Dự đã nghe thấy U Thảo cùng Tiểu Mính bảo A Châu, A Bích đã bị tống vào trong Hoa Phì Phòng gì đó nhưng không để ý. Lúc này nghe giọng nói lạnh lẽo đầy âm khí nhắc tới “phân bón” chàng mới thấy giật mình: “Trời ơi! Họ làm phân bón hoa! Chao ôi! Vương phu nhân thật là tàn nhẫn đến cùng cực, đem người chôn sống, chặt ra để bón hoa trà. Không biết mình có đến trễ không, lỡ hai nàng A Châu A Bích bị chặt tay rồi thì biết làm thế nào đây?”. Trống ngực chàng đánh thình thình, mặt mày tái mét tưởng chừng cắt không chảy máu.

    Vương Ngữ Yên nói: “Nghiêm má má, mẫu thân ta có việc cần, mụ ra đây ngay.” Người đàn bà trong thạch thất nói: “Ta đang bận. Phu nhân có việc chi cần kíp mà phải sai cô nương thân hành đến đây?” Vương Ngữ Yên đáp: “Mẫu thân ta bảo… chà… Đã đem bọn chúng đến đây chưa?”

    Nàng vừa nói vừa bước vào trong nhà đá, nhìn thấy A Châu, A Bích bị trói vào hai cây cột sắt, miệng bị nhét hạt đào, Hai nàng mắt đẫm lệ mà miệng không sao nói được. Đoàn Dự cũng ghé đầu vào coi, thấy chưa việc gì mới hơi yên tâm, nhưng nhìn qua bên kia thì tim lại đập rộn lên, Một mụ già lưng còng đầu tóc bạc phơ, tay cầm một lưỡi dao dài sáng loáng, bên cạnh là một vạc nước sôi sùng sục.

    Vương Ngữ Yên nói: “Nghiêm má má, mẫu thân ta bảo mụ tạm tha hai đứa này ra để ta dẫn chúng lên tra hỏi một việc khẩn cấp.”

    Bấy giờ Nghiêm má má mới quay đầu lại, Đoàn Dự thấy mụ mặt mày gớm ghiếc, ánh mắt đầy sát khí, cặp răng nanh nhọn hoắt chìa ra ngoài miệng dường như để cắn người, chỉ nhìn cũng đủ biết bụng dạ tàn nhẫn đến chừng nào. Bỗng thấy mụ gật đầu nói: “Được, hỏi xong rồi lại đem xuống đây để chặt tay.” Mụ lẩm bẩm nói một mình: “Nghiêm má má này bình sinh ghét nhất mấy đứa con gái xinh đẹp. Hai con lỏi này có chặt tay rồi vẫn còn đẹp, ta phải nói với phu nhân chặt cả hai chân làm phân, lâu nay hoa không được tốt”. Đoàn Dự nghe mẹ nói giận quá nghĩ bụng: “Mụ la sát độc ác này không biết đã giết chết bao nhiêu người rồi. Tiếc rằng sức mình trói gà không chặt, không thì tát cho mụ gãy mấy cái răng rồi hãy cứu A Châu, A Bích.”

    Nghiêm má má tuy già nhưng tai còn thính lắm, Đoàn Dự đứng bên ngoài thở mạnh bị mụ ta phát giác ngay, hỏi liền: “Đứa nào đứng ngoài đấy?” Rồi mụ thò đầu ra ngoài trông thấy Đoàn Dự, trong lòng sinh nghi hỏi ngay: “Mi là ai?” Đoàn Dự cười nói: “Tôi là thợ trồng hoa, vâng lệnh Vương phu nhân trồng mấy khóm bạch trà, đến đây hỏi má má xem có đồ bón chưa?” Nghiêm má má đáp: “Mi chờ một lúc nữa sẽ có!” Mụ quay sang hỏi Vương Ngữ Yên: “Tiểu thư Mộ Dung thiếu gia cưng hai con nha hoàn này lắm phải không?”

    Vương Ngữ Yên đáp: “Đúng rồi! Mụ đừng giết chúng hay hơn.” Nghiêm má mà gật đầu: “Tiểu thư, phu nhân có dặn đem hai đứa a đầu này chặt cánh tay hữu tống ra khỏi trang. Phu nhân còn nói thêm: Từ nay nếu hai đứa mi còn để cho ta thấy mặt là bị chém đầu tức khắc, có phải không nào?” Vương Ngữ Yên đáp: “Phải rồi!” Nàng vừa buột miệng đã biết lỡ lời, giơ tay lên bịt miệng lại. Đoàn Dự ngấm ngầm than rằng: “Chết rồi! Cô này không biết nói dối.”

    Nghiêm má má giả vờ tuổi già lẫn lộn, không để ý đến chỗ vô tình bại lộ, mụ nói: “Dây trói chặt quá, tiểu thư lại đây giúp tôi một tay tháo ra.” Vương Ngữ Yên đáp: “Được rồi!” Nàng vừa bước tới cạnh A Châu để cởi dây trói thì đột nhiên đánh tách một tiếng, một cái đai sắt hình cánh cung từ trong cột sắt bật ra, quàng lấy chiếc lưng thon rồi thít chặt vào. Vương Ngữ Yên rú lên một tiếng. Cái vòng sắt ôm lấy lưng nàng chỉ còn hở có vài tấc, nàng cựa thế nào cũng không thoát ra được.

    Đoàn Dự cả kinh chạy lại quát hỏi: “Mi làm trò gì thế này? Mau buông tiểu thư ra!” Nghiêm má mà lại buông mấy tiếng cười khanh khách, nói: “Phu nhân đã bảo còn gặp hai đứa a đầu này sẽ chặt đầu ngay, sao lại còn gọi chúng lên tra hỏi? Hơn nữa thiếu chi thị nữ, nha hoàn mà tiểu thư phải thân hành đến đây? Trong việc này tất còn có điều gì khác lạ. Tiểu thư hãy chờ đây một lát để mụ lên bẩm lại phu nhân rồi sẽ xuống nói chuyện.”

    Vương Ngữ Yên tức giận nói: “Sao mụ dám hỗn láo thế? Thả ta ra ngay!” Nghiêm má má đáp: “Tiểu thư xét lại cho, ta lúc nào cũng giữ tấc dạ trung thành với phu nhân, không dám làm điều gì mảy may lầm lẫn. Thái thái nhà Mộ Dung đối với phu nhân chẳng phải chút nào, nói xấu phu nhân nhiều điều, phỉ báng tiếng tăm thanh bạch của phu nhân, phu nhân lộn ruột đã đành mà bọn người dưới chúng ta cũng hận tới xương tủy. Ngày đó nếu như phu nhân chỉ gật đầu một cái, bọn ta lập tức, quật mồ thái thái lên, lấy xương đem vào Hoa Phì Phòng để làm phân bón hoa. Tiểu thư, ta nói cho cô nghe, họ Mộ Dung chẳng tốt lành gì đâu, phu nhân không thể nào tha hai con a đầu này được. Thế nhưng tiểu thư đã nói vậy thì xin chờ ta lên hỏi lại phu nhân, nếu quả đúng là như thế ta sẽ khấu đầu tạ tội, có đem roi đập vào lưng ta cũng được.” Vương Ngữ Yên rất đỗi hoang mang, gọi giật lại: “Này này! Mụ đừng lên hỏi mẫu thân ta nữa! Người làm ầm lên bây giờ!”

    Nghiêm má má không còn hoài nghi gì nữa, rõ ràng tiểu thư phản bội phu nhân, giả truyền hiệu lệnh để thả hai đứa thị tì của biểu huynh. Mụ muốn nhân cơ hội lập công bèn nói: “Không sao? Tiểu thư chờ đây một lát, ta trở lại ngay mà!” Vương Ngữ Yên vẫn cố ngăn lại nói: “Mụ đừng đi! Thả ta rồi hãy nói chuyện.” Nghiêm má má khi nào chịu nghe nàng, mụ trở gót đi ngay ra cửa.

    Đoàn Dự thấy sự tình nguy cấp, vội giơ tay ra cản đường, cười nói: “Mụ thả tiểu thư ra trước rồi hãy lên hỏi phu nhân, có hay hơn không? Mụ là người dưới, đắc tội với tiểu thư thì không yên thân được đâu.”

    Nghiêm má má liếc đôi mắt ti hí nhìn Đoàn Dự, rồi ngoẹo đầu nói: “Thằng lỏi này xem ra cũng có điều xảo trá đây.” Mụ vừa nói vừa giơ tay chụp lấy cổ tay Đoàn Dự, lôi chàng xềnh xệch tới cái cột sắt, bấm nút cơ quan. Nghe “cách” một tiếng, cái vòng thép đã bật ra chụp ngang lưng chàng. Đoàn Dự hoảng quá vội vàng trở tay nắm chặt cổ tay mụ nhất định không buông.

    Nghiêm má má vừa bị chàng nắm được lập tức thấy nội lực trong mình cuồn cuộn tuôn ra, khó chịu không biết đến đâu mà kể. Mụ cả giận quát lên: “Buông tay ra!” Càng mở miệng quát, chân khí trong người càng tiết ra mau. Nghiêm má má cố sức cựa quậy mà không sao gỡ thoát được tay Đoàn Dự, kinh hãi la lên: “Xú tiểu tử, mi làm gì thế? Có bỏ ta ra không nào?”

    Mặt Đoàn Dự đối diện với bộ mặt quỷ dạ xoa của mụ già, chỉ cách nhau vài tấc. Lưng chàng đã bị vòng thép xiết chặt, không thể nào quay mặt ra chỗ khác được, nhìn bộ răng vàng khè nhọn hoắt của mụ tưởng như muốn đớp vào cổ họng mình, trong bụng vừa kinh hãi vừa ghê tởm, nhưng chàng biết tình trạng đang nguy ngập khác nào ngàn cân treo đầu sợi tóc. Giả tỷ mình buông tha mụ ra thì Vương Ngữ Yên tất nhiên sẽ bị trọng phạt mà tính mạng mình cùng A Châu, A Bích cũng không bảo toàn được. Chàng đành nhắm mắt không dám nhìn mụ ta nữa.

    Nghiêm má má yếu ớt kêu: “Mi… mi có buông tha ta không?” Đoàn Dự lúc trước hút nội lực của bảy tên đệ tử phái Vô Lượng mất một thời gian lâu, về sau lại được thềm của nhiều cao thủ mỗi người một ít nên nội lực chàng càng lúc càng mạnh, sức hút của Bắc Minh thần công càng lúc càng lớn, bây giờ hút nội lực của mụ già này chỉ một loáng là xong. Nghiêm má má tuy là người hung hãn nhưng nội lực làm gì có nhiều nên chỉ trong thời gian uống cạn tuần tra là đã tinh thần bạc nhược, hơi thở yếu ớt, rền rĩ: “Bỏ… bỏ ta ra, bỏ… bỏ… tay…”

    Đoàn Dự nói: “Mụ phải mở cơ quan thả ta trước đã.” Nghiêm má má đáp: “Xin vâng! Xin vâng!” Mụ ngồi thụp xuống thò tay vào gầm bàn bấm nút cơ quan, nghe cách một tiếng chiếc ngàm đang choàng quanh người Đoàn Dự thụt về. Chàng lại chỉ vào Vương Ngữ Yên và Châu Bích hai người ra lệnh cho mụ ta thả ra. Nghiêm má má giơ tay bấm cơ quan để mở cho Vương Ngữ Yên, loay hoay một hồi vẫn không thấy nhúc nhích gì cả. Đoàn Dự cả giận hỏi: “Mụ không chịu thả tiểu thư phải không?” Nghiêm má má mếu máo đáp: “Ta… ta kiệt lực mất rồi.”

    Đoàn Dự tự mình thò tay vào gầm bàn sẽ thấy nút bấm, ấn nghe “cách” một tiếng, chiếc vòng đang giữ lưng Vương Ngữ Yên từ từ tụt vào trong cột sắt. Chàng cả mừng nhưng tay vẫn nắm chặt Nghiêm má má, cúi xuống nhặt thanh đao cắt đứt dây trói tay A Bích.

    A Bích rảnh tay lại đón lấy thanh đao cắt đứt dây trói cho A Châu, hai người lại móc hạt đào nhét trong miệng ra rồi vừa mừng vừa sợ, hồi lâu không nói nên lời.

    Vương Ngữ Yên giương mắt nhìn Đoàn Dự, nét mặt nàng lộ vẻ kỳ dị lại có vẻ khinh khi, hỏi: “Sao ngươi lại biết Hóa Công Đại Pháp? Môn công phu dơ bẩn đó học làm chi?” Đoàn Dự lắc đầu đáp: “Đó không phải là Hóa Công Đại Pháp.” Rồi chàng toan thuật hết đầu đuôi cho Vương Ngữ Yên nghe, nhưng một là câu chuyện quá dài, hai là vị tất cô nàng đã tin, thuận miệng đặt ra một cái tên thì hơn, bèn nói: “Đây là một công phu gia truyền của họ Đoàn nước Đại Lý chúng tôi tên là Lục Dương Dung Tuyết Công, do Nhất Dương Chỉ và Lục Mạch Thần Kiếm biến hóa mà thành. So với Hóa Công Đại Pháp thì một đằng chính một đằng tà, một đằng thiện một đằng ác, không thể coi là một được.”

    Vương Ngữ Yên tin ngay, mỉm cười nói: “Quả là ta kiến thức hẹp hòi, có điều không phải với người. Nhất Dương Chỉ và Lục Mạch Thần Kiếm của họ Đoàn nước Đại Lý ta ngưỡng mộ đã lâu. Lục Dương Dung Tuyết Công thì hôm nay mới nghe nói tới lần đầu, ngày sau thế nào cũng có lúc xin dạy bảo.” Đoàn Dự nghe mỹ nhân hỏi tôi đã cho là mình có phước lắm rồi, vội vàng đáp ngay: “Nếu tiểu thư hỏi đến, tôi nguyện nói hết cho nghe không dám giấu giếm gì.”

    A Châu, A Bích thật không ngờ đến phút khẩn cấp cuối cùng Đoàn Dự tới giải cứu, lại thấy chàng cùng tiểu thư trò chuyện thân mật đều lấy làm kỳ dị. A Châu nói: “Thưa cô nương cùng Đoàn công tử, xin cảm tạ cái ơn cứu mạng! Bây giờ ta phải bắt Nghiêm má má dẫn theo để mụ ta khỏi tiết lộ bí mật.”

    Nghiêm má má hoảng hốt, nghĩ thầm nếu bị hai đứa a đầu này bắt đi tất mười phần chết chín, kêu lên: “Tiểu thư, tiểu thư, thái thái nhà Mộ Dung nói là phu nhân đi cướp chồng người, còn nói…” Mụ chưa dứt lời, A Châu một tay giữ đầu, tay kia cầm ngay hột đào mình vừa nhả ra nhét luôn vào mồm mụ. Đoàn Dự cười nói: “Phải lắm! Đúng là tuyệt kỹ gây ông đập lưng ông của nhà Mộ Dung.”

    Vương Ngữ Yên nói: “Ta đi với bọn ngươi một chuyến xem…” Nàng nói tới đây, vẻ mặt thẹn thùng xuống giọng: “xem… tình hình chàng ra sao.” Nàng vốn dĩ do dự nhưng sau biến cố này cảm thấy quyết tâm hơn. A Châu cả mừng nói: “Được cô nương đi viện trợ cho công tử thì còn gì hay bằng? Vậy thì mình chẳng cần đưa Nghiêm má mà theo làm gì.” Hai cô gái lôi Nghiệm má má đến cạnh cột sắt rồi bấm nút cơ quan đưa vòng thép ra giữ chặt lấy mụ. Bốn người lẳng lặng đi ra khỏi cửa, rảo bước về phía bờ hồ.

    Cũng may trên đường chẳng gặp một ai, họ cùng nhau bước xuống thuyền nhỏ, rồi A Châu, A Bích hạ mái chèo, quay mũi thuyền chèo đi. A Châu, A Bích và cả Đoàn Dự, cả ba đều cố sức chèo cho nhanh, đến lúc quay lại không còn thấy bóng cây cối của Mạn Đà Sơn Trang nữa mới yên tâm. Tuy nhiên họ vẫn sợ Vương phu nhân cho khoái thuyền ra đuổi theo nên vẫn không dám ngừng tay.

    Chèo đến lúc trời xế bóng, trên mặt hồ sương chiều mỗi lúc một dày, A Châu nói: “Cô nương, nơi đây cách chỗ tiểu tì ở không xa, mời cô nương ghé nghỉ tạm một đêm để thương nghị việc đi tìm công tử, nên chăng?” Vương Ngữ Yên đáp: “Thế cũng được.” Nàng càng xa Mạn Đà Sơn Trang càng thêm trầm mặc.

    Đoàn Dự thấy gió trên hồ thổi làm tà áo nàng phất phơ, khi hoàng hôn xuống hơi lành lạnh, trong đầu bỗng nhiên cảm thấy thê lương, nỗi vui mừng lúc mới ra đi càng lúc càng vơi dần.

    Lại chèo thêm một hồi, nhìn vào mặt những bạn đồng hành thấy đã mông lung, chợt phía đông nhìn thấy ánh đèn le lói, A Bích nói: “Chỉ có ánh đèn kia là Thính Hương Thủy Tạ, nơi ở của A Châu tỉ tỉ.” Thuyền liền nhắm thẳng phía đó bơi tới. Đoàn Dự lẩm bẩm: “Đời ta khó lòng lại có được một buổi như hôm nay. Ước gì con thuyền cứ lênh đênh mãi trên mặt hồ, vĩnh viễn dừng đến chỗ đèn lửa kia thì có phải sung sướng hơn không?” Bất thình lình trước mặt một tia sáng lóe ra, trên trời có một vì sao đổi ngôi xẹt qua, vạch thành một cái đuôi rất dài.

    Vương Ngữ Yên miệng rì rầm nói điều gì, Đoàn Dự nghe không rõ. Lúc đó trời đã tối mịt, không nhìn rõ mặt, chỉ nghe thấy nàng buồn bã thở dài. A Bích dịu dàng nói: “Cô nương hãy yên lòng. Công tử thường gặp dữ hóa lành, trước nay biết bao nhiêu lần gặp nguy hiểm đều qua khỏi hết.” Vương Ngữ Yên đáp: “Chùa Thiếu Lâm nổi tiếng đã mấy trăm năm ắt tài nghệ ghê gớm không thể nào lường được. Chỉ mong các vị cao tăng thông hiểu tình lý, chịu nghe biểu huynh giãi bày mọi chuyện. Ta chỉ ngại rằng… ngại rằng biểu huynh tính khí cao ngạo, lời qua tiếng lại rồi xung đột với chư tăng, ôi…” Nàng ngừng lại một chút, nhỏ nhẹ tiếp: “lần nào gặp sao đổi ngôi ta đều ước nguyện, nhưng chưa thành tựu lần nào.”

    Người đất Giang Nam thuở nay vẫn tin rằng mỗi khi có sao đổi ngôi, người nào cầu nguyện khấn khứa được trọn lời thì việc khi đến đâu cũng toại nguyện.

    Nếu lời cầu còn dang dở mà sao đã biến mất rồi thì việc không thành. Thế nhưng ánh sao thường chỉ xẹt ngang rồi tắt ngay, chỉ kịp nói mấy chữ, thành thử muôn ngàn năm nay, không biết bao nhiêu cô gái Giang Nam ôm mộng trong lòng đã vì đó mà sinh thất vọng. Vương Ngữ Yên tuy là người rất hiểu biết lại cực kỳ tinh thông võ học, nhưng về tính tình nhi nữ cũng có khác gì cô gái quê mùa?

    Đoàn Dự nghe nàng than vãn bỗng chạnh mối thương tâm, chàng biết rõ điều ước nguyện của nàng nhất định có liên quan đến Mộ Dung công tử và hơn là cầu cho gã bình an, vạn sự như ý. Chàng chợt tự hỏi: “Trên đời này có người con gái nào vì mình mà thầm ước nguyện gì chăng? Mộc Uyển Thanh trước đây yêu ta sâu đậm thật, nhưng sau khi nàng biết ta là huynh trưởng dĩ nhiên sẽ có mối tình cùng người khác, không biết hiện giờ ở đâu? Và đã gặp được như ý lang quân chưa? Còn Chung Linh ư? Liệu nàng có biết ta cũng là huynh trưởng hay không? Dẫu cho không biết, có lúc nàng ngẫu nhiên tưởng tới ta thì cũng chẳng qua là rộn ràng trong chốc lát rồi chuyện đâu bỏ đó, quyết không bằng Vương cô nương tha thiết với ý trung nhân, mối tình dường như đã khắc cốt ghi xương.”

    Hồi 13: Cô nương chỉ điểm, quần hào ngẩn ngơ

    5 / 5 ( 1 bình chọn )

    Con thuyền chèo tới mỗi lúc một gần, A Châu đột nhiên khẽ bảo: “A Bích, xem kìa! Dường như có sự gì lạ lắm!” A Bích gật đầu nói: “Sao đèn đuốc nhiều thế kia?” Nàng cười khúc khích nói: “A Châu tỉ tỉ ơi! Trong nhà làm gì náo nhiệt như đêm Nguyên Tiêu vậy? Đèn đuốc sáng trưng, không chừng họ làm tiệc sinh nhật cho tỉ tỉ đó.” A Châu lẳng lặng không nói gì, chỉ chăm chăm nhìn ánh đèn lửa chiếu xuống mặt hồ.

    Đoàn Dự nhìn từ xa xa, thấy tám chín gian nhà dựng trên một cái cù lao nhỏ, trong đó có hai căn nhà lầu, từ trong cửa sổ ánh đèn chiếu ra. Chàng nghĩ thầm: “Thính Hương Thủy Tạ chỗ A Châu ở chắc so với Cầm Vận Tiểu Trúc của A Bích không khác bao nhiêu. Trong Thính Hương Thủy Tạ chỗ nào cũng đèn lửa huy hoàng, chắc tại A Châu thích náo nhiệt vui chơi”.

    Thuyền còn cách Thính Hương Thủy Tạ chừng một dặm, A Châu ngừng chèo nói: “Vương cô nương, trong nhà tiểu tì có địch.” Vương Ngữ Yên giật mình hỏi: “Địch tới rồi ư? Ai thế?” A Châu đáp: “Chưa biết bọn nào, nhưng cô nương thử ngửi xem, mùi rượu xông lên nồng nặc thì đúng là hạng khách bất nhân đến phá quấy rồi.” Vương Ngữ Yên và A Bích cố gắng hít mấy hơi nhưng không ai ngửi thấy gì. Còn Đoàn Dự chỉ “chuyên trị” mùi hương thiếu nữ, những mùi khác thì chàng cũng như người thường mà thôi.

    Riêng A Châu có cái mũi thính đặc biệt, nói: “Hỏng bét! Thật là hỏng bét! Bọn chúng lấy cả Mạt Lị Lộ cùng Mai Quế Lộ ra uống. Trời ơi! khổ rồi! Cả vò Hàn Mai Lộ chúng cũng đem ra uống vung uống vãi…” Mấy câu sau nàng nói như muốn khóc.

    Đoàn Dự rất lấy làm kỳ hỏi: “Sao mắt cô tinh thế, nhìn được cả những chuyện đó hay sao?” A Châu nghẹn ngào đáp: “Không phải, ngửi thấy đấy chứ. Tiểu nữ mất bao nhiêu công lao mới làm được mấy vò rượu đó, bọn gian ác này đem ra uống mất rồi.” A Bích hỏi: “A Châu tỉ tỉ, phải làm sao đây? Ta tránh đi hay lên bờ động thủ?” A Châu đáp: “Chưa rõ địch nhân có lợi hại lắm không?” Đoàn Dự cũng xen vào: “Phải đó! Nếu chúng lợi hại quá thì ta tránh đi là hơn. Bằng chúng chỉ là hạng tầm thường thì mình sẽ dạy cho chúng một bài học, để cho những đồ trân quý của A Châu tỉ tỉ khỏi bị hư hao thêm nữa.” A Châu đang bực mình, nghe chàng cà khịa nước đôi như thế liền nói: “Tránh kẻ mạnh, dằn mặt kẻ yếu thì ai mà chẳng biết? Thế nhưng công tử làm sao biết kẻ địch ghê gớm hay tầm thường?” Đoàn Dự cứng họng không sao trả lời được.

    A Châu nói: “Bọn mình cứ tới xem sao đã, nhưng trước hết phải tìm quần áo cải trang thành dân đánh cá mới được.” Nàng chỉ về hướng đông nói: “Mấy nhà chài lưới kia tôi quen lắm.” Đoàn Dự vỗ tay cả cười nói: “Tuyệt diệu! Tuyệt diệu!” A Châu bèn trở chèo quay sang phía đông, nghĩ đến hóa trang trong bụng phấn chấn, việc đang xảy ra trong nhà không còn làm cho nàng tức tối nữa.

    Trước hết nàng đến xóm chài mượn quần áo cùng Vương Ngữ Yên, A Bích ba người thay ra. Bản thân nàng giả làm một bà lão đánh cá còn Vương Ngữ Yên và A Bích thành hai mụ dân chài trung niên. Sau đó mới gọi Đoàn Dự qua, hóa trang chàng thành một ngư nhân chừng bốn mươi tuổi. Thuật hóa trang của A Châu thật tính diệu tuyệt luân. Nàng trát phấn, trát bột cho cả bốn người một loáng đã xong cả, người nào người ấy không còn ai nhận ra được bộ mặt cũ nữa. Nàng lại mượn nào thuyền, nào lưới, nào cần câu, nào cá sống rồi mới chèo về phía Thính Hương Thủy Tạ.

    Đoàn Dự và Vương Ngữ Yên tuy tướng mạo có đổi nhưng giọng nói, bộ điệu đầy những sơ hở, học đòi A Châu thế nào được? Vương Ngữ Yên cười nói: “A Châu! Mọi việc đều do ngươi ứng phó, bọn ta chỉ có tài giả câm thôi.” A Châu cười đáp: “Phải lắm, cô nương cứ thế là xong.” .

    Chiếc thuyền đánh cá từ từ chèo đến phía sau thủy tạ, Đoàn Dự thấy bốn bề đều trồng dương liễu. Từ trong nhà tiếng nói cười thô lỗ cùng tiếng gọi nhau í ới ầm ĩ từng chập vang ra, thật không xứng với khung cảnh hoa cỏ u nhã, tinh xảo chút nào.

    A Châu thở dài ngao ngán, A Bích ghé vào tai nàng nói nhỏ: “A Châu tỉ tỉ! Để tống cổ bọn địch đi rồi, em sẽ giúp chị một tay sắp xếp lại.” A Châu đưa tay nắm tay nàng tỏ vẻ biết ơn.

    Nàng dẫn bọn Đoàn Dự ba người lên bờ, đi quanh vào nhà bếp, thấy lão nấu ăn họ Cố đang bận tíu tít, mồ hôi đầm đìa, luôn mồm khạc nhổ vào trong chảo, rồi khuấy trộn đờm dãi vào thức ăn. A Châu trông thấy vừa buồn nôn vừa buồn cười bảo: “Lão Cố! Ngươi làm gì đó?” Lão Cố giật mình đánh thót một cái, quay ra hỏi: “Mụ… mụ…” A Châu cười nói: “Ta là A Châu cô nương đây.” Lão Cố mừng quá nói: “A Châu cô nương, bọn khốn kiếp ở đâu kéo đến, bắt lão phải nấu cho chúng ăn. Cô nương xem này…” Lão vừa nói vừa xì mũi vào chảo thức ăn, rồi toét miệng ra cười hềnh hệch, A Châu chau mày hỏi: “Sao ngươi làm đồ ăn dơ bẩn thế?” Lão Cố vội nói: “Món ăn của cô nương thì trước khi nấu tôi đều rửa tay thật kỹ. Còn cho bạn xấu xa kia ăn thì càng bẩn càng tốt.” A Châu nói: “Lần sau ta thấy đồ ăn lão làm chắc cũng ghê tởm chẳng dám ăn đâu.” Lão Cố vội phân trần: “Không, không phải, hoàn toàn không phải.” A Châu tuy là thị nữ của Mộ Dung công tử nhưng ở Thính Hương Thủy Tạ nàng là chủ, cũng có tì nữ, đầu bếp, thuyền phu, người trồng hoa hầu hạ.

    A Châu hỏi thêm: “Bọn địch có đông không?” Lão Cố đáp: “Bọn tới trước chừng mười tám, mười chín người, còn bọn đến sau phải trên hai chục người.” A Châu hỏi: “Những hai bọn kia à? Chúng thuộc về hạng nào? Coi cách ăn mặc và giọng nói có biết chúng ở đâu không?” Lão Cố hậm hực: “Mẹ chúng nó…” Câu chửi tục vừa ra khỏi cửa miệng, lão tự biết là vô lễ, vội đưa tay bịt miệng, sợ hãi tiếp: “Xin lỗi cô nương, lão Cố thật đáng chết, giận quá mất khôn. Hai bọn này thì một là man mọi phương bắc, có vẻ toàn là cường đạo, còn bọn kia là ma quỉ Tứ Xuyên, tên nào cũng mặc áo bào trắng, chẳng biết làm cái giống gì.” A Châu hỏi thêm: “Bọn chúng đến kiếm ai? Có chém giết ai không?” Lão Cố đáp: “Bọn cường đạo đến trước thì kiếm lão gia, bọn quái nhân đến sau thì kiếm công tử. Tôi nói lão gia đã qui tiên rồi, còn công tử vắng nhà, nhưng chúng không tin, lùng khắp nơi tìm kiếm một hồi. Các nha hoàn trong nhà chạy trốn hết, còn mình tôi, tức quá, mẹ…” Lão toan chửi câu nữa nhưng kịp nuốt lời lại, chưa tuôn ra hết câu. A Châu thấy mắt bên trái lão tím bầm, còn một nửa mặt sưng vù lên chắc là bị chúng đánh đau, trách nào lão chẳng nhổ đờm dãi vào các món ăn cho hả giận.

    A Châu trầm ngâm một lát rồi nói: “Thôi được, lão nói chưa rõ ràng, để chúng ta lên coi.” Nàng dẫn Ngữ Yên, Đoàn Dự, A Bích ba người theo cửa ngách ra khỏi nhà bếp, đi ngang một dãy hoa nhài, qua hai chiếc cổng tò vò đến bên ngoài hoa sảnh, còn cách vài trượng đã nghe tiếng người huyên náo rất phức tạp.

    A Châu rón rén đến gần, giơ ngón tay chọc thủng giấy dán cửa sổ, ghé mắt nhìn vào bên trong. Chỉ thấy phía đông đại sảnh đèn đuốc sáng rực, độ mười tám mười chín đại hán to lớn lực lưỡng đang nhậu nhẹt đầy khí thế. Trên bàn chén bát bừa bãi, dưới đất ghế đổ ngả nghiêng, gã thì ngồi chồm hổm trên bàn, có gã không dùng đũa, tay cầm đùi gà cắn nhai nhồm nhoàm. Có gã lại lấy trường đao cắt thịt bò rồi dùng mũi dao xiên đưa lên mồm.

    A Châu lại sang phía tây quan sát, lúc đầu cũng không lưu ý nhưng nhìn lâu một hồi, bất giác sởn gai ốc, sau lưng lạnh toát như bị dội nước lạnh. Hơn hai chục người ở đó đều mặc áo bào trắng, ngồi nghiêm chỉnh, trên bàn thắp một cây nến nhỏ, ánh sáng yếu ớt chiếu ra bất quá độ vài thước vuông. Sáu bảy người ngồi gần ngọn nến nên trông rõ, người nào cũng khô đét, thân hình gầy khẳng kheo, mặt trơ như gỗ, không ra vui cũng không ra giận, nếu không thỉnh thoảng nháy mắt thì ai cũng bảo đó là xác chết.

    A Bích đến gần A Châu, cầm lấy tay nàng thì thấy bàn tay lạnh ngắt mà hơi run. A Bích tò mò cũng chọc thủng cửa sổ để ngó trộm. Nàng vừa nhìn vào thì thấy ngay một tên mặt vàng như nghệ đang trừng trừng nhìn mình. A Bích hoảng hốt, khẽ kêu lên một tiếng “trời ơi!”. Bình bình hai tiếng, cửa sổ vỡ tung, bốn người cùng nhảy ra. Hai tên cường đạo phương bắc cùng hai quái khách Tứ Xuyên cùng quát lên: “Ai đó?”

    A Châu đáp: “Chúng tôi vừa bắt được mấy con cá, đến hỏi xem lão Cố có mua không. Hôm nay có cả tôm tươi nữa.” Nàng bắt chước giọng Tô Châu, bọn kia nghe không hiểu nhưng thấy bốn người ăn mặc theo kiểu dân chài, tay cầm cá tôm đang giãy tanh tách thì hiểu ngay. Một gã đại hán giật lấy con cá ở trong tay A Châu rồi gọi rối rít: “Nhà bếp! Nhà bếp! Đem mấy con cá này xuống nấu cháo ăn cho giã rượu.” Một gã khác cũng cầm ngay con cá trong tay Đoàn Dự.

    Hai tên Tứ Xuyên thấy chỉ là bọn bán cá nên chẳng để ý gì, quay người trở vào trong sảnh. Khi chúng đi qua mặt A Bích, một mùi hôi thối như cá đơn đã mười ngày xông vào mũi nàng. A Bích không nhịn được, giơ tay áo lên bịt mũi, tay áo nàng tụt xuống để lộ cánh tay nhỏ nhắn, trắng như tuyết. Một gã người Tứ Xuyên nhanh mắt trông thấy, sinh nghi: “Một mụ dân chài trung niên da dẻ sao lại trắng trẻo đến thế?”. Gã liền quờ tay ra nắm lấy A Bích hỏi: “Mụ già này bao nhiêu tuổi?” A Bích giật mình hất tay gã ra nói: “Ngươi làm gì thế? Tính đánh nhau chăng?” Giọng nàng êm ái dịu dàng, cái vung tay lại cực kỳ nhanh nhẹn, gã Tứ Xuyên kia thấy cánh tay tê dại hẳn đi.

    Bốn gã thấy vậy kêu vang lên, thế là lập tức cả bọn bị lộ tẩy. Hơn mười người từ trong nhà nhảy ra, vây lấy bọn Đoàn Dự. Một gã đại hán thò tay ra giật bộ râu giả của Đoàn Dự, bộ râu rớt xuống đất. Một gã vung tay chụp xuống A Bích, nàng có người đẩy mạnh một cái cho ngã lăn ra. Cả bọn liền lên tiếng quát tháo: “Có gian tế: Có gian tế! Bọn chúng cải trang lọt vào đây. Phải bắt đem ra tra khảo.” Lập tức có bốn tên chạy vào trong nhà bẩm với một lão già ngồi ở phía đông: “Diêu trại chủ! Đã bắt được mấy tên gian tế hóa trang làm dân chài.”

    Lão già này tướng mạo khôi ngô hùng vĩ, một chòm râu bạc chùng xuống trước ngực. Lão quát hỏi bọn Ngữ Yên: “Bọn mi làm gian tế ở đâu đến đó? Lấp ló thậm thụt tính làm trò gì đây?” Vương Ngữ Yên nói: “Hóa trang làm một bà già chẳng thú gì cả. Ta không hóa trang nữa đâu.” Nói xong nàng giơ tay lên xoa mặt một cái, những phấn bột nhồi thành vết nhăn rơi xuống lả tả. Bọn hán tử thấy mụ dân chài đứng tuổi đột nhiên biến thành một vị nữ lang nhan sắc tuyệt trần đều há hốc miệng, giương mắt ra mà nhìn. Trong đại sảnh bỗng trở nên im phăng phắc. Bọn quái khách Tứ Xuyên ngồi ở phía tây cũng trố mắt ra nhìn nàng.

    Vương Ngữ Yên bảo: “Các ngươi cũng bỏ hết đồ hóa trang đi.” Rồi nàng quay lại nhìn A Bích cười nói: “Chỉ tại ngươi làm tiết lộ.” A Châu, A Bích, Đoàn Dự ba người đều xoa hết những thứ bôi mặt đi. Mọi người đã thấy Ngữ Yên tuyệt đẹp, lại thấy A Châu, A Bích cũng là những vị ‘cô nương hoa nhường nguyệt thẹn đều sửng sốt, không ngờ trên thế gian lại có những người kiều diễm đến thế.

    Một lúc sau, lão già to cao kia lại cất tiếng hỏi: “Các ngươi là ai, đến đây có chuyện gì?” A Châu cười nói: “Ta là chủ nhân nơi đây, lại có người ở đâu đến hỏi ta là ai mới kỳ chứ? Bây giờ ta hỏi lại: Các ngươi là ai? Đến đây làm gì?” Lão già kia gật gù : “Thế à? Nếu ngươi là chủ nhân nơi đây càng hay. Phải chăng ngươi là tiểu thư nhà Mộ Dung? Mộ Dung Bác có phải là gia gia ngươi không?” A Châu mỉm cười đáp: “Ta chỉ là một đứa a đầu, làm gì có phúc được làm con gái của lão gia? Các hạ là ai? Đến đây có chuyện gì?” Lão già thấy A Châu tự xưng là một nha hoàn có ý không tin, trầm ngâm giây lát rồi mới nói: “Vậy ngươi đi mời chủ nhân ra đây, ta sẽ nói cho hay đến đây làm gì.” A Châu đáp: “Lão chủ nhân chúng tôi đã qua đời rồi, còn tiểu chủ nhân đi vắng. Các hạ có điều chi cứ nói với tôi cũng được. Tôn tính đại danh các hạ chẳng lẽ cũng không cho tôi biết được hay sao?” Lão già đáp: “Ta là Diêu trại chủ Tần Gia Trại ở Vân Châu. Diêu Bá Đương chính thị là ta.” A Châu nói: “Hâm mộ đại danh đã lâu.” Diêu Bá Đương cười nói: “Ngươi còn là cô bé nhỏ xíu, biết gì mà hâm mộ ta đã lâu?”

    (còn tiếp)

    Nguồn: Thiên Long bát bộ. Tiểu thuyết của Kim Dung. Tác phẩm được bắt đầu được đăng trên tờ Minh báo ở Hồng Kông và Nam Dương thương báo ở Singapore vào ngày 03-09-1963 đến ngày 27-05-1966, liên tục trong 4 năm. Các Dịch giả: Hàn Giang Nhạn; Đông Hải; Nguyễn Duy Chính. NXB Văn học, 2002.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,165,543

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/