Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,165,974

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Thiên Long bát bộ

Kim Dung

  • Chủ nhật, 10:45 Ngày 03/01/2021
  • Thiên Long bát bộ

    Cưu Ma Trí dẫn luồng nội lực hùng hậu của chàng chạy đông chạy tây khiến cửa sổ và vách tường bị đâm thủng lỗ chỗ khắp nơi, miệng liên tiếp khen ngợi: “Lục Mạch Thần Kiếm quả nhiên lợi hại, trách nào năm xưa Mộ Dung tiên sinh đem lòng hâm mộ.”

    Thôi Bách Tuyền cũng rất lấy làm kinh ngạc, lẩm bẩm: “Ta vẫn tưởng Đoàn công tử chẳng biết võ công, nào ngờ lại có bản lĩnh đến thế. Họ Đoàn Đại Lý đúng là danh bất hư truyền. Cũng may mà mình khi ở phủ Trấn Nam vương chưa làm việc gì xằng bậy, nếu không thì cái mạng già này đâu còn được đến hôm nay.” Y càng nghĩ càng rùng mình, mồ hôi toát ra lạnh cả người.

    Hai người giao đấu một hồi lâu, kỳ thực thì chiêu nào Cưu Ma Trí cũng có thể đẩy Đoàn Dự vào tử địa được. Có điều lão cố ý kéo dài cuộc đấu để đùa giỡn và phô trương tài năng. Ngờ đâu đùa giỡn càng lâu thì càng không dám coi thường, xem ra chàng nội kình cực kỳ hùng hậu không kém gì mình, nhưng không hiểu vì sao lại không biết phát huy ra, chẳng khác gì đứa trẻ lên ba trong tay có hàng vạn quan tiền mà không biết tiêu xài. Cưu Ma Trí chiết giải thêm mấy chiêu nữa bỗng dưng nghĩ khác: “Nếu lỡ ra lát nữa y phúc chí tâm linh, lãnh ngộ được võ công yếu quyết, với nội công đó và kiếm pháp đó, e rằng sẽ là một kình địch cực kỳ lợi hại”.

    Đoàn Dự cũng biết là chàng sống hay chết hoàn toàn do tay Cưu Ma Trí, kêu lên: “A Châu, A Bích hai vị tỉ tỉ mau mau đào tẩu. Không thì không kịp đâu.” A Châu hỏi: “Đoàn công tử! Tại sao công tử lại cứu chúng tôi?” Đoàn Dự đáp: “Vì tôi ghét tên hòa thượng này ỷ mình võ công cao cường, hoành hành bá đạo, khinh khi người khác. Đáng tiếc tôi không hiểu võ công, khó lòng địch lại lão. Các cô chạy mau đi thôi!”

    Cưu Ma Trí mỉm cười nói: “Không kịp nữa rồi.” Y tiến lên một bước, ngón tay trái đâm ra, điểm vào đùi Đoàn Dự. Đoàn Dự kêu lên một tiếng toan né tránh, nhưng tránh làm sao được? Ba yếu huyệt của chàng đã bị Cưu Ma Trí điểm trúng, tức thời hai chân bị tê bại, té nhào xuống đất. Chàng gọi ầm lên: “A Châu, A Bích! Chạy mau đi! Chạy mau đi!”

    Cưu Ma Trí bật cười nói: “Chết đến cổ họng, thân không giữ nổi lại còn thương hoa tiếc ngọc.” Đoạn lão ung dung quay lại chỗ ngồi, nói với A Châu: “Cô nương cũng bất tất phải giở trò quỷ quái làm gì nữa. Ai là người quyết định mọi việc trong phủ này? Đoàn công tử đã thuộc lòng kiếm phổ Lục Mạch Thần Kiếm, có điều y không hiểu võ công nên không biết sử dụng đó thôi. Ngày mai ta sẽ đem hắn ra thiêu sống trước mồ Mộ Dung tiên sinh, nếu tiên sinh dưới suối vàng có linh thiêng, chắc cũng rõ người bạn cũ không lỗi lời hẹn ước năm xưa.”.

    A Châu cũng hiểu rằng hiện tình trong Cầm Vận Tiểu Trúc này không có ai địch lại Cưu Ma Trí. Nàng chau đôi mày liễu, gượng cười nói: “Được rồi! Đại hòa thượng nói sao chúng tôi tin vậy. Phần mộ của lão gia cách đây chừng một ngày đường thủy. Hôm nay thì trời đã tối rồi, sáng sớm mai tỉ muội chúng tôi xin thân hành dẫn hòa thượng cùng Đoàn công tử đi tảo mộ. Xin các vị hãy nghỉ ngơi một chút để đợi dùng cơm chiều.” Nói dứt lời A Châu đứng dậy kéo tay A Bích cùng đi vào trong nhà.

    Sau độ nửa giờ thì thấy một tên tớ trai ra nói: “Hai cô nương có lời mời bốn vị đến Thính Vũ Cư dùng cơm chiều.” Cưu Ma Trí cám ơn rồi nắm tay Đoàn Dự, dẫn đi theo tên đầy tớ. Đường đi trải đá trứng ngỗng quanh co độ mấy chục trượng, vòng qua mấy tòa giả sơn cùng mấy khu vườn thì đến bên bờ hồ. Dưới một gốc liễu có buộc chiếc thuyền nhỏ. Tên đầy tớ chỉ một căn nhà nho nhỏ ở giữa hồ, bốn mặt đều có cửa sổ, nói: “Ở bên kia.” Cưu Ma Trí, Đoàn Dự, Thôi Bách Tuyền, Quá Ngạn Chi bốn người xuống thuyền để cho tên đầy tớ chèo qua, chỉ giây lát đã tới.

    Đoàn Dự theo cầu thang đóng trên cây tùng trèo lên Thính Vũ Cư, thấy A Bích đã đứng sẵn chờ khách. Toàn thân nàng mặc áo dài màu xanh nhạt, bên cạnh là một nữ lang mặc áo lụa hồng xinh tươi mơn mởn, tuổi chừng mười sáu mười bảy, nhìn Đoàn Dự tựa như cười mà không phải cười, nét mặt đầy vẻ khôn ngoan lanh lợi. Mặt A Bích thì thanh nhã tú lệ, còn người con gái kia khuôn mặt trái xoan, đôi mắt linh động dễ làm người ta quyến luyến.

    Đoàn Dự tới gần liền ngửi thấy mùi hương phảng phất quen thuộc, chàng mỉm cười hỏi: “A Châu tỉ tỉ! Cô là một vị tiểu cô nương xinh đẹp như thế này mà sao cải trang thành một bà lão lại giống đến thế?” Nữ lang này chính là A Châu. Nàng liếc mắt mỉm cười hỏi Đoàn Dự: “Công tử phải khấu đầu lạy tôi ba cái chắc bực mình lắm phải không?” Đoàn Dự lắc đầu quầy quậy nói: “Ba lạy đó rất có ý nghĩa. Có điều tôi đoán không được trúng lắm thôi.” A Châu hỏi: “Công tử đoán thế nào mà không trúng?” Đoàn Dự đáp: “Trước tôi đã đoán cô nương và A Bích cũng như nhau, đều là mỹ nhân hiếm có ở đời. Tôi đinh ninh là hai cô chẳng khác nhau mấy, nào ngờ tới khi gặp mặt mới hay… mới hay…” A Châu cướp lời: “Phải chăng tôi còn kém A Bích xa?” Đồng thời A Bích cũng chen vào: “Công tử thấy chị ấy đẹp gấp mười tôi, nhìn thấy phải giật mình chứ gì?”

    Đoàn Dự lắc đầu: “Trật hết. Tôi bấy giờ mới hay trời xanh kia quả thật tài tình, khiến cho người ta phục sát đất. Ông đã dốc tâm trí ra tạo nên một trang tuyệt sắc giai nhân là A Bích tỉ tỉ, tưởng rằng bao nhiêu linh tú ở Giang Nam đã dùng hết nhẵn rồi, nào ngờ ông lại còn tạo thêm được một vị A Châu tỉ tỉ nữa. Hai dung mạo khác nhau nhưng mỗi người đều có một vẻ ưa nhìn riêng, tôi nghĩ mãi mà chưa tìm được câu nào để diễn tả được cái vẻ diễm lệ của hai cô.” A Châu cười khúc khích: “Gớm, công tử thật là mồm mép trơn như mỡ, đã tán dương một tràng dài lại còn bảo là không tìm được câu nào.”

    A Bích mỉm cười quay sang nói với Cưu Ma Trí và hai người Thôi, Quá: “Bốn vị giá lâm tệ xứ, chúng tôi đơn bạc chẳng có gì để thết, xin các vị tạm dùng ly rượu nhạt và mấy thứ món ăn ở địa phương Giang Nam có sẵn trong nhà thôi.” Nói rồi mời bốn người vào bàn, còn nàng và A Châu ngồi bên dưới tiếp khách.

    Đoàn Dự thấy Thính Vũ Cư bốn mặt đều là nước, từ cửa sổ nhìn ra chung quanh mặt hồ khói sóng mờ mờ tới tận chân trời, quay đầu nhìn lại thấy chén bát trên bàn đều là đồ sứ tinh xảo, trong bụng tấm tắc khen thầm.

    Một lát sau đầy tớ đem lên mấy món điểm tâm, riêng Cưu Ma Trí có bốn đĩa đồ chay, kế đó mấy món nóng sốt như lăng xào tôm, lá sen nấu măng, thịt quay nấu anh đào, thịt gà hấp trà Long Tỉnh… món nào cũng thật là đặc biệt. Các món cá tôm đều nhồi cánh hoa, trái cây càng thêm màu mè nhưng vẫn đượm mùi hương thiên nhiên. Món nào Đoàn Dự cũng gắp thử vài đũa, món nào cũng tươi ngon hợp khẩu, chàng tán dương luôn miệng: “Non sông gấm vóc thì phải có tuyệt thế giai nhân, không những thông minh lanh lợi mà còn thanh nhã khôn cùng để chế tạo những món ăn mỹ vị thanh cao.”

    A Châu hỏi: “Công tử thử đoán xem các món ăn đây do tiểu nữ làm hay do A Bích làm?” Đoàn Dự đáp: “Món thịt quay anh đào, vịt ướp hoa mai, bánh dẻo bảy màu hẳn là do tỉ tỉ làm. Còn món canh măng nấu ngó sen, cá viên phỉ thúy thanh tân mượt mà kia chắc phải do tay A Bích tỉ tỉ?”

    A Châu vỗ tay cười nói: “Không ngờ thầy đồ gàn đoán đúng thế. A Bích, người xem mình phải thưởng cho thầy cái gì đây.” A Bích tủm tỉm cười đáp: “Đoàn công tử sai bảo điều gì chúng ta sẽ hết sức tuân theo, chứ bọn kẻ ăn người ở như mình có gì mà thưởng?” A Châu đáp: “Chao ôi, ngươi quả là lanh mồm lanh miệng khéo nói cho vừa lòng người, thảo nào ai ai cũng bảo ngươi tốt, còn ta chẳng ra gì.” Đoàn Dự cười: “Một bên thùy mị ôn hòa, một bên hoạt bát lanh lợi, mỗi cô một vẻ riêng. A Bích tỉ tỉ, lúc ngồi thuyền tại hạ có được nghe tỉ tỉ gấy một khúc đàn bằng cây nhuyễn tiên, dư âm hãy còn văng vẳng bên tai. Vậy dám cả gan xin tỉ tỉ cho nghe một khúc bằng nhạc khí thực. Được thế thì dù ngày mai có bị vị hòa thượng này đốt thành tro cũng không uổng một đời.”

    A Bích nhẹ nhàng đứng dậy nói: “Nếu như công tử không hiềm bẩn tai, tiểu nữ xin phô chút tài mọn để vui lòng quý khách.” Nói xong nàng đi ra đằng sau bức bình phong lấy một chiếc dao cầm. A Bích ngồi ngay ngắn trên chiếc cẩm đôn, để cây đàn lên chiếc bàn nhỏ trước mặt, giơ tay vẫy Đoàn Dự cười nói: “Đoàn công tử thử lại đây xem cây đàn của tôi là loại đàn gì?”

    Đoàn Dự đi đến trước mặt nàng, thấy chiếc đàn đó so với thất huyền cầm thông thường thì ngắn hơn chừng một thước nhưng lại có đến chín dây, mỗi dây một màu, liền ngẫm nghĩ rồi đáp: “Loại cửu huyền cầm này tại hạ mới nhìn thấy lần đầu.” A Châu đi đến giơ ngón tay bật vào một sợi dây, nghe tưng một tiếng thật to, thì ra dây này làm bằng kim loại. Đoàn Dự ấp úng: “Tỉ tỉ, đàn này…”

    Mới nói đến đó, bỗng dưng chàng thấy dưới chân hụt hẫng, nhịn không nổi kêu “Ối” một tiếng, thân hình rơi tọt ngay xuống, rớt vào vật gì mềm nhũn như bông, đồng thời tai nghe tiếng kêu “Ối chết!”, “Hỏng rồi!” liên tiếp, tiếng người rơi xuống nước lõm bõm, rồi thấy thân hình bị ai đó kéo lên. Biến cố đó đã kỳ quái lại đột ngột, chàng gượng ngồi dậy thấy mình ở trong một con thuyền nhỏ, A Châu, A Bích ngồi hai đầu, tay cầm mái giầm đang ra sức chèo. Chàng quay đầu nhìn lại thấy Cưu Ma Trí, Thôi Bách Tuyền, Quá Ngạn Chi ba người đang chơi với cố ngoi lên mặt nước. A Châu, A Bích chỉ chèo mấy cái chiếc thuyền đã cách Thính Vũ Cư mấy trượng.

    Bỗng từ dưới nước một người ướt sũng vọt lên, chính là Cưu Ma Trí. Y vừa lên được Thính Vũ Cư, lập tức giơ tay chặt đứt một cây cột gỗ, nghe vù một tiếng đã cầm ném thẳng vào A Bích ngồi phía sau con thuyền, A Bích kêu lên: “Đoàn Công tử, hụp xuống mau.” Đoàn Dự cùng hai cô gái cùng nằm mọp xuống, nửa cây cột gỗ vụt qua đầu, gió mạnh đến nỗi nghe rất cả cổ.

    A Châu khom người chèo mạnh mấy cái, chiếc thuyền lại vọt lên thêm cả trượng. Bỗng dưng nghe tiếng ầm ầm, bình bình vang dội, con thuyền chao đảo nhấp nhô, nước tạt vào làm cho cả ba người đều ướt sũng. Đoàn Dự quay đầu lại thấy Cưu Ma Trí đã đánh vỡ một bên vách Thính Vũ Cư, tay cầm đôn đá, đỉnh hương liên tiếp ném ra. A Bích nhắm chừng những vật nặng đó mà lách thuyền tránh né, còn A Châu vẫn cắm cúi chèo tới trước, mỗi lần vung tay, chiếc thuyền con lại vọt xa thêm mấy thước. Tuy Cưu Ma Trí vẫn liên tiếp ném theo nhưng cự ly mỗi lúc một xa, xem ra y kình lực mạnh mẽ đến đâu cũng ném không tới. Hai cô gái liên tiếp chèo chống, Đoàn Dự quay đầu lại nhìn quanh, thấy Thôi Bách Tuyền và Quá Ngạn Chi cũng đã bám được thang trèo trở lại lên Thính Vũ Cư. Chàng trong bụng mừng thầm nhưng lại kêu “Chao ôi” một tiếng, thấy Cưu Ma Trí vừa nhảy xuống một chiếc thuyền khác.

    A Châu kêu lên: “Ác hòa thượng đuổi theo kìa!” Nàng gắng sức chèo luôn mấy cái, quay đầu nhìn lại bỗng dưng bật cười ha hả khiến Đoàn Dự cũng tò mò quay lại, thấy chiếc thuyền của Cưu Ma Trí chạy vòng tròn trên mặt nước. Thì ra tuy y võ công cao cường nhưng lại chưa biết lái thuyền.

    Ba người thở phào một cái nhưng chẳng bao lâu thấy Cưu Ma Tú đã hơi biết điều khiển, cố gắng chèo thuyền đuổi theo. A Bích thở dài: “Nhà sư này quả là thông minh, việc gì cũng để ý một lát là làm được ngay.” A Châu nói: “Mình phải để y không mò ra được lối đi.” Nàng chèo mấy cái đưa con thuyền vào trong đám lá lăng um tùm. Trong Thái Hồ có hàng ngàn hàng vạn lối mòn, chiếc thuyền nhỏ chỉ cần vòng qua mấy khúc là đã chui tọt vào trong một con lạch nhỏ, Cưu Ma Trí không thể nào đuổi theo được.

    Đoàn Dự nói: “Tiếc rằng huyệt đạo trên thân thể tôi chưa được giải, thành thử không thể chèo thuyền giúp hai vị tỉ tỉ được.” A Bích an ủi: “Đoàn công tử chở có lo, nhà sư kia không đuổi kịp đâu.”

    Đoàn Dự nói: “Cơ quan trong Thính Vũ Cư kể cũng hay thật. Có ai mà ngờ được chiếc thuyền lại nằm ngay dưới cái ghế tỉ tỉ đánh đàn.” A Bích mỉm cười: “Đúng vậy, khi tôi mời công tử lại xem đàn, A Châu tỉ tỉ búng vào sợi dây một tiếng làm hiệu, người bên ngoài nghe thấy mở cửa hầm ra, tất cả đều rơi xuống hết.” Ba người cùng cười ha hả, A Bích vội bịt miệng lại nói: “Đừng để lão ác tăng nghe thấy.”

    Bỗng nghe từ xa có tiếng văng vẳng vọng tới: “A Châu cô nương, A Bích cô nương, hai cô bơi thuyền trở lại mau! Bần tăng đã là bạn với công tủ Mộ Dung có lý đâu lại làm khó dễ các cô?” Chính là tiếng của Cưu Ma Trí, giọng điệu dịu dàng thân thiết khiến người ta bất giác không tự chủ được nữa, muốn làm theo ý lão.

    A Châu bần thần nói: “Đại hòa thượng gọi chúng ta trở lại, tất không gia hại đâu.” Đoạn nàng dừng chèo không bơi nữa, trong lòng dường như có vẻ xao xuyến. A Bích cũng nói: “Vậy chúng ta quay lại thôi.” Đoàn Dự nội công vô cùng hùng mạnh nên không bị thanh âm của Cưu Ma Trí mê hoặc, vội nói: “Lão bịp đấy! Tin thế nào được?” Lại nghe giọng ôn hòa trìu mến của Cưu Ma Trí chậm rãi lọt vào tai: “Hai vị tiểu cô nương ơi! Công tử nhà các cô đã về tới, cần gặp các cô ngay, các cô mau mau bơi thuyền trở lại.” A Châu đáp: “Vâng!” rồi lái thuyền quay đầu lại.

    Đoàn Dự nghĩ thầm: “Nếu quả công tử Mộ Dung trở về thì chính y lên tiếng gọi A Châu A Bích, hà tất phải mượn lão gọi hộ? Đúng là lão giở phép thu hồn phách cực kỳ lợi hại ra đây.” Chàng chợt nghĩ ra, giơ tay ra ngoài thuyền, hái nấy lá lăng trên mặt nước, vo lại thành một cục nhét vào tai A Bích, sau đó lại bịt vào tai A Châu.

    A Châu vừa định thần, thất thanh kêu lên: “Chao ôi! Nguy hiểm thực!” A Bích cũng kinh hoàng nói: “Gã hòa thượng đó biết phép nhiếp hồn. Ta bị lão lung lạc mất rồi.” A Châu quay đầu thuyền lại hết sức chèo, kêu lên: “A Bích, chèo mau lên, mau lên!”

    Hai người ra sức chèo chiếc thuyền con đi sâu vào bãi lăng. Một hồi sau, tiếng gọi của Cưu Ma Trí nhỏ dần, sau cùng không còn nghe thấy nữa. Đoàn Dự ra hiệu cho hai cô gái bỏ lá lăng đang bịt lỗ tai ra.

    A Bích xoa ngực, thở hắt ra nói: “Sợ quá mất thôi. A Châu tỉ tỉ, mình phải làm sao bây giờ?” A Châu đáp:”Mình cứ lênh đênh trên mặt hồ này, đói thì bóc hồng lăng hoặc móc ngó sen lên mà ăn, dù có ở đây mười ngày hoặc nửa tháng cũng chẳng hề gì.” A Bích mỉm cười nói: “Phương cách đó kể cũng hay, không biết ý Đoàn công tử ra sao?” Đoàn Dự vỗ tay cười đáp: “Phong cảnh trên hồ tại hạ hận không có bốn mắt mà ngắm, huống chi có hai cô làm bạn, ở đây ngao du mươi ngày, thật sướng hơn tiên.” A Bích dẩu môi cười: “Mình đi về hướng đông nam thì dưới đó sông lạch thật nhiều, trừ bọn chài lưới địa phương ra, không ai tìm được đường lối. Nếu như mình vào tới Bách Khúc Hồ, quyết nhiên gã hòa thượng kia không thể đuổi tới nơi được.

    Hai cô gái thư thả chèo thuyền, Đoàn Dự nằm nhìn lên những vì sao lấp lánh trên cao, ngoài tiếng mái chèo khuấy nước và tiếng lá lăng chạm vào thành thuyền kêu loạt soạt thì bốn bề tĩnh mịch không một tiếng động, gió mát trên mặt hồ như ướp mùi hoa thơm dìu dịu, nghĩ thầm: “Nếu cứ được thế này mãi thì thật sướng biết bao”. Chàng lại nghĩ “A Châu, A Bích hai vị tỉ tỉ tốt bụng như thế, xem ra Mộ Dung công tử cũng không phải là hạng người hung ác. Huyền Bi đại sư chùa Thiếu Lâm và sư huynh của Hoắc tiên sinh không biết đã bị ai giết? Ôi, trong nhà ta biết bao nhiêu tì nữ phục dịch nhưng có ai sánh được với A Châu, A Bích hai vị tỉ tỉ?”.

    Một lúc lâu sau, chàng đang nhắm mắt sắp thiu thiu ngủ bỗng nghe A Bích cười khúc khích nói: “A Châu tỉ tỉ, chị lại đây.” A Châu cũng hạ giọng hỏi nhỏ: “Gì thế?” A Bích giục: “Chị cứ lại đây rồi em nói cho nghe.” A Châu gác mái giầm, đi đến cuối thuyền ngồi xuống. A Bích ôm lấy vai nàng, ghé tai mỉm cười nói nhỏ: “Hai chị em mình làm cách nào cho khỏi mắc cỡ đây.” A Châu cười hỏi: “Chuyện gì vậy?” A Bích nói: “Nói nhỏ thôi. Đoàn công tử đã ngủ chưa?” A Châu đáp: “Không biết nữa, ngươi hỏi thử xem.” A Bích nói: “Hỏi không được. A Châu tỉ tỉ, em… em… em muốn tiểu tiện.”

    Hai người nói nhỏ như muỗi kêu nhưng Đoàn Dự nội công cực kỳ hùng hậu nên nghe rõ mồn một, nhưng chàng không dám động đậy, giả vờ ngáy nhè nhẹ để hai nàng khỏi thẹn.

    Chỉ nghe A Châu hạ giọng cười nói: “Đoàn công tử ngủ rồi. Ngươi cứ việc đi tiểu đi.” A Bích ngượng nghịu đáp: “Em không dám đâu, lỡ nửa chừng Đoàn công tử tỉnh dậy thì biết làm thế nào?” A Châu nhịn không nổi cười rúc rích, vội vàng đưa tay bịt miệng nói nhỏ: “Có gì mà ngượng? Ai chẳng phải đại tiểu tiện, có gì lạ đâu?” A Bích cầm tay A Châu lắc lắc, năn nỉ: “Chị ơi, nghĩ giùm em xem làm cách nào đây?” A Châu đáp: “Để ta che cho ngươi, nếu như Đoàn công tử tỉnh dậy cũng không nhìn thấy được.” A Bích nói: “Thế nhưng có tiếng động, nghe chảy xuống nước, em… em…” A Châu cười đáp: “Thế thì làm cách nào được bây giờ? Ngươi cứ đi đi, Đoàn công tử không nghe thấy đâu.” A Bích nói: “Không được đâu, có người bên cạnh, em không đi được.” A Châu đáp: “Không đi được thì càng tốt.” A Bích bí quá dường như muốn khóc, chỉ rên rỉ: “Làm sao bây giờ? Làm sao bây giờ?”

    A Châu lại cười khúc khích nói: “Cũng tại ngươi hết, ngươi không nói ra, ta cũng quên khuấy đi, bây giờ ngươi nói tới nói lui, làm ta cũng mắc đi đại tiện. Thôi đành tới phủ nhà mợ Vương chỉ cách chừng nửa quãng chín, mình chèo tới đó đi ngoài luôn cũng được.” A Bích nói: “Vương thái thái không cho chúng mình léo hánh đến đâu, Bà ấy dữ như chằn, không chừng vừa gặp đã cho mỗi đứa mấy cái tát tai.” A Châu đáp: “Có chi đâu mà sợ. Vương thái thái với lão thái thái hay cãi nhau, nhưng bà lão nay đã mất rồi. Ta với ngươi bất quá chỉ là kẻ ăn người ở, mình có làm gì đâu mà bị tát tai? Mình len lén lên bờ, đi xong lại xuống thuyền, thái thái làm sao biết được?” A Bích đáp: “Vậy cũng được.” Nàng hơi trầm ngâm bỗng nói: “Hay mình kêu Đoàn công tử lên bờ đi ngoài luôn, nếu không… nếu không anh ta tỉnh dây cười mình thì thẹn chết.”

    A Châu cười khẩy nói: “Sao người chăm sóc chàng kỹ quá vậy? Không sợ công tử biết mà ghen hay sao?” A Bích thở dài nói: “Những chuyện nhỏ nhặt công tử đâu có để tâm đến làm chi. Mình chỉ là hai con tiểu a đầu, công tử có bao giờ nghĩ tới.” A Châu nói: “Nhưng ta cứ nghĩ đến thì sao? A Bích muội tử, ngươi tối ngày sáng đêm nghĩ đến công tử, việc gì phải giấu.” A Bích thở hắt ra, không trả lời. A Châu vỗ nhẹ lên vai nàng, nói nhỏ: “Ngươi vừa mắc tiểu tiện lại vừa nhớ đến công tử, hai chuyện nói chung thật tức cười quá.” A Bích cũng cười khúc khích nói: “Chị cứ nói giỡn chẳng đâu vào đâu.”

    A Châu quay trở lại đầu thuyền cầm mái chèo bơi tiếp. Hai cô gái bơi một hồi thì trời bắt đầu hửng sáng.

    Đoàn Dự nội công thâm hậu, huyệt đạo không bị bế lâu, trước đây cứ độ vài giờ Cưu Ma Trí phải điểm thêm mấy cái. Đến lúc này chàng cảm thấy nội tức bắt đầu thông, các huyệt bị điểm từ từ mở ra. Chàng vươn vai ngồi dậy nói: “Tại hạ ngủ được một giấc dài, còn hai vị tỉ tỉ thật là mệt nhọc. Có một việc không tiện nói, xin hai vị đừng trách, ta… ta muốn đi tiểu tiện.” Chàng nghĩ thầm mình tự ý nói ra cho hai cô gái khỏi ngượng ngập.

    A Châu, A Bích hai cô cùng bật cười. A Châu nói: “Cũng chẳng còn xa, chúng ta sẽ đến nhà một người họ Vương, lúc đó công tử lên bờ cho thoải mái.” Đoàn Dự đáp: “Thế thì tiện quá.” A Châu bỗng dưng nghiêm mặt nói: “Có điều Vương thái thái tính tình rất là khó chịu, không cho đàn ông lạ lên nhà. Công tử lên bờ rồi lập tức quay trở lại thuyền ngay, đừng ở lại lâu cho khỏi phiền phức.” Đoàn Dự đáp: “Được, tại hạ hiểu rồi”.

    Hồi 12: Người đâu gặp gỡ làm chi...

    Chiếc thuyền đi tới một rặng liễu, xa xa nhìn thấy trên bờ hồ hoa trà rực rỡ, phản chiếu xuống nước đỏ rực một vùng. Đoàn Dự buột miệng khẽ reo lên một tiếng: “Ô kìa”, A Châu hỏi: “Cái gì thế?” Đoàn Dự chỉ vào bụi hoa nói: “Đây là cây sơn trà ở nước Đại Lý chúng tôi. Làm sao ở Thái Hồ cũng trồng được thứ Điền trà này nhỉ?” Nên biết rằng thứ sơn trà ở Vân Nam có danh tiếng hơn cả nên người ta gọi là Điền trà, Điền là tên thường gọi của Vân Nam. A Châu nói: “Đúng thế! Gia trang này có tên là Mạn Đà Sơn Trang, trồng toàn là hoa sơn trà.” Đoàn Dự nghĩ thầm: “Sơn trà còn có tên là hoa Mạn Đà La. Trong việc này lấy tên là Mạn Đà, để xem có những loại danh chủng nào”.

    A Châu khua mái chèo đưa con thuyền tới bên bờ nước dưới mấy cây sơn trà. Chàng đưa mắt nhìn qua thấy trên bờ toàn những hoa trà đỏ trắng xen nhau, không có nhà cửa chi hết. Đoàn Dự sinh trưởng ở Đại Lý, hoa trà đối với chàng chẳng có chi là lạ, nghĩ thầm: “Nơi đây sơn trà tuy nhiều nhưng xem chừng chẳng có giai phẩm, có lẽ những loại quí trồng bên trong trang viện”.

    A Châu ghé thuyền vào sát bờ, mỉm cười nói: “Đoàn công tử, mình lên một lát rồi xuống ngay” Nàng nắm tay A Bích toan nhảy lên bờ, bỗng nghe tiếng chân bước sột soạt trong rừng hoa rồi một ả tiểu hoàn áo xanh đi ra, trong tay cầm một bó hoa.

    Ả này nhìn thấy A Châu, A Bích vội chạy ra bờ hồ, tươi cười nói: “A Châu, A Bích! Các ngươi thật là lớn mật, dám lẻn tới đây. Phu nhân xuống lệnh: Lấy dao rạch ngang rạch dọc mặt hai đứa a đầu cho chúng nó hết còn đẹp như hoa như ngọc nữa.” A Châu cười đáp: “U Thảo tỉ tỉ này, thái thái đi vắng phải không?” U Thảo liếc nhìn Đoàn Dự rồi quay sang nhìn A Châu, A Bích cười nói: “Phu nhân còn bảo: Hai con nhãi đó còn đem cả đàn ông đến Mạn Đà Sơn Trang, phải chặt luôn hai chân gã.” Nàng chưa dứt lời đã cười khúc khích.

    A Bích vuốt ngực nói: “U Thảo tỉ tỉ đừng có dọa, chị nói thật hay nói chơi đó?” A Châu cũng cười nói: “Ngươi đừng sợ, nếu như thái thái có nhà thì đời nào cô ả dám cười cợt như vậy? U Thảo muội tử ơi, thái thái đi đâu vậy?” U Thảo cười nói: “Ối giời, ngươi mấy tuổi mà đòi làm chị ta? Sao người đoán được là phu nhân không có nhà?” Rồi ả lại thở dài nói tiếp: “Hai em A Châu, A Bích ơi, mấy khi qua tới đây, ta muốn hai đứa ở chơi vài ngày, có điều…” Nói rồi nàng ta lắc đầu. A Bích nói: “Bộ ta không muốn ở lại đây chơi với ngươi ít lâu hay sao? U Thảo nè, chừng nào ngươi sang chơi bên ta, ta sẽ tiếp chuyện ngươi ba ngày ba đêm, chịu không?”. Hai cô gái vừa nói vừa nhảy lên bờ, A Bích ghé tai U Thảo nói mấy câu, U Thảo cười rộ lên, liếc nhìn Đoàn Dự, A Bích mặt bỗng đỏ bừng. U Thảo một tay nắm A Châu, một tay nắm A Bích nói: “Thôi mình vào nhà chứ?” A Bích quay lại nói: “Đoàn công tử, xin công tử ở nơi đây chờ một lát, bọn muội vào rồi ra ngay.” Đoàn Dự đáp: “Được rồi!” Chàng nhìn theo ba cô a hoàn dắt tay nhau cười cười nói nói đi vào rừng hoa.

    Đoàn Dự lên bờ, nhìn quanh quất không thấy ai liền đi ra sau một cây to tiểu tiện. Chàng xuống thuyền ngồi một hồi, không biết làm gì lại đứng lên nghĩ thầm: “Mình thử xem nơi đây hoa Mạn Đà La có giống nào hiếm lạ không.” Thuận chân vừa đi vừa xem hoa, chàng thấy ngoài sơn trà ra không còn một giống gì khác, ngay cả những loại hoa dại thông thường như Khiến Ngưu, Nguyệt Nguyệt Hồng, Tường Vi cũng không thấy. Sơn trà thì nhiều thật nhưng toàn những thứ bình thường, không có giống nào quý cả. Chàng đi được độ mươi trượng mới thấy nhiều loại khá hơn, thỉnh thoảng cũng có một vài bụi xem ra không phải thứ xoàng, có điều vun trồng không đúng cách nên nghĩ bụng: “Trang viện này không đáng gọi là Mạn Đà Sơn Trang, bao nhiêu giống quý bị trồng hỏng kiểu cả.”

    Đến đây chàng chợt nghĩ: “Thôi mình quay lại đi thôi, kẻo A Châu và A Bích trở ra không thấy lại nóng ruột.” Đoàn Dự trở gót đi được mấy bước, bỗng kêu lên: “Thôi hỏng rồi”. Thì ra chàng tản bộ trong rừng, chỉ mải xem hoa trà mà quên để ý đường đi nước bước, bây giờ mới giật mình thấy đông một nẻo, tây một lối không biết đâu là đường về, quay trở lại chỗ buộc thuyền không phải dễ, đành nghĩ thầm: “Thôi mình cứ lần ra bờ hồ sẽ hay, bất luận là chỗ nào.”

    Thế nhưng chàng càng đi càng lạc lối, chung quanh toàn những cảnh chưa từng qua, trong bụng hoảng thầm. Bất thình lình Đoàn Dự nghe thấy văng vẳng tiếng người nói chuyện, đúng là giọng A Châu. Chàng mừng quá nghĩ thầm: “Thôi mình ở đây chờ nàng ta, đợi nói chuyện xong rồi cùng về một lượt.”

    Giọng A Châu nói: “Công tử vẫn mạnh khỏe, ăn uống cũng bình thường. Hai tháng nay công tử luyện môn Đả Cẩu Bổng, chắc là định tỷ thí với các nhân vật Cái Bang.” Đoàn Dự nghĩ thầm: “A Châu đang nói về Mộ Dung công tử. Mình chẳng nên nghe lỏm chuyện của người khác, nên đi xa xa một chút là hơn. Thế nhưng cũng chẳng nên đi xa quá, nếu không họ nói chuyện xong mình cũng không biết được”. Giữa lúc đó bỗng nghe tiếng một cô gái thở dài.

    Tiếng thở dài này lọt vào tai Đoàn Dự làm cho chàng bất giác toàn thân run bần bật, trái tim nhảy loạn lên, hai má nóng bừng bừng. Chàng tự hỏi thầm: “Sao trên đời này lại có người mới thở dài đã nghe êm tai đến thế?”. Rồi một giọng u buồn cất tiếng hỏi: “Chuyến này chàng đi đâu?” Đoàn Dự mới nghe tiếng thở dài đã thấy choáng váng, giờ lại nghe nàng ta nói một câu, toàn thân chàng máu như sôi lên sùng sục. Trong lòng vừa cay đắng vừa đau khổ, phần vì ngưỡng mộ, phần vì ghen tuông nói sao cho hết. Chàng lẩm bẩm: “Rõ ràng nàng hỏi chuyện Mộ Dung công tử. Nàng đối với gã thân thiết là thế, nhớ mong là thế, Mộ Dung công tử ơi, nhà ngươi sao mà may mắn đến vậy?

    Lại nghe A Châu đáp: “Lúc công tử ra đi có nói là đến Lạc Dương, có cả Đặng đại ca đi theo. Xin cô nướng cứ yên lòng.”

    Người con gái kia chậm rãi nói: “Hai đại thần kỹ Đả Cẩu Bổng Pháp và Hàng Long Thập Bát Chưởng của Cái Bang là bí mật của họ không truyền ra ngoài. Tàng phổ của bổng pháp và chưởng pháp ghi trong Hoàn Thi Thủy Các bên đó và Lang Hoàn Ngọc Động ở đây đều khiếm khuyết không đầy đủ. Phương pháp vận công hoàn toàn không có, công tử nhà mi làm sao mà luyện được?” A Châu đáp: “Công tử bảo rằng: Tâm pháp của Đả Cẩu Bổng Pháp cũng do con người sáng tạo nên, tại sao ta lại không nghĩ ra được? Có được bổng pháp rồi, mình suy nghĩ để thêm tâm pháp vào hẳn là không khó.”.

    Đoàn Dự nghĩ thầm: “Lời của Mộ Dung Công tử quả là hữu lý, xem ra y không những thông minh mà còn đầy chí khí.” Thế nhưng lại nghe người con gái kia thở dài một tiếng rồi nói: “Dẫu có sáng tác được đi chăng nữa, cũng phải mười năm tám năm, chứ ngày một ngày hai làm sao xong được? Các ngươi có xem công tử luyện bổng pháp không? Có thấy chỗ nào khó khăn trì trệ không?” A Châu đáp: “Bổng pháp này công tử đã luyện thành thục lắm rồi, từ đầu chí cuối tựa hồ nước chảy mây trôi…” Cô gái kia thất thanh kêu lên một tiếng nói: “Thế là hỏng rồi! Có thực…chàng sử bổng mau lẹ lắm không?” A Châu đáp: “Vâng! Có gì chưa được hay sao?” Người con gái kia nói: “Dĩ nhiên là sai rồi. Tuy ta không biết tâm pháp của Đả Cẩu Bổng Pháp nhưng từ bổng pháp mà suy, có một số đường phải càng chậm càng hay, có đường thì phải lúc nhanh lúc chậm, trong chậm có nhanh, trong nhanh có chậm, không còn nghi ngờ gì nữa. Chàng… chàng chỉ cố cho nhanh, đến khi động thủ với người của Cái Bang, e rằng… e rằng.., các ngươi… có cách gì đưa tin được đến chỗ công tử không?”

    A Châu “Ồ” lên một tiếng nói: “Bọn tiểu tỳ không biết công tử lúc này đang ở đâu, cũng không biết đã gặp các trưởng lão của Cái Bang chưa. Khi ra đi công tử có nói là Cái Bang nghi oan cho chúng ta giết Mã phó bang chủ của họ, công tử đến Lạc Dương sẽ phân trần một phen, chưa chắc đã phải động thủ. Nếu không thì công tử với Đặng đại ca hai người làm sao địch được số đông? Chỉ ngại hai bên ngôn ngữ bất đồng… nói năng chưa kịp rõ ràng…”

    A Bích hỏi lại: “Cô nương, môn Đả Cẩu Bổng Pháp nếu đánh nhanh thì thực là không ổn hay sao?” Thiếu nữ đáp: “Dĩ nhiên là không ổn, còn thực giả gì nữa? Sao lúc chàng… chàng ra đi, không đến đây gặp ta?” Nàng ta vừa nói vừa dậm chân nhè nhẹ, tỏ ra bực bội, lại có vẻ lo lắng, tiếng dậm chân quả là dịu dàng dễ nghe.

    Đoàn Dự rất lấy làm kỳ, nghĩ thầm: “Ta ở Đại Lý nghe người ta nói đến Cô Tô Mộ Dung là vừa sợ hãi vừa kính trọng. Thế nhưng nghe cô nương này nói, dường như võ nghệ của Mộ Dung công tử còn phải nhờ nàng chỉ điểm. Không lẽ một cô thiếu nữ nhỏ tuổi như vậy lại có bản lãnh ghê gớm đến thế ư?” Chàng còn đang nghĩ ngợi xuất thần, đầu đụng ngay vào một cành cây đưa ngang, buột miệng kêu lên một tiếng, vội đưa tay lên bịt miệng thì đã không kịp nữa rồi.

    Cô gái kia hỏi: “Ai đó?” Đoàn Dự biết không còn trốn tránh được nữa, liền tằng hắng một tiếng, từ sau bụi cây nói: “Tại hạ Đoàn Dự, mải mê thưởng ngoạn kỳ hoa dị thảo trong quí trang vô tình lỡ bước tới đây, xin được thứ tội.” Cô gái kia hỏi nhỏ: “A Châu! Phải chăng đây là vị tướng công cùng tới đây với các ngươi?” A Châu vội đáp: “Thưa phải! Xin cô nương đừng để tâm, chúng tôi đi ngay bây giờ.” Thiếu nữ kia đáp: “Hãy khoan! Ta muốn viết một phong thư cho chàng, dặn là nếu như bất đắc dĩ phải động thủ với người của Cái Bang thì nhất quyết chớ có dùng Đả Cẩu Bổng Pháp, chỉ nên dùng võ công của mình thôi. Không thể nào gậy ông đập lưng ông được đâu! Các ngươi liệu cách mà đưa đến cho công tử.” A Châu tỏ vẻ ngần ngại đáp: “Cái đó… thái thái từng dặn là…” Thiếu nữ hỏi: “Sao? Bọn mi chỉ nghe lời phu nhân, không nghe lời ta chăng?” Trong giọng nàng dường như có vẻ hơi giận. A Châu vội đáp: “Chỉ cần cô nương không để cho thái thái hay, tì tử dĩ nhiên là tuân lệnh, huống chi đây là vì công tử.” Cô gái nói: “Hai đứa theo ta đến thư phòng để lấy thư.” A Châu dường như hơi miễn cưỡng, một hồi sau mới đáp: “Vâng!”

    Đoàn Dự từ khi nghe cô gái thở dài, về sau càng nghe nàng nói càng thấy mê man. Giờ thấy nàng toan trở gót về phòng, chàng nghĩ bụng: “Nàng đi rồi, e rằng không còn dịp nào được gặp mặt nữa thì thật là thắc mắc suốt đời. Ta đành mạo phạm nhìn cho thấy mặt rồi bị trách mắng gì cũng chịu”. Chàng thu hết cản đảm nói: “A Bích tỉ tỉ, cô ở lại đây với tôi được không?” Chàng vừa gọi vừa bước tới. Thiếu nữ nghe thấy chàng đi tới vội la lên một tiếng “Ô hay” rồi quay đi.

    Đoàn Dự ở trong bụi cây bước ra, chỉ thấy một nữ lang mặc áo tơ màu cánh sen đang nhìn lên những bông hoa, thân hình mảnh dẻ, tóc dài buông xõa xuống lưng, chỉ buộc hở bằng một dải lụa màu bạc, Đoàn Dự mới trông thấy bóng dáng sau lưng nàng, bên mình như có khói mây vương tỏa, cốt cách ra vẻ thần tiên, dường như không phải người trần tục. Chàng liền vái dài nói: “Tại hạ Đoàn Dự xin bái kiến cô nương.”

    Cô gái dậm chân nhè nhẹ, phụng phịu nói: “A Châu, A Bích! Các ngươi thật là rắc rối! Ta có gặp mặt nam giới bên ngoài bao giờ đâu?” Nói rồi, nàng đi thẳng về phía trước, qua mấy khúc quanh đã khuất vào trong bụi hoa mất rồi.

    A Bích nhìn Đoàn Dự mỉm cười nói: “Đoàn công tử, vị cô nương đây rất khó tính khó nết. Thôi mình mau mau đi ra.” A Châu cũng mỉm cười nói: “May nhờ có Đoàn công tử đến giải vây, không thì thế nào cũng bị Vương cô nương bắt đưa thư rất là phiền phức. Hai cái mạng nhỏ xíu của chị em chúng tôi e rằng nguy mất.”

    Đoàn Dự lật đật chạy ra bị nữ lang nói mấy câu làm cụt hứng, tưởng còn bị A Châu, A Bích oán ghét nữa là khác, nào ngờ lại được cảm ơn thật là ngoài dự tính. Chàng nhìn người con gái tuy đã đi xa nhưng hình bóng vẫn còn vấn vương trước mắt, cảm thấy bâng khuâng, lại ngẩn ngơ nhìn theo bóng nàng lẫn sau những lùm hoa.

    A Bích giật nhẹ tay áo chàng, Đoàn Dự cũng không hay biết. A Châu cười nói: “Đoàn công tử, thôi mình đi.” Đoàn Dự chân như đóng đinh xuống đất, phải mất một chốc mới như choàng tỉnh hỏi lại: “Mình phải đi ngay hay sao?” Chàng thấy A Châu, A Bích đã cất bước đi trước nên đành lẽo đẽo theo sau, đi một bước lại ngoái đầu, quyến luyến mãi không thôi.

    Ba người về đến thuyền, A Châu và A Bích liền cầm mái giầm chèo ngay. Đoàn Dự vẫn ngẩn ngơ nhìn những đóa hoa trà trên bờ, nghĩ bụng: “Đoàn Dự ta nếu như vô phúc, sao lại được nghe cô nương đó thở dài một tiếng thỏ thẻ mấy câu, rồi lại được thấy phong thái thần tiên kia? Mà nếu như có phúc, sao đến mặt nàng cũng chưa được ngó qua?” Chàng thấy những bụi hoa trà xa dần, trong lòng dâng lên một nỗi u hoài man mác. Bỗng ngay lúc đó, A Châu kêu lên một tiếng kinh hoàng, lắp bắp: “Thái thái… thái thái về kìa.”

    Đoàn Dự quay đầu nhìn thấy trên mặt hồ một chiếc thuyền đang lướt tới như bay, trong chớp mắt đã đến gần. Trên đầu thuyền vẽ đầy các loại hoa sặc sỡ, đến gần mới thấy toàn là hoa trà. A Châu, A Bích vội đứng dậy khép nép cúi đầu, vẻ mặt cực kỳ nghiêm cẩn. A Bích luôn tay ra hiệu cho Đoàn Dự, bảo chàng cũng đứng lên. Đoàn Dự mỉm cười lắc đầu nói: “Bao giờ phu nhân bước ra đầu thuyền lên tiếng, ta sẽ đứng lên để tỏ lòng kính cẩn. Nam tử hán đại trượng phu không thể quá khúm núm hạ mình như thế.”

    Bỗng từ trong khoái thuyền có tiếng đàn bà quát vọng ra: “Tên đàn ông nào dám to gan bén mảng đến Mạn Đà Sơn Trang đó? Mi không biết bất luận gã đàn ông nào đã vào đây đều bị chặt chân hay sao?” Giọng nói trong trẻo dễ nghe nhưng cực kỳ oai nghiêm. Đoàn Dự đáp: “Tại hạ Đoàn Dự trên đường lánh nạn đi ngang qua quí trang, thực không có ý đường đột chút nào, xin nghiêng mình tạ lỗi.” Người đàn bà kia hỏi: “Ngươi họ Đoàn ư?” Trong âm thanh có chiều ngạc nhiên, Đoàn Dự đáp: “Chính thế.”

    Người kia lại nói tiếp: “A Châu, A Bích hai con nhãi kia đi quàng đi xiên phải chăng? Thằng lỏi Mộ Dung Phục điều hay không học, chỉ chuyên giở chuyện tầm phào.” A Châu đáp: “Khải bẩm thái thái, tiểu tì bị địch nhân đuổi gắt quá nên phải chạy tới Mạn Đà Sơn Trang. Công tử tiểu tì ra đi rồi. Việc tiểu tì đến đây, công tử quả không biết tí gì.” Người đàn bà trên thuyền cười khẩy: “Hứ, các ngươi chỉ được dẻo mồm cãi lý là hay. Không được đi đâu hết, mau theo ta.” A Châu, A Bích cùng đáp: “Dạ.” Hai nàng liền chèo chiếc thuyền con đi theo đằng sau, lúc này cách Mạn Đà Sơn Trang không xa mấy nên chỉ chốc lát đã nhìn thấy bờ.

    Tiếng ngọc đeo loảng xoảng vang lên, trong thuyền thị nữ áo xanh xếp hàng đôi cầm trường kiếm đi ra, lưỡi kiếm sáng loáng, ánh kiếm lập lòe tựa hoa bay. Mười tám người xếp thành hai hàng, kiếm giữ ngang hông, lưỡi chĩa lên trời. Sau khi họ đã an vị, từ trong khoang lại bước ra một vị nữ lang. Đoàn Dự vừa nhìn thấy tướng mạo nữ lang, nhịn không nổi kêu lên một tiếng thất thanh, mồm há hốc tưởng như đang nằm mộng. Thì ra người đàn bà đó mặc áo dài màu vàng nhạt, từ y phục cho đến đồ trang sức hệt như pho ngọc tượng trong thạch động bên nước Đại Lý. Có điều nữ lang này tuy xinh đẹp nhưng đã đứng tuổi, trạc độ tứ tuần, còn pho tượng kia là một thiếu nữ chừng mười tám mười chín tuổi. Đoàn Dự sau cơn kinh hoàng nhìn kỹ lại tướng mạo mỹ phụ kia mới nhận ra là so với pho tượng ngọc thì mắt mũi miệng đều không bằng mà cũng nhiều tuổi hơn nên vẻ mặt dầy dạn phong trần, nhưng cũng giống đến năm sau phần mười, A Châu, A Bích thấy Đoàn Dự cứ giương mắt nhìn phu nhân trừng trừng có vẻ cực kỳ vô lễ, trong bụng kêu khổ liên hồi, liên tiếp ra hiệu bảo chàng quay đi nơi khác nhưng đôi mắt Đoàn Dự vẫn dán chặt vào mặt bà ta. Vương phu nhân liếc mắt nhìn Đoàn Dự nói: “Gã này vô lễ. Trước hết chặt chân gã rồi mới móc mắt và cắt lưỡi.” Một ả thị nữ khom lưng đáp: “Xin vâng!” .

    Đoàn Dự thót cả ruột, nghĩ thầm: “Giá như họ giết mình đi còn hơn. Đằng này họ chặt chân, móc mắt, cắt lưỡi, sống không sống được, chết chẳng chết cho, tội gì đâu mà to thế?” Đến bây giờ chàng mới thấy trong lòng sợ hãi, quay đầu lại nhìn A Châu, A Bích thì thấy hai cô mặt xám như gà cắt tiết, người đứng đờ ra như tượng gỗ.

    Vương phu nhân lên bờ rồi, trên thuyền lại đi ra thêm hai tên thị nữ áo xanh nữa, kéo theo sau hai người đàn ông mặt mày ủ rũ tay bị xích sắt khóa chặt. Một người mi thanh mục tú, trông ra dáng con nhà giàu có, còn một người Đoàn Dự nhận ra được là một đệ tử phái Vô Lượng tên là Đường Quang Hùng. Đoàn Dự lạ quá: “Tên này ở tận Đại Lý sao lại bị Vương phu nhân bắt đem tới Giang Nam làm gì?”

    Bỗng nghe Vương phu nhân quay sang hỏi Đường Quang Hùng: “Rõ ràng mi là người nước Đại Lý, sao không chịu nhận đi?” Đường Quang Hùng đáp: “Tại hạ ở Vân Nam, quê quán không thuộc về nước Đại Lý.” Vương phu nhân lại hỏi: “Thế quê mi cách Đại Lý bao xa?” Đường Quang Hùng đáp: “Hơn bốn trăm dặm.” Vương phu nhân nói: “Chưa tới năm trăm dặm thì cũng coi như người Đại Lý rồi. Đem y chôn sống dưới gốc Mạn Đà La để bón cho cây.” Đường Quang Hùng hoảng hốt kêu lên: “Nhưng tại hạ phạm tội gì mới được chứ? Nếu không rõ thì chết cũng không nhắm mắt.” Vương phu nhân cười khẩy: “Cứ là người Đại Lý hoặc người họ Đoàn mà gặp ta là bị chôn sống, chỉ có thế thôi. Mi đến Tô Châu làm chi? Đã dám đến Tô Châu lại dám mở mồm nói giọng Đại Lý, ba la bộ lô nơi quán rượu là sao? Tuy mi không phải ở Đại Lý, nhưng là người lân cận nước Đại Lý thì cũng thi hành một luật.”

    Đoàn Dự nghĩ thầm: “Ối trời, phải chăng mụ ta tính nói xỏ mình? Ta chẳng cần chờ mụ hỏi, cứ nhận trước đi cho rồi.” Chàng bèn lớn tiếng nói: “Ta là người nước Đại Lý, lại chính trong họ Đoàn. Ngươi muốn chôn sống ta thì hạ thủ ngay đi!” Vương phu nhân lạnh lùng đáp: “Ngươi đã báo danh rồi. Tên là Đoàn Dự chứ gì? Được lắm! Người họ Đoàn nước Đại Lý đâu có được chết dễ dàng như thế?”

    Phu nhân vẫy tay một cái, tên thị nữ lôi ngay Đường Quang Hùng đi. Không biết y bị điểm huyệt hay bị trọng thương mà không thấy kháng cự chút nào, chỉ kêu ầm lên: “Thế gian sao lại có cái luật lệ kỳ dị như vậy? Mấy trăm vạn người nước Đại Lý liệu mụ có giết hết được không?” Thế nhưng y bị kéo vào trong rừng hoa mỗi lúc một xa, tiếng kêu cũng nhỏ dần.

    Vương phu nhân nghiêng đầu đi một chút nhìn chàng thanh niên này thanh mắt sáng hỏi: “Mi có điều chi muốn nói nữa chăng?” Chàng thanh niên vội quỳ rạp xuống đất, dập đầu lạy luôn mấy cái nói: “Gia phụ làm quan tại triều, dưới gối chỉ có mình tiểu nhân là con. Xin phu nhân tha mạng cho. Dù phu nhân muốn điều chi, gia phụ cũng nhất định vâng theo.” Vương phu nhân lạnh lùng đáp: “Cha mi làm quan lớn trong triều, lẽ nào ta không biết? Ngươi muốn sống cũng chẳng khó gì, hôm nay về nhà giết vợ đi, rồi sáng mai làm cho đủ lễ nghi mà cưới Miêu thị, kẻ tư tình với mi. Mi có bằng lòng không?” Chàng thanh niên ấp úng: “Về việc đang tay… giết vợ, tiểu nhân không dám làm. Còn việc mối lái cưới xin đàng hoàng để lấy Miêu thị thì song thân tiểu nhân nhất định không chịu. Không phải là tiểu nhân…”. Y chưa dứt lời phu nhân đã ra lệnh: “Đem chôn sống đi!” Tên thị nữ đang dắt y chỉ “vâng” một tiếng rồi lôi xệch đi. Chàng thanh niên sợ run bắn người, vội nói: “Tiểu nhân xin… xin tuân mệnh.” Vương phủ nhận nói: “Tiểu Thúy! Mi áp giải gã về thành Cô Tô, phải chính mắt nhìn thấy gã ra tay giết vợ, cùng Miêu cô nương thành thân rồi hãy về đây phục mệnh.” Tiểu Thúy đáp lời: “Dạ!” Ả lôi gã công tử kia lên bờ đi về phía bến đò, xuống một con thuyền nhỏ.

    Gã kia miệng vẫn năn nỉ: “Xin phu nhân mở lượng từ bi, vợ chồng tiểu nhân không thù không oán, phu nhân lại không quen biết Miêu cô nương. Tiểu nhân cũng chưa từng quen biết phu nhân, hà tất phu nhân bắt tiểu nhân giết vợ để lấy người khác làm chi? Từ nay tiểu nhân quyết không dám làm điều gì đắc tội nữa.” Vương phu nhân nói: “Mi đã có vợ rồi, sao còn đi dùng lời ngon ngọt để tán tỉnh các cô gái khác? Ta không biết thì thôi, một khi đã biết ra đều xử theo đường lối này. Vả lại mi có phải mới phạm lần đầu đâu, còn oán trách nỗi gì? Tiểu Thúy, vụ này là vụ thứ mấy rồi?” Tiểu Thúy đáp: “Những chỗ tiểu tì nghe Thường Thục, Đan Dương, Vô Tích, Gia Hưng cả thảy bảy vụ. Còn những vụ ở chỗ khác thì phu nhân hỏi Tiểu Lan, Tiểu Thi sẽ rõ.” Gã công tử kia nghe cô ta liệt kê ra như thế, bủn rủn cả người, luôn miệng kêu than, Tiểu Thúy quạt mái chèo, bơi thuyền đi luôn.

    Đoàn Dự thấy Vương phu nhân hành động cực kỳ ngang ngược, không đếm xỉa đến lý lẽ thì miệng há hốc ra đứng chết trân, trong bụng chỉ nghĩ được bốn chữ: “Lý nào lại thế?”, tự nhiên buột miệng: “Lý nào lại thế? Lý nào lại thế?” Vương phu nhân hừ một tiếng rồi nói: “Trên đời chẳng có việc chi ta phải đợi có lý mới làm.”

    Đoàn Dự vừa thất vọng lại vừa khó chịu. Chàng nhớ lại bữa trước vào thạch động núi Vô Lượng, được thấy pho tượng thần tiên liền xiết bao ngưỡng mộ. Bây giờ con người trước mắt tuy hình dáng tương tự nhưng lời ăn tiếng nói, cử chỉ hành vi lại chẳng khác gì yêu ma quỉ quái.

    Chàng còn đang cúi đầu ngơ ngẩn thì thấy bốn đứa nữ tì quay vào khoang thuyền bưng ra bốn chậu hoa. Chàng vừa trông thấy, tự nhiên tinh thần lại thấy phấn khởi. Nguyên bốn chậu hoa này đều là những giống sơn trà rất hiếm. Trong thiên hạ nói về sơn trà thì Đại Lý đứng đầu, mà phủ Trấn Nam vương thì phải nói là số một trong nước Đại Lý. Đoàn Dự từ bé đã quen ngắm hoa trà, mỗi khi nhàn rỗi vẫn thường ngồi cùng bọn trồng hoa bàn bạc phê bình, nên dở hay xấu tốt chàng thuộc nằm lòng chẳng cần học cũng biết, chẳng khác nào con nhà nông phân biệt lúa má hay con cháu ngư ông sành sỏi các loại cá tôm. Chàng đi lang thang từ sáng chưa thấy gốc hoa nào được gọi là giai phẩm, không khỏi thấy bốn chữ Mạn Đà Sơn Trang danh cao hơn thực, bây giờ nhìn thấy bốn chậu hoa này liền tấm tắc: “Quả nhiên cũng có được ít nhiều”.

    Bỗng nghe Vương phu nhân gọi: “Tiểu Trà! Bốn chậu Mãn Nguyệt này khó kiếm lắm đấy! Mi phải trông nom chăm chút nghe!” Ả thị nữ tên gọi Tiểu Trà đáp: “Vâng!” Đoàn Dự nghe bà ta nói sai bét liền bật ra một tiếng cười khẩy. Vương phu nhân lại tiếp: “Đi trên mặt hồ gió to, bốn chậu trà để luôn trong thuyền mấy ngày, thiếu ánh mặt trời chiếu vào, mi phải đem ra phơi nắng rồi bón thêm phân cho nó.” Tiểu Trà lại “vâng” một tiếng. Đoàn Dự không còn nhịn thêm được nữa, lớn tiếng cười ha hả.

    Vương phu nhân nghe tiếng cười có vẻ khác lạ, bèn hỏi: “Mi cười gì?” Đoàn Dự đáp: “Ta buồn cười cho bà đã chẳng biết tí gì về sơn trà mà lại học đòi trồng trà. Những loại giai phẩm như thế này vào tay bà thật có khác gì hồng cho chuột vọc, ngọc để ngâu vầy, đem đàn chụm lửa, bắt hạc nấu canh, thật là uổng phí. Tiếc thay, tiếc thay! Đau lòng, đau lòng!”

    Vương phu nhân nổi giận nói: “Mi bảo ta không hiểu sơn trà, dễ thường cái ngữ mi hiểu được chăng?” Đột nhiên bà ta chợt nghĩ “Ừ, gã này là con cháu họ Đoàn nước Đại Lý, không chừng gã hiểu sơn trà cũng nên.” Nghĩ vậy thì nghĩ nhưng phu nhân vẫn khinh khỉnh nói: “Bản trang đặt tên là Mạn Đà Sơn Trang, trong nhà ngoài ngõ chỗ nào cũng toàn là hoa Mạn Đà La mọc tốt như rừng, sao lại bảo là ta không biết trồng sơn trà?” Đoàn Dự mỉm cười: “Cái thứ hoa hạng bét kia vứt đâu mà chẳng mọc, chẳng khác con gái nhà quê vai u thịt bắp chỉ ăn khoai cũng béo tốt. Còn bốn chậu trà này là bậc quốc sắc thiên hương, nếu bà trồng được nó tươi tốt thì ta quyết không phải người họ Đoàn.”

    Vương phu nhân rất thích hoa trà, không kể tốn phí đi các nơi lùng tìm giai phẩm, thế nhưng cứ đem về Mạn Đà Sơn Trang thì các thứ trà hiếm có chỉ được một năm hay dăm bảy tháng rồi sinh bệnh mà chết, bà ta thường cũng vì thế mà buồn phiền. Giờ thấy Đoàn Dự nói vậy, phu nhân không giận mà lại mừng thầm, tiến lại hai bước hỏi: “Bốn chậu trà này có gì đặc biệt? Muốn trồng cho đúng cách phải làm thế nào?” Đoàn Dự nói: “Nếu bà muốn học hỏi thì phải có cái lễ phép của người muốn học. Còn bà muốn làm oai làm phước thì chặt chân cắt lưỡi ta trước rồi mới hỏi cũng chưa muộn mà.”

    Vương phu nhân tức mình nói: “Mi muốn chặt chân phỏng có khó gì? Tiểu Thi đâu! Mi chặt chân trái gã trước!” Ả nữ tỳ tên gọi Tiểu Thi “vâng” một tiếng rồi xách kiếm bước ra. A Bích vội la lên: “Thưa phu nhân! Không nên chặt chân Đoàn công tử vội. Công tử là người rất quật cường, thà chết chứ không chịu nói đâu.” Thực ra Vương phu nhân cũng chỉ hăm dọa chàng mà thôi, liền giơ tay trái lên, Tiểu Thi dừng bước. Đoàn Dự cười nói: “Sao bà không chặt hai chân ta để bón bốn khóm bạch trà này cho tốt? Bốn cây trà quý này không chừng sẽ ra hoa lớn bằng miệng tô. Ha ha, hay thật!”

    Vương phu nhân vốn cũng có ý đó, nay nghe chàng nói có vẻ như mỉa mai, không biết nói sao, ngẫm nghĩ hồi lâu rồi bảo: “Mi chỉ toàn ba hoa. Ta hỏi mi: bốn chậu bạch trà của ta quý thì quý ở chỗ nào, nói cho ta nghe thử? Nếu mi nói nghe được, ta sẽ theo lễ đối đãi cũng chưa muộn.” Đoàn Dự đáp: “Vương phu nhân, bà bảo bốn chậu hoa trà này tên là Mãn Nguyệt, sai bét. Đến như tên hoa bà còn chưa rành, làm sao dám gọi là kẻ biết chơi hoa? Trong số này một chậu tên là Hồng Trang Tố Lý, một chậu tên là Trảo Phá Mỹ Nhân Kiểm (vuốt cào mặt mỹ nhân).” Vương phu nhân lạ lùng: “Trảo Phá Mỹ Nhân Kiểm? Tên hoa gì mà kỳ thế? Đó là cây nào?” Đoàn Dự nói: “Bà muốn thỉnh giáo tại hạ thì phải nói cho lễ phép.”

    Vương phu nhân bị chàng ép cho không biết phải làm sao, nhưng nghe nói bốn chậu trà này có những cái tên đặc biệt, trong lòng hớn hở liền mỉm cười nói: “Hay lắm! Tiểu Thi đâu! Mi bảo nhà bếp thiết yến tại Vân Cẩm Lâu để ta khoản đãi Đoàn công tử.” Tiểu Thi vâng dạ đi ngay.

    A Châu, A Bích nhìn nhau, hai nàng thấy Đoàn Dự chẳng những không chết lại còn được Vương phu nhân tiếp đãi vào hạng thượng tân, thật hoan hỉ không để đâu cho hết.

    Đứa tì nữ áp giải Đường Quang Hùng bây giờ đã quay lại bẩm bảo: “Gã họ Đường người Đại Lý kia đã đem chôn dưới gốc hoa màu đỏ nơi Hồng Hà Lâu rồi.” Đoàn Dự trong bụng xót xa. Vương phu nhân dường như không mảy may động tâm, quay lại nói: “Xin mời Đoàn công tử.” Đoàn Dự đáp: “Vãn sinh mạo muội, xin hiền chủ nhân thứ lỗi.” Vương phu nhân đáp: “Đại hiền giá lâm, Mạn Đà Sơn Trang đến cỏ cây cũng thêm phần rạng rỡ.” Hai người vừa đối đáp những câu khách sáo vừa đi rất ung dung, khác hẳn lúc nãy sinh mệnh Đoàn công tử dường như ngàn cân treo đầu sợi tóc.

    Vương phu nhân đưa Đoàn Dự qua một chiếc cầu đá, theo một con đường mòn đến trước một tòa tiểu lâu. Đoàn Dự nhìn thấy dưới mái hiên có một tấm biển viết ba chữ Vân Cẩm Lâu màu xanh theo lối chữ triện, dưới lầu trước sau trái phải chỗ nào cũng trồng toàn hoa trà. Có điều những giống trà ở đây mà ở Đại Lý chỉ đáng đứng vào hàng thứ ba, thứ tư trở xuống. Đình tạ, lầu các cực kỳ lịch sự mà cỏ hoa lại tầm thường nên mất cả vẻ tương xứng.

    Vương phu nhân lộ vẻ đắc ý nói:”Đoàn công tử! Bên quý quốc nhiều trà thật nhưng có lẽ không bì kịp đây.” Đoàn Dự gật đầu đáp: “Vâng! bên Đại Lý quả không trông những thứ trà này.” Vương phu nhân lại càng tự đắc hỏi: “Thật ư?” Đoàn Dự nói: “Bên nước tôi từ kẻ dân dã, ngu phu tục tử cũng biết các loại hoa này phẩm chất kém cỏi, trồng chẳng cao sang gì.” Gương mặt Vương phu nhân tức thời biến sắc, hỏi: “Công tử nói sao? Hoa trà của ta đây là những thứ không ra gì? Thế thì công tử khinh người quá!” Đoàn Dự nói: “Phu nhân không tin tôi thì đó là quyền của phu nhân.” Chàng vừa nói vừa chỉ một khóm hoa trà có vân ngũ sắc trước lầu, nói tiếp: “Tỷ như khóm trà này phu nhân cho là quý lắm ư? Đẹp thật, cái lan can bên cạnh đẹp thật!” Chàng tấm tắc khen cái lan can đẹp mà hoa thì không đếm xỉa gì đến, chẳng khác nào người xem chữ viết, không nhắc đến chữ mà chỉ khen lấy khen để mực đen giấy tốt.

    Khóm hoa trà này có bông hồng, bông trắng, bông tía, bông vàng quả là rực rỡ, từ trước tới nay Vương phu nhân vẫn coi là trân phẩm. Nay nghe Đoàn Dự có ý mỉa mai, lông mày bà nhướng lên, mắt lộ sát ý. Đoàn Dự nói: “Xin hỏi phu nhân, giống hoa này ở Giang Nam gọi tên là gì?” Vương phu nhân hậm hực đáp: “Ở đây không có tên gì đặc biệt, chỉ gọi là Ngũ Sắc Trà Hoa.” Đoàn Dự mỉm cười: “Bên Đại Lý chúng tôi gọi nó là Lạc Đệ Tú Tài.” Vương phu nhân bĩu môi nói: “Tên gì mà khó nghe thế, chắc ngươi tiện mồm đặt ra chứ gì. Khóm hoa này đủ màu mỹ lệ đường hoàng, sao lại giống gã thư sinh thi hỏng?” Đoàn Dự nói: “Phu nhân thử đếm coi! Khóm trà đó có cả thảy mấy màu?” Vương phu nhân đáp: “Ta đã đếm qua, cũng phải có đến mười lăm, mười sáu màu khác nhau.” Đoàn Dự nói: “Cả thảy là mười bảy màu. Bên Đại Lý tôi có thứ trà kêu bằng Thập Bát Học Sĩ. Đó là thứ quý nhất thiên hạ. Cả khóm có mười tám đóa mà mầu sắc không đóa nào giống đóa nào: hồng thì toàn hồng, tía cũng toàn tía, chứ không hỗn tạp. Về hình dạng cũng khác nhau, mỗi đóa có một vẻ đẹp riêng. Cả mười tám đóa nở cùng một lúc, tàn tạ cũng trong một giờ. Phu nhân đã được xem chưa?” Vương phu nhân nghe qua thẫn thờ, lắc đầu đáp: “Thiên hạ có thứ trà quý thế kia ư? Ta chưa được nghe thấy bao giờ.”

    Đoàn Dự nói: “Kém Thập Bát Học Sĩ một mức là Thập Tam Thái Bảo, một cây có mười ba đóa hoa khác nhau. Rồi đến Bát Tiên Quá Hải là tám đóa khác nhau trên một cây, Thất Tiên Nữ là bảy đóa, Phong Trần Tam Hiệp là ba đóa, Nhị Kiều là một trắng một đỏ hai đóa. Nói đến hoa trà là phải thuần sắc, nếu như hoa đỏ có pha mầu trắng, hoặc hoa trắng có pha sắc tía đều là hạng kém.” Vương phu nhân bỗng nhiên đờ đẫn, mắt nhìn xa xăm lẩm bẩm một mình: “Sao y không nói cho ta biết nhỉ?”

    Đoàn Dự nói tiếp: “Trong Bát Tiên Quá Hải phải có hoa màu tía sậm và màu hồng nhạt, đó là Lý Thiết Quài và Hà Tiên Cô, nếu thiếu hai màu đỏ, dù đủ tám màu cũng không được gọi là Bát Tiên Quá Hải mà gọi là Bát Bảo Trang, tuy cũng là danh chủng nhưng dưới Bát Tiên Quá Hải một bậc.” Vương phu nhân nói: “Thế ư?” .

    Đoàn Dự lại tiếp: “Riêng về Phong Trần Tam Hiệp cũng có chính phẩm và phó phẩm. Nếu là chính phẩm, trong ba đóa thì đóa màu tía phải to nhất tượng trưng cho Cầu Nhiêm Khách, đóa màu trắng nhỏ hơn tượng trưng cho Lý Tĩnh, đóa màu hồng nhỏ nhất nhưng cũng kiều diễm nhất tượng trưng cho Hồng Phất Nữ. Nếu như đóa màu hồng lại to hơn hai đóa kia thì là phó phẩm, hai đằng một trời một vực.” Người ta thường ví quen thuộc như đồ trong nhà mình. Trong nhà Đoàn Dự có tất cả những loại này nên chàng nói vanh vách đâu ra đấy. Vương phu nhân ngồi nghe và chiều thú vị, than rằng: “Ngay phó phẩm ta cũng chưa được thấy qua chứ đừng nói đến chính phẩm.”

    Đoàn Dự lại trỏ vào cây hoa trà ngũ sắc phê bình: “Luận về tư cách loại này so với Thập Bát Học Sĩ thì còn thiếu một màu, ngoài ra màu sắc lại bác tạp không thuần, nở thì khi sớm khi muộn, hoa thì đóa nhỏ đóa to. Học đòi làm Thập Bát Học Sĩ thì không xong, chẳng khác gì Đông Thi giả nhăn mặt. Tỷ như sĩ tử văn bài kém cỏi, lẽ tất nhiên thi rớt nên mới có cái tên Lạc Đệ Tú Tài.” Vương phu nhân nghe thích quá, bật cười nói: “Kể ra đúng đấy. Nhưng cái tên sao vừa chanh chua, vừa khắc bạc, hẳn là do đám nho sinh đặt ra.”

    Đến lúc này, Vương phu nhân đã mười phần tin tưởng Đoàn Dự sành sỏi trà hoa, bèn dẫn chàng lên trên Vân Cẩm Lâu. Đoàn Dự thấy trên lầu trần thiết sang trọng đẹp đẽ, giữa là một bức trung đường vẽ cảnh khổng tước khai bình, hai bên là hai câu đối: “Lá rậm mây không sánh kịp, Hoa tươi tuyết phải ghen thầm” (Tất diệp vân sai mật, Trà hoa tuyết đố nghiên). Chẳng mấy chốc đã thấy gia phân bày tiệc rượu, Vương phu nhân mời Đoàn Dự ngồi bên trên, còn mình ngồi bên dưới để bồi tiếp.

    Những món ăn trong tiệc hôm nay thật khác xa bữa tiệc A Châu, A Bích khoản đãi. Các món ăn hai cô a hoàn mời chàng thì lấy thanh nhã là chính, trong những món thật tầm thường có ẩn những nét tinh xảo công phu. Bữa tiệc ở Vân Cẩm Lâu hôm nay thì lại chủ về sang trọng phô trương, tay gấu, vây cá đều toàn những món cực kỳ quý hiếm. Thế nhưng Đoàn Dự sinh trưởng nơi chốn đế vương, những món quí báu đến mấy chàng cũng coi là thường, nên lại thấy bữa tiệc ở Mạn Đà Sơn Trang kém xa ở Cầm Vận Tiểu Trúc.

    Rượu được ba tuần, Vương phu nhân hỏi: “Họ Đoàn Đại Lý là thế gia trong võ lâm, cớ sao công tử không tập võ?” Đoàn Dự đáp: “Người họ Đoàn ở Đại Lý đông lắm, con cháu hoàng tộc tôn thất thì đều có tập, còn như vãn sinh là dân dã tầm thường thì làm gì biết võ công.” Chàng nghĩ mình sống chết ở trong tay người thật là bệ rạc, không nên thổ lộ gia thế làm gì để khỏi làm giảm uy danh của bá phụ và gia gia. Vương phu nhân hỏi tiếp: “Công tử con nhà bách tính tầm thường hay sao?” Đoàn Dự đáp: “Vâng!” Vương phu nhân hỏi tiếp: “Thế công tử có quen biết người nào họ Đoàn trong hoàng thất hay không?” Đoàn Dự một mực chối phăng: “Tuyệt nhiên không biết.”

    Vương phu nhân ngơ ngẩn hồi lâu rồi xoay qua đề tài khác, nói: “Vừa rồi công tử phẩm bình xác đáng về các thứ hoa trà khiến cho ta như được vén đám mây mù, nhìn thấy trời cao. Bốn chậu bạch trà lần này ta kiếm được, kẻ trồng hoa trong thành Tô Châu bảo là Mãn Nguyệt, công tử lại bảo một chậu là Hồng Trang Tố Lý, còn một chậu là Trảo Phá Mỹ Nhân Kiểm. Vậy có những điểm nào phân biệt, xin công tử nói rõ cho biết?” Đoàn Dự đáp: “Chậu hoa có đóa lớn màu trắng lại lấm tấm chấm đen kia thì gọi là Mãn Nguyệt. Những vệt đen đó tượng trưng các cành quế nơi cung trăng. Cây hoa cánh trắng có hai đốm hình quả trám màu đen kia tên gọi là Nhãn Nhị Mị (đôi mắt đưa tình).” Vương phu nhân mừng quá nói: “Cái tên hay thật!”

    Đoàn Dự nói tiếp: “Chậu hoa cánh trắng mà có vân hồng gọi là Hồng Trang Tố Lý. Còn cánh trắng nhưng có quầng mầu xanh, thêm vạch mờ mờ màu đỏ thì gọi là Trảo Phá Mỹ Nhân Kiểm. Thế nhưng nếu cánh có nhiều tia đỏ thì lại không còn là Trảo Phá Mỹ Nhân Kiểm nữa mà là Ỷ Lan Kiều. Phu nhân thử nghĩ coi, đã là mỹ nhân thì phải thuần nhã ôn nhu, trên mặt thỉnh thoảng bị sướt một đường hẳn là khi chải đầu soi gương vô tình cào phải mặt. Hoặc giả không phải do mình thì do chơi đùa với con anh vũ, bị vuốt chim cào trúng, thành thử quầng mầu xanh trên cánh hoa kia chính là lông chim vương phải. Còn như khắp mặt sây sát, tỏ ra có tiền án tiền sự cùng người gây sự đánh nhau thì còn đâu là vẻ mỹ nhân?”

    Vương phu nhân từ trước đến giờ nghe chàng nói luôn luôn gật đầu, thật là vui sướng, thốt nhiên sa sẩm nét mặt quát lên: “Quân này to gan thật! Mi mạt sát ta đấy chăng?” Đoàn Dự cả kinh, vội nói: “Không dám! Tiểu sinh có mạo phạm phu nhân ở chỗ nào đâu?” Vương phu nhân hầm hầm nói: “Người nghe ai sai khiến đến đây nói hươu nói vượn để nhục mạ ta? Ai bảo mi đàn bà học võ công là mất vẻ mỹ miều? Nhuần nhã ôn nhu thì đã hơn ai?” Đoàn Dự chưng hửng, vội nói: “Vãn sinh nói đây chỉ là theo lẽ thông thường. Thiếu gì nữ nhân giỏi võ mà vẫn kiều diễm đoan trang?” Không ngờ câu nói này lại làm chối tai Vương phu nhân hơn. Bà hỏi vặn: “Ta có đoan trang hay không?” Đoàn Dự đáp: “Đoan trang hay không thì phu nhân tự biết, vãn sinh đâu dám nói càn. Đại khái những việc như bắt người ta giết vợ cả để cưới vợ bé, người đoan trang không làm.” Chàng nổi cơn bực tức nên mấy câu sau không kiêng nể gì nữa.

    Vương phu nhân vỗ tay một cái, bốn ả thị nữ vội chạy lên lầu, đứng thõng tay chờ lệnh. Vương phu nhân nói:”Giải tên này đi tưới hoa!” Bọn thị nữ khom lưng tuân lệnh. Phu nhân quay lại bảo Đoàn Dự: “Ngươi ở nước Đại Lý, lại là họ Đoàn, hai lần đáng chết. Nhưng ta hãy tạm để tội chết lại, phạt người chăm bón cho hoa trà trong trang, nhất là bốn chậu bạch trà mới lấy về lại càng phải trông nom cẩn thận. Ta bảo cho ngươi biết trước, bốn khóm đó mà người để chết một khóm sẽ bị chặt một tay, chết hai khóm sẽ bị chặt hai tay, chết hết bốn khóm thì chân tay người cụt hết.” Đoàn Dự hỏi lại: “Thế cả bốn khóm đều sống thì sao?” Vương phu nhân đáp: “Nếu bốn khóm trồng được tươi tốt cả thì ngươi phải kiếm những giai phẩm như Thập Bát Học Sĩ, Thập Tam Thái Bảo, Bát Tiên Quá Hải, Thất Tiên Nữ, Phong Trần Tam Hiệp, Nhị Kiều trồng mỗi thứ mấy cây, không xong thì ta móc mắt người ra.”

    Đoàn Dự lớn tiếng cãi: “Những danh chủng đó, ngay ở Đại Lý đã khó kiếm rồi, ở Giang Nam dễ gì mà có? Nếu mỗi loại trồng được tới vài ba cây thì còn gì là quý hiếm? Thôi bà giết quách ta đi còn hơn. Hôm nay chặt tay, ngày mai mốc mắt, ta chịu sao nổi?” Vương phu nhân quát mắng: “Tên này gớm thật, trước mặt ta mà dám buông lời càn rỡ! Chúng bay lôi cổ nó đi!”.

    Bốn ả thị nữ liền xông tới, hai ả nắm hai tay, một ả kéo đằng trước, một ả đẩy đằng sau, năm người co kéo nhau xuống lầu. Bốn đứa tớ gái đó đều biết võ công, Đoàn Dự không thể kháng cự lại được, trong bụng chỉ biết kêu thầm: “Ngược ngạo thật! Ngược ngạo thật!”

    Bốn đứa tì nữ vừa kéo vừa đẩy đưa chàng đến một vườn hoa. Một ả đưa cho chàng cái xẻng xới đất, một ả lấy cho chàng cái bình tưới rồi bảo: “Ngươi đã nghe rõ lời phu nhân dặn bảo. Thôi chịu khó ở đây trồng cây tưới hoa để bảo toàn sinh mạng. Bằng như ngang bướng cãi lại lệnh phu nhân, bọn ta lập tức đem đi chôn sống, xem ngươi làm được trò gì?” Một ả nữa nói: “Ngươi chỉ được ở đây trồng tỉa sơn trà, không được đi lung tung trong trang viên, nếu người vào chỗ cấm địa là tự tìm cái chết, chẳng ai cứu được đâu.” Bốn ả thị nữ dặn dò cẩn thận rồi mới bỏ đi. Đoàn Dự đứng thừ người ra, thật là khóc dở mếu dở.

    Tại nước Đại Lý chàng ở vào địa vị thế tử, phụ thân chàng là Trấn Nam vương, một ngày kia sẽ lên kế vị Bảo Định Đế, thì chàng nghiễm nhiên trở thành hoàng thái tử, có ngờ đâu bị bắt đem xuống Giang Nam, người định đốt định giết, kẻ đòi chặt chân móc mắt, rồi bây giờ lại bị bắt ép trồng cây tưới hoa. Tuy nhiên tính tình chàng vốn bình dị hiền hòa, lúc ở Đại Lý tại hoàng cung cũng như ở vương phủ vẫn thường hay ra xem bọn thợ trồng hoa cắt lá tỉa cành, cuốc đất bón phân, cười cười nói nói, mặc dầu trong bụng một kẻ con vua cháu chúa vẫn chỉ coi họ như kẻ ăn người ở, vị trí thấp kém.

    Cũng may trời sinh chàng sảng khoái vui vẻ, gặp phải nghịch cảnh trớ trêu, cũng chỉ âu sầu một lúc rồi lại cao hứng như thường, trong bụng nghĩ thầm: “Lúc ta vào thạch động núi Vô Lượng đã từng bái thần tiên tỉ tỉ làm thầy. Nay Vương phu nhân tướng mạo giống thần tiên tỉ tỉ, bất quá nhiều tuổi hơn mà thôi, ta coi bà ấy cũng như sư bá thì có gì mà không được? Sư trưởng đã ra mệnh lệnh, đạo làm đệ tử phải xuất lực vì thầy phỏng có chi quá đáng? Huống chi chăm bón hoa cỏ vốn là việc thanh nhã của kẻ văn nhân, so với bọn học võ múa đao động kiếm còn cao nhã hơn nhiều. Còn như so sánh với việc bị Cưu Ma Trí đem đến trước mồ Mộ Dung tiên sinh thiêu sống thì thế này sướng gấp nghìn gấp vạn. Chỉ đáng tiếc một điều là các loại hoa trà kém cỏi này mà phải đến vương tử nước Đại Lý tự tay trồng tỉa kể cũng hơi phí, không khỏi đại tài tiểu dụng, giết gà dùng dao mổ trâu. Ha ha! Ngươi là dao mổ trâu ư?”

    Chàng nghĩ tiếp: “Mình ở lại Mạn Đà Sơn Trang thêm một thời gian, biết đâu chẳng có cơ duyên gặp lại thiếu nữ mặc áo màu cánh sen kia một lần, cái đó gọi là họa trung hữu phúc.”

    Nghĩ đến họa phúc, chàng bèn nhổ một nắm cỏ trong bụng khấn thầm: “Để bói xem chừng nào ta mới gặp được vị cô nương kia”. Chàng cầm nắm cỏ tay phải trao qua tay trái, tay trái trao qua tay phải để bói, được quẻ Cấn trên Cấn dưới tức là thuần Cấn, nghĩ thầm: Cấn kỳ bối, bất hoạch kỳ thân, hành kỳ đình, bất kiến kỳ nhân, vô cữu. (Ngừng ở lưng không thấy được thân, đi ở sân không thấy có người, không lỗi). Quẻ này thật linh quá, tuy thấy lưng chưa thấy mặt nhưng cũng không sao.” Chàng lại bói thêm một quẻ nữa, được quẻ Đoài trên Khảm dưới, tức là quẻ Khốn, trong bụng kêu thầm: “Khốn vu châu mộc, nhập vu u cốc, tam tuế bất địch” (Khốn nơi cây cối, lạc vào hang tối, ba năm chẳng gặp). Ba năm mà không gặp được thì đúng là khốn khổ rồi.” Chàng chợt nghĩ lại: “Ba năm không gặp thì năm thứ tư ắt sẽ gặp. Ngày rộng tháng dài thì có gì gọi là khốn đâu?”.

    Chàng xủ quẻ thấy không được tốt nên không dám bói thêm, miệng ư ử hát, vác xẻng đi lang thang nghĩ thầm: “Vương phu nhân giao cho ta cái trọng trách phải trồng cho sống bốn chậu bạch trà này. Trà này cũng vào hạng có tên tuổi rồi đây, phải tìm cho ra chỗ nào u nhã mà trồng, không thì hỏng bét.” Chàng vừa đi vừa nhìn quanh quất chung quanh để tìm nơi thích hợp, đột nhiên cười ra tiếng, nghĩ thầm: “Vương phu nhân kể ra cũng kỳ, chẳng hiểu gì về sơn trà mà lại ưa trà hoa, chỗ nào cũng trồng trà, rồi lại đặt tên cho trang trại của mình là Mạn Đà Sơn Trang, nghe có vẻ hay ho lắm. Bà có biết đâu hoa trà ưa khí âm chứ không hợp với khí dương, trồng nơi nhiều nắng nếu không chết thì cũng chột, lại không được bón phân nhiều. Bao nhiêu thứ trà quý để phu nhân làm hỏng hết, tiếc quá, tiếc quá!”.

    Chàng tránh những lối nắng chang chang, đi sâu vào những nơi rậm rạp âm u, vòng qua một ngọn núi nhỏ bỗng nghe tiếng suối khe róc rách, bên trái là một hàng trúc xanh rì, bốn bề tịch mịch. Nơi đây là bóng núi, ánh mặt trời không rọi đến, Vương phu nhân cho rằng không thể trồng hoa được, thành thử không thấy một gốc trà nào. Đoàn Dự cả mừng lẩm bẩm: “Chỗ này trồng trà tuyệt diệu”.

    Chàng quay lại chỗ cũ khuân bốn chậu hoa trà đến rồi khoét lỗ bên cạnh khóm trúc, ghè vỡ chậu sành xong đặt cả bầu xuống. Tuy chàng chưa từng làm vườn bao giờ nhưng xem đã nhiều, cứ người ta làm sao mình làm vậy. Chưa tới nửa giờ, chàng đã trồng xong bốn cây bạch trà ngay cạnh rặng trúc, bên trái là Trảo Phá Mỹ Nhân Kiểm, bên phải là Hồng Trang Tố Lý và Mãn Nguyệt, còn Nhãn Nhi Mị thì trồng chênh chếch mé sau khối đá lớn bên bờ suối. Chàng tự nói với mình: “Thế này đúng là: Mời mọc mãi, thấy người bỡ ngỡ, Tay ôm đàn che nửa mặt hoa. (Thiên hô bạn hoàn thủy xuất Lai, Do bão tì bà bán già diện). Phải chỗ nửa kín nửa hở thế này thì mới hợp cảnh mà tăng thêm vẻ đẹp.” Người Trung Quốc thường đem hoa ví với mỹ nhân, phép trồng hoa cũng chẳng khác gì săn sóc người đẹp. Đoàn Dự xuất thân tại chốn hoàng cung, đọc thi thư từ thuở nhỏ, cách thức trồng hoa cũng có hơn người.

    Xong việc chàng xuống suối rửa sạch chân tay, ngồi sau phiến đá lớn ngắm nghía khóm Nhãn Nhi Mị, nhìn thẳng, nhìn nghiêng lấy làm khoái chí. Bỗng nghe có tiếng chân bước sột soạt, hai thiếu nữ đi tới, một cô nói: “Chỗ này tịch mịch, không có ai qua lại…”

    Giọng nói đó vào tai, Đoàn Dự tim nhảy thốt lên một cái, rõ ràng là giọng của vị nữ lang mặc áo lụa màu cánh sen chàng đã gặp. Chàng vội nín thở không dám để phát ra chút âm thanh nào, nghĩ bụng: “Nàng đã bảo không nhìn mặt chàng trai nào không có liên quan gì tới nàng. Ta nào có liên hệ gì đâu, chỉ cần nghe mấy tiếng du dương như tiên nhạc cũng đã phúc lắm rồi. Nhất quyết ta đừng để nàng hay biết.” Đầu chàng vốn dĩ nghiêng nghiêng ngó ra, lúc này không dám quay lại, dường như sợ mình chuyển động thì cổ sẽ có thể phát xuất âm thanh kinh động đến mỹ nhân.

    Lại nghe thiếu nữ nói tiếp: “Tiểu Mính, người nghe thấy chuyện gì… chuyện gì về chàng thế?” Đoàn Dự nghe hỏi bất giác chua xót trong lòng, biết rằng tiếng “chàng” mà nữ làng gọi đó là chỉ Mộ Dung công tử, chắc là Mộ Dung Phục mà Vương phu nhân nói tới. Giọng nữ lang vặn hỏi thị tỳ nghe đầy vẻ thiết tha mong nhớ. Đoàn Dự không khỏi vừa ngưỡng mộ lại vừa tự thương thân. Chỉ thấy Tiểu Mính ấp úng hồi lâu, dường như sợ không dám nói thẳng.

    Nữ lang giục: “Ngươi cứ nói cho ta nghe! Ta không quên lòng tốt của ngươi đâu!” Tiểu Mính ngần ngừ đáp: “Tiểu tì sợ… chỉ sợ phu nhân trách phạt.” Nữ lang tức mình nói: “Ngươi đúng là ngốc nghếch. Ngươi cứ nói cho ta hay, ta không kể với phu nhân đâu.” Tiểu Mính nói: “Nếu như phu nhân hỏi tiểu thư thì sao?” Thiếu nữ đáp: “Dĩ nhiên là ta sẽ không nói.”

    Tiểu Mính lại ngập ngừng một hồi mới nói: “Biểu thiếu gia đi lên chùa Thiếu Lâm.” Thiếu nữ ngạc nhiên: “Lên chùa Thiếu Lâm ư? Thế sao A Châu, A Bích hai đứa kia lại nói chàng đến Cái Bang ở Lạc Dương?” Đoàn Dự nghĩ thầm: “Sao lại biểu thiếu gia nhỉ? Ồ, thì ra Mộ Dung công tử là anh họ của nàng, hai người thân thiết từ nhỏ, có tình thanh mai trúc mã, thành thử… thành thử…”.

    Tiểu Mính nói: “Hôm vừa rồi, phu nhân giữa đường gặp Công Dã nhị gia, hỏi ra mới biết bọn đầu não Cái Bang đều đến Hà Nam cả, định gặp biểu thiếu gia để hỏi cái chi chi đó, Công Dã nhị gia lại nói là có nhận được thư của biểu thiếu gia nói khi đến Lạc Dương kiếm không ra tên thủ lãnh ăn mày nào, nên đã lên Tung Sơn Thiếu Lâm Tự rồi.” Nữ lang hỏi: “Chàng lên chùa Thiếu Lâm để làm chi?” Tiểu Mính đáp: “Công Dã nhị gia kể rằng biểu thiếu gia có viết khi ở Lạc Dương nghe tin một lão hòa thượng chùa Thiếu Lâm chết ở Đại Lý, họ lại đổ oan cho Cô Tô Mộ Dung giết. Biểu thiếu gia giận lắm, chùa Thiếu Lâm lại không xa Lạc Dương bao nhiêu nên tiện đường đi lên trình bày với các hòa thượng trong chùa cho tỏ tường mọi việc.”

    Cô gái lại nói: “Nếu như nói không tỏ tường thì không lẽ động thủ hay sao? Phu nhân đã được tin như vậy sao lại quay về, không đi giúp biểu thiếu gia một tay?” Tiểu Mính nói: “Cái đó… cái đó… tiện tì cũng không hiểu. Dường như phu nhân không ưa biểu thiếu gia.” Thiếu nữ hậm hực nói: “Hừ! Ưa hay không ưa thì thiếu gia cũng là người trong nhà. Để nhà Mộ Dung mất mặt với người ngoài thì nhà họ Vương này lại vẻ vang lắm hay sao?” Tiểu Mính không dám tiếp lời.

    Thiếu nữ đi qua đi lại bên rặng trúc, bỗng thấy ba khóm bạch trà Đoàn Dự mới trồng, mảnh chậu đập ra còn bỏ đó, thất thanh kêu lên một tiếng hỏi: “Ai trồng trà ở đây thế này?” Đoàn Dự không còn cách nào tránh mặt, từ sau tảng đá bước ra vái dài sát đất nói: “Tiểu sinh vâng mệnh phu nhân đang trồng trà tại đây, không ngờ lại gặp tiểu thư.” Chàng tuy cung kính vái dài nhưng mắt vẫn nhìn lên, sợ rằng tiểu thư sẽ buông một câu: “Ta không thích gặp đàn ông lạ” rồi quay mình đi mất, lỡ mất cơ hội thấy mặt nàng.

    Đoàn Dự vừa nhìn thấy mặt nữ lang bông tai ù mắt hoa, hai đầu gối nhũn ra không tự chủ được quỳ mọp xuống đất, nếu không cố gượng thì đến cái đầu cũng đập xuống đất mà lạy. Miệng chàng lắp bắp: “Thần tiên tỉ tỉ! Ta… ta nhớ tỉ tỉ kể sao cho xiết! Đệ tử Đoàn Dự bái kiến sư phụ.”

    Nguyên tướng mạo nữ lang này giống hệt pho tượng ngọc trong thạch động bên nước Đại Lý, Vương phu nhân cũng đã giống pho tượng này nhưng cao tuổi hơn lại không đẹp bằng, còn nữ lang có khác là chỉ ở bộ áo mặc ngoài mà thôi. Từ mặt mũi, tai mắt, mồm miệng cho chí tầm vóc, chân tay cùng màu da không chỗ nào không giống, thực là pho tượng ngọc tái sinh. Đoàn Dự như người đang lạc vào cõi mộng. Chàng đã trải không biết bao nhiêu nghìn vạn lần tưởng nhớ người ngọc, lúc này thấy ngay trước mắt, không còn biết mình đang ở trần gian hay thượng giới. Nữ lang thấy cử động cùng cách xưng hô của Đoàn Dự cho là chàng mắc bệnh điên cuồng, kêu lên một tiếng, lùi lại hai bước, sợ hãi nói: “Ngươi… ngươi…”

    Đoàn Dự đứng thẳng lên, mắt như dán chặt vào cô gái, lúc này nhìn càng rõ hơn. Bấy giờ chàng mới biết, thiếu nữ so với pho tượng ngọc cũng có đôi phần khác biệt: pho tượng diễm lệ theo kiểu thu hồn nhiếp phách người ta, còn cô gái trước mặt đây có vẻ đoan trang xen lẫn nét thơ ngây, Chàng bèn nói: “Từ ngày được bái kiến thần tiên tỉ tỉ trong thạch động, tiểu sinh đã mừng cho mình phúc duyên rất lớn, ngờ đâu hôm nay lại được tận mắt chiêm ngưỡng dung nhan. Thế gian quả có tiên thật, không phải là chuyện hoang đường”

    Thiếu nữ quay sang nói với Tiểu Mính: “Gã nói chi đó? Gã là ai vậy?” Tiểu Mính đáp: “Gã là một anh đồ gàn đến với A Châu, A Bích. Gã nói nhăng nói cuội thế nào mà phu nhân tin gã biết trồng hoa trà mới nực cười.” Nữ lang quay ra hỏi Đoàn Dự: “Anh đồ gàn kia, hồi nãy bọn ta nói chuyện với nhau, người có nghe thấy không?” Đoàn Dự cười đáp: “Tiểu sinh họ Đoàn, tên Dự, người Đại Lý, không phải là đồ gàn đâu. Thần tiên tỉ tỉ và Tiểu Mính tỉ tỉ đây nói chuyện, vô tình tiểu sinh đã nghe rõ cả. Thế nhưng hai vị cứ yên tâm, tiểu sinh nhất định không tiết lộ một câu nửa chữ, bảo đảm không để Tiểu Mính tỉ tỉ bị phu nhân trách phạt.”

    Nữ lang sa sầm nét mặt hỏi: “Ngươi xưng hô tỉ tỉ muội muội lăng nhăng như vậy còn cãi không phải đồ gàn. Ngươi đã gặp ta bao giờ?” Đoàn Dự hỏi lại: “Nếu như tiểu sinh không gọi là thần tiên tỉ tỉ thì gọi thế nào cho phải?” Nữ lang đáp: “Ta họ Vương, ngươi cứ gọi ta bằng Vương cô nương là được rồi.” Đoàn Dự lắc đầu quầy quậy nói: “Không được! Không được! Khắp thiên hạ kể có hàng ngàn hàng vạn cô nương họ Vương, bậc thần tiên mà cũng chỉ gọi bằng Vương cô nương như người thường thế nào được? Thế thì phải gọi là gì nhỉ? Thật khó quá! Gọi vắn tắt là Vương tiên tử chăng? Xem ra có vẻ quê mùa! Hay là Mạn Đà công chúa? Đại Tống, Đại Lý, Liêu Quốc, Thổ Phồn, Tây Hạ nước nào chẳng có công chúa nhưng bì với cô nương thế nào được?”

    Nữ lang nghe Đoàn Dự nói tràng giang đại hải, càng nghe càng thấy gàn dở. Có điều nghe người ta thần hồn điên đảo ca tụng sắc đẹp mình thì ai mà không thấy sung sướng? Nàng mỉm cười nói: “Ngươi cũng còn may là chưa bị mẫu thân ta chặt chân.” Đoàn Dự đáp: “Thần tiên tỉ tỉ cùng lệnh đường phu nhân tướng mạo giống nhau nhưng tính tình thực khác xa nhau. Phu nhân động một tý là giết người, có điều không xứng với dáng dấp thần tiên…”

    Nữ lang nhíu mày ngắt lời: “Thôi ngươi tiếp tục trồng hoa đi, đừng đứng đây bẻn mép nữa. Bọn ta có việc phải bàn.” Lối nói của nàng quả xem Đoàn Dự như một tên thợ trồng hoa không hơn không kém.

    Đoàn Dự vẫn chẳng chịu thôi, chỉ mong được nghe nàng nói câu nào hay câu ấy, nhìn phút nào hay phút ấy. Chàng nghĩ bụng: “Muốn cho nàng bắt chuyện thì không gì bằng việc đề cập đến Mộ Dung công tử. Bụng dạ nàng để cả vào gã, ngoài ra không thiết gì hết”. Chàng bèn nói: “Thiếu Lâm Tự là Thái Sơn Bắc Đẩu trong võ lâm, trong chùa cao tăng hảo thủ không một nghìn thì cũng tám trăm, phần lớn đều tinh thông bảy mươi hai tuyệt kỹ. Lần này Huyền Bi đại sư của phái Thiếu Lâm bị người ta hạ độc thủ giết chết ở chùa Thân Giới, châu Lục Lương, nước Đại Lý, các hòa thượng cho rằng do tay Cô Tô Mộ Dung. Mộ Dung công tử cô thân vào nơi hiểm địa, thật là đáng lo ngại.”

    (còn tiếp)

    Nguồn: Thiên Long bát bộ. Tiểu thuyết của Kim Dung. Tác phẩm được bắt đầu được đăng trên tờ Minh báo ở Hồng Kông và Nam Dương thương báo ở Singapore vào ngày 03-09-1963 đến ngày 27-05-1966, liên tục trong 4 năm. Các Dịch giả: Hàn Giang Nhạn; Đông Hải; Nguyễn Duy Chính. NXB Văn học, 2002.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,165,974

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/