Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,163,561

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Thiên Long bát bộ

Kim Dung

  • Chủ nhật, 10:30 Ngày 20/12/2020
  • Thiên Long bát bộ

    Đoàn người về đến Đại Lý rồi, Bảo Định Đế nói: “Tất cả vào cung thương nghị.” Vào đến thư phòng trong hoàng cung, Bảo Định Đế ngồi trên một chiếc ghế bành lớn lót da báo ngay chính giữa, vợ chồng Đoàn Chính Thuần ngồi bên dưới còn Cao Thăng Thái và những người khác thông tay đứng hầu. Bảo Định Đế sai nội thị đem ghế lên cho mọi người cùng ngồi rồi vẫy tay cho lui ra, đem tình hình Đoàn Dự bị giam giữ thuật lại hết cho mọi người cùng nghe.

    Ai nấy đều hiểu việc này mấu chốt đều ở cả trong tay người áo xanh, nghe Bảo Định Đế nói không những lão đã giỏi phép Nhất Dương Chỉ mà còn hơn ngài một bậc nên không ai dám nói gì. Nhất Dương Chỉ là công phu gia truyền của họ Đoàn, chỉ dạy cho con trai mà không dạy cho con gái. Người áo xanh đã biết công phu này tất nhiên phải là con cháu chính phái họ Đoàn. (*)

    Bảo Định Đế quay sang nói với Đoàn Chính Thuần: “Thuần đệ thử nghĩ xem người này là ai?” Đoàn Chính Thuần lắc đầu đáp: “Tiểu đệ đoán không ra, không lẽ chùa Thiên Long có người nào hoàn tục cải trang chăng?” Bảo Định Đế lắc đầu: “Không phải, đó là thái tử Diên Khánh.”

    Lời đó vừa nói ra, mọi người ai nấy giật mình. Đoàn Chính Thuần nói: “Thái tử Diên Khánh đã qua đời rồi. Chắc lão này mạo nhận đó thôi.” Bảo Định Đế thở dài: “Tên tuổi có thể giả mạo nhưng công phu Nhất Dương Chỉ thì giả mạo làm sao được. Dẫu có học lén thì cũng chỉ là hạng tầm thường, làm sao trộm được nội công tâm pháp? Lão đích là thái tử Diên Khánh, không còn nghi ngờ gì nữa.”

    Đoàn Chính Thuận ngẫm nghĩ một lúc rồi hỏi tiếp: “Thế thì y dù sao cũng dòng giống họ Đoàn, vì lẽ gì lại cố làm bại hoại gia phong danh dự nhà ta? Bảo Định Đế thở dài: “Người này một thân tàn tật cho nên tính tình kỳ dị, không thể lấy lý lẽ thông thường mà lường được. Huống chi ta đang ở ngôi đế vương nước Đại Lý nên bụng y thù hận, cố tìm cách phá hoại được thanh danh anh em ta mới hả lòng.”

    Đoàn Chính Thuần nói: “Đại ca lên ngôi đã lâu, thần dân kính ngưỡng, bốn cõi thanh bình. Đừng nói là thái tử Diên Khánh xuất hiện, giả tỷ Thượng Đức Đế có sống lại cũng không thể lên ngôi được.”

    Cao Thăng Thái cũng đứng lên tâu: “Lời Trấn Nam Vương thật là chí lý. Thái tử Diên Khánh biết điều trao trả Đoàn công tử thì thôi, bằng không chúng ta không cần biết y là thái tử hay không thái tử, chỉ biết y là kẻ đứng đầu Tứ Đại Ác Nhân, ai cũng có quyền tru diệt. Bất luận võ công ông ta cao đến mực nào cũng không thể địch lại số đông.”

    Thì ra hơn mười năm trước, vào năm Thượng Đức ngũ niên, Thượng Đức Đế Đoàn Liêm Nghĩa đang trị vì nước Đại Lý bỗng sinh đại biến, nhà vua bị gian thần Dương Nghĩa Trinh giết chết. Cháu gọi vua Thượng Đức bằng bác là Đoàn Thọ Huy được các cao tăng chùa Thiên Long và trung thần Cao Trí Thăng giúp đỡ nên diệt được Dương Nghĩa Trinh, lên kế vị hiệu là Thượng Minh Đế. Thượng Minh Đế không thích làm vua nên chỉ ở ngôi một năm rồi xuất gia đầu Phật ở chùa Thiên Long, nhường ngôi cho em họ là Đoàn Chính Minh tức Bảo Định Đế. Vua Thượng Đức vốn có một người con trai là thái tử Diên Khánh nhưng khi gian thần Dương Nghĩa Trinh giết vua cướp ngôi, đất nước đại loạn, thái tử không biết đi đâu mất. Ai cũng cho là thái tử Diên Khánh bị Dương Nghĩa Trinh hạ sát rồi, ngờ đâu sau bao nhiêu năm đột nhiên xuất hiện.

    Bảo Định Đế nghe lời Cao Thăng Thái tâu, lắc đầu nói: “Ngôi báu này chính là của thái tử Diên Khánh, chỉ vì khi trước không tìm thấy người nên Thượng Minh Đế mới lên kế vị, sau truyền lại cho ta. Nay thái tử Diên Khánh đã trở về, lý đương nhiên ta phải trả ngôi báu lại cho người.” Đoạn nhìn Cao Thăng Thái nói tiếp: “Giả tỷ lệnh tôn mà còn tại thế dĩ nhiên cũng nghĩ như ta.” Nguyên Cao Thăng Thái là con vị công thần Cao Trí Thăng. Hồi đó sở dĩ trừ gian diệt nịnh được toàn là nhờ công Cao Trí Thăng cả.

    Cao Thăng Thái tiến lên một bước, nằm phục xuống đất tâu: “Tiên phụ của vi thần trung chúa yêu dân, nhưng quái khách áo xanh này là kẻ đứng đầu tứ ác. Giả tỷ lão lên làm vua nước Đại Lý, chăn dắt muôn dân thì trăm họ điêu linh biết bao nhiêu mà kể. Việc hoàng thượng định nhường ngôi này, kẻ vi thần là Cao Thăng Thái dù muôn thác cũng không dám tuân lệnh.”

    Ba Thiên Thạch cũng phục xuống đất tâu: “Mới rồi thần Thiên Thạch nghe Nam Hải Ngạc Thần gọi người đứng đầu trong tứ ác là Ác Quán Mãn Doanh. Nếu Ác Quán Mãn Doanh không phải là thái tử Diên Khánh thì dĩ nhiên không thể lên ngôi báu, giả tỷ lão chính là thái tử Diên Khánh thì còn ác hơn Nam Hải Ngạc Thần. Chúa thượng nỡ để lão cai trị trăm họ nước Đại Lý này cho giang sơn điên đảo, xã tắc nguy vong hay sao?”

    Bảo Định Đế khoát tay nói: “Hai người hãy đứng dậy. Lời các ngươi quả là có lý, có điều Dự nhi rơi vào tay họ, trừ khi ta nhường ngôi cho chúng, có cách nào đưa được Dự nhi về đâu?”

    Đoàn Chính Thuần nói: “Đại ca! Từ xưa đến nay chỉ có chuyện quân phụ gặp nạn, thần tử xả thân. Dự nhi tuy được đại ca yêu thương nhưng có lý đâu vì y mà đại ca phải bỏ ngôi trời? Dù cho y có thoát nạn cũng thành kẻ đại tội ở nước Đại Lý.”

    Bảo Định Đế đứng lên, tay trái vuốt chòm râu dài, hai ngón tay phải gõ nhẹ vào trán, bước thủng thỉnh đi trong thư phòng. Mọi người đều biết khi gặp việc khó giải quyết ngài thường có cử chỉ như vậy để xuất thần suy nghĩ nên không ai dám lên tiếng, để ngài được tĩnh trí. Bảo Định Đế đi đi lại lại hồi lâu rồi nói: “Thái tử Diên Khánh thủ đoạn thật là độc ác, cho Dự nhi uống Âm Dương hòa hợp tán. Chất thuốc này dược tính ghê gớm, người thường khó lòng chống chọi nổi. Chỉ sợ… chỉ sợ lúc này thuốc độc làm cho y mê muội rồi cũng chưa biết chừng. Than ôi, đây là gian kế của người ngoài chứ nào phải tại Dự nhi, mình trách thế nào được?”

    Đoàn Chính Thuần cúi gằm mặt xuống, xấu hổ vô cùng. Ông tự trách: Họa này xét cho cùng chỉ tại mình phong lưu lãng mạn gây ra.

    Bảo Định Đế quay trở lại chiếc ghế đang ngồi, nói: “Ba Tư không, truyền hạ ý chỉ, ra lệnh cho Hàn lâm viện thảo chiếu gia phong Hoàng đệ Đoàn Chính Thuần lên chức Hoàng thái đệ.”

    Đoàn Chính Thuần cả kinh vội quỳ xuống tâu: “Hiện nay đại ca đang độ tuổi xuân còn thịnh, muôn dân đội đức cao dày, Hoàng thiên tất sẽ trông lại, con cháu đề huề. Chức Hoàng thái đệ kia xin khoan bàn đến.”

    Bảo Định Đế cầm tay nâng dậy nói: “Hoàng đế cùng ta hai người như một. Giang sơn nước Đại Lý này cả hai anh em ta chấp chưởng. Đừng nói là ta không có con, dù có hoàng nam đi nữa ta vẫn truyền ngôi cho Hoàng đệ. Việc ta quyết lập Thuần đệ kế thừa cả nước đều biết. Ngày nay càng cần định rõ danh phận để thái tử Diên Khánh đừng mong gì nữa.”

    Đoàn Chính Thuần từ khước ba bốn lần không được, đành phải khấu đầu tạ ơn. Bọn Cao Thăng Thái liền tiến lên chúc mừng. Bảo Định Đế không có con cái, ngôi vua về sau ắt sẽ truyền cho Đoàn Chính Thuần, việc đó ai cũng đã biết nên không ai ngạc nhiên.

    Bảo Định Đế phán: “Ai nấy về nghỉ đi! Việc thái tử Diên Khánh chỉ nên cho Hoa Tư đồ, Phạm Tư mã hai người biết mà thôi, không được tiết lộ ra ngoài.” Mọi người vâng lệnh cúi đầu cáo biệt. Ba Thiên Thạch lập tức đi xuống Hàn lâm viện truyền chiếu chỉ của nhà vua.

    *

    Bảo Định Đế dùng cơm xong, ngủ một chốc, lúc tỉnh dậy nghe thấy ngoài cung vọng vào tiếng reo hò, âm nhạc du dương, pháo nổ rầm trời. Nội giám vào chầu chực thay áo rồi bẩm: “Bệ hạ phong Trấn Nam Vương làm Hoàng Thái Đệ, dân chúng hoan hô chúc mừng thật là náo nhiệt.” Mấy năm nay nước Đại Lý không có nạn binh đao, triều đình thanh chính, dân sự yên vui. Trăm họ rất kính phục Hoàng đế cùng Trấn Nam Vương và Thiện Xiển Hầu. Bảo Định Đế phán bảo nội giám: “Truyền ý chí của trẫm ngày mai mở hội hoa đăng, trong thành Đại Lý không phải dẹp đường, lại mở tiệc lớn khao thưởng ba quân, ban rượu thịt cho kỳ lão cô nhi.” Ý chỉ vừa ban ra, trăm họ đều mừng rỡ.

    Tối hôm đó, Bảo Định Đế mặc thường phục, một mình ra khỏi cung. Ông kéo sụp mũ xuống che kín lông mày chỉ hở hai con mắt, dọc đường thấy trăm họ múa hát rất là vui vẻ. Thời bấy giờ nhân sĩ Trung Nguyên coi nước Đại Lý là đất man di mọi rợ, nghi lễ khác xa Trung thổ. Trên đường cái thanh niên nam nữ dắt nhau đi chơi, cười cợt nô đùa là sự rất thường. Bảo Định Đế nghĩ thầm: “Cầu mong cho dân chúng nước Đại Lý ta đời đời kiếp kiếp được hoan lạc thế này”.

    Nhà vua ra khỏi thành rồi rảo bước mau. Đi được hơn hai mươi dặm thì bắt đầu lên dốc núi. Đường sá mỗi lúc một vắng tanh, đi hết bốn khu thung lũng đến một ngôi cổ tự nhỏ, ngoài cửa có đề ba chữ: “Niêm Hoa Tự”. Phật giáo là quốc giáo của nước Đại Lý nên trong ngoài kinh thành chùa lớn cũng vài chục còn chùa nhỏ tính hàng trăm. Ngôi Niêm Hoa Tự này ở nơi hẻo lánh, ít người khói hương, ngay cả người Đại Lý phần lớn cũng chẳng ai biết đến.

    Bảo Định Đế đứng ngoài cổng chùa, tĩnh tâm mặc niệm một hồi rồi tiến tới nhẹ nhàng gõ cửa ba tiếng. Một lát, cửa chùa mở, một chú tiểu chạy ra, chắp tay hỏi: “Tôn khách tới đây có việc gì?” Bảo Định Đế đáp: “Xin thông báo cho Hoàng Mi đại sư là có cố nhân Đoàn Chính Minh đến viếng.” Chú tiểu nói: “Xin mời vào.” Nói xong quay mình dẫn đường cho khách. Bảo Định Đế tiến vào trong chùa, bỗng nghe hai tiếng chuông boong boong từ hậu viện truyền ra, cảm thấy thân thể nhẹ nhàng, thần trí tiêu dao.

    Hai người bước trên thềm đầy lá rụng đi đến phía sau. Chú tiểu nói: “Xin tôn khách ở đây chờ một chút, để tiêu tăng độ bẩm cho sư phụ biết.” Bảo Định Đế đáp: “Được.” Ông chắp tay sau lưng đứng giữa sân nhìn lá vàng từ trên cây ngân hạnh lác đác rơi theo gió. Trong đời ông hiếm khi nào phải đứng ngoài cửa chờ người khác, thế nhưng khi bước chân vào Niêm Hoa Tự này, lòng trần tục sạch lâng lâng, tự nhiên quên cả mình là chúa tể của cả một cõi trời nam.

    Chợt nghe tiếng một ông già cười nói: “Đoàn hiền đệ có điều chi nan giải?” Bảo Định Đế quay đầu nhìn lại thấy một vị lão tăng mặt mũi nhăn nheo, thân hình cao lớn đang từ trong căn nhà nhỏ bước ra. Vị sư già đó có đôi lông mày dài sắc vàng, đuôi mày rủ xuống, chính là Hoàng Mi hòa thượng.

    Bảo Định Đế chắp tay nói: “Đến quấy nhiễu việc thanh tu của đại sư.” Hoàng Mi hòa thượng mỉm cười nói: “Xin mời vào.” Bảo Định Đế tiến vào trong căn nhà nhỏ thấy hai nhà sư trung niên đứng với chào, biết đó là đệ tử của Hoàng Mi nên cũng giơ tay đáp lễ rồi xếp bằng ngồi xuống chiếc bồ đoàn ở phía tây, đợi cho hòa thượng Hoàng Mi ngồi xuống bồ đoàn mé đông mới bắt đầu vào chuyện: “Tôi có thằng cháu là Đoàn Dự, lúc mới lên bảy tuổi đã từng lại đây nghe sư huynh giảng kinh.” Hoàng Mi tăng mỉm cười: “Thằng bé đó có ngộ tính khá, quả là một đứa bé ngoan, ngoan lắm.” Bảo Định Đế nói: “Nó nhờ được Phật pháp điểm hóa nên tính tình từ bi, không chịu học võ để tránh sát sinh.” Hoàng Mi tăng nói: “Không hiểu võ nghệ vẫn giết người được. Giỏi võ vị tất đã giết người.”

    Bảo Định Đế đáp: “Phải lắm!” Thế rồi ông đem chuyện Đoàn Dự không chịu học võ bỏ nhà trốn đi thế nào, gặp gỡ Mộc Uyển Thanh ra sao rồi bị Thiên Hạ Đệ Nhất Ác Nhân là thái tử Diên Khánh nhốt ở đâu, nhất nhất thuật lại cùng Hoàng Mi, Hoàng Mi tăng chỉ lắng tai nghe, không nói câu nào. Cả hai vị đệ tử đứng sau lưng cũng trầm tĩnh, nét mặt không mảy may xúc động.

    Chờ Bảo Định Đế nói xong Hoàng Mi tăng mới chậm rãi nói: “Thái tử Diên Khánh đã là đường huynh hiền đệ, cố nhiên là hiền đệ không tiện động thủ, mà sai thuộc hạ đến cứu người xem chừng cũng không ổn.” Bảo Định Đế nói: “Sư huynh thật là sáng suốt.” Hoàng Mi tăng nói tiếp: “Trên chùa Thiên Long cũng có người võ công giỏi hơn hiền đệ nhưng bọn họ cũng đều trong họ Đoàn mà ra, không tiện tham gia tranh chấp trong nội tộc, thành thử không thể lên đó cầu cứu được” Bảo Định Đế đáp: “Chính thế!”

    Hoàng Mi tăng gật đầu từ từ đưa ngón tay giữa ra điểm vào ngực Bảo Định Đế. Bảo Định Đế mỉm cười chìa ngón tay trỏ ra, điểm vào ngón tay giữa Hoàng Mi. Cả hai cùng lắc lư một cái, thu ngón tay về. Hoàng Mi tăng nhíu đôi lông mày nói: “Đoàn hiền đệ, Kim Cương chỉ của ta không thắng nổi Nhất Dương Chỉ của hiền đệ.” Bảo Định Đế nói: “Sư huynh là bậc đại trí tuệ, bất tất phải lấy chỉ lực để thủ thắng.” Hoàng Mi tăng cúi đầu không nói gì.

    Bảo Định Đế đứng dậy nói: “Năm năm trước đây, sư huynh bảo tiểu đệ miễn thuế muối cho dân Đại Lý, nhưng một là quốc dụng chưa đủ, hai là tiểu đệ muốn chờ Chính Thuần kế vị rồi mới thi hành để dân chúng hướng về y. Nay tiểu đệ nghĩ lại, sáng mai sẽ ra lệnh bãi bỏ thuế muối.”

    Hoàng Mi hòa thượng đứng lên, khom lưng rồi lạy phục xuống, cung kính nói: “Hiền đệ ban phước cho dân, lão tăng cũng cảm đức vô cùng.” Bảo Định Đế cũng sụp lạy đáp lễ xong ra về ngay không nói gì nữa.

    Ông về đến cung lập tức sai nội giám triệu Ba Thiên Thạch vào chầu, truyền ban sắc lệnh bỏ thuế muối. Ba Thiên Thạch khom mình tạ ơn nói: “Hoàng thượng khai ân thực là phúc của muôn dân.” Bảo Định Đế tiếp: “Mọi việc tiêu dùng trong cung nhất thiết phải tiết kiệm. Nhà ngươi cùng Hoa Tư đồ, Phạm Tư mã bàn thảo cho kỹ càng, tinh giản được chừng nào hay chừng nấy.” Ba Thiên Thạch tuân lệnh, từ biệt ra khỏi cung.

    Ba Tư không lập tức hẹn với Tư đồ Hoa Hách Cấn cùng đến phủ Tư mã Phạm Hoa thông báo việc bãi bỏ thuế muối, còn việc Đoàn Dự bị bắt cóc thì Ba Thiên Thạch đã kể trước rồi.

    Phạm Hoa trầm ngâm rồi nói: “Trấn nam thế tử mắc vào tay gian đảng. Hoàng thượng xuống chỉ xá thuế chắc là để cầu trời thương xót, phù hộ cho thế tử yên lành trở về. Bọn mình không biết chia sẻ mối lo cùng đấng chí tôn thì còn mặt mũi nào đứng ở trong triều đình nữa?” Ba Thiên Thạch nói: “Chính thế. Phạm nhị ca có diệu kế gì để cứu điện hạ ra chăng?” Phạm Hoa đáp: “Đối thủ lại chính là thái tử Diên Khánh thì chúa thượng nhất định không muốn chính diện đánh nhau đâu. Tiểu đệ có kế này nhưng chỉ sợ nhọc sức Hoa đại ca nên không dám nói ra.” Hoa tự đồ vội hỏi: “Việc gì mà nhọc sức ta? Nhị đệ nói ngay đi xem nào!” Phạm Hoa đáp: “Hoàng thượng đã bảo võ công thái tử Diên Khánh còn cao hơn cả ngài. Bọn ta xông vào cứu là không được rồi. Đại ca, cái nghề sinh nhai của đại ca hai mươi năm trước đây liệu còn thi thố được nữa chăng?” Bộ mặt rám nắng của Hoa Tư đồ hơi đỏ lên, cười nói: “Nhị đệ lại nói giỡn ta rồi.”

    Quan Tư đồ Hoa Hách Cấn trước tên gọi A Căn, xuất thân nghèo khổ, nay làm tới chức Tam công ở Đại Lý nhưng khi chưa thành đạt thì làm nghề đào mả trộm kiếm ăn, chuyên đi đào mồ những vương công cự phủ. Người giàu có sau khi chết thường chôn theo những đồ vật quý giá, Hoa A Căn nhiều khi đào đường hầm từ nơi rất xa vào tới phần mộ để trộm.

    Tuy làm thế mất nhiều công thật nhưng vì thế không ai phát giác. Có lần Hoa lấy được trong mộ một tập võ công bí quyết, đem về cứ theo đó luyện thành một tay ngoại công trác tuyệt. Rồi từ đó Hoa bỏ cái nghề mưu sinh ti tiện, theo phò Bảo Định Đế lập được nhiều kỳ công thăng lên đến chức Tư đồ. Từ khi làm quan to, Hoa thấy cái tên A Căn có vẻ khó nghe nên mới đổi là Hách Cấn. Ngoài hai người bạn chí thân là Phạm Hoa và Ba Thiên Thạch, rất ít người biết rõ lai lịch của ông.

    Phạm Hoa đáp: “Tiểu đệ đâu dám nói giỡn đại ca. Bọn ta phải đào một đường hầm vào trong Vạn Kiếp Cốc, thông vào thạch thất giam Trấn Nam thế tử, thần không hay, quỷ không biết mới cứu thế tử ra được.”

    Hoa Hách Cấn vỗ đùi reo lên: “Thật là tuyệt diệu! Tuyệt diệu!” Bản lãnh đào mả trộm của y thật là thiên tài, hơn hai mươi năm qua không còn dùng để mưu sinh nữa nhưng lắm lúc nhớ lại vẫn thấy chân tay ngứa ngáy. Khốn nỗi đã làm đến cực phẩm triều đình lại đi đào mả trộm thì còn ra thể thống gì nữa? Bây giờ y nghe Phạm Hoa đề nghị bất giác cả mừng.

    Phạm Hoa cười nói: “Đại ca đừng mừng vội, bên trong còn nhiều vấn đề nan giải. Tứ ác hiện nay ở cả trong Vạn Kiếp Cốc, ngoài ra còn vợ chồng Chung Vạn Cừu, Tần Hồng Miên đều là những nhân vật cực kỳ lợi hại, qua được tại mắt bọn này đâu phải chuyện dễ dàng? Hơn nữa đích thân thái tử Diên Khánh trấn giữ cửa mật thất, lão ngồi trên mà mình đào bên dưới giữ thế nào cho lão không hay?”

    Hoa Hách Cấn trầm ngâm một hồi mới nói: “Vậy ta phải đào đường hầm về phía sau mật thất, để tránh chỗ của thái tử Diên Khánh.” Ba Thiên Thạch nói: “Thế tử còn bị nhốt trong đó giờ phút nào là còn nguy hiểm giờ phút ấy. Chúng ta đào hầm công trình không phải nhỏ, e rằng không kịp chăng?” Hoa Hách Cấn đáp: “Vậy ba ta cùng phải hợp lực. Hai vị hiền đệ chịu khó học ta cái nghề đào mồ ăn trộm vậy.” Ba Thiên Thạch cười nói: “Chúng ta làm đến Tam công nước Đại Lý, nhưng quốc gia đại sự thì dù là đào mồ quật mả hay ăn trộm đi nữa cũng không thể từ nan được.” Ba người vỗ tay cả cười.

    Hoa Hách Cấn nói: “Việc này không thể chậm được nữa, nói làm là làm liền.” Nói xong Ba Thiên Thạch vẽ đồ hình trong Vạn Kiếp Cốc, Hoa Hách Cấn tính toán cửa hầm và đường đi, làm cách nào để tránh tai mắt người ngoài, làm thế nào chuyên chở được đất cát đem đi đổ. Thật là một tuyệt kỹ của Hoa, trên đời có một không hai.

    *

    Trong một ngày một đêm qua, Đoàn Dự mỗi khi thấy trong người bứt rứt liền thi triển thân pháp Lăng Ba Vi Bộ ở trong thạch thất đi qua đi lại, chỉ cần một hai vòng là thấy dịu hẳn xuống. Thế nhưng Mộc Uyển Thanh thì người phát sốt, thần trí mơ hồ, phần lớn thời gian chỉ tựa lưng vào tường đá mà ngủ mê mệt.

    Hôm sau vào khoảng giữa trưa, Đoàn Dự lại rảo bước trong căn phòng bỗng nghe bên ngoài thạch thất có tiếng một ông già giọng khàn khàn: “Mười chín đường ngang đọc, biết bao kẻ say mê. Nếu cư sĩ cao hứng thì cùng lão tăng đánh chơi một ván.” Đoàn Dự trong bụng lạ lùng vội vàng đi chậm lại, thêm mươi bước nữa rồi ngừng hẳn, ghé mắt qua cái lỗ hổng vẫn dùng để đưa cơm nhìn ra ngoài.

    Chỉ thấy một nhà sư già mặt mũi nhăn nheo, lông mày vàng hoe, tay trái cầm một cái mõ to bằng miệng bát, tay phải cầm một chiếc dùi đen nhánh, gõ lên cái mõ mấy tiếng cốc cốc cốc, nghe âm thanh thì ra cái dùi đó đúc bằng sắt. Ông ta vừa niệm: “A Di Đà Phật, A Di Đà Phật” vừa cúi xuống phiến đá xanh ngay trước căn nhà đã dùng dùi mõ vạch, nghe sè sè bụi đá tung lên, nét vạch sâu xuống thành một đường thẳng như sợi chỉ. Đoàn Dự thấy lạ lùng, nghĩ bụng dường như mình đã được gặp vị sư già ở đâu rồi thì phải. Kình lực bàn tay ông ta mạnh thật, chỉ tiện tay vạch lên mà trên nền đá thành một rãnh sâu chẳng khác gì đục bằng dùi sắt của người thợ chạm. Dùi mõ chỉ chầm chậm vạch qua thành một đường thẳng tắp, còn nếu người thợ muốn đục được thắng như thế dĩ nhiên phải vạch trước bằng mực đen.

    Trước căn nhà đá một giọng nói uất nghẹn vang. lên: “Kim Cương chỉ lực, công phu giỏi lắm.” Chính là tiếng của người áo xanh Ác Quán Mãn Doanh. Thiết trượng của y liền thò ra vạch một đường ngang thẳng góc với đường của Hoàng Mi tăng, cũng ăn sâu vào đá thẳng băng. Hoàng Mi tăng cười nói: “Thí chủ bằng lòng tứ giáo, hay lắm, hay lắm!” Ông ta liền đưa dùi lên vẽ thêm một đường thẳng nữa, người áo xanh liền về một đường ngang. Cứ như thế bên này khắc một đường, bên kia khắc một đường, hai người ngưng tụ công lực, dùi trượng càng vẽ càng chậm dần để cho đường mình sẽ không có chỗ sâu nông khác nhau hoặc nét vạch kém chính tề thẳng thắn.

    Độ chừng ăn xong một bữa cơm, một bàn cờ dọc ngang mười chín đường đã ngay ngắn khắc xong, Hoàng Mi tăng nghĩ thầm: “Chính Minh hiền đệ nói không sai, gã thái tử Diên Khánh này nội lực quả là cao cường”. Thái tử Diên Khánh không phải như Hoàng Mi tăng đã chuẩn bị rồi mới đến nên trong bụng cũng hãi thầm: “Ở đâu lại nhảy ra một lão hòa thượng ghê gớm đến thế này? Rõ ràng Đoàn Chính Minh mời y đến tiếp tay cho hắn. Nếu hắn thừa cơ mình ngồi đây để vào cứu Đoàn Dự thì mình đâu có thể phân thân ra đối địch?”.

    Hoàng Mi tăng nói: “Đoàn thí chủ công lực cao thâm, lão tăng rất là khâm phục. Về môn cờ chắc thí chủ cũng cao gấp mười bần tăng. Bây giờ ta đánh cờ chơi, lão tăng xin thí chủ chấp cho bốn quân.” Người áo xanh ngạc nhiên, nghĩ thầm: “Chỉ lực của nhà sư ghê gớm như thế hẳn là bậc cao nhân. Lão đến đây khiêu chiến, vừa mở miệng lại đòi nhường là sao?”. Y bèn nói: “Đại sư bất tất quá khiêm. Nếu đại sự muốn hơn thua thì cứ để bằng quân,” Hoàng Mi tăng nài: “Bốn quân không chấp được hay sao?”

    Người áo xanh lạnh lùng đáp: “Đại sư đã tự biết mình kém nước thì bất tất phải đấu nữa.” Hoàng Mi tăng khẩn khoản: “Thế thì ba quân được chăng?” Người áo xanh đáp: “Chỉ nhường đi trước cũng đã là quá rồi.”

    Hoàng Mi tăng cười ha hả nói: “Thế là lão tăng đủ biết rồi. Thí chủ còn kém lắm. Lão tăng chấp thí chủ ba quân.” Người áo xanh bình thản đáp: “Bất tất phải thế, cứ đấu ngang tay, mỗi người đi trước một lần là được rồi.” Hoàng Mi tăng càng thêm ngại ngùng nghĩ thầm: “Người này không kiêu ngạo lại không nóng nảy, quả là kình địch, dù ta có khích cách nào cũng vẫn điềm tĩnh như không”. Thì ra Hoàng Mi tăng vốn chưa nắm vững được phần thắng, biết người thích cờ thường hiếu thắng, mình mở miệng xin y chấp ba quân, bốn quân rồi đòi chấp lại để khích động đối phương. Ngờ đâu thái tử Diên Khánh không chịu chấp quân mà cũng chẳng để ai nhường mình, không xúc động mảy may, vẫn giữ được nghiêm cẩn kín đáo.

    Hoàng Mi tăng nói: “Thôi thế cũng được. Nhưng thí chủ là chủ mà tôi là khách, chủ phải nhường khách đi trước.” Người áo xanh nói: “Không được, tiền chủ hậu khách, để ta đi trước.” Hoàng Mi tăng đáp: “Nếu vậy thì phải đánh đố. Năm nay lão tăng tuổi chẵn hay tuổi lẻ, nếu thí chủ đoán trúng thì đi trước, đoán sai thì phải nhường lão tăng.” Người áo xanh nói: “Ta có đoán trúng chăng nữa đại sư cũng nói là sai.” Hoàng Mi tăng nói: “Được rồi. Lão tăng đã có cách, muốn cãi chối cũng không được, Lão tăng xin hỏi: sau năm bảy mươi tuổi, tổng số ngón cả hai bàn chân lão tăng lẻ hay chẵn?”

    Câu đố đó quả nhiên quái lạ, người áo xanh nghĩ thầm: “Người bình thường có mười ngón chân, đương nhiên là chẵn rồi. Y nói rõ là sau năm bảy mươi tuổi chắc là để cho ta tưởng rằng y mất đi một ngón chứ gì? Binh pháp có nói là: Thực hư hư thực. Y còn đủ mười ngón chân nhưng cố tình giở trò đánh lạc hướng, lừa mình thế nào được?”. Y bèn nói: “Số chẵn.” Hoàng Mi tăng đáp: “Sai rồi, số lẻ.” Người áo xanh nói: “Đại sư tháo giày ra cho coi!”

    Hoàng Mi tăng cởi giày vớ bên chân trái ra thấy năm ngón chân hãy còn nguyên vẹn. Người áo xanh chăm chăm nhìn mặt đối phương thấy ông ta bình tĩnh tươi cười thì tưởng chân phải nhà sư chỉ có bốn ngón thật. Lại thấy nhà sư từ từ cởi giày chân phải ra, giơ tay cởi vớ, y đang định nói: “Thôi khỏi cần kiểm chứng, ông đi trước đi” thì lại chợt nghĩ: “Không thể mắc hỡm y”. Hoàng Mi tăng lại cởi nốt với chân phải, chân phải cũng đầy đủ năm ngón, có tàn khuyết gì đâu?

    Trong giây phút đó bao nhiêu ý nghĩ hiện ra trong đầu người áo xanh, lão chưa đoán ra đối phương có dụng ý gì. Chỉ thấy nhà sư già giơ chiếc dùi sắt lên đánh mạnh xuống, nghe “phập” một tiếng, ngón chân út đã đứt rơi ra. Hai người đệ tử đứng sau lưng thấy sư phụ tự hủy hoại thân thể, máu chảy vọt ra nhịn không nổi kêu “ối” lên một tiếng. Đại đệ tử Phá Nghi vội lấy thuốc kim sang trong bọc ra rịt cho thầy, xé một mảnh tay áo băng lại.

    Hoàng Mi tăng cười nói: “Năm nay lão tăng sáu mươi chín tuổi, có phải bảy mươi tuổi thì số ngón chân thành số lẻ rồi không?”

    Người áo xanh đáp: “Đúng rồi, xin mời đại sư đi trước.” Y nổi tiếng là Thiên Hạ Đệ Nhất Ác Nhân, bao nhiêu thảm cảnh rùng rợn đã từng thấy cả rồi thì việc chặt đứt một ngón chân có đáng gì đâu, nhưng nghĩ thầm nhà sư này chỉ vì muốn đi trước một nước mà đã ra tay như thế đủ biết ông ta nhất định quyết thắng ván cờ này, nếu lỡ mà thua tất sẽ bị nhà sư đưa ra điều kiện khắt khe vô cùng.

    Hoàng Mi tăng nói: “Xin phép.” Ông ta cầm cái dùi lên khắc xuống điểm tứ tứ ở hai góc đối diện mỗi bên một cái vòng tròn nhỏ, thế là coi như đã đi hai quân cờ trắng. Người áo xanh giơ cây gậy sắt ra ấn vào hai điểm tứ tứ còn lại mỗi bên một cái, lập tức nền đá xanh lõm xuống hai lỗ tức là đi hai quân đen. Cả bốn góc điểm tứ tứ đều có quân đen trắng thì gọi là “thế tử”, một phép đánh cổ của vi kỳ Trung Quốc, trắng đi trước đen đi sau, ngược lại với phép đánh sau này của hậu thế. Hoàng Mi tăng kế đến đặt tại Bình Vị lục tam một quân, người áo xanh bèn đi một nước nơi chỗ cửu tam. Lúc đầu hai người đi rất nhanh, nhà sư không kém sút chút nào, quả có mất một ngón chân để đi trước một nước kể cũng đáng.

    Đi đến nước thứ mười bảy mười tám, cuộc cờ đã bắt đầu gay cấn. Trí lực hai bên hao tổn rất nhiều, một mặt phải dùng hết tâm trí để suy tính nước cờ, một mặt phải vận khí bồi bổ sức lực, mỗi lúc cờ đi một chậm thêm.

    Nhị đệ tử của Hoàng Mi tăng Phá Sân cũng là một tay cờ khá, thấy sư phụ dùng đoản binh đấu với người áo xanh, hai bên toàn những thế kỳ lạ không khỏi bội phục ngầm. Đi đến nước thứ hai mươi bốn, người áo xanh đột ngột xuất kỳ binh, thế cờ đại biến. Nếu như nhà sư không đối phó kịp thì góc Khứ Vị thể nào cũng nguy, còn như đem một con ra cố thủ thì lại thiệt mất nước tiên.

    Hoàng Mi tăng suy nghĩ một hồi lâu chưa biết phải làm thế nào bỗng trong thạch thất có tiếng vọng ra: “Phản công ở Khứ Vị thì vẫn giữ được nước tiên.” Thì ra Đoàn Dự giỏi chơi cờ vây từ nhỏ, lúc này thấy hai bên đến chỗ gay go nên buột miệng nhắc cho Hoàng Mi tăng.

    Người đời thường nói: “Cờ ngoài bài trong”, người đứng xem thường sang nước hơn người đang đánh, kỳ lực của Đoàn Dự vốn đã cao hơn Hoàng Mi tăng lại đứng ngoài cuộc nên nghĩ ngay ra được những nước hay. Hoàng Mi tăng đáp: “Lão tăng đã nghĩ tới nước cờ này rồi, còn đang cân nhắc, Giờ được thí chủ đồng ý thì lão tăng không phân vân gì nữa.” Bàn đặt nơi Khứ Vị ngay chỗ thất tam một quân.

    Người áo xanh lạnh lùng đọc: “Ngồi ngoài ngậm miệng là quân tử, tự ý ra quân mới trượng phu.” Đoàn Dự nghe lão đọc tức mình la lên: “Ngươi vô cớ nhốt ta vào đây thì có phải là quân tử không?” Hoàng Mi tăng cũng cười nói: “Lão tăng đây là đại hòa thượng chứ đâu phải đại trượng phu?” Người áo xanh khinh khỉnh mạt sát: “Vô sỉ, vô sỉ!” Y suy nghĩ một hồi rồi cũng đi một quân nơi Khứ Vị.

    Đi mấy nước nữa Hoàng Mi tăng lại lâm vào thế bí. Phá Sân hòa thượng nóng ruột không nghe Đoàn Dự nhắc gì vội chạy đến bên nhà thạch thất khẽ hỏi: “Đoàn công tử, bây giờ đi nước nào cho phải?” Đoàn Dự đáp: “Ta đã tính ra đến bảy nước rồi nhưng nếu nói ra e rằng kẻ địch nghe được thì không còn hiệu nghiệm nữa, thành thử cứ ngần ngừ không muốn nhắc.” Phá Sân liền viết vào tay phải ba chữ: “Xin viết ra”. Rồi nhà sư luồn tay qua lỗ hổng luồn vào trong, miệng nói: “Nếu thế thì thôi, đành chịu vậy” Y biết người áo xanh nội công thâm hậu, dù cho Đoàn Dự có ghé tai nói nhỏ cũng có thể bị y nghe được.

    Đoàn Dự nghĩ thầm: “Kế này tuyệt diệu”, liền đưa ngón tay viết vào bàn tay y bảy nước đi, miệng nói: “Tôn sư kỳ lực cao minh ắt sẽ có nước hay, chẳng cần tại hạ chỉ điểm” Phá Sân suy tính kỹ lại thì quả là những nước cờ rất cao nên quay trở lại bên sư phụ, đưa tay viết lên lưng ông. Tăng bào của y che hết bàn tay, nên người áo xanh không sao nhìn thấy y giở trò láu cá. Hoàng Mi tăng định thần một lúc hiểu cả, cứ thế ra quân.

    Người áo xanh đằng hắng rồi nói: “Quả lại có kẻ ngấm ngầm mách nước, bản lãnh đại sư xem ra chưa tới mức này.” Hoàng Mi tăng cười: “Đánh cờ là trò đấu trí trong cái giả có cái thật, người giỏi phải đưa những ngón dở ra trước. Nếu lão tăng để thí chủ tỏ tường hư thực ngay từ lúc đầu thì cuộc cờ còn chỉ là ảo diệu nữa?” Người áo xanh đáp: “Chơi trò giảo hoạt, ném đá giấu tay.” Y thấy Phá Sân hòa thượng chạy qua chạy lại rồi che tay áo lên lưng Hoàng Mi đã sinh nghi, nhưng vì chú tâm vào thế cờ biến ảo thành ra chuyện chung quanh không nhìn rõ được.

    Hoàng Mi tăng theo đúng lời Đoàn Dự chỉ, cứ thế mà đi. Sáu nước sau không cần phải suy nghĩ gì cả, chỉ chuyên chú vận công nên những cái lỗ do dùi đục vào đá xanh vừa sâu vừa tròn, đủ biết thần khí đầy đủ, nội lực triền miên không dứt. Người áo xanh thấy những nước cờ càng về sau càng ghê gớm, nước nào cũng phải suy nghĩ cách chống đỡ nên nét đục của thiết trường nông sâu không đều. Đến khi Hoàng Mi tăng đi xong nước thứ sáu rồi, người áo xanh xuất thần suy nghĩ một hồi đột nhiên đặt một quân vào Nhập Vị.

    Quân cờ đó đi thật bất ngờ không liên quan gì đến lối tính toán của Đoàn Dự. Hoàng Mi tăng cả kinh nghĩ thầm: “Bảy nước cờ của Đoàn công tử thật là tinh vi, đi đến nước thứ bảy thì ta từ đi trước một nước đã thành hơn tới hai nước. Thế nhưng nước thứ bảy không đi được nữa rồi, chẳng hóa ra bao nhiêu nước trước thành công cốc hay sao?”, Thì ra người áo xanh thấy tình hình bất lợi ứng phó cách nào xem ra cũng không xong bèn không lý đến nữa, bỏ luôn thế thủ tiến lên công ngay một quân, đó chính là dĩ công vi thủ, quả nhiên lợi hại.

    Hoàng Mi tăng nhíu mày không nghĩ ra được cách nào cho ổn. Phá Sân thấy tình thế đại biến, sư phụ khó lòng giải quyết nổi, bèn lập tức chạy lại bên thạch thất, Đoàn Dự cũng đã nghĩ chín liền viết cho y sáu nước cà rõ ràng từng nước một. Phá Sân chạy lại chỗ Hoàng Mi tăng đưa tay viết lên lưng sư phụ.

    Người áo xanh đã nổi danh là Thiên Hạ Đệ Nhất Ác Nhân lẽ nào lại dung cho y liên tiếp phá bĩnh mình. Thiết trượng từ tay trái liền tung vào vai Phá Sân, quát lên: “Đứa hậu sinh kia, mau đứng lại!” Thiết trượng điểm ra phát tiếng vù vù.

    Hoàng Mi tăng biết là đệ tử mình không sao chống đỡ nổi thể nào cũng trọng thương, lập tức giơ tả chưởng chộp vào đầu trượng. Đầu tượng của người áo xanh liền rung động điểm luôn vào huyệt đạo dưới vú nhà sư. Hoàng Mi tăng biến trảo thành cương đao chém xuống đầu gậy, thiết trượng liền biến chiêu. Chỉ trong khoảnh khắc hại người đã trao đổi bảy tám chiêu. Hoàng Mi tăng nhận thấy cánh tay mình ngắn còn thiết trượng của địch dài, nếu tiếp tục hóa ra chỉ thủ mà không công, không có đường thắng nên vừa thấy trượng điểm tới liền tung ra một chỉ nhắm ngay đầu trượng đâm vào. Người áo xanh không rút về tránh, đầu trượng và ngón tay đụng nhau, hai người cùng dùng nội lực để đấu, lập tức cả hai bên đều đứng sững lại.

    Người áo xanh nói: “Nước cờ này đại sư mãi không đi được, chịu thua quách đi cho rồi.” Hoàng Mi tăng cười ha hả nói: “Các hạ là tiền bối cao nhân, sao lại ra tay đánh trộm đệ tử của ta? Như thế có mất thân phận lắm chăng?” Tay phải cầm dùi sắt khắc một vòng tròn nhỏ dưới phiến đá. Người áo xanh cũng không nghĩ ngợi, tiện tay cũng đặt một quân. Từ đó trở đi, hai người tay thì vận nội lực không cách nào có thể lơi được, đồng thời trên bàn cờ nước nào cũng khẩn cấp, chỗ nào cũng gay go.

    Năm năm trước đây, Hoàng Mi tăng vì bách tính nước Đại Lý cầu xin Bảo Định Đế bãi bỏ thuế muối, đến nay mới được nhà vua chuẩn cho. Hai người hiểu ý nhau nên ông nhất định ra tay cứu Đoàn Dự. Hoàng Mi tăng nghĩ thầm: “Mình sống hay chết cũng chẳng đáng quan tâm, nhưng nếu không cứu thoát được Đoàn Dự thì còn mặt mũi nào trông thấy Chính Minh hiền đệ?” Kẻ luyện nội công cần nhất là không được có một chút tạp niệm nào, nhưng đánh cờ thì lại luôn luôn muốn hơn người một bước, trên bàn cờ ba trăm sáu mươi mốt điểm, điểm nào cũng phải nghĩ tới, quả đúng là đến một sợi tóc cũng không thể bỏ qua thì mới tính toán cho đến nơi đến chốn được. Hai điều đó gần như tương phản nhau. Hoàng Mi tăng công phu thiền định tuy cao thâm nhưng sức cờ lại không bằng đối phương, chú tâm vào việc vận nội lực kháng địch thì lại sao nhãng nước cờ, còn như tập trung nghĩ nước cờ thì nội lực lại giảm đi trở thành núng thế. Cục diện hôm nay hung hiểm lạ thường, lão tăng quyết tâm lấy cái chết báo đến người tri kỷ nên không còn nghĩ gì đến việc an nguy của mình nữa. Cổ nhân có nói: “Quân nguy thì dễ thắng”, thế nhưng Hoàng Mi tăng lúc này nguy thì có nguy còn thắng thì chưa thấy phương hướng.

    *

    Tam công nước Đại Lý là Tư đồ Hoa Hách Cấn, Tư mã Phạm Hoa và Tư không Ba Thiên Thạch dắt theo ba chục thuộc hạ biết võ công, đem gỗ, xẻng, đèn treo các món tiến vào khu rừng rậm trong Vạn Kiếp Cốc, chọn địa thế rồi đào đường hầm vào. Ba mươi ba người đào cả đêm đã được một con đường hầm dài đến vài chục trượng. Qua hôm sau lại đào thêm nửa ngày nữa đến xế trưa, tính toán ra không còn cách thạch thất bao xa. Hoa Hách Cấn bảo bộ thuộc lui lại phía sau để chuyển đất, chỉ còn ba người thay phiên đào. Ba người biết rằng thái tử Diên Khánh võ công rất cao cường nên khi đào chỉ nhè nhẹ ấn xẻng xuống không dám để phát ra chút thanh âm nào. Chính vì thế mà tiến triển rất chậm, có biết đâu lúc này người áo xanh đang hết sức chú tâm đánh cờ với Hoàng Mi tăng, lại đấu nội lực làm gì còn để ý đến âm thanh dưới đất.

    Đào đến khoảng giờ Thân, tính ra đã đến nơi thạch thất Đoàn Dự đang bị cầm tù. Nơi này và nơi Diên Khánh đang ngồi cách nhau chỉ độ một trượng nên lại càng cực kỳ thận trọng, không dám để phát ra một tiếng động nhỏ. Hoa Hách Cấn bỏ xẻng xuống, thi triển Hổ Trảo Công dùng mười ngón tay mọi đất chẳng khác nào mười cái móc sắt, móc lên từng tảng đất lớn. Phạm Hoa và Ba Thiên Thạch hai người ở sau chuyền những tảng đất y đào ra ngoài. Lúc này Hoa Hách Cấn không còn đào ngang nữa mà đã đào đứng từ dưới lên trên. Công trình đã gần xong, chỉ giây lát là biết có cứu được Đoàn Dự không, ba người không khỏi nóng ruột, trống ngực đánh thình thình.

    Việc đào ngược lên dễ dàng hơn trước nhiều, chỉ động vào là đất rụng xuống. Hoa Hách Cấn đứng thẳng lên được rồi ra tay càng nhanh nhẹn, cứ đào một lát lại lắng tai nghe ngóng xem bên trên có động tĩnh gì không. Đào như thế chừng tàn hai nén hương, chỉ còn cách mặt đất chừng một thước, Hoa Hách Cấn tay liền chậm lại, gạt đất nhẹ nhàng, sau cùng đụng phải một tấm gỗ, trong bụng mừng thầm: “Dưới sàn thạch thất có lát ván xem ra càng tiện cho mình”.

    Y vận nội lực vào đầu ngón tay, từ từ khoét vuông vắn mỗi bề hai thước thành cái cửa hầm vừa một người chui lọt, khoét xong cúi xuống ra hiệu cho hai ông bạn đỡ lấy rồi buông tay để tấm ván hạ xuống. Hoa Hách Cấn giơ xẻng lên khoa trên miệng hầm để đề phòng có người đột kích, chợt nghe tiếng lanh lảnh một cô gái la lên: “Trời ơi” đầy vẻ kinh hoàng.

    Hoa Hách Cấn khẽ gọi: “Mộc cô nương chớ to tiếng! Người nhà đến cứu đây mà.” Y tung mình vọt từ dưới hầm lên.

    Vừa đưa mắt nhìn quanh thì Hoa Hách Cấn hoảng hồn, nơi đây đâu có phải thạch thất mà là một căn phòng sạch sẽ đồ đạc tươm tất, đầy những kệ để đủ các loại bình lớn bé, một thiếu nữ mặt mày kinh hãi, nép vào một góc. Vị trí thạch thất là do Bảo Định Đế nói cho Ba Thiên Thạch nghe, Ba Thiên Thạch lại kể cho Hoa Hách Cấn, vì sợ mưu kế bại lộ nên đâu có ai dám đến tận nơi quan sát, thành thử Hoa Hách Cấn tính toán sai, cái sai một li kia tuy đi không tới một dặm nhưng cũng hết mấy chục trượng.

    Nơi y đào đến đúng ngay nhà Chung Vạn Cừu, thiếu nữ kia là Chung Linh, nàng đang ở trong phòng phụ thân lục lọi tìm giải được để đi cứu Đoàn Dự. Bất thình lình ở dưới đất chui lên một người đàn ông thì làm gì mà nàng chẳng sợ mất vía?

    Hoa Hách Cấn tâm linh ứng biến cực kỳ mau lẹ, nghĩ bụng: “Hóa ra mình đào lầm chỗ rồi, cố nhiên là phải đào lại nhưng đã trót lộ hình tích. Nếu giết cô gái đi để bịt miệng thì người trong Vạn Kiếp Cốc thấy xác cô ta, lập tức sẽ tra xét mọi nơi. Mình chưa vào đến nhà thạch thất đã bị khám phá ra đường hầm rồi thì hỏng bét. Chỉ còn cách là đem cô ta xuống hầm, người nào muốn tìm cô ta ắt sẽ ra ngoài sơn cốc.”

    Vừa nghĩ tới đó chợt ngoài phòng có tiếng chân người đi tới. Hoa Hách Cấn bèn khoa tay trước mặt Chung Linh ra hiệu cấm nàng không được lên tiếng. Rồi giả vờ trở gót, như kiểu muốn chui xuống hầm nhưng vụt một cái Hoa nhảy phắt lại phía sau, giơ tay trái bịt miệng Chung Linh còn tay phải quờ ra sau lưng cô ta kéo lại gần cửa hầm tống xuống bên dưới. Phạm Hoa giơ tay đỡ lấy, bốc ngay một nắm đất nhét vào mồm. Hoa Hách Cấn nhảy trở vào hầm, cầm miếng gỗ vừa cắt ra để lại ngay ngắn chỗ cũ rồi ghé tai vào kẽ hở nghe ngóng.

    Chỉ thấy hai người đi vào trong phòng, có tiếng đàn ông nói: “Hẳn nàng đối với hắn còn có mối dư tình chưa đứt. Nếu không thì ta muốn phá hoại thanh danh họ Đoàn, can gì đến nàng mà nàng ngăn cản?” Có tiếng đàn bà giận dữ đáp: “Chàng nói… dư… dư… chi đó? Ta cho chàng hay, ta không còn tình ý gì với người đó đâu.” Gã đàn ông lại nói: “Nếu vậy thì còn gì hay bằng”. Giọng nói đầy vẻ hớn hở vui mừng. Người đàn bà lại tiếp: “Chẳng qua Mộc Uyển Thanh là con gái sư tỷ ta, cũng là người bên mình, sao ông lại làm khó nàng ta như thế?”

    Hoa Hách Cấn nghe đến đây, biết ngay đây là vợ chồng Chung cốc chủ, thấy họ bàn cãi với nhau có liên quan đến Đoàn Dự vội lắng tai nghe.

    Lại thấy tiếng Chung Vạn Cừu nói: “Sư tỷ nàng lén lút đi thả Đoàn Dự, may mà Diệp Nhị Nương phát giác kịp thời. Thế thì mụ đã thành cừu địch với mình rồi, hà tất nàng còn phải quan tâm đến con gái mụ nữa? Phu nhân, khách tại đại sảnh toàn là những nhân vật thành danh trong võ lâm Đại Lý. Sao nàng chẳng coi ai ra gì, chỉ lườm họ một cái rồi bỏ xuống đây, chẳng… chẳng hóa ra mình… thiếu lễ độ quá hay sao?” Chung phu nhân vùng vằng đáp: “Ông mời bạn đó tới đây để làm gì? Những người đó với mình chẳng có giao tình gì lắm, liệu bọn họ có dám đắc tội với đường kim hoàng đế nước Đại Lý không?” –

    Chung Vạn Cừu đáp: “Ta có mời họ về tiếp tay làm phản đâu mà ngại? Chẳng qua họ ở gần quanh đây nên mời đến để chứng kiến hai đứa con Đoàn Chính Thuần cùng ở trong nhà thạch thất làm chuyện loạn luân ô uế, chứ có gì đâu? Hôm nay những tân khách được mời đến có cả mấy hào kiệt từ Trung Nguyên phương bắc. Sáng sớm mai sẽ mở cửa thạch thất để mọi người coi cho rộng tầm con mắt. Các đức tính nhà họ Đoàn nổi tiếng về phép Nhất Dương Chỉ sẽ thêm lừng danh trên chốn giang hồ.” Nói xong hắn đắc ý cười ha hả.

    Chung phu nhân đằng hắng một tiếng rồi xẵng giọng: “Đê hèn! Vô liêm sỉ!” Chung Vạn Cừu hỏi: “Nàng bảo ai đê hèn, vô liêm sỉ?” Chung phu nhân đáp: “Kẻ nào làm việc đê hèn vô liêm sỉ thì kẻ ấy là quân đê hèn vô liêm sỉ, cần gì phải gọi đích danh ra.” Chung Vạn Cừu nói: “Đúng rồi, thằng lỏi mặt trắng Đoàn Chính Thuần tính tình trăng gió tạo nhiều oan nghiệt, trời quả báo đến nỗi hai đứa con mình sinh ra giở thói loạn luân, đúng là đê hèn đến cùng cực.” Chung phu nhân cười nhạt không đáp. Chung Vạn Cừu lại hỏi: “Sao nàng lại cười? Quân đế hèn vô liêm sỉ nàng vừa mắng đó không phải là Đoàn Chính Thuần sao?” Chung phu nhân lại cười khẩy nói: “Mình đánh không lại họ Đoàn, cả đời chui rúc ở trong sơn cốc không dám thò đầu ra thì cũng còn được. Con người biết xấu hổ cũng đã là một điều dũng. Ngờ đâu lại đi dùng thủ đoạn để bức hại con trai con gái người ta, thiên hạ anh hùng đâu có cười y mà sẽ cười Chung Vạn Cừu.”

    Chung Vạn Cừu tức quá nhảy lên chồm chồm: “Nàng… nàng thóa mạ ta là kẻ đê hèn, vô liêm sỉ ư?” Chung phu nhân ứa nước mắt nghẹn ngào nói: “Không ngờ tôi lấy phải người chồng là… là một nhân vật như thế, sao… sao tôi khổ thế này?”

    Chung Vạn Cừu vừa thấy vợ ứa nước mắt, bất giác chân tay luống cuống, nói dỗ: “Được rồi, được rồi! Nàng muốn mắng ta thì cứ việc mắng cho sướng miệng.” Hắn chạy lui chạy tới trong phòng tìm lời tạ lỗi với vợ mà không nghĩ ra, chỉ nói: “Có phải chủ ý ta đâu? Đoàn Dự là do Nam Hải Ngạc Thần đem về, Mộc Uyển Thanh thì do Ác Quán Mãn Doanh bắt giữ, còn Âm Dương hòa hợp tán cũng nào phải của ta? Ta làm gì có loại dược vật hèn hạ xấu xa đó?” Lúc này y chỉ nghĩ được chuyện đổ trách nhiệm qua người khác. Chung phu nhân cười khẩy: “Nếu như ông biết được thế là hèn hạ xấu xa thì cũng tốt rồi. Nếu quả ông không tán thành chủ ý đó sao không thả Mộc Uyển Thanh ra?” Chung Vạn Cừu nói: “Không được, không được! Nếu thả Mộc Uyển Thanh ra, một mình tên tiểu quỉ Đoàn Dự thì còn làm được cái trò gì nữa?”

    Chung phu nhân cười gằn: “Được rồi, ông đã đề hèn vô liêm sỉ, tôi cũng sẽ đê hèn vô liêm sỉ cho ông thấy.” Chung Vạn Cừu kinh hãi quá vội hỏi rối rít: “Nàng… nàng… nàng định làm gì thế? Nàng.. nàng lại định cùng với Đoàn… tên ác tặc Đoàn Chính Thuần tư thông ư?” Chung phu nhân giận dữ hỏi lại: “Ông bảo lại định là sao?” Chung Vạn Cừu vội vàng cười làm lành: “Phu nhân, nàng đừng giận. Ta nói sai, nàng trước nay đâu có… đâu có đi lại gì với y. Nàng bảo sẽ làm điều đê hèn vô liêm sỉ cho ta coi, chắc là… chắc là nói đùa chứ gì?” Chung phu nhân không trả lời.

    Chung Vạn Cừu trong lòng thảng thốt, liếc mắt nhìn thấy trong phòng chai lọ ngổn ngang liền nói: “Cái con bé Linh nhị thật nghịch ngợm hết nước nói. Mới tí tuổi đầu mà đã hỏi tới Âm Dương hòa hợp tán làm gì? Không biết ai xúi nó vào lục tìm loạn cả lên.” Vừa nói vừa xếp những chai thuốc lại, chân bước thế nào lại trúng vào tấm gỗ miệng hầm. Hoa Hách Cấn phải vận nội lực chống cho nắp hầm khỏi nhúc nhích.

    Chung phu nhân hỏi: “Linh nhi đâu rồi? Sao ông lại muốn đưa nó lên trên sảnh chào khách?” Chung Vạn Cừu cười nói: “Chúng mình sinh được đứa con xinh đẹp như thế, sao không để cho bằng hữu được thấy qua?” Chung phu nhân đáp: “Bộ ông muốn đem mỡ nhử mèo chăng? Tôi thấy cặp mắt hau háu của gã Vân Trung Hạc cứ lấm la lấm lét nhìn Linh nhi nhà này, ông phải coi chừng y đó.” Chung Vạn Cừu cười hềnh hệch nói: “Ta chỉ coi chừng mình nàng mà thôi. Con người nguyệt thẹn họa nhường thế kia, đứa nào trông thấy mà chả thèm nhỏ dãi?”

    Chung phu nhân chép miệng gọi lớn: “Linh nhi! Linh nhi!” Một con a hoàn chạy lên bẩm: “Con vừa thấy tiểu thư qua đây.” Chung phu nhân gật đầu nói: “Mi đi kêu tiểu thư về đây ta bảo.”.

    Chung Linh ở dưới hầm, tất cả những gì cha mẹ nói với nhau nghe rõ từng câu từng chữ. Khốn nỗi miệng bị nhét đầy đất, không sao la lên được, thật là khó chịu. .

    Chung Vạn Cừu nói: “Nàng nghỉ một lát, ta ra ngoài tiếp khách.” Chung phu nhân lạnh lùng hỏi lại: “Sao ông không nghỉ để tôi ra tiếp khách” Chung Vạn Cừu đáp: “Thôi cả hai vợ chồng cùng ra vậy.” Chung phu nhân nói: “Thế khách muốn nhìn mặt hoa da phấn của tôi hay là muốn nhìn cái mặt ngựa của ông? Bao giờ đến lúc tôi nhìn ông cũng chán ngấy, ông sẽ biết ngay thế nào?

    Mấy hôm nay Chung Vạn Cừu thật là xúi quẩy, nói ra cái gì cũng bị vợ cằn nhằn một chập. Hắn biết vợ trước có tư tình với Đoàn Chính Thuần, bữa nay hoa xưa ong cũ được dịp trùng phùng tránh sao khỏi bồi hồi, khiến lòng người đàn bà sinh ra bực bội. Tuy hắn căm giận vô cùng mà không dám nói lại nửa câu, chỉ cười hề hề đi ra nhà khách, vừa đi vừa nghĩ: “Không biết nàng làm cái gì mà đê hèn vô liêm sỉ cho ta thấy đây? Nàng lại nói đến lúc tôi nhìn ông cũng chán ngấy, như thế nghĩa là hiện giờ nàng chưa chán, cũng không có gì đáng ngại. Chỉ sợ tên cẩu tặc Đoàn Chính Thuần…”

    *Kim Dung chú thích: Về sau tới đời Đoàn Trí Hưng tức Nhất Đăng đại sư, vì tình thế phải chế ngự Âu Dương Phong nên mới phá lệ tổ tiên đem công phu này truyền cho Vương Trùng Dương và bốn đại đệ tử Ngư Tiều Canh Độc. Xin đọc Xạ Điêu Anh Hùng truyện.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Thiên Long bát bộ. Tiểu thuyết của Kim Dung. Tác phẩm được bắt đầu được đăng trên tờ Minh báo ở Hồng Kông và Nam Dương thương báo ở Singapore vào ngày 03-09-1963 đến ngày 27-05-1966, liên tục trong 4 năm. Các Dịch giả: Hàn Giang Nhạn; Đông Hải; Nguyễn Duy Chính. NXB Văn học, 2002.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,163,561

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/