Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,165,872

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Thiên Long bát bộ

Kim Dung

  • Thứ sáu, 10:33 Ngày 11/12/2020
  • Thiên Long bát bộ

    Chung Linh luôn miệng huýt còi, con thiểm điện điêu nhảy từ gã nọ sang gã kia. Chỉ trong chớp mắt nó đã đớp hết cả bốn, gã nào gã nấy lăn ra co quắp giày giụa.

    Bang chúng Thần Nông Bang tuy khiếp sợ nhưng trước mặt bang chúa không dám rụt đầu, bảy tám tên la hét xông ra. Chung Linh gọi to lên: “Đứa nào muốn sống thì đừng lại gần!” Mấy tên này kẻ thì cầm cuốc xuổng, kẻ khác lại cầm đoản đao bản rộng, thảy đều vung lên đón đỡ. Nhưng con chồn nhỏ này còn lẹ hơn ám khí, đao kiếm cứ việc đâm chém, nó vẫn lăn xả vào mà chẳng ai chém trúng. Vèo một cái nó đã đớp trúng, cả bảy tám kẻ địch ngã lăn kềnh.

    Tư Không Huyền vén áo lấy một bình thuốc nước, đổ ra lòng bàn tay, thoa từ khuỷu tay trở xuống, đoạn nhảy ba bước đến trước mặt Chung Linh cùng Đoàn Dự, cất tiếng khàn khàn quát: “Đứng lại!”

    Con thiểm điện điêu từ bàn tay Chung Linh nhảy vọt lên vỗ vào sống mũi Tư Không Huyền. Tư Không Huyền giơ thắng bàn tay lên đỡ, trong lòng vẫn lo thầm: không hiểu thứ thuốc kỵ rắn bí chế của mình đối với con chồn kỳ quái này có ăn thua gì không? Nếu không hiệu nghiệm thì chẳng những tính mạng lâm nguy mà cả Thần Nông Bang cũng bị tan tành. Con chồn há miệng toan đớp vào lòng bàn tay Tư Không Huyền, song đột nhiên quay lộn đầu trở lại, dùng chân sau chống vào bàn tay lão để lấy đà nhảy tót về. Dù cơ thể thiểm điện điêu tích đầy nọc rắn nhưng thứ thuốc kỵ rắn bí chế của Tư Không Huyền cũng cực kỳ linh nghiệm, mùi xông ra mạnh quá, con chồn không chịu nổi. Tư Không Huyền cả mừng đưa tay trái đánh vù một cái, phát ra một luồng gió mạnh ghê gớm, Chung Linh tránh không kịp lảo đảo suýt ngã. Bỗng nghe đánh huỵch một tiếng, thì ra Đoàn Dự bị dư lực luồng gió quạt ngã lăn xuống đất, ngửa mặt lên trời.

    Chung Linh cả kinh, chúm miệng huýt luôn mấy tiếng huy động con thiểm điện điêu xông trận. Con chồn mấy lần cố xông vào nhưng bàn tay Tư Không Huyền đã xát thuốc kỵ rắn, nó phải tìm chỗ khác như đầu, đùi để cắn. Tư Không Huyền múa tít song chưởng để trấn áp con vật không cho đến gần.

    Tư Không Huyền liên tiếp ra lệnh cho thủ hạ. Mấy chục tên đồ đệ kéo ra vây bốn mặt. Tên nào cũng cầm cây, cỏ dược liệu ra đốt, một làn khói đặc bốc lên ngùn ngụt, Đoàn Dự vừa đứng dậy được, đầu nhức lạ thường, tối tăm mặt mũi lại ngã lăn ra. Trong lúc mê man chàng thấy Chung Linh cũng lảo đảo ngã theo. Hai tên thủ hạ bang Thần Nông chạy đến định bắt Chung Linh, thiểm điện điêu cố tình cứu chủ vội xông lại đớp mỗi tên một miếng. Cả bọn vây quanh bốn phía, quát tháo om sòm nhưng không dám xông vào hạ thủ.

    Tư Không Huyền hô: “Mé đông đốt hùng hoàng, mé nam đốt xạ hương! Còn các người ở mé tây bắc giãn ra!”

    Bang chúng vâng lệnh đốt xạ hương, hùng hoàng. Thần Nông Bang có đủ mọi thứ thuốc tốt, cách chế biến lại rất tinh vi. Thứ hùng hoàng, xạ hương này thuần chất và rất mạnh, đốt lên phát ra một luồng khói dày đặc cay xè theo chiều gió đông nam thổi về phía Chung Linh. Chẳng ngờ những thứ thuốc kỵ rắn này không làm gì nổi thiểm điện điêu. Nó vẫn tung hoành lanh lợi như thường, chỉ nháy mắt đớp luôn năm tên.

    Tư Không Huyền bóp trán nghĩ ra một kế, hô lớn: “Xúc đất cho mau, đổ lấp chôn sống con nhãi ranh kia lẫn con chồn!” Thần Nông Bang chuyên nghề kiếm dược liệu lúc nào cũng mang đủ xẻng, cuốc, thúng, mủng, lập tức đào từng khối đất lớn nhằm chỗ Chung Linh hất lên tới tấp.

    Lúc ấy Đoàn Dự nghĩ: tai vạ này tự mình gây nên, nếu Chung Linh bị chôn sống thì mình còn sống làm gì nữa? Chàng hùng hổ nhảy vào ôm lấy nàng, nằm đè lên trên, miệng hô lớn: “Rút cục ai mà chẳng chết!”

    Đất đá đổ xuống ầm ầm lấp lên người chàng. Tư Không Huyền vẳng nghe câu chàng la: “Rút cục ai mà chẳng chết!” không khỏi động lòng, ngó lại hai mươi tên đồng đảng đang nằm quằn quại, trong đó có đến bảy tám tên quan trọng cùng hai sư đệ của mình. Lão nghĩ thầm: nếu giết con nhỏ này đi cho hả giận thì làm thế nào để cứu sống bọn thủ hạ của mình? Nọc độc con chồn này đâu phải tầm thường, chúng khó lòng thoát chết. Trừ phi được chính cô ta cứu chữa cho mới được, ngoài ra không còn cách nào. Nghĩ vậy lão liền truyền lệnh: “Đừng để cho hai đứa này chết ngay, không được lấp kín đầu chúng!”

    Đất đá lấp đến cổ, Chung Linh không còn hơi sức để cử động được nữa, chỉ thấy trên mình bị đè nặng vô cùng. Đoàn Dự ôm lấy nàng, cả hai đành chịu nằm im, đầu còn thò ra nhưng không nhúc nhích được.

    Tư Không Huyền khinh khỉnh hỏi Chung Linh: “Mi muốn sống hay muốn chết?” Chung Linh đáp: “Dĩ nhiên là ta muốn sống. Nếu ngươi sát hại Đoàn đại ca cùng ta thì vô số đứa trong bọn ngươi cũng không sống được đâu.” Tư Không Huyền nói: “Lấy thuốc giải độc của mi đưa ra đây thì ta sẽ tha mạng cho.” Chung Linh lắc đầu nói: “Ngươi tha một mình ta không đủ, phải tha cả hai mạng.” Tư Không Huyền nói: “Thôi được, ta sẽ thả cả hai đứa, thuốc giải độc đâu?” Chung Linh nói: “Hiện trong mình ta không có. Con thiểm điện điêu này độc vô cùng, chỉ có cha ta mới trị được thôi. Trước ta đã bảo ngươi rồi, đừng bức bách ta phải động thủ. Gây ra chuyện lôi thôi, cha ta sẽ quở trách ta thì cái mạng ngươi cũng chẳng tốt lành gì.” Tư Không Huyền cả tiếng mắng: “Con nhãi ranh này! Thân mi đến thế mà còn ăn nói hỗn láo, lão gia mà giận lên sẽ để mi thế này mà chết đói.”

    Chung Linh nói: “Ta đã nói thực mà mi không tin. Ôi thôi! Chuyện này hỏng bét. Không thể che mắt cha ta được đâu, bây giờ biết làm thế nào?” Tư Không Huyền hỏi: “Cha mi tên họ là gì?” Chung Linh đáp: “Ngươi đã bấy nhiêu tuổi đầu mà còn không thông tình lý. Đời nào ta lại nói tên cha ta cho ngươi biết?”

    Tư Không Huyền vùng vẫy giang hồ đã mấy mươi năm, tiếng tăm lừng lẫy trong võ lâm, nay gặp phải hai đứa con nít mà chịu bó tay, không làm gì được.

    Lão nghiến răng thét lên: “Đem lửa ra đây cho ta đốt tóc con nhãi ranh này, xem nó có khai tên cha nó không?” Một tên cầm bó đuốc đưa đến. Tư Không Huyền cầm lấy bước tới.

    Chung Linh nhìn mặt lão dưới ánh lửa bập bùng lại càng hung dữ, nàng sợ phát khiếp la lên: “Trời ơi! Ngươi chớ đốt tóc ta, tóc cháy thì đầu sẽ bị đau lắm. Ngươi không tin thì hãy thử đốt chòm râu dê của người coi!” Tư Không Huyền cũng phải phì cười nói: “Đã đốt là phải đau, hà tất còn phải đốt thử râu nữa?” Lão cầm bó đuốc dứ dứ vào mặt Chung Linh. Chung Linh sợ quá kêu thét lên.

    Đoàn Dự ôm chặt lấy nàng la lớn: “Lão râu dê kia! Chuyện này là tại ta gây ra, ngươi đốt đầu ta đây này!” Chung Linh nói: “Chớ chớ! Đau lắm ngươi không chịu nổi đâu!” Tư Không Huyền nói: “Mi đã sợ đau sao không đưa thuốc giải độc ra để cứu bọn ta?”

    Chung Linh nói: “Ngươi thật là thằng ngốc! Ta đã bảo rằng chỉ có cha ta mới trị nổi nọc độc con thiểm điện điêu, đến mẹ ta còn không hiểu. Ngươi tưởng dễ lắm sao?”

    Tư Không Huyền lại nghe tứ phía đều có tiếng người rên rỉ cực kỳ thê thảm thì nghĩ thầm: đây là loại độc vật kỳ dị, làm nhức nhối phi thường, không thì làm gì bọn hảo hán này phải rên xiết như thế? Cả những khi phải chặt cụt tay chân họ còn có thể nghiến răng chịu đựng. Bọn này đã được đồng bọn đem thuốc trừ rắn độc thoa đắp, song vẫn rên la hoài. Rõ ràng là thuốc của mình chỉ công hiệu với rắn rết, bò cạp, nhện độc, còn đối với con chồn này chẳng ăn thua gì. Lão nghĩ vậy căm giận vô cùng, trừng mắt nhìn Chung Linh quát hỏi lần nữa: “Cha mi là ai? Phải nói cho mau!” Chung Linh đáp: “Người cố tình muốn biết ư ? Thế ngươi không sợ sao?”

    Tư Không Huyền giận lắm, tay lão giờ bó đuốc chỉ còn cách đầu Chung Linh chừng một thước, bất thình lình lão cảm thấy sau gáy nhói lên. Tư Không Huyền sợ hết hồn vội vận khí ra trấn giữ trái tim, vứt bỏ đuốc xuống đất, thò tay phải về phía sau bóp chặt gáy. Bỗng nhiên cườm tay lại thấy tê nhức, thì ra con thiểm điện điêu bị vùi trong đám đất từ nãy, lách mãi bò ra được, nhân lúc kẻ thù của chủ nó không kịp để phòng nhảy đến lớp. Tư Không Huyền liên tiếp bị cắn luôn hai miếng thì chẳng còn hồn vía nào nữa, ngồi xếp bằng xuống đất, vận công trừ độc.

    Thủ hạ trong Thần Nông Bang vội xúc đất đổ lên mình con thiểm điện điêu. Con chồn xông lên đớp ngã một tên nữa rồi chạy trốn, chui vào đám cỏ rậm, chỉ thấy ánh trắng nhấp nháy mấy cái trong bóng tối rồi mất hút.

    Những kẻ tả hữu Tư Không Huyền vội lấy thuốc chữa rắn độc trong uống, ngoài thoa, chạy chữa cho chủ, lại lấy Dã sơn sâm nhét vào miệng cho lão thêm khí lực. Đồng thời Tư Không Huyền đề khí trấn áp hai chỗ vết cắn. Nhưng chỉ một lát không chịu nổi nữa, tay trái lão rút đoản đao ra nghiến răng chém một nhát, cổ tay phải đứt lìa rơi ra. Bọn thủ hạ đều ghê rợn hãi hùng, vội lấy thuốc kim sang rịt vào. Nhưng máu tuôn ra như suối, thuốc rịt vào lại bị trôi đi. Một tên xé vạt áo ra sức buộc chặt cánh tay chủ, máu chảy ra từ từ rồi ngừng hẳn. Thật là: “Muốn ngăn nọc độc, tráng sĩ chặt tay”. Song cổ tay chặt bỏ đi còn được, chứ vết cắn sau gáy thì không thể chặt bỏ đầu.

    Chung Linh thấy cảnh rùng rợn này cũng phải phát khiếp, mặt tái mét, không dám lên tiếng. Tư Không Huyền cất giọng trầm trầm hỏi: “Bị con chồn độc đó cắn thì còn sống được bao lâu?” Chung Linh ấp úng đáp: “Cha tôi nói là chỉ bảy ngày. Nhưng… nhưng Tư Không bang chủ nội lực thâm hậu, võ công hơn người, chắc là… thêm được mấy ngày nữa.”

    Tư Không Huyền hừ một tiếng, sai thủ hạ: “Đem thằng nhỏ ra đây!” Bang chúng vâng lời, bới đống đất đá lôi Đoàn Dự ra. Chung Linh vội kêu lên: “Đừng, đừng! Việc này không can dự gì đến Đoàn huynh, đừng gia hại đến y.” Nàng vừa nói vừa toan vùng dậy. Bọn Thần Nông Bang vội xúc đất lấp lên lỗ hổng chỗ Đoàn Dự khi nãy. Chung Linh lại không cựa quậy được nữa, khóc rống lên.

    Chính Đoàn Dự tuy trong lòng cũng sợ hãi vô cùng nhưng ngoài mặt vẫn gượng trấn tĩnh, mỉm cười nói: “Chung cô nương! Đại trượng phu coi chết như về. Trước mặt đám ác ôn này ta không nên tỏ ra khiếp nhược.” Chung Linh vừa khóc vừa nói: “Ta không phải là đại trượng phu. Ta không coi chết như về đâu. Ta cứ tỏ ra khiếp nhược thì đã sao?”

    Tư Không Huyền vẫn một giọng trầm trầm sai thủ hạ: “Các ngươi lấy Đoạn trường tán cho thằng nhỏ này uống, phân lượng bảy ngày.” Một tên bang chúng lấy ra thứ thuốc tán sắc đỏ bắt Đoàn Dự uống nửa bình. Chung Linh vội kêu lên: “Thuốc độc đó, chớ uống!” Đoàn Dự nghe thấy tên Đoạn trường tán đã biết ngay là thuốc độc, nhưng nghĩ mình đã ở trong tay người, không uống cũng không xong. Chàng thản nhiên cầm lấy uống, còn chép chép miệng cười nói: “Thuốc ngon ngọt lắm. Tư Không bang chủ cũng uống nửa bình chăng?”

    Tư Không Huyền cả giận hừ một tiếng. Chung Linh đang nước mắt ròng ròng cũng phải phì cười nhưng rồi nàng lại bật tiếng khóc ngay.

    Tư Không Huyền nói: “Thuốc đoạn trường tán này uống sau bảy ngày chất độc mới phát tác, làm cho ruột đứt từng khúc mà chết. Bây giờ mi phải đi lấy thuốc giải nọc chồn độc, trong bảy ngày về kịp thì ta sẽ giải độc cho mi.” Chung Linh nói: “Chỉ uống thuốc giải không chưa đủ, phải có cha ta vận nội công mới giải được nọc độc con thiểm điện điêu.” Tư Không Huyền nói: “Nếu vậy y phải mời cho được cha mi tới đây giải cứu mi chứ sao.” Chung Linh nói: “Ngươi nói dễ nghe thế, cha ta có chịu ra khỏi núi bao giờ đâu. Ông ấy đã quyết định không rời khỏi cửa hang nửa bước.” Tư Không Huyền trầm ngâm không nói nữa.

    Đoàn Dự nói: “Thế thì chúng ta kéo cả đến nhà Chung cô nương xin tôn đại nhân giải cứu cho có mau hơn không?” Chung Linh gạt đi: “Không được! Cha ta đã có lời nguyền: bất luận kẻ nào bước chân vào hang núi nhà ta nhất định phải chết.”

    Tư Không Huyền nghĩ thầm: “Chuyện của Vô Lượng Kiếm còn chưa xong, ta làm sao rời nơi đây được. Nếu hỏng việc thì Thiên Sơn Đồng Mỗ trị tội còn thảm hại hơn cả chết.” Y thấy chỗ sau gáy bị chồn cắn mỗi lúc một thêm nhức nhối, ngứa ngáy, nhịn không nổi phải rên lên.

    Chung Linh nói: “Tư Không bang chủ, xin lỗi nhé!”. Tư Không Huyền bực tức đáp: “Xin lỗi cái con khỉ mốc.” Đoàn Dự nói: “Tư Không bang chủ, sao ông lại nói năng với Chung cô nương thô bỉ như thế, mất hết phong độ của người quân tử.”

    Tư Không Huyền quát lớn: “Quân tử cái con bà mày!” Ynghĩ thầm: “Trên người ta đã cấy Sinh Tử Phù rồi, khi phát tác ra khổ sở biết chừng nào, chi bằng chết ngay lúc này cho xong”, bèn dịu giọng nói với Chung Linh: “Ta còn nhiều việc phải làm, ngươi không đi mời cha ngươi được, thôi thì cả bọn cùng chết vậy.” Giọng của y nghe thật thê thảm, quả là “mình lại thương mình xót xa”.

    Chung Linh nghĩ một lúc rồi bảo: “Ngươi thả ta ra để ta viết thư mời cha ta đến đây cứu ngươi. Ngươi cho đứa nào không sợ chết cầm thư đi.” Tư Không Huyền đáp: “Ta bảo thằng nhỏ họ Đoàn này đi, hà tất phải sai ai?” Chung Linh nói: “Ngươi không nhớ gì cả. Ta đã bảo: bất luận kẻ nào hễ bước chân vào nhà ta đều phải chết mà. Ta không muốn Đoàn đại ca chết, nghe chưa?” Tư Không Huyền vẫn lạnh lùng nói: “Y không đáng chết, thủ hạ ta lại đáng chết sao? Tùy bọn người, không đi thì thôi, rồi xem ai chết trước.”

    Chung Linh nghẹn ngào nói: “Lão già râu dê kia! Ngươi bắt nạt trẻ con không biết xấu. Chuyện này giang hồ đồn ra thì ai cũng biết bang chủ Thần Nông Bang hành vi đê mạt, không phải anh hùng hảo hán.”

    Tư Không Huyền chỉ để tâm vận nội công ngăn ngừa nọc độc, không thèm để ý cô ta nữa.

    Đoàn Dự khẳng khái nói: “Chỉ vì ta không ra gì. Chung cô nương ơi, lệnh tôn thấy ta đến gọi đi cứu cô nướng tất không gia hại đâu.” Chung Linh đột nhiên lộ vẻ vui mừng nói: “Ta nghĩ ra một kế. Ngươi đừng nói rõ với cha ta là ta ở đâu, nếu giết người đi thì ông không biết đâu mà tìm ta. Khi người đưa cha ta tới đây rồi phải chuồn đi tức khắc, không thì người sẽ nát ra như cám đó.” Đoàn Dự gật đầu: “Kế đó hay lắm.”.

    Chung Linh nói với Tư Không Huyền: “Tư Không bang chủ, Đoàn đại ca đưa cha ta về đây là phải trốn ngay, làm sao ngươi đưa thuốc giải đoạn trường tán cho Đoàn đại ca được?” Tư Không Huyền trỏ tay về một tảng đá ở góc tây bắc nói: “Ta phái người đem thuốc giải ra chờ ở đó, Đoàn huynh đệ chạy trốn đến phía sau tảng đá này, sẽ có người đưa cho.” Tư Không Huyền thấy Đoàn Dự chịu đi mời người cứu mạng cho bọn lão, cách xưng hô đã đổi ra chiều nhã nhặn. Lão truyền lệnh cho thủ hạ moi Chung Linh ra, lấy xích sắt trói hai tay nàng lại rồi mới cào nốt chỗ đất lấp dưới chân.

    Chung Linh hỏi: “Ngươi không cởi trói tay làm sao ta viết thư được?” Tư Không Huyền đáp: “Con bé điêu ngoa này, việc gì phải viết thư? Lại định giở trò đấy chứ gì? Cô cứ đưa đồ vật gì giắt bên mình cho Đoàn huynh đệ cầm đi làm tin là mời được lệnh tôn ngay.”

    Chung Linh cười nói: “Ta rất ghét viết thư. Ngươi bảo ta khỏi viết thì còn gì bằng? Nhưng ta có vật gì để cầm đi làm tin đâu? À phải! Đoàn đại ca gỡ lấy đôi giày của ta, cha mẹ ta thấy là biết ngay.”

    Đoàn Dự gật đầu, cúi xuống tháo đôi giày của nàng ra, tay trái giở gót chân, thấy bàn chân nàng nhỏ nhắn, vừa cầm tới đã thấy trong lòng rung động, ngửng đầu nhìn lên, hai người nhìn nhau mỉm cười. Trong ánh lửa bập bùng, Đoàn Dự thấy khuôn mặt nàng rạng rỡ, tuy trên má có điểm mấy giọt lệ nhưng ánh mắt đầy vẻ vui tươi, khiến chàng như ngây như dại.

    Tư Không Huyền thấy thế vội giục: “Thôi đi mau, đi mau, hai cô cậu ngắm nhau biết đến bao giờ? Đoàn huynh đệ, ngươi mau đi mời người tới đây, ta sẽ thả cô bé này cho ngươi lấy làm vợ. Sau này ngày rộng tháng dài, ngươi muốn sờ chân nàng suốt đêm cũng được.”

    Đoàn Dự và Chung Linh hai người mặt đỏ bừng, chàng vội cởi đôi giày hoa dưới chân cô gái bỏ vào túi, không nhịn nổi lại liếc Chung Linh một cái, nàng khúc khích bật cười.

    Tư Không Huyền nói: “Đoàn huynh đệ đi chóng mà về. Tính mạng bọn ta nguy trong sớm tối, nếu dọc đường còn xảy chuyện rắc rối là chết ráo. Chung cô nương, từ đây đến quý phủ, vừa đi vừa về mất độ mấy ngày? Chung Linh nhi: “Nếu đi nhanh thì chỉ mất hai ngày là tới, bốn ngày về lại đây.” Tư Không Huyền thấy hơi yên dạ lại giục: “Thôi lên đường đi!”

    Chung Linh nói: “Ta còn phải dặn đường đi lối về cho Đoàn đại ca, các ngươi hãy tránh đi, không ai được nghe trộm đấy nhé!” Tư Không Huyền vẫy tay, bang chúng đều tránh ra. Chung Linh nói: “Cả ngươi nữa, tránh đi cho ta dặn Đoàn huynh!” Tư Không Huyền ngấm ngầm nghiến răng, đứng dậy vừa đi vừa nguyền rủa: Chờ ta khỏi vết thương rồi sẽ liệu tính cho mi. Nếu để mi yên lành chẳng hóa ra Tư Không Huyền này sống uổng hay sao?

    Chung Linh thở dài nói: “Đoàn đại ca, đôi ta vừa gặp gỡ đã phải chia tay rồi.” Đoàn Dự cười nói: “Vừa đi, vừa về bốn ngày có là mấy”.

    Chung Linh nhìn chàng chăm chăm một hồi rồi nói: “Chàng tới nơi phải vào ra mắt mẹ ta, đem chuyện thuật cho người nghe, để mẹ ta nói với cha ta, thế thì dễ hơn.” Nàng giơ ngón chân nhỏ xíu vạch rõ đường lối trên mặt đất. Nhà nàng ở tây ngạn sông Lan Thương, trong hang núi. Kể đường sá cũng chẳng bao xa, nhưng địa thế rất hiểm trở, qua khỏi cửa lại còn mấy ám hiệu, nếu không được chỉ dẫn cặn kẽ thì người ngoài quyết không vào đến nơi được. Đoàn Dự có trí nhớ rất tốt, chàng nghe Chung Linh nói những ngã đường chuyển động qua tây, rẽ nam ngược bắc nhất nhất ghi vào lòng. Chung Linh dặn xong, chàng nói: “Thế là xong rồi chứ? Ta đi nhé!” Nói xong trở gót đi liền.

    Chàng đi được mươi bước, Chung Linh chợt nhớ ra điều gì gọi giật lại: “Chàng hãy trở lại đây!” Đoàn Dự hỏi: “Còn gì nữa?” rồi quay trở lại. Chung Linh dặn: “Chàng chớ nói thực họ Đoàn, nhất là phải giấu kín chuyện cha chàng biết Nhất Dương Chỉ, để… để cha ta khỏi nghĩ ngợi.” Đoàn Dự cười nói: “Được rồi!” Chàng nghĩ bụng cô nương này tuy còn nhỏ tuổi mà bụng dạ thật sâu sắc, cao hứng cất tiếng hát, hiên ngang ra đi.

    *Ở những trường hợp xét thấy cần thiết, chúng tôi đặt lại tên hồi để bạn đọc tiện theo dõi. (ND).

    Hồi 02: Lời nguyền ở Vạn Kiếp cốc

    Lúc đó trời vừa tối, trăng mới mọc. Đoàn Dự nhờ ánh trăng trông về hướng tây tiến bước. Tuy chàng không có võ công nhưng tuổi còn trẻ, sức lực dồi dào, chân thoăn thoắt bước mau. Được chừng mười dặm, đến sau ngọn cao nhất núi Vô Lượng, bỗng nghe tiếng nước chảy róc rách, trước mặt hiện ra một con suối. Chàng đang khát bèn lần đến bờ suối, thấy nước trong xanh, vừa thò tay xuống toan vốc nước uống, chợt nghe phía sau có tiếng ai đạp vào cành cây khô “cách” một tiếng, kế đó là tiếng bước chân của hai người. Đoàn Dự vội vàng nằm phục bên bờ suối, không dám động đậy.

    Chỉ nghe một người nói: “Ở đây có suối, uống xong mình lại đi tiếp.”

    Giọng nghe rất quen, Đoàn Dự nhận ra Can Quang Hào đệ tử của Tả Tử Mục, lại càng không dám cử động. Chỉ thấy hai người đi đến bên trên mé nước, tiếp theo nghe thấy tiếng vục nước và tiếng người uống. Một lát sau Can Quang Hào nói: “Cát sư muội, chúng mình đã thoát hiểm rồi, nàng đi cũng đã mệt, ta ngồi nghỉ một lát rồi hãy đi tiếp.” Có tiếng người đàn bà “ừ” rồi tiếng loạt soạt ở bên bờ suối, hẳn là hai người đã ngồi xuống.

    Lại nghe người đàn bà nói: “Sư huynh, liệu Thần Nông Bang có cho người canh ở chỗ này không?” Nghe giọng hơi run run, xem chừng sợ hãi lắm. Can Quang Hào an ủi: “Sư muội an tâm. Sơn đạo này rất kín đáo, ngay cả trong Đông tông chúng ta cũng chẳng mấy người lui tới, Thần Nông Bang không biết được đâu.” Người đàn bà lại hỏi: “Thế làm sao sư huynh biết được con đường mòn này?” Can Quang Hào đáp: “Cứ năm ngày một lần sư phụ lại dẫn đệ tử đến nghiên cứu khối Vô Lượng Ngọc Bích xem có gì bí ảo, thế nhưng bao năm qua chúng ta chỉ cứ chăm chăm nhìn khối đá này, chẳng nhận ra được điều gì. Sư phụ lão nhân gia nói cái gì người muốn làm nên đại nghiệp thì phải có nghị lực bền bỉ, lại thêm rằng có chí thì nên. Thế nhưng quả thực ta nhìn mãi chán lắm rồi, có khi giả vờ đi đại tiện rồi ra ngoài chạy lăng quăng nên mới tìm ra được đường mòn.”

    Cô gái kia cười khúc khích nói: “Thì ra sư huynh không dụng công, chỉ trốn học đi chơi. Xem ra trong các đồng môn, sư huynh là người kém nghị lực hơn cả.” Can Quang Hào cười nói: “Cát sư muội, năm năm trước tỉ kiếm trên Kiếm Hồ Cung ta đã thua sư muội rồi.” Cô gái ngắt lời: “Thôi đừng nói là thua sư muội. Lúc đó sư huynh giả vờ không đủ nội lực, cố ý nhường cho tiểu muội, người ngoài thì không thấy nhưng chẳng lẽ muội cũng không biết hay sao?”

    Đoàn Dự nghe thấy thế nghĩ thầm: Thì ra người đàn bà này thuộc về Tây tông của Vô Lượng Kiếm.

    Can Quang Hào đáp: “Ta vừa thấy mặt nàng trong lòng nguyện thể nào cũng phải được cùng nhau ăn ở suốt đời. May gặp cơ hội nghìn năm một thuở, Thần Nông Bang đột nhiên đến tấn công, lại thêm có hai đứa nhãi nhép đem con chồn độc đến làm loạn cả lên khiến cho Kiếm Hồ Cung nhốn nháo, hai đứa mình mới thừa cơ bỏ chạy, thế chẳng phải có chí thì nên đó sao?” Cô gái kia cười khúc khích nhỏ nhẹ đáp: “Muội cũng thật là có chí thì nên.” Can Quang Hào nói: “Cát sư muội, nàng tốt với ta như thế, ta sẽ cưng chiều muội suốt kiếp.” Nghe giọng nói thấy y vui sướng không để đâu cho hết.

    Cô gái kia thở dài nói: “Chúng mình phản thầy rủ nhau đi trốn, thật không còn chỗ đứng trong võ lâm nữa. Mình phải đi càng xa càng tốt, kiếm chỗ nào kín đáo mà ở, đừng để sư phụ và đồng môn biết được mới xong. Càng nghĩ đến muội càng sợ.” Can Quang Hào đáp: “Muội chớ lo làm gì. Phen này Thần Nông Bang đã chuẩn bị rồi mới đến, hai phái Đông Tây ngoài huynh và muội ra e rằng chẳng một ai thoát khỏi độc thủ.” Người đàn bà lại thở dài nói: “Cũng mong được vậy.”

    Đoàn Dự nghe xong khí tức xông lên, nghĩ thầm: Hai đứa chúng bay muốn thành vợ chồng, thừa cơ sư môn có nạn mà bỏ trốn thì cũng đành, nhưng sao lại mong sư trưởng đồng môn của mình đều bị độc thủ? Tâm địa chúng bay thật là tàn độc. Chàng nghĩ đến hai người tính tình thâm hiểm như thế, nếu như chúng phát giác ra mình, thể nào cũng biết để diệt khẩu, thành thử đến thở mạnh cũng không dám.

    Cô gái lại nói: “Cái phiến Vô Lượng Ngọc Bích kia có gì kỳ lạ, bên huynh ở đây đã mười năm, không lẽ vẫn chưa có chút manh mối nào?”

    Can Quang Hào đáp: “Mình đã là một nhà, lẽ nào ta còn dối muội sao? Sư phụ nói, nhiều năm trước, lúc đó thái sư phụ của ngu huynh làm chưởng môn Đông tông, những đêm trăng thấy trên bức tường ngọc có hình người múa kiếm, khi thì nam, khi thì nữ, có khi nam nữ đấu kiếm với nhau, đâm chém kịch liệt. Kiếm pháp trên khối ngọc bích đó tinh diệu lắm, thái sư phụ bình sinh chưa thấy bao giờ, dù có nằm mơ cũng không tưởng tượng nổi, hẳn là do thiên tiên biểu diễn. Thái sư phụ ta chỉ mong học được vài chiêu tiên kiếm, thế nhưng kiếm ảnh trên vách núi quá ư kỳ lạ, lanh lẹ lại mờ ảo khi có khi không, chẳng thể nào coi cho rõ được, có muốn học nửa chiêu cũng không xong. Hình ảnh của tiên kiếm có lúc thật khuya mới có, có khi một hai tháng mới thấy một lần. Thái sư phụ mê say kiếm ảnh trên ngọc bích xao lãng cả việc luyện tập kiếm pháp bản môn, cũng lơ là cả việc đốc thúc đệ tử luyện tập nên về sau mới bị Tây tông của muội đánh bại. Cát sư muội, thái sư phụ muội cùng đệ tử vào ở trong Kiếm Hồ Cung rồi có thấy cái gì không?”

    Cô gái nói: “Cứ như sư phụ muội nói, kiếm ảnh trên tường đó thái sư phụ muội cũng thấy, nhưng về sau chỉ thấy một người đàn bà múa kiếm, còn vị nam kiếm tiên kia không thấy đâu nữa. Chắc vì thái sư phụ muội là đàn bà nên chỉ có một nữ kiếm tiên hiện ra chỉ dạy thôi. Thế nhưng mới được hai năm thì vị nữ kiếm tiên kia cũng biến mất. Thái sư phụ cũng nói, thân pháp kiếm pháp của những vị tiên hiện ra trên ngọc bích tuy thật là kỳ diệu, nhưng mơ hồ mông lung, lại quá nhanh không thể quan sát kỹ càng. Bức tường ngọc đó lại cách một vực sâu thành thử muốn liều mạng cũng không đến gần mà coi được. Thái sư phụ tuy được thiên duyên nhưng lại không đủ phúc trạch mà học được nửa chiêu nửa thức dương oai thiên hạ, trong lòng uất ức thế nào không nói cũng biết. Sau khi tiên ảnh biến mất rồi, thái sư phụ muội ngày đêm ở trên đỉnh núi bàng hoàng, chăm chăm xuất thần nhìn vào bức tường ngọc kia, ngày càng tiều tụy, chỉ nửa năm sau thì lâm bệnh mà chết. Khi lâm chung lão nhân gia còn đang ở trên đỉnh núi, tuy hơi thở chỉ còn thoi thóp nhưng vẫn không cho đệ tử đem về Kiếm Hồ Cung. Sư phụ muội kể rằng, khi thái sư phụ tắt thở, hai mắt vẫn còn trừng trừng nhìn vào ngọc bích.” Cô ta ngừng lại một chút rồi nói tiếp: “Can sư ca, huynh nghĩ trên đời này có tiên thật chăng? Hay là hai vị thái sư phụ của huynh và của muội nói thế để đánh lừa người khác?”

    Can Quang Hào đáp: “Nếu bảo hai vị thái sư phụ dựng chuyện đánh lừa đệ tử thì chắc không phải, có được gì đâu. Hơn nữa, ta nghe Thẩm sư bá nói rằng khi người còn nhỏ quả đã chính mắt trông thấy hình ảnh của kiếm tiên. Thế nhưng trên đời này có tiên thật hay không, ta cũng không biết.” Người đàn bà nói: “Hay là có hai vị cao nhân múa kiếm ở trước hồ rồi bóng họ in lên bức tường ngọc đó chăng?” Can Quang Hào đáp: “Hồi đó thái sư phụ đã nghĩ đến. Thế nhưng trước bức tường ngọc là Kiếm Hồ, phía tây hồ lại là vực sâu, hai vị cao nhân kia dù có thể thủy thượng phiêu mà múa kiếm ngay trên mặt hồ thì thái sư phụ cũng phải nhìn thấy rồi. Còn như nếu ở bên bờ hồ mà múa kiếm thì cách xa như thế, cái bóng không thể nào chiếu lên trên ngọc bích được.” Cô gái nói: “Thái sư phụ muội lìa đời rồi, các đệ tử đêm đêm thắp hương lễ bái trước bức tường ngọc, khấn nguyện chỉ mong cái bóng của kiếm tiên hiện ra một lần nhưng không bao giờ thấy nữa. Sư phụ muội chỉ mong được quay lại xem thế nào, nhưng mười năm qua hai lần tỉ kiếm đều thua Đông tông bên huynh cả.”

    Can Quang Hào nói: “Từ nay trở đi, hai đứa mình không còn phân biệt Đông tông, Tây tông gì nữa. Hai tông bây giờ đã hợp làm một…” Chỉ nghe cô gái cười rúc rích, ứ hự mấy tiếng, nói khẽ: “Đừng… đừng làm thế…” Hiển nhiên Can Quang Hào có hành vi sàm sỡ nên cô nàng mới ngúng nguẩy. Can Quang Hào nói: “Muội cứ chiều ta, nếu như sau này ta phụ bạc thì nguyện sẽ biến thành chó ngay ở cạnh hồ này.” Thiếu nữ cười khanh khách, nũng nịu nói: “Nếu huynh là con chó thì có khác gì huynh mắng muội là đồ chó cái?”

    Đoàn Dự nghe đến đây, nhịn không nổi bật cười một tiếng. Tiếng cười vừa ra khỏi miệng, chàng biết ngay là không xong, vội vàng nhỏm lên chạy thục mạng. Phía sau Can Quang Hào quát lớn: “Ai đó?” Rồi tiếng người rầm rập đuổi theo.

    Đoàn Dự kêu khổ, càng ra sức chạy. Chỉ trong giây lát, phía tây lấp loáng ánh sáng, một người đàn bà tay cầm trường kiếm chạy về phía sườn núi hẳn là định chặn đường của chàng. Đoàn Dự kêu lên: “Ôi chao!” liền quay sang hướng đông, trong bụng lẩm bẩm: Nam mô cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm bồ tát, cứu cho đệ tử Đoàn Dự thoát được kiếp nạn này. Tai chàng vẫn nghe thấy tiếng Can Quang Hào đuổi theo rất gấp. Chỉ được một lát Đoàn Dự đã thở hồng hộc, tai nghe Can Quang Hào quát lớn: “Cát sự muội mau chặn sơn khẩu!”

    Đoàn Dự nghĩ thầm: Ta chết cũng không có gì quan trọng, nhưng làm cho cả Chung cô nương cũng không sống nổi, lại thêm bao nhiêu mạng người trong Thần Nông Bang, tội nghiệt thâm trọng. A Di Đà Phật! Quan Thế Âm bồ tát! Chàng lại nghĩ tiếp: “Đoàn Dự ơi là Đoàn Dự, bọn chúng có thành chó cái chó đực gì cũng mặc kệ, có liên can gì đến ngươi? Việc gì ngươi phải cười người ta? Tiếng cười đó chẳng phải là giết đến mấy chục mạng hay sao? Tuyệt sắc mỹ nhân thì một nụ cười mới nghiêng nước nghiêng thành, còn ngươi Đoàn Dự cười thì nghiêng cái quái gì? Nghiêng thùng đổ nước chăng?” Trong bụng tự oán trách như thế nhưng chân không chậm lại chút nào, chẳng cần nhắm hướng cứ xông bừa vào phía rừng sâu rậm rạp.

    Chạy thêm một lúc nữa, hai chân chàng đã mỏi nhừ, hơi thở phì phò, tai bỗng nghe thấy tiếng nước chảy ào ào, gầm rú chẳng khác gì sóng biển. Chàng ngửng đầu lên thấy về phía tây bắc dường như có giải ngân hà lơ lửng giữa trời, chính là dòng thác lớn từ trên sườn núi cao đổ xuống. Phía sau Can Quang Hào kêu lên: “Phía trước là cấm địa phái ta. Mi chỉ chạy mười trượng nữa là chết không có đất mà chôn.” Đoàn Dự nghĩ thầm: Ta không vào cấm địa thì ngươi cũng giết, đã chết thì có đất chôn hay không cũng chẳng hơn kém là mấy. Nghĩ vậy chàng càng chạy nhanh hơn trước. Can Quang Hào lại gọi giật giọng: “Phải đứng lại ngay! Mi muốn chết hay sao? Trước mặt là…”

    Đoàn Dự cười đáp: “Vì ta muốn sống nên mới chạy…” Chưa dứt lời, bất thình lình chân chàng bước hẫng. Chàng đã không có võ nghệ lại đang lúc chạy nhanh nên không dừng lại kịp. Chàng vừa kêu lên một tiếng “chết” thì người đã rơi đến quá mười trượng.

    Chàng đang ở giữa khoảng không, hai tay múa may loạn lên, chỉ mong nắm được vật gì. Thêm mấy trăm trượng nữa, đột nhiên nghe “bình” một tiếng, mông đụng vào một cây cổ tùng mọc xiên từ vách núi ra, thân hình liền bắn trở lên. Lách cách lách cách mấy tiếng, cành cùng to lớn đã gãy lìa nhưng sức rơi xuống đã giảm bớt.

    Đoàn Dự hai tay liền chồm ra, ôm chặt được một cành tùng khác, đánh đu giữa lưng trời, thân mình lắc lư không ngớt. Chàng cúi đầu nhìn xuống, hang núi mây mù che phủ, không thấy đâu là đáy. Chàng đong đưa thân hình chạm được vào sườn núi, hai chân mò được một chỗ tựa, mới hơi bình tâm lại, lần theo vách đá về phía cây tùng, miệng nói: “Ông thông già ơi, may nhờ hôm nay ông đại hiển thần thông, cứu được mạng cho Đoàn Dự này. Tổ tiên ông được Tần Thủy Hoàng trú mưa ngày xưa nên phong cho làm Ngũ Đại Phu. Che mưa so với cứu mạng người thì có đáng gì? Ta sẽ phong cho ông làm Lục Đại Phu, không, phải là Thất Đại Phu, Bát Đại Phu mới xứng.”

    Chàng xem kỹ thấy vách đá có một khe nứt lớn, nếu may mắn có thể leo xuống được. Chàng thở một hồi rồi nghĩ thầm: “Can Quang Hào và Cát sư muội của y chắc nghĩ mình đã nát như tương rồi, đâu có ngờ mình được Bát Đại Phu cứu. Giờ này chắc bọn chúng đã bỏ xuống dưới núi, hai người đang chàng chàng thiếp thiếp, Đông tông Tây tổng hợp thành một rồi. Dưới đáy sơn cốc này chắc nguy hiểm lắm, nhưng nếu số chết thì ở đâu cũng chết thôi. Biết đâu được Quan Thế Âm bồ tát phù hộ mà không chết.”

    Chàng men theo khe đá, từ từ tuột xuống. Cái khe đó có rất nhiều đá và cây cỏ nên không bị trượt, nhưng quần áo chân tay bị xé rách bầm dập lung tung. Hang núi tưởng như vô cùng vô tận, mãi chàng vẫn chưa xuống được tới đáy hang. May sao càng xuống sâu, vách núi càng thoai thoải không còn thẳng đứng như trước, chàng bèn ngồi phệt xuống vừa trượt vừa lết từ từ nên nhanh hơn nhiều.

    Tiếng thác nước ì ầm mỗi lúc một lớn khiến chàng không khỏi kinh hãi, nghĩ thầm: Nếu dưới này nước chảy xiết thì thật là nguy hiểm. Bỗng thấy những giọt nước như mưa rào bắn tung lên đập cả vào mặt mũi rát rạt.

    Đoàn Dự không thể suy tính nữa, chỉ khoảnh khắc đã xuống đến đáy khe. Chàng đứng thẳng người lên, bất giác cất tiếng khen: Đẹp quá! Bên tả sườn núi, thác nước lớn trắng phau, trông tựa như một con rồng lơ lửng trên không, cuồn cuộn đổ xuống một cái hồ trong vắt. Tuy thác nước đổ xuống suốt ngày đêm mà hồ vẫn không tràn, hẳn có chỗ thoát nước đi. Trên mặt hồ chỉ chỗ thác đổ vào là sóng vỗ bập bềnh, còn cách từ mười trượng lại phẳng như một tấm gương khổng lồ. Dưới đáy hồ còn có một vầng trăng vằng vặc, do ánh trăng phản chiếu.

    Đứng trước phong cảnh kỳ tuyệt của tạo hóa, Đoàn Dự ngây người mà nhìn đến ngơ ngẩn xuất thần. Lát sau chàng mới nhìn chếch sang bên: trên bờ hồ những bụi hoa trà trùng điệp, lung linh trong đêm. Hoa trà Vân Nam nổi tiếng đệ nhất thiên hạ, Đoàn Dự vốn đã yêu thích, ngờ đâu lâm cảnh hiểm nghèo lại được thấy nhiều. Chàng đến xem kỹ, lẩm bẩm: “Nơi đây hoa trà mọc nhiều, nhưng cũng bình bình. Chỉ có vài khóm Vũ Y Nghê Thường là đẹp hơn ở nhà ta. Còn mấy bụi Bộ Bộ Sinh Liên toàn là thứ phẩm.”

    Chàng ngắm hoa một hồi rồi ra bờ hồ vốc nước lên uống. Nước hồ mới ngon ngọt làm sao, uống tới đâu thấy mát mẻ tới đó. Tinh thần đã tỉnh táo, chàng nhớ đến công việc cần kíp, phải mau tìm lối ra.

    Bờ hồ này hình bầu dục, có đến phần nửa ẩn vào các bụi cây um tùm, Đoàn Dự quanh về mé đông đi hết một vòng, được chừng ba dặm. Mé đông nam cũng như mé tây bắc, sườn núi đều dựng đứng, tuyệt không có đường nào ra được. Duy chỗ chàng rơi xuống vừa rồi là sườn núi tương đối thoải hơn cả, ngoài ra không còn nơi nào có thể trèo lên được. Chàng ngửng đầu lên thấy mây mù che phủ miệng hang, xuống đã biết bao gian nan, nghĩ đến việc trèo lên lại càng ngán ngẩm, nghĩ thầm: Dù người võ công tuyệt đỉnh cũng chưa chắc đã lên được. Có hay không có võ công thì cũng thế thôi.

    Khe núi im lặng như tờ, đừng nói vết chân người, ngay vết chân loài dã thú cũng không thấy. Thỉnh thoảng chỉ nghe tiếng chim kêu từ xa vẳng lại. Nhìn cảnh tượng này, Đoàn Dự lại buồn thiu. Chàng nghĩ thầm: dù mình chết đói ở đây cũng chẳng sao nhưng chỉ sợ Chung cô nương thiệt mạng, còn cha mẹ mình sẽ ngày đêm khắc khoải nhớ thương.

    Chàng ngồi phịch xuống bên bờ hồ rầu rĩ, bụng chưa biết tính sao. Trong khi thất vọng lòng nảy ra ảo tưởng: Giá như biến được thành con cá, theo thác nước bơi ngược lên thì may ra mới thoát khỏi vách đá dựng đứng này. Chàng đưa mắt nhìn theo dòng nước từ dưới đi lên, thấy bên phải của dòng thác có một vách đá nhẵn bóng, sáng loáng như ngọc, nghĩ thầm muôn ngàn năm trước chắc dòng thác lớn hơn bây giờ nhiều, qua không biết bao nhiêu thời gian mới mài cho nửa bên vách đá thành nhẵn nhụi đến thế, về sau lượng nước giảm ít mới lộ ra phiến đá lưu ly khiến cho vách núi trong như một mặt gương.

    Lúc đó chàng nhớ lại những lời mà Can Quang Hào và Cát sư muội của y nói chuyện, nghĩ thầm: Xem ra đây chính là cái mà họ nói là Vô Lượng Ngọc Bích rồi. Họ kể lại năm xưa các chưởng môn Đông tông, Tây tông của Vô Lượng Kiếm thường nhìn thấy trên vách núi này bóng các vị tiên hiện ra trong những đêm trăng. Ngọc bích này dựng đứng bên cạnh cái hồ, nếu có kiếm tiên thì phải nổi trên mặt hồ, còn không phải ở bờ hồ phía đông mà múa kiếm thì bóng mới chiếu lên trên đó được. Thế nhưng phía đông cũng lại là vách đá thẳng tắp phản chiếu ánh sáng, nếu không có ánh trăng thì không thể có bóng người. A, đúng rồi, chắc tại mặt hồ có chim bay qua lượn lại, bóng nó chiếu lên trên vách núi, nhìn xa thấp thoáng thì thấy thân pháp linh động, vừa nhanh nhẹn, vừa kỳ lạ. Bọn họ trong đầu đã có chủ ý nên tưởng là tiên đang múa kiếm, mờ mờ tỏ tỏ không nhìn thấy rõ vì sao nên phải đi vào ma đạo.

    Chàng nghĩ ra rồi không khỏi bật cười. Từ lúc ăn uống ở trong Kiếm Hồ Cung tới giờ cũng đã bảy tám canh giờ nên bụng đói meo, thấy bên bờ hồ có một lùm cây đầy trái xanh xanh đỏ đỏ nên đến hái một chùm, cho vào miệng nhai thử thấy chua lè, nhưng đang đói nên cũng đành ăn luôn một hơi đến hơn chục chùm mới lưng lửng dạ, thấy toàn thân xương cốt mỏi nhừ nên lăn ra cỏ nằm thiu thiu ngủ.

    Chàng ngủ một giấc thật say, đến khi tỉnh dậy mặt trời đã ngả về tây, mặt hồ hiện ra một hình cầu vồng, đẹp không tả được, Đoàn Dự biết rằng bụi nước từ thác nước bắn lên gặp ánh mặt trời chiếu vào nên hiện ra cầu vồng, nghĩ thầm mình tuy sắp chết nhưng được thưởng thức cảnh đẹp thiên nhiên, phúc lộc không phải nhỏ. Được chết dưới bóng hoa nơi bờ hồ thật phong lưu biết bao, ánh hồ sáng loáng diễm lệ, chỉ hiềm hoa trà không phải là giai chủng nên có phần mỹ trung bất túc.

    Hồi lâu chàng tự nhủ: Chẳng qua tại mình hoảng hốt chưa tìm ra mà thôi, thế nào cũng có con đường nhỏ phía sau rừng cây kia. Nghĩ vậy chàng cao hứng, vừa cất tiếng hát vang, vừa men theo bờ hồ để tìm lối ra. Lần này Đoàn Dự men theo bờ hồ xem xét kỹ càng, lách cả vào những nơi âm u, rậm rạp. Song sau bao nhiêu đám hoa cỏ, cây cối um tùm, chỗ nào cũng vách đá kiên cố, dựng đứng lên cao ngất trời. Đừng nói lối ra, cả đến một hang dã thú hay một lỗ rắn chui cũng không có.

    Giọng hát mỗi lúc một khản, đầu óc mỗi lúc một tối. Chàng đi một vòng về đến chỗ thác nước thì cặp giò đã mỏi nhừ, ngồi phịch xuống đất, vẻ mặt bơ phờ mệt nhọc, lại nghĩ thầm: Chung cô nương vì cứu ta mà chết oan.

    Nghĩ đến Chung Linh, chàng thò tay vào túi lấy đôi giày hoa ra ngắm nghía, hình dung đôi chân bé nhỏ, khuôn mặt xinh xắn của nàng, nhịn không nổi đưa đôi giày lên miệng hôn một cái rồi lại bỏ vào túi, nghĩ thầm: “Phen này ta chắc không thoát chết được rồi, Chung cô nương cũng bỏ mạng. Giá như nàng cũng ở đây, hai đứa chết chung bên bờ hồ này thì đẹp biết bao. Chỉ tiếc nàng giờ đây lại ở bên cạnh lão râu dê Tư Không Huyền thật là chán ngắt. Lúc này ta đang nghĩ đến nàng chắc hẳn nàng cũng đang nghĩ đến ta.”

    Chàng không có việc gì làm đành đi hái mấy quả chua kia ăn tạm, bỗng nghĩ ra: Chỗ nào mình cũng tìm hết rồi, chỉ còn chỗ này chưa mò đến, không chừng sờ sờ trước mắt mà không thấy. Chàng liền vạch bụi cây ra, lập tức lắc đầu. Đằng sau bụi cây chỉ là một vách núi trơ trơ, bám đầy dây leo, làm gì có lối nào ra? Thế nhưng phiến thạch bích đó phẳng lạ thường, chẳng khác gì một tấm gương đồng nhưng so với vách đá bên phía tây thì nhỏ hơn nhiều, trong lòng chợt động: Hay đây mới thực là Vô Lượng Ngọc Bích? Chàng bèn gỡ hết các dây leo bám trên phiến đá, nhưng chỉ thấy mặt đá phẳng lì, tuyệt nhiên không có gì khác lạ. Chàng nghĩ bụng: Ta chết nơi thâm cốc này vĩnh viễn không ai hay biết, chi bằng khắc vài chữ trên phiến đá này. À, khắc tám chữ “Đại Lý Đoàn Dự Chết Tại Nơi Đây” xem ra cũng thú.

    Chàng bèn dọn sạch đám dây leo bám trên mặt đá, cởi trường bào ra, xuống dưới hồ nhúng nước, đem lên rửa thật sạch cho hết rong rêu khiến phiến đá đó trở nên trắng bóng như ngọc. Chàng nhặt một hòn đá nhọn kẽ chữ lên trên thạch bích, thế nhưng vách đá cứng rắn lạ thường, một hồi lâu mới xong một chữ “Đoàn” vừa cạn vừa méo xẹo chẳng ra gì. Chàng nghĩ thầm: Người sau nhìn thấy sẽ cho rằng Đoàn Dự không biết viết chữ, viết hết tám chữ này chắc để tiếng xấu đến muôn đời! Chàng thấy cổ tay mỏi nhừ, đau nhức nên liệng hòn đá đi không viết nữa.

    Đến khi trời tối, chàng lại ăn thêm ít trái cây dại rồi nằm xuống ngủ. Trong giấc mơ chàng thấy một đôi giày bay qua lượn lại trước mắt, vải xanh thêu hoa vàng, chính là đôi giày của Chung Linh, vội vươn tay ra cầm lấy nhưng đôi giày chẳng khác gì đôi bướm, chập chờn lên xuống không sao bắt được. Một lúc sau, đôi giày bay mỗi lúc một cao, Đoàn Dự kêu lên: “Giày kia đừng bay nữa.” Chàng bàng hoàng tỉnh dậy thì mới biết là mộng, giơ tay dụi mắt, sờ thấy đôi giày hoa vẫn còn trong túi bèn đứng lên ngửng đầu nhìn. Ánh trăng vằng vặc, chiếu xuống chẳng khác gì dát bạc lên mặt hồ. Đột nhiên chàng giật mình thấy ở bức vách bên kia có một bóng người.

    Chàng kinh hãi không để đâu cho hết, nhưng cũng xiết đỗi vui mừng, kêu lên: “Các vị tiên ơi! Cứu tôi với!” Hình người kia hơi rung động nhưng không trả lời. Đoàn Dự định thần, chăm chú nhìn kỹ bóng người kia không rõ ràng mấy, chỉ thấy áo dài, khăn nho sinh quả là một người đàn ông. Chàng vội vàng tiến lên mấy bước đến bên cạnh hồ kêu to: “Tiên ông ơi, cứu tôi với!” Bóng người trên vách ngọc lắc lư mấy cái, lớn thêm lên nhiều. Đoàn Dự đứng lại, cái bóng đó cũng không di chuyển nữa.

    Chàng ngạc nhiên lập tức hiểu ra: Thì ra đó là bóng của chính mình! Chàng nghiêng qua trái, cái bóng đó cũng nghiêng qua trái, chàng bước qua phải cái bóng trên vách núi cũng qua phải, không còn hoài nghi gì nữa, nhưng vẫn còn điều chưa hiểu được: Vầng trăng từ tây nam chiếu qua làm sao lại chiếu được bóng ta lên bức tường trước mặt nhỉ?

    Chàng quay đầu lại thấy chữ Đoàn chàng khắc lúc ban ngày cũng có một cái bóng in lên trên thạch bích, chữ đó bé nhưng rõ nét hơn nhiều. Chàng nghĩ ra ngay: Thì ra ánh trăng chiếu bóng của ta lên trên phiến đá trước, sau đó mới rọi lên trên vách núi, chẳng khác gì mình đứng giữa hai tấm gương, tấm gương lớn phản ánh hình của ta trên tấm gương nhỏ.

    Chàng suy nghĩ thêm một chút, hiểu ra ngay cái “ngọc bích tiên ảnh” của Vô Lượng Kiếm mấy chục năm qua chẳng có gì thần kỳ: Năm xưa quả có người đứng đây múa kiếm, bóng chiếu lên trên bức vách đá. Đầu tiên có một nam một nữ, sau đó người đàn ông bỏ đi đâu hay chết rồi không biết, chỉ còn người đàn bà ở lại u cốc này tịch mịch cô đơn, mấy năm sau cũng từ trần. Chàng nghĩ đến giai nhân cô độc, sống vò võ nơi hang sâu, uất hận mà chết không khỏi ngậm ngùi.

    Thế nhưng sau khi hiểu được lý lẽ đó rồi, nỗi buồn biến mất không còn tăm hơi đâu nữa. Chàng huơ tay múa chân, tay đấm chân đá, nghĩ thầm: “Giá như Tả Tử Mục, Song Thanh hai người đang ở trên mỏm núi kia bỗng thấy ngọc bích có hình ta hiện ra, chắc tưởng là đang biểu diễn võ công thần kỳ, thể nào chẳng hết sức cố gắng học, vùi đầu nghiên cứu để truyền cho hậu thế, ha ha…” Chàng càng nghĩ càng khoái chí, nhịn không nổi cười lên sằng sặc.

    Cười chán chê rồi, chàng bỗng nghĩ ra một việc: Hai vị tiền bối kia ngày xưa thường thường luyện kiếm cùng nhau, nếu như không sống ngay dưới đáy vực này thì phải có đường đi ra đi vào. Dù cho hai người võ công cao đến đâu nhưng leo lên leo xuống để múa kiếm thì thật là phiền toái, một hai lần còn được chứ ngày nào cũng làm thì xem ra không ổn. Chàng bỗng thấy một tia hi vọng trước mắt, nghĩ thầm: “Ngày mai mình sẽ cố gắng tìm đường ra. Gã Can Quang Hào đã chẳng nói có chí thì nên đấy ư? Ha ha! Ha ha! Y lập chí quyết lấy cho bằng được Cát sư muội làm vợ, còn ta lập chí phải thoát khỏi nơi đây.”

    Chàng ngồi ôm gối, thản nhiên nhìn ánh trăng trên mặt hồ, bốn bề thanh tĩnh, nghĩ thầm: “Có chí thì nên”, câu đó tuy không phải là sai nhưng Khổng Phu Tử lại nói: “Người biết không bằng người hiền, người hiền không bằng người vui”. Câu này xem ra hợp với bụng ta hơn. Cha mẹ ta vẫn bảo ta là si nhi, từ thuở bé đã thích cái gì là mê mẩn điên cuồng. Năm bảy tuổi, ta mê một cây hoa trà Thập Bát Học Sĩ, ngắm từ sáng đến tối, đến nửa đêm còn len lén trở dậy nhìn ngơ ngẩn, bỏ ăn bỏ uống quên cả học hành, đến khi hoa tàn khóc mấy ngày chưa thôi. Lúc ta học đánh cờ cũng không ăn không ngủ, suốt ngày suốt đêm chỉ nghĩ đến bàn cờ, chẳng còn thiết gì khác. Một hôm kia gia gia bảo ta luyện võ, thế nhưng lúc đó ta đang nghiên cứu Dịch Kinh, ngay cả khi ăn cơm giơ đũa ra gắp đồ ăn cũng nghĩ phương vị chiếc đũa bên này là Đại Hữu hay là Đồng Nhân. Ta không chịu học võ, không hiểu vì không muốn bỏ Kinh Dịch qua một bên hay thực sự không thích cái môn đánh nhau giết người này? Cha ta bảo ta cưỡng từ đoạt lý, chắc hẳn ta có cãi chày cãi cối thật không chừng. Mẹ ta hiểu bụng dạ tính nết ta lắm mới khuyên gia gia: Thằng con si này một mai thích học võ rồi, ông có bảo nó bớt luyện đi một chút, nó cũng chẳng nghe đâu. Bây giờ nó không chịu học, cứng đầu không chịu có ép cũng không xong. Ôi! Bảo ta lập chí làm điều gì quả là khó, nếu như một ngày nào đó ta mê luyện võ thì gia gia, má má, bá phụ hẳn sung sướng biết bao nhiêu. Ta luyện võ cho giỏi rồi, không đánh ai cũng chẳng giết ai, luyện võ đâu phải chỉ là để giết người. Bá phụ võ công cao cường biết bao nhưng tính tình nhân từ, chắc xưa nay chưa giết ai. Có điều ông ấy mà muốn giết thì đâu cần phải tự ra tay?

    Chàng ngồi bên bờ hồ, đầu óc suy nghĩ miên man không biết thời gian trôi qua, bỗng chợt thấy vách đá bên cạnh dường như có màu sắc di động, nhìn kỹ thấy bên dưới chữ Đoàn chàng khắc có bóng một thanh kiếm rõ ràng lạ thường, có cả cán, cả miếng che tay, thân kiếm, mũi kiếm mọi thứ đều đâu ra đấy. Mũi kiếm nghiêng nghiêng chỉ xuống, còn thanh kiếm có màu cầu vồng tỏa ra, lấp loáng chuyển động không ngừng. Chàng lấy làm lạ tự hỏi: Sao bóng thanh kiếm lại hiện màu cầu vồng? Chàng ngửng đầu lên nhìn nhưng không thấy vầng trăng đâu, thì ra bóng nguyệt đã chìm về phương tây, ẩn ở đằng sau vách núi rồi. Thế nhưng vách núi đó có một lỗ hổng, ánh trăng theo đó mà rọi xuống, trong hang có ánh sáng lấp lánh. Chàng vỡ lẽ ra: Đúng rồi. Thì ra trên vách núi kia có treo một thanh kiếm, trên thanh kiếm này có nạm các loại bảo thạch đủ màu, ánh trăng chiếu vào in hình thanh kiếm và các loại châu báu đủ màu sắc thành ra mới rực rỡ đến thế.

    Chàng nghĩ tiếp: Như thế ắt phải đục được lưỡi kiếm ra rồi nạm bảo thạch cho ánh trăng chiếu qua mới thành hình đủ màu. Còn như không đục được lưỡi kiếm thì ánh trăng đâu có thể chiếu xuyên qua bảo thạch. Người chế tạo ra chiếc kiếm quái lạ này thật tốn nhiều công sức.

    Cái hang đó cách mặt đất đến mấy chục trượng không thể trèo tới mà xem cho kỹ được, từ dưới trông lên, chỉ thấp thoáng thấy ánh sáng của mấy viên đá quí chiếu lên vách đá vừa huyền ảo, vừa đẹp đẽ, nhìn mà mê mẩn tâm thần.

    Chàng chỉ mới xem được chừng thời gian uống một chén trà, ánh trăng đã di động, cái bóng đó mờ dần rồi biến mất, vách đá chỉ còn một màu trắng bệch. Đoàn Dự nghĩ thầm: Thanh bảo kiếm đó chắc là của hai vị cao nhân kia. Sơn cốc hiểm sâu thế này, người của phái Vô Lượng Kiếm chẳng một ai dám mạo hiểm trèo xuống xem xét, cứ đứng trên đỉnh núi thì đâu có thấy được phiến đá nhỏ, cũng không thấy cái hang trên bức vách bên kia có treo một thanh kiếm. Họ có đứng ngơ ngẩn trên đầu núi một trăm năm nữa thì cũng không sao hiểu được cái bí mật này. Thế nhưng lấy được thanh bảo kiếm kia thì có ích lợi gì? Chàng nghĩ ngợi một hồi rồi ngủ thiếp đi.

    Ngủ một lúc đột nhiên chàng choàng tỉnh dậy, nghĩ thầm: Treo được thanh kiếm trên bức tường đá kia quả là khó khăn, dẫu võ công có cao cường đến đâu cũng không dễ gì làm được. Xếp đặt mất nhiều công lao như thế, phải có thâm ý gì. Hẳn là trong cái hang này còn cất giấu võ học bí kíp chi đó. Chàng nghĩ đến võ công thấy không còn gì hứng thú. Bí kíp võ công kia bọn Vô Lượng Kiếm coi là quí giá chứ còn như ta, dù có để ngay trước mặt ta cũng chẳng thèm liếc mắt đến làm gì.

    Hôm sau chàng lại đi men quanh hồ, tính ra từ hôm rơi vào cái vực này đã đến ngày thứ ba, nghĩ thầm chỉ còn bốn ngày nữa, chất kịch độc của đoạn trường tán trong ruột phát tác, lúc đó có tìm được lối ra cũng thành vô dụng.

    Hôm đó chàng ngủ đến nửa đêm liền tỉnh dậy, đợi cho bóng trăng chếch về phương tây. Đến khoảng canh tư, ánh trăng chiếu vào hang núi, lại chiếu lên trên thạch bích hình thanh kiếm đủ màu. Chỉ thấy thanh kiếm trên bức vách nghiêng sang hướng bắc, mũi kiếm chỉ đúng vào một khối đá lớn. Đoàn Dự trong lòng chợt động: Không lẽ khối nham thạch này có gì khác thường? Chàng đi đến bên tảng đá đẩy thử, tay chạm vào rêu xanh trơn tuột nhưng khối đá dường như hơi lắc lư. Chàng ra sức đẩy cả hai tay, lại thấy tảng đá rung rinh. Khối đá đó cao đến ngực, không đến hai nghìn cũng phải một nghìn cân, nếu là một tảng đá bình thường thì không thể nào làm cho nó nhúc nhích được. Chàng đưa tay mò dưới đáy thì ra tảng đá này không sát đất mà kê trên một tảng đá nhỏ hơn, không biết trời sinh như thế hay là do người sắp đặt. Tim chàng đập thình thành nghĩ thầm: Khối đá này quả có điều gì khác lạ.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Thiên Long bát bộ. Tiểu thuyết của Kim Dung. Tác phẩm được bắt đầu được đăng trên tờ Minh báo ở Hồng Kông và Nam Dương thương báo ở Singapore vào ngày 03-09-1963 đến ngày 27-05-1966, liên tục trong 4 năm. Các Dịch giả: Hàn Giang Nhạn; Đông Hải; Nguyễn Duy Chính. NXB Văn học, 2002.

    Bản điện tử của truyenkimdung.net/thien-long-bat-bo.html

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,165,872

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/