Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,164,834

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Thiên Long bát bộ

Kim Dung

  • Thứ sáu, 10:31 Ngày 11/12/2020
  • Thiên Long bát bộ

    Giới thiệu của Wikipedia:

    Thiên Long bát bộ (giản thể: 龙八部; phồn thể: 天龍八部; bính âm: Tiān Lóng Bā Bù) là một tiểu thuyết võ hiệp của nhà văn Kim Dung. Tác phẩm được bắt đầu được đăng trên tờ Minh báo ở Hồng Kông và Nam Dương thương báo ở Singapore vào ngày 3 tháng 9 năm 1963 đến ngày 27 tháng 5 năm 1966, liên tục trong 4 năm. Nội dung "Thiên long bát bộ" thấm đượm tinh thần Phật giáo mà Kim Dung vốn ngưỡng mộ, tiếng nói của Phật giáo trong tác phẩm vừa dịu dàng sâu lắng vừa thật hiển minh, quán xuyến từ đầu chí cuối tác phẩm. Các nhân vật chính trong tiểu thuyết được dựa trên Bát bộ chúng, là tám loài hữu tình trong thần thoại Phật giáo bao gồm: Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La và Ma Hầu La Già.

    Cuối năm 2004, nhà xuất bản giáo dục nhân dân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã đưa tác phẩm Thiên long bát bộ vào sách giáo khoa lớp 12. Bộ Giáo dục Singapore cũng làm như vậy đối với các trường cấp 2, 3 sử dụng tiếng Trung Quốc. Thiên long bát bộ cũng đã được chuyển thể thành phim truyền hình nhiều lần bởi cả các nhà sản xuất Trung Hoa đại lục và Hồng Kông.

    Tên gọi "Thiên long bát bộ" được tác giả Kim Dung lấy dựa theo kinh Phật Đại Thừa. Trong đó chỉ ra rằng "Thiên long bát bộ" là tám loài hữu tình trong thần thoại Phật giáo. Trước kia họ hung ác, sau được Phật chuyển hoá thành những thần vật hộ trì phật pháp.

    Tuy tựa đề của Thiên Long bát bộ xuất phát từ Phật giáo, nhưng nội dung của bộ truyện lại hoàn toàn kể về mối quan hệ giữa người với người (Kiều Phong, Hư Trúc, Đoàn Dự, A Tử, Vương Ngữ Yên,...) về cái phức tạp và đa dạng của con người trong xã hội. Kim Dung mượn tên tám loại phi nhân sức mạnh hơn người, mang hình dáng giống người nhưng không phải là người để ám chỉ từng nhân vật trong bộ truyện. Tám loại phi nhân đó là: Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Gia. Tám loài này do Thiên và Long đứng đầu nên trong kinh Phật được gọi là "Thiên Long bát bộ".

    Thiên: là thiên thần (Deva), đứng đầu bởi Đế Thích. Thiên thần trong Phật giáo vẫn còn trong cõi sinh tử, có sống có chết, có tất cả mười hai thiên thần quan trọng nhất tượng trưng cho tám hướng và bốn tinh thể của vũ trụ: mặt trời, Mặt Trăng, bầu trời và mặt đất

    Long: là rồng (Naga) nhưng không có chân, trông giống như một con mãng xà lớn, là chúa tể các loài trong nước. Kinh Phật kể rằng một con rắn tên là Mucilinda da cuộn thành một cái tàn che cho đức Phật nhập định trong một cơn giông bão.

    Dạ Xoa: (Yaksha) quỷ thần (thần ăn được quỷ), có thể tốt hoặc xấu. Dạ Xoa Bát Đại tướng có nhiệm vụ bảo hộ chúng sinh

    Càn Thát Bà: (Gandharva) nhạc thần thân thể tỏa mùi thơm, phục thị Đế Thích, không ăn thịt, không uống rượu

    A-tu-la: (Asura) tuy có phước báo lớn nhưng hay ganh tị với chư Thiên nên thường đem quân gây chiến thường bị thua, rất đau khổ không được vui sướng mặc dù có thể giàu có nhưng bị tâm ganh ghét đố kị làm cho đau khổ

    Ca Lâu La: (Garuda) chim đại bàng cánh vàng đầu có một cái bướu to gọi là Như Ý Châu, tiếng kêu bi thảm, được người Trung Hoa bản địa hóa thành Đại Bàng Kim Sí Điểu. Ca Lâu La thích ăn rồng, khi chết chất độc xông lên cháy tiêu thành tro, chỉ còn một trái tim xanh biếc

    Khẩn Na La: (Kinnara) nhạc thần của Đế Thích, đầu có sừng, giỏi múa hát

    Ma Hầu La Gia: (Mahoràga) là thần rắn, mình người đầu rắn

    Các hồi

    Thiên long bát bộ có 50 hồi, tên các hồi hợp lại thành 5 bài từ, mỗi bài từ bao gồm tên của 10 hồi.

    Kim Dung đã chỉnh sửa truyện này 3 lần, lần gần nhất là vào năm 2009. Có tổng cộng 50 hồi.

    Câu chuyện xoay quanh mối quan hệ phức tạp giữa nhiều nhân vật đến từ nhiều nước khác nhau: Kiều Phong, Đoàn Dự, Hư Trúc. Với tác phẩm này, Kim Dung muốn nói đến mối quan hệ nhân - quả giữa chính bản thân các nhân vật với gia đình, xã hội, dân tộc, đất nước. Câu chuyện xảy ra vào thời Bắc Tống và còn bao gồm các cuộc chiến tranh giữa nhà Tống, Đại Lý, Đại Liêu, Thổ Phồn và Tây Hạ.

    Tiêu Phong

    Tiêu Phong (Kiều Phong) là người trong Cái Bang. Với võ công cao cường và nhiều công trạng, dần dần uy tín của chàng lên cao. Khi bang chủ Cái Bang qua đời, chàng được phong làm bang chủ Cái Bang, sở hữu Hàng long thập bát chưởng và Đả cẩu bổng pháp. Lúc này trong giang hồ có câu nói Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung để nói rằng uy tín của Tiêu Phong đã nổi khắp miền Trung Nguyên.

    Trong một lần khi các trưởng lão muốn phế chức bang chủ của chàng, Tiêu Phong đã biết được nguồn gốc thật của mình. Ba mươi năm về trước, cha của chàng Tiêu Viễn Sơn bị mai phục bởi các cao thủ võ lâm nước Tống tại Nhạn Môn Quan, vợ bị giết hại, ông phải nhảy xuống vực tự vẫn và bỏ lại đứa con nhỏ là Tiêu Phong.

    Khám phá rằng việc mai phục là sai, các cao thủ hối hận và gửi Tiêu Phong cho một gia đình họ Kiều nuôi dưỡng và dặn không được nói cho Tiêu Phong biết, vì thế chàng có tên là Kiều Phong. Vào năm 7 tuổi, trong một lần đi kiếm củi chàng bị chó sói tấn công, may có một vị hòa thượng Thiếu lâm pháp danh Huyền Khổ cứu giúp và đón về Thiên Âm Tự. Tiêu Phong lớn lên được đón về Cái Bang.

    Sự thật đã khiến Kiều Phong (nay là Tiêu Phong) tức giận và từ bỏ chức Bang chủ Cái Bang. Sau đó, nhiều vụ mưu sát bí hiểm xảy ra (trong số người bị hại có cha mẹ nuôi và sư phụ dạy võ cho Tiêu Phong ở chùa Thiếu Lâm) và giới giang hồ đều cho rằng đó chính là do Tiêu Phong.

    Để tự minh oan cho mình, Tiêu Phong quyết đi tìm kẻ chủ mưu cùng với sự giúp đỡ của A Châu, người mà chàng tình cờ gặp trên đường giang hồ và trở thành người yêu của chàng. A Châu có tài cải trang rất khéo, và đã giúp Tiêu Phong trong nhiều dịp.

    Tuy nhiên, khi giả trang thành một trưởng lão Cái Bang để đi gặp Khang Mẫn, nàng đã không thành công và bị Khang Mẫn lừa rằng kẻ chủ mưu các vụ mưu sát bí hiểm không ai khác hơn là Đoàn Chính Thuần. Điều này đã làm Tiêu Phong đi tìm và quyết đấu tay đôi với Đoàn Chính Thuần.

    Số phận trớ trêu, khi A Châu gặp Đoàn Chính Thuần thì nàng mới biết đó là cha ruột của mình. Để cứu cha, A Châu giả vờ ngủ say để Tiêu Phong đi trước, rồi sau đó cải trang thành Đoàn Chính Thuần và lẻn ra bãi đấu để chết dưới chưởng của Tiêu Phong. Chàng hết sức hối hận, và nhận lời chăm sóc A Tử (em gái A Châu) theo lời trăng trối của người chị. Sau đó, vì cứu mạng được Hoàng đế nước Liêu Gia Luật Hồng Cơ, Tiêu Phong sang nước Liêu làm quan đại thần, A Tử được phong làm quận chúa.

    Lúc này, nhân vật Du Thản Chi xuất hiện, cha mẹ hắn trước đây bị Tiêu Phong giết nên bây giờ hắn tìm Tiêu Phong để trả thù. Dù không đánh lại, hắn tình cờ nhặt được bí kíp võ công do Tiêu Phong làm rơi, chính là một trong 2 bộ võ công được đánh giá là đệ nhất thiên hạ, Dịch Cân Kinh (Lục Mạch Thần Kiếm là tu luyện võ công, còn Dịch Cân Kinh là tu luyện nội lực). Quyển bí kíp này vốn là do A Châu ăn trộm trong chùa Thiếu Lâm. Vì bị thương, Du Thản Chi bị A Tử bắt lại, chữa lành rồi trở thành kẻ mua vui cho nàng. A Tử cho đóng một mặt nạ sắt lên mặt Du Thản Chi, rồi gọi hắn là Thiết Sửu (Hề Sắt).

    Hắn cũng bị A Tử cho rắn, rết, sâu độc cắn để thử độc tính cho nàng luyện độc công. May mắn là hắn có Dịch Cân Kinh hộ thể nên không những hóa giải mà còn hấp thu độc tính tăng nội lực cho cơ thể. Tình cờ hắn bắt con sâu cực độc Băng Tằm cho A Tử, A Tử bắt hắn cho sâu cắn, hắn biết chắc sẽ chết nhưng cũng đồng ý làm theo. Hàn khí cực mạnh của Băng Tằm khiến Du Thản Chi đông thành băng, A Tử cho là hắn đã chết nên cho người vất xác xuống sông. Tuy nhiên, Du Thản Chi nhờ có Dịch Cân Kinh nên lại lần nữa may mắn thoát chết và hấp thu được Băng Tằm Hàn Kình vào thân thể. Sau này hắn về lại Trung Nguyên, rồi lên chùa Thiếu Lâm để thách thức với tất cả các môn phái khác tranh chức vô địch võ lâm. Lúc này chỉ xét về nội lực thì hắn rất thâm hậu, có thể sánh với các đại cao thủ, vì có Dịch Cân Kinh và vô tình luyện được thần công khi ở bên A Tử.

    Tại đại hội võ lâm này thì Tiêu Viễn Sơn và Mộ Dung Bác lộ mặt. Tiêu Viễn Sơn kể rằng ông ta thoát chết khi nhảy xuống vực tự vẫn, thừa nhận rằng ba mươi năm qua ông ẩn náu trong chùa Thiếu Lâm để học hết võ công Trung Nguyên. Ông ta cũng là người giả dạng Tiêu Phong sát hại nhiều cao thủ trong giang hồ, và là người đã bắt cóc Hư Trúc lúc còn là một đứa bé và bỏ vào chùa Thiếu Lâm để các nhà sư nuôi dạy.

    Hư Trúc lúc này cũng biết được thân thế thật sự của mình, anh ta chính là con ruột của Phương trượng đại sư Huyền Từ là Đại Ca Lãnh đạo nhóm cao thủ Trung Nguyên sát hại gia đình của Tiêu Viễn Sơn năm xưa, chính vì vậy Huyền Từ phải chịu hình phạt phạm dâm giới bị đánh hai trăm gậy mà chết.

    Mộ Dung Bác cũng thừa nhận là chỉ giả vờ chết để lẻn vào chùa Thiếu Lâm và là người tung tin đồn nhảm ba mươi năm về trước cho Huyền Từ để lãnh đạo cao thủ võ lâm Trung Nguyên ám hại Tiêu Viễn Sơn, và ông ta lợi dụng việc đó để khôi phục nước Yên.

    Lúc này nhà sư quét rác trong Tàng kinh các xuất hiện (vị sư này là Chân nhân bất lộ tướng - người có võ công cao nhất trong Thiên long bát bộ, ông có thể tiêu diệt các cao thủ hàng đầu như Mộ Dung Bác và Tiêu Viễn Sơn chỉ trong 1 chiêu), không ai biết tên ông, nên người đời gọi là Vô Danh Thần Tăng. Ông đã theo dõi Mộ Dung Bác và Tiêu Viễn Sơn từ lúc 2 người vào xem trộm kinh thư trong Tàng Kinh Các mà 2 người không ai hay biết. Vô Danh Thần Tăng dùng Phật pháp, kiến thức uyên thâm giảng giải cho Mộ Dung Bác và Tiêu Viễn Sơn nhận ra cái sai khi luyện võ, 2 người đã luyện quá nhanh nên bị tổn thương ngũ tạng, tẩu hỏa nhập ma. Để chữa bệnh, ông đã đánh chết cả hai người để rồi cứu sống họ; do vậy mà đã cảm hóa được cả hai ông già quy y Phật giáo. Hai ông già quyết định xuất gia theo tu tại chùa Thiếu Lâm.

    Về sau, khi vua Liêu ra lệnh xâm lược nước Tống, Tiêu Phong chống lệnh vì không muốn binh đao giết hại dân lành vô tội của hai nước, vì vậy chàng bị nhốt vào ngục.

    Được Đoàn Dự, Hư Trúc, và nhiều cao thủ võ lâm khác giúp vượt ngục, Tiêu Phong thoát ra Nhạn Môn Quan, nơi vua nước Liêu đang bài binh bố trận chuẩn bị tấn công nước Tống. Tiêu Phong, Đoàn Dự và Hư Trúc dùng võ công xuất thế bắt sống vua Liêu. Tiêu Phong thuyết phục vua Liêu lui binh rồi rút đao tự vẫn và nhảy xuống vực để giữ trọn đạo trung quân.

    A Tử vì yêu Tiêu Phong tha thiết cũng lao mình xuống vực tự vẫn (sau này Kim Dung chỉnh sửa lại là Tiêu Phong dùng mũi tên mà vua Liêu đã bẻ gãy đâm vào tim mình mà chết, còn A Tử thì sau khi móc mắt mình trả cho Du Thản Chi thì ôm xác Tiêu Phong nhảy xuống vực tự vẫn). Du Thản Chi lúc biết A Tử đã nhảy xuống vực, nhận ra rằng từ trước đến nay hy sinh vì tình yêu với A Tử là vô nghĩa, nên lao đầu vào vách núi chết.

    Hư Trúc

    Hư Trúc là một hòa thượng chùa Thiếu Lâm. Ngoại hình xấu trai nhưng tâm tính hiền lành, tốt bụng. Hư Trúc đã vô tình giải được một bàn cờ vây tên gọi "Trân Lung kỳ trận", 30 năm nay chưa ai giải được, vì thế nên đã được Vô Nhai Tử, chưởng môn của phái Tiêu Dao truyền 70 năm công lực cả đời của ông.

    Vô Nhai Tử muốn Hư Trúc dùng nội công của ông truyền cho đi giết Đinh Xuân Thu, nhưng Hư Trúc từ chối vì nghĩ mình là một hòa thượng, không thể giết người bừa bãi. Sau đó, ông truyền chức chưởng môn nhân và giao thiết chỉ hoàn cho Hư Trúc, nhưng Hư Trúc không dám nhận và cũng không muốn đầu nhập phái khác.

    Vì thấy ông sau khi truyền cho mình 70 năm công lực cả đời, có vẻ như ông sắp chết, Hư Trúc muốn ông ra đi trong thanh thản nên đã đồng ý làm chưởng môn nhân phái Tiêu Dao cũng như đồng ý đi giết Đinh Xuân Thu. Sau khi Hư Trúc đồng ý, Vô Nhai Tử quy tiên.

    Bọn người trước kia bị hành hạ bởi Linh Thứu Cung bắt được một cô gái trẻ từ Linh Thứu Cung. Họ muốn lấy thông tin từ cô gái trẻ để họ có thể tự giải Sinh Tử Phù do Thiên Sơn Đồng Mỗ chủ Linh Thứu Cung cấy. Họ sẵn sàng làm bất cứ việc gì để lấy thông tin từ cô gái. Lúc đó, Hư Trúc đi ngang nên đã cứu cô gái khỏi bọn người đó.

    Sau đó cô gái trẻ mới lộ chân tướng, bà là Thiên Sơn Đồng Mỗ, chủ Linh Thứu Cung. Mấy mươi năm trước, trong lúc đang luyện công bị Lý Thu Thủy, sư muội của mình phá đám, nên từ đó, Thiên Sơn Đồng Mỗ có ngoại hình giống một cô bé con 12 tuổi. Hiện giờ Thiên Sơn Đồng Mỗ không còn nội công mấy và lúc đó bà đang bị Lý Thu Thủy truy sát.

    Bà cần phải uống máu mỗi giữa trưa và luyện công đủ 90 ngày mới khôi phục lại công lực vì môn nội công này cứ mỗi 30 năm, phải tịnh tu một lần, thời gian một lần tùy theo số tuổi, lúc đó, Thiên Sơn Đồng Mỗ 96 tuổi thì phải luyện 90 ngày (Thiên Sơn Đồng Mỗ bắt đầu luyện môn này lúc 6 tuổi).

    Thiên Sơn Đồng Mỗ sợ lúc Lý Thu Thủy đến thì mình sẽ vô lực, không thể kháng cự nên đã kêu Hư Trúc giúp đỡ. Hư Trúc không muốn Thiên Sơn Đồng Mỗ chết nên bằng lòng giúp bà, mặc dù bà làm rất nhiều chuyện Hư Trúc không đồng ý.

    Để tránh sự truy sát của Lý Thu Thủy, Thiên Sơn Đồng Mỗ và Hư Trúc đã đến ẩn nấp trong một hầm băng của hoàng cung Tây Hạ, nơi Lý Thu Thủy đang làm hoàng thái phi. Lúc này, xảy ra một cuộc tranh cãi giữa Thiên Sơn Đồng Mỗ Lão và Hư Trúc.

    Thiên Sơn Đồng Mỗ khăng khăng bắt Hư Trúc phải ăn thịt cá còn không thì nhịn đói. Cũng như bà muốn truyền thụ võ công của bà cho Hư Trúc để Hư Trúc có thể giúp bà đánh trọng thương Lý Thu Thủy một khi Lý Thu Thủy tìm đến, Hư Trúc vì không muốn phải đầu nhập Linh Thứu cung nên đã không chịu học. Hư Trúc thà nhịn đói cũng như không chịu học võ công tuyệt thế chứ không muốn phá vỡ thanh quy giới luật chùa Thiếu Lâm. Điều này làm Thiên Sơn Đồng Mỗ tức lắm.

    Bà quyết ý phải làm cho Hư Trúc tự nguyện phá giới nên đã đem một cô gái (khỏa thân) mà mình bắt cóc về thảy vào giường của Hư Trúc. Vì đó là trong hầm băng nên Hư Trúc phải giữ ấm cho cô gái kia (và cho mình) và đã phạm dâm giới. Hư Trúc sau đó thấy mình không còn giới gì để giữ nữa cho nên đã ăn thịt, ăn cá và làm theo những gì Thiên Sơn Đồng Mỗ sai bảo.

    Sau khi nghe lời Thiên Sơn Đồng Mỗ bà ta truyền dạy võ công và không ngờ tại đây đã tạo nên mối tình giữa chàng và Ngân Xuyên công chúa Tây Hạ - nhưng Hư Trúc hoàn toàn không biết đó là công chúa Tây Hạ. Nhưng Thiên Sơn Đồng Mỗ cũng không thoát khỏi cái chết và chết chung với sư muội Lý Thu Thủy. Trước khi Đồng lão chết đã truyền ngôi chủ nhân của Linh Thứu cung cho Hư Trúc.

    Trở lại Linh Thứu Cung, y lại ra tay hoá giải hiềm khích giữa đảo chủ, động chủ 72 đảo và thuộc hạ Linh Thứu cung đồng thời giải trừ Sinh Tử Phù cho mọi người, trở thành lãnh tụ của quần hào, cũng tại đây, y có duyên kết nghĩa huynh đệ với Đoàn Dự - Thế tử Đại Lý cùng Tiêu Phong.

    Sau này quay lại Thiếu Lâm, dùng võ công bảo vệ chùa trước Cưu Ma Trí, cùng Tiêu Phong, Đoàn Dự chung tay kháng địch, đại hiển thần oai, đánh bại Tinh Tú Lão Quái Đinh Xuân Thu, thanh lý môn hộ. Hư Trúc nhận mặt cha mẹ trong tình huống bất ngờ và vô cùng thê thảm. Nhận cha mẹ chưa được bao lâu thì gặp bất trắc, cha Hư Trúc là Huyền Từ - phương trượng chùa Thiếu Lâm, mẹ là người thứ hai trong Tứ Đại Ác Nhân - Vô Ác Bất Tác Diệp Nhị Nương.

    Huyền Từ phương trượng tư tình với Diệp Nhị Nương nên tự nhận phạt 200 trượng, sau đó tự chấn đứt kinh mạch mà chết (đây là một hành động anh hùng, vì nếu đã có ý tự vẫn thì không cần đợi chịu xong 200 trượng), còn Diệp Nhị Nương thấy Huyền Từ phương trượng chết cũng tự tử theo. Đáng thương thay, Hư Trúc trong một ngày gặp lại được cha mẹ, lại trong ngày đó mất cả cha lẫn mẹ. Hư Trúc sau đó bị trục xuất khỏi Thiếu Lâm (vì phạm quá nhiều giới), y cùng Đoàn Dự, Tiêu Phong sang Tây Hạ cầu hôn công chúa, không ngờ cơ duyên xảo diệu, lại gặp người tình trong mộng của mình, kết đôi vui vầy.

    Xét về võ công có thể nói Hư Trúc là một trong những nhân vật có võ công cao nhất trong Thiên Long Bát Bộ. Về nội lực thì trong người chàng có nội công thâm hậu của ba cao thủ là Vô Nhai Tử, Thiên Sơn Đồng Mỗ và Lý Thu Thủy, nội công của họ đều có nguồn gốc từ Tiêu Dao phái. Đặc biệt chàng còn biết Sinh Tử Phù, một loại ám khí độc không dấu vết cực kỳ lợi hại.

    Đoàn Dự

    Đoàn Dự là một chàng trai khôi ngô tuấn tú, hoàng tử của nước Đại Lý. Tuy là con nhà võ nhưng không thích luyện tập võ nghệ mà chỉ thích ngao du sơn thủy. Tình cờ trong quá trình can thiệp để giải cứu Chung Linh cô nương, Đoàn Dự lọt vào một hang đá, thấy một bức tượng ngọc bích rất đẹp (mà anh gọi là Thần tiên tỷ tỷ).

    Sau khi vái lạy bức tượng 1000 cái, anh lấy được bí kíp về Bắc Minh thần công (món võ hút lấy nội công kẻ khác, nhưng không tiêu huỷ nội lực đối thủ như Hóa công đại pháp do Đinh Xuân Thu luyện sai Bắc Minh thần công) và Lăng ba vi bộ (món võ có thể uyển chuyển chạy nhanh và tránh né các đòn công kích), và Đoàn Dự cũng miễn nhiễm độc tố sau khi vô tình nuốt phải một con cóc cực độc có tên là Mãng cổ chu cáp.

    Đồng thời Đoàn Dự cũng làm quen được Mộc Uyển Thanh, một cô gái xinh đẹp, võ công cao cường, nhưng tính tình đanh đá và lúc nào cũng che kín mặt. Mộc cô nương đem lòng yêu mến chàng công tử họ Đoàn, và trong lúc đánh thua Nam Hải Ngạc Thần (một trong tứ đại ác nhân), đã nguyện kết nghĩa vợ chồng với Đoàn Dự và cho Đoàn Dự xem mặt nàng.

    Khi đó, các thuộc hạ của Đoàn Chính Thuần xuất hiện giải vây và đưa Đoàn Dự cùng Mộc cô nương về Đại Lý. Trên đường về, họ ghé thăm Đao Bạch Phượng, là mẹ ruột của Đoàn Dự, đang ở ẩn trong một ngôi chùa. Khi Đao Bạch Phượng thấy cách phóng phi tiêu của Mộc cô nương, bà nghi ngờ Mộc cô nương có liên hệ với Tần Hồng Miên, vốn là tình địch ngày xưa của bà.

    Đoàn Dự và Mộc Uyển Thanh về Đại Lý, mọi người phát hiện ra Mộc Uyển Thanh là con gái của Đoàn Chính Thuần và Tần Hồng Miên, Đoàn Dự và Mộc Uyển Thanh là anh em cùng cha khác mẹ nên không thể lấy nhau được. Quá chán chường và đau khổ, Mộc Uyển Thanh định tự vẫn, sau đó bị Đoàn Diên Khánh bắt giam vào thạch thất trong Vạn Kiếp Cốc, cả Đoàn Dự cũng bị Nam Hải Ngạc Thần nhốt chung vào đây.

    Hai người bị lừa uống phải Âm dương hòa hợp tán, một loại xuân dược cực mạnh có khả năng kích động tình dục, nhưng Đoàn Dự nghị lực hơn người nên cả hai đã thoát khỏi hiểm cảnh. Bảo Định Đế Đoàn Chính Minh, Đoàn Chính Thuần cùng các thuộc hạ đến Vạn Kiếp Cốc giải cứu được hai người. Đoàn Dự phát hiện ra Chung Linh, con gái Chung Vạn Cừu ở Vạn Kiếp Cốc cũng là em ruột của mình.

    Sau đó tại chùa Thiên Long, Đoàn Dự may mắn luyện thành công Lục mạch thần kiếm (là môn chỉ pháp được xem là một trong hai môn võ công đệ nhất thiên hạ cùng với Dịch Cân Kinh của Thiếu Lâm - theo lời nhân vật Mộ Dung Bác), nhưng chàng lại bị Hòa thượng Cưu Ma Trí nước Thổ Phồn bắt tới Cô Tô vì Đoàn Dự biết Lục mạch thần kiếm và hắn muốn hỏa thiêu chàng để cúng Mộ Dung Bác, bằng hữu lâu năm của hắn.

    Chính ở đất Cô Tô này Đoàn Dự đã gặp Vương Ngữ Yên và yêu nàng. Nhưng thật trớ trêu, Vương Ngữ Yên chỉ yêu mỗi Mộ Dung Phục. Sau này Mộ Dung Phục vì muốn khôi phục Hậu Yên nên đã bỏ nàng, vì vậy Đoàn Dự và Vương Ngữ Yên đã đến bên nhau, mối tình si rốt cục cũng được đền đáp.

    Tuy nhiên, éo le ập đến khi chàng biết Ngữ Yên là con của Đoàn Chính Thuần với Vương phu nhân, tức nàng là em ruột mình. Về sau trong lúc sắp chết, mẹ của Đoàn Dự mới tiết lộ rằng thật ra chàng là con ruột của Đoàn Diên Khánh chứ không phải Đoàn Chính Thuần. Theo phong tục Đại Lý, chỉ cần không phải anh em ruột thì được lấy nhau.

    Cuối cùng, Đoàn Dự trở thành vua Đại Lý. Theo nguyên tác ban đầu, Vương Ngữ Yên trở thành hoàng hậu. Tuy nhiên, trong lần sửa đổi mới đây của Kim Dung vào năm 2009, thì Mộc Uyển Thanh mới là người trở thành hoàng hậu. Hai người sống cuộc sống ung dung tự tại. Một trong những cháu nội hai người là Đoàn Trí Hưng, là nhân vật xuất chúng, một trong "Thiên hạ ngũ tuyệt" hiệu là Nam đế, trong Xạ điêu tam bộ khúc. Với Vương Ngữ Yên, Đoàn Dự nhận ra anh không yêu cô mà chỉ là đem tình yêu với bức tượng ngọc bích gán cho cô, và đã để cô ra đi. Vương Ngữ Yên lúc này, do bị Đoàn Dự vô tình hút cạn sinh lực nên già đi khá nhanh. Cô muốn học thuật Trụ nhan của phái Tiêu Dao nhưng nó đã thất truyền, cuối cùng cô trở về Cô Tô, cùng A Bích chăm sóc Mộ Dung Phục lúc này đã trở nên điên dại.

    Sau này, bất chấp đang ở địa vị ngôi vua cao quý, Đoàn Dự còn mạo hiểm đi giải cứu Tiêu Phong, nghĩa huynh của chàng.

    Đến cuối truyện, Đoàn Dự là người có nội công rất cao cường, vì lúc này nội lực của chàng vốn đã cao hơn Cưu Ma Trí, một trong những đại cao thủ trong truyện rồi, mà còn hút được nội lực cả đời của ông ta nữa.

    Lưu ý: Đoàn Dự cùng Đoàn Chính Thuần, Đoàn Chính Minh là các nhân vật có thật trong lịch sử và là các bậc vua chúa của nước Đại Lý. Tất nhiên các tình tiết trong truyện Kim Dung về những người này đều là hư cấu.

    Bang phái

    Câu chuyện là sự tương tác trong bối cảnh của 4 quốc gia Đại Tống, Đại Liêu, Đại Lý, Thổ Phồn, trong lòng của nó là vô số môn phái, danh gia, các tổ chức chính trị. Nếu Tiêu Phong thân thế mang mối bất hòa Tống - Liêu, Thiếu Lâm - Cái Bang, kẻ thù võ lâm, thì Đoàn Dự, Hư Trúc như con thoi giữa Đại Tống với Đại Lý, Tây Hạ, Thổ Phồn và các môn phái khác nhau....

    Đại Lý Đoàn Thị

    Là hoàng tộc, thế gia võ lâm, tuy ở miền biên cảnh nhưng có qua lại ảnh hưởng lớn với võ lâm trung nguyên, chùa Thiên Long Tự là căn bản.

    Cao Thủ: Đoàn Dự, Khô Vinh Đại Sư, Bảo Định Đế, Trấn Nam Vương Đoàn Chính Thuần, Bản Nhân, Bản Quan, Bản Tham, Bản Tướng

    Võ công tuyệt kĩ bao gồm: Nhất Dương Chỉ, Lục Mạch Thần Kiếm

    Thiếu Lâm tự

    Thánh địa của võ lâm Trung Nguyên,

    Phương Trượng: Linh Môn, Huyền Từ

    Cao thủ: Tảo Địa tăng (Vô Danh thần tăng), Huyền Trừng, Huyền Bi, Huyền Nạn, Huyền Thống, Huyền Khổ, Huyền Độ, Huyền Sinh....

    Tuyệt kĩ bao gồm: Dịch cân Kinh, 72 tuyệt kĩ....

    Tiêu Dao phái

    Tiêu Dao phái ảnh hưởng của Đạo giáo thần tiên, võ công ảo diệu khôn lường đầy rẫy cao thủ kiêm cả cầm, kỳ, thi, họa, thổ (xây dựng), mộc (thủ công tinh xảo), y (thuốc), bốc (bói toán) nhưng ít nổi danh trên giang hồ do các trưởng bối đều ẩn cư,

    Chưởng Môn: Vô Nhai Tử, Hư Trúc

    Môn hạ: Tề Tự Phong, Lý Thu Thủy, Tô Tinh Hà, Thiên Sơn Đồng Lão, Đinh Xuân Thu, Hàm Cốc Bát hữu(Tiết Mộ Hoa, Khang Quảng lăng,....)

    Bảo bối: nhẫn Cơ bảo của chưởng môn, Lang Hoàng Phúc Địa lưu giữ võ công của các nhà các phái...

    Tuyệt kĩ: Bắc Minh thần công, Lăng ba vi Bộ, Tiểu Vô Tướng Công...

    Cái Bang

    Bang hội đông đảo, nghĩa hiệp, chuyên làm tai mắt tình báo giúp nhà Tống chống ngoại xâm.

    Bang chủ: Uông Kiếm Thông, Tiêu Phong, Trang Tụ Hiền (Du Thản Chi)

    Cao thủ: Từ trưởng lão, Mã Đại Nguyên, Tứ Đại trưởng lão

    Tuyệt kĩ: Giáng Long thập bát chưởng, Đả cẩu bổng pháp

    Thiên Sơn Linh Thứu Cung

    Là phái do Thiên Sơn Đồng Lão phái Tiêu Dao sáng lập ở trên Tuyết Sơn Tây Vực

    Cung Chủ: Thiên Sơn Đồng Lão, Hư Trúc

    Môn Hạ: Đặng bà bà, Dư bà bà, Mai, Lan, Trúc, Cúc kiếm, 36 động chủ, 72 đảo chủ....

    Tuyệt kĩ: Thiên Sơn Lục Dương Chưởng, Thiên sơn chiết mai thủ, Sinh Tử phù...

    Cô Tô Mộ Dung Gia

    Là thế gia võ lâm, một hoàng tộc thất thế lưu vong nhiều đời, dân tộc Tiên Ty nước Đại Yên, ngụ cư ở Yến Tử ổ vùng Cô Tô Thái Hồ ở Giang Nam, luôn tích trữ của cải nhân lực, lấy lòng võ Lâm, gây mâu thuẫn các nước để mưu phản hòng chiếm cứ giang sơn

    Trang Chủ: Mộ Dung Bác, Mộ Dung Phục

    Môn Hạ: Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Bao Bất Đồng, Phong Ba Ác, A Châu, A Bích...

    Tuyệt kĩ: Đẩu Chuyển Tinh Di

    Cô Tô - Mạn Đà Sơn Trang

    Là thế gia vọng tộc nổi tiếng ở Cô Tô về giàu có, ngang danh với nhà Mộ Dung, là thông gia với nhà Mộ Dung vì Mộ Dung Bác đã lấy con gái nhà họ Vương. Nhà họ Vương tuy ban đầu chỉ là 1 nhà giàu nhưng có cô vợ góa Vương Phu nhân vốn là con gái của Vô Nhai Tử kế thừa Lang Hoàng Ngọc Động là nơi giữ tàng thư gần như hoàn chỉnh của các môn phái cho nên đây có thể nói là nơi tàng tụ của tuyệt kĩ võ lâm các nhà các phái sau Lang Hoàng Phúc Địa của phái Tiêu Dao

    Tây Hạ Nhất phẩm Đường

    Là nơi nhà Tây Hạ quy tụ các cao thủ để xâm chiếm Trung Nguyên. Ngay trong Hoàng Cung Tây Hạ cũng có võ công trác tuyệt của phái Tiêu dao do Thái Phi Lý Thu Thủy mang về

    Thủ lĩnh: Phạt Đông tướng quân Hách Liên Thiết Thụ

    Cao thủ: Tứ Đại ác nhân, Lý Diên Tông (Mộ Dung Phục).... ngoài ra còn có quân đội

    Thổ Phồn

    Là quốc gia láng giềng với Đại Tống và Đại Lý, đang nhăm nhe xâm chiếm các nơi,

    Chùa Đại tuyết sơn: là nơi ở của các cao tăng võ công cao cường, họ cũng chuyên đi nghiêm tầm các võ học điển tịch của trung nguyên, Đại Lý.... để giúp nhà vua Thổ Phồn xâm chiếm trung Nguyên

    Cao thủ: Quốc sư Cưu Ma Trí, Ba La Tinh, Triết La Tinh...

    Đại Liêu

    Quốc gia đang hưng thịnh, tuy không có võ công bác đại tinh thâm nhưng lại có đội quân thiện chiến đặc biệt là thiết kị.... ôm mộng xâm chiếm Trung Nguyên. Quân đội nhà Liêu từng giao đấu với cả võ lâm Trung Nguyên khi họ sang Liêu cứu Tiêu Phong

    Hoàng đế: Gia Luật Hồng Cơ

    Môn hạ: Bắc Viện Đại Vương, Nam Viện Đại Vương (Tiêu Phong), Hoàng thái thúc

    Phái Tinh Túc (Tinh Tú)

    Do Tinh Túc (Tinh Tú) Lão Quái Đinh Xuân Thu là phản đồ phái Tiêu Dao sáng lập tại Tây Vực, sở trường chuyên dùng độc dược, tuy thế bang phái lỏng lẻo toàn là phường ô hợp lẻo mép.

    Môn hạ: Du Thản Chi, Trích Tinh Tử, A Tử....

    Báo bối: Thần Mộc Vương Đỉnh

    Tuyệt kĩ: Hóa Công Đại Pháp

    Các bang phái, danh gia khác

    Vô Lượng kiếm phái, Vạn kiếp Cốc, chùa thanh Lương ngũ giới Đài, Chùa tướng quốc tự Khai Phong, Chùa Quốc thanh, Niêm hoa tự, Thần Nông Bang, Tụ hiền trang, Thanh thành phái, Tần Gia trại....

    Chuyển thể

    Demi-Gods and Semi-Devils là một RPG chơi đơn phát hành năm 2002. Người chơi sẽ vào vai trò của một nhân vật chính không liên quan (tên mặc định là Lei Zhen) và gặp gỡ các nhân vật trong cuốn tiểu thuyết. Lựa chọn và hành động của người chơi sẽ ảnh hưởng đến tiến triển của câu chuyện.[3]

    Thiên long bát bộ là một MMORPG được phát triển bởi Changyou và Sohu và được phát hành vào năm 2007. Tại Việt Nam nó được FPT Online phát hành đến năm 2013 và hiện tại đang được VNG phát hành.

    Tian Long Ba Bu: Shen Bing Hai Yu (龙八部:神兵海域) là một MMORPG được phát triển bởi Changyou và Sohu và được phát hành tại Trung Quốc vào năm 2012 thay cho phiên bản cũ. Trò chơi được xác nhận bởi Hồ Ca và Lưu Thi Thi, những người đóng vai Đoàn Dự và Vương Ngữ Yên trong một đoạn video ngắn quảng bá cho trò chơi và các tài liệu quảng cáo khác.

    Wikipedia

    *

    Lời tựa

    THIÊN LONG BÁT BỘ MỘT KIỆT TÁC CỦA KIM DUNG

    Trong năm “đại gia” tiểu thuyết võ hiệp tân phái, Kim Dung là người có số lượng tác phẩm ít nhất. Từ tác phẩm đầu tay Thư kiếm ân cừu lục đến tác phẩm “phong bút” Lộc đỉnh ký, Kim Dung “chỉ” viết 15 bộ tiểu thuyết võ hiệp. Con số ấy là rất khiêm tốn so với tác phẩm của bốn “đại gia” khác: Lương Vũ Sinh, Cổ Long, Ngọa Long Sinh và Ôn Thụy An.

    Nhưng “đại hiệp” Kim Dung lại được giới hâm mộ và các nhà nghiên cứu phê bình công nhận là “võ lâm minh chủ”. Nguyên nhân chủ yếu của sự nhất trí này là do tiểu thuyết Kim Dung đều là những “tinh phẩm thượng thừa” của tiểu thuyết võ hiệp tân phái. Trong những “tinh phẩm thượng thừa” đó, Thiên Long bát bộ luôn được đánh giá là một trong những kiệt tác của Kim Dung.

    Do thị hiếu khác nhau, có người thích Lộc đỉnh ký, có người thích Tiếu ngạo giang hồ, có người lại “thiên ái” Xạ điêu anh hùng truyện, Ỷ Thiên Đồ Long ký hoặc Thần điêu hiệp lữ, nhưng ai cũng thừa nhận Thiên Long bát bộ là một “kỳ thư”.

    *

    Ngày 3 tháng 9 năm 1963, Thiên Long bát bộ bắt đầu được đăng trên Minh báo ở Hồng Kông và Nam Dương thương báo ở Singapore, liên tục trong bốn năm. Đây là tác phẩm được viết với thời gian lâu nhất và cũng là tác phẩm dài nhất của Kim Dung (gần hai triệu chữ). Đành rằng độ dài cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên thế giới nghệ thuật phong phú của “hoằng thiên cự trứ” này, nhưng điều chủ yếu làm nên giá trị của tác phẩm là ở lập ý cao minh, kết cấu hoằng vĩ, hệ thống nhân vật phong phú và tinh thần nhân đạo sâu sắc mà Kim Dung đã dành cho kỳ thư Thiên Long bát bộ.

    Tiểu thuyết của Kim Dung thường có bối cảnh lịch sử xác định. Cũng vậy, bối cảnh lịch sử của Thiên Long bát bộ là thời Tống Triết Tông (1086 – 1101), cuối đời Bắc Tống. Đây là thời kỳ đánh dấu chế độ phong kiến ở Trung Quốc từ thịnh sang suy, các mâu thuẫn xã hội rất phức tạp và sâu sắc. Chọn thời điểm lịch sử “có vấn đề” này làm bối cảnh, Kim Dung đã có điều kiện để thể hiện cảm hứng lịch sử, ước vọng hòa bình, hòa hợp dân tộc và tinh thần nhân đạo của mình.

    Nhà nghiên cứu Trần Mặc cho rằng: có thể coi Thiên Long bát bộ là một bộ Lục quốc diễn nghĩa kể về các mối quan hệ phức tạp của sáu nước gồm Đại Lý ở phương Nam, Đại Tống ở Trung nguyên, Đại Liêu Ở phương Bắc cùng với Tây Hạ, Đại Kim và còn một “Đại Yên” đã bị xóa số đang nuôi chí phục quốc. Đành rằng Thiên Long bát bộ là tiểu thuyết võ hiệp chứ không phải tiểu thuyết lịch sử.

    Trong cái mớ bòng bong mâu thuẫn ấy nổi bật lên xung đột Tống – Liêu. Với tầm nhìn bao quát cục diện bao la vạn trượng, tác giả đã tạo dựng nên một thế giới nhân vật “giang hồ” khác nhau về dân tộc, quốc tịch, cảnh ngộ, tính cách… ai cũng gửi thân giang hồ mà trù liệu việc “giang sơn”. Nhưng cái cao minh của tác giả là ở chỗ tập trung đỉnh điểm của mọi xung đột vào một nhân vật Tiêu Phong với số phận tận cùng bất hạnh và nhân cách tuyệt vời cao thượng. Thân phụ của chàng, Tiêu Viễn Sơn, từ một nạn nhân đã trở thành một kẻ đại ác, tắm máu trả thù. Nhưng Tiêu Phong, từ một nạn nhân bất hạnh đã vượt lên khổ nạn. Trên Nhạn Môn quan, chàng đã đem sự hy sinh lẫm liệt, bi tráng của mình để hóa giải hận thù giữa các dân tộc. Hành vi tuẫn nạn của chàng được nhà sư vô danh của chùa Thiếu Lâm tôn xưng là “tấm lòng Bồ Tát”.

    Có thể nói, với hình tượng Tiêu Phong và sự hy sinh cao cả của chàng trên Nhạn Môn quan, Thiên Long bát bộ đã có phần vượt qua giới hạn của tiểu thuyết lịch sử trong truyền thống, đồng thời cũng vượt qua giới hạn của tiểu thuyết võ hiệp.

    *

    Nhìn bên ngoài, kết cấu của Thiên Long bát bộ có vẻ lỏng lẻo. Chính Kim Dung cũng thừa nhận điều này khi có người phê bình kết cấu tiểu thuyết của ông không chặt chẽ. Nhưng cái “diệu” của kết cấu Thiên Long bát bộ là ở các mối quan hệ bên trong. Chính những mối liên hệ có vẻ như ngẫu nhiên, bất ngờ nhưng lại hợp lý và tất yếu này làm nên cái “khuôn giá” đủ sức bền để nhà văn dựng nên một thế giới nghệ thuật lập thể với đỉnh điểm là hình tượng Tiêu Phong (chữ “Phong” trong tên nhân vật này có nghĩa là đỉnh núi). Không gian lưu lạc giang hồ của tiểu thuyết võ hiệp là môi trường cho Đoàn Dự thi triển khinh công “Lăng ba vi bộ”, đóng vai trò con thoi đan dệt, nối kết các nhân vật, các sự kiện. Chàng vương tử đa tình dễ thương này đã rời bỏ cung đình Đại Lý (nay thuộc tỉnh Vân Nam), lỡ bước giang hồ, để rồi với hai người anh kết nghĩa – Tiêu Phong, Hư Trúc – và cả với cô em gái “cùng hai cha khác mẹ” là “bông hoa ác” A Tử làm nên các đường “Kinh, Lạc” liên kết các nhân vật ở những miền không gian khác nhau thành một chỉnh thể nghệ thuật phức tạp và phong phú. Có thể nói, hầu hết các nhân vật trong tác phẩm đều “kiêm nhiệm” nhiều chức năng: vừa là bản thân “con người này”, vừa là đường dây liên lạc nối kết các nhân vật khác. Ở đây Kim Dung đã kế thừa hầu hết những thủ pháp kết cấu truyền thống của tiểu thuyết Trung Quốc, đồng thời tiếp thu cả nghệ thuật kết cấu của tiểu thuyết phương Tây hiện đại.

    Rất nhiều điều có thể và cần phải tìm hiểu về kết cấu của “bài toán rời rạc” Thiên Long bát bộ, nhưng đó là điều mà Kim Dung muốn dành cho bạn đọc khi tiếp xúc với thế giới nghệ thuật của ông.

    *

    Tựa đề Thiên Long bát bộ của tác phẩm là một cái tên có tính chất tượng trưng. Cái tên này mượn từ thuật ngữ Phật học chỉ tám loại “chúng sinh” không phải là người (phi nhân). Thế giới nhân vật trong Thiên Long bát bộ không hề có thần tiên ma quỷ mà là con người với đủ “thất tình lục dục”.

    Nhưng do sự khắc nghiệt của lịch sử, do số phận trớ trêu, do những dục vọng và tội ác dấy lên từ ba ngọn lửa độc “tham, sân, si” mà người ta đã gây nên bất hạnh cho người khác và cho cả chính mình, đã biến thế giới nhân sinh thành thế giới “phi nhân”; đúng như lời của giáo sư Trần Thế Tương đã nhận xét: Vô nhân bất oan, hữu tình giai nghiệt (ai cũng mắc oan khiên, có tình đều nghiệt chướng).

    Thiên Long bát bộ thấm đượm tinh thần Phật giáo mà Kim Dung vốn ngưỡng mộ. Tiếng nói của Phật giáo trong tác phẩm vừa dịu dàng sâu lắng vừa thật hiển minh, quán xuyến từ đầu chí cuối tác phẩm. Điều này được thể hiện ở thế giới nhân vật và số phận có tính chất “nhân quả báo ứng” của họ. Điểm xuất phát và nơi trở về của bộ ba nhân vật chính Đoàn Dự, Tiêu Phong, Hư Trúc đều ít nhiều mang tinh thần Phật giáo. Tác phẩm được khởi từ cung đình nước Đại Lý, một nước ở thời ấy Phật giáo được xem là quốc giáo, Vương tử Đoàn Đự là một tín đồ Phật giáo thuần thành. Tiêu Phong được Huyền Khổ đại sư dạy dỗ; chàng học võ công chứ không học Phật pháp, nhưng “Phật tinh” tiềm ẩn trong chàng đã tỏa sáng khi chàng “sát thân thành nhân” trên ải Nhạn Môn quan. Còn tiểu hòa thượng Hư Trúc tuy bất đắc dĩ phải lần lượt phạm giới nhưng thủy chung chàng vẫn là một “tăng hiệp” đem chính tâm của một tiểu hòa thượng nhân từ, lương thiện mà dung nạp và hóa giải những “tà công” để hành thiện. Đó cũng là chỗ cao minh của nhà văn: chính nghĩa và lương thiện cũng cần có sức mạnh.

    Tinh thần Phật giáo cũng được thể hiện ở kết thúc về cơ bản là “có hậu” của tác phẩm. Không những người ta được chứng kiến qui luật nhân quả “ở hiền gặp lành” nơi những con người như Hư Trúc, Đoàn Dự mà ngay cả những kẻ đã trở thành “phi nhân” cũng không đến nỗi tuyệt lộ. Kim Dung đã đưa “Quan âm tóc dài” trở về nối lại sợi tơ nhân tính mỏng manh trong con người “đệ nhất ác nhân” Đoàn Diên Khánh. Kim Dung còn để cho nhà sư vô danh ở Tàng kinh các của chùa Thiếu Lâm hiện thân “chuyên nghiệt hóa si” cho hai ác nhân cừu địch Tiêu Viễn Sơn và Mộ Dung Bác. Đặc biệt, chính nhà sư vô danh này lại hiện thân lần nữa để khẳng định “tấm lòng Bồ Tát” của Tiêu Phong.

    Nhưng, về thực chất, những “oan” cùng “nghiệt” biến thế giới nhân sinh thành thế giới “phi nhân” không phải do một lực lượng thần bí nào mà do chính con người tạo nên. Và sức mạnh “siêu độ” khiến những kẻ đã trở thành “phi nhân” có thể “hồi đầu thị ngạn”, trở lại làm người cũng là do nhân tính được thức tỉnh. Còn như muốn gọi nhân tính là Phật tính thì cũng phải. Có thể nội hàm của khái niệm “Phật tính” rộng hơn tinh thần nhân đạo, nhưng tinh thần nhân đạo là hạt nhân của Phật tính. Chính Đức Phật cũng giác ngộ chân đế từ trong bể khổ nhân sinh. Có thể nói tinh thần nhân đạo hay “Phật tính” là những tên gọi khác nhau để chỉ lòng yêu thương, sự trân trọng đối với giá trị tôn nghiêm của con người.

    Đi vào thế giới đầy những “oan”, “nghiệt” ngỡ như là “phi nhân” của Thiên Long bát bộ, ta lại gặp Con Người.

    Huế, Trung Thu Nhâm Ngọ 2002

    Nguyễn Thị Bích Hải

    *

    Hồi 01: Giữa đường gặp chuyện bất bình

    Ánh sáng xanh lóe ra, cây kiếm thép nhằm thẳng vai trái hán tử trung niên phóng tới lẹ như chớp. Người thanh niên phóng kiếm chưa đến nơi đã rung cổ tay biến chiêu nhằm sang bên phải cổ đối phương. Đối thủ là một hán tử trung niên dựng kiếm lên đỡ nghe “choang” một tiếng. Tiếng ngân chưa tắt, mới chớp mắt mà hai bên đã trao đổi thêm ba chiêu. Vụt một cái, hán tử trung niên vung trường kiếm nhằm giữa mặt thanh niên chém xả xuống. Thanh niên né sang bên hữu tránh khỏi, rồi tiện tay trái phóng kiếm đâm chúc xuống chân địch nhân.

    Hai gã ra chiêu vừa mau lẹ vừa tàn độc, tưởng chừng như cuộc đấu ăn thua trí mạng.

    Trong luyện võ sảnh, có hai người ngồi phía đông. Bên trên là một đạo cô tuổi trạc bốn mươi đang mím môi, mặt mũi hầm hầm. Bên dưới là một ông già, tuổi ngoại năm mươi, giơ tay lên vuốt chòm râu dài ra chiều đắc ý. Hai người ngồi cách nhau hơn một trượng, sau lưng có đến hơn hai chục tên đồ đệ vừa nam vừa nữ. Phía tây, hơn mười người khách ngồi trên ghế lót đệm gấm xem cuộc đấu, nhìn không chớp mắt.

    Ngoài võ trường một lớn, một nhỏ giao đấu đã ngoài bảy mươi chiêu vẫn chưa phân hơn kém. Đột nhiên gã đứng tuổi đâm một kiếm quá mạnh, xiêu hẳn người đi, dường như sắp té nhào. Trong đám khách ngồi xem, một chàng trai mặc áo bào xanh thấy vậy phì cười. Y biết ngay thế là bất lịch sự, vội lấy tay che miệng.

    Ngay lúc ấy, gã trẻ tuổi phóng chưởng trái vào lưng gã đứng tuổi. Gã này tiến lên nửa bước tránh được, xoay mình lại, thanh trường kiếm tiện đà vòng tới, quát một tiếng “trúng”. Nhát kiếm đến nhanh như chớp, trúng vào đùi bên trái tên thanh niên. Chân gã khuỵu xuống, phải chống kiếm mới đứng vững lại được. Hắn còn toan đấu nữa, nhưng gã đứng tuổi đã tra kiếm vào vỏ, tươi cười hỏi: “Cảm ơn Chử sư đệ nhường nhịn. Sư đệ có đau không?”. Thanh niên kia mặt tái đi, mím môi đáp: “Đa tạ Cung sư huynh đã nương tay.”

    Lão già râu dài vẻ mặt hớn hở, mỉm cười nói: “Đông tông thắng ba trận rồi, vậy được ở lại Kiếm Hồ Cung năm năm nữa. Tân sư muội có thêm ý kiến gì chăng?” Vị đạo cô đứng tuổi nén giận đáp: “Tả sư huynh khéo dạy đồ đệ. Nhưng năm năm vừa qua chẳng hay sư huynh đã nghiên cứu Vô Lượng Ngọc Bích được chút gì chưa?” Lão già râu dài trừng mắt nhìn đạo cô, nghiêm mặt nói: “Sư muội quên qui củ bản phái rồi sao?” Đạo cô hừ một tiếng, rồi không nói gì nữa.

    Ông già họ Tả, tên gọi Tử Mục, là chưởng môn Đông tông của phái Vô Lượng Kiếm. Đạo cô kia họ Tân, đạo hiệu là Song Thanh, cầm đầu Tây tông Vô Lượng Kiếm.

    Nguyên phái Vô Lượng Kiếm chia làm Đông, Tây, Bắc ba tông. Nhưng Bắc tông suy sụp từ lâu, chỉ còn Đông và Tây là hai chi phái hưng thịnh và có lắm nhân tài. Phái Vô Lượng Kiếm sáng lập từ triều Hậu Đường đời Ngũ Đại, chưởng môn ở tại Kiếm Hồ Cung nước Nam Chiếu. Đến đời Tống Nhân Tông thì chia ra ba tông, cứ năm năm đồ đệ cả ba chi phái hội họp ở Kiếm Hồ Cung để đấu kiếm, bên nào thắng thì được ở cung Kiếm Hồ năm năm, đến năm thứ sáu lại mở cuộc đấu. Mỗi kỳ đấu năm trận, hễ thắng ba là được. Trong khoảng thời gian năm năm, phe thua dĩ nhiên là phải cố gắng tập dượt để rửa hận, mà phe thắng cũng chẳng dám chểnh mảng chút nào. Bốn mươi năm trước Bắc tông thua nặng, chưởng môn bực tức dẫn hết đệ tử qua Sơn Tây, không quay lại tỉ kiếm nữa. Hai mươi lăm năm qua, Đông và Tây tông thắng qua thua lại. Đông tông thắng được bốn lần, Tây tông được hai. Kỳ này, gã trung niên hán tử họ Cung đấu với gã trẻ tuổi họ Chử là trận thứ tư, Cung thắng. Thế là Đông tông thắng ba trận, trận thứ năm không cần phải đấu nữa.

    Các tân khách ngồi ở phía tây là những nhân sĩ võ lâm được mời đến chứng kiến. Họ đều là những nhân vật tiếng tăm lừng lẫy trong võ lâm ở Vân Nam, chỉ mình chàng thanh niên mặc áo xanh ngồi hàng cuối là hạng hậu bối vô danh. Chính chàng bật cười lúc gã họ Cung giả vờ lỡ trớn.

    Chàng thanh niên này theo võ sư Mã Ngũ Đức ở phủ Phổ Nhị tỉnh Vân Nam đến đây. Mã Ngũ Đức nguyên là một nhà buôn trà lớn, đã giàu có lại hiếu khách, có phong thái Mạnh Thường Quân, bao nhiêu khách giang hồ thất thế đến nhờ vả đều được tiếp đãi, vì vậy mà Mã quen biết nhiều, mặc dù võ công chỉ tầm thường. Lúc Mã Ngũ Đức giới thiệu chàng thanh niên áo xanh kia người họ Đoàn, Tả Tử Mục chả thèm để ý, vì tưởng chàng là đồ đệ Mã Ngũ Đức. Chính võ công Mã còn chưa vào đâu, huống chi là đồ đệ Mã nên Tả hà tiện cả đến câu khách sáo “ngưỡng mộ đã lâu”, chỉ khinh khỉnh chắp tay rồi dẫn vào ghế ngồi. Ngờ đâu anh chàng ngốc nghếch chẳng biết trời đất gì, thấy đồ đệ Tả Tử Mục giả vờ trượt chân dụ địch lại dám phì cười chế nhạo.

    Tả Tử Mục tươi cười nói: “Năm nay Tân sư muội đưa ra bốn tên đồ đệ kiếm thuật rất khá, trận thứ tư bọn ta thắng được chỉ nhờ may. Chử sư điệt nhỏ tuổi mà đã tới trình độ đó thì tiền đồ chưa biết đâu mà lường. Sau hạn năm năm này nữa hai bên Đông Tây chắc lại đổi chỗ, hà hà.” Nói xong y cười ha hả một hồi rồi quay sang chàng thanh niên họ Đoàn nói: “Vừa nãy tệ đồ đánh dứ đòn Trật Phác Bộ để thủ thắng, dường như Đoàn thế huynh không vừa ý. Vậy Đoàn thế huynh ra sân chỉ giáo cho y một vài miếng nên chăng? Người ta thường nói tướng giỏi không có quân hèn, Mã ngũ ca oai danh lừng lẫy khắp Vân Nam, môn đồ quyết không phải tay vừa.”

    Mã Ngũ Đức hơi đỏ mặt, vội đáp: “Đoàn huynh đệ đây không phải là đồ đệ ta đâu. Lão ca kiếm thuật mèo què đâu dám dạy ai. Tả hiền đệ chẳng nên buông lời giễu cợt. Nguyên Đoàn huynh đệ qua chơi tệ xá, biết ngu huynh sắp lên núi Vô Lượng, nói là núi Vô Lượng phong cảnh thanh u, liền theo tới đây để mở rộng nhãn quang mà thôi.”

    Tả Tử Mục nghĩ thầm:”Tưởng y là đồ đệ Mã Ngũ Đức thì mình còn nể mặt, không nỡ tuyệt tình, nếu chỉ là kẻ sơ giao thì hà tất mình phải e dè? Kẻ nào cả gan dám đến Kiếm Hồ Cung ngạo mạn mà mình để xuống núi yên lành thì còn chi là thể diện Tả Tử Mục này?”. Nghĩ vậy Tả liền cười nhạt, hỏi: “Xin Đoàn huynh cho biết đại hiệu là gì, môn hạ cao nhân nào?”

    Chàng thanh niên họ Đoàn cười đáp: “Tên tại hạ vẻn vẹn một chữ Dự, chưa hề học võ. Tại hạ phải cái tật hễ thấy người té nhào thì bất luận là té thật hay té giả vờ cũng phải phì cười chứ không nín được.” Tả Tử Mục thấy chàng ăn nói không có vẻ gì cung kính, bất giác tức giận hỏi: “Làm sao mà phải phì cười?” Đoàn Dự mở quạt giấy ra phe phẩy, tỉnh bơ đáp: “Người ta đứng hay ngồi thì có gì mà cười, nằm trên giường cũng chẳng ai đáng cười, chứ nằm lăn xuống đất thì phải cười chứ sao? Trừ trẻ con lên ba thì không kể”. Tả Tử Mục đã tức lên tận cổ, nhưng phải cố giữ vẻ trầm tĩnh, quay sang hỏi Mã Ngũ Đức: “Mã ngũ ca! Đoàn huynh đệ phải chăng là bạn thân với ngũ ca?”.

    Mã Ngũ Đức cùng Đoàn Dự chỉ là chỗ sơ giao, nhưng Mã vốn tính vui vẻ, dễ dãi, thấy Đoàn Dự xin theo lên núi Vô Lượng, không tiện thoái thác nên bằng lòng. Bây giờ trót xảy ra chuyện lôi thôi, Tả Tử Mục đã có vẻ nổi xung, ông chẳng muốn để Đoàn Dự bị đòn đau, liền chậm rãi đáp rằng: “Đoàn huynh đệ với ta tuy không phải là chỗ thâm giao, nhưng đã cùng đến đây. Xem ra Đoàn huynh đệ là người nho nhã không hiểu võ công, chẳng qua vì vô ý bật cười. Thôi, bỏ qua đi, ngu huynh đói lắm rồi! Hiền đệ có gì cho ăn uống thì sắp ra, để chúng ta được mừng hiền đệ mấy chén. Hôm nay là ngày vui, hiền đệ chấp nhặt với anh chàng trẻ người non dạ đó làm chi?”

    Tả Tử Mục nói: “Đoàn huynh không phải là chỗ thâm giao với Mã ngũ ca, vậy tiểu đệ không sợ vô ý làm bẽ mặt ngũ ca nữa. Quang Kiệt đâu? Vừa nãy có người chê con đó, con ra thỉnh giáo đi!”

    Cung Quang Kiệt, chỉ đợi có thế, rút trường kiếm ra đứng xoay chuôi kiếm lại, chắp tay nói với Đoàn Dự: “Xin mời Đoàn bằng hữu!”. Đoàn Dự nói: “Hay lắm! Luyện kiếm đi, ta ngồi đây coi được mà!” Chàng ngồi nghiễm nhiên nói vọng ra, chứ không thèm đứng dậy. Cung Nhân Kiệt đỏ mặt tía tai, tức giận dằn giọng: “Mi, mi… nói sao?” Đoàn Dự đáp: “Ngươi cầm kiếm múa đông chém tây, chắc là muốn luyện võ, còn chờ gì nữa? Ta trước nay không thích xem ai động đao kiếm, nhưng đã đến đây thì cũng đành ngồi xem vậy.” Cung Nhân Kiệt quát lớn: “Sư phụ ta bảo mi ra đây cùng ta tỷ thí.”

    Tay vẫn phe phẩy cây quạt giấy, Đoàn Dự lắc đầu thong thả đáp: “Sư phụ ngươi không phải là sư phụ ta. Sư phụ ngươi sai ngươi thì được chứ làm sao sai ta? Sư phụ ngươi bảo ngươi đấu kiếm với ta thì ngươi cứ đấu. Chứ sư phụ ngươi bảo ta đấu với ngươi thì ta không đấu; một là ta không biết đấu kiếm, hai là ta sợ thua, ba là ta sợ đau, bốn là ta sợ chết, nên ta không dấu. Ta đã bảo không đấu là không đấu.”

    Mọi người nghe Đoàn Dự cho ra một tràng “sư phụ ngươi, sư phụ ta” giọng nửa hách dịch nửa ỡm ờ thì không sao nhịn cười được. Đám môn đồ của Song Thanh đạo cô chiếm đến nửa sảnh, các nữ đệ tử cứ rũ ra mà cười ngặt nghẽo khiến cho bầu không khí trong luyện võ sảnh mất hẳn vẻ trang nghiêm.

    Cung Nhân Kiệt điên tiết, tiến đến chĩa kiếm thẳng vào bụng Đoàn Dự quát: “Có thật mi không biết kiếm pháp hay là mi giả vờ?” Đoàn Dự nhìn mũi kiếm chỉ còn cách bụng mình vài tấc, chỉ cần đâm nhẹ một phát là thủng tim gan, vậy mà nét mặt chẳng chút sợ sệt, ung dung đáp: “Ta không biết võ thật, giả vờ làm gì?” Nhân Kiệt hùng hổ nói: “Mi dám tới Kiếm Hồ Cung núi Vô Lượng quậy phá thì chắc là chán sống. Mi là môn hạ ai? Kẻ nào đã sai mi đến đây? Phải nói cho thật, không thì đừng trách mũi kiếm của đại gia là quá vô tình!”

    Đoàn Dự đáp: “Đại gia sao lại hung ác thế? Quí phái tên là Vô Lượng Kiếm, lại ở trong núi Vô Lượng. Kinh Phật dạy rằng: Có bốn điều vô lượng là từ, bi, hỉ, xả. Chắc quí vị ai cũng biết rồi, lấy trong lòng vui là Từ, dứt được điều khổ là Bi, vui thích khi thấy chúng sinh hết khổ là Hỉ, mong chúng sinh bỏ oán niệm thành bình đẳng là Xả. Vô lượng thọ Phật chính là Phật A Di Đà. A Di Đà Phật…” Chàng thao thao hết giảng Phật pháp lại niệm kinh. Cung Nhân Kiệt cáu quá, thu kiếm về vung tay tát bốp thật mạnh vào má Đoàn Dự. Chàng nghiêng đầu đi nhưng không tránh nổi, mặt sưng vù lên, năm vết ngón tay in rành rành trên má.

    Mọi người đều chưng hửng, vì ai nấy đều thấy Đoàn Dự thần sắc thản nhiên, coi đối phương bằng nửa con mắt, tất mình mang tuyệt nghệ. Ngờ đâu Cung Nhân Kiệt giơ tay ra tát mà chàng không tránh kịp, thì ra chàng chẳng biết tý võ nghệ nào cả. Những tay võ nghệ siêu quần giả vờ ngớ ngẩn để trêu cợt đối phương là thường, chứ chưa từng thấy ai không biết võ nghệ mà dám cả gan ngạo mạn bao giờ. Chính Cung Nhân Kiệt cũng không khỏi ngây người ra một lúc rồi túm lấy ngực Đoàn Dự nhấc bổng lên quát mắng: “Ta tưởng mi ghê gớm thế nào, té ra chỉ là cái bị thịt.”

    Đoạn y xô Đoàn Dự lăn kềnh xuống đất. Đoàn Dự tế thế nào lại va đầu vào chân bàn đánh binh một cái.

    Mã Ngũ Đức trong lòng không nỡ, chạy đến nâng dây nói: “Đoàn lão đệ đã không biết võ thì đến đây đùa giỡn làm chi cho khổ thân?” Đoàn Dự xoa đầu nói bâng quơ: “Mình chỉ định du sơn ngoạn thủy, té ra họ lại tỉ kiếm đánh nhau. Cái trò người nọ giết người kia có gì đáng xem đâu? Đi xem khỉ làm trò còn hay hơn nhiều. Chào Mã ngũ gia nhé, ta đi về đây.”

    Một tên thanh niên đứng cạnh Tả Tử Mục nhảy ra đứng chắn lại nói: “Mi đã chẳng biết tí võ công, giá cứ cụp đuôi mà đi thẳng thì còn khả dĩ, sao dám bảo kiếm pháp bọn ta không bằng khỉ làm trò? Ta cho ngươi chọn: một là cùng ta tỷ thí để nếm mùi kiếm pháp không bằng trò khỉ của bọn ta; hai là đến trước mặt sư phụ ta dập đầu lạy tám lạy, tự mắng to ba tiếng: “Thối lắm!”. Đoàn Dự cười đáp: “Bảo thầy trò mi thối thì ai mà ngửi được?” Gã kia nổi xung, giơ quyền ra toan thoi một quả thôi sơn, nào ngờ quả đấm mới ra nửa chừng bỗng một vật từ trên không rớt xuống, quấn lấy cổ tay gã. Gã cảm thấy lành lạnh, mềm nhũn, lại ngọ nguậy thì giật mình vội rụt tay, nhìn kỹ lại xem thì ra là một con rắn đỏ chấm xanh, trông đến phát khiếp. Gã ra sức vẫy tay thật mạnh cho nó rơi ra, nhưng nó bám rất chặt, làm thế nào nó cũng không chịu buông ra. Chợt nghe tiếng Cung Quang Kiệt la thất thanh: “Rắn! Rắn!” Mặt y tái mét, thò tay vào trong cổ áo, mò sau lưng nhưng không thấy gì, sợ quá hai chân nhảy loạn lên rồi cố cởi áo ra. Hai vụ quái đản xảy ra cùng lúc, mọi người còn đang kinh ngạc, chợt nghe trên đầu có tiếng cười khúc khích, liền ngẩng lên nhìn thì thấy một cô gái ngồi vắt vẻo trên xà nhà, hai tay cầm hai nắm… rắn.

    Cô gái này tuổi chừng mười sáu mười bảy, vận áo xanh, mặt tươi như hoa. Trong hai tay cô có đến chục con rắn nhỏ, con xanh, con sặc sỡ, đầu hình tam giác, xem ra toàn là rắn độc cả. Cô bé cầm rắn như thể cầm đồ chơi, không chút sợ hãi. Mọi người đang mải nhìn cô bé, bỗng nghe Cung Nhân Kiệt cùng sư đệ sợ quá la hét om sòm, lại quay xuống nhìn hai gã.

    Đoàn Dự vẫn ngây người ra mà nhìn cô bé ngồi trên xà nhà đung đưa hai chân, ra chiều ung dung lắm. Chàng lên tiếng hỏi: “Cô nương! Phải chăng cô đã cứu ta?” Cô gái hỏi lại: “Mấy tên ác nhân đánh ngươi, sao ngươi không trả đòn?” Đoàn Dự lắc đầu: “Ta không biết đánh trả.”

    Bất thình lình nghe “A” một tiếng, mọi người cùng reo lên, Đoàn Dự nhìn xuống thấy Tả Tử Mục tay cầm thanh trường kiếm hãy còn chút vết máu, dưới đất một con rắn bị đứt làm hai khúc, thì ra nó đã bị họ Tả chém chết. Còn Cung Quang Kiệt, mình trần trùng trục đang nhảy tưng tưng, một con rắn xanh đang bò trên lưng rất nhanh, Quang Kiệt vỗ mấy lần đều sểnh, không sao bắt được.

    Tả Tử Mục quát: “Quang Kiệt ngồi im! Không được động đậy!” Quang Kiệt sững người thấy ánh kiếm lóe sáng, con rắn xanh cũng bị chặt làm đôi. Tả Tử Mục chém nhanh như điện, mọi người không ai kịp trông rõ làm thế nào y chém chết con rắn mà lưng Quang Kiệt không bị sây sát mảy may, liền lớn tiếng hoan hô.

    Cô gái trên xà nhà kêu lên: “Ô hay! Lão già râu dài kia! Sao người dám chém chết hai con rắn của ta? Ta không nể mặt ngươi nữa đâu!” Tả Tử Mục giận dữ đáp: “Mi là con cái nhà ai, đến đây làm gì?” Hỏi thì hỏi vậy nhưng trong lòng y không khỏi băn khoăn nghĩ thầm: con bé này ngồi trên xà nhà từ lúc nào? Sao bấy nhiêu người mà không một ai hay biết? Chuyện này đồn đại ra giang hồ thì Vô Lượng Kiếm phái thật là bẽ mặt. Cô gái vẫn đung đưa hai chân, phô đôi hài màu lục thêu mấy đóa hoa vàng, rõ ràng là cách ăn mặc của một cô gái nhỏ. Tả Tử Mục lại nói: “Nhảy xuống đây mau!” Đoàn Dự vội kêu lên: “Cao như vậy mà bảo nhảy xuống để té chết người ta à? Mau mau mang thang đến.” Chàng vừa dứt lời, mấy người cười ồ lên. Mấy nữ đồ đệ Tây tông nghĩ thầm: Anh chàng này mặt mày cũng sáng sủa, sao lại ngớ ngẩn đến thế được. Cô gái kia đến ngồi trên xà nhà, thần không hay, quỷ không biết thì khinh công đã chẳng vừa, việc gì phải bắc thang cho cô xuống.

    Cô gái lại nói: “Lão có đền ta hai con rắn, ta mới xuống nói chuyện với lão!” Tả Tử Mục nói: “Hai con rắn nhỏ có chi đáng kể, bắt đâu chả được?” Lão nói có phần đỡ gay gắt là do trong bụng nghĩ: Con nhỏ này dù chơi được với rắn độc, nhưng nó chỉ là đứa trẻ nít chả có gì đáng ngại; chỉ e đằng sau nó còn có sư trưởng, cha mẹ hẳn là những tay ghê gớm. Cô gái cười bảo: “Lão tưởng dễ lắm à? Thử đi bắt về cho ta xem nào?”

    Tả Tử Mục lại giục: “Hãy xuống đây đã!” Cô gái nói: “Ta không xuống.” Tả Tử Mục nói: “Ngươi không chịu xuống, ta sẽ lên kéo xuống.” Cô gái cười khanh khách nói: “Lão có giỏi thì lên bắt ta xuống xem nào!” Tả Tử Mục nghĩ mình đường đường là một vị tôn sư đang ở trước mặt bao nhiêu anh hùng thiên hạ cùng các môn đồ, chả lẽ lại đi đôi co với đứa trẻ nít, bèn quay lại bảo Song Thanh đạo cô: “Tân sư muội! Sư muội cho một tên nữ đệ tử lên kéo cổ nó xuống đây!” Song Thanh đáp: “Môn đồ Tây tông chả có đứa nào giỏi khinh công như thế.” Tả Tử Mục sầm nét mặt lại, toan nói nữa thì cô gái lại lên tiếng: “Lão không đền ta hai con rắn thì ta cho lão biết tay.” Nàng thò tay vào túi da đeo bên hông lấy ra một vật đây lông lá, nhằm Cung Quang Kiệt ném xuống.

    Quang Kiệt tưởng là một thứ ám khí không dám giơ tay ra đón lấy, nhích sang một bên để tránh, bất ngờ đó lại là một sinh vật, ở trên không chỉ uốn một cái đã nhảy tót lên lưng mình. Mọi người mới nhìn rõ, thì ra là một con chồn nhỏ màu xám nhạt. Con này linh hoạt vô cùng, chạy từ sau lưng ra trước ngực lên đầu, rồi chạy tứ tung khắp mọi nơi trong người gã. Cung Quang Kiệt cố giơ tay lên bắt, nhưng con chồn kia nhanh gấp mười y, người chung quanh chỉ thấy y huơ chân múa tay, vỗ lưng đập ngực, hết chộp vào mặt lại đập vào cổ, nhưng con chồn vẫn thoăn thoắt không ngừng. Đoàn Dự cười nói: “Hay lắm! Hay lắm! Con chồn chơi trò này thú tuyệt!”

    Con chồn đó dài chưa đầy hai gang tay, mắt đỏ chót, móng chân chắc là sắc lắm nên chỉ giây lát thân mình trần trùng trục của Cung Quang Kiệt đã đầy vết xước. Chợt nghe cô gái chúm miệng thổi mấy tiếng còi, con chồn bò lên má Cung Quang Kiệt, cái đuôi rậm rì lướt qua mắt, qua mũi. Quang Kiệt đưa tay ra chộp, nhưng con chồn đã luồn ra sau gáy, mấy ngón tay y thành ra chộp vào mắt mình.

    Lúc đó Tả Tử Mục lại gần, thanh trường kiếm cũng đang phóng ra, con chồn đang bò trên mặt trái Quang Kiệt thấy mũi kiếm phóng tới liền luồn ra sau tránh khỏi. Mũi kiếm chỉ tới ngoài da mí mắt liền ngừng lại ngay. Tuy y đâm không trúng con chồn nhưng người xem cũng phải thán phục, mũi kiếm chỉ vào sâu một phân là Quang Kiệt sẽ mất một mắt. Song Thanh tự nghĩ “Kiếm thuật Tả huynh thật là ghê gớm. Chỉ một chiêu Kim Châm Độ Kiếp đó ta chẳng thể nào bì nổi.”

    Soẹt soẹt soẹt soẹt, Tả Tử Mục lại đâm luôn bốn nhát liền mà dường như con chồn có mắt cả ở trên lưng nên nó tránh được hết, mỗi nhát chỉ cách nhau chừng sợi tóc. Cô gái gọi bảo: “Lão râu dài kia! Kiếm pháp của ông giỏi đấy!”

    Nàng lại huýt hai tiếng nữa, con chồn lập tức chạy xuống đất, thoắt cái đã biến mất. Tả Tử Mục còn đang ngơ ngác, Cung Quang Kiệt lại đập hai tay, hai chân loạn cả lên. Thì ra nó đã chui vào trong ống quấn gã.

    Đoàn Dự vừa vỗ tay vừa cười ha hả nói: “Bây giờ mới thật là mở rộng tầm mắt. Hay tuyệt là hay!”

    Cung Quang Kiệt vội cởi nốt quần dài ra để hở cặp đùi đầy lông lá. Cô gái chẳng e dè gì cả, lên tiếng gọi to: “Tên ác ôn kia! Tính mi thích ăn hiếp người khác, bây giờ ta làm cho mi trần như nhộng, thử xem mi có biết xấu hổ không?”

    Nàng lại thổi toét toét hai tiếng. Con chồn nghe lệnh, không bám vào chân nữa mà chui ngay vào trong quần đùi Cung Quang Kiệt. Trong luyện võ sảnh có nhiều thiếu nữ, Quang Kiệt thà chết chứ không thể cởi nốt quần đùi ra. Gã hét lên một tiếng, hai chân nhảy tưng tưng, hai tay vỗ hết lên bụng lại lên mông, chạy vội ra ngoài.

    Y vừa chạy đến cửa sảnh, bất thình lình ngoài cửa cũng có người chạy vào. Cả hai cùng vội quá thành ra đụng mạnh đánh “binh” một cái, Cung Quang Kiệt bắn ngược trở lại, còn người ngoài cửa chạy vào bị hất ngã ngửa. Tả Tử Mục nhìn thấy kêu lên: “Dung sư đệ”.

    Cung Quang Việt không lý gì đến con chồn đang chạy từ đùi trái sang đùi phải, lại từ đùi phải lên mông, lật đật chạy lại nâng sư thúc dậy. Đang nâng dở thì con chồn cào ngay vào “sở chỉ huy”, y la lên một tiếng, hai tay chộp vào con chồn, buông sư thúc ra cho té xuống.

    Trên xà nhà cô gái cười khanh khách nói: “Cho mi đáng kiếp!” Cô lại huýt một tiếng dài, con chồn ở trong quần đùi Cung Nhân Kiệt chui ra, rồi theo bờ tường chạy vút lên xà nhà, nhanh như chớp chuồn vào lòng cô gái. Cô gái khen: “Ngoan lắm”, rồi lấy hai ngón tay nhón đuôi một con rắn nhỏ, giơ lên nhứ nhứ trước mặt con chồn. Con vật liền giơ chân trước vồ lấy ăn ngay. Thì ra nàng đem theo rắn là để cho con vật này ăn. Đoàn Dự chưa thấy bao giờ nên thú vị lắm. Con chồn ăn hết con rắn nhỏ lại chui vào túi đa bên hông cô gái.

    Cung Quang Kiệt nâng được sư thúc lên, cả kinh líu lưỡi gọi: “Dung… Dung sư thúc! Sư… sư thúc làm sao vậy?” Tả Tử Mục chạy lại xem thì sư đệ Dung Tử Củ hai mắt đã trợn ngược lên, mặt đầy vẻ căm phẫn và tắt thở mất rồi. Tả Tử Mục cả kinh vội làm mọi cách khai thông các huyệt đạo, nhưng y không thể nào hồi tỉnh lại nữa. Tả Tử Mục biết võ công Dung Tử Củ chưa bằng mình nhưng so với Cung Nhân Kiệt thì cao hơn nhiều, thế mà đụng một cái đã chết thì ắt bị trọng thương từ trước, vội cởi áo ra xem, thấy trên bụng có tám chữ: “Thần Nông Bang tru diệt Vô Lượng Kiếm”. Mọi người đều kinh hoảng kêu lên.

    Tám chữ đó ăn sâu vào trong da, không phải do bút mực viết ra, cũng không phải do mũi nhọn sắc vạch vào, đúng là viết bằng một thứ độc dược ghê gớm, thuốc độc ngấm xuống ăn loét vào trong.

    Tả Tử Mục chú ý nhìn một lát, bất giác nổi giận đùng đùng, tay rung thanh trường kiểm nghe tiếng u u, nghiến răng quát to: “Để xem Thần Nông Bang tru diệt Vô Lượng Kiếm hay là Vô Lượng Kiếm tru diệt Thần Nông Bang? Thù này không trả, ta làm người sao được?”.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Thiên Long bát bộ. Tiểu thuyết của Kim Dung. Tác phẩm được bắt đầu được đăng trên tờ Minh báo ở Hồng Kông và Nam Dương thương báo ở Singapore vào ngày 03-09-1963 đến ngày 27-05-1966, liên tục trong 4 năm. Các Dịch giả: Hàn Giang Nhạn; Đông Hải; Nguyễn Duy Chính. NXB Văn học, 2002.

    Bản điện tử của truyenkimdung.net/thien-long-bat-bo.html

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,164,834

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/