Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập43,165,904

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Thiên Long bát bộ

Kim Dung

  • Thứ sáu, 10:54 Ngày 11/12/2020
  • Lão thấy Diệp Nhị Nương được Hư Trúc dìu đi mỗi lúc một xa, bèn quát mụ dừng lại để hỏi tiếp: “Cha đứa nhỏ là ai, nếu ngươi không nói ra thì ta cũng biết. Ta đã ở trong chùa Thiếu Lâm ba mươi năm, có chuyện gì qua mắt được ta? Bọn ngươi hò hẹn nhau trong động Từ Vân thế nào, rồi hắn kêu Kiều bà bà đến đỡ đẻ cho ngươi ra sao, ta đều thấy rõ hết, ngươi có muốn ta kể hết cho mọi người nghe không?”

    Diệp Nhị Nương quay người lại, lê đến gần Tiêu Viễn Sơn thêm mấy bước, rồi bỗng quỳ xuống nói: “Tiêu lão anh hùng! Ông là bậc đại nhân đại nghĩa, nên bỏ qua cho y. Hài nhi của ta đã cùng quí công tử lạy nhau tám lạy, kết thành huynh đệ kim lan. Y… y là người có thanh danh trong võ lâm, địa vị tối cao mà niên kỷ cũng lớn rồi, xin đừng bắt y phải chịu tai tiếng. Tiêu anh hùng muốn giết, muốn mổ ta thế nào cũng được, chỉ xin… chỉ xin đừng làm khó dễ y.”

    Quần hùng trước đã nghe Tiêu Viễn Sơn nói phụ thân Hư Trúc là một “cao tăng đắc đạo”, sau lại nghe Diệp Nhị Nương bảo y có thanh danh trong võ lâm, lại có địa vị tối cao. Mấy việc này kết hợp lại, rõ ràng người đó là một lão tăng có địa vị cao tại chùa Thiếu Lâm. Ai nấy đều đưa mắt nhìn các vị lão tăng râu mày bạc phơ ở Thiếu Lâm Tự nghìn năm lịch sử.

    Đột nhiên Huyền Từ phương trượng lên tiếng: “Thiện tai, thiện tai! Đã gây nghiệp nhân thì phải chịu nghiệp quả. Hư Trúc! Ngươi lại đây!” Hư Trúc chạy lại trước mặt phương trượng quỳ xuống. Huyền Từ nhìn ngắm y hồi lâu, rồi đưa tay ra khẽ xoa đầu y, nói: “Ngươi đã ở trong chùa hai mươi bốn năm, thế mà thủy chung ta vẫn không biết ngươi chính là con ta!”

    Câu này vừa nói ra, quần tăng và quần hùng nhốn nháo cả lên. Sắc mặt người nào cũng tỏ vẻ kinh dị, hãi hùng, căm giận, khinh bỉ, bi thương, mỗi người mỗi cảm xúc riêng, đủ các trạng thái. Huyền Từ phương trượng đạo cao đức trọng, trong võ lâm chẳng ai là không ngưỡng mộ, ngờ đâu lộ ra việc này khiến ai nấy đều sửng sốt. Phải đến nửa ngày, tiếng bàn tán huyên náo mới lắng xuống.

    Huyền Từ lại lên tiếng, giọng nói vẫn trầm tĩnh: “Tiêu lão thí chủ! Thí chủ phải xa cách lệnh lang ba mươi mấy năm, tuy không được gặp nhưng vẫn biết con trai võ công tinh tiến, thanh danh lừng lẫy, trở nên anh hùng hảo hán bậc nhất giang hồ, như vậy trong lòng thí chủ chắc cũng được an ủi phần nào. Còn ta thì hàng ngày được thấy hài nhi, mà cứ tưởng đã bị cường đạo cướp mất, còn sống hay đã chết cũng không biết, ngày đêm mong nhớ canh cánh bên lòng.”

    Diệp Nhị Nương vừa khóc vừa nói: “Ngươi… ngươi đừng nói nhiều nữa! Bây giờ biết làm thế nào đây?”. Huyền Từ dịu dàng trả lời: “Nhị nương! Chúng ta đã tạo nên ác nghiệp, có hối hận cũng vô ích. Mấy chục năm nay, ngươi thật là đau khổ!” Diệp Nhị Nương vẫn khóc: “Ta không đau khổ. Ngươi đau khổ mà không nói ra được, mới thật sự là đau khổ.”

    Huyền Từ chầm chậm lắc đầu, rồi nhìn Tiêu Viễn Sơn nói: “Tiêu lão thí chủ! Ngoài Nhạn Môn Quan ngày trước, lão nạp đã phạm vào đại tội. Các huynh đệ đã vì lão nạp mà tham gia vào việc này đều chết cả rồi. Lão nạp đến nay mới chết, kể ra cũng đã quá muộn, nhưng trong lòng có một điều vẫn chưa hiểu rõ.” Đột nhiên, đại sư cất cao giọng nói: “Mộ Dung Bác thí chủ! Ngày ấy, chỉ vì thí chủ phao tin rằng võ sĩ Khất Đan định tấn công vào chùa Thiếu Lâm đoạt kinh điển võ học, nên mới có sự hiểu lầm to lớn như vậy. Trong lòng thí chủ có đau khổ áy náy hay chăng?”

    Mọi người nghe đến ba chữ “Mộ Dung Bác” đều giật mình kinh hãi. Đa số quần hùng đều biết phụ thân của Mộ Dung Phục tên là Bác, nhưng lão đã tạ thế lâu rồi, sao bây giờ Huyền Từ đột nhiên gọi đến tên? Vậy Mộ Dung Bác thật ra là ai? Mọi người đều nhìn theo mục quang Huyền Từ, thì thấy đôi mắt lão tăng đang chăm chú nhìn nhà sư áo xám ngồi dưới gốc cây.

    Nhà sư áo xám bật cười rồi đứng dậy nói: “Phương trượng đại sư! Nhãn quang đại sư thật là lợi hại, đã nhận ra tại hạ!” Rồi lão đưa tay kéo tấm khăn bịt mặt xuống, để lộ khuôn mặt tụấn nhã, đôi mày bạc phơ dài rủ xuống má.

    Mộ Dung Phục vừa kinh ngạc vừa vui mừng, la lên: “Gia gia! Gia gia… chưa chết ư?” Lúc đó trong lòng y nổi lên rất nhiều nghi vấn. Ngày phụ thân tạ thế, chính tay y sờ xem hơi thở mấy lần, chính tay y khâm liệm an táng. Bây giờ phụ thân còn sống sờ sờ, tất nhiên khi đó đã vận thần công để bế khí giả chết. Sao lão nhân gia lại giấu giếm cả đứa con ruột thịt để làm gì?

    Huyền Từ nói: “Mộ Dung lão thí chủ! Ta cùng thí chủ giao hảo lâu năm, dĩ nhiên tất tin tưởng lời thí chủ. Ngày trước, thí chủ báo với ta cái tin đó, ta chẳng nghi ngờ gì. Sau khi giết lầm người tốt, lão nạp không tìm thấy thí chủ nữa, rồi được tin thí chủ mắc bệnh qua đời. Lão nạp đau xót vô cùng, cứ nghĩ rằng thí chủ cũng như bần tăng sơ ý tin lời người khác gây nên tội lỗi, hối hận rồi uất khí không tan được mà nên nỗi. Ngờ đâu… Hỡi ôi!…” Đại sư thở dài, tỏ ra vừa hối hận vừa oán trách Mộ Dung Bác.

    Tiêu Viễn Sơn cùng Tiêu Phong đưa mắt nhìn nhau, bây giờ hai người mới hiểu kẻ phao tin để Đại Tống và Khất Đan chém giết nhau chính là Mộ Dung Bác. Tiêu Phong chợt nghĩ: “Chuyện bi thảm ngoài ải Nhạn Môn Quan là do Huyền Từ cầm đầu, nhưng lão là phương trượng chùa Thiếu Lâm, dĩ nhiên phải quan tâm đến sự tồn vong của giang sơn Đại Tống và kinh điển võ học bản môn, phải theo đại nghĩa mà làm. Về sau lão phát giác ra mình đã sai lầm, bèn đem hết sức bù đắp lại. Thế thì kẻ đại ác là Mộ Dung Bác chứ không phải Huyền Từ.”

    Còn Mộ Dung Phục thì nghe Huyền Từ nói, lập tức hiểu ra: “Gia gia phao tin giả là muốn châm ngòi cho Tống, Liêu đánh nhau, Đại Yên ta đứng giữa hưởng lợi. Sau đó dĩ nhiên Huyền Từ phải nghi ngờ chất vấn, gia gia làm sao trả lời được? Gia gia vốn mang thân phận đại anh hùng hào kiệt, dĩ nhiên không thể nhận lỗi đó mà hủy hoại thanh danh. Lão nhân gia hiểu rõ Huyền Từ, nếu người giả chết thì Huyền Từ tất không tiết lộ ra để tổn hại đến danh dự người quá cố. Vì thế gia gia phải giả chết để bảo toàn uy danh nhà Mộ Dung, ta vẫn có thể tiếp tục mưu đồ đại sự. Nếu gia gia không làm vậy thì anh hùng hào kiệt Trung Nguyên tất kéo đến hỏi tội nhà Mộ Dung, gia gia toàn mạng là khổ rồi, còn nói gì đến chuyện phục quốc? Chỉ vì lúc đó ta còn quá trẻ, nếu biết gia gia trá tử thì không chừng để lộ chuyện, nên gia gia phải giấu cả ta.” Y nghĩ đến tâm ý của phụ thân, vứt bỏ tất cả nhằm khôi phục Đại Yên, cảm thấy trách nhiệm trên vai mình càng nặng nề hơn.

    Huyền Từ chầm chậm hỏi: “Mộ Dung lão thí chủ! Hôm nay lão nạp nghe mấy lời thí chủ khuyên bảo lệnh lang, mới biết được dòng họ Mộ Dung là hậu duệ đế vương, mưu đồ rất lớn. Như thế có thể hiểu năm xưa thí chủ phao tin giả là để làm gì. Nhưng mưu đồ của thí chủ đến nay vẫn chưa thành công, mà không biết bao nhiêu sinh linh đã thiệt mạng một cách oan uổng”. Mộ Dung Bác đáp: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.”

    Huyền Từ đổi sắc mặt, nói: “Tệ sư đệ là Huyền Bi đã từng vâng mệnh lão nạp đi đến Cô Tô để hỏi thăm thí chủ. Không hiểu sư đệ đã nói năng đắc tội, hay đã thấy được vết tích gì trong quí phủ mà đoán được ý đồ tạo phản, nên thí chủ muốn giết người bịt miệng. Nhưng sao thí chủ lại nhẫn nại thêm mấy năm, lúc Huyền Bi đến Đại Lý mới ra tay. Ái chà! Thí chủ lại toan gây tranh chấp giữa Đại Lý với Thiếu Lâm Tự, vì thế mà lúc thí chủ ra tay ám toán đã sử dụng Nhất Dương Chỉ của Đoàn gia. Chỉ vì thí chủ học Nhất Dương Chỉ chưa đến chỗ tinh vi, cuối cùng cũng phải dùng tuyệt kỹ gia truyền Gậy ông đập lưng ông để sát hại sư đệ Huyền Bi của ta.”

    Mộ Dung Bác cười khẩy, lắc mình vung quyền đánh vào thân cây lớn kế bên. Nghe tiếng răng rắc, mấy cành lớn gãy rơi xuống. Hắn đánh vào thân cây, nhưng lại chấn động gãy hai cành cây ở cao hơn một trượng, thần công quả thật phi phàm. Mười mấy vị lão tăng Thiếu Lâm đồng thanh hô lên: “Vi Đà Chử!” Trong thanh âm đầy vẻ kinh hãi.

    Huyền Từ gật đầu nói: “Thí chủ lén lút ở trong bản tự nhiều năm, quả nhiên đã luyện thành môn Vi Đà Chử trong bảy mươi hai tuyệt kỹ của Thiếu Lâm. Nhưng tuyệt chiêu Thiên Linh Thiên Liệt của phái Phục Ngưu ở Hà Nam, chắc thí chủ không khỏi tốn nhiều công phu mới luyện được. Tại sao thí chủ giết Kha Bách Tuế lại phải sử dụng võ học gia truyền?”

    Mộ Dung Bác cười đầy vẻ âm hiểm, lên tiếng đáp: “Lão phương trượng quả nhiên tinh minh tột bậc, không rời khỏi sơn môn mà hiểu rõ mọi việc trên giang hồ chẳng khác lòng bàn tay, khiến cho người khác phải khâm phục. Chuyện này mà phương trượng lại đoán…” Y chưa dứt lời thì có hai người hét to lên, nhắm vào y xông tới, chính là Kim toán bàn Thôi Bách Tuyền và sư điệt Quá Ngạn Chi. Mộ Dung Bác chỉ phất tay áo bào, hai người Thôi, Quá đã văng ra hơn một trượng, nằm dưới đất không nhúc nhích gì nữa. Chỉ trong nháy mắt lão đã phóng Tụ Trung Chỉ trúng vào huyệt đạo hai người.

    Huyền Từ nói: “Kha thí chủ gia tài ức vạn, hành sự cẩn thận tỉ mỉ. Ái chà! Thí chủ muốn chiếm lấy gia tài đó để tính chuyện chiêu binh mãi mã, tích trữ lương thảo. Nhưng chắc là Kha thí chủ không chịu, lại còn muốn báo lên quan phủ.”

    Mộ Dung Bác cười ha hả, giơ ngón tay cái lên nói: “Lão phương trượng thật là sáng suốt. Tiếc rằng phương trượng không rõ đầu đuôi câu chuyện, cũng chưa rõ những chuyện đã từng xảy ra, nên tại hạ cùng vị Tiêu huynh này đã trốn trong quí tự mấy chục năm, mà phương trượng cũng chẳng biết gì.”

    Huyền Từ chầm chậm lắc đầu, thở ra một hơi rồi đáp: “Hiểu rõ người khác thì dễ, hiểu rõ chính mình thì khó. Muốn khắc chế địch thì dễ; còn muốn khắc phục tam độc tham sân si trong lòng mình thì khó hơn không biết mấy lần.”

    Mộ Dung Bác nói: “Lão phương trượng! Niệm tình hai ta giao kết nhiều năm, ta sẽ trả lời thẳng thắn. Lão còn gì muốn hỏi ta không?” Huyền Từ đáp: “Cứ theo cách đối nhân xử thế của Tiêu Phong thí chủ, thì ba vị Mã Đại Nguyên, Mã phu nhân, Bạch Thế Kính của Cái Bang chắc chắn không phải Tiêu Phong sát hại. Không biết là Mộ Dung lão thí chủ hay Tiêu lão thí chủ đã hạ thủ?”

    Tiêu Viễn Sơn đáp: “Mã Đại Nguyên thì bị vợ y cùng với Bạch Thế Kính âm mưu giết chết. Bạch Thế Kính thì do ta giết. Tình hình lúc ấy, chính Đoàn Vương gia của Đại Lý đã mắt thấy tai nghe. Phương trượng muốn hiểu rõ thì lát nữa cứ hỏi Đoàn Vương gia sẽ biết.”

    Tiêu Phong tiến lên hai bước, chỉ vào mặt Mộ Dung Bác quát lên: “Mộ Dung lão tặc! Ngươi là người đã gây ra đại họa này, mau bước lên đây chịu chết!” Mộ Dung Bác cười khẩy một tiếng, buông tay Mộ Dung Phục ra rồi theo đường lên núi mà vọt đi cực kỳ mau lẹ. Tiêu Viễn Sơn cùng Tiêu Phong quát lên: “Đuổi!” Dứt lời hai người chia hai bên tả hữu đuổi theo. Cả ba người này đều là những tay võ công trác tuyệt, chỉ trong nháy mắt đã chạy rất xa, một người chạy, hai người đuổi, đều chạy về phía chùa Thiếu Lâm. Chỉ trong giây lát một bóng xám hai bóng đen, đã khuất sau tường vàng ngói biếc của Thiếu Lâm Tự.

    Quần hùng thấy diễn biến ly kỳ đều nghĩ thầm: “Mộ Dung Bác cùng Tiêu Viễn Sơn công lực ngang nhau không phân cao thấp. Có thêm Tiêu Phong thì họ Mộ Dung không thể địch nổi. Không hiểu sao lão không chạy xuống núi để trốn mà lại chạy lên chùa Thiếu Lâm?”

    Bọn Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Bao Bất Đồng, Phong Ba Ác và mười tám võ sĩ Khất Đan đều toan chạy lên núi để tiếp tay cho chủ nhân, nhưng họ vừa cất bước thì Huyền Từ đã quát lên: “Lập trận ngăn cản.” Hơn trăm nhà sư chùa Thiếu Lâm đều dạ ran, lập thành trận thế ngay giữa đường lên núi, người cầm thiền trượng, kẻ cầm giới đao cản mọi người lại. Huyền Tịch lên tiếng: “Chùa Thiếu Lâm là nơi Phật môn thiện địa, không phải là nơi để đánh nhau. Xin các vị thí chủ đừng tự tiện lên nữa.”

    Bọn Đặng Bách Xuyên thấy chùa Thiếu Lâm người nhiều thế mạnh, biết không thể xông lên được, nếu cố gây chuyện thì chỉ tổ thêm cừu địch, tuy họ băn khoăn lo lắng cho chủ nhân nhưng đành phải dừng bước. Bao Bất Đồng nói: “Không sai, không sai! Chùa Thiếu Lâm là nơi Phật môn thiện địa…” Câu cửa miệng của gã là “Sai bét, sai bét!” mà bây giờ lại “Không sai, không sai!” Không ít người liền ngạc nhiên nhìn gã, nhưng bỗng nghe tiếp: “…chuyên nhận nuôi những đứa con hoang tội nghiệp.”

    Gã vừa nói câu này, liền bị mấy trăm cặp mắt nhìn trừng trừng vào mặt đầy vẻ căm hận. Bao Bất Đồng là người lớn mật, tuy gã biết rõ quần tăng chùa Thiếu Lâm có rất nhiều cao thủ vào hàng chữ Huyền, bất luận là ai gã cũng không địch nổi, thế mà gã muốn nói là nói chẳng kiêng nể chút nào. Gã thấy quần tăng chùa Thiếu Lâm hằn học nhìn mình, thì cũng hầm hầm nhìn lại không chớp mắt.

    Bỗng nghe Huyền Từ lớn tiếng nói: “Lão nạp phạm vào đại giới của Phật môn, làm nhơ danh chùa Thiếu Lâm. Huyền Tịch sư đệ! Theo giới luật bản tự thì phải trừng trị thế nào?” Huyền Tịch ngập ngừng đáp: “Chuyện này… Sư huynh…” Huyền Từ nói: “Nước có phép nước, nhà có luật nhà. Bất luận là môn phái bang hội nào, tôn tộc chùa chiền nào cũng khó tránh khỏi có những đệ tử bất kham. Muốn bảo toàn thanh danh bản tự, răn đe để vĩnh viễn không có người phạm pháp, phải chiếu luật mà trừng trị, không thể nhân nhượng dược. Chấp pháp tăng! Đem Hư Trúc ra đánh một trăm ba chục côn. Một trăm côn phạt tội chính y, còn ba chục côn là y chịu thay cho sư phụ.”

    Chấp pháp tăng đưa mắt nhìn Huyền Tịch. Huyền Tịch gật gật đầu, còn Hư Trúc quì xuống để chịu phạt. Chấp pháp tăng vung côn lên đánh, lưng và mông Hư Trúc da thịt nát nhừ, máu bắn tứ tung. Diệp Nhị Nương trong lòng đau xót nhưng thấy Huyền Từ oai nghiêm nên sợ không dám van xin.

    Hư Trúc lãnh xong một trăm ba mươi trượng, không vận nội lực chống đỡ chút nào, đau quá không ngồi dậy được. Huyền Từ lại nói: “Kể từ lúc này, ngươi rời chùa hoàn tục, không được quay lại làm tăng lữ chùa Thiếu Lâm nữa.” Hư Trúc sa lệ đáp: “Vâng!”

    Huyền Từ lại nói: “Huyền Từ phạm vào sắc giới, cũng phải chịu tội như Hư Trúc. Phương trượng mà phạm tội thì phải phạt nặng gấp đôi, chấp pháp tăng phải đánh Huyền Từ hai trăm côn thật nặng. Chùa Thiếu Lâm có được thanh danh là nhờ ở giới luật nghiêm minh, không được vị nể mà sinh tệ nhũng.” Huyền Từ nói xong, quay về phía Phật tượng trong Đại hùng bảo điện, quì phục xuống rồi tự cởi tăng bào, để hở lưng ra.

    Quần hùng ngơ ngác nhìn nhau. Phương trượng Thiếu Lâm thụ hình trước mặt công chúng, thật là chuyện xưa nay chưa từng có.

    Huyền Tịch nói: “Sư huynh! Người…” Huyền Từ lớn tiếng nói: “Thanh danh ngàn năm của Thiếu Lâm Tự không thể bị tiêu diệt vì ta!” Huyền Tịch sa lệ nói: “Vâng! Chấp pháp tăng! Dụng hình!” Hai nhà sư chấp pháp chắp tay khom lưng nói: “Phương trượng! Xin đắc tội!”, rồi hai người đứng thẳng lên, vung côn đập xuống lưng Huyền Từ. Hai vị này biết rằng phương trượng thụ hình thì đau khổ nhất là nỗi nhục nhã trước mặt công chúng, còn cái đau khổ về xác thịt không đáng kể, nếu họ hạ thủ dung tình, để người ngoài phát hiện rồi xuyên tạc thêm, thì phương trượng thụ hình thật là vô ích, không có kết quả gì. Vì thế mà mỗi côn đập xuống lưng và mông Huyền Từ đều vang lên những tiếng rùng rợn, máu đẫm tăng bào. Quần tăng nghe nhà sư chấp pháp vừa đánh vừa đếm số côn “… bảy mươi mốt, bảy mươi hai…”, ai cũng cúi đầu nhắm mắt, âm thầm niệm Phật.

    Đạo Thanh đại sư chùa Phổ Độ chợt lên tiếng: “Huyền Tịch sư huynh! Quí tự tôn trọng giới luật Phật môn, chính phương trượng cũng phải thụ hình, bần tăng rất khâm phục. Nhưng Huyền Từ sư huynh già nua tuổi tác, lại không vận nội lực chống đỡ, thì làm sao chịu nổi hai trăm côn? Bần tăng mạo muội có lời năn nỉ, hiện giờ phương trượng đã chịu tám mươi côn rồi, số còn lại xin để lại sau.”

    Rất nhiều người trong quần hùng cũng la lên: “Đúng thế, đúng thế! Bọn tại hạ cũng xin năn nỉ.”

    Huyền Tịch chưa kịp trả lời, Huyền Từ đã lên tiếng: “Đa tạ hảo ý của các vị, nhưng giới luật bản tự nghiêm như núi, không thể khoan thứ được. Chấp pháp tăng! Mau mau dụng hình!” Hai nhà sư chấp pháp đang ngừng tay, nghe phương trượng hạ lệnh, đành tiếp tục đánh xuống.

    Thêm bốn chục côn nữa thì Huyền Từ không gượng nổi, hai tay đang chống xuống đất bỗng nhũn ra, mặt gục xuống đất dính đầy cát bụi. Diệp Nhị Nương la khóc: “Việc này không thể trách phương trượng, mọi sự đều do ta không tốt, đều do ta cố ý dẫn dụ phương trượng. Số… số côn phạt còn lại, để ta nhận lấy.” Mụ vừa khóc la vừa xông đến chỗ Huyền Từ đang thụ hình. Huyền Từ đưa ngón tay trỏ điểm đánh “véo” một tiếng, phong tỏa huyệt đạo của mụ rồi mỉm cười nói: “Con người si mê kia! Ngươi không phải là nữ ni trong Phật môn, không phạm vào giới luật, thì làm gì có tội?” Diệp Nhị Nương đứng cứng đờ không nhúc nhích được, nhưng hai hàng nước mắt vẫn nhỏ xuống như mưa.

    Huyền Từ lại quát lên: “Dụng hình!” Chấp pháp tăng tiếp tục đánh cho đủ hai trăm côn, Huyền Từ máu me đầm đìa mặt đất, phải cố gắng đề khí hộ tâm cho khỏi ngất đi. Hai chấp pháp tăng dựng côn lên, quay lại bẩm với Huyền Tịch: “Thưa thủ tòa, Huyền Từ phương trượng chịu đòn đã đủ số.” Huyền Tịch gật gật đầu, không biết nói gì cho phải.

    Huyền Từ cố gắng ngồi dậy, đưa tay điểm cách không để giải huyệt cho Diệp Nhị Nương. Không ngờ đại sư bị thương nặng quá, không ngưng tụ chân khí được, phóng chỉ vô hiệu. Hư Trúc thấy vậy bèn giải khai huyệt đạo cho mẫu thân. Rồi Huyền Từ vẫy vẫy tay gọi Diệp Nhị Nương cùng Hư Trúc lại gần. Hư Trúc vẫn ngần ngừ không biết nên gọi Huyền Từ bằng gia gia hay bằng phương trượng.

    Huyền Từ đưa tay ra, tay phải nắm tay Diệp Nhị Nương, tay trái nắm tay Hư Trúc, lên tiếng nói: “Hai mươi mấy năm nay, ngày đêm nào ta cũng nhớ đến mẹ con ngươi. Ta biết mình phạm vào đại giới, nhưng lại không dám công khai sám hối trước chúng tăng. Hôm nay được giải thoát mọi sự, từ nay không còn lo lắng sợ hãi gì nữa, trong lòng mới được an lạc.” Rồi lão đọc kệ:”Người trên thế gian; Có muốn có yêu; Phiền não khổ nhiều; Giải thoát mới an.” Sau đó lão từ từ nhắm mắt lại, trên khóe miệng đọng nụ cười đầy vẻ bình yên.

    Diệp Nhị Nương cùng Hư Trúc không dám nhúc nhích, để ý nghe xem lão còn nói gì nữa không. Không ngờ tay lão mỗi lúc một lạnh dần, Diệp Nhị Nương giật mình, đưa tay ra sờ mũi, thì đã tắt hơi rồi. Mụ biến sắc la lên: “Ngươi… ngươi… bỏ ta mà đi ư?” Đột nhiên, mụ nhảy lên cao đến hơn trượng, rơi xuống nằm cạnh Huyền Từ đánh huỵch một tiếng, giãy giãy mấy cái rồi không nhúc nhích nữa.

    Hư Trúc la hoảng: “Má má! Má má không thể…” Y vội đưa tay ra đỡ mụ dậy, thì thấy một lưỡi trủy thủ đã cắm vào tim rồi. Hư Trúc hốt hoảng điểm các huyệt đạo xung quanh vết thương mụ, lại vận chân khí truyền vào thân thể Huyền Từ, đồng thời muốn cứu cả hai người nên chân tay luống cuống.

    Tiết Mộ Hoa chạy lại giúp đỡ, nhưng thấy cả hai người tim đã ngừng đập, mũi tắt hơi, hết đường cứu chữa, liền cất lời khuyên nhủ: “Sư thúc nên bình tĩnh lại. Hai vị lão nhân gia không thể cứu được nữa.”

    Hư Trúc vẫn chưa chịu thôi, y vận Bắc Minh chân khí đến nửa giờ mà song thân vẫn không thấy động tĩnh gì. Y đau đớn quá không nhịn được, khóc rống lên. Suốt hai mươi bốn năm trời, y chưa biết thế nào là cha mẹ bồng bế nâng niu, chưa được hưởng nửa ngày gia đình đoàn tụ. Hôm nay y vừa gặp cha sinh mẹ đẻ thì chỉ được một lúc là song thân đã nối nhau thảm tử.

    Quần hùng vừa được biết cha ruột Hư Trúc là Huyền Từ phương trượng chùa Thiếu Lâm, ai cũng khinh bỉ lão không giữ thanh qui giới luật, đến khi lão thản nhiên thụ hình trước công chúng để duy trì thanh danh bản tự thì mới thấy dũng tâm của lão hơn người. Ai cũng tưởng lão chịu cực hình là đền xong tội, không ngờ sau đó lại tự đoạn kinh mạch mà chết để chuộc lỗi. Hành động của Huyền Từ hiển nhiên là lão tự thấy hai trăm côn chưa đáng tội, chỉ có chết đi thì trăm việc đều xong. Giả tỉ Huyền Từ tự vận sớm hơn thì khỏi chịu hai trăm côn vừa đau vừa nhục, nhưng lão chịu đánh đòn rồi mới chết thì thật là hành vi của anh hùng hảo hán. Quần hùng đem lòng kính phục Huyền Từ, nhiều người tới quì lạy trước thi thể lão.

    Nam Hải Ngạc Thần nói: “Nhị tỉ! Ngươi chết rồi, bây giờ Nhạc lão tam không tranh ngôi thứ với ngươi nữa, ngươi cứ làm lão nhị.” Mấy năm nay, lúc nào lão cũng muốn tranh ngôi với Diệp Nhị Nương, cho rằng ai có võ công cao hơn thì được làm Thiên Hạ Đệ Nhị Ác Nhân. Bây giờ lão tự rút lui thật không phải chuyện dễ dàng, chỉ vì đau xót cái chết của Diệp Nhị Nương và bội phục tiết nghĩa của mụ.

    Hồi 43: Một đời mộng bá vương, cũng trở về cát bụi

    Bang chúng Cái Bang lúc vui vẻ theo Bang chủ đến chùa Thiếu Lâm thì hết sức khí thế, chỉ mong Bang chủ dựa vào võ công cao thâm khó lường để giành được ngôi võ lâm minh chủ, từ nay Cái Bang áp đảo được Thiếu Lâm mà làm lãnh tụ võ lâm Trung Nguyên. Ngờ đâu Trang Bang chủ lại bái Đinh Xuân Thu làm sư phụ, rồi bị Tiêu Phong đá gãy hai chân, nên khí thế mọi người đều xẹp xuống, trên mặt không còn chút hứng thú nào.

    Ngô trưởng lão lớn tiếng nói: “Các vị huynh đệ! Chúng ta còn ở đây làm chi? Chẳng lẽ còn muốn xin ít tiền lẻ cơm nguội nữa chăng? Mau xuống núi đi thôi.” Bang chúng dạ ran, toan quay xuống núi.

    Bỗng nhiên Bao Bất Đồng hô lớn: “Khoan đã, khoan đã! Bao mỗ còn có chuyện muốn nói với Cái Bang.” Trần trưởng lão đã cùng gã và Phong Ba Ác tỉ đấu ở Vô Tích, biết gã chẳng bao giờ nói được một câu tử tế. Lão dừng bước, lớn tiếng nói:” Họ Bao kia! Có lời thì nói ra, có rắm thì đừng phóng.” Bao Bất Đồng đưa tay bịt mũi la lên: “Thối quá! Thối quá! Trời ơi, tên ăn mày nào cũng thối! Trong Cái Bang nhà ngươi có một lão hóa tử thối tha tên là Dịch Đại Bưu phải không?”

    Trần trưởng lão nghe gã gọi đến Dịch Đại Bưu liền để ý hỏi lại: “Có thì sao, mà không có thì sao?” Bao Bất Đồng đáp: “Ta nói là tên ăn mày nào cũng thối. Ngươi đã chõ miệng vào, tức là thừa nhận rồi phải không?” Trần trưởng lão nghĩ đến việc lớn trong bang, không thèm đấu khẩu tranh hơn thua với gã, liền hỏi: “Ta hỏi ngươi, Dịch Đại Bưu làm sao? Hắn là đệ tử bản bang được phái đi công chuyện bên Tây Hạ. Ngươi có tin tức gì về gã không?”  Bao Bất Đồng đáp: “Chính là ta đang định nói với ngươi về một chuyện lớn bên Tây Hạ, nhưng Dịch Đại Bưu thì đã xuống gặp Diêm Vương rồi.” Trần trưởng lão sửng sốt hỏi: “Có thật không? Bên Tây Hạ có việc gì trọng đại?” Bao Bất Đồng đáp: “Ngươi đã mắng ta hễ mở miệng là phóng rắm. Bây giờ ta không muốn phóng rắm nữa.”

    Trần trưởng lão tức muốn dựng chòm râu bạc lên, nhưng lại nghĩ đến chuyện lớn là trọng, liền cười ha hả nói: “Lão phu đã đắc tội với các hạ, bây giờ xin lỗi vậy.” Bao Bất Đồng nói: “Xin lỗi thì không cần, chỉ cần từ đây ngươi phải ít nói đi mà phóng rắm ra nhiều hơn.” Trần trưởng lão ngạc nhiên tự hỏi: “Gã nói vậy là sao?”. Nhưng lão đang có việc phải cần gã nên không hỏi lại, chỉ mỉm cười mà không nói. Bao Bất Đồng lại nói: “Thối quá! Thối quá! Lão này nói không ra tiếng rồi.” Trần trưởng lão hỏi: “Nói không ra tiếng là sao?” Bao Bất Đồng nói: “Ngươi không mở miệng nói gì, hơi không ra đằng miệng thì dĩ nhiên phải ra đường khác.” Trần trưởng lão nghĩ bụng: “Thằng cha này thật là khó chịu, mình mới nói một câu vô lễ, mà gã xoay tới xoay lui tới ba bốn lần. Giả tỉ mình lại lên tiếng thì gã lại kiếm chỗ vặn vẹo, không chịu nói vào chuyện chính.” Lão bèn mỉm cười, không nói nửa lời.

    Bao Bất Đồng lắc đầu nói: “Sai bét, sai bét! Ngươi lại muốn tranh hơi với ta, thật là thối tha!” Trần trưởng lão mỉm cười nói: “Tại hạ không mở miệng ra, sao lại bảo là tranh hơi với các hạ?” Bao Bất Đồng nói: “Ngươi chỉ phóng hơi thối ra mà không nói, thì dĩ nhiên không cần phải mở miệng.” Trần trưởng lão chau mày nói: “Thật là tức cười.”

    Bao Bất Đồng thấy Trần trưởng lão nhân nhượng, mình đã nắm được thượng phong, liền nói: “Ngươi đã mở miệng nói, tức là không tranh hơi với ta nữa. Vậy ta nói cho ngươi biết. Nửa năm trước đây, ta theo Mộ Dung công tử, Đặng đại ca, Công Dã nhị ca… cả một đoàn người theo đường Cam Lương, thấy trong một khu rừng có một bọn ăn mày nằm chết dưới đất. Tên thì đầu lìa khỏi cổ, tên thì ruột đổ tứ tung, thật là vừa đáng thương vừa đáng sợ. Bọn này trên lưng có đeo túi vải, tên thì ba cái, tên thì bốn cái, tên thì năm cái, cũng có tên sáu cái.” Trần trưởng lão xen vào hỏi: “Không hiểu họ có phải là đệ tử của tệ bang không?” Bao Bất Đồng nói: “Lúc ta trông thấy thì mấy vị lão huynh này chết đã lâu, cũng chẳng biết đang ăn cháo lú hay đang lên Vọng Hương đài, không chừng lại đang bị thẩm vấn ở Thập Điện Diêm Vương. Họ đã không nói được, thì dĩ nhiên ta không thỉnh giáo được họ tôn tính đại danh là gì, quê quán ở đâu, thuộc về bang hội nào, vì sao lại chết. Nếu không thế thì họ biến thành quỷ sứ cũng còn mắng ta: Có lời thì nói ra, có rắm thì đừng phóng. Như thế thì ta bị mắng oan uổng hay sao?”

    Trần trưởng lão nghe đến tin tức về nhiều huynh đệ trong bang chết thảm, đương nhiên rất quan tâm, không thể nín thinh mà cũng không thể buông lời chống đối, chỉ đáp: “Bao huynh nói đúng lắm!”

    Bao Bất Đồng lắc đầu nói: “Sai bét, sai bét! Tính Bao mỗ rất ghét kẻ phụ họa, theo hùa, thế mà lão lại bảo “Bao huynh nói đúng lắm”, còn trong lòng lại thóa mạ ta là loài rùa đen, là quân chó đẻ. Cái kiểu nịnh trước mặt chửi sau lưng là hành vi bỉ ổi của bọn phái Tinh Tú. Nam tử hán đại trượng phu thì đúng là đúng, sai là sai, người ta có lập trường của người ta, mình có chủ trương của mình. Thương ai dám bảo là thương, ghét ai dám bảo là ghét. Tự đi tự đứng một mình, không cần kéo bè kéo lũ. Như thế mới là anh hùng hảo hán.”

    Hắn giáo huấn cho Trần trưởng lão một tràng dài rồi mới nói tiếp: “Có một lão ăn mày bị trọng thương, lúc đó chưa kịp chết, nhưng mà cũng sắp chết. Hắn tự xưng là Dịch Đại Bưu, vừa ở Tây Hạ đem về một bảng văn của vua nước Tây Hạ, nói là có quan hệ trọng đại, đưa cho bọn ta để nhờ trao lại cho trưởng lão trong quí bang.” Tống trưởng lão nghĩ thầm: “Trần huynh đệ đã ăn nói lỗ mãng với gã, để ta đứng ra nói chuyện chắc hay hơn.” Lão bèn tiến ra xá một cái rồi nói: “Bao tiên sinh đã vì nghĩa mà đưa tin, tệ bang từ trên xuống dưới đều cảm kích đại đức.” Bao Bất Đồng nói: “Sai bét, sai bét! Nói quí bang từ trên xuống dưới đều cảm kích đại đức của ta là sai bét.” Tống trưởng lão ngẩn ra hỏi lại: “Sao Bao tiên sinh lại nói thế?” Bao Bất Đồng trỏ Du Thản Chi nói: “Bang chủ quí bang đây chẳng những không cảm kích ta mà còn tức giận ta đến cực điểm.” Tống, Trần hai vị trưởng lão đồng thanh hỏi: “Sao lại thế? Xin Bao tiên sinh chỉ giáo.”

    Bao Bất Đồng đáp: “Dịch Đại Bưu lúc sắp chết có nói rằng bọn họ đều bị Trang Bang chủ của quí bang sai người sát hại. Chỉ vì họ không phục gã tiểu tử đó làm Bang chủ, nên bị gã sai người truy sát. Ôi thôi, thật là đáng tiếc, thật là đáng thương. Dịch Đại Bưu còn nhờ bọn ta báo tin cho Ngô trưởng lão, dặn lão cùng các vị trưởng lão khác nhất định phải đề phòng cẩn thận.”

    Bao Bất Đồng vừa nói câu đó, quần cái đều chấn động. Ngô trưởng lão chạy tới trước mặt Du Thản Chi lớn tiếng quát hỏi: “Chuyện đó là đúng hay sai?”

    Từ lúc Du Thản Chi bị Tiêu Phong đá gãy chân, gã ngồi yên dưới đất chẳng nói năng mà cũng không nhúc nhích, âm thầm vận nội lực cho đỡ đau, đột nhiên nghe Bao Bất Đồng kể ra chuyện bí mật ngày trước thì không khỏi hoảng hồn. Gã không biết trả lời Ngô trưởng lão thế nào cho phải, cứ ấp úng: “Là Toàn… Toàn Quan Thanh bảo ta ra lệnh, không… không liên quan đến ta.”

    Tống trưởng lão không muốn phô chuyện xấu trong bang trước mặt mọi người, chỉ lườm Toàn Quan Thanh một cái, nghĩ thầm: “Chuyện trong bang, ta sẽ xử trí ngươi sau.” Rồi lão quay lại hỏi Bao Bất Đồng: “Tấm bản văn của Dịch Đại Bưu huynh đệ đưa cho tiên sinh, chắc là tiên sinh vẫn giữ bên mình?” Bao Bất Đồng quay lại đáp: “Ta không giữ!” Tống trưởng lão lập tức mặt biến sắc, nghĩ thầm: “Ngươi đã nói chuyện đến nửa ngày mà vẫn chưa chịu đưa bản văn cho ta, dám đem người khác ra tiêu khiển đỡ buồn ư?”. Bao Bất Đồng xá dài nói: “Non xanh trơ đó, nước biếc còn đây, chúng ta còn ngày tái hội.” Nói xong, gã quay người toan bỏ đi.

    Ngô trưởng lão vội hỏi: “Sao các hạ không giao lại tấm bản văn của nước Tây Hạ?” Bao Bất Đồng đáp: “Thật là kỳ cục! Sao ngươi biết Dịch Đại Bưu giao bản văn vào tay Bao mỗ? Sao ngươi lại dùng hai chữ “giao lại”? Hôm ấy chính mắt ngươi có trông thấy chăng?”

    Tống trưởng lão cố nén giận nói: “Rõ ràng Bao huynh vừa nói là Dịch Đại Bưu huynh đệ của tệ bang vừa cầm từ Tây Hạ về một tấm bản văn của vua nước Tây Hạ, nhờ Bao huynh giao cho trưởng lão bản bang. Ở đây có rất nhiều anh hùng hảo hán, ai cũng nghe thấy câu này. Sao đột nhiên Bao huynh lại đổi giọng?”

    Bao Bất Đồng lắc đầu nói: “Sai bét, sai bét! Ta không nói như vậy.” Gã thấy Tống trưởng lão biến sắc mặt, lại tiếp: “Nghe nói các vị trưởng lão Cái Bang đều là hảo hán như gang như thép, thế mà trước mặt anh hùng thiên hạ lại đổi trắng thay đen, thị phi đảo lộn. Như vậy chẳng phải là đem danh tiếng anh hùng mà thả trôi theo dòng nước ư?”

    Ba vị trưởng lão Tống, Trần, Ngô nhìn nhau, sắc mặt cực kỳ khó coi, không quyết định được nên tiếp tục nhẫn nại hay trở mặt động thủ. Trần trưởng lão nói: “Các hạ đã nói thế, bọn ta cũng không biết nói thế nào. Đúng hay sai thì phải có công luận.” Bao Bất Đồng nói: “Sai bét, sai bét! Ngươi bảo múa lưỡi nói nhăng cũng chỉ vô ích ư? Thế thì sao ngày trước Tô Tần chỉ múa lưỡi mà đeo tướng ấn sáu nước? Trương Nghi chỉ múa lưỡi mà giúp nhà Tần gồm thâu lục quốc?” Tống trưởng lão nghe Bao Bất Đồng đưa câu chuyện đi mỗi lúc một xa, đành nhăn nhó cười nói: “Giả tỉ Bao tiên sinh mà sinh vào thời Chiến Quốc thì còn vượt xa Tô Trương, đeo tướng ấn đến bảy nước, tám nước!”

    Bao Bất Đồng nói: “Ngươi lại mỉa mai ta sinh chẳng gặp thời nên vận khí xui xẻo phải không? Được lắm! Từ đây mà họ Bao này có đau mình váng mẩy, lưng mỏi chân chồn, nhức đầu ngạt mũi, nhất định phải đi kiếm ngươi mà hỏi.”

    Trần trưởng lão bực tức hỏi: “Bao huynh muốn thế nào, xin nói mau cho biết!” Bao Bất Đồng nói: “Hừ! Ngươi nóng tính quá. Trần trưởng lão! Trước kia ở thành Vô Tích, ngươi tỉ đấu cùng Phong tứ đệ, trong tay ngươi cầm một cái túi lớn, trong cái túi lớn có một con bò cạp to, con bò cạp này có kim độc, kim độc này đâm vào người thì sưng lên thành một cục, sưng lên thành một cục là đối phương phải toi mạng. Có đúng thế không?” Trần trưởng lão nghĩ thầm: “Chuyện này chỉ nói mấy chữ là xong, mà gã cũng cố lý la lý lố cho thành một tràng, dài.” Lão đáp gọn: “Đúng thế!”

    Bao Bất Đồng nói: “Hay lắm! Bao mỗ muốn đánh cuộc với ngươi. Ngươi mà thắng cuộc thì Bao mỗ lập tức nói cho ngươi biết tin tức của lão già Dịch đưa từ Tây Hạ về. Còn nếu ngươi thua cuộc thì phải đưa cái túi có con bò cạp cho Bao mỗ, kèm theo cả thuốc giải. Ngươi có bằng lòng không?” Trần trưởng lão hỏi lại: “Bao huynh định đánh cuộc gì?” Bao Bất Đồng đáp: “Tống trưởng lão của quí bang đã vu cáo rằng Bao mỗ có nói là Dịch Đại Bưu đem bản văn của vua nước Tây Hạ giao cho Bao mỗ, rồi nhờ Bao mỗ giao lại cho trưởng lão quí bang. Nhưng Bao mỗ không nói vậy, thế thì chúng ta đánh cuộc về chuyện đó. Nếu Bao mỗ có nói vậy thì ngươi thắng cuộc, còn Bao mỗ không nói vậy thì ngươi thua cuộc.”

    Trần trưởng lão đưa mắt nhìn hai vị Tống, Ngô. Cả hai đều gật gật đầu như muốn nói: “Ở đây có tới mấy ngàn người làm chứng, bất luận gã có giảo quyệt đến đâu cũng khó mà cãi chối. Cứ nhận đánh cuộc đi”. Trần trưởng lão liền đáp: “Được lắm! Lão phu đánh cuộc với Bao huynh. Nhưng không biết Bao huynh dùng cách gì để xác định ai thua ai thắng? Phải chăng chúng ta nên cử ra mấy vị đức cao vọng trọng, công chính nghiêm minh, để phân xử cho công bằng?”

    Bao Bất Đồng lắc đầu nói: “Sai bét, sai bét! Ngươi muốn cử ra mấy vị đức cao vọng trọng để phân xử cho công bằng ư? Giả tỉ chúng ta cử ra đến tám vị hay mười vị, thì ở đây cũng còn lại hàng trăm hàng ngàn anh hùng hảo hán, chẳng lẽ họ đều không có đức cao vọng trọng hay sao? Mà nếu họ không có đức cao vọng trọng thì họ là bọn vô danh tiểu tốt hèn mạt hạ lưu hay sao? Vậy thì Cái Bang dám khinh mạn anh hùng hảo hán ở đây, thật là vô lễ.”

    Trần trưởng lão nói: “Bao huynh lại nói giỡn rồi, tại hạ nhất định không dám có ý ấy. Vậy Bao huynh tinh sao cho phải?” Bao Bất Đồng nói: “Chuyện đó phải hay trái, cong hay thẳng thì chỉ nói một lời là xong, để ta chứng minh cho ngươi coi. Đưa đây!” Gã vừa nói vừa chìa tay ra. Trần trưởng lão hỏi: “Đưa cái gì?” Bao Bất Đồng đáp: “Cái bao, bò cạp, thuốc giải.” Trần trưởng lão cãi: “Bao huynh chưa chứng minh, sao lại đòi thắng cuộc?” Bao Bất Đồng nói: “Ta chỉ sợ ngươi thua cuộc rồi cãi xóa để quịt nợ.”

    Trần trưởng lão cười ha hả nói: “Cái thứ độc vật nhỏ mọn đó chẳng có chi đáng kể. Bao huynh thích thì lão phu lập tức đưa tặng, cần gì phải nói chuyện thua hay thắng.” Lão bèn tháo chiếc bao vải trên vai xuống, lại móc trong bọc lấy một cái bình đưa cho Bao Bất Đồng.

    Bao Bất Đồng không cần khách khí, đón ngay lấy rồi mở miệng bao ra xem. Gã thấy trong túi có bảy tám con bò cạp lớn màu sắc sặc sỡ, vội cột miệng bao lại, nhét bình thuốc giải vào trong bọc rồi nói: “Bây giờ Bao mỗ chứng minh cho ngươi xem là ngươi thua cuộc.” Gã vừa nói vừa tháo đai áo, nắm lấy một góc vạt áo mở phanh ra, kêu mọi người đến coi thì trong bọc chỉ có một ít bạc vụn và hỏa đao hỏa thạch, không còn vật gì khác. Tống, Trần, Ngô ba vị trưởng lão vẫn chưa hiểu ý gã ra sao, sắc mặt đầy vẻ nghi ngờ. Bao Bất Đồng nói: “Nhị ca lấy bản văn cho bọn họ coi.”

    Công Dã Càn đang lo lắng về sự yên nguy của cha con Mộ Dung Phục, tuy trong lòng nóng nảy mà không có cách nào vượt qua La Hán đại trận của quần tăng chùa Thiếu Lâm, đành mỉm cười, lấy bản văn ra cầm trong tay. Quần hùng đều nhìn xem tấm bản văn, thì thấy nó là một tờ giấy vàng lớn có dấu son to tướng, viết đầy những chữ ngoằn ngoèo văn tự lạ, tuy chẳng biết đúng sai thế nào, nhưng tựa như không phải là đồ giả mạo.

    Bao Bất Đồng nói: “Lúc nãy Bao mỗ đã nói là Dịch Đại Bưu của quí bang đem tấm bản văn giao cho bọn ta, nhờ giao lại cho trưởng lão quí bang, có đúng thế không?” Tống, Trần, Ngô ba trưởng lão đột nhiên thấy gã thừa nhận, liền cả mừng nói: “Đúng thế!” Bao Bất Đồng nói: “Thế mà Tống trưởng lão lại bịa đặt thành Dịch Đại Bưu giao tấm bản văn cho Bao mỗ, nhờ Bao mỗ giao lại cho trưởng lão quí bang, có đúng thế không?” Ba vị trưởng lão cùng nói: “Đúng thế! Có gì là sai đâu?”

    Bao Bất Đồng lắc đầu nói: “Sai bét! Sai bét! Có nói đầu trâu giống đầu ngựa cũng chỉ sai đến thế. Sai một ly, đi một dặm. Bao mỗ nói là đưa bản văn cho bọn ta, mà Tống trưởng lão lại bảo là đưa bản văn cho ta. Bọn ta, là cả bọn Cô Tô Mộ Dung, gồm có Mộ Dung công tử, có Đặng đại ca, có Công Dã nhị ca, có Phong tứ đệ, có Bao Bất Đồng, lại có một vị cô nương là Vương Ngữ Yên. Còn ta, chỉ là gã Bao Bất Đồng một mình một bóng, một gã giang hồ mở miệng ra là sai bét, sai bét. Các vị anh hùng nghĩ mà xem, Vương cô nương nguyệt thẹn hoa nhường là một khuê nữ, mà bảo là tương đồng với Bao Bất Đồng Bao lão tam hay cãi chày cãi cối này thì có vô lý không?”

    Tống, Trần, Ngô ngơ ngác nhìn nhau, không ngờ gã này chẻ một chữ làm tư, chỉ có “ta” hay “bọn ta” mà cho ra cả một bài đại luận.

    Bao Bất Đồng lại nói: “Bản văn này là do Dịch Đại Bưu trao vào tay Công Dã nhị ca. Ta nói cho các ngươi biết chuyện này, là do Mộ Dung Phục công tử quyết định chủ ý. Bởi thế phải nói là “giao cho bọn ta” mới đúng, nếu nói là “giao cho ta” thì dĩ nhiên sai bét. Các ngươi phải hiểu rằng ta không biết chữ Tây Hạ thì giữ tấm bản văn đó làm gì, vứt đi lại càng nhẹ. Ở ngoài thành Vô Tích, ta thảm bại dưới tay quí bang mà không tìm đến báo thù đã là tốt, còn báo tin làm gì? Nhưng chuyện báo tin về bảng văn Tây Hạ lại là việc của cả bọn ta chứ không phải là việc của cá nhân Bao Bất Đồng. Gã nói xong, quay lại bảo Công Dã Càn: “Nhị ca! Bọn họ thua rồi cất bản văn đi thôi.”

    Trần trưởng lão nghĩ bụng: “Thằng cha này nói lòng vòng, té ra chỉ vì chưa quên cái nhục thảm bại năm nào ở ngoại thành Vô Tích.” Lão bèn chắp tay nói: “Ngày đó Bao huynh tay không mà tỉ đấu với cây trượng nặng sáu mươi cân của Hề trưởng lão, vẫn chiếm được thượng phong. Rồi tệ bang thấy không địch nổi, phải lập Đả… Đả cái gì… trận mà vẫn không làm gì được Bao huynh, về sau Bang chủ tệ bang khi đó là Kiều Phong phải xuất toàn lực chiến đấu với Bao huynh hồi lâu mới miễn cưỡng thắng được nửa chiêu. Khi đó Bao huynh mới cất tiếng hát vang mà bỏ đi, bản lĩnh đã cao cường, phong độ lại ung dung. Tệ bang từ trên xuống dưới, mỗi khi nhắc lại chuyện này đều lấy làm thú vị, ai cũng bội phục Bao huynh vô cùng! Thế mà Bao huynh lại tự khiêm nói là thảm bại về tay tệ bang, nhất quyết là không phải. Hơn nữa Kiều Phong cùng tệ bang đã có xích mích, có thể nói y là kẻ thù chung của chúng ta.”

    Lão không biết rằng Bao Bất Đồng nói đông nói tây, không phải vì cái nhục thua trận ở rừng Hạnh ngoài thành Vô Tích ngày nào, càng không phải vì mấy chữ “có lời thì nói ra, có rắm thì đừng phóng”. Bao Bất Đồng chỉ đợi câu cuối cùng của lão, bèn chớp cơ hội nói ngay: “Thế thì tuyệt diệu. Trưởng lão hãy thống lĩnh huynh đệ quí bang hợp sức cùng bọn tại hạ đi bắt kẻ thù chung là Kiều Phong. Khi đó tại hạ sẽ nghĩ tình bằng hữu mà hai tay dâng bản văn lên. Nếu trưởng lão không biết văn tự ngoằn ngoèo trong bản văn thì Công Dã nhị ca xin đem bản văn ra giải thích rõ ràng từ đầu đến cuối không sót một chữ. Trưởng lão nghĩ sao?”

    Trần trưởng lão hết nhìn Tống trưởng lão lại nhìn Ngô trưởng lão, không biết quyết định thế nào. Bỗng có tiếng người nói: “Như thế là phải rồi, còn ngần ngại gì nữa?” Mọi người nhìn xem ai nói câu đó, thì ra chính là Thập phương tú tài Toàn Quan Thanh. Hắn lại nói tiếp: “Nước Liêu là đại thù của nhà Tống. Cha Kiều Phong là Tiêu Viễn Sơn lại chính miệng nói ra là đã ẩn núp ba mươi năm trời trong chùa Thiếu Lâm, xem hết võ kinh bí lục của phái này. Hôm nay nếu bọn ta không đồng tâm hiệp lực trừ khử hắn đi, nếu hắn yên lành trở về Liêu quốc, truyền thụ võ công Trung Nguyên cho bọn võ sĩ Khất Đan thì chẳng khác gì chắp thêm cánh cho hổ. Sau này chúng kéo đến tấn công Đại Tống thì bọn con cháu Viêm Hoàng chúng ta đều biến thành nô lệ vong quốc.”

    Quần hùng nghe Toàn Quan Thanh nói đều thấy rất có lý, nhưng Huyền Từ viên tịch, Trang Tụ Hiền gãy chân, thành ra Thiếu Lâm cùng Cái Bang vốn là cột trụ võ lâm Trung Nguyên lại biến thành hai đàn rắn không đầu, không có người đứng ra chủ trương đại cuộc.

    Toàn Quan Thanh lại nói: “Xin mời ba vị cao tăng hàng chữ Huyền của phái Thiếu Lâm và ba vị trưởng lão Tống, Trần, Ngô của Cái Bang hợp nhau để ban hiệu lệnh, thì hết thảy chúng ta đều phải vâng lời. Trước hết là giết cha con Tiêu Viễn Sơn, Tiêu Phong để trừ mối lo tâm phúc cho nhà Đại Tống, còn những việc khác sẽ bàn sau cũng không muộn.” Hắn thấy Du Thản Chi đã thân bại danh liệt, bản thân mình trong bang không còn chỗ dựa dẫm có thế lực nữa, mà việc giết Dịch Đại Bưu cũng đã bại lộ rồi, trong lòng hắn rất lo lắng, liền muốn bày ra chuyện khác để tạm thời thoát tội. Tuy hắn cũng là một trong bốn trưởng lão của Cái Bang, nhưng lúc này không dám tự liệt ngang hàng với ba vị Tống, Trần, Ngô nữa.

    Quần hùng hoan hô rầm rộ: “Thế là phải lắm! Xin ba vị cao tăng cùng ba vị trưởng lão ra lệnh!”  “Việc này quan hệ đến an nguy của quốc gia, xin sáu vị tiền bối đừng từ chối!”  “Chúng tôi đồng lòng tuân lệnh, đi giết hai tên Liêu cẩu trước.” Hàng trăm hằng ngàn người cùng rút binh khí nghe xoang xoảng, lại có người định xông tới giết mười tám tên võ sĩ Khất Đan.

    Dư bà bà la lên: “Các huynh đệ Khất Đan, hãy sang đây nói chuyện.”

    Mười tám võ sĩ Khất Đan không biết mụ có dụng ý gì, cứ đứng cầm đao yên lặng thủ thế. Họ biết rằng số ít không địch nổi nhiều, nhưng cũng quyết một trận tử chiến. Dư bà bà lại la lên: “Tám bộ cung Linh Thứu chúng ta phải bảo vệ cho mười tám vị bằng hữu.” Quần nữ trong tám bộ liền chạy sang đứng phía trước mười tám võ sĩ Khất Đan, còn các Động chúa, Đảo chúa chia ra đứng hai bên. Bọn môn đồ phái Tinh Tú muốn lập công trước mặt chủ mới, cũng phất cờ reo hò, thanh thế rất là cương mãnh.

    Dư bà bà khom lưng trước Hư Trúc nói: “Chủ nhân! Mười tám võ sĩ này là thuộc hạ của nghĩa huynh chủ nhân, nếu để họ bị người ta loạn đao giết chết trước mặt chủ nhân thì còn gì là oai phong của cung Linh Thứu nữa? Bọn thuộc hạ xin tạm thời bảo vệ cho họ, để chờ chủ nhân phát lạc.”

    Hư Trúc vẫn đang đau xót vị song thân tuyệt mạng, không suy nghĩ được gì, chỉ gật gật đầu rồi nói: “Cung Linh Thứu chúng ta cùng phái Thiếu Lâm là bạn chứ không phải thù. Chúng ta nhất định không được đánh giết càn bậy, làm tổn thương hòa khí.”

    Huyền Tịch thấy thanh thế cung Linh Thứu lớn quá, biết là gặp phải cường địch nguy hiểm. Lão nghe Hư Trúc nói vậy bèn lên tiếng: “Mười tám tên võ sĩ Khất Đan kia có giết hay không thì cũng chẳng quan hệ gì đến đại cục. Chúng ta hãy nể mặt Hư Trúc tiên sinh mà gác việc đó lại sau. Hư Trúc tiên sinh! Bây giờ chúng ta đi bắt giết Tiêu Phong, thì tiên sinh tương trợ bên nào?”

    Hư Trúc ngần ngừ đáp: “Phái Thiếu Lâm là nơi vãn bối xuất thân, còn Tiêu Phong lại là nghĩa huynh. Một bên là ân sâu, một bên lại là nghĩa nặng, vãn bối… không thể giúp bên nào được. Bất quá… bất quá… Sư thúc tổ! Vãn bối cầu xin sư thúc tổ tha cho Tiêu đại ca! Vãn bối sẽ khuyên y không qua đánh Đại Tống là xong.”

    Huyền Tịch nghĩ bụng: “Võ công mi cao cường thật là uổng, đã làm chủ nhân một phái mà còn nói chuyện như con nít.” Lão bèn nói: “Từ đây Hư Trúc tiên sinh đừng nói tới ba chữ sư thúc tổ nữa.” Hư Trúc nói: “Dạ dạ! Vãn bối quên mất.”

    Huyền Tịch lại nói: “Cung Linh Thứu không giúp bên nào, thế thì phái Thiếu Lâm cùng quí cung vẫn là bằng hữu, không nên làm tổn thương hòa khí.” Rồi lão quay lại nói với ba vị trưởng lão Cái Bang: “Ba vị trưởng lão! Chúng ta hãy lên chùa xem động tĩnh ra sao trước đã.” Ba lão Tống, Trần, Ngô đồng thanh nói: “Phải lắm! Phải lắm! Các huynh đệ Cái Bang, chúng ta cùng lên chùa Thiếu Lâm!” Quần tăng chùa Thiếu Lâm đi trước dẫn đường, Cái Bang cùng quần hùng Trung Nguyên cùng reo hò xông lên núi.

    Đặng Bách Xuyên cả mừng nói: “Tam đệ! Ngươi có công lớn, chỉ diễn thuyết một phen mà đã lôi kéo được khá nhiều tay đắc lực để viện trợ cho chúa công cùng công tử.” Bao Bất Đồng nói: “Sai bét, sai bét! Tiểu đệ nói chuyện lâu quá, không biết chúa công cùng công tử đã thắng bại thế nào, làm sao gọi là công lớn?”

    Vương Ngữ Yên vội giục: “Đi mau lên! Đừng sai hét, sai bét nữa!” Nàng vừa nói vừa cất bước chạy theo quần hùng lên núi, bỗng thấy Đoàn Dự đi theo bên cạnh liền hỏi: “Đoàn công tử! Công tử lại đi giúp nghĩa huynh để đối phó với biểu ca ta chăng?” Giọng nàng nói đầy vẻ bất mãn. Vừa rồi Mộ Dung Phục vung kiếm tự tử là do y bại dưới tay Đoàn Dự cùng Tiêu Phong, nên y vừa thẹn vừa giận, không muốn sống nữa. Vương Ngữ Yên nhớ tới việc này, đâm ra tức giận Đoàn Dự.

    Đoàn Dự ngẩn ra, dừng bước. Từ khi chàng gặp Vương Ngữ Yên đến nay, lúc nào cũng chiều ý nàng, lắm phen liều mạng để cứu nàng thoát hiểm, chưa bao giờ thấy nàng nhìn mình hằn học như lúc này. Chàng không biết tính sao, ruột rối như tơ vò, lát lâu mới ngập ngừng đáp: “Tại hạ… tại hạ không muốn đối phó với Mộ Dung công tử.” Nhưng khi chàng ngẩng đầu nhìn lên, chỉ thấy quần hùng đang tới tấp chạy qua mặt mình, còn Vương Ngữ Yên và bọn Đặng Bách Xuyên đã mất hút rồi, không thấy đâu nữa.

    Chàng lại ngẩn ra, nghĩ bụng: “Vương cô nương đã đem lòng ngờ vực, thì mình còn lên chùa làm gì nữa?” Nhưng rồi chàng lại nghĩ: “Tiêu đại ca bị hàng trăm hàng ngàn người xông lên như ong vỡ tổ vây đánh, thật nguy hiểm vô cùng. Hư Trúc nhị ca đã nói rõ là không giúp bên nào, nếu mình cũng khoanh tay đứng nhìn thì còn chi là tình nghĩa kim lan? Dù Vương cô nương có oán trách ta thì cũng đành chịu thôi.” Thế là chàng bèn chạy theo quần hùng lên núi.

    Lúc này Đoàn Chính Thuần thấy mục quang của Đoàn Diên Khánh đang lạnh lùng chiếu vào mình, lập tức nắm lấy chuôi kiếm, vận khí chuẩn bị chống trả. Quần hào Đại Lý cũng hết sức cảnh giới đề phòng, nên Đoàn Dự vội vàng bỏ đi mà cũng không ai chú ý.

    ***

    Chỉ chốc lát Đoàn Dự đã lên đến cổng chùa Thiếu Lâm, rồi chạy thẳng vào sơn môn. Chu vi chùa Thiếu Lâm rất rộng, nhà trước viện sau có đến mấy nghìn gian. Quần tăng cùng quần hùng Trung Nguyên quát tháo om sòm, lùng sục khắp các tòa viện trong chùa để tìm cha con Tiêu Viễn Sơn cùng cha con Mộ Dung Bác. Nhiều người nhảy lên cả nóc nhà để quan sát bốn mặt, chỗ nào cũng nhốn nháo cả lên mà vẫn chưa tìm ra bọn họ ở chỗ nào. Tiếng mở đóng cửa phòng, tiếng chân chạy rầm rập xen lẫn tiếng người hỏi nhau ơi ới: “Họ ở đâu? Đã thấy chưa?” Chùa Thiếu Lâm vốn trang nghiêm cổ kính, lúc này giống như một cái chợ huyên náo om sòm.

    Đoàn Dự cũng chạy loạn lên một lúc, rồi đột nhiên thấy hai tăng nhân người Hồ ở cửa bên bước ra. Chàng nghĩ: “Hai tên Phiên tăng này không phải là hòa thượng Thiếu Lâm, không hiểu chúng lén lút làm trò ma quỉ gì ở đây?” Chàng liền thi triển Lăng Ba Vi Bộ đi theo, tuyệt không phát ra tiếng động. Hai tên Hồ tăng chạy thẳng vào khu rừng cạnh chùa, theo một con đường nhỏ trong rừng đi thẳng về hướng tây bắc. Quanh qua quẹo lại mấy chỗ ngoằn ngoèo, đột nhiên trước mặt có ánh sáng lóa lên, và có tiếng nước suối chảy róc rách. Bên kia suối là một tòa lầu, treo biển đề ba chữ Tàng Kinh Các. Đoàn Dự lẩm bẩm: “Tàng Kinh Các chùa Thiếu Lâm nổi danh thiên hạ, té ra là chỗ này đây. Phải rồi! Tàng Kinh Các dựng trên bờ suối, xa những phòng ốc khác là để đề phòng hỏa hoạn có thể tiêu hủy những kinh điển quí giá vô kể.”

    Hai tên Hồ tăng khom mình, lẻn đến Tàng Kinh Các, Đoàn Dự cũng lần theo. Bỗng có hai nhà sư đứng tuổi bước ra, đằng hắng rồi hỏi: “Hai vị đến đây làm chi?” Một tên Hồ tăng đáp: “Sư huynh của ta đã ngưỡng mộ Tàng Kinh Các của chùa Thiếu Lâm từ lâu, muốn đến tham quan.” Người nói câu đó chính là Ba La Tinh. Y cùng với sư huynh Triết La Tinh thấy trong chùa đang đại loạn, muốn thừa cơ cháy nhà mà hôi của, toan đến Tàng Kinh Các để ăn cắp bí kíp võ công.

    Một nhà sư Thiếu Lâm nói: “Đại sư hãy dừng bước. Tàng Kinh Các là trọng địa của bản tự, người ngoài không được vào.” Lúc đó lại thêm bốn nhà sư nữa xách thiền trượng bước ra ngăn trước cửa. Triết La Tinh và Ba La Tinh đưa mắt nhìn nhau, biết âm mưu khó mà thành được, bèn rút lui.

    Đoàn Dự cũng quay mình lại, toan đi tìm Tiêu Phong thì bỗng nghe trong các có thanh âm khàn khàn nói vọng ra: “Ngươi có thấy bọn họ đi về hướng nào không?” Đây chính là thanh âm của Huyền Tịch. Một giọng khác đáp: “Bọn đệ tử bốn người giữ ở đây, chỉ thấy một nhà sư áo xám chạy vào rồi bị lão điểm huyệt mê đi, lúc được sư bá cứu tỉnh lại thì không biết nhà sư áo xám đã đi đâu rồi.” Lại nghe một giọng khàn khàn nói: “Cửa sổ chỗ này bị phá, chắc họ ra phía sau núi.” Huyền Tịch nói: “Đúng thế!” Vị lão tăng kia lại hỏi: “Không hiểu bọn họ có ăn cắp kinh sách gì không?” Huyền Tịch đáp: “Hai người này ẩn cư trong bản tự đã mấy chục năm mà chúng ta từ trên xuống dưới đều không hay biết, thật là xấu hổ. Nếu bọn họ định lấy kinh sách thì đã lấy mấy chục năm nay rồi, hà tất phải đợi đến ngày nay.” Vị lão tăng kia nói: “Sư huynh nói đúng lắm.” Rồi hai nhà sư cùng thở dài buồn bã.

    Đoàn Dự nghĩ rằng mấy vị này đang nói chuyện chùa Thiếu Lâm bị mất thể diện, mình chẳng nên nghe trộm làm gì. Thực ra, bọn Huyền Tịch nói rất khẽ, chỉ vì nội lực chàng thâm hậu nên mới nghe rõ. Đoàn Dự từ từ bước đi, nghĩ bụng: “Họ bảo Tiêu đại ca ra phía sau núi, vậy mình cũng nên ra đó.”

    Phía sau núi Thiếu Thất, địa thế hiểm trở, rừng rậm âm u. Đoàn Dự đi được vài dặm, không còn nghe thấy tiếng huyên náo bên ngoài chùa nữa. Trong rừng cây, chim chóc gọi nhau tíu tít. Dù đang mùa nóng bức nhưng ánh dương quang không lọt vào được, nên trong khu rừng này vẫn tối tăm lạnh lẽo. Đoàn Dự thấy vậy nghĩ thầm: “Nếu cha con Tiêu đại ca đến đây rồi thoát thân thì rất dễ, quần hùng khó mà bủa vây được.” Chàng chợt nhớ tới Vương Ngữ Yên vừa oán giận thì lại nghĩ: “Nếu đại ca ta lỡ đánh chết Mộ Dung công tử rồi thì… thì biết làm thế nào?” Mồ hôi bất giác toát ra lạnh ngắt, chàng nghĩ: “Mộ Dung công tử mà mất mạng thì e rằng Vương cô nương đau khổ vô hạn, không chừng suốt đời vẻ mặt nàng cứ buồn rười rượi.”

    Chàng bâng khuâng thả bước vào rừng, lúc thì nghĩ đến Mộ Dung Phục, lúc nghĩ đến Tiêu đại ca, rồi lại nghĩ đến phụ thân, mẫu thân và bá phụ. Cuối cùng người mà chàng nghĩ đến nhiều nhất vẫn là Vương Ngữ Yên, với thần sắc đầy vẻ oán trách hờn giận vừa rồi.

    Không biết chàng đã nghĩ ngợi lung tung bao lâu, bỗng nghe bên trái có tiếng niệm Phật theo chiều gió đưa lại: “Phật tức thị tâm; Tâm tức thị Phật; Tâm minh mới thấy Phật, Thấy Phật mới minh tâm.” Thanh âm này vừa hiền hòa vừa hùng hậu, chàng chưa từng nghe thấy bao giờ. Đoàn Dự lẩm bẩm: “Té ra bên đó có người. Ta thử tới đó hỏi xem họ có thấy Tiêu đại ca cùng bọn người kia không.” Chàng hướng phía có thanh âm mà đi tới.

    Chàng đi qua một khu rừng trúc thì thấy có không ít người đang tụ họp trên một khoảnh đất bằng, cỏ mọc xanh um. Một nhà sư mặc áo xám tựa lưng vào một phiến đá. Những tiếng niệm kinh vừa rồi là do miệng nhà sư này thốt ra. Trước mặt nhà sư có rất nhiều người đang quì, trong số đó có cha con Tiêu Viễn Sơn và Tiêu Phong, cha con Mộ Dung Bác và Mộ Dung Phục, hai vị Hồ tăng Triết La Tinh và Ba La Tinh, mấy vị cao tăng các chùa khách, và các vị hòa thượng hàng chữ Huyền chùa Thiếu Lâm. Những người này đều cúi đầu, chắp tay, lông mày rủ thấp yên lặng nghe nhà sư áo xám thuyết pháp. Cách đó chừng bốn năm trượng có một người đứng, chính là Cưu Ma Trí, quốc sư nước Thổ Phồn. Sắc mặt lão ra chiều nhạo báng, hiển nhiên trong lòng không phục nhà sư áo xám.

    Đại Lý vốn là một Phật quốc, Đoàn Dự đã theo những vị cao tăng, nghiên cứu Phật pháp từ thuở nhỏ. Chàng am hiểu rất nhiều kinh điển, nhưng đó là Phật học tại nước Đại Lý chứ không phải là Thiền tông chùa Thiếu Lâm, hai nơi này có nhiều điểm không đồng nhất. Chàng nghe vị lão tăng đọc mấy câu kệ, tuy không sâu xa gì nhưng rất hợp lý, thì nghĩ thầm: “Theo y phục mà nhìn thì vị tăng này là một nhà sư Thiếu Lâm chức phận thấp kém, làm việc tạp dịch pha nước, quét chùa. Không hiểu sao những vị cao tăng chùa Thiếu Lâm cùng Tiêu đại ca và bao nhiêu người nữa đều quì mọp nghe thuyết pháp?”

    Đoàn Dự muốn nhìn dung mạo vị lão tăng kia xem là nhân vật thế nào, nhưng muốn nhìn trước mặt lão thì phải ra phía sau bọn Tiêu Phong. Chàng sợ kinh động mọi người nên nhẹ nhàng đi vòng phía sau, lúc rón rén đến gần Cưu Ma Trí thì đột nhiên lão quay đầu lại nhìn chàng, miệng mỉm cười. Đoàn Dự cũng mỉm cười đáp lễ.

    Ngay lúc ấy, Đoàn Dự chợt thấy một luồng kình phong mãnh liệt xô vào trước ngực, biết ngay là nguy, bèn la lên một tiếng: “Chao ôi!”, toan phóng Lục Mạch Thần Kiếm ra chống đỡ thì đã không kịp nữa. Chàng cảm thấy trước ngực đau nhói lên rồi mê man bất tỉnh, bèn tai còn văng vẳng có tiếng niệm kinh: “A di đà Phật! A di đà Phật!” Sau đó chàng không biết gì nữa.

    ***

    Mộ Dung Bác đã bị Huyền Từ gọi ra chân tướng, lại tố cáo lão đã phao tin để gây nên cuộc thảm sát ngoài Nhạn Môn Quan. Lão biết rằng chẳng những cha con họ Tiêu phải hạ sát mình mới cam tâm, mà quần hào Trung Nguyên cũng chẳng chịu dung tha mình, liền phi thân chạy vào chùa Thiếu Lâm. Trong chùa Thiếu Lâm phòng viện rất nhiều, nhưng lão đã thuộc hết địa hình, hy vọng có thể trốn tránh được. Không ngờ cha con Tiêu Viễn Sơn hận y thấu xương, đuổi sát như bóng theo hình. Tiêu Viễn Sơn cũng trạc tuổi lão, công lực cũng tương đương, khó lòng đuổi kịp vì Mộ Dung Bác đã chạy trước một lát. Nhưng Tiêu Phong đang tuổi tráng niên, nội lực dồi dào, hết sức đuổi thật mau. Lúc Mộ Dung Bác chạy đến trước cửa chùa Thiếu Lâm, Tiêu Phong còn cách xa hơn mười trượng đã phóng chưởng ra, chưởng lực xô tới sau lưng hắn.

    Mộ Dung Bác phải xoay chưởng đánh lại để chống đỡ. Toàn thân lão bị rung động, cánh tay ngâm ngẩm dau, không khỏi kinh hãi nghĩ thầm: “Thằng chó con Khất Đan này công lực ghê quá!” Lão bèn lạng người một cái, chuồn vào trong cổng.

    Tiêu Phong đời nào để lão chạy thoát? Chàng nhảy xổ tới nơi thì Mộ Dung Bác đã chạy vào trong chùa rồi. Trong chùa Thiếu Lâm hành lang vòng vèo, phòng viện chi chít, chưởng lực của Tiêu Phong tuy mãnh liệt nhưng cũng không thể phóng tới lão được. Ba người một trước hai sau, chỉ trong khoảnh khắc đã chạy đến Tàng Kinh Các.

    Mộ Dung Bác phá cửa sổ chui vào, đồng thời xoay tay điểm huyệt bốn nhà sư gác cửa cho mê đi. Lão quay lại, cười nhạt nói: “Tiêu Viễn Sơn! Cha con ngươi cùng xông vào, hay là hai lão già chúng ta lấy một chọi một liều mạng với nhau?” Tiêu Viễn Sơn không đáp, đứng chắn ngoài cửa Tàng Kinh Các, bảo Tiêu Phong: “Hài nhi! Ngươi chặn cửa sổ, đừng để hắn chạy thoát.” Tiêu Phong “Vâng” một tiếng, lạng mình đến bên cửa sổ, cử chưởng lên thủ thế. Cha con họ Tiêu hợp lực bao vây, xem chừng Mộ Dung Bác không còn đường thoát. Tiêu Viễn Sơn nói: “Ta với ngươi đã có mối thù chẳng đội trời chung, không giết ngươi thì không rửa được cừu hận. Đây không phải là cuộc tỉ võ để phân cao thấp, dĩ nhiên cha con ta sẽ hợp lực để hạ sát ngươi.”

    Mộ Dung Bác cười ha hả, toan trả lời, bỗng nghe dưới thang lầu có tiếng bước chân, rồi một người đi lên, chính là Cưu Ma Trí. Cưu Ma Trí nhìn Mộ Dung Bác, chắp tay thi lễ nói: “Mộ Dung tiên sinh! Ngày trước, hai ta từ biệt nhau ở Thiên Trúc, về sau tiểu tăng nghe tin tiên sinh quy tiên lòng rất đau buồn. Té ra tiên sinh ẩn cư không xuất hiện để giải quyết việc riêng. Hôm nay lại được trùng phùng, tiểu tăng vui mừng khôn xiết.” Mộ Dung Bác chắp tay đáp lễ, cười nói: “Tại hạ vì quốc gia đại sự mà phải lánh mình trá tử, khiến đại sư tưởng nhớ, thật lấy làm hổ thẹn.” Cưu Ma Trí nói: “Không dám! Ngày trước tiểu tăng cùng tiên sinh gặp nhau ở Thiên Trúc đàm luận võ công mấy ngày, nhờ tiên sinh chỉ điểm cho bao nhiêu chỗ nghi ngờ, lại được tiên sinh tặng cho cuốn Thất Thập Nhị Tuyệt Kỹ Yếu Chỉ. Đại ân ấy tiểu tăng ghi mãi vào tâm khảm.”

    Mộ Dung Bác cười đáp: “Cái việc nhỏ mọn đó, đại sư nhắc đến làm gì?” Rồi lão quay lại cha con họ Tiêu, nói: “Tiêu lão hiệp cùng Tiêu thiếu hiệp! Thần tăng Cưu Ma Trí đây là Đại Luân Minh Vương của nước Thổ Phồn, Phật pháp đã uyên thâm mà võ công cũng cao cường hơn tại hạ nhiều, có thể nói là thế gian hiếm có.”

    Tiêu Viễn Sơn cùng Tiêu Phong đưa mắt nhìn nhau, bụng bảo dạ: “Lão Cưu Ma Trí này bản lĩnh ghê gớm, lại giao tình cùng Mộ Dung Bác sâu xa như vậy, chắc sẽ ra tay giúp lão. Cuộc chiến này thắng bại khó lòng biết trước được.”

    Cưu Ma Trí lên tiếng: “Năm xưa tiểu tăng được nghe tiên sinh giảng giải rằng môn Lục Mạch Thần Kiếm của chùa Thiên Long nước Đại Lý là kiếm pháp đệ nhất trong thiên hạ, tiên sinh chỉ tiếc là chưa được thấy qua cho thỏa chí bình sinh. Tiểu tăng được tin tiên sinh quy tiên, liền đến chùa Thiên Long nước Đại Lý, định lấy Lục Mạch Thần Kiếm Phổ thiêu hóa trước mộ tiên sinh để đáp tình tri kỷ. Không ngờ, Khô Vinh lão tăng chùa Thiên Long giảo quyệt đa mưu, gặp lúc khẩn cấp, lão dùng nội lực tiêu hủy mất kiếm phổ. Tiểu tăng không hoàn thành được ý nguyện Quí Trát treo gươm trước mộ, thật xấu hổ vô cùng!”

    Mộ Dung Bác nói: “Đại sư chí tình như thế, tại hạ rất cảm kích. Nhưng Lục Mạch Thần Kiếm hãy còn ở nhân gian, vừa rồi Đoàn công tử nước Đại Lý tỉ đấu cùng khuyển tử đã phóng kiếm khí tung hoành. Lục Mạch Thần Kiếm quả là kiếm pháp đệ nhất trong thiên hạ, danh bất hư truyền.”

    Đột nhiên bóng người thấp thoáng, trong Tàng Kinh Các lại có thêm một người nữa, chính là Mộ Dung Phục. Gã chạy sau mấy bước, vào đến trong chùa thì đã mất hút cha con Tiêu Phong. Lúc này gã tìm đến Tàng Kinh Các, nghe thấy phụ thân đang đề cập đến chuyện Đoàn Dự dùng Lục Mạch Thần Kiếm đánh bại mình thì lấy làm nhục nhã vô cùng.

    Mộ Dung Bác lại hỏi: “Cha con họ Tiêu muốn giết cho bằng được tại hạ ở đây mới cam lòng. Đại sư nghĩ sao?” Cưu Ma Trí đáp: “Đã là tri kỷ, có lẽ đâu tụ thủ bàng quan?”

    Tiêu Phong thấy Mộ Dung Phục đã đến nơi, đối phương ba người mà mình chỉ có hai. Mộ Dung Phục tuy kém hơn một chút, nhưng cũng không thể coi thường được. Chàng lo rằng chẳng những cha con mình khó lòng giết được Mộ Dung Bác mà e phải bỏ mạng trong Tàng Kinh Các này cũng không chừng. Tuy nghĩ vậy, nhưng chàng vốn đầy lòng dũng cảm, tình cảnh càng khó khăn, thần oai lại càng lẫm liệt. Tiêu Phong lớn tiếng quát: “Hôm nay nếu không kẻ sống người chết quyết chẳng chịu thôi. Tiếp chiêu!” Dứt lời, Tiêu Phong vung chưởng nhằm đánh vào Mộ Dung Bác. Lão bèn vung tay lên ngưng tụ công lực để hóa giải. Bỗng nghe những tiếng rắc rắc, giá sách bên tay trái bị gãy, gỗ vụn văng ra tứ phía, kinh sách trên giá rớt xuống lả tả. Thì ra chưởng lực của Tiêu Phong hùng hậu vô cùng, Mộ Dung Bác không giải khai được hoàn toàn mà chỉ đẩy trệch đi, trúng vào giá sách.

    Mộ Dung Bác tủm tỉm cười nói: “Nam Mộ Dung Bắc Kiều Phong, quả nhiên danh bất hư truyền. Tiêu huynh! Ta có lời muốn nói, Tiêu huynh có chịu nghe không?” Tiêu Viễn Sơn đáp: “Dù ngươi có hoa ngôn xảo ngữ đến đâu cũng đừng hòng ta bỏ qua mối thù giết vợ.” Mộ Dung Bác nói: “Ngươi muốn giết ta để báo thù, nhưng hôm nay e rằng ngươi không làm nổi. Bên ta ba người mà bên ngươi chỉ có hai, thử hỏi bên nào có ưu thế?” Tiêu Viễn Sơn nói: “Dĩ nhiên bên ngươi thắng thế. Nhưng bậc đại trượng phu lấy ít chọi nhiều, Tiêu mỗ phỏng có sợ gì?” Mộ Dụng Bác nói: “Cha con họ Tiêu anh hùng cái thế, bình sinh chẳng biết sợ ai. Nhưng dù không sợ, mà hôm nay muốn giết ta thì cũng khó lắm. Ta muốn cùng Tiêu huynh thương lượng. Tiêu huynh vẫn có thể báo thù cho thỏa nguyện, nhưng cha con Tiêu huynh phải ưng chịu một điều.” Tiêu Viễn Sơn và Tiêu Phong cùng tự hỏi: “Không hiểu lão tặc này có ngụy kế gì đây?”

    Mộ Dung Bác lại tiếp: “Chỉ cần cha con Tiêu huynh ưng thuận điều này, rồi cứ đến giết tại hạ để báo thù. Tại hạ bó tay chịu chết, quyết không kháng cự. Cưu Ma huynh và Phục nhi không được ra tay cứu giúp.” Nghe lão nói vậy, cha con Tiêu Phong rất lấy làm kỳ, Cưu Ma Trí cùng Mộ Dung Phục cũng không khỏi kinh hãi, chẳng hiểu ra sao. Mộ Dung Phục la lên: “Gia gia! Họ ít mình nhiều…” Cưu Ma Trí cũng nói:”Sao Mộ Dung tiên sinh lại nói thế? Tiểu tăng còn một hơi thở, cũng quyết không để người khác đụng đến tiên sinh.” Mộ Dung Bác nói: ” Nghĩa khí của đại sư, tại hạ rất lấy làm cảm kích. Kết giao được một người bạn như thế thì chết cũng cam lòng. Tiêu huynh! Tại hạ muốn hỏi một câu. Năm trước tại hạ phao tin đồn, gây nên đại họa. Tiêu huynh có biết vì sao mà tại hạ làm cái việc thất đức đó chăng?”

    Tiêu Viễn Sơn nộ khí bốc lên ngùn ngụt, trỏ tay vào mặt Mộ Dung Bác mắng: “Ngươi là kẻ hèn hạ tiểu nhân, làm điều càn rỡ, gieo tai rắc họa, ta còn hỏi đến dụng ý làm chi?” Dứt lời, lão tiến lên một bước phóng quyền đánh luôn.

    Cưu Ma Trí lạng người tới, vung song chưởng lên ngăn cản. “Sầm” một tiếng lòng trời lở đất, quyền chưởng chạm nhau nảy lửa, kình lực làm rung động cả nóc nhà, cát bụi rớt xuống ầm ầm. Hai bên trao đổi chiêu này không phân cao thấp, cùng ngấm ngầm bội phục nhau.

    Mộ Dung Bác nói: “Tiêu huynh khoan hãy giận, xin nghe tại hạ nói hết đã. Mộ Dung Bác này tuy bất lương, nhưng cũng có chút tiếng tăm trên chốn giang hồ, lại chưa được quen biết cùng Tiêu huynh thì dĩ nhiên là không thù oán. Tại hạ với Huyền Từ phương trượng chùa Thiếu Lâm lại là chỗ thâm giao. Thế mà tại hạ đã phí bao nhiêu tâm lực, gây ra xích mích giữa hai bên, để thanh danh mình tan nát. Dĩ nhiên bên trong phải có lý do trọng đại.”

    Đôi mắt Tiêu Viễn Sơn như tóe lửa, quát hỏi: “Lý do gì trọng đại? Ngươi… ngươi nói đi!” Mộ Dung Bác nói: “Tiêu huynh! Tiêu huynh là người Khất Đan, Minh Vương Cưu Ma Trí là người nước Thổ Phồn. Bọn võ lâm Trung Nguyên đều coi các vị là phiên bang di địch, không phải là hàng thượng quốc. Lệnh lang vốn là Bang chủ Cái Bang, võ công cao tuyệt, hùng tài đại lược, lừng lẫy tiếng tăm, thật là một bậc anh hùng hào kiệt cổ kim hiếm có. Thế mà Cái Bang vừa biết lệnh lang là dòng dõi Khất Đan, liền trở mặt không cho làm Bang chủ nữa, lại còn muốn giết chết mới cam tâm. Tiêu huynh! Tiêu huynh thử nghĩ coi việc đó có hợp lý hay không?”

    Tiêu Viễn Sơn nói: “Tống, Liêu đời đời thù oán, hai nước đã giao tranh hơn trăm năm nay. Ở chốn biên cương, người hai nước thấy nhau là giết, xưa nay vẫn thế. Bang chúng Cái Bang đã biết con ta là người nước Liêu, đời nào họ để kẻ thù làm thủ lĩnh? Đó là lẽ thường, chẳng có gì là hợp lý với không hợp lý.” Lão ngừng một lát, lại nói tiếp: “Bọn Huyền Từ, Uông Kiếm Thông đã giết thê tử cùng thuộc hạ của ta, đó là vô tình chứ không phải cố ý. Cho dù họ có cố ý thì cũng chỉ do mối tương tranh giữa hai nước Tống, Liêu, chẳng lấy chi làm lạ. Còn ngươi đã bày mưu kế thâm độc để hại người, nhất định không thể tha thứ được.”

    Mộ Dung Bác nói: “Vậy theo ý Tiêu huynh, khi hai nước giao tranh thì chỉ cần thắng được là tốt, có thể bỏ qua nhân nghĩa đạo đức hay sao?” Tiêu Viễn Sơn đáp: “Binh bất yếm trá đã là qui luật, người đời sau nhắc đến lòng nhân của Tống Tương Công chỉ để chê cười. Ngươi hỏi những chuyện không liên can gì đến mình để làm chi?” Mộ Dung Bác mỉm cười, hỏi lại: “Tiêu huynh nghĩ Mộ Dung Bác này là người nước nào?”

    Tiêu Viễn Sơn giật mình đáp: “Ngươi là họ Mộ Dung ở Cô Tô thì dĩ nhiên là người Hán thuộc Nam triều, không lẽ là người ngoại quốc nữa sao?” Lúc nãy Huyền Từ phương trượng nhờ có học vấn uyên thâm, lúc nghe Mộ Dung Bác can Mộ Dung Phục đừng tự tử, chỉ mấy câu đã hiểu ra thân thế cùng lai lịch của lão. Còn Tiêu Viễn Sơn là kẻ võ phu Khất Đan, không hiểu lịch sử mấy, dĩ nhiên không biết nội tình.

    Mộ Dung Bác lắc đầu đáp: “Tiêu huynh nói thế là sai.” Rồi hắn quay lại nhìn Mộ Dung Phục nói: “Hài nhi! Chúng ta là người nước nào?” Mộ Dung Phục đáp: “Họ Mộ Dung vốn là người Tiên Ty. Trước kia nước Đại Yên chúng ta dựng nên cơ nghiệp ở miền Hà Sóc, nhưng về sau bị địch nhân nham hiểm tàn độc lấy mất giang sơn.” Mộ Dung Bác lại hỏi: “Hài nhi có biết tại sao ta đặt tên cho ngươi là Phục không?” Mộ Dung Phục đáp: ” Gia gia muốn hài nhi không được quên lời di huấn của tổ tiên, phải phục hưng nước Đại Yên, đoạt lại giang sơn.” Mộ Dung Bác nói: “Ngươi lấy ngọc tỉ truyền quốc của Đại Yên cho Tiêu tiên sinh coi.”

    Mộ Dung Phục “Vâng” một tiếng, thò tay vào bọc lấy ra một cái ấn vuông bằng ngọc đen, khắc hình đầu báo rất linh động, rồi xoay ngửa lại để lộ hàng chữ bên dưới. Tiêu Viễn Sơn, Tiêu Phong, Cưu Ma Trí ba người đều tinh mắt phi thường, nhìn rõ ấn khắc sáu chữ “Đại Yên Hoàng Đế Chi Bảo”. Ngọc tỉ này điêu khắc rất tinh vi, góc trên bị sứt một chút, chắc là mấy trăm năm nay đã trải qua nhiều bước gian lao. Tuy không phân biệt được chân hay giả, nhưng nhất định đây là một cổ vật rất giá trị.

    Mộ Dung Bác lại nói: “Ngươi lấy phả hệ của hoàng tộc Đại Yên ra cho Tiêu tiên sinh coi.” Mộ Dung Phục vâng lời, cất ngọc tỉ vào bọc rồi lấy ra một gói vải dầu. Trong gói này có một bức lụa vàng viết chữ đỏ bằng hai thứ văn tự, bên phải là thứ chữ ngoằn ngoèo không ai biết, chắc đó là văn tự Tiên Ty, còn bên trái là chữ Hán. Trên cùng là “Thái Tổ Văn Minh đế húy Hoảng”, rồi đến. “Liệt Tổ Cảnh Chiêu đế húy Tuấn”, “U đế húy Vi”, “Thế Tổ Thành Võ đế húy Thùy”, “Liệt Tôn Huệ Mẫu đế húy Bảo”, “Khai Phong Công húy Tường”, “Triệu Vương húy Lâu”. Đoạn dưới viết: “Trung Tôn Chiêu Võ húy Thịnh”. “Chiêu Văn đế húy Hy”. Tên húy các vị hoàng đế đều viết thiếu nét cho khỏi phạm húy). Đến năm Thái Thượng thứ sáu về đời Mộ Dung Siêu, nhà Nam Yên mất nước. Các đời sau đều là thứ dân, không có ai làm đế vương công hầu nữa. Trải qua rất nhiều đời nhưng con cháu dòng họ Mộ Dung không được đông đúc. Lúc này Tiêu Viễn Sơn, Tiêu Phong, Cưu Ma Trí, ba người không để tâm xem kỹ nhưng cũng nhìn thấy dưới cùng phả hệ này là tên Mộ Dung Phục, phía trên Mộ Dung Phục là Mộ Dung Bác.

    Cưu Ma Trí nói: “Té ra Mộ Dung tiên sinh là dòng dõi vương tôn của nước Đại Yên. Tại hạ thật là thất kính.”

    Mộ Dung Bác thở dài nói: “Tại hạ chỉ là một tên dân vong quốc, còn giữ được cái đầu đã là may lắm rồi, chỉ vì có lời di huấn của liệt tổ, nên lúc nào cũng nghĩ đến công cuộc phục quốc. Mộ Dung Bác này bất tài, bôn tẩu giang hồ đã nửa đời người mà chẳng làm nên công cán gì. Họ Mộ Dung tại hạ thuộc dòng Tiên Ty, mưu đồ phục quốc thì Tiêu huynh thấy có nên chăng?”

    Tiêu Viễn Sơn đáp: “Được làm vua thua làm giặc. Quần hùng đuổi hươu ở Trung Nguyên, chẳng có gì là nên với không nên.” Mộ Dung Bác nói: “Đúng thế! Suy nghĩ của Tiêu huynh rất hợp với tại hạ. Họ Mộ Dung muốn phục hưng nước Đại Yên, hễ gặp cơ hội là phải nắm ngay. Nhưng hiện nay, họ Mộ Dung ít người cô thế, phục hưng đất nước đâu phải chuyện dễ dàng? Tại hạ nghĩ rằng chỉ khi thiên hạ đại loạn, khắp chốn can qua, thì mình mới có cơ hội để hành động.”

    Tiêu Viễn Sơn trầm giọng hỏi: “Thì ra ngươi phao tin thất thiệt để gây xích mích Tống, Liêu, là mong nổ ra đại chiến phải không?” Mộ Dung Bác đáp: “Chính thế. Nếu Tống, Liêu xảy cuộc chiến tranh thì Đại Yên mới thừa cơ đứng dậy được. Ngày trước, nhà Đông Tấn có loạn Bát Vương, họ Tư Mã tàn sát lẫn nhau, rợ Ngũ Hồ mới có thể chiếm lấy Trung Nguyên. Tình thế ngày nay cũng tương tự như vậy.” Cưu Ma Trí gật đầu nói: “Đúng lắm! Giả tỉ Tống triều ngoài có ngoại xâm, trong sinh nội biến, thì chẳng những Mộ Dung tiên sinh có hy vọng phục quốc mà nước Thổ Phồn của tại hạ cũng được chia sẻ chén canh.”

    Tiêu Viễn Sơn hắng giọng, liếc mắt nhìn hai người. Mộ Dung Bác nói: “Lệnh lang ở nước Liêu làm đến Nam Viện Đại Vương, nắm giữ binh quyền trấn thủ Nam Kinh. Giả tỉ lệnh lang xua quân Nam tiến, lấy hết đất đai phía bắc Hoàng Hà, lập nên công nghiệp muôn đời, thì tiến ra có thể tự lập làm vua, lui về cũng được phú quí, có thể gom hết hào kiệt Trung Nguyên mà giết đi, dễ dàng như giẫm lên đàn kiến. Ngày trước lệnh lang bị Cái Bang xử bạc, có nên nhân dịp này mà trả oán không?”

    Tiêu Viễn Sơn nói: “Ngươi muốn con ta ra sức, chỉ để ngươi đục nước béo cò mà thỏa mãn dã tâm khôi phục nước Yên phải không?”

    Mộ Dung Bác nói: “Đúng thế! Nếu họ Mộ Dung dựng cờ khởi nghĩa ở Sơn Đông, được Đại Liêu hưởng ứng, đồng thời mấy nước Thổ Phồn, Đại Lý, Tây Hạ cũng tiến quân thì năm nước chúng ta chia xẻ giang sơn Đại Tống không phải là chuyện khó. Nước Yên của tại hạ không dám động chạm đến một tấc đất phần của Đại Liêu, nếu phục hưng thành tựu thì chỉ lấy đất Nam triều. Vụ này rất có lợi cho Đại Liêu, sao Tiêu huynh lại không đồng ý?” Lão nói đến đây, đột nhiên xoay tay một cái, trong tay đã nắm lưỡi trủy thủ sáng loáng. Lão vung tay lên đâm lưỡi trủy thủ vào cái ghế bên cạnh, dõng dạc nói: “Nếu Tiêu huynh nhận lời đề nghị này, thì có thể lập tức đâm chết tại hạ để báo thù cho phu nhân. Tại hạ quyết không kháng cự.” “Roạc” một tiếng, lão xé toạc vạt áo để hở ngực ra.

    Chuyện này hoàn toàn ngoài dự liệu của cha con Tiêu Viễn Sơn, cả hai đều không ngờ đối phương đang có ưu thế mà lại bó tay chịu chết, nhất thời không biết làm sao cho phải.

    Cưu Ma Trí nói: “Mộ Dung tiên sinh! Người ta thường nói, không ai học được chữ ngờ. Đối với chuyện quân quốc đại sự thì mưu cơ giả trá lại càng hết sửc bình thường. Giả tỉ Mộ Dung tiên sinh cam tâm chịu chết, nhưng sau đó cha con họ Tiêu phụ lời ước hẹn, thì cái chết của tiên sinh chẳng… chẳng phải uổng phí ư?”

    Mộ Dung Bác đáp: “Tiêu lão hiệp đã ẩn cư mấy chục năm nay, ít khi xuất hiện ở nhân gian. Còn Tiêu đại hiệp nổi tiếng anh hùng, thiên hạ đều biết lời nói của ý nặng bằng chín đỉnh. Y chỉ vì một thiếu nữ không quen không biết, mạo hiểm đơn thương độc mã xông vào Tụ Hiền Trang để xin chữa bệnh cho người, sao lại có thể giết lão phu rồi nuốt lời được? Lão phu suy tính đã lâu, đây chính là cơ hội ngàn năm khó gặp. Ta đã già rồi, đem cái mạng héo hắt như đèn sắp hết dầu này mà đổi lấy cơ đồ vạn thế, cuộc trao đổi này sao lại không làm?” Mặt lão hiện nét cười, chăm chú nhìn Tiêu Viễn Sơn, rõ rằng chỉ mong đối phương mau mau hạ thủ.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Thiên Long bát bộ. Tiểu thuyết của Kim Dung. Tác phẩm được bắt đầu được đăng trên tờ Minh báo ở Hồng Kông và Nam Dương thương báo ở Singapore vào ngày 03-09-1963 đến ngày 27-05-1966, liên tục trong 4 năm. Các Dịch giả: Hàn Giang Nhạn; Đông Hải; Nguyễn Duy Chính. NXB Văn học, 2002.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập43,165,904

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/