Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập36,526,734

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Thế giới những ngày qua

Stefan Zweig

  • Thứ sáu, 15:30 Ngày 23/12/2011
  • Chỉ có bây giờ người ta ném tất cả họ ra thành một đống; người ta quét họ đi như bùn trên các con đường: những chủ ngân hàng từ những tòa nhà ở Berlin và những người phục vụ nhà thờ Do Thái của các cộng đồng chính thống, những giáo sư triết học ở Paris và những người đánh xe ngựa ở Rumani, những nữ ca sĩ hợp xướng và những người khóc thuê trong các đám ma, những nhà văn và những người chưng cất rượu, những người tắm cho các xác chết và những người được giải Nobel, những người khá giả và những người nghèo khổ, những người cao sang và những người hèn mọn, những người sùng tín và những người tự do tư tưởng, những người cho vay nặng lãi và những người hiền minh, những người theo chủ nghĩa Sion và những người bị đồng hóa, những người Ashkenazi và những người Sephardi[1], những người công bằng và những người bất công, và phía sau họ, là đám đông mất phương hướng của những người đã từ lâu thoát khỏi sự trừng phạt của Chúa, những người được rửa tội và người lai. Chỉ có bây giờ lần đầu tiên từ nhiều năm người ta lại một lần nữa áp đặt bằng sức mạnh cho người Do Thái một cộng đồng mà họ đã mất ý thức từ nhiều thế kỷ, một cộng đồng luôn bị xua đuổi kể từ khi bị lưu đày khỏi Ai Cập. Mà tại sao số phận đó lại bị dành cho họ, và luôn luôn chỉ dành cho họ mà thôi? Lý do, ý nghĩa, mục đích của sự truy hại ngu xuẩn đó là gì? Người ta xua đuổi họ khỏi tất cả lại. Người ta nói với họ: “Đừng sống cùng chúng tôi nữa“, nhưng người ta không nói với họ là phải sống ở đâu.

    Người ta gán cho họ mọi tội lỗi mà không cho họ một cách thức nào để chuộc tội. Vì vậy, trong cuộc chạy trốn họ nhìn nhau đau đáu với những cặp mắt nóng bỏng: Tại sao tôi? Tại sao bạn? Tại sao tôi với bạn, mà tôi không quen, tôi không biết ngôn ngữ của bạn, mà tôi không biết cách suy tư của bạn, mà không gì gắn bó tôi với bạn cả? Tại sao tất cả chúng ta? Và không ai tìm ra câu trả lời. Ngay cả Freud, một trí tuệ trong sáng nhất của thời đại mà tôi thường đàm đạo trong những ngày ấy, cũng không tìm ra sự giải nghĩa, không tìm ra ý nghĩa cho cái vô nghĩa đó. Nhưng có lẽ đó chính là cái ý nghĩa tối thượng của sự tồn tại của người Do Thái: qua sự tồn tại kiên trì và bí ẩn của mình, họ nêu lên câu hỏi vĩnh cửu của Job với Chúa Trời hết lần này tới lần khác, để câu hỏi đó không bao giờ bị lãng quên.

    *

    Không gì gây một ấn tượng ma quái hơn là đột ngột thấy trở lại, với cùng một hình dáng và cùng một bề ngoài của nó, cái mà người ta tưởng đã chết và bị chôn vùi từ lâu. Chúng tôi đang ở mùa hè 1939; Munich đã đi qua từ lâu cùng với ảo tưởng ngắn ngủi về “Peace for our time“. Hitler đã, bất chấp mọi thề thốt và hứa hẹn, tấn công nước Tiệp Khắc bị chia năm sẻ bảy và đã sáp nhập nó; Mémel đã bị chiếm đóng; Báo chí Đức đang điên cuồng kêu gào đòi chiếm Danzig và “hành lang Ba Lan“. Nước Anh đã thức tỉnh một cách cay đắng sau những tin tưởng mù quáng ban đầu. Ngay những người bình thường không mấy hiểu biết và ghét chiến tranh theo bản năng, bắt đầu biểu lộ rất sâu sắc tâm trạng bực bội của mình. Mỗi người Anh thường ngày rất dè dặt kín đáo bắt chuyện với bạn; người gác cổng ngôi nhà rộng cho thuê của chúng tôi, người gác thang máy, người phụ nữ hầu phòng… không một ai trong số họ hiểu rõ cái gì đã xảy ra, nhưng mỗi người đều nhớ tới điều này, một điều không thể chối cãi: rằng Thủ tướng Anh Chamberlain đã ba lần bay sang Đức nhằm cứu vãn nền hòa bình, rằng những sự ân cần tử tế thân tình nhất không thể thỏa mãn được Hitler. Ở Nghị viện Anh, người ta bỗng nghe những tiếng nói cứng rắn: Stop aggression[2]!, đâu đâu cũng thấy những chuẩn bị cho chiến tranh, (hoặc đúng hơn là để tránh nó). Một lần nữa lại thấy bay bên trên thành phố London những khinh khí cầu phòng không với vẻ bề ngoài vẫn khá ngây thơ như những con voi đồ chơi của trẻ con; một lần nữa người ta đào hầm trú ẩn dưới mặt đất, và những mặt nạ chống hơn độc đã phát trước đây bây giờ được kiểm tra cẩn thận. Tình huống cũng đúng là căng thẳng như một năm trước đây, mà còn hơn nữa, vì lần này người Anh không còn ngây thơ nữa, mà là một dân tộc đã kiêm quyết và phẫn nộ đang đứng đằng sau chính phủ.

    Trong những tháng đó, tôi đã từ biệt London và rút lui về ở nông thôn tại Bath. Chưa bao giờ tôi cảm nhận một cách tàn nhẫn hơn sự bất lực của con người chống lại bước đi của các sự kiện thế giới. Tôi ngồi đó, một con người sáng suốt, hay nghĩ ngợi, cách xa mọi hoạt động chính trị, tận tâm với công việc và bền bỉ với những nỗ lực im lặng để chuyển những tháng năm này thành các tác phẩm. Ngoài kia, ở những nơi không thể thấy được, là một nhóm nhỏ những người mà tôi hoàn toàn không biết, không thấy bao giờ, một nhóm chỉ chừng 10 hay 20 người chưa từng chứng tỏ được gì về sự thông thái hay kỹ năng, đang bàn bạc, viết lách, điện thoại và thỏa thuận với nhau về nhiều việc mà những người còn lại trong chúng ta không hề hay biết. Họ ra những quyết định mà người ta không có phần và không được biết chi tiết và bằng cách đó quyết định về cuộc đời của tôi và của nhiều người khác ở châu Âu. Số phận của tôi bây giờ ở trong tay họ chứ không phải ở trong tay tôi. tiêu diệt hoặc tha bổng chúng ta, chúng ta những kẻ bất lực; họ để tự do cho chúng ta hoặc dìm chúng ta vào vòng nô lệ, họ quyết định hòa bình và chiến tranh cho hàng triệu con người. Và tôi ngồi đó, như những người khác, trong căn phòng của mình, không có gì bảo vệ như một con ruồi, bất lực như một con ốc sên trong khi đây là vấn đề sống và chết, vấn đề của cá nhân tôi và của tương lai tôi, của những tư tưởng nảy nở trong óc tôi, của những dự án được xây dựng hay không, của lúc thức cũng như lúc ngủ của tôi, của ý chí tôi, của tài sản tôi, của toàn bộ cuộc sống của tôi. Tôi ngồi đó chờ đợi và nhìn vào khoảng không như một tù nhân trong xà lim, bị nhốt, bị giam giữa bốn bức tường, bị xích lại trong sự chờ đợi vô lý và bất lực, và những bạn tù ở bên phải, bên trái, đặt những câu hỏi, cho những lời khuyên, và chuyện trò, cứ như thể bọn chúng tôi biết điều gì sắp xảy ra cho mình và lý do tại sao. Điện thoại reo: một người bạn gọi tới và hỏi tôi đang nghĩ gì. Radio hoạt động và mỗi lời nói mâu thuẫn với lời nói trước. Có tờ báo, nhưng nó càng làm chúng ta rối ren hơn. Tôi bước ra ngoài phố, và người đầu tiên mà tôi gặp đã hỏi ngay xem tôi nghĩ gì về việc chiến tranh có nổ ra hay không, trong khi tôi cũng chẳng biết gì nhiều hơn anh ta về điều đó. Và trong sự xúc động của mình, tôi cũng hỏi, và tôi nói, tôi trò chuyện, tôi tranh luận, vẫn biết rất rõ rằng tất cả những hiểu biết, những kinh nghiệm, tất cả sự lo xa mà người ta tích lũy được trong nhiều năm là vô giá trị so với quyết định của một tá người không quen kia, rằng đây là lần thứ hai trong hai mươi lăm năm, người ta lại trở nên hoàn toàn bất lực trước số phận. Những ý tưởng vô nghĩa nổi lên trong cái đầu đang nhức nhối của tôi. Cuối cùng tôi không chịu nổi cái thành phố lớn này nữa, vì ở mỗi góc đường, những “quảng cáo“, những áp phích tấn công bạn với những chữ in màu sắc sặc sỡ, chẳng khác nào những con chó càu nhàu, vì tôi không thể cưỡng lại việc muốn đọc trên trán hàng ngàn khách bộ hành những gì họ đang suy nghĩ. Tuy nhiên, tất cả chúng ta đều chỉ nghĩ về một điều duy nhất - có hay không có, đỏ hay đen - trong trò chơi quyết định này, trò chơi mà trong đó cả cuộc đời tôi được dùng làm tiền đặt cược: những năm cuối cùng trong đời, những cuốn sách mà tôi chưa viết ra, tất cả những gì mà tôi từng nghĩ là nhiệm vụ của tôi, tất cả những gì đem lại ý nghĩa cho cuộc đời tôi.

    Nhưng cái viên bi bất định quay với một sự chậm chạp làm căng thẳng thần kinh ở nơi này nơi kia trên cái bàn chơi cò quay. Nơi này, nơi kia, đỏ và đen, hy vọng và thất vọng, tin tốt, tin xấu và mãi mãi chưa có cái quyết định, cái cuối cùng. Hãy quên đi, tôi tự nói với mình. Hãy trốn đi, hãy tị nạn trong cái lùm cây sâu kín nhất của mày, trong công việc, nơi mày chỉ còn là cái bản ngã riêng đang thở. Không phải là một công dân của bât kỳ nước nào, không phải là đối tượng của trò chơi địa ngục ấy, đó chính là nơi một ít lương tri của mày còn có thể hoạt động hợp lý trong một thế giới đã trở nên điên loạn.

    Tôi có một công việc phải hoàn thành. Từ nhiều năm nay tôi đã không ngừng tích lũy tài liệu cho một nghiên cứu lớn hai tập về Balzac và tác phẩm của ông, song tôi chưa bao giờ có can đảm bắt đầu một công trình dài hơi như vậy. Sự ngã lòng của tôi lúc đó cho tôi cam đảm. Tôi rút lui về Bath, chính xác là về Bath, vì thành phố này (ở đó những đại biểu ưu tú nhất của nền văn học Anh đầy vinh quang, đứng đầu là Fielding, đã từng sáng tác), dưới những con mắt đã dịu đi, tiêu biểu hơn bất kỳ nơi nào khác cho cái thế kỷ XVIII yên bình hơn của nước Anh. Nhưng cái phong cảnh thanh nhã, đượm một vẻ ngọt ngào đó quả là trái ngược một cách đau đớn biết bao nhiêu với sự khuấy động đang ngự trị trên toàn thế giới và trong lòng tôi. Tương tự như tháng Bảy năm 1914 là tháng Bảy đẹp nhất mà tôi từng biết ở nước Áo, tháng Tám năm 1939 đó ở nước Anh cũng có một sự lộng lẫy không kém phần kích động. Lại bầu trời căng lụa xanh, như chiếc lều hòa bình mà thượng đế dựng lên, lại cái ánh nắng êm dịu ấy trên các bãi cỏ và rừng cây, cộng thêm vào đó sự huy hoàng không gì sánh nổi của các loài hoa - nền hòa bình lớn trên trái đất, trong khi con người vũ trang cho chiến tranh. Cũng như ngày xưa, sự điên cuồng dường như không thể có thật trước những sự nở hoa yên tĩnh, lâu dài và phong phú này, sự nghỉ ngơi tự biểu lộ và tự hưởng này ở những thung lũng của Bath mà sự êm dịu của chúng làm tôi nhớ lại một cách kín đáo phong cảnh của Baden năm 1914.

    Và lần này nữa tôi không muốn tin điều đó. Tôi lại một lần nữa sửa soạn cho một chuyến đi mùa hạ. Hội nghị Văn bút Quốc tế sẽ mở ra ở Stockholm trong tuần đầu tháng Chín năm 1939, và các bạn bè Thụy Điển đã mời tôi - một sinh thể lưỡng cư đại diện cho một quốc gia nào cả - với tư cách là khách danh dự. Buổi trưa, buổi chiều, tất cả giờ giấc của tôi trong các tuần tiếp theo đã được các bạn bè khả ái của tôi sắp xếp trước. Từ lâu, tôi đã đặt chỗ nằm trên chiếc tàu thủy, thì đây, những tin tức hãi hùng báo trước một cuộc động viên đang sắp sửa nối tiếp nhau với một sự nhanh chóng đến hoảng hốt. Theo tất cả các quy luật của lý trí, lẽ ra tôi phải vội vàng gói sách vở, bản thảo lại và rời nước Anh như một nước có thể tham chiến vì trong trường hợp chiến tranh, tôi sẽ bị coi ngay là người nước ngoài của một nước và có nguy cơ chịu mọi hình thức hạn chế đối với tự do cá nhân. Nhưng có cái gì trong tôi không thể giải thích được ngăn trở tôi ra đi. Một phần, đó là một thứ bướng bỉnh không muốn chạy trốn mãi vì như vậy, số xúi quẩy sẽ theo đuổi tôi mãi mãi, và phần khác, cũng có sự mệt mỏi chán nản. Tôi tự nhủ lòng bằng một câu của Shakespeare: “Hãy đối mặt với thời gian như nó tìm kiếm chúng ta“. Nếu thời gian muốn chiếm lấy bạn, đừng chống lại nó, khi đã gần sáu mươi tuổi, bởi thời gian đâu thể lấy đi phần đẹp nhất trong đời bạn nữa! Thế là tôi ở lại. Ngoài ra còn một lý do khác: tôi muốn sắp xếp cuộc sống cá nhân một cách có trật tự. Tôi đang có ý định lấy vợ lần thứ hai, và không muốn bỏ phí một phút giây nào bên cạnh người bạn đời tương lai, phòng trường hợp chúng tôi phải xa cách nhau bởi một sự giam cầm hay bởi một điều gì đó không ai tiên liệu được[3]. Thế là trong một buổi sáng - đó là ngày mồng 1 tháng Chín, một ngày thứ Sáu - tôi đi đến phòng hộ tịch của Bath để báo cuộc hôn nhân của tôi. Anh nhân viên lấy giấy tờ của chúng tôi, tỏ ra rất dễ thương và đầy năng lực. Và hiểu, như bất cứ ai trong thời gian đó, nguyện vọng của chúng tôi tiến hành lễ cưới rất nhanh vào ngày hôm sau, anh cầm lấy bút và bắt đầu viết tên chúng tôi vào một cuốn sổ bằng chữ rộng[4] to đẹp.

    Vào lúc đó - có thể đã mười một giờ - cửa căn phòng bên cạnh mở ra đột ngột. Một nhân viên trẻ đi vào phòng, vừa mặc áo vừa đi. Anh ta kêu to: “Bọn Đức đã xâm chiếm Ba Lan, chiến tranh!“ Tiếng anh vang lên trong căn phòng im lặng, từng tiếng rơi như một nhát búa xuống trái tim tôi. Nhưng trái tim của thế hệ chúng tôi đã quen với mọi cú đánh đau “Chắc chưa phải là chiến tranh“, tôi nói với một niền tin chân thật. Song người nhân viên lấy làm bực tức. Anh thét lên dữ dội: “Không, chúng tôi chán ngấy lắm rồi! Chúng tôi không cho phép chuyện đó cứ sáu tháng là bắt đầu lại! Chúng tôi sẽ chấm dứt nó!“

    Nhưng nhân viên kia, là người đã bắt đầu viết tờ khai kết hôn của chúng tôi, bỏ bút xuống với vẻ nghĩ ngợi. Anh nghĩ xét cho cùng chúng tôi là người nước ngoài và vào hoàn cảnh chiến tranh chúng tôi tự nhiên chuyển sang hàng ngũ những người nước ngoài thù địch. Anh không biết việc kết hôn còn có thể được cho phép trong trường hợp như vậy không. Anh rất tiếc, nhưng dù sao anh cũng muốn hỏi ý kiến của London… Sau đó là hai ngày chờ đợi, hy vọng, lo sợ, hai ngày trong nỗi lo âu thê thảm. Sáng Chủ nhật, radio truyền đi tin nước Anh tuyên chiến với nước Đức.

    *

    Đó là một buổi sáng khác thường. Người ta lặng lẽ rời cái radio đã ném vào trong gian phòng một tin tức dường như dài hơn nhiều thế kỷ, một tin tức dành rồi sẽ thay đổi hoàn toàn thế giới và cuộc đời của mỗi người chúng ta. Một cái tin chứa đựng cái chết của hàng ngàn trong số những người lắng nghe nó trong im lặng, chứa đựng niềm bất hạnh, tuyệt vọng và lời đe dọa cho tất cả mọi người. Sẽ còn phải mất nhiều năm sau nữa thì động lực cho sự sáng tạo mới có thể quay lại thế giới này. Lại chiến tranh một lần nữa, một cuộc chiến tranh dữ dội hơn và rộng rãi hơn bất cứ cuộc chiến tranh nào trước đây trên trái đất. Lại một lần nữa một thời kỳ qua đi, lại một lần nữa một thời kỳ mới bắt đầu. Chúng tôi im lặng trong một gian phòng bỗng chốc trở nên yên tĩnh một cách lạ lùng tránh nhìn vào mắt nhau. Từ bên ngoài, tiếng hót vô tư của những chú chim đang gù nhau vang tới tai chúng tôi trong làm gió ấm; những cái cây đu đưa trong ánh nắng vàng, dường như cành lá cũng muốn chạm vào nhau như những làn môi. Lại một lần nữa, bà mẹ thiên nhiên già nua không biết gì về những mối lo âu của các sinh linh của nó.

    Tôi đi sang phòng của tôi và xếp chặt các đồ đạc vào một chiếc vali nhỏ. Nếu những tiên đoán của một trong những người bạn của tôi có chức vị cao được xác nhận, những người Áo ở Anh phải được đồng nhất với người Đức và phải chịu những hạn chế tương tự trong việc tự do đi lại. Có thể tôi không còn được ngủ trên gường mình đêm nay. Lại một lần nữa, tôi bị rơi xuống thêm một nấc nữa; từ một giờ nay, tôi không chỉ là một người nước ngoài ở đất nước này, mà một “enemy alien”[5]; bị đày đến một nơi mà trái tim lo lắng của tôi không hề có cảm xúc. Với một người từng bị xua đuổi khỏi quê hương, khi nước Đức xem anh ta là “chống Đức“ chỉ vì nguồn gốc chủng tộc và cách suy nghĩ, liệu còn có tình huống nào phi lý hơn việc giờ đây, ở một quốc gia khác và bởi một sắc lệnh quan liêu, anh ta bị xếp vào một cộng đồng, mà với tư cách một người Áo, anh ta chưa bao giờ thuộc về cả? Chỉ với một nét bút, người ta đã thay đổi ý nghĩa của một cuộc đời thành cái vô nghĩa. Tôi viết, tôi suy tư bằng tiếng Đức, nhưng mỗi ý nghĩa, mỗi ước vọng mà tôi hình thành lại thuộc về các nước đang cầm vũ khí đấu tranh cho tự do của thế giới. Mọi ràng buộc khác, tất cả những gì đã đi qua và đã hoàn tất đều bị rách bươm và vỡ nát - tôi biết rằng tất cả sau cuộc chiến tranh này sẽ là một sự bắt đầu lại. Vì công việc sâu kín nhất mà tôi đã dành trong bốn mươi năm toàn bộ sức mạnh niềm tin của tôi, sự liên minh hòa bình của châu Âu, đã tan vỡ. Cái mà tôi sợ hơn cái chết của bản thân mình, cuộc chiến tranh của mọi người chống mọi người, nổ ra lần thứ hai. Và người đã trọn đời say mê vì sự đoàn kết của con người và trí tuệ, đã đòi hỏi vào giờ này hơn bất cứ giờ nào khác một sự đoàn kết không gì thắng nổi, con người đó tự cảm thấy vô tích sự và cô độc hơn bao giờ hết bởi sự thải loại mà người đời dành cho nó.

    Một lần nữa tôi đi xuống phố để nhìn lần cuối cùng “cái“ hòa bình. Nó nằm nghỉ yên tĩnh trong nắng ban trưa và không có vẻ gì khác với nó trước đây. Những con người đi con đường của họ bằng những bước đi thường ngày. Họ ăn mặc áo quần ngày chủ nhật, yên tĩnh và bình an. Và có một lúc tôi đã tự hỏi: Chung quy họ chưa biết gì cả hay sao? Nhưng đó là những người Anh đã được luyện để chế ngự những cảm xúc của mình. Họ không cần cờ và kèn, tiếng ồn và âm nhạc, để tự khẳng định trong một trong quyết tâm sắt đá và không có gì là thống thiết. Tất cả đều khác biết bao trong những ngày tháng Bảy năm 1914 ở Áo, nhưng bản thân tôi cũng đã khác với người trẻ tuổi chưa có kinh nghiệm lúc bấy giờ, và đã chất chứa biết bao kỷ niệm! Tôi biết chiến tranh là gì và khi nhìn các cửa hiệu đầy và đẹp, tôi thấy lại trong một ảo ảnh đột ngột những cửa hiệu của năm 1918 đang đau đáu nhìn bạn với những con mắt rộng mở, trống rỗng và lau chùi sạch sẽ. Tôi thấy lại như trong một giấc mơ giữa ban ngày: những hàng dài phụ nữ mặt căng thẳng trước các cửa hiệu thực phẩm, những người mẹ mang thai, những người bị thương, những người cụt chân, tất cả sự ghê rợn ban đêm đó của dĩ vãng hiện lại một cách ma quái trong ánh nắng chan hòa của ban trưa. Tôi nhớ lại những người lính già của chúng ta, mệt rã rời và rách rưới, khi từ mặt trận trở về, trái tim phập phồng của tôi cảm nhận tất cả cuộc chiến đã qua trong cuộc chiến tranh bắt đầu hôm nay và đang che giấu những tàn bạo của nó trước mọi cái nhìn. Và tôi biết rõ điều này: một lần nữa tất cả dĩ vãng đã thực sự đi qua; tất cả những gì làm được bị dìm vào hư không. Châu Âu, tổ quốc của chúng ta, vì nó mà chúng ta sống, đang bị tàn phá, và sự tàn phá đó sẽ còn kéo dài qua cả cuộc đời chúng ta. Một cái gì đó đang bắt đầu, một thời đại mới, nhưng ai biết được nhân loại còn phải trải qua bao nhiêu đau khổ và cực hình nữa mới tới được thời đại đó?

    Mặt trời chiếu sáng rực rỡ và đầy đặn. Khi tôi quay về nhà, tôi bỗng quan sát thấy bóng mình ở trước mặt, như tôi thấy bóng của cuộc chiến năm xưa đằng sau cuộc chiến tranh hiện nay. Nó không rời tôi qua tất cả các năm tháng đó, cái bóng kia, nó phủ màu tang tóc lên mọi ý nghĩ của tôi; có thể cái hình bóng u tối của nó hiện ra trong nhiều trang của quyển sách này. Nhưng mọi bóng hình, xét cho cùng, là con đẻ của anh sáng; và chỉ duy nhất những người đã trải nghiệm ánh sáng và bóng tối, chiến tranh và hòa bình, cái thăng và cái trầm, mới thực sự sống cuộc đời này.

    THƯ TUYỆT MỆNH CỦA STEFAN ZWEIG

    Viết vài phút trước khi ông đi vào cái chết tự nguyện.

    Trước khi từ giã cõi đời thực sự tự nguyện và với tất cả sự minh mẫn, tôi cảm thấy cần thiết phải làm tròn một nghĩa vụ cuối cùng: nói những lời cảm ơn sâu sắc tới đất nước Brazil, xứ sở diệu kỳ đã mang lại cho tôi cũng như cho sự lao động của tôi một nơi nương náu thật chân tình và thật là hiếu khách.

    Càng ngày tôi càng biết yêu mến xứ sở này nhiều hơn và tôi không muốn tạo dựng cuộc sống mới ở bất cứ nơi nào khác lúc này, khi thế giới ngôn ngữ của tôi đã biến mất đối với tôi và tổ quốc tinh thần của tôi, châu Âu, đã tự hủy diệt mình.

    Tuy nhiên, đã quá tuổi sáu mươi, cần có những sức mạnh phi thường để bắt đầu lại toàn bộ cuộc đời mình mà sức lực của tôi thì đã cạn kiệt qua những năm dài lưu lạc. Vì vậy, tôi nghĩ tốt hơn cả là ngẩng cao đầu chấm dứt đúng lúc một cuộc đời trong đó lao động trí tuệ bao giờ cũng là niềm vui thanh khiết nhất và tự do cá nhân là tài sản cao nhất trên cõi đời này.

    Tôi gửi lời chào tất cả bạn bè của tôi. Mong sao họ còn nhìn thấy bình minh sau đêm dài! Tôi, tôi quá sốt ruột, tôi đi trước họ.

    Petrópolis, 22-02-1942.

    Stefan Zweig

    Hết.

    Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.

    www.trieuxuan.info

    __

    [1] Ashkenazi và Sephardi là hai nhóm sắc tộc Do Thái khác nhau. Về cơ bản, nhóm Ashkenazi có nguồn gốc châu Âu, chiếm đa số trong cộng đồng Do Thái; còn nhóm Sephardi có nguồn gốc từ những người Do Thái sinh sống trên bán đảo Iberia (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha) trước thế kỷ XV - BT.

    [2] Tiếng Anh trong nguyên bản, nghĩa là: Hãy chặn đứng sự tấn công.

    [3] Trong cuốn hồi ký này, Stefan Zweig hoàn toàn không đề cập đến đời tư của bản thân. Ông kết hôn hai lần. Người vợ đầu là bà Friderike Burger (1882-1971), người Do Thái Áo. Họ yêu nhau từ 1912 khi Friderike còn có gia đình riêng với chồng và hai con gái, và phải tới năm 1920 mới chính thức kết hôn. Năm 1938 họ ly dị một cách êm đẹp. Người vợ sau của Stefan Zweig là bà Lotte Altmann (1908-1942), thư ký của ông trong thời gian ông sống tại London, người đồng hành với ông trong những năm lưu đày tại Anh, Mỹ và kết thúc tại Brazil - BT.

    [4] Lối viết chữ tròn và đậm nét - BT.

    [5] Nghĩa là: Người nước ngoài thù địch.

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập36,526,734

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/