Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,818,675

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tết tha phương/ Đường vào đất Thục/ Cuộc đời thợ mỏ/ Đất cằn/ Hành hương

Phan Quang

  • Thứ ba, 15:12 Ngày 28/07/2020
  • TẾT THA PHƯƠNG

    Tôi dùng cụm từ văn hoa mòn mỏi cho có vẻ… đất khách quê người. Thật ra, những chuyến đi xa và gặp Tết Nguyên đán ở nước ngoài, trong phút giao thừa thiêng liêng tuy không khỏi nhớ về gia đình, xứ sở nhưng mọi người thường chìm ngập trong công việc bộn bề – một phần do còn sự chênh lệch múi giờ: đêm của mình là ngày của người ta, đón giao thừa giữa ban ngày ban mặt phỏng còn có ý nghĩa gì. Mà cho dù có thời gian rỗi rãi, lòng chúng tôi vẫn ấm nồng trong sự quan tâm của bè bạn.

    Tết năm ấy, không phải những người Việt mà chính anh bạn đại biểu nước Lào đã nhắc sắp đến giao thừa rồi đó. Anh Somsanouk len qua các hàng ghế, tìm đến nơi đoàn ta ngồi, bắt tay chúc mừng năm mới, rồi mở một gói mứt sen Hà Nội bọc trong giấy hồng điều. Anh ngồi ghé xuống bên hàng ghế của chúng tôi, tranh thủ chuyện trò chốc lát.

    Lúc này phiên họp đêm thứ ba của Đại hội XII Tổ chức quốc tế các nhà báo (OIJ) đang diễn ra sôi động và căng thẳng. Hương vị đậm đà của mứt sen và tình cảm bè bạn làm cho thần kinh anh em dịu lại chừng nào. Chỉ tiếc không có trà sen nhấp giọng: hội nghị ở nước Hồi giáo chỉ nước suối suông. Trên đường quá cảnh sân bay Nội Bài để sang thủ đô Amman dự hội nghị, anh Somsanouk chứng kiến không khí chuẩn bị Tết, đã nảy ra sáng kiến dễ thương này.

    Chúng tôi cảm ơn anh bạn thân, nhờ anh “canh chừng” diễn biến của đại hội, rồi cùng nhau về phòng. Chờ cho đến lúc kim chỉ phút đồng hồ nhích vào đúng con số 12, chúng tôi nâng cốc, người ly nước ngọt người cầm cả lon bia lấy từ minibar đặt trong phòng ngủ, chúc mừng nhau. Thực ra lúc này mới tám giờ tối ở Trung Đông.

    Rồi mọi người gọi điện thoại về nhà. Đường dây quốc tế bận liên tục. Nối với thủ đô Hà Nội hoặc thành phố Hồ Chí Minh, chỉ nghe trong máy công thức được cài đặt sẵn, yêu cầu khách vui lòng gọi lại sau, “please try later…” Later. Chờ mãi chờ hoài. Chúng tôi hiểu, lúc này hàng ngàn hàng vạn con em Việt Nam sinh sống hoặc đang làm việc tại nước ngoài gọi về cho người thân trong nước. Giờ phút thiêng liêng, ai cũng muốn qua đường viễn thông trực tiếp bày tỏ tình cảm với gia đình, bè bạn. Phải đến nửa giờ sau, cơn sốt lắng xuống, tôi mới liên lạc được với Hà Nội; bạn tôi ở thành phố Hồ Chí Minh còn phải chờ ít ra mười lăm phút nữa.

    … Rồi cũng đến lúc phải trở lại hội trường. Đêm tất niên và mở đầu năm mới Ất Hợi ấy của chúng tôi ở thủ đô Amman cực kỳ căng thẳng. Lúc này có thể gọi là điểm đỉnh của đại hội quốc tế các nhà báo gồm gần một trăm nước thuộc Tổ chức OIJ. Mọi người cố gắng vượt qua cơn khủng hoảng – dư chấn của trận động đất chính trị vừa diễn ra dăm năm trước làn sụp đổ thể chế Liên Xô và mô hình xã hội chủ nghĩa các nước Đông Âu… Sau gần nửa thế kỷ tồn tại OIJ đứng bên bờ vực thẳm. Tình trạng mất ổn định do cuộc đấu tranh giữa những người chủ trương đổi mới, cải tổ và những người bảo thủ, giữa những phần tử quá khích chỉ thích nói “không” tuyệt đối với quá khứ và những người còn biết phải chăng. Có những kẻ thấy không còn lợi lộc gì từ sự bao cấp của Liên Xô, trở cờ sang hướng khác. Trụ sở chính của OIJ nửa thế kỷ nay vẫn đóng ở thủ đô Praha, với nhiều bất động sản và tổ chức kinh doanh trực thuộc cơ quan đầu não, đang bị chính quyền mới ở Tiệp Khắc đòi đẩy ra khỏi nước này…

    Trong bối cảnh ấy, các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi cố gắng cứu vãn tổ chức quốc tế hùng hậu nhất của báo giới tiến bộ, dân chủ sau chiến tranh thế giới thứ hai… Tranh cãi kéo dài. Mà quỹ thời gian dành cho đại hội không còn. Bởi thứ tư tuần lễ này, trùng hợp ngày mùng Một tháng Giêng theo âm lịch, mở đầu tháng lễ hội Ramadan của người Hồi giáo. Bằng bất cứ giá nào, đại hội cũng phải hoàn tất chương trình làm việc nội trong đêm nay…

    Cuối cùng rồi mọi sự cũng kết thúc. Rạng sáng mùng Hai Tết, sau khi cùng Ban lãnh đạo mới ra mắt bạn bè, tôi mệt phờ, tất tưởi rời phòng họp. Chỉ còn có mấy tiếng đồng hồ thôi để vội vã đi thăm phố xá mua một vài vật lưu niệm, vội vã ghé nhìn qua đôi di tích văn hóa nổi tiếng gần thủ đô Amman, rồi vội vã ra sân bay lên đường về nước.

    Dù sao hôm nay mới mùng Hai, đến Hà Nội còn kịp vui xuân chán.

    *

    *   *

    Mùa đông năm ấy châu Âu rét to. Máy bay chúng tôi từ Bangkok hạ cánh quá cảnh London để tiếp nhiên liệu, không cất cánh được nữa. Lần ấy tôi tham gia một đoàn đại biểu nước ta sang Tây bán cầu dự cuộc hội thảo với các nghị sĩ Hoa Kỳ. Quan hệ bình thường giữa hai nước chưa xác lập, cuộc hội thảo theo thỏa thuận sẽ diễn ra trên một hòn đảo thuộc nước thứ ba, đỗi đường quá xa tính từ điểm xuất phát Nội Bài.

    Sân bay Heathrow phủ dưới tuyết trắng. Cho dù có xe xúc tuyết, dù có máy rửa đường liên tục hoạt động, đường băng vẫn không đủ điều kiện tối thiểu cho máy bay cất cánh. Hành khách mọi chuyến bay hôm ấy dồn lại mỗi lúc một đông. Bên ngoài tuyết rơi, gió mạnh, mà bên trong các sảnh chờ, các phòng đợi ngột ngạt hành khách. Hơi người tứ xứ dồn ép trong các gian phòng cửa đóng kín như bưng, cho dù nhà sảnh ngày thường luôn rộng thoáng, có máy điều hòa không khí và hệ thống thông gió tối tân chạy hết công suất, đâu đâu cũng nóng hầm hập, cũng đụng người và người. Đến dãy phòng sang trọng dành riêng cho các VIP hoặc cho khách đi tàu hạng nhất, bình thường trống vắng là thế, hôm nay không đủ ghế ngồi. Sau một đêm ngủ gà ngủ gật trên máy bay và một ngày vật vờ trong phòng thiếu không khí, tôi bị mệt.

    Rồi cũng đến lúc nhà ga thông báo, hành khách chuẩn bị lên máy bay tiếp tục cuộc hành trình vượt Đại Tây Dương. Lúc này, nhiệt độ ngoài trời thấp, gió tuyết vẫn lộng hành. Đại sứ ta tại London, anh Châu Phong bạn đồng hương của tôi, ân cần khuyên tôi nên nghỉ lại thủ đô vương quốc Anh, đợi sức khỏe và thời tiết tốt hơn sẽ đi tiếp chuyến bay sau. Chị Nguyễn Thị Bình và các bạn trong đoàn cũng khuyên tôi nên nghỉ lại, vì chặng bay sang Tây bán cầu khá dài. Nếu thời tiết xấu kéo dài thì ở lại đây, hẹn sẽ gặp nhau ở Bangkok trên đường trở về.

    Sực nhớ, hôm nay đã vào ngày hai mươi chín tháng Chạp ta. Vậy là ngẫu nhiên tôi được dự một bữa liên hoan cuối năm cùng toàn thể anh chị em ta đang công tác tại London và các cháu đi theo gia đình. Một bữa tất niên xa xứ, có đủ mùi vị như ở nước nhà. Có điều bánh chưng do Việt kiều làm mang đến biếu được gói trong giấy bóng kính… Sau bữa cơm, tôi lội tuyết men theo phố Victoria Road, từ cơ quan sứ quán về nơi nghỉ, qua ngày nguyên đán với vợ chồng anh bạn đồng hương. Ngôi biệt thự xinh xắn mang cái tên rất oai là “tư dinh ngài đại sứ”, thực tế là nơi ở tập thể khá chật chội của cán bộ ta.

    Ngày Tết, có nhiều cuộc tiếp xúc với Việt kiều. Vui và xúc động. Nghị sĩ Chris Mulin, một nhà báo mới chuyển sang hoạt động chính trường, cùng người vợ Việt Nam anh vừa kết hôn năm trước, mang cháu bé mấy tháng tuổi đến chào các bác các cô. Ông Len Aldis, Thư ký Hội hữu nghị Anh Việt, không quên lặn lội đến chúc mừng Việt Nam nhân dịp Tết cổ truyền. Bất ngờ tôi được dịp cùng người bạn thủy chung của nhân dân ta mà tôi đã nhiều lần tiếp xúc tại Hà Nội, nhấp chén chè hương và trò chuyện thân tình. Không ai nhớ lúc này ngoài kia gió lạnh vẫn réo hun hút và tuyết trắng tiếp tục rơi dày, phủ kín bệ tượng đài Các Mác trong vườn Hyde Park trắng xóa.

    Tết tha phương ư? Tôi cảm thấy cụm từ khuôn sáo không da diết như tưởng tượng của mình qua văn chương thuở ấu thơ…

    Cũng lại là một sự trùng hợp ngẫu nhiên nữa. Tôi được vui Tết âm lịch tại thủ đô Phnôm Pênh - mùa này đất nước Đền Tháp ban ngày chói chang nắng nóng nhưng về đêm có gió dịu, từa tựa ở thành phố Hồ Chí Minh. Một hội nghị quốc tế quan trọng – Đại hội thường niên của Tổ chức Nghị viện châu Á vì hòa bình – chẳng ai quan tâm mấy ngày diễn ra trùng hợp Tết cổ truyền của một nước thành viên. Trong chương trình nghị sự, có phần thông qua Hiến chương về quyền con người. Từ ngày hai mươi nhăm tháng Chạp, mấy anh em tôi sang trước, để làm việc tại Tiểu ban văn kiện của đại hội. Ngày áp Tết, đoàn đại biểu chính thức của ta từ Hà Nội sang…

    Đêm ba mươi Tết, chúng tôi đến vui tất niên với anh chị em ta ở cơ quan đại sứ quán. Tiếp đấy tới dự cuộc gặp mặt thân mật do các bạn Campuchia tổ chức để chúc mừng riêng đại biểu các nước có Tết cổ truyền theo âm lịch: Việt Nam, Trung Quốc… Tôi lại được tặng, y như lần trước ở Amman, một gói mứt sen bọc trong giấy hồng điều – lần này do nhã ý của Chủ tịch Quốc hội bạn, Hoàng thân Ranarith. Mứt sen Việt kiều ở Phnôm Pênh chế biến rất đúng quy cách quê hương.

    Tối mùng Một Tết Nguyên đán trùng vào đêm kết thúc đại hội. Quốc vương Norodom Sihanuk và Hoàng hậu Moneath chủ tọa buổi chiêu đãi tại hoàng cung. Một đêm hội trọng thể đậm đà văn hóa dân tộc Khơme diễn ra tại vườn ngự. Dọc các lối đi rất dài, rẽ trái quẹo phải, nửa tỏ nửa khuất dưới bóng cây huyền ảo ánh đèn lồng đặt trên đầu các trụ đá cổ, ở đâu cũng có tiêu binh danh dự mặc binh phục cổ truyền đón khách. Người lính đưa hai tay lên ngang tầm vai, nâng ngang thanh kiếm hoặc cây thương đứng im như tượng, sau người này đến người khác, suốt từ cổng chính đến cái sân rộng và kín đáo, nơi xưa kia diễn ra các hội hè dành riêng cho hoàng tộc và khách quý của nhà vua.

    Quốc vương Norodom Sihanuk gần tám mươi tuổi – nghe nói ông vừa trở về sau một đợt chữa bệnh ở nước ngoài – cùng Hoàng hậu ngồi với các vị trưởng đoàn trên bàn danh dự. Nửa chừng buổi tiệc, cuộc trình diễn văn nghệ bắt đầu. Một chương trình tổng hợp, mở ra bằng tân nhạc, múa balê và kết thúc bởi một trích đoạn nhạc vũ kịch dân tộc lấy điển tích từ trường ca Ramayana. Đoạn trích diễn thêm ấy khá dài, tôi thú thật, có lẽ quá dài. Biết làm sao, loại hình nghệ thuật này xưa kia diễn liên tục hết đêm này sang đêm khác, dù sao tình tiết buộc phải có đầu có đuôi và đủ mặt các nhân vật chính: hoàng tử Rama, công chúa Xita, chúa quỷ Ravana, tướng khỉ Hanuma – con khỉ tuyệt vời làm khởi hình cho Tôn Ngộ Không trong Tây Du Ký…

    Cuộc trình diễn kết thúc thì đã gần nửa đêm. Suốt cả buổi, từ đầu hôm đến giờ, Quốc vương và Hoàng hậu vẫn ngồi nghiêm chỉnh trên bàn danh dự, nhã nhặn trò chuyện với khách quý. Lúc này hai vị đứng lên đi trước đến đầu sân, cùng Chủ tịch Quốc hội Ranarith và Thủ tướng Hun Xen chờ sẵn để bắt tay từ biệt mọi người. Các vị khách xếp hàng đợi đến lượt mình tạm biệt vị nguyên thủ cao niên. Tôi nhìn thấy cụ già nghe nói đang mang trọng bệnh trong người, hơi nghiêng mình về phía trước, hai tay luôn chắp lại rất mực khiêm nhường, lần lượt vái chào đáp lễ mấy trăm tân khách. Mà có phải ai cũng chỉ làm mỗi một việc bắt tay mà thôi. Nhiều vị còn nấn ná trao đổi đôi ba câu. Cụ già vẫn ân cần, lịch thiệp, hai bàn tay chắp trước ngực; mỗi lần một vị khách bước tới, cụ lại nghiêng mình thi lễ tạ từ.

    Tự nhiên tôi cảm thấy ái ngại trong lòng trước thịnh tình và sự quá chu đáo của các nhà lãnh đạo nước chủ nhà, nhất là vị quốc trưởng cao niên. Hóa ra nghĩa vụ làm vua, cũng vất vả lắm thay. Tới lượt mình, tôi ngần ngại không dám đưa tay ra, đỡ cho cụ già phải bắt tay đáp lễ. Đến trước mặt nhà vua, tôi chắp tay trước ngực và cúi đầu. Quốc vương Sihanuk nghiêng mình – chắc ông nhớ ra hôm nay là đêm Nguyên đán của Việt Nam – nói bằng tiếng Pháp qua nụ cười hiền hậu: “Tạm biệt. Và chúc mừng năm mới!”.

    2004

    ĐƯỜNG VÀO ĐẤT THỤC

    Vừa nghe nói đi Tứ Xuyên, trong đầu tôi đã dội lên hai câu thơ gập ghềnh mở đầu bài thơ nổi tiếng của Lý Bạch Thục đạo nan (Đường xứ Thục khó đi) thuộc lòng thời còn đi học:

    Ôi! Chà! Gớm! Hiểm mà cao thay!

    Đường Thục đi khó, khó hơn đường lên trời(*).

    Tỉnh Tứ Xuyên, cũng như thành phố Trùng Khánh mới trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương năm năm nay, vốn là một phần của nước Ba Thục xưa, đã có ba nghìn năm lịch sử. Cách đây một nghìn tám trăm năm, khi vương triều nhà Hán suy yếu, một viên quan nhỏ cháu nhiều đời của Hán Cao Tổ là Lưu Bị đã lui về đây, cùng hai người anh em kết nghĩa Quan Công và Trương Phi, và Quân sư Gia Cát Lượng lập nên nước Thục, với hoài bão dùng vùng núi non hiểm trở này làm căn cứ tiến lên khôi phục cơ đồ nhà Hán. Thành phố Thành Đô thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên ngày nay thời ấy có tên là Thục Đô - kinh đô nước Thục. Ba nước Ngụy, Thục, Ngô ở những nơi xa lắc xa lơ sao mà quen thuộc với người Việt Nam ta đến thế, nhất là thế hệ những người nay đã lớn tuổi từng say mê bộ truyện Tam Quốc chí. Cái tên Trùng Khánh dù không kém nổi tiếng mới xuất hiện từ thế kỷ XIII. Hồi ấy, một vị hoàng thân thống lĩnh vùng đất này được phong vương rồi lên ngôi đế, tức vua Tống Quang Tông triều Nam Tống. Vua Quang Tông cho đấy là dịp hai điều mừng trùng hợp “song trùng gia khánh”, từ đó đặt tên kinh đô của mình là Trùng Khánh.

    Chính nhờ địa thế hiểm trở, nằm lùi sâu vào miền Tây Nam Trung Quốc, ở thượng lưu sông Dương Tử cách thành phố Thượng Hải những hai nghìn năm trăm kilômét, lại có vùng hậu xứ đông tới hai trăm triệu dân, nên thời chiến tranh thế giới lần thứ hai, Tưởng Giới Thạch đã dời chính phủ về Trùng Khánh tổ chức, điều hành cuộc kháng chiến chống phát xít Nhật xâm lược. “Chính phủ Trùng Khánh” là tên quen thuộc vẫn xuất hiện đều đều trên các báo hằng ngày xuất bản tại Hà Nội, Sài Gòn cũng như trên bản tin của Hãng thông tấn ARIP đầu những năm bốn mươi thế kỷ trước. Hoàng Sơn, một nơi nghỉ mát, được chọn làm đại bản doanh của vị Thống chế họ Tưởng. Đây cũng là nơi đặt trụ sở Cục Hoa Nam của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Bộ tư lệnh Viễn Đông của Không quân các nước Đồng minh trong chiến tranh chống phát xít Nhật. Ngày nay, Hoàng Sơn là một điểm du lịch. Ngôi biệt thự nhỏ của Tưởng Giới Thạch, các căn nhà mà nhiều nhân vật nổi tiếng trong lịch sử đương đại Trung Quốc như Chu Ân Lai, Tống Khánh Linh... từng sống và làm việc, cũng như cư xá của tướng Mỹ Catlett Marshall đặc phái viên Tổng thống Hoa Kỳ bên cạnh Chính phủ Trung Quốc, vẫn được bảo tồn và tiếp tục nâng cấp, đón khách tham quan.

    Mảnh đất mà Lý Bạch từng miêu tả:

    Ban ngày quạ gào trên cổ thụ

    Ban đêm cuốc kêu dưới ánh trăng

    Đồi núi đều quạnh hiu

    Đường Thục đi khó, khó hơn đường lên trời.

    Còn ai phải vào đất Thục là lâm vào cảnh:

    Sang tây chẳng bao giờ về

    Sợ đường chon von không thể leo...

    Và nhà thơ đặt câu hỏi:

    ... Nó hiểm là như thế

    Hỡi người xứ khác, làm chi mà lần sang?

    Con đường vào đất Thục hiểm là như thế, ngày nay tôi là người xứ khác vẫn lần sang. Nhưng, từ thủ đô Bắc Kinh bay đến chỉ mất có ba tiếng đồng hồ.

    Trên đất Thục xưa, mây trắng ngày nay vẫn như hai nghìn năm trước lãng đãng rất nhiều, song không phải bay bên đầu ngựa của người lữ khách (đầu ngựa bóng mây quanh - thơ Lý Bạch) mà lởn vởn quanh những cao ốc hai ba mươi tầng xây dựng trên những quả đồi chập chùng, càng làm tăng vẻ bề thế. Đây là nơi hợp lưu giữa sông Gia Lăng và sông Dương Tử (còn được gọi là Trường Giang), có núi cao sông sâu, có đồng bằng rừng hiểm, chính vì vậy có thời vùng đất này được gọi là Giang Châu, lại có tên là Sơn Thành. Khí hậu á nhiệt đới, bốn mùa có những nét đặc trưng rõ rệt, được người xưa đúc kết thành tám chữ: xuân sớm, hè nồng, thu mưa, đông ấm.

    *

    *   *

    Hai chiếc máy bay Boeing 747 kềnh càng chở Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc Lý Bằng cùng mấy trăm nghị sĩ và quan chức của bốn chục nước châu Á, trong đó có đoàn đại biểu nước ta do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An dẫn đầu, đáp xuống sân bay Trùng Khánh trong cơn mưa tầm tã. Đường bay lênh láng. Các tấm thảm đỏ trải đón mừng khách quý sũng nước. Nhưng các vị lãnh đạo thành phố chủ nhà đã đón ở chân cầu thang máy bay. Đội nhạc binh mặc lễ phục trắng vẫn cử nhạc ngoài trời, dưới mưa. Các cô gái chàng trai đồng phục mới toanh vẫn niềm nở chạy đi chạy lại trong mưa hướng dẫn khách. Bạn Trung Quốc nói: “Vùng này bị đại hạn từ nhiều tháng nay. Hôm nay có khách quý từ nhiều nước đến, trời đổ mưa rào, ấy là điều đại cát”.

    Càng đi về gần trung tâm thành phố, chúng tôi càng ngạc nhiên. Mặc dù trời mưa, hai bên đường rất đông nhân dân xếp hàng trật tự che ô chờ hoan hô khách. Hỏi ra mới biết, nhân có sự kiện trọng đại này, chính quyền thành phố cho cán bộ, công nhân viên nghỉ việc hẳn mấy hôm.

    Trùng Khánh được tách khỏi tỉnh Tứ Xuyên và trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương năm 1997. Đấy là một bước thực hiện đường lối cải cách mở cửa của Trung Quốc: tiếp tục đẩy mạnh đà phát triển ở phía Đông đồng thời mở mang khai thác tiềm năng miền Tây đất nước. Phía Đông, tức là các tỉnh và thành phố thuộc đồng bằng duyên hải vốn là nơi có nhiều thuận lợi từ xưa: cơ sở hạ tầng hiện đại, giao thông tốt, dân trí mở mang, mức sống tương đối cao, dễ thu hút đầu tư nước ngoài... Miền Tây có nhiều khó khăn, trở ngại hơn, càng đi về vùng sâu vùng xa sự chênh lệch về trình độ phát triển và mức sống so với các vùng ven biển phía Đông càng lớn, tuy từ những năm sau Ngày lập nước 1949 đã có nhiều biến đổi sâu xa.

    *

    *   *

    Lịch sử và truyền thống, cũng như sản xuất nông và lâm nghiệp của đất Ba Thục đương nhiên có chiều dày những mấy nghìn năm, song niềm tự hào của người dân Trùng Khánh ngày nay, nhất là lớp trẻ, trước hết là ở chỗ thành phố rộng tám mươi hai nghìn kilômét vuông với gần ba mươi triệu dân tính cả nông thôn và nội thành này đã trở thành một cơ sở công nghiệp hùng hậu phía Tây Nam đất nước. Sản xuất công nghiệp năm vừa qua (2001) tăng hơn mười một phần trăm so với năm trước. Đầu tư nước ngoài thu hút hơn năm tỷ rưỡi USD. Kim ngạch xuất nhập khẩu đạt trên mười tám tỷ USD. Toàn thành phố có gần một vạn xí nghiệp, trong đó có những nhà máy vào loại lớn nhất nước. Năm qua, thành phố sản xuất một triệu chín mươi vạn tấn thép, gần hai mươi lăm vạn xe hơi và hơn hai triệu rưỡi xe gắn máy. Trùng Khánh chính là nơi ra đời của xe máy Jialing (Gia Lăng) tràn ngập thị trường nhiều vùng nước ta mấy năm lại đây. Trùng Khánh cũng là một trong sáu cơ sở hóa chất lớn nhất Trung Quốc, với gần một nghìn chủng loại sản phẩm. Sân bay Trùng Khánh là một sân bay quốc tế trang bị hiện đại, đầy đủ tiện nghi phục vụ hoạt động của năm mươi hãng hàng không có phi cơ bay lên đáp xuống hằng ngày. Giao thông đường bộ, đường sắt, và những năm lại đây ngành viễn thông, khá phát triển. Một đội ngũ đông tới bốn mươi vạn nhà khoa học và kỹ thuật làm việc trong một nghìn viện nghiên cứu khoa học cùng bốn mươi ba trường đại học và cao đẳng.

    Tôi không đến cơ sở sản xuất xe máy Jialing, nhưng có dịp thăm một doanh nghiệp rất lớn khác cũng chuyên sản xuất xe máy, từ những xe thông dụng cho đến những xe thể thao phân khối lớn, tương tự các loại mang nhãn hiệu Yamaha, Suzuki rất đắt tiền và khá hiếm hoi ở nước ta. Cơ ngơi xí nghiệp hết sức bề thế. Dáng dấp quản lý tương tự bên châu Âu. Một phòng trưng bày giới thiệu nhiều kiểu dáng xe gây ấn tượng. Đây là một doanh nghiệp tư nhân. Đại sứ nước ta tại Trung Quốc Bùi Hồng Phúc hôm ấy cùng đi, quen thân vị tổng giám đốc từ trước. Anh Bùi Hồng Phúc cho biết, cơ sở này khởi đầu cũng vừa phải thôi nhưng nay vốn liếng của công ty đã lên tới bốn tỷ nhân dân tệ. Một con số làm tôi thật sự ngỡ ngàng. Thú thật trong lòng sẵn định kiến với chất lượng xe máy Trung Quốc, tôi chỉ đi lướt qua các phân xưởng, ngó nghiêng một chút chỗ này chỗ kia, và cũng chẳng chú ý lắng nghe lời thuyết minh bằng tiếng Anh rất chuẩn của cô nhân viên ngoại vụ của doanh nghiệp. Tiến sĩ Lê Quang Minh, Hiệu trưởng Trường Đại học Cần Thơ, rỉ tai tôi: “Loại máy tiện kia thuộc đời mới lắm. Trường tôi xoay xở mới có được một chiếc cho sinh viên thực tập, đang mơ ước cái thứ hai. Tôi đếm ở đây những bốn mươi mấy chiếc”.

    Một niềm tự hào khác của chính quyền thành phố Trùng Khánh là các khu cư xá mới - tôi thích gọi theo lối quen thuộc với mình là “khu tập thể”. Chúng tôi có dịp ghé thăm một khu nhà ở mới khá rộng, gần hồ Rồng (Long hồ). Người ta chia thành nhiều tiểu khu: bờ Nam (Long hồ nam ngạn), bờ Tây (Long hồ tây ngạn), một biệt thự sang trọng hơn, có nhiều cây xanh và hoa cỏ, đặt tên là Long hồ uyển, và một khu công viên, giải trí. Nhà cửa cao hoặc thấp tầng; giá cả, chất lượng, tiện nghi có nhiều cấp độ khác nhau, phù hợp với túi tiền của các loại khách.

    Đặc điểm chung nổi bật nhất của khu phố mới này là nhịp độ xây dựng rất nhanh. Khu Long hồ mới bắt đầu khởi công năm 1997, ngay sau khi có chủ trương tách Trùng Khánh khỏi tỉnh Tứ Xuyên để trở thành một trong bốn thành phố lớn trực thuộc Trung ương. Các nhà lãnh đạo thành phố đã có tầm nhìn đúng đắn. Kinh tế phát triển mạnh, dân sẽ giàu lên, lại thêm việc “thanh lý” các khu nhà cổ chật hẹp, ẩm thấp cộng với chuyện “giải phóng mặt bằng”, “khu định cư”, nhu cầu về nhà ở khang trang tất đặt ra, bức bách.

    Quả đúng như vậy. Khu Nam ngạn xây dựng đầu tiên, hai năm sau bắt đầu phân phối. Tiếng lành đồn xa. Trong một tháng bán một nghìn một trăm sáu mươi căn hộ. Sang năm 2000 có tháng chỉ trong một ngày bán bốn trăm bảy sáu căn. Hết sạch nhà. Nhịp độ xây dựng tăng tốc. Tháng năm năm 2000 bắt tay xây khu bờ Tây, bốn tháng sau làm luôn khu biệt thự, rồi tháng tiếp ngay sau đó khu công viên... Đồng bộ đường sá, vườn hoa, nhà mẫu giáo, câu lạc bộ, siêu thị... thuận tiện cho mọi người. Khu Long hồ uyển sang trọng, dự kiến tới tháng tám năm nay mới hoàn thành và phân phối, nhưng sang tháng ba đã có gần một nghìn bảy trăm đơn xin mua và đặt trước tiền, chiếm khoảng một nửa số nhà rao bán.

    Chúng tôi đi bách bộ trong khu phố mới, ai muốn vào thăm nhà nào xin cứ tự nhiên. Dân cư đã được thông báo trước, hân hoan mở rộng cửa chờ đón khách. Đã xếp sẵn người hướng dẫn và phiên dịch cho những ai cần. Tôi rẽ vào một ngôi nhà ba tầng loại khá. Hai nhà riêng xây liền vách, quay lưng lại với nhau. Mỗi nhà có hai cổng. Cổng và cầu thang chính ở mặt tiền, cổng phụ phía sau thông với phòng để xe hơi ở tầng trệt. Cầu thang và các phòng ngủ lát sàn gỗ. Mặt bằng căn hộ rộng hai trăm ba mươi mét vuông. Không có vườn riêng (đây chưa phải là biệt thự) song tầng nào cũng dành sẵn nhiều không gian cho cây xanh. Sân thượng bày cây cảnh, kê một chiếc bàn mặt đá và những cái đôn gốm truyền thống Trung Hoa. Giá nhà, không tính đồ đạc, mỗi căn chừng một triệu nhân dân tệ. Rẻ so với giá nhà đất ở Hà Nội hoặc thành phố Hồ Chí Minh, tôi nghĩ thầm.

    Nhà rộng song chỉ có hai vợ chồng. Cô con gái duy nhất - như phần lớn gia đình ở Trung Quốc ngày nay, chỉ có một con - đã đi du học tự túc ở bên New Zealand. Trong phòng khách có bày chiếc dương cầm. Tiện tay, tôi ấn chơi vài phím. Bà chủ nhà khiêm tốn: “Đây chỉ là đàn nội địa, sản xuất ở Trung Quốc mua để cháu học thôi, thưa ông”.

    Khách lựa lời đặt câu hỏi. Mua nhà phải trả tiền ngay một lúc hay có thể trả dần? Nhà nghiệp chủ tinh ý hiểu ngay. Ông cười: “Trả ngay một lần khi nhận nhà. Vợ chồng chúng tôi kinh doanh nhiều năm nay rồi mà, thưa ông”.

    Cô gái hướng dẫn đoàn nói thêm: “Nhà ở khu biệt thự đắt hơn, thế mà cũng có lắm khách. Bây giờ nhiều người giàu lắm, các ông ạ”. Tôi hỏi vui: “Cô đã đăng ký mua chưa?” Cô trả lời đầy tự tin: “Lúc này thì chưa. Tôi đang hoàn tất bậc sau đại học. Chắc chắn rồi đây sẽ mua”.

    Khu biệt thự ấy, tôi có ngang qua. Không thật sang trọng như khu biệt thự mới ở thành phố Quảng Châu, trên bờ sông Châu Giang. Có điều là giá nhà đất ở Trùng Khánh rẻ hơn nhiều so với Bắc Kinh, Quảng Châu, Thượng Hải hay Thâm Quyến. Nghe nói đã có người nơi khác đổ về mua nhà nơi xứ Ba Thục xưa.

    *

    *   *

    Trước khi lên đường đi Trung Quốc tôi đã định bụng: Chuyến này đến Trùng Khánh, nhất định không thể không thăm đại bản doanh của Chính phủ Trung Hoa dân quốc. Vì vậy, trong khi mọi người náo nức đi thăm đập Tam Hiệp, công trình thủy điện lớn có lẽ nhất thế giới đang xây dựng ở thượng lưu sông Trường Giang, tôi xin thăm Hoàng Sơn.

    Khu di tích lịch sử và du lịch Hoàng Sơn ở ngoại vi thành phố, cách trung tâm chừng vài mươi kilômét. Hoàng Sơn nằm trên độ cao gần sáu trăm mét so với mặt biển, biệt lập và yên tĩnh, khí hậu quanh năm mát hơn vùng nội đô chừng năm, sáu độ. Cái tên Hoàng Sơn chẳng phải xa xưa gì. Nó được đặt theo tên họ của một nghiệp chủ, người đầu tiên cho xây một nhà nghỉ trên vùng núi này. Chính ngôi biệt thự bằng gỗ kiến trúc pha trộn Đông Tây của ông chẳng mấy sang trọng nhưng có cái tên thơ mộng là Vân Du Lâu (Lầu mây bay), đã được Thống chế Tưởng Giới Thạch chọn làm nơi đóng đại bản doanh trong chiến tranh thế giới thứ hai, làm cho Trùng Khánh nổi tiếng toàn thế giới.

    Vân Du Lâu, theo lời người giới thiệu, đã được họ Tưởng cho nâng cấp và tân trang, tuy vậy cũng đơn giản và sơ sài lắm. Chỉ có khung cảnh thiên nhiên là tuyệt vời. Và về mặt quân sự, khu Hoàng Sơn dựa vào sườn núi cao hiểm trở, chắc cũng thuận tiện cho việc bảo vệ an ninh thời ấy.

    Đồ đạc, bàn ghế, giường tủ, mắc áo đều bằng gỗ thường. Bộ xa lông mây đan đã cũ nát với thời gian. Chiếc quạt bàn đen sì cánh bằng kim loại. Máy điện thoại thô kệch thời trước chiến tranh thế giới. Tầng trệt có phòng rộng, chữ đề Hội nghị thất, kê cái bàn dài cùng mười một chiếc ghế gỗ không mấy tiện nghi. Bên cạnh là Thể dục thất, nghe nói cũng là nơi Tưởng Giới Thạch tiếp khách. Tầng hai khoáng đãng hơn, ngoài phòng ngủ, có phòng làm việc của họ Tưởng, phòng ngủ của tướng Catlett Marshall, và một gian hẹp hơn, chắc để họp bàn những việc cơ mật ít người.

    Từ Vân Du Lâu, có những lối ngược lên cao, đường dốc hẹp có xếp những tấm đá chẻ cho dễ đi. Cây cối um tùm. Có bảng chỉ dẫn đường lên ngôi nhà cũ của Chu Ân Lai, người thay mặt Đảng Cộng sản Trung Quốc cùng Tưởng Giới Thạch thực hiện đường lối kháng Nhật Quốc - Cộng hợp tác(*) hồi ấy. Còn có nhiều biệt thự khác mới xây dựng thêm về sau, kiến trúc thường thôi nhưng nhà nào cũng mang tên rất hay: Thảo Đình, Tùng Sảnh, Vân Phùng Lâu... bởi được dành riêng cho những nhân vật đặc biệt: bà Tống Mỹ Linh vợ Tưởng Giới Thạch, bà Tống Khánh Linh phu nhân cố Tổng thống Tôn Dật Tiên người thiết lập chế độ dân quốc Trung Hoa, tướng Tưởng Kinh Quốc con trai cả của Tưởng Thống chế, v.v... Tôi nghĩ quanh đây thế nào chẳng có doanh trại các đội bảo vệ, lực lượng phòng không và văn phòng. Chắc đổ nát hết rồi, chẳng nghe ai nhắc đến. Hiện chỉ có Vân Du Lâu và Tùng Sảnh là được trùng tu, phục chế để mở cửa cho công chúng tham quan.

    Ngoài ý nghĩa lịch sử, Hoàng Sơn chưa có sức hấp dẫn lắm đối với khách du lịch. Dưới chân núi, vài quán cà phê, nhà hàng. Lơ thơ mấy chiếc xe chở khách trong nước đến chơi. Làng mạc, nhà cửa mới xây hai bên đường cho thấy dân tình rõ ràng có mức sống tốt hơn so với trước song chưa hẳn giàu có bằng dân vùng ngoại vi Thượng Hải, Nam Kinh, Thâm Quyến.

    Trùng Khánh ngày nay đã thật sự là một thành phố hiện đại, giao lưu rộng mở với thế giới. Nước Thục của Lưu Bị ngày xưa, nay đã đổi mới gấp vạn triệu lần. Nhưng so với những nơi từng là cứ địa nước Ngô của Tôn Quyền ở vùng đất Giang Nam thì còn lâu mới giàu có và khang trang bằng. Còn lâu các vùng sâu vùng xa ở phía Tây nước Trung Hoa mênh mông mới theo kịp miền Đông vốn đã thịnh vượng lại đang đà phát triển ngoạn mục.

    Tôi nghĩ vui một mình, không tiện trao đổi với ai.

    2002

    CUỘC ĐỜI THỢ MỎ

    Chiếc thang máy lao vun vút với tốc độ mười hai mét một giây đưa chúng tôi từ đáy lò than lên mặt đất. Ánh nắng mùa thu chói chang đến hoa mắt, mặc dù dưới hầm lò chỗ nào cũng có điện sáng. Mặt mũi chúng tôi đen nhọ bụi than. Chúng tôi đã đi lại gần hai chục kilômét ở chiều sâu sáu trăm mét trong lòng đất.

    Nhà báo Trung Quốc cùng đi hỏi có ai mệt không. Thấy mọi người vui vẻ lắc đầu, đồng chí cười:

    - Ấy là nhờ dưới lò có hệ thống thông gió tốt.

    Chủ nhiệm Văn phòng mỏ Long Phượng, một công nhân đã làm việc ở hầm lò này từ năm mười bốn tuổi, nói rõ thêm:

    - Chúng ta đã ở dưới đất gần hai giờ đồng hồ. Hồi mỏ chưa giải phóng, đến thợ mỏ chúng tôi làm việc mấy giờ liền dưới hầm cũng đã thấy mệt lả người, nói gì các bạn là những người không quen. Bây giờ thì...

    Đồng chí bỏ lửng câu nói, cười rất to và dang rộng hai cánh tay:

    - Bây giờ thì... mời các bạn rửa mặt, thay áo. Chúng ta đi thăm Viện dưỡng lão!

    Câu nói bình thường này của người lão công nhân, mãi sau khi thăm Viện dưỡng lão và dự cuộc tọa đàm với một số thợ mỏ, rời Phủ Thuận trên đường về thành phố Thẩm Dương trong đêm khuya đã bắt đầu chuyển lạnh của miền Đông Bắc Trung Quốc, tôi mới hiểu hết ý nghĩa thầm kín của nó và càng ngẫm nghĩ càng thấm thía. Thật vậy, nếu làm việc và nghỉ ngơi là những quyền cơ bản đầu tiên của con người, thì người công nhân mỏ ngày nay đã được Đảng và Chính phủ Trung Quốc tạo cho mọi điều kiện cần thiết để làm việc an toàn và có năng suất cao và nghỉ ngơi thoải mái sau giờ lao động hay khi đã về già.

    Hầm lò lần theo các vỉa than xuyên sâu vào lòng đất, ngăn cách với cuộc sống bên trên bằng một lớp đất dày hàng nửa kilômét, suốt ngày đêm hơi than quyện với hơi nước, hơi đất hầm hập (xưa kia và cả ngày nay có biết bao công nhân mỏ đã bỏ mình vì những vụ nổ hơi than!), nhưng ở nơi làm việc của công nhân, gió luôn luôn thoảng qua mát rượi, có phần hơi lạnh nữa đối với người xứ nóng là tôi. Dọc theo các đường hầm chi chít trong lòng đất, hầm chếch để khai thác than, hầm bằng để vận chuyển than, hầu như đâu đâu cũng cặp kè những ống lớn thoát hơi than ra ngoài, giữ an toàn cho công nhân. Và còn gì gì nữa, những thiết bị lớn và nhỏ, mắc tại nơi làm việc hoặc mang trên người, tạo điều kiện cho người công nhân làm việc đỡ vất vả mà đạt năng suất cao, đối với một người ngoại đạo như tôi thật khó mà ghi nhớ hết.

    *

    *   *

    Viện dưỡng lão của khu mỏ Phủ Thuận gồm một trăm hai mươi ba cụ công nhân đã về hưu, từ sáu mươi ba đến chín mươi hai tuổi. Đương nhiên đây không phải là tất cả số người đã quá tuổi lao động của khu mỏ lớn đến bảy vạn thợ này. Đây chỉ là số ít những người mà thân phận, dưới chế độ cũ, đã được xã hội gọi bằng cái tên chung là những kẻ “sống không nhà ở, chết không đất chôn” hiểu theo nghĩa đen trần trụi của câu nói này. Suốt đời họ đổ mồ hôi quyện nước mắt và máu làm giàu cho bọn tư bản, để rồi khi không còn đủ sức gượng làm được nữa thì chết như một mảnh giẻ rách người ta ném ra đường, không bà con, không thân thích, có chăng chỉ mấy người bạn nghèo vẫn hằng đùm bọc lấy nhau. Cách mạng đã lo đến tuổi già của họ. Nhà nước trả tiền hưu cho tất cả những ai đã cống hiến đủ thời gian lao động nhất định cho mỏ. Ai muốn về an dưỡng tuổi già giữa đàn con cháu, thân thích thì về, ai không có gia đình, mời vào viện dưỡng lão.

    Ở đây Nhà nước đã lo cho tất cả: nhà cao cửa rộng, từ nơi nghỉ, nơi ăn, hiên đánh cờ, thư viện đọc sách, phòng khám bệnh, phòng cắt tóc cho đến mảnh đất trồng cây hoa, chăm chậu cảnh. Tôi đã đi thăm nhiều nơi trong viện. Tôi sẽ không thuật lại dài dòng ở đây những điều mắt thấy tai nghe đáng nức lòng người mà chỉ xin nói một nhận xét nhỏ: trong hầu hết phòng ngủ của các cụ đều có trái cây, phần lớn là táo và lê, nhiều phòng còn có chuối, những quả chuối tiêu chín tới vỏ vàng tươi hoặc bắt đầu lốm đốm trứng cuốc. Ở tỉnh Liêu Ninh, nơi sản xuất tám mươi phần trăm táo của toàn Trung Quốc này, việc nhân dân lao động ăn lê ăn táo hoàn toàn không có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng những quả chuối kia, tôi biết, nếu không phải từ Việt Nam đưa đến thì cũng là từ đảo Hải Nam hay Quảng Đông, Quảng Tây gì đó, ở tận miền Nam Trung Quốc, cách đây hằng năm, sáu nghìn kilômét! Tôi được biết nhiều người trong số các cụ ở đây suốt phần lớn đời mình dưới chế độ cũ, chưa bao giờ được biết hình dáng quả chuối như thế nào, nói gì đến hương vị của nó! Bây giờ lương hưu của các cụ rất khá, mà hằng tháng các cụ chỉ phải đóng suất tiền cơm, còn mọi thứ khác đều do quỹ phúc lợi đài thọ, làm gì các cụ chẳng thích dùng trái ngon vật lạ trên đời!

    Mặc dù thời giờ ít ỏi, tôi không thể không đến thăm người cao tuổi nhất viện, cụ Quan Phượng Tường, tại phòng riêng của cụ. Cụ Quan năm nay chín mươi hai tuổi, người còn khỏe, răng cửa còn nguyên vẹn, song tai đã hơi nghễnh ngãng. Cụ nắm tay tôi, mời tôi ngồi xuống giường của cụ, chiếc giường nệm rất êm và phủ khăn rất sạch, đến nỗi tôi do dự không dám ngồi, e bộ áo quần lấm bụi đường trường của mình làm bẩn mất tấm khăn trải giường của cụ. Cụ nói:

    - Đời thợ mỏ xưa kia không bằng con chó. Lão mấy chục năm làm thợ, muốn ăn không có ăn, muốn mặc không có mặc, muốn có con không lấy vợ được... Nhờ Đảng Cộng sản, nhờ Mao Chủ tịch, lão không có con cháu mà bây giờ vẫn có gia đình đầm ấm - gia đình lão là viện đây. Bây giờ được ăn cơm ngon, được mặc áo tốt, được ngủ giường êm, lại có người chăm nom, săn sóc... Bao giờ anh về Việt Nam xin cho lão gửi lời cảm tạ Hồ Chủ tịch. Không có Hồ Chủ tịch, Mao Chủ tịch, không có cách mạng, có bao giờ anh từ Việt Nam đến đây thăm lão!

    Tôi nhìn lên chiếc huy hiệu trên ngực cụ: huy hiệu Bác Hồ. Lòng cảm động bồi hồi, tôi nắm tay cụ chúc cụ mạnh khỏe, sông trên trăm tuổi. Cụ không cười mà nói rất nghiêm trang:

    - Sồng trên trăm tuổi chứ! Xưa kia khổ thế còn sống được, huống là bây giờ. Phải sống trên trăm tuổi chứ!

    *

    *   *

    Cuộc đi thăm viện dưỡng lão và nhất là mấy phút trò chuyện ngắn ngủi với cụ Quan Phượng Tường làm nảy lên trong tôi ý muốn mãnh liệt đi sâu hơn vào đời người thợ mỏ đã trải qua ba chế độ: chế độ quốc dân đảng, chế độ thuộc địa của Nhật và chế độ xã hội chủ nghĩa ngày nay. Cuộc đời của mỗi người thợ mỏ lão thành ấy là một cuốn sách sống phản ánh những sự kiện long trời lở đất xảy ra trên một phần quả đất mấy chục năm gần đây, trong đó đói rách nhường chỗ cho ấm no, nô lệ cho tự do, đen tối cho tươi sáng, đau khổ cho sung sướng...

    Trong buổi tọa đàm với các công nhân tiên tiến tối hôm ấy, tôi gặp lại một người quen, cụ Lý Quế Phương mà ban sáng tôi đã có dịp chào ở Viện dưỡng lão. Cụ Lý trẻ hơn cụ Quan đến gần ba mươi tuổi nhưng cũng đã từng bốn mươi lăm năm làm nghề thợ mỏ. Khi cụ rời bỏ làng quê ở tỉnh Sơn Đông vượt qua Sơn Hải Quan(*) lên miền Đông Bắc giàu có làm nghề khai mỏ, lúc đó cả khu mỏ Phú Thuận này nằm trong tay tập đoàn quân phiệt Trương Tác Lâm, và mỏ Long Phượng còn khai thác chủ yếu bằng thủ công, thợ mỏ xuống hầm lò phải tụt từng bậc thang một. Nhà báo Trung Quốc giới thiệu với tôi:

    - Cụ Lý đây là một Sơn Đông hảo hán.

    Và qua cuộc nói chuyện với những người thợ mỏ, tôi mới hiểu thế nào là người hảo hán Sơn Đông thật ở trên đời, người hảo hán Sơn Đông võ nghệ cao cường, lang thang suốt đời đây đó và hễ “giữa đường gặp chuyện bất bình” thì nhất quyết “chẳng tha”, người hảo hán mà hình ảnh qua các sách truyện, xiết bao hấp dẫn thời thơ ấu của chúng tôi.

    Người đồng nghiệp Trung Quốc của tôi không đùa. Anh nói đúng. Cụ Lý Quế Phương vốn là một nông dân quê ở Sơn Đông. Tỉnh Sơn Đông dân đông, ruộng đất ít và xấu. Người Sơn Đông thường phiêu bạt đi làm ăn khắp nơi. Ngay những người nông dân cày cấy xong cũng đi nơi khác kiếm ăn, ngày mùa mới trở về thu hoạch. Dưới chế độ phong kiến, người đi xa không biết dăm ba món võ nghệ phòng thân thì dễ bị bắt nạt, cho nên người Sơn Đông giỏi võ, họ không chịu để cho ai bắt nạt, và những con người như thế thì hay căm ghét những chuyện bất bình. Hảo hán Sơn Đông không phải là những trang hiệp sĩ lưng gió túi trăng, thanh gươm yên ngựa, thực chất họ là những người dân lao động có tinh thần tự cường và đậm đà tình giai cấp, hay quý mến, bênh vực những bạn cùng cảnh ngộ.

    Cụ Lý nói:

    - Tôi vốn là người quan nội (bên trong ải). Năm mười lăm tuổi đi ở cho chủ khổ quá, nghe bọn mộ phu nói làm ở mỏ sướng lắm, rằng đất của mỏ là trại ngàn vàng (thiên kim trại), đến đấy làm ăn có thể hốt được vàng. Thế là tôi đi mỏ. Tôi có biết đâu cái cảnh mà bao anh em trước tôi đã trải qua, và sau tôi nhiều người cũng không tránh khỏi:

    Bước đến thiên kim trại

    Lập tức bán chăn gối.

    Áo mới đổi lấy áo cũ

    Áo cũ đổi lấy bao tải.

    Là người bên trong ải, tôi ra ngoài ải làm ăn. Có thế thôi. Tôi cũng muốn trở về quê cũ - thời gian đầu cũng nhớ quê da diết lắm - nhưng không có tiền về. Và sau này, khi phát xít Nhật Bản chia cắt Trung Quốc, lập nên nước ngụy Mãn Châu, tôi không được phép trở về quê, không được phép nhận mình là người Trung Quốc. Thế là không những tôi phải chịu cảnh đói rét, cực khổ, làm việc như ngựa trâu mà còn phải chịu cái nhục mất nước. Mỗi buổi điểm danh đi làm, đi ngang qua một tên cai Nhật Bản, nói hỏi “Mày là người nước nào?”, nếu trả lời: “Người Trung Quốc” sẽ bị nó tống cho một quả đấm ngay vào mặt. Nó bắt chúng tôi phải nhận là người Mãn Châu quốc. Lò sập, anh em chúng tôi chết rất nhiều. Chúng tôi đi cứu. Bọn Nhật không cho. Chúng nó nói: Người Trung Quốc chúng mày chết nhiều nữa cũng chẳng sao.

    Nhưng chúng tôi không chịu để chúng nó làm nhục mãi. Chúng tôi đấu tranh, có lần giết một tên Nhật hung ác. Chúng nó cũng phải gờm. Chúng tôi lãn công, phá hoại máy móc, thiết bị. Chúng tôi tìm ra trăm phương nghìn kế gây thiệt hại cho chúng.

    Cụ Lý kể những ngày gian khổ, những chuyện đấu tranh. Chúng tôi lặng yên nghe. Cũng như nhiều công nhân ở ta, thế hệ cụ Lý là thế hệ công nhân mà gốc rễ còn là nông dân. Họ được cuộc sống ở hầm mỏ hun đúc tinh thần cách mạng triệt để, ý thức tổ chức và tinh thần tập thể cao, đồng thời họ giữ mối quan hệ mật thiết với nông dân. Khối liên minh giữa họ với nông dân không chỉ là khối liên minh về chính trị mà còn là liên minh bằng tình cảm, bằng huyết thống...

    Cụ Lý kết thúc câu chuyện về quãng đời cũ của cụ:

    - Mấy chục năm làm thợ mỏ dưới chế độ cũ, tôi không có gì cả, đến cả muốn lập gia đình cũng không lập được. Nhưng bây giờ những người tứ cố vô thân chúng tôi đều đã có gia đình...

    Câu này sáng nay tôi đã nghe cụ Quan Phượng Tường nói. Bây giờ lại nghe từ miệng cụ Lý Quế Phương. Các cụ muốn nói đến viện dưỡng lão. Nhưng tôi nghĩ câu nói các cụ hẳn còn bao hàm ý nghĩa sâu xa hơn: những người thợ mỏ sống không nhà ở, chết không đất chôn, không bà con thân thích ấy, nay đã có một gia đình đầm ấm vĩ đại: Nước Trung Hoa xã hội chủ nghĩa.

    1965

    ĐẤT CẰN

    Chu Khẩu Điếm ở ngoại thành Bắc Kinh là một địa điểm nổi tiếng trên thế giới. Nơi đây, mấy chục năm về trước người ta đã tìm thấy di tích của một trong những loài người vượn cổ nhất, tổ tiên của loài người. Mấy năm gần đây, tên Chu Khẩu Điếm lại được báo chí Bắc Kinh nhiều lần nhắc đến vì trong công xã nhân dân mang tên lịch sử ấy có một đại đội, đại đội Nam Hàn Kế đã nêu cao gương tự lực cánh sinh, cải tạo thiên nhiên, sáng tạo nên bộ mặt sản xuất mới.

    Vừa qua, tôi có đến thăm thôn Nam Hàn Kế. Năm chục vạn năm về trước, những con người đầu tiên có thể đã từng sinh sống trên mảnh đất này, trước hết bằng trái cây và thú rừng, sau đó rất lâu mới biết chăn nuôi và trồng trọt. Đương nhiên không hẳn do loài người sinh sống lâu đời mà khai thác hết màu mỡ của đất, song rõ ràng chế độ canh tác không hợp lý mấy nghìn năm dưới chế độ phong kiến là một nguyên nhân quan trọng làm cho đất trở nên cằn cỗi. Ngày nay, với quan hệ sản xuất mới, khách đi trên đường trông xuống cánh đồng thấy xanh mướt ngô và cao lương, nhìn kỹ bên dưới mới thấy chất đất khô xác trắng xóa; thỉnh thoảng mặt đất nứt ra tạo thành những rãnh sâu ba, bốn mét và rộng chừng năm, sáu mét; núi thì trọc lóc, sông chỉ là một dải đất trũng ngoằn ngoèo với cát sỏi và đá cuội cuốn trong lòng khô cạn và nông choèn. Hầu như quanh năm sông không có nước, chỉ đến mùa mưa, nước từ trên các núi trọc kia ào xuống đổ vào, lúc đó con sông cạn mới trở thành thác nước chảy xiết gây úng để rồi lại khô cạn rất nhanh. Nhân dân ở đây có câu nói: “Mệt chết Hải Long Vương cũng không làm lụt được đất này”.

    Trên mảnh đất mà Hải Long Vương mệt chết vẫn không đủ nước tưới ấy, đại đội Nam Hàn Kế đã trồng lúa mì đạt năng suất bình quân trên ba mươi sáu tạ một hécta, ngô gần bốn chín tạ và khoai lang ba mươi tấn! Dĩ nhiên đấy chưa phải là năng suất cao nhất ngoại thành Bắc Kinh, càng chưa phải là năng suất cao nhất toàn Trung Quốc, nhưng nếu chúng ta biết rằng trước ngày giải phóng, năng suất lúa mì ở Nam Hàn Kế năm thời tiết thuận lợi nhất cũng không vượt quá một trăm cân một mẫu Trung Quốc (tức bảy tạ rưỡi một hécta) thì mới thấy hết bước tiến của đại đội lớn đến chừng nào. Bảy năm qua, từ năm 1958 đến 1964, trung bình hàng năm sản lượng nông nghiệp của đại đội tăng mười sáu phần trăm. Năm 1956, Nhà nước còn phải cung cấp cho Nam Hàn Kế hơn mười tấn lương thực; năm 1963 đại đội (gồm một trăm bốn mươi hộ) đã bán cho Nhà nước hai mươi tấn lương thực và một trăm bảy mươi con lợn. Đi đôi với tăng năng suất, đại đội Nam Hàn Kế chú trọng tăng vụ, trồng xen; năm nay đã tăng thêm một vụ gieo trồng trên hầu hết diện tích. Với điều kiện thời tiết và khí hậu của xứ rét, đạt được kết quả thâm canh và tăng vụ như vậy quả là một thành tích lớn lao.

    Con đường tăng năng suất, tăng vụ của đại đội Nam Hàn Kế không có gì cao siêu, xa lạ. Ngoài việc cày bừa và bơm nước mới được cơ giới hóa mấy năm gần đây, các khâu canh tác khác còn làm bằng thủ công. Đại đội đã nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, phát động quần chúng bỏ công bỏ của, tiêu ít tiền mà được nhiều việc, không ỷ lại sự giúp đỡ của Nhà nước, quyết tâm phát triển nông nghiệp. Trong sản xuất, thực hiện tốt hệ thống biện pháp kỹ thuật liên hoàn, chủ yếu là các khâu thủy lợi, phân bón, cày bừa kỹ nhằm cải tạo và bồi dưỡng đất, đi đôi với việc chọn lọc giống và cải tiến các cách gieo trồng.

    Hai đại đội trưởng Cát Vạn Thành và Vương Văn Trung - một người phụ trách trồng trọt, một người phụ trách chăn nuôi - đưa tôi đi thăm cánh đồng và nhiều nơi trong thôn Nam Hàn Kế. Vừa đi, các đồng chí vừa kể cho nghe quá trình phấn đấu của đại đội.

    Quá trình bắt đầu bằng một cuộc điều tra nghiên cứu: phải làm gì đây để thay đổi bộ mặt sản xuất, cải thiện đời sống xã viên, có cống hiến cho Nhà nước? Sau khi xác định được phương hướng phấn đấu và các biện pháp chủ yếu rồi, chi bộ động viên toàn thể xã viên trong đại đội bắt tay làm thủy lợi, trong mấy năm đắp xong mười bờ đập lớn ngăn không để cho nước, đất và phân trôi đi nơi khác. Sông ngòi khô cạn, làm thế nào có đủ nước tưới? Chỉ một con đường là đào giếng. Giếng ở đây phải đào sâu đến hai chục mét, và không phải đào ở đâu cũng có được, có giếng chỉ dùng được một vài năm là cạn. Đại đội trong mấy năm đã đào tới hơn sáu mươi giếng nhưng hiện nay chỉ còn bốn giếng là có nguồn nước dồi dào.

    Giếng sâu thăm thẳm. Lòng giếng nhìn hẹp nhưng thật ra khi đào đã phải mở rộng rồi sau đó xếp đá tảng giữ cho thành giếng khỏi sụt và lọc mạch nước ngầm để đặt máy bơm. Cát Vạn Thành nói: “Đào một cái giếng đặt máy bơm tốn hơn ba vạn đồng và phải mướn người mang máy về đào. Chúng tôi không làm như vậy. Chúng tôi tự đào lấy, bằng sức lao động của mình. Mỗi giếng hết bốn trăm công. Chỉ phải bỏ ra một nghìn đồng mua máy bơm”.

    Mùa hè năm nay, công xã bị hạn kéo dài. Cánh đồng của đại đội Nam Hàn Kế chênh từ Đông sang Tây. Từ trước tới nay, các giếng vẫn đào ở mạn Đông rồi dẫn nước xuôi mạn Tây. Nhưng xã viên nhận ra giếng đào ở mạn Đông thường ít nước. Phải đào giếng ở mạn Tây và bắt nước chảy ngược lên Đông. Quyết định là làm. Đại đội bắt tay đào thêm mấy cái giếng, đắp hệ thống máng nổi, và khi đến thăm công xã Chu Khẩu Điếm, tôi được nhìn tận mắt dòng nước leo ngược lên cánh đồng cao, tưới cho lúa tiểu mạch mới gieo, đang bắt đầu nảy mầm.

    Sau nước là phân bón. Không trông chờ phân hóa học, đại đội vận động xã viên nuôi nhiều lợn (hiện nay bình quân hai người có một con lợn, không kể đàn lợn tập thể hai trăm con), và tích cực thu nhặt, chế biến, khai thác nhiều nguồn phân. Việc trữ phân bón được tổ chức chu đáo: trữ phân hằng năm và trữ phân từng vụ; tập thể trữ phân bón và gia đình trữ phân bón, trữ ngay trong làng và trữ ở ngoài đồng. Đại đội cử ba bốn chục người chuyên sản xuất phân bón; những lúc thời vụ tương đối rỗi như đầu xuân, giữa hè và sau mùa thu, tập trung trên một nửa số lao động của đại đội làm phân bón. Giá mua phân bón của xã viên được quy định hợp lý. Nhờ vậy, trước đây mỗi mẫu (Trung Quốc) bón hai xe phân, nay đã được bón bảy xe rưỡi.

    Đại đội Nam Hàn Kế nêu một gương sáng. Từ năm 1962, thành phố Bắc Kinh đã kêu gọi các công xã nhân dân ở ngoại thành đi theo con đường của Nam Hàn Kế. Đầu năm 1964, thành ủy lại nêu lên vấn đề học tập Nam Hàn Kế. Phong trào thi đua với Nam Hàn Kế được nhiều đại đội hưởng ứng và đang được đẩy mạnh với nhiều hình thức phong phú.

    Nam Hàn Kế xưa kia vốn là một thôn nghèo xơ xác. Thôn xóm nay đã được sửa sang và xây dựng thêm nhiều. Đường sá sạch sẽ, nhà cửa gọn gàng. Vẻ vui tươi phấn chấn lộ rõ trên nét mặt mọi xã viên tôi được gặp. Các đồng chí ở địa phương đưa tôi vào thăm nhà bà cụ Lý, một trong những xã viên cao tuổi nhất đại đội, lúc trời đã xế chiều. Với tất cả sự niềm nở chất phác của các bà mẹ nông dân, khi biết khách từ Việt Nam đến, bà cụ nhất định giữ lại không cho về: “Anh ở lại đây với già một tối. Muốn ăn mì có mì, muốn ăn cơm có cơm, ngủ có chăn bông nệm bông không phải rét, thích nghe tin đã có máy thu thanh... Xưa kia thì chẳng dám giữ anh lai vì nhà chẳng có gì, nhưng ngày nay ơn Đảng, ơn Mao Chủ tịch, nhà đã sắm được nhiều thứ. Đồng chí Việt Nam ở lại chơi với già...”.

    Rời Nam Hàn Kế, tôi nhớ mãi nét mặt tươi cười hớn hở của bà cụ xã viên bảy mươi lăm tuổi mà cuộc sống mới đã làm trẻ lại rất nhiều, cũng như cánh đồng khô cằn mà sức lao động tập thể đã làm cho trở lại xanh tươi.

    1965

    HÀNH HƯƠNG

    Sắp đến kỷ niệm bảy mươi lăm năm ngày ra đời báo chí cách mạng Việt Nam, chúng tôi làm một cuộc hành hương về nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh làm báo Thanh Niên. Nơi đây đồng thời cũng là trụ sở của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên những năm 1925-1927.

    Báo Thanh Niên, ra số đầu ngày 21 tháng 6 năm 1925. Đúng sáu mươi năm sau, ngày 21 tháng 6, được chính thức quyết định lấy làm Ngày báo chí Việt Nam. Từ bấy đến nay, qua mười lăm năm, ngày 21 tháng 6 hàng năm thật sự đã trở thành một ngày hội của không riêng báo giới từ Bắc đến Nam.

    Căn gác hẹp trên đường phố nhỏ tấp nập người, xe qua lại ở trung tâm thành phố Quảng Châu (Trung Quốc) trước đây thuộc ngôi nhà mang số 11-13, nay được đánh số 248-250. Mấy chục năm qua hai số nhà ấy đã trở thành một địa chỉ thiêng liêng trong lòng mọi người dân Việt Nam yêu nước. Nhiều đoàn đại biểu chính thức của Đảng, Nhà nước, Quân đội ta do các đồng chí Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Đoàn Khuê... cũng như nhiều khách du lịch Việt Nam đã viếng thăm, làm cho căn gác nhỏ càng tăng thềm chiều dày truyền thống.

    Tỉnh Quảng Đông được coi là nơi đi đầu trong công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc. Trong hơn hai thập kỷ qua, bộ mặt thành phố Quảng Châu thay đổi từng ngày. Biết bao ngôi nhà hai ba mươi tầng cho đến năm sáu mươi tầng đã và đang tới tấp mọc lên, thu hẹp dần các khu phố cũ. Theo quy hoạch tổng thể của thành phố, căn gác số 248-250 cũng như các ngôi nhà kề bên sẽ bị san ủi để xây dựng một trung tâm thương mại lớn. Để tỏ lòng trân trọng đối với Cách mạng Việt Nam và với nhân dân ta, Đảng và Nhà nước Trung Quốc đã quyết định bảo tồn không chỉ ngôi nhà mà cả một khu nhỏ đằng sau, nhằm giữ cho toàn bộ di tích lịch sử này khung cảnh hài hòa.

    Căn phố này từ đầu thế kỷ vốn là một nơi xây cất để cho thuê làm hiệu buôn. Người chủ, sau Cách mạng Trung Hoa thành công, vẫn còn sống. Được biết Chủ tịch Hồ Chí Minh từng là một khách thuê nhà, ông vui lòng hiến cho Chính phủ Trung Quốc dùng làm nhà lưu niệm nhà ái quốc lớn.

    Các bạn Trung Quốc đã cố giữ gìn ngôi nhà gần y như bảy mươi lăm năm về trước, đương nhiên sạch sẽ, đẹp đẽ, khang trang hơn nhiều. Người ta đã sưu tầm hiện vật và bày biện lại như thời ông Lý Thụy đến thuê nhà và mở lớp giảng dạy cho số thanh niên ưu tú từ trong nước ra, trước sau bảy mươi hai người tất cả. (Người Trung Quốc vốn coi bảy mươi hai là một con số đẹp, giống như “thất thập nhị hiền”). Tên tuổi nhiều người trong số cốt cán đầu tiên của cách mạng ấy đã đi vào lịch sử chói lọi chữ vàng: Trần Phú, Phùng Chí Kiên, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Hồng Thủy (tức tướng Nguyễn Sơn)... Người hướng dẫn cho biết, khi trở lại thăm nơi này mấy chục năm sau, một học viên cũ nay trở thành Thủ tướng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phạm Văn Đồng đã nhận ra ngay những vật dùng ngày trước.

    Vẫn cầu thang gỗ. Vẫn lớp học với mấy dãy bàn mộc sơ sài. Vẫn phòng “nội trú” với những chiếc giường hai tầng và những mảnh chăn chiên mỏng. Phía sau nhà, lộ thiên, vẫn đặt mấy chiếc chậu đồng méo mó dùng để rửa mặt. Đây là nơi đun nấu, mỗi khi gặp mưa phải có người giương ô che cho bếp khỏi tắt. Và ở một góc phòng kia, cạnh cửa sổ, là một cái bàn in, loại công cụ thô sơ với chiếc trục lăn cầm tay dùng để in rời từng tờ giấy khổ nhỏ theo lối thủ công.

    Tôi không dám chắc đấy có phải là dụng cụ đã cho ra đời những số báo Thanh Niên nổi tiếng hay không. Cũng không có ai trả lời cho chúng tôi câu hỏi ấy. Chị phụ trách nhà lưu niệm hết sức nhiệt tình, kiến thức rộng, thông thạo đến từng chi tiết, song không hiểu sao về chuyện này dường như không nắm chắc lắm.

    Điều chắc chắn là Bác Hồ, dưới cái tên Lý Thụy, những năm hai mươi đã từng đến đây với danh nghĩa chính thức là phiên dịch cho Bôrôđin, cố vấn người Nga bên cạnh nhà cách mạng Tôn Dật Tiên, người sáng lập Trung Hoa dân quốc. Bác đã tổ chức nên Đồng chí Hội, và thường xuyên đến đây lên lớp cho những hạt giống đầu tiên của Cách mạng Việt Nam. Theo một số nhà nghiên cứu, báo Thanh Niên xuất bản được đến hai trăm lẻ tám số. Có thể là một điểm tồn nghi. Điều khẳng định là tám mươi tám số đầu ra gần như đều đặn hằng tuần, trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 1925 đến tháng 4 năm 1927, báo Thanh Niên được thực hiện dưới sự chỉ đạo và biên tập trực tiếp của Bác Hồ.

    Tuy khuôn khổ nhỏ, xuất bản và phát hành về nước trong những điều kiện cực kỳ khó khăn, báo Thanh Niên đã có tác động rất to lớn đối với tiến trình vận động cách mạng nước ta hồi bấy giờ. Thực dân Pháp thấy rõ điều đó. Chúng đã theo dõi sát từng tờ báo, và cứ số nào rơi vào tay mật thám thì được dịch toàn văn ra tiếng Pháp để báo cáo với cấp trên và gửi về lưu trữ bên chính quốc. Louis Marty, tên trùm mật thám khét tiếng Đông Dương đã sớm quả quyết: Chính Nguyễn Ái Quốc chứ không phải ai khác là người chủ trương và biên tập báo Thanh Niên.

    Báo Thanh Niên, như tư liệu về lịch sử Đảng ta xác nhận, đã có công lao chuẩn bị về lý luận, chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, tạo nên bước ngoặt quyết định trong lịch sử Việt Nam hiện đại.

    Huyền thoại bắt đầu từ căn gác này.

    ... Chúng tôi thành kính ngắm bức ảnh lớn chụp Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bộ quần áo dạ đen kín cổ, đang tươi cười trò chuyện với Chủ tịch Mao Trạch Đông. Người Bác Hồ hơi ngả về đằng sau lúc cười, vẻ mặt sảng khoái hồn nhiên như thoát tục. Tôi có cảm giác chòm râu bạc của Bác dường như cũng đang rung rung trong tiếng cười. Ở mặt tường đối diện là bản sao chụp lớn bằng cả tấm hoành phi tám chữ đại tự rất đẹp, bút tích của Bác Hồ: Việt Trung hữu nghị vạn cổ trường thanh.

    2000

    (còn tiếp)

    Nguồn: Du ký. Tác giả: Phan Quang. Nhà văn Triệu Xuân biên tập. NXB Văn học, 2005.

    www.trieuxuan.info

    ___

    (*) Bn dch ca Ngô Tt T.

    (*) Hp tác gia Quc dân đảng và Đảng Cng sn Trung Quc.

    (*) Sơn Hi Quan:đim cui cùng, v phía Đông ca Vn Lý Trường Thành. Trước đây, phát xít Nht ly ca quan này làm ranh gii gi to gia hai min Trung Quc và Mãn Châu quc.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,818,676

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/