Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập35,895,095

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tư liệu sáng tác

Qua sử chí Trung Quốc, tìm hiểu về chủ quyền nước này tại Biển Đông

Hồ Bạch Thảo

  • Chủ nhật, 10:11 Ngày 17/01/2021
  • 2. Phần Địa lý chí tại Minh Sử nêu trên, chỉ ghi Độc Châu Sơn và đảo Song Nữ nằm trong lãnh thổ châu Vạn;  nhưng Hàn Chấn Hoa trong NQCĐSLHB trích dẫn một câu trong QuỳnhÐài Ngoại Kỷ [瓊台外紀]của Vương Tá đời Minh, để gán cho Trường Sa Thạch Đường nằm trong châu Vạn. Câu trích dẫn nguyên văn như sau(1):

    洲東長沙石塘環海之地每遇鐵颶挾潮漫屋洽田則利害中宇民矣

    Chữ Hán vốn không có dấu chấm câu, theo văn lý chúng tôi phiên âm, chấm câu và dịch như sau:

    [Châu đông Trường Sa Thạch Đường. Hoàn hải chi địa, mỗi ngộ thiết cụ (2) hiệp triều, mạn ốc hợp điền, tắc lợi hại trung vu dân hĩ.]

    Phía đông châu là Trường Sa Thạch Ðường. Đất xung quanh [châu] là biển; mỗi khi gặp phong ba thủy triều,nước ngập cả nhà ruộng, sự lợi hại người dân gánh chịu.”

    Hàn Chấn Hoa cố tình hiểu sai, rồi lớn tiếng lập luận rằng “Trường Sa, Thạch Đường chỉ quần đảo Nam Sa [Spratly], Tây Sa [Paracel] thuộc Nam Hải, chúng là những đảo xung quanh biển tại châu Vạn; có thể thấy rằng tại thế kỷ thứ 15, các đảo Nam Hải đã lả bộ phận của châu Vạn, Hải Nam”

    Xét nguyên văn câu trích dẫn của Vương Tá nêu trên, nội dung không có chỗ nào chỉ ra rằng các đảo Trường Sa Thạch Đường là bộ phận của châu Vạn. Huống hồ đứng vào mặt văn bản,Quỳnh Ðài Ngoại Kỷ [瓊台外紀] nay đã thất truyền, dẫn lại từ Vạn Châu Chí[萬州志]của Hồ Đoan Thư; độ tin cậy không thể so sánh với bộ sử triều đình Minh Sử [明史,History of Ming]đã đề cập ở phần trên.

    Nguyên Giới, một vị quan từng trấn nhậm tại phủ Quỳnh Châu dưới thời Minh, soạn sách Hải Tra Dư Lục [海槎餘錄] nghiên cứu về địa lý phong tục vùng này. Trong sách, ông xác nhận Thiên Lý Thạch Đường ngoài biển châu Nhai 700 lý, là nơi đầy nguy hiểm, chỉ có thuyền dân Phiên tức dân phía nam Trung Quốc từng quen tại đó mới biết cách tránh:

    Thiên Lý Thạch Ðường tại ngoài biển Nhai Châu 700 lý. Truyền rằng đá tại biển này dưới mức nước biển 8, 9 thước [1thước=1/3 mét]; thuyền đi qua tránh xa mà đi, một lần đâm vào thì không thể ra được. Vạn Lý Trường Ðê ở phía nam,sóng nước chảy gấp,  thuyền vào trong đó không thể thoát được. Thuyền dân Phiên đã quen nơi này, biết cách tránh, tuy gặp gió bão cũng không lo.

      [千里石塘在崖州海面之七百里外,相传此石比海水特下八九尺,海舶必远避而行,一堕既不能出矣。万里长堤出其南,波流甚急,舟入回溜中,未有能脱者。番舶久惯,自能避,虽风汛亦无虞] 

    Sử liệu vừa trình bày xác nhận vị trí Thiên Lý Thạch Đường xa cách châu Nhai, đó là nơi nguy hiểm, dân đi thuyền lo tránh xa; và Vạn Lý Thạch Đường là vùng đảo quen thuộc của dân Phiên Di, nhưng xa lạ với người Trung Quốc.

    Phí Tín, tác giả Tinh Tra Thắng Lãm [星槎勝覽] (3), đảm nhiệm chức Thông sự [Phiên dịch], theo phái đoàn Trịnh Hoà 4 lần xuống Tây Dương. Từng đi qua các quốc gia tại Đông Nam Á và Ấn Độ Dương ; trong đó có 5 vùng thuộc lãnh thổ Việt Nam hiện nay, như: Chiêm Thành, Linh Sơn [Phú Yên], Tân Đồng Long [Phan Rang, Bình Thuận], Thuỷ Chân Lạp [Nam Phần], và Côn Lôn Sơn tức Côn Đảo. Ông mô tả Côn Lôn Sơn như sau:

    Núi này đứng giữa biển rộng, làm tiêu chuẩn cho Chiêm Thành, Đông Tây Trúc [Pulau Aur] cùng nhìn vào, núi cao mà vuông, gốc rễmạch núi rộng và xa, biển này gọi là biển Côn Lôn. Phàm thuyền bè [từ Trung Quốc] đến Tây Dương phải chờ lúc thuận gió, đi 7 ngày đêm có thể đến nơi này. Tục ngữ rằng “Phía trên thì sợ Thất Châu, phía dưới thì sợ Côn Lôn, cầm lái sai hướng, người và thuyền không còn.” Núi này không có vật lạ, không có nhà ở ; nhưng có thể dùng cá, tôm, trái cây để ăn, sống trên cây hoặc trong hang.”

     [崑崙山. 其山節然瀛海之中,與占城及東、西竺鼎峙相望。山高而方,根盤曠遠,海之名曰崑崙洋。凡往西洋商販,必待順風,七晝夜可過。俗云:「上怕七洲,下怕崑崙,針迷舵夫,人船莫存。」此山產無異物,人無居室,而食山果魚蝦,穴居樹巢矣。]

    Riêng Minh Sử [明史, History of Ming] quyển 324, phần Liệt Truyện quyển 212, xếp Côn Lôn Sơn vào nước Tân Đồng Long, lãnh thổ nay thuộc miền nam Trung Phần, Việt Nam. Như vậy Minh Sử công nhận Côn Lôn Sơn thuộc chủ quyền Việt Nam từ xưa rồi.

    Vị trí Côn Lôn hay Côn Đảo cả thế giới đều biết, nhưng những cây bút Trung Quốc, như nhóm biên soạn Ngã Quốc Nam Hải Chư đảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙] đã không ngượng bút, dám chú thích rằng:

    Núi Côn Lôn, biển Côn Lôn ; chỉ Nam Sa quần đảo cùng khu vực hàng hải nguy hiểm xung quanh.”(4)

    Vì các đoàn đi sứ và các thương thuyền thời xưa chỉ đi qua Côn Lôn mà thôi, chứ chưa từng đến cái gọi là Nam Sa [Spratly Islands] ; nên một số nhà nghiên cứu Trung Quốc cố tình gán cho Côn Lôn là Nam Sa, để chứng tỏ các phái đoàn như Trịnh Hoà đã từng qua đó. Nhưng qua thực tại Spratly là chỗ nước cạn, nhiều đá ngầm, tàu thuyền thời xưa phải tránh và những điều mô tả trong Tinh Tra Thắng Lãm nêu trên, đã chứng minh ngược lại .

    Sau đây là sử liệu liệu về việc Ngô Huệ đi sứ Chiêm Thành vào đời Minh Anh Tông năm Chính Thống thứ 6 [1441]; ghi trong Thù Vức Chu Tư Lục [殊域周咨綠] của Nghiêm Tòng Giản:

    Vào năm Chính Thống thứ 6 [1441] Quốc vương Chiêm Thành mất, người con nối dõi là Ma Ha Quí Do xin phong tước và ban chiếu sắc. Bèn sai Cấp sự trung họ Dư (khuyết tên) làm Chánh sứ, cùng Hành nhân Ngô Huệ đi sứ. Ngày 23 tháng 12 năm đó khởi hành từ huyện Ðông Hoàn [Quảng Ðông], ngày hôm sau đến biển Ô Trư [cửa sông Châu Giang gần Quảng Châu], lại ngày hôm sau đến Thất Châu Dương [phía đông huyện Văn Xương 100 lý], xa thấy núi Ðồng Cổ [thuộc huyện Văn Xương Hải Nam], ngày hôm sau đến núi Ðộc Trư[ thuộc châu Vạn, Hải Nam] nhìn thấy núi Ðại Châu, ngày hôm sau đến địa giới Giao Chỉ, có một bãi lớn chắn ngang biển, đá nhọn, nếu thuyền va vào đó có thể bị phá nát. Người trong thuyền rất sợ, trong phút chốc gió mạnh vượt qua được, ngày hôm sau đến biển Ngoại La thuộc Chiêm Thành.(5)

     [统六年,国王卒,嗣子摩诃贵由请袭爵。上赐敕诏,遣给事中舒某(失其名)为正使,及副使行人吴惠往封之。是冬十二月廿三日,发东管。次日过乌猪洋,又次日过七州洋,见铜鼓山。次日至独猪山,见大周山。次日至交界,有巨州横绝海中,怪石廉利,风横,舟触之即靡碎,舟人甚恐。须臾风急过之。次日至占城外罗洋。]

    Qua sử liệu này, Hàn Chấn Hoa xác nhận Thất Châu Dương chỉ các đảo Thất Châu tại phía đông huyện Văn Xương (6). Như vậy trước mắt họ Hàn có 2 Thất Châu Dương; một Thất Châu Dương khác, tại mục số 4 đời Tống đã nêu ở trên, thì họ Hàn cho là Tây Sa [Hoàng sa]. Lối lập luận “nói lấy được”, khiến người đọc phải đánh giá đức tính cẩn trọng nghiêm túc của nhà biên khảo này. Còn chỗ được gọi là bãi lớn (cự châu) thì họ Hàn cũng cho là Tây Sa ( Paracel) mà không nêu bằng chứng, như vậy chẳng lẽ Tây Sa sát với vùng duyên hải Giao Chỉ sao?

    5.Thật ra tuyến hàng hải dưới thời nhà Minh, từ Trung Quốc đến các nước Ðông Nam Á được các thư tịch mô tả khá rõ ràng và chính xác, đó là nhờ sự cải tiến của kim chỉ nam. Tuy rằng kim chỉ nam [chỉ nam châm 指南針] được sáng chế trước thời nhà Tần, nhưng mãi cho đến đời Tống dụng cụ này còn khá đơn giản, chỉ có hai hướng nam bắc mà thôi. Bắt đầu từ đời Nguyên, kim chỉ nam được phân định 48 hướng; nhờ vậy sử dụng vào việc hàng hải đáng tin cậy hơn. Kim chỉ nam  thời nay dùng 360 độ, trước kia có 48 hướng, như vậy vào thời ấy khoảng cách giữa 2 hướng kế tiếp là 7.5 độ [360:48=7.5]

    Vào gần cuối triều Minh, một bộ sách nỗi tiếng về hàng hải ra đời vào năm Vạn Lịch thứ 45 [1617], được đưa vào TỨ KHỐ TOÀN THƯ. Sách mang tên Ðông Tây Dương Khảo [東西洋考], tác gỉả là Trương Tiếp. Ông người đất Long Khê, đậu Cử Nhân năm Vạn Lịch thứ 23 [1595]. Ðể hoàn thành tác phẩm, tác giả đã tham khảo hàng trăm bộ sách nỗi tiếng, cùng nhiều loại  Hải Ðạo Châm Kinh [海道針經]tức tài liệu dẫn đạo hàng hải; bao quát chi tiết về chỉ nam châm, thiên văn, và thủy văn các chuyến hải trình. Phần lớn tư liệu trong bộ sách này thiên về thực dụng, trong quyển 9, mục Châu Sư Khảo [舟師考] cung cấp các tài liệu hàng hành cho các thuyền Trung Quốc dưới thời nhà Minh hàng hải đến các nước vùng Đông Nam Á. Trương Tiếp cho biết trên mỗi thuyền phải có một châu sư [navigator], căn cứ vào tài liệu có sẵn, hướng dẫn thuyền đi đúng hải trình. Tài liệu cung cấp 3 yếu tố căn bản, buộc các châu sư phải lưu ý:

    -Phương hướng: trên thuyền có kim chỉ nam, lẽ dĩ nhiên không dùng độ như ngày nay, nhưng nếu chịu khó tìm hiểu cũng có thể đổi [decode] ra được; ví như hướng đơn Hợi=330 độ; hướng Nhâm Tý=352.5 độ.

    -Khoảng cách: không tính bằng dặm, mà tính bằng canh; một ngày một đêm có 10 canh. Mỗi canh nếu gặp gió trung bình, được ước tính là 60 lý [34 km].

    -Ðộ sâu: không tính bằng thước mà tính bằng sải tay. Ðây cũng thiên về thực dụng, lúc thủy thủ dòng dây từ thuyền xuống đáy biển, khi kéo dây lên dùng sải tay đo đếm dễ dàng, mỗi sải tay khoảng 1.6 m.

    Trương Tiếp cung cấp tư liệu về hải hành từ tỉnh Quảng Ðông đến Chiêm Thành và các nước phía nam như Tiêm La, Bành Hanh và Bột Nê; tương tự như chuyến đi Chiêm Thành của Ngô Huệ đã nêu trên, nhưng chi tiết hơn:

    Bản đồ 1: Hàng hải từ Trung quốc đến các nước Ðông Nam Á:

    paracel 2.png

    Ô Trư sơn: [ tại cửa sông Châu Giang tỉnh Quảng Ðông] Trên có miếu Ðô Công, khi thuyền qua biển này, mang lễ vật  cúng lạy từ đằng xa, xin thần phối hưởng,dùng thuyền giấy rực rỡ tống tiễn thần.Từ biển này theo dòng nước 10 sải tay, hướng đơn Thân [240 độ], đi 13 canh đến Thất Châu Dương.

    Núi Thất Châu, Thất Châu dương:Quỳnh Châu Chí [瓊州志] chép Thất Châu Dương tại phía đông huyện Văn Xương 100 lý; trên biển có 7 ngọn núi nhô lên liên tiếp, trong có nước suối ngọt có thể uống được. Thời nhà Nguyên, Lưu Thâm truy kích Tống Đoan Tông, bắt thân thuộc là Du Ðình Khuê tại nơi này. Tục truyền thời xưa có 7 châu chìm xuống dưới biển; thuyền đến mang súc sinh và cháo cúng thần, không tuân sẽ biến thành ma đói.Thuyền đi qua rất nguy hiểm, lệch sang hướng đông phạm vào Vạn Lý Thạch Ðường; nơi mà Quỳnh Chí[瓊志]chép là phía đông châu Vạn có biển Thạch Ðường, thuyền đến đó ít có chiếc nào thoát hiểm. Từ châu Thất Dương theo hướng Khôn Mùi [217.5 độ], thời gian 3 canh đến Ðồng Cổ Sơn.

    Ðồng Cổ sơn: Quảng Ðông Thông Chí [廣東通志]chép núi tại phía đông bắc huyện Văn Xương. Dân Liêu đúc đồng thành trống lớn, treo trước đình; gặp giặc thù đến thì đánh trống báo động, mọi người đến đông đúc. Sau đó vùi vào núi này, dân địa phương đào lấy được nên có tên như vậy; Quỳnh Châu Chí nói biển Ðồng Cổ thực thâm hiểm. Theo hướng Khôn Mùi [217.5 độ], thuyền đi 4 canh đến Ðộc Châu Sơn.

    Ðộc Châu sơn: tên tục là Ðộc Trư sơn; Quỳnh Châu Chí chép Ðộc Châu sơn [獨州山] còn có tên là Ðộc Châu sơn [獨珠山], tại phía đông nam châu Vạn. Ðỉnh núi cao trên biển, chu vi 5,6 chục lý; các nước phương Nam đến cống, thủy trình lấy núi này làm chuẩn, biển này gọi là Ðộc Châu dương; người đi thuyền nói trên núi có miếu Linh Bá, khách vãng lai thường tế hiến. Theo dòng nước 65 sải tay, hướng Khôn Mùi [217.5 độ], thời gian 10 canh đến biển Giao Chỉ.

    Bản đồ 2: Hàng hải từ Trung quốc đến các nước Ðông Nam Á:

     paracel 3.png

     –Từbiển Giao Chỉtheo hướng Khôn Mùi [217.5 độ], thời gian 11 canh [ 1 canh= 2giờ 24 phút] đến núi Ngoại La. Núi này trông xa như một cửa thành, đến gần thấy phía đông cao, phía tây thấp, có hồ Liễu Tử, phía tây có hòn Cổ Lão.

    Căn cứ vào khoảng cách, phương hướng và sự mô tả; Ngoại La Sơn có thể là cù lao Ré, tức huyện đảo Lý Sơn, vì tại đây có hòn lớn và hòn bé, ngoài biển từ xa nhìn vào như hai cột của cửa thành. Ngoài ra sách Việt Sư Cương Giám Khảo Lược [越史綱鍳考畧] của Nguyễn Thông chép về đảo Lý Sơn có câu 理山島又名外岣嶗俗稱外嶗Ðảo Lý Sơn lại có tên là Ngoại Cù Lao,dân thường gọi là Ngoại Lao; phải chăng người Trung Quốc đọc chệch  hai chữ “Ngoại Lao” thành “Ngoại La”?

    Từ Ngoại La Sơn thuyền men theo phía tây, theo luồng nước sâu 45 sải tay,  hướng Bính Ngọ [172.5 độ], thời gian 3 canh  đến cầu Mã Lăng, trong đó là Ðề Di, một huyện của Giao Chỉ.

    Sách Ðại Nam Nhất Thống Chí [大南一統志] (10), của Việt Nam chép: “Tấn Ðề Di ở phía đông bắc huyện Phù Cát [Bình Ðịnh], rộng 11 trượng, thủy triều lên sâu 6 thước, thủy triều xuống sâu 4 thước, phía tây có đầm nước ngọt, thuyền buôn thường đỗ tại đây, thủ sở tại địa phận thôn An Quang….”

    Từ cầu Mã Lăng tại Ðề Di theo luồng nước sâu 25 sải tay, bờ phía nam có đá ngầm, khi ra khỏi theo hướng Bính Ngọ [172.5 độ], thời gian 4 canh đến bán đảo Giao Bôi, tức cảng Tân Châu. Tại đây hình thế 2 bán đảo như 2 chén giao nhau , nên có tên là Giao Bôi.

    Ðịa danh Tân Châu, được xác định trong Minh Thực Lục [明實錄]; khi tường thuật việc phái đoàn nhà Minh cầm đầu bởi Cấp sự trung Trần Tuấn đi sứ Chiêm Thành để phong Vương cho Bàn La Trà Duyệt, theo thông lệ ghé đến cảng Tân Châu [ gần thành Chà Bàn, Qui Nhơn ], thì được biết vùng này đã bị An Nam chiếm. Bèn hàng hải tiếp đến Linh Sơn thì được tin cả nhà Bàn La Trà Duyệt bị An Nam bắt. Vì trên thuyền chở nhiều hàng hóa nên phải hành trình tiếp đến Mãn Thứ Gia [ thuộc vùng  đất Mã Lai hiện nay ] để bán hàng, rồi mới trở về Trung Quốc:

          Ngày 14 tháng 12 năm Thành Hóa thứ 10 [ 21/1/1475 ]

    Công khoa Cấp sự trung Trần Tuấn đi sứ Chiêm Thành không vào được, bèn nạp trở lại những thứ đã mang đi như chiếu sắc, ấn mạ vàng bạc, các vật như lụa, đoạn. Bọn Tuấn đi sứ Chiêm Thành để phong cho Quốc vương Bàn La Trà Duyệt, khi hàng hải đến cảng Tân Châu, Chiêm Thành; quân phòng thủ từ chối không cho vào, người Thông dịch cho biết đất này đã bị An Nam chiếm, còn Quốc vương Chiêm Thành tỵ nạn tại Linh Sơn. Khi đến Linh Sơn thì được biết cả nhà Bàn La Trà Duyệt bị An Nam bắt và đất Chiêm Thành bị đổi tên thành châu Giao Nam. Bọn Tuấn không dám ghé vào; nhưng thuyền chở hàng hóa tư, cùng nhiều thương nhân, nên giả lấy cớ bị gió bão rồi hàng hải tiếp đến Mãn Thứ Gia buôn bán, lại dụ Vương nước này sai sứ đến triều cống. Đến nay trở về tâu đầy đủ việc An Nam chiếm cứ Chiêm Thành, cùng việc Quốc vương Mãn Thứ Gia cung cấp thức ăn và các nhu yếu phẩm khác, đối đãi lễ nghi rất đầy đủ…..

     ( Minh Thực Lục v. 45, t. 2553-2554; Hiến Tông quyển 136, trang 6a-6b.)

    Bản đồ 3: Hàng hải từ Trung quốc đến các nước Ðông Nam Á:

     paracel 4.png

    Từ phía trong cảng Tân Châu theo dòng nước sâu 18 sải tay, nhắm hướng Bính Ngọ [172.5độ], thời gian 3 canh đến Bán Dự. Tại Bán Dự có tháp bằng đá, có thể ghé thuyền. Phía trong theo luồng nước sâu 8,9 sải tay, ngoài sâu 20 sải, phía nam có đá ngầm không thể đến gần, theo hướng Bính Ngọ [172.5 độ], thời gian 3 canh đến Yên Ðổng. Ðây là nơi phân giới giữa Giao Chỉ và Chiêm Thành, nhìn lên thấy  mây như ống khói nên đặt tên như vậy; tuy trời tạnh nhìn lên núi vẫn thấy khí mây bao phủ.

    Tuy hai địa danh Bán Dự và Yên Ðổng không ghi trong Ðại Nam Nhất Thống Chí [大南一統志], nhưng căn cứ thời gian hàng hải có thể đoán rằng Bán Dự tức bán đảo Hòa Lợi thuộc huyện Sông Cầu, Phú Yên; ngoài ra chữ “bán dự” cũng có nghĩa là bán đảo. Riêng Yên Ðổng có thể là vịnh Xuân Ðài, giáp giới huyện Tuy An, Phú Yên; nơi này gần núi cao, mây bao phủ nên gọi là Yên Ðổng chữ này cũng có nghĩa là mây tuôn như ống khói. Ngoài ra theo văn bản Minh Thực Lục nêu trên, thì đất Tân Châu đã bị An Nam chiếm, vua Chiêm trốn về Linh Sơn, vậy thời gian cuối thế kỷ thứ 15, Yên Ðổng có khả năng là nơi phân giới giữa An Nam và một phe Chiêm Thành (8).Riêng Ðại Nam Nhất Thống Chí [大南一統志], xác nhận biên giới lúc bấy giờ tại núi Thạch Bi huyện Tuy Hòa; núi Thạch Bi cao, có chi nhánh chạy ra biển; vậy phải chăng các địa danh Yên Ðổng, Thạch Bi đều chỉ chung một rặng núi.

    Từ Yên Ðổng theo hướng Bính Ngọ [172.5 độ], thời gian 3 canh đến Linh Sơn. Nơi đây là một thắng cảnh, núi đảo liên tiếp, dưới thì sông suối quanh co như dây đai, trên có núi hình như đầu Phật nên có tên là Linh Sơn. Thuyền bè vãng lai, người sùng đạo Phật tụng kinh, thả đèn hình giống thuyền trên sông, để cầu khỏi tai họa trên biển.

    Theo sự mô tả nêu trên, cùng Minh Thực Lục [明實錄], thì địa danh Linh Sơn thuộc tỉnh Phú Yên ngày nay. Từ đó tiếp tục cuộc hải hành như sau:

    Từ Linh Sơn theo luồng nước sâu 6o sải tay, nhắm hướng đơn Ngọ [180 độ], thời gian 2 canh đến Già Nam Mạo. trong cảng này có 3 đảo nhỏ, lúc thủy triều lên thì không thấy. Qua núi, theo luồng nước sâu 15 sải tay, nhắm hướng Khôn Mùi [217.5 độ] thời gian 5 canh từ Khuê Long vào La Loan Ðầu tức cảng Chiêm Thành.

    Căn cứ vào thời gian hàng hải phỏng đoán rằng Giả nam Mạo tức bãi biển Natại phía bắc tỉnh Khánh Hòa, còn cảng Chiêm Thành tức thành phố Nha Trang.

    -“Từ La Loan Ðầu theo luồng nước sâu 50 sải tay, nhắm hướng Khôn Thân [232.5 độ], thời gian 5 canh tới Xích Khảm Sơn. Ðời Tống vua Chiêm Thành trốn Giao Chỉ thường dời đến ở đây.”

    Theo hướng kim chỉ nam được ghi nhận dưới đây, từ Xích Khảm Sơn theo hướng 210 độ đến đảo Côn Lôn; như vậy ngược lại từ đảo Côn Lôn đến Xích Khảm Sơn là [210-180=30] 30 độ. Trên bản đồ hãy dùng kim chỉ nam đặt tâm điểm tại Côn Sơn, theo hướng 30 độ sẽ dẫn tới Phan Rang; vậy Xích Khảm Sơn tức thị xã Phan Rang.

    -“Từ Xích Khảm Sơn theo hướng đơn Mùi [210 độ], thời gian 15 canh đến núi Côn Lôn. Ðây không phải địa danh Côn Lôn trên nguồn sông [chỉ núi Côn Lôn tại Trung Quốc], mà chính là thắng cảnh Côn Lôn trên biển cả. Nơi đây núi cao mà vuông, chân núi rộng; tục ngữ cảnh báo dân đi biển rằng: thượng phạ Thất Châu, hạ phạ Côn Lôn (sợ nhất là Thất Châu, rồi đến Côn Lôn); vì qua những nơi này nếu không cẩn thận đi lệch hướng kim nam châm hoặc lạc tay lái, có thể đâm vào chốn nguy hiểm khó tồn tại. Tại Côn Lôn theo hướng đơn Canh [255 độ] và Canh Dậu [262.5 độ] sẽ đến Tiểu Côn Lôn.”

    Theo Tập Bản Ðồ Hành Chính 64 Tỉnh, Thành Phố Việt Nam(9), tại đảo Côn Sơn có núi An Hải cao 577 mét, từ đảo chính theo hướng 255 độ có đảo Hòn Bà.

    Bản đồ 4: Hàng hải từ Trung quốc đến các nước Ðông Nam Á:

    paracel 5.png

    -Từ núi Côn Lôn theo hướng Khôn Thân? [232.5 độ] cùng Canh Dậu? [262.5 độ], thời gian 30 canh đến Cát Lan Châu. Cát Lan Châu là bến cảng của nước Ðại Nê . Xưa gọi là Bột Nê [Borneo 渤泥], nước này thường đến triều cống Trung Quốc qua tỉnh Phúc Kiến.

    -Từ núi Côn Lôn theo hướng Tân Dậu [277.5 độ] thời gian 26 canh đến Lục Khôn, đó là thuộc quốc của nước Tiêm La.

    -Lại từ núi Côn Lôn theo hướng Khôn Mùi [217.5 độ] thời gian 30 canh đến Ðấu Dự, lại theo hướng Ðinh Ngọ [187.5 độ] đến nước Bành Hanh  [tức Pahang thuộc Mã Lai].

    Sách Hải Ngữ [海語] (10) của Hoàng Trung cũng mô tả hướng đi Tiêm La như sau:

    Nước Tiêm La tại phía biển Nam Hải. Từ cửa Nam Ðình thuộc huyện Ðông Hoàn [Quảng Ðông] ra khơi. Nam đến Ô Trư, Ðộc Trư, Thất Châu ( có tên Tam Dương) la bàn theo hướng Khôn Mùi [212.5 độ] đến Ngoại La , lấy Khôn Thân [232.5] vượt 45 trình, đến cảng cũ Chiêm Thành ; rồi đến Linh Sơn nước sùng Phật trên núi có phong hoả đài (11) là đất thuộc Giao Chỉ. Lại theo hướng Mùi [210.]đến Côn Lôn; từ đó dùng Khôn Mùi [217.5] đến bãi Đồi Mồi; từ ngạch Đồi Mồi tại Qui Sơn theo hướng Dậu [270.] vào cảng Tiêm La.

    [暹羅國在南海中自東管之南亭門放洋南至烏瀦獨瀦七洲三洋名星〈船上皿下〉坤未針海天無際舶行莫知方位惟以星〈船上皿下〉針定子午而赴之至外羅坤申針四十五程至占城本古越裳氏之界舊港經大佛靈山其上烽墩則交趾即安南屬也又未針至昆〈山屯〉山又坤未針至玳瑁洲玳瑁額及於龜山酉針入暹羅港]

    Hoàng Trung trong Hải Ngữ và Trương Tiếp trong Đông Tây Dương Khảo mô tả hải trình từ Quảng Đông, Trung Quốc đến các nước Đông Nam Á tương tự như nhau: cả hai đều mô tả băng quaTam Dương [Ô Trư Dương, Thất Châu Dương, Ðộc Trư Dương] đểtừ đóđến Ngoại La sơn [Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi] theo hướng Khôn Mùi [212.5]; cả hai đều ghé vào Chiêm Thành, Linh Sơn nghĩ ngơi, lấy thực phẩm, nước uống; cả hai đều dùng Côn Lôn làm đích, để đi xuống vùng Đông Nam Á.vv…

    Khác với những nhà nghiên cứu Trung Quốc hiện đại, như Hàn Chấn Hoa trong Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙] gán cho Trường Sa Thạch Đường nằm trên đường hàng hải từ Trung Quốc xuống vùng Đông Nam Á. Các thư tịch xưa như Lãnh Ngoại Đại Đáp đời Tống, Đông Tây Dương Khảo, Hải Ngữ đời Minh đều chủ trương rằng Trường Sa Thạch Đường là nơi tối nguy hiểm cần phải tránh. Đặc biệt sách Hải Ngữ [海語] dành riêng quyển cuối với nhan đề Uý Đồ [畏途] tức Con Đường Đáng Sợ trong đó chép Trường Sa Thạch Đường với lời cảnh cáo nặng nề như sau:

    Vạn Lý Thạch Ðường tại phía đông biển Ô Trư và Thạch Trư. Tại đó tuy trời nắng nhưng vẫn âm u, không giống như trong cõi trần; thổ sản nhiều xà cừ. Chim có nhiều loại quỉ xa, có thứ 9 đầu, có thứ 3,4 đầu, rãi rác khắp biển; tiếng kêu gào ầm ỉ đến mấy dặm; tuy kẻ ngu và loại hung hãn không ai là không thất sắc, mồ hôi toát ra. Châu sư hàng hải trên thuyền lỡ tay lái thất thế, đâm vào đá tảng, thì hàng trăm mạng biến thành quỉ!

    Vạn lý Trường Sa tại phía đông nam Vạn Lý Thạch Ðường, tức Lưu Sa Hà của giống Di đông nam. Gió thổi ào ào, ngày trong sáng mà trời như đầy tuyết. Lái thuyền lỡ đi lẩm vào, thì bị dính vào không ra được; nếu may nhờ gió đông nam mạnh mới thóat khỏi.”

    [萬里石塘

    萬里石塘在鳥瀦二洋之東陰風晦景不類人世其產多𤥭璖其鳥多鬼車九首者四三首者漫散海際悲號之音聒聒聞數里雖愚夫悍卒靡不慘顏沾襟者舵師脫小失勢誤落石𣿭數百軀皆鬼録矣

    萬里長沙

    萬里長沙在萬里石塘東南即西南夷之流沙河也弱水出其南風沙獵獵晴日望之如盛雪舶誤衝其際即膠不可脫必幸東南風勁乃免陷溺]

    7.Một bộ sách về hải đạo châm kinh của Trung Quốc vào đời Minh, hướng dẫn về hàng hảimang tên là Thuận Phong Tương Tống [顺风相送], được lưu giữ tại thư viện Bodliean, Anh Quốc. Trong sách ghi chép rất nhiều chỉ dẫn hàng hành từ các hải cảng Trung Quốc xuống các nước vùng Đông Nam Á; đặc biệt chuyến đi nào cũng qua lãnh thổ Việt Nam hiện nay; chứng tỏ từ xưa tới nay người Trung Quốc đã sử dụng lãnh hải Việt Nam, tức Biển Đông, làm đường giao thông qua lại nhiều nước Á Châu. Đơn cử chuyến đi từ đảo Ngô Dự tỉnhPhúc Kiến đến Đại Nê, nước Mã Lai,Thuận Phong Tương Tống chép về hàng hành qua lãnh hải, lãnh thổ Việt Nam như sau:

    “…Từ Độc Trư Sơn [Hải Nam, Trung Quốc] thuyền theo hướng Khôn Mùi [217.5 độ], thời gian 20 canh đến Ngoại La Sơn [Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam], đi qua mép bên ngoài. Từ Ngoại La Sơn theo hướng Bính Ngọ[172.5], qua 7 canh đền đảo Giao Bôi, đảo Dương [thị xã Qui Nhơn, Bình Định]. Thuyền theo hướng Bính Ngọ [172.5], thời gian 5 canh, đến Linh Sơn tượng đại Phật [Tuy Hoà, Phú Yên]; thuyền theo hướng Ngọ [180.], thời gian 3 canh đến núi Già Nam Mạo[bãi biển Na, Khánh Hoà]; thuyền theo hướng Đinh Ngọ [187.5] thời gian 5 canh đến La Loan Đầu [Nha Trang]; thuyền theo hướng Đơn Khôn [225.] cùng Khôn Mùi [217.5] thời gian 5 canh đến Xích Khảm Sơn[Phan Rang]; thuyền theo hướng Khôn Mùi [217.5 thời gian 15 canh đến Côn Lôn[Việt Nam], đi theo hướng bên ngoài. Thuyền theo hướng Khôn Thân [232.5] cùng Canh Dậu [262.5], thời gian 30 canh đến cảng Cát Lan Đơn [ Kelantan Mã Lai]; chỗ này có nhiều bùn có thể làm hại thuyền. Theo hướng Đơn Thân [240.] đi tiếp 7 canh đến Đại Nê[Mã Lai].”

    [浯嶼往大泥吉蘭丹用坤未針二十更船取外羅山外過。用丙午針七更取校杯嶼及羊嶼。用丙午針五更船取靈山大佛。用單午針三更船取伽亻南貌山。用丁午針五更取羅灣頭,用單坤及坤未針五更船取亦坎。用坤未針十五更船取崑崙山外過。用坤申及庚酉針三十更船收吉蘭丹港口。是泥地拋船。用單申針七更船六坤,坤身尾有淺,過西邊入港是大泥。]

    __

    1 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙] , sđd, trang 50.

    2.Thiết cụ: gió bão lớn.

    3.Phí Tín soạn Tinh Tra Thắng Lãm vào năm Minh Chính Thống thứ nhất [1433]

    4 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙] , sđd, trang 54.

    5 Thù Vức Chu Tư Lục [殊域周咨綠], quyển 7, Nam Man, mục Chiêm Thành.

    6.Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙] , sđd, trang 57.

    7 Ðại Nam Nhất Thống Chí, bản dịch của Viện Sử Học, tập 3, trang 47.

    8 Theo sử Việt, sau khi đánh bắt Trà Toàn, vua Lê Thánh Tông chia Chiêm Thành thành 3 nước nhỏ.

    9 Tập Bản Ðồ Hành Chính 64 Tỉnh, Thành Phố Việt Nam, NXB Bản Đồ, 2005.

    10 Hải Ngữ [海語] Hoàng Trung, quyển thượng, Tiêm La.

    11.Phong hoả đài: đài báo động trên núi bằng cách đốt lửa.

    7.Đời Thanh.

    1.Trong Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙] (1)Hàn Chấn Hoa trưng tưliệu từ quyển 4Quảng Đông Thông Chí [廣東通志], tại mụcHình Thắng phủ Quỳnh Châu;để cho rằng Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Ðường được nhập vào lãnh thổ châu Vạn:

     “Châu Vạn có 3 đoạn nước bao bọc bởi biển, 6 chỗ liên tiếp với núi;tại châu trị trong chốn yên ba ẩn hiện Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Ðường”

    [萬州三曲水環泮宫六連山障州治千里長沙萬里石塘煙波隱見]

    Tư liệu này chỉ có giá trị như những câu văn tả cảnh tổng quát từ đằng xa, không xác định được chủ quyền. Trích tư liệu  từ mục Hình Thắng [形勝]tức thắng cảnh,là một sự lầm lẫn cố ý; vì cũng tại quyển 4 này, bên cạnh mục Hình Thắng có mục Cương Vực [疆域]tức biên cương khu vực ghi rõ vị trí giới hạn châu Vạn, đáng phải nêu ra thì họ Hàn dấu đi; chứng tỏ thiếu tính chất minh bạch của nhà nghiên cứu. Nay xin trích dịch nguyên văn, để thấy được việc ghép Trường Sa Thạch Đường xa xôi vào lãnh thổ châu Vạn với hai bề ngang dọc 205 lý, 120 lý, là điều vô lý:

    Châu Vạn tại phía đông nam phủ thành 450 lý [261 km.], đất rộng 205 lý [118 km.], bề dọc 120 lý [70 km.]. Phía đông tới bờ biển 25 lý [14.5 km.], tây đến núi Giá Cô Đề thuộc dân tộc Sinh Lê 180 lý [104 km.], nam đến bờ biển 25 lý [14.5 km.], bắc đến biên giới huyện Lạc Hội 95 lý [55 km.]; đông bắc đến lãnh Liên Chi 70 lý [40 km.], tây nam đến biên giới huyện Lăng Thuỷ 100 lý [58 Km.], tây bắc đến động Lê tại lãnh Hoành 160 lý [92 km.], đông nam đến bờ biển 30 lý [17 km.]”

    [萬州在府城東南四百五十里其地廣二百零五里袤一百二十里 東至海岸二十五里 西至鷓鴣啼山一百八十里外係生黎 南至海岸二十五里北至樂㑹縣界九十五里 東北至蓮岐嶺七十里 西南至陵水縣界一百里 西北至横嶺黎峒界一百六十里 東南至海岸三十里]

    2.Về tư liệu quan phương, ngoài Quảng Đông Thông Chí không thể không nhắc đếnKhâm Định Đại Thanh Nhất Thống[欽定大清一統志], một bộ sách đồ sộ của triều đình nhà Thanh, mỗi phủ được dành riêng một quyển. Cương vực phủ Quỳnh Châu, tức đảo Hải Nam, được mô tả như sau:

    Phủ Quỳnh Châu tại phía tây nam tỉnh lỵ Quảng Đông 1700 lý [986 km.], đông tây 970 lý [562 km.], nam bắc 995 lý [577 km.]; đông đến bờ biển châu Vạn 490 lý [284 km.], tây đến bờ biển châu Đam 480 lý [278 km.], nam đến bờ biển châu Nhai 965 lý [559 km.], bắc đến bờ biển 10 lý [5.8 km.]; Đông nam đến bờ biển huyện Lăng Thuỷ 540 lý [313 km.], tây nam đến bờ biển huyện Cảm Ân 810 lý [470 km.], đông bắc đến bờ biển huyện Văn Xương 160 lý [93 km.], tây bắc đến bờ biển huyện Lâm Cao 280 lý [162 km.], từ phủ lỵ đến kinh sư 9715 lý [5635 km.].”

    [瓊州府在廣東省治西南一千七百里東西距九百七十里南北距九百九十五里東至萬州海岸四百九十里西至儋州海岸四百八十里南至崖州海岸九百六十五里北至海岸十里東南至陵水縣海岸五百四十里西南至感恩縣海岸八百一十里東北至文昌縣海岸一百六十里西北至臨髙縣海岸二百八十里自府治至京師九千七百一十五里].

    Riêng về cương vực châu Van, Đại Thanh Nhất Thống Chí (2) chép:

    Châu Vạn tại phía đông nam phủ Quỳnh Châu 400, 500 lý [232 km-290km], từ đông sang tây 205 lý [118 km], nam chí bắc 120 lý [69 km]; phía đông từ châu lỵ đến biển 25 lý [14.5 km], phía tây cách động Lê 180 lý[104 km], phía nam đến bờ biển 25 lý [14.5 km],phía bắc đến huyện Lạc Hội 95 lý [55 km]. Phía đông nam giáp biển 30 lý[17 km], tây nam giáp huyện Lăng Thủy 100 lý [58 km], đông bắc đến biển 70 lý[40 km], tây bắc đến động Lê 160 lý [92 km].”

    [萬州在府東南四百五百里東西距二百五里南北距一百二十里東至海岸二十五里西至黎界一百八十里南至海岸二十五里北至樂㑹縣界九十五里東南至海岸三十里西南至陵水縣界一百里東北至海岸七十里西北至黎峒一百六十里]

    Thử hỏi châu Vạn rộng từ đông sang tây 205 lý [118 km], phía đông từ châu lỵ đến biển 25 lý [14.5 km] thì Vạn Lý Trường Sa, và Thiên Lý Thạch Ðường xa xôi, có thể đặt vào trong đó được không? Ngoài ra để tham khảo thêm, xin giới thiệu bản đồ phía đông đảo Hải Nam in trong Khâm Định Đại Thanh Nhất Thống Chí[欽定大清一統志],tại trang đầu, quyển 350 như sau:

    Nhìn trên bản đồ từ bắc chí nam có những địa danh được phiên âm gồm: huyện Văn Xương, huyện Hội Ðồng, huyện Lạc Hội, châu Vạn, và đảo Ðộc Châu Sơn. Lưu ý: trong lãnh thổ châu Vạn chỉ ghi đảo Ðộc Châu sơn, ngoài ra không hề có tên Thiên Lý Trường Sa, và Vạn Lý Thạch Ðường.

    3.Bộ sử cuối cùng trong  Nhị Thập Ngũ Sử [Twenty-five History Books];cần được nêu lên đó là Thanh Sử Cảo [清史稿, The Draft History of Qing]. Sau cách mệnh Tân Hợi [1911], chính phủ Dân quốc tại Bắc Kinh cho lập Quốc sử quán để biên tu chính sử, giao cho Triệu Nhĩ Tốn làm chủ biên. Bộ sử đã hoàn thành, tuy chưa duyệt xong lần cuối, nhưng vì thời cuộc bức xúc bèn đem ra in, đặt tên là Thanh Sử Cảo. Bản thân bộ sử có nhiều tư liệu phong phú, các Học giả không thể xem thường, nên được đưa vào Nhị Thập Ngũ Sử.

    Thanh Sử Cảo chép Địa lý chí đảo Hải Nam trong quyển 72, cho biết năm Quang Tự thứ 31 [1905] cắt một phần phía nam phủ Quỳnh Châu, đặt ra châu trực lệ Nhai Châu, châu này lãnh 4 huyện, trong đó có huyện Vạn:

    Châu trực lệ Nhai Châu [Tam Á thị Sanya]: xung yếu, đông.

    Châu lệ thuộc đạo Quỳnh Nhai; trước kia lệ thuộc phủ Quỳnh Châu, năm Quang Tự thứ 31 [1905] thăng làm châu trực lệ. Cách tỉnh lỵ [Quảng Châu] phía bắc 2.680 lý, đông tây rộng 242 lý, nam bắc 175 lý, bắc cực cao 18 độ 27 phân, kinh sư nghiêng 47 độ 36 phân. Lãnh 4 huyện…”[崖州直隸州:沖,繁。隸瓊崖道。崖州舊隸瓊州府。光緒三十一年,升為直隸州。東北距省治二千六百八十里。廣二百四十二里,袤一百七十五里。北極高十八度二十七分。京師偏西七度三十六分。領縣四。]

    Châu Vạn ghi trong Đại Thanh Nhất Thống Chí  thời Càn Long,Thanh Sử Cảo chép đến đời Quang Tự đổi thành huyện Vạn; cũng giống như các đời trước, không có tên quần đảo Trường Sa Thạch Đường nằm trong đó, phía đông huyện này chỉ có biển Độc Châu và đảo núi Độc Châu mà thôi:

    Huyện Vạn [Vạn Ninh Thị Wanning]: xung yếu, đông.

    Huyện tại phía đông bắc châu Nhai 370 lý; trước kia lệ thuộc vào phủ Quỳnh Châu, năm Quang Tự thứ 31 [1905] trực thuộc vào châu. Phía đông có núi Đông Sơn [Dongshan Ridge], bắc có lãnh Lục Giao, phía đông nam giáp biển; trên biển có núi Độc Châu [Dazhou Island] xung quanh là biển Độc Châu. Phía tây bắc có sông Long Cổn [Longgun River] phát nguyên từ động Tung Hoành, cong về phía nam chảy sang đông hợp với Lưu Mã Hà, rồi theo hướng đông bắc vào phần đất huyện Lạc Hội, cong sang đông nam lại trở vào phía bắc huyện; phía đông có nhánh qua khe Liên Đường, cong sang phía bắc đến Lạc Hội hợp với sông Vạn Toàn [Wanquan River], dòng chính qua lãnh Liên Chi phía đông nam ra biển. Lại có sông Đô Phong Thuỷ cũng phát xuất từ động Tung Hoành, chảy theo hướng đông nam, chia thành 4 gồm: cảng Hoà Lạc, Cảng Bắc Cảng [Gangbei Port], Bạch Cẩu Giản, sông Kim Tiên Hà chảy ra biển tại phía đông bắc huyện trị. Phía nam có sông Thảng Dung Hà, phát nguyên từ núi Giá Cô phía tây bắc, chảy theo hướng đông nam đến sông Sấu Điền thì chia dòng, lại hợp với Thạch Qui Hà chảy theo hướng đông nam ra biển. Có Tuần ty Long Cổn, một trường muối tại Tân An.”

    [萬沖,繁。州東北三百七十里。萬州舊隸瓊州府,光緒三十一年降為縣,來屬。東:東山。北:六連嶺。東南濱海。海中有獨洲山,其下曰獨洲洋。西北:龍滾河,出縱橫峒,南屈而東,與流馬河合,又東北入樂會,屈東南復入縣北。東別出為蓮塘溪,屈北至樂會,合萬全河。其正渠,東南過連岐嶺入海。又都封水亦出縱橫峒,東南流,歧為四派:曰和樂港,曰港北港,曰石狗澗,曰金仙河,至縣治東北入海。又南,踢容河,出西北鷓鴣山,東南至瘦田村分流,與石龜河合,又東南流入海。有龍滾巡司。鹽場一,曰新安]

    4.Cần phải lưu ý thêm,Trung Quốc ban hành chính sách cấm biển từ giữa triều Minh cho đến triều Thanh. Chính sách này được trân trọng ghi trong Khâm Định Đại Thanh Hội Điển [欽定大清會典] như sau:

    Cấm biển: Phàm những đất canh tác ngoài biển bị cấm; những cư dân gần biển không được vụng trộm đến các đảo tụ tập canh tác, rồi chứa chấp bọn gian.” (3)

    [海禁凡海外耕種之禁海濱居民不得潛住島嶼招聚耕墾致藏姦匪]

    Minh Sử, quyển 5, trong phần Chí về Thực Hoá, trình bày sự giao dịch buôn bán không sòng phẳng giữa quan lại Trung Quốc với dân buôn Nhật [Nuỵ], dẫn đến việc người Nhật cướp phá tại vùng tỉnh Chiết Giang, khiến viên Tuần phủ phải ra lệnh cấm biển:

    Năm thứ 26 [1547], hàng trăm thuyền Nuỵ đến cướp phá, đóng lâu tại Ninh Ba, Đài; mấy ngàn quân đổ bộ cướp đốt. Tuần phủ Chiết Giang Chu Hoàn điều tra biết rằng những chủ thuyền đều là những quan to, hoặc thuộc dòng họ lớn, buôn bán với Phiên [Nuỵ] qua lời nói trung gian để kiếm lời to, nhưng hàng không giao đúng lúc, do vậy gây nên loạn. Bèn cấm biển nghiêm khắc, cho huỷ thuyền, tâu xin giáng chức những người thuộc họ lớn.”

    [二十六年,倭寇百艘久泊寧、臺,數千人登岸焚劫。浙江巡撫硃紈訪知舶主皆貴官大姓,市番貨皆以虛直,轉鬻牟利,而直不時給,以是構亂。乃嚴海禁,毀餘皇,奏請鐫諭戒大姓 -卷八十一志第57 食貨五]

    Sang đến thời nhà Thanh, việc cấm biển thực hiện một các khá qui mô, bằng cách hoạch định giới tuyến dọc ven biển, rồi cưỡng bách di cư tất cả dân chúng thuộc phía ngoài giới tuyến vào trong nội địa. Khang Hy Thực Lục ghi lại sự việc như sau:

    Tháng 3 năm Khang Hy thứ 17[1678]…Dụ các Vương, Đại thần họp bàn việc chính trị: ‘Giặc biển bàn cứ tại các xứ như Hạ Môn [Xiamen, Phúc Kiến], cấu kết với giặc trong núi, phiến động mê hoặc địa phương, nguyên do dựa vào dân ven biển tại vùng tỉnh Phúc Kiến. Đáng theo lệ vào năm Thuận Trị thứ 18 [1661] lập ranh giới, đem dân chúng ngoài ranh giới đồng loạt di cư vào nội địa; thân sức cấm biển nghiêm, tuyệt đường giao thông…”

    [康熙十七年。戊午三月. 諭議政王大臣等、海寇盤踞廈門諸處、勾連山賊、煽惑地方、皆由閩地瀕海居民為之藉也。應如順治十八年立界之例、將界外百姓、遷移內地。仍申嚴海禁絕其交通。]

    Bàn về biện pháp cấm biển hữu hiệu, mục Nghiêm Dương Cấm trong quyển 9 Quảng Đông Thông Chí[廣東通志], ghi lại lời Thông chính Ðường Thuận [唐順] thời Minh nhấn mạnh việc cấm biển không chỉ đuổi dân từ hải đảo vào vùng an toàn mà thôi. Còn cần phải kê tra dân chúng, điều tra kẻ khả nghi giúp đỡ bọn cướp biển, khiến người dân trong nội địa không còn có thể liên lạc tiếp tế cho bọn cướp biển ẩn trốn tại các hải đảo bên ngoài:

    Việc cấm biển nghiêm, điều tra người lén ra đi, cần tìm tòi âm mưu từ bên trong. Chỉ kê tra kẻ dùng mái chèo ra biển, mà không điều tra âm mưu bên trong thì chưa tuyệt được nguồn gốc. Cần ra lệnh cho quân vệ, quan chức địa phương lập sổ sách theo thứ tự 1,2,3 kê tra dân tại duyên hải, cùng nghề nghiệp sinh nhai, rồi tùy lúc kềm cặp ràng buộc. Nếu như có những kẻ du đãng bỏ nghề nghiệp, hành tung bí mật, đi về chè chén, có vẻ khả nghi; thì ra lệnh cho người trong làng đến quan để tố cáo. Lấy 30 lượng bạc của phạm nhân, thưởng cho người tố cáo, cùng điều tra sự tình của phạm nhân rồi trị tội nặng. Những người biết chuyện mà cố tình giấu diếm, thì cũng phạt tội, nhưng giảm nhẹ hơn tội nhân. Thi hành phép Bảo giáp (4)nghiêm là phương cách giảm thiểu đạo tặc, bởi vậy nơi ven biển dân bôn đào tụ tập thì việc kiểm soát không thể không nghiêm.”

    [明通政唐順之云洋禁之嚴有宜查其外出者有宜查其内伏者其外出者寸板下海嚴為稽察此大較也而内伏不清則根株未抜宜責令軍衛有司將沿海居民逐一清查造册在官稽其生理時加約束如有游民廢業行踪詭秘來往酧酢殊有可疑許令同里之人赴官首告即於犯人名下追銀三十兩充賞本犯嚴究情由從重論治若鄰佑人等知情故匿不先首告罪發之日减本犯一等治之葢保甲之法為弭盗之原而海濵多逋逃藪則尤不容不嚴也]

    Thời Gia Khánh viên Tổng đốc đốc Lưỡng Quảng Ngô Hùng Quang xin chế tạo nhiều thuyền để ra biển bắt cướp. Quan điểm của vua Gia Khánh cũng giống như Thông chính Đường Thuận nêu trên, bác lời tâu của Hùng Quang, khẳng định quốc sách là phòng thủ tại cảng và truy lùng những người trên bờ ngầm mua bán hợp tác với bọn cướp. Xin trích dịch chiếu thư của vua Gia Khánh như sau:

    Ngày 2 Kỷ Tỵ tháng 12 năm Gia Khánh thứ 12 [30/12/1807]

    “… Còn trong tấu triệp Ngô Hùng Quang trình bày rằng “Thuyền cướp qua lại đợi chờ mới liên lạc được với bọn gian trên bờ, nếu thuyền binh khẩn trương theo tung tích truy nã, thì bọn chúng không thi thố được thủ đoạn. Vậy muốn ngăn tiếp tế, nên tu tạo nhiều thuyền, xuất dương truy bắt.”

    Ðiều này không đúng, về bọn cướp biển, gạo, nước, thuốc súng đều nhờ vào trên bộ. Bọn giặc trên bờ và dưới nước vốn quen nhau, ngầm giao dịch, cũng không phải chờ bọn cướp biển lên bờ tìm kiếm mới được tiếp tế. Tổng chi, đáng ra lệnh các quan văn võ tại cửa biển mật cho tuần tra, nghiêm bắt, trừng trị nặng; khiến bọn phỉ trên bờ co rút lại, thì mới đoạn tuyệt việc tiếp tế.

    Ðiều đó khẳng định rằng việc cấm bọn phỉ tiếp tế tất phải nghiêm tra trên bờ, làm vững rào dậu là biện pháp chính. Phúc Kiến nghiêm cấm tiếp tế tại cửa biển, thực hiện hữu hiệu, tỉnh Quảng Ðông cần nhất luật thực hiện...” (Nhân Tông Thực Lục quyển 189, trang 7)

    Cùng đề cao sách lược phòng thủ thụ động nơi ven biển, tại quyển 9, mục Hải Phòng, trong Quảng Ðông Thông Chí[廣東通志], Tổng đốc Hác Ngọc Lân tóm tắt :

    Phàm thuyền đến không cho đậu, đi không tiếp tế ; thì dân chúng duyên hải đều được yên gối mà ngủ.”

    Với chính sách cấm biển, phòng biển ngay tại bờ, tỉnh Quảng Đông đã lập sẵn 62 vị trí xung yếu làm giới tuyến cho các vệ, sở canh gác. Quân lính chỉ chịu trách nhiệm phòng thủ phía trong giới tuyến, riêng phía ngoài, coi như vùng biển quốc tế không thèm biết đến. Riêng từ huyện Lạc Hội [nay thuộc huyện Văn Xương] được ghi là điểm khởi đầu ranh giới tiếp giáp với biển An Nam (5):

    Xung yếu:

    Từ huyện Lạc Hội [樂會 Wenchang, Hải Nam], phủ Quỳnh Châu, khởi đầu tiếp giáp với biên giới An Nam…..”

    [衝要: 自瓊州樂會縣接安南界起….]

    Với chính sách cấm biển từ các đời Minh, Thanh; Trung Quốc đã từng bỏ các đảo như Châu Sơn [zhowshan], trấn Kim Đường [ Jintang Island], đảo Ngọc Hoàn [Yuhoan] thuộc tỉnh Chiết Giang; Hạ Môn[Xiamen] thuộc tỉnh Phúc Kiến; còn vùng biển xung quanh đảo Hải Nam thì thuộc Việt Nam. Qua sử, chí, Trung Quốc; có thể chứng minh rằng sách lược nước này không đoái hoài đến biển cả.

    Cuối cùng vào buổi tàn cuộc của triều Thanh, nhờ ngọn gió Tây phương thổi đến, giúp họ hiểu rõ vị trí đặc thù và tài nguyên phong phú của biển. Một người tỏ ra bén nhạy với thời cuộc là viên Thuỷ sư đề đốc Lý Chuẩn; y lợi dụng tình trạng Việt Nam trong vòng đô hộ Pháp , nên vào năm Quang Tự thứ 33 [1907] mang các tàu như Phục Ba, Sâm Hàng đến đảo Hoàng Sa để dành chủ quyền. Điều kẹt cho y, quần đảo này chưa hề nằm trong lãnh thổ Trung Quốc nên các đảo không có tên; bởi vậy y bèn tuỳ tiện lấy tên hai tàu “Phục Ba”, “Sâm Hàng” đặt tên cho 2 đảo, lấy tên quê y tại huyện “Lãnh Thuỷ” tỉnh Tứ Xuyên đặt tên cho một đảo khác, rồi nhân có giếng nước ngọt trên một đảo, bèn đặt tên đảo này là “Cam Tuyền”. Nhắm khua chiêng gióng trống cho mọi người biết, y cho bắn đại bác, treo cờ; khắc bia trên hòn đảo được đặt tên là Phục Ba, với hàng chữ như sau:

     “Đại Thanh Quang Tự năm thứ 33, Thuỷ sư Quảng Đông Đề đốc Lý Chuẩn tuần thị đến nơi này.” (6)

    [大清光绪三十三年广东水师提督李准巡视至此]

    Bấy giờ gần cách mệnh Tân Hợi, các tỉnh Trung Quốc tự tiện điều hành như những sứ quân, việc làm của Lý Chuẩn chỉ thừa lệnh viên Tổng đốc Quảng Đông, riêng triều đình Thanh không biết. Bởi vậy phần Bản Kỷ về năm Quang Tự thứ 33, hoặcThanh Sử Cảo không đề cập đến việc này, và trong phần Chí cũng không có đảo Tây Sa [Paracel].

    __

    1 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙] , sđd, trang 66.

    2 Khâm Định Đại Thanh Nhất Thống [欽定大清一統志],Hoà Khôn Chủ biên, quyển 350.

    3 Khâm Định Đại Thanh Hội Điển quyển thứ 65.

    4 Bảo giáp: tổ chức dân binh trong làng.

    5 Quảng Ðông Thông Chí [廣東通志], Tổng đốc Hác Ngọc Lân chủ biên, quyển 9.

    6 Nguyên văn trong bài “Đại Thanh Quang Tự Lý Chuẩn năm 1909 tuần thị nơi này” [大清光绪李准1909年巡视至此].

     Kết luận:                                                                                            

    Bàn về chủ quyền đất đai cần phải ghi rõ ràng vị trí, giới hạn, diện tích, do đơn vị hành chánh nào quản lý. Hoặc ít ra cũng chép được tương đối chi tiếtnhư sách Hoàng Việt Địa Dư Chí [皇越地輿誌] của Phan Huy Chú [潘輝注] thời Nguyễn, viết về quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam với những nét như sau:

    Quảng Ngãi

    Phủ Tư Nghĩa có 3 huyện, nay là trấn Quảng Ngãi; 3 huyện gồm 9 tổng, 216 xã. Huyện Chương Nghĩa xưa là huyện Nghĩa Giang, gồm 3 tổng 93 xã. Huyện Bình Sơn xưa là huyện Bình Dương, gồm 3 tổng, 70 xã. Huyện Mộ Hoa gồm 3 tổng, 53 xã. Phủ nằm trong trấn Quảng Nam, thượng du bao bọc bởi núi, hạ lưu giáp biển, địa thế rộng rãi. Thời Thái Vương cai trị, cải thành 3 huyện thuộc Quảng Ngãi; vật lực giàu có, lúa ngũ cốc không biết bao nhiêu mà kể. Vàng, bạc, châu báu, trầm hương, tốc hương rất tốt đẹp. Voi ngựa súc vật có nhiều, ngoài biển có hải đảo, cảnh vật u nhã.

    Bãi Hoàng Sa

    Xã thôn An Vĩnh thuộc huyện Bình Sơn gần biển, phía đông bắc ngoài biển có nhiều đảo. Núi đảo trùng điệp, có đến hơn 130; các đảo cách nhau bởi biển hoặc một ngày đường hoặc mấy canh, dưới núi có suối nước ngọt. Trong các đảo này có bãi Hoàng Sa, dài khoảng 30 lý, bằng và rộng rãi, nước trong tận đáy, trên đảo yến nhiều vô số, chim có đến hàng ngàn hàng vạn, thấy người vẫn quây quần không tránh. Bên bờ các vật lạ rất nhiều, có loại ốc hoa văn tên là ốc tai tượng to như chiếc chiếu, trên bụng có hạt cườm bằng đầu ngón tay, màu đục không được như ngọc trai, vỏ có thể tạc thành bia, có thể chế thành vôi sơn quyét; có loại ốc xà cừ làm đồ trang sức rất tốt đẹp, có loại ốc hương thịt có thể muối ăn, đồi mồi trên đảo khá lớn, có loại tên hải ba, vỏ mỏng có thể làm khí mãnh trang sức, trứng bằng đầu ngón tay lớn; lại có loại tên hải sâm tục gọi là đột đột, bơi lội bên cạnh các đảo, đánh bắt được đem xát qua bằng vôi, bỏ ruột, phơi khô; lúc ăn tẩm với tương cua đồng, ăn cùng với tôm, thịt rất tốt. Các thuyền buôn phần lớn gặp nạn tại đây.

    Các triều vương trước (chúa Nguyễn) đặt đội Hoành Sa 70 người, dùng người xã An Vĩnh luân phiên đi. Hàng năm vào tháng 3 nhận chỉ thị sai đi, mang 6 tháng lương, dùng thuyền nhỏ 5 chiếc, trương buồm xuất dương, 3 ngày 3 đêm đến đảo; tại đây mặc tình đánh bắt cá ăn, được đồ quí khí vật trên thuyền rất nhiều, lại lấy được hải sản rất nhiều. Ðến tháng 8 trở về, vào cửa Eo để đệ nạp cho thành Phú Xuân.”

    paracel 7.png

    paracel 8.png

    hoang viet du dia chi .png

    Tôi ra công sưu tầm trong sử, chí Trung Quốc, nhưng tuyệt nhiên không tìm ra được một tư liệu nào về chủ quyền quần đảoTây Sa [Paracel Islands], Nam Sa [Spratly Islands] tương tự. Đến năm 2016, nhân đọc bài báo nhan đề Chúng Ta Ca Tụng Quang Minh Nhưng Mang Theo Ngàn Năm Hắc Ám [们歌颂光明却带来千年黑暗] của Thượng tướng không quân Lưu Á Châu [亚洲], con rể cố chủ tịch Trung Quốc Lý Tiên Niệm, đăng lại trên báo mạng Cấm Văn [禁文]. Ông nhận xét về lịch sử như sau:

     “ Cái chìa khoá khiến Trung Quốc mất biển, do trải qua các triều đại thống trị không có quan niệm về chủ quyền biển ”

     [中国失去海洋的关键是历代统治者没有海权观念.]

    Nhận xét đó có phần đúng,quả thật trong sử chí quan phương [官方, official] của Trung Quốc, không có tư liệu nào khẳng định chủ quyền của nước này tại Biển Đông.

    HBT.

    nghiencuulichsu.com/2017/12/01/

    Mục lục: 1 2

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập35,895,095

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/