Truyện ngắn
15.11.2011
Ngọc Giao
Một chuyện quái đản

Chiều hôm ấy, tôi lại vào vườn táo, trèo lên một cây, vừa bứt quả chín ăn, vừa nhìn ra đường, mong đợi lão già cô độc. Trời đã nhá nhem tối. Bọn lái buôn ở chợ Ráy bên sông Lục đã quảy gánh trở về, lũ lượt đi qua ngoài rào tre, trò chuyện ồn ào, vui vẻ mà tôi vẫn chưa thấy ông già thân yêu đó tới gõ cửa, âu yếm gọi tên tôi.


Lòng tôi bồn chồn, khắc khoải, tay tôi uể oải không muốn vin những cành mềm dẻo, đầy những chùm táo ngon lành. Ô hay, tôi nhớ ông cụ già khốn khổ mà bấy lâu nay tôi không biết tên tuổi, không biết cửa nhà, tông tích ra sao! Chỉ biết ông ta cứ cách một ngày lại tới thăm cha tôi vào lúc trời sẩm tối. Mỗi lần đến, không bao giờ ông ta quên giắt trong mình một hộp thuốc phiện và mang làm quà cho tôi vài thứ quả rất ngon. Nhưng mong ông ta đến chẳng phải tôi thích những thứ quà kia vì trong vườn nhà tôi suốt bốn mùa hoa thơm, quả lạ khá nhiều. Mong ông, bởi tôi được gặp gỡ người bạn quý của tôi mà bất cứ đi đâu, ông cũng dắt kèm. Người bạn ấy là con khỉ nhỏ, hình như hiểu biết tiếng người. Tôi đùa nghịch với nó trong khi ông cụ và cha tôi nằm bên khay đèn tiêm thuốc, luận bàn về thời thế, thi văn. Khi ấy tôi còn nhỏ tuổi, tôi không hiểu ông nói những gì, mãi đến lúc lớn lên, hay mãi đến bây giờ, tôi mới rõ nghĩa những câu ông ngậm ngùi than thở với cha tôi.


Buổi chiều hôm ấy, ngồi trên cành táo, mỏi mắt trông mà tôi không thấy ông già rảo bước trên con đường lồi lõm ven sông. Buồn rầu, tôi tụt xuống đất, vào nhà hỏi cha tôi tại sao ông già chẳng tới. Song cha tôi lắc đầu không đáp và bảo tôi đem sách ra ôn lại các bài. Tôi cúi đầu, mở sách học, nước mắt chạy quanh.


Ngoài vườn gió đông vi vút, thỉnh thoảng những cành lá úa, những trái cây chín nẫu rơi xuống ao kêu lõm bõm.


Cha tôi nằm trên nệm ấm, kéo những hơi thuốc thật dài, đều đặn, mùi khói thơm tỏa khắp gian phòng. Một luồng gió lùa vào khe cửa, tôi rùng mình, vội kéo chăn quấn quanh mình, thò đầu ra học. Chợt tôi nghĩ đến ông già… ông già ở chốn nào bên kia sông xa lắc xa lơ.


Rồi tôi tưởng tượng thấy ông ta đang ốm nặng, áo quần không đủ ấm, túp lều chẳng đủ che mưa. Tôi đoán ông nằm dán xương trên chiếc phản, chẳng có ai hầu hạ vì một lần, ông xoa đầu tôi, cười bảo: “Ước gì ta có một cậu bé khôi ngô ngoan ngoãn như cậu bên mình thì cuộc đời cũng đỡ tẻ buồn. Nhưng ác thay, ta cô đơn, không con, không cháu, không thân thích, họ hàng, đến cả một đứa tâm phúc cũng không có nữa!”.


Hôm sau, tôi lại ngồi trên cây táo, ngóng đợi ông già bên sông. Song bảy tám ngày ròng rã mong chờ, tôi thất vọng. Tôi lạt lẽo với lũ trẻ bên hàng xóm, như mọi ngày, kéo tôi ra bãi chợ chạy đùa, đá bóng. Tôi không nhìn đến cái lồng tre đặt tại gốc cau mà tôi đã nhờ anh bếp Lào làm hộ để bẫy chim. Suốt ngày tôi thẫn thờ, nhác việc học hành. Nếu hồi ấy tôi đã lớn khôn thì hẳn có người chế tôi là tương tư gái, nhưng mới mười một tuổi tôi đã biết yêu đương là gì!


Cha tôi từ khi không gặp ông già hình như cũng tần ngần, buồn bã. Những lúc nằm bên khay đèn nha phiến, tay dờ dọc tẩu, đôi mắt lim dim dưới cặp kính, nhả tia khói mảnh vờn ngọn lửa liu riu rồi hãm ngụm nước chè tàu hoặc miếng lê, miếng táo là những lúc cha tôi bâng khuâng nhớ đến ông già tri kỷ. Lão già đi mất tức là chúng tôi thiệt một khách đồng hương tử tế giữa lúc sống ở nơi nước non người. Vì khi chúng tôi mới đặt chân trên đất Ai Lao chừng hai ba tháng thì do sự ngẫu nhiên mà cha tôi và ông già vô danh đó biết rồi quen. Quen, ông già trở nên khách quý của nhà tôi. Luôn luôn cha tôi hẹn ông già đến chơi uống rượu, đáp lại tâm tình tri ngộ ấy, ông già thường cũng làm quà cho cha tôi những con chim lạ mà ông bẫy được trong rừng. Vợ con ông, cách sinh hoạt, nơi trú ngụ của ông, cha tôi hỏi, ông chỉ cười không muốn nói. Đến cả tên ông, quê quán ông, cha tôi chỉ biết mập mờ: “Lão Xương, tuổi dộ 55, 56 (ở tuổi ấy, nhưng ông đã già yếu lắm) và quê quán: tỉnh Cao Bằng ngoài xứ Bắc. Thế thôi. Tất cả những nét đau khổ in trên khuôn mặt dày dạn phong trần, tất cả những lời mỉa mai cay đằng trộn trong câu thơ, bài phú, diễn trong tiếng nói, giọng cười, chỉ bày cho người ta biết một lai lịch gọn gàng, thế thôi!


Bởi vậy, từ ngày vắng mặt ông già, chúng tôi chẳng thể tìm ông tại xó rừng nào bên sông.


Tôi, một ngày một lớn, đã bước qua thời kì thơ dại. Cách bảy năm không thấy ông già, tôi quên mùi vị những trái cây thơm ngọt mà xưa kia ông già vẫn nhét đầy túi áo tôi mỗi lần tôi niềm nở đón ông ngoài ngõ; tôi quên những tiếng cười trong trẻo, vô tư lự mỗi khi tôi đùa nghịch với con khỉ trên cây táo trong vườn; rồi ông già cô độc, tôi cũng quên… tôi cũng yên trí lão đã ôm con vật có nghĩa kia, nằm chết rấp dưới một gian điếm cỏ, hay trong một góc rừng sương gió.


Bỗng một ngày kia, ở trường học về tới cửa, tôi thấy ông già đang ngồi một mình bên cửa sổ, không ai tiếp, vì cha tôi đi vắng từ tuần lễ trước. Mừng cuống quýt, tôi vội quẳng sách ra bàn, nắm chặt hai tay lão. Cảm động, lão ngắm tôi bằng cặp mắt khô và nhếch mép cười, lão cũng mừng tôi chóng lớn. Tôi gọi người nhà pha nước và bảo dọn cơm mời lão cùng ăn. Tôi hỏi lão về mấy năm chia biệt, lão đáp tôi một cách ngại ngùng, kín đáo. Tóm lại, tôi chỉ biết trong mấy năm đó, lão không ở xứ Lào. Ăn cơm xong, lão định ra về, tôi xin lão cho theo thăm cái ổ mà lão giữ bí mật từ xưa.


Chúng tôi thuê đò qua sông. Đến bờ bên kia, lão dẫn tôi đi trên một cánh đồng ngô dưới chân dãy núi đá, cheo leo, hóc hiểm. Tới gần khu rừng rậm, tôi tưởng lão rẽ sang con đường tắt để vào trong đó, nhưng không, lão đưa tôi ngoặt về đằng chân núi, lẻ loi một túp lều tranh lẩn trong cây cối um tùm. Lão mở khóa dắt tôi vào. Tôi ngắm cảnh bài trí sơ sài, giản dị: một chiếc hòm cũ, một chiếc phản hẹp phủ manh chiếu tồi tàn. Phía đầu giường, kê chiếc đôn gỗ, trên đặt một pho tượng trắng hình một thiếu nữ Lào. Tôi ngẩn người ngắm kĩ, trời ơi, một người… có lẽ hơn bảy năm ở cái đất Lào này tôi chưa từng thấy thiếu nữ nào có nhan sắc đẹp như pho tượng đó.


Lão Xương mỉm nụ cười tinh quái, vỗ vai tôi:


- Cậu cũng ngây ngất vì sắc đẹp của pho tượng này ư?


Tôi đỏ mặt chưa kịp đáp thì lão lại nói một cách thương yêu:


- Mà cậu không thể vô tình là phải. Bởi vì, với tuổi mười chín, đôi mươi, cậu đã biết chút ít việc đời.


Lão Xương vừa nói vừa mở hòm lấy ra một khay đèn thuốc phiện bày lên mặt phản. Rồi lão bảo tôi ngồi cạnh trong khi lão trân trọng lắp chiếc diện tẩu vào dọc và bật que diêm gí lên ngọn bấc đèn dầu lạc. Tôi đang nhìn lão lăn tiêm thuốc thì một con khỉ đu mình trên một cành cây nhảy xuống, bám chiếc chấn song gỗ, chui vào. Nó nhìn tôi, rồi như nhận thấy người quen cũ, nó chạy đến nắm áo tôi kêu mấy tiếng vui mừng. Lúc ấy, lão Xương vừa tiêm xong điếu thuốc, bảo tôi:


- Đấy, người bạn cậu hồi còn nhỏ tuổi. Ngày nay cậu đã lớn, mà nó cũng già rồi.


Con khỉ khẽ vuốt má tôi, đoạn nó nép mình vào áo tôi, ủ cho đỡ lạnh.


Lão Xương, chống khuỷu tay xuống gối, từ từ ngồi dậy, phun một tia khói trắng, khéo làm cho nó bay lên pho tượng, tỏa lan như một đám mây mờ bao phủ mặt hoa của vị bạch thần.


Ngạc nhiên, tôi nhìn kỹ lão Xương. Hai mắt lão, trong phút đó, in một nét buồn vô hạn: cặp môi đã thâm xám sẵn, lúc ấy lại như nhuộm thẫm sắc chàm. Hai bàn tay run lẩy bẩy đưa về pho tượng đẹp nõn nà như một người bị đuối chơi vơi cố vịn chiếc phao trên mặt nước, hay một người mê ngủ đang theo đuổi cái bóng mơ hồ của giấc mộng tàn…


Lão lại nằm xuống, tiêm điếu thuốc khác và thở khói lên pho tượng, làm cái việc kỳ quặc ấy lão tưởng chừng cạnh lão không có một người đang lạ lùng hết sức. Con khỉ bỏ tôi, bò đến, hểnh mũi lên hít khói. Thì ra - tôi nghĩ bụng - lão già, con khỉ, và… cả pho tượng mỹ nhân đều nghiện nặng.


Mười phút sau, lão Xương mới sực nhớ đến tôi vì từ nãy lão còn mải hút. Lão ngồi dậy, chiêu ngụm nước, ôm ngực ho mấy tiếng, đoạn tháo diện ra, cạo xái vụn đổ vào chiếc chén con, vừa nghiền cho quánh, vừa mời tôi uống bát nước chè đã nguội.


- Cậu Hoa! Bữa nay không những cậu được rõ túp nhà gianh bí mật, cậu lại còn được nghe một chuyện lý thú tôi sắp kể đây. Không còn trẻ thơ, ngây dại, cậu đã lớn lắm rồi, cậu đã đến thời kỳ phải biên chép vào khối óc những sự dở, hay…


Lão Xương rỏ thêm một giọt nước vào chén xái, cầm kéo cắt cái hoa lửa “bám trên đầu bấc, xoay lại chiếc chụp pha lê vỡ rạn, có một vệt cánh kiến khoanh ngang.


“Hồi tôi ngoài hai mươi tuổi, tôi sang xứ Lào này làm việc. Khi xưa, người mình xuất ngoại không có mấy, nên ở đây tìm một người cùng xứ sở để kết thân không phải dễ dàng. Ngày đi làm hai buổi, tối lại thui thủi một mình với bóng, hoặc đọc sách đỡ buồn. Nhất là một trai chưa vợ đang cường tráng, hoạt động, ngông cuồng, khao khát tình yêu, lại sống lạt lẽo thì chịu làm sao! Nhưng tôi buồn chán không lâu, vì cái thú thiêng liêng mà tuổi trẻ ước ao được nếm đã tràn ngập linh hồn tôi vào một buổi tối mùa đông mưa gió…


“Tối ấy, tôi toan tắt đèn lên giường ngủ thì có tiếng người gọi cửa, tiếng gọi rất mau. Tôi vừa rút chiếc then thì người bên ngoài đã vội vàng đẩy mạnh, hai cánh cửa mở toang, khiến tôi suýt ngã. Dưới ánh đèn, tôi định thần nhìn kỹ: một thiếu nữ, trời ơi! Khách lạ có vẻ sợ sệt, cuống cuồng, hình như một tội nhân trốn ngục, hình như có kẻ thù theo dõi sau lưng để hại… Nàng đứng nép vào khe tủ, thân hình co quắp, lẩy bẩy run tựa chiếc lá khô sắp rụng. Màu da tái lợt, nàng hoảng hốt nhìn ra bóng tối chập chờn. Biết nàng lo sợ, tôi vội khép cửa, gài then, và chặn thêm một chiếc bàn to để nàng yên dạ. Rồi tôi mời nàng ngồi xuống ghế, hỏi duyên cớ vì đâu mà nàng phải hãi hùng… Nàng chỉ ngó tôi, không hé miệng. Tôi đoán nàng ngờ tôi không thực lòng che chở cho nàng. Sau biết nàng mệt và đói, tôi gọi tên lão bộc Lào, bảo thổi cơm, đốt củi… Trông thấy lão bộc của tôi nàng rú lên một tiếng, níu lấy áo tôi, hai hàm răng đánh vào nhau cầm cập. Tôi ngờ: có lẽ nàng đang bị một người chồng đồng chủng định hại nàng, nên sợ lây đến cả tên đầy tớ của tôi!


“Nghĩ vậy, tôi nắm chặt tay nàng giới thiệu tên đầy tớ nọ là một kẻ trung thành, thân tín, quyết không xâm phạm đến nàng. Lúc đó, nàng mới yên tâm, ngồi cầm khăn tay lau mặt, sửa lại mái tóc, thấm những hạt nước mưa đọng trên xiêm áo.


“Một lát sau, mâm cơm đã đặt trên bàn. Không chờ tôi mời hai tiếng, nàng cầm đũa ăn một cách tự nhiên. Trong nửa giờ, các món ăn và nồi cơm đã hết, nàng ngồi bên lò than nóng sưởi tay, ngẩng mặt nhìn tôi như thầm cảm tạ. Tôi cũng kéo ghế ngồi bên; bấy giờ, nàng mới cho tôi biết rõ tên nàng là Sánh Mải, một người trong Hoàng phái đức vua Lào, song mẹ cha mất sớm, nên phải sống như một kẻ thường dân. Nàng ở về phía bắc giáp khu rừng Lao Bản, làm nghề dệt vải nuôi thân. Đang sống những tháng năm yên tĩnh thì bữa kia, một gã thanh niên bên hàng xóm, vì nhiều phen xin nàng ban cho tình yêu nhưng thất vọng, gã sinh dạ oán hờn. Rồi nhân một hôm nàng ra chợ bán hàng, gã châm lửa đốt nhà nàng.


“Bơ vơ, nàng ra tỉnh thuê gian nhà nhỏ, cố công tần tảo kiếm tiền. Mừng thầm không ai phiền nhiễu nữa, thì chợt một buổi tối trời, đang theo tên phu quẩy gánh hàng từ chợ về tới cửa, không ngờ, nàng nghe rõ mấy lời đe dọa sau lưng. Ngoảnh lại, nàng nhận thấy cái mặt xấu xí thô bỉ của kẻ thù xưa. Nàng vội chạy vào nhà, đóng cửa, gã kia vụt nhanh như chiếc bóng, cười gằn mấy tiếng, đoạn biến vào ngõ hẻm. Từ hôm đó nàng ít ăn ít ngủ, sớm tối lo buồn.


“Một buổi, nàng mang vải sang một nhà phú hộ bên sông bán. Bán xong, theo đường cũ ra bến nước đáp đò về thì bỗng nàng trông thấy kẻ thù đã đứng chờ dưới một gốc cây. Sợ hãi, nàng quay mình lại, rảo cân lẩn vào cánh đồng ngô rậm rạp, chạy đến nhà tôi, liều đập cửa…


“Rồi đêm ấy…


“Ánh lửa trong lò than le lói hắt lên khuôn mặt trái xoan, trắng mịn, hắt lên cặp mắt đen tựa màu huyền trong sáng, chiếc mũi dọc dừa, với hai làn môi đỏ san hô vẽ một nét thanh thanh tuyệt mỹ… mấy vòng kiềng bạc khoanh dưới cái cổ trắng tròn, đôi vai đều đặn, bộ ngực nở nang và cả tấm hình tha thướt ấy. Ái tình ôi! Cho phép tôi yêu!


“Đê mê, tôi thèm cái quyền sở hữu người đẹp nọ, rồi đánh bạo, tôi kề sát nàng mà âu yếm. Nàng không cưỡng, mỉm cười.


“Rồi đêm ấy…


“Tôi bơi lội trong nguồn ân ái. Tôi biết hương vị của bông hoa bạt gió rơi xuống tay tôi do sự tình cờ…


Nói đến đây, lão Xương tiêm xong điếu thuốc kéo một hơi. Lão lôi con khỉ đến gần, thở khói vào mũi nó. Con vật nhìn tôi nhảy nhót, làm như khoan khoái lắm.


“Từ đấy, nàng không rời tôi ra nữa. Sống cuộc đời tốt đẹp, chúng tôi vui sướng vô cùng. Mê tôi quá, yêu tôi quá, lúc nào cũng muốn gần tôi, nên nàng bảo tôi xin nghỉ việc ngồi nhà để nói chuyện với nàng và một điều cốt yếu là để che chở nàng, nếu chẳng may kẻ thù kia quấy nhiễu… Trước tôi lưỡng lự, e rằng không làm việc, tất chẳng có tiền tiêu. Nhưng nàng giơ cho tôi xem một cuốn giấy bạc lớn mà nàng giắt tận túi áo trong, tôi mới bằng lòng. Thế là suốt ngày đêm chúng tôi chỉ ăn, ngủ và hút. Ở nơi sơn dã rất buồn, không có một cách gì giải trí, nếu chẳng kết bạn cùng thiếu nữ Phù dung. Bộ bàn đèn, bởi vậy không một phút nào xa cách chúng tôi. Nàng tiêm rất khéo, ép tôi hút thực nhiều. Đầu tiên, tôi còn bị say, khiếp sợ, sau mùi khói thơm tho, những phút linh hồn bay đến cõi mông lung, huyền ảo, trong ít bữa, đã xui tôi ca tụng thú ả phiến. Chúng tôi thi nhau hút, hút thâu đêm suốt sáng, Phù dung trộn với ái tình, say sưa… Thế rồi tôi mắc nghiện. Tinh thần tôi nặng nề, u tối; thể chất tôi yếu ớt, gày, xanh. Trái lại, người yêu tôi một ngày một đẹp, đẹp hơn lúc tôi mới biết nàng.


“Cứ thế, chúng tôi quên non sông, vũ trụ, mà nỗi lo về kẻ thù theo dõi bấy nay cũng dần tiêu tan hết…


“Chẳng ngờ, một buổi tối hè trăng gió, chúng tôi hút xong, mở toang cửa sổ cho khỏi nóng thì bỗng một cái mặt người dữ tợn hiện ngoài song gỗ, rồi biến mất…


“Nàng thét lên một tiếng ôm chập lấy tôi, run lẩy bẩy, nước mắt chạy quanh.


“Chúng tôi, từ đêm ấy, buồn bã vô cùng. Ngày, chúng tôi không ra khỏi ngõ. Đêm chúng tôi lo có kẻ rình mò, nghe ngóng, tuy các cửa đã khóa kỹ càng.


“… Một buổi chiều, nàng đờ đẫn nhìn ra rừng cây, cánh đồng ngô bát ngát… Trầm ngâm hồi lâu không nhúc nhích, vẻ mặt nàng thê thảm như vừa nghĩ đến những điều đau thương trong ký ức hãi. Ái ngại, tôi khẽ rỉ tai nàng:


“- Em…


“Ngoài câu đó, tôi không biết nói gì hơn nữa. Nàng ngoảnh lại nhìn tôi, khiếp hoảng:


“- Trời ơi, em tưởng…


“Ấp tay lên ngực để trấn định trái tim đập mạnh vì sợ hãi, nàng bảo tôi ngồi sát bên mình, ngả đầu sang vai tôi ủ rũ.


“Anh Hoa! Anh tha lỗi cho em… Em dối anh, em lừa anh tội nghiệp! Anh yêu em, em biết… Đôi lúc, em muốn đền ơn… nhưng không ngờ, em đền ơn bằng cái lụy. Em hối hận lắm, vì vậy, bữa nay, em thú với anh đời thực của em… Nghe em nói, anh đừng giận, xin anh chỉ chút tình thương.


“Câu chuyện em nói với anh buổi đầu không phải chuyện thực. Em bịa ra để cầu sự thương xót của anh. Em chẳng là một trinh nữ, - khốn nạn! Em là con yêu quái hại người. Em không là một người của Hoàng phái xứ này… Em, sự thật cùng với anh giống nòi: một thiếu nữ mười năm về trước sống ở Hà Nội. Vâng ở Hà Nội, hồi ấy em mới có mười lăm. Nhưng sớm bị dạn dày với tình yêu, rồi lăn lóc với người đời. Em yêu hết người này, khi chán, lại đến người kia… rồi trong cuốn sổ tay ghi tên tuổi các gã nhân tình, em thấy tên một chàng lính lê dương đáng để em âu yếm nhất. Sau, chàng lính đó hết hạn tòng cơ, em theo chàng sang đất Lào lập nghiệp. Ở đây chẳng được bao lâu, chàng mắc bệnh thương hàn mà chết. Đang lúc bơ vơ, một gã trai trẻ người Lào cầu em gắn bó. Em ưng thuận, vì sau cuộc dò la kỹ lưỡng, em biết gã có thể làm cho em sung sướng, giàu sang. Quả vậy, gã không phụ lòng sở nguyện của em. Gã hẹn cùng em làm một nghề tuy nguy hiểm nhưng mau giàu: nghề buôn thuốc phiện không chịu thuế. Có tiền, em tha hồ phung phá, đánh bạc. Trong cuộc đỏ đen, nhiều lần em mất tới hàng ngàn.


“Hồi vận đang may, bỗng một chuyến buôn chúng em gặp lính đoan rình sẵn trong rừng. Gã bạn của em trốn thoát, riêng em bị bắt và “gánh” nửa năm tù! Nằm đề lao hai tháng, không chịu nổi, sau nhờ một dịp may, em vượt ngục vào một đêm giông tố…


“Ra ngoài, gã bạn em muốn nối lại tình xưa, rủ em làm nghề nọ… Em liền đi chuyến nữa, kết quả được phát tài. Nhưng sở tuần phòng truy nã riết, em sợ hãi phải bỏ y phục An Nam, đeo lốt người Lào. Sau vì một sự bất bình riêng, em bỏ gã kia; oán thù, gã định tố cáo tội em… Rồi đêm ấy, đang đứng bên bờ sông vắng, em gặp gã theo rình, em chạy đến gõ cửa nhà anh… núp mình dưới bàn tay che chở của anh… anh yêu em, tuy vậy, em ngờ sẽ có ngày anh hững hờ chán ghét, đuổi em đi… nên em nhẫn tâm, cố ép anh hút thuốc… bây giờ than ôi, anh nghiện nặng… anh tha thứ cho em…


“Nghẹn lời, nàng bưng mặt khóc rưng rức. Lòng tôi tê tái, nổi giận điên cuồng. Thế ra, tôi bị lừa. Tôi đã ôm ấp một con rắn độc? Tôi đã yêu, tôi đã nghiện vì một kẻ nữ tù vượt ngục đó sao?


“Tôi muốn bóp cổ con tinh ấy…, tôi muốn, nhưng một khuôn mặt đẹp như hoa, một tấm mình thanh như liễu… ai nỡ lòng nào!


“… Tối sau, chúng tôi hút xong, vừa đi nghỉ thì cánh cửa lung lay, tựa có người đẩy mạnh. Như linh tính báo trước, nàng can đảm vùng ngồi lên, lật gối lấy chiếc dao nhọn, nắm chắc trong tay, rón rén đến nép mình trong khe cửa, hai mắt giương to… Tôi cũng đi nhẹ chân, cầm một vật thủ thân, tiến đến cạnh nàng… Dần dần, cánh cửa hé to, một cái đầu rũ tóc đen trũi thò vào… Quả quyết, nàng giơ thẳng mũi dao, hạ xuống… Một tiếng kêu, tiếp đến một người ngã lăn xuống đất.


“Nàng đánh diêm soi, nhận thấy rõ xác kẻ thù, nàng hả hê, cười lạt. Tôi choáng váng, nhìn mấy dòng máu đỏ chảy loang.


“Khắp tỉnh ồn ào về vụ giết người mà thủ phạm là một thiếu nữ tuyệt xinh, người ta tưởng hai bàn tay trắng nõn không đủ sức trói con gà nhỏ. Ra tòa, nàng bị án khổ sai biệt xứ. Thế là tơ duyên đứt đoạn, nhìn nàng đeo áo số ra đi, tôi đau đớn biết nhường nào…


“… Ba mươi nhăm năm qua mất, đến bây giờ là cõi già nua! Nàng đi, tôi vẫn sống trong gian nhà cũ và muốn lưu lại chút kỷ niệm tình xưa, tôi vẽ hình nàng rồi thuê một nhà điêu khắc tạc thành pho tượng mà tối nay cậu trông thấy. Mỗi lần tiêm thuốc, tôi nhả khói lên pho tượng, làm thế, tôi muốn nàng trọn kiếp say sưa… Bảy năm qua, cậu không thấy mặt tôi vì (hẳn cậu không ngờ) tôi sang xứ khác để theo nghề buôn thuốc của nàng. Nhưng rủi ro, năm phen thất bại, năm phen tôi phải ngồi tù. Hết hạn tù lần chót, tôi chán nản không còn chí làm giàu nữa.


Hiện giờ, tiền hết, lực suy, tôi an phận nghèo mà vui sống nốt quãng tháng ngày tẻ lạnh…


Đó, cái dĩ vãng của tôi, - tôi, một lão già khốn nạn bỏ quê hương mà lăn lóc nơi xứ lạ, đất người bấy nay”.


Đêm càng khuya, gió càng thổi rít từng hồi ngoài rừng. Lão Xương đốt đuốc đưa tôi ra bến dắt tay tôi tiễn xuống thuyền. Chờ tới lúc tôi đã đặt chân trên bến bên kia, lão mới quay về nơi xóm vắng… Trong khoảng tối tăm mờ mịt, bó đuốc trên bàn tay run rẩy của lão già cô độc bốc cao ngọn lửa, rồi khoảnh khắc, chỉ còn chút than hồng bay tan tác trong sương…


***


Nửa tháng sau, một buổi sáng, lúc đẩy tấm cửa gỗ đổ xiêu mục ải, bước vào gian nhà ẩm thấp, tôi rợn mình, trông thấy lão Xương… lão Xương, hai chân quặp vào đống chăn cũ rách, nửa người buông nghẹo xuống gần mặt đất tanh hôi đọng vài giọt máu đã bầm tím. Bên sườn lão, bộ khay đèn bẹp vỡ, năm hộp thuốc phiện mở nắp sạch như chùi. Con khỉ co quắp nằm cạnh cái xác người, còn pho tượng khỏa thân như bị ai đập nát, tan thành nhiều mảnh, rải rác ngổn ngang…


Trong cảnh tàn khốc ghê gớm ấy, tôi thấy thần trí rối loạn, và thở dài, tôi lẳng lặng quay ra. Tôi phân vân, không thể đoán chắc rằng lão già và con vật khốn nạn kia chết vì no thuốc hay vì đói thuốc, hay vì quá điên cuồng, hay vì không chịu nổi những ngày trơ trọi.


In trong Một đêm vui, tập truyện ngắn, NXB.  Tân Dân, H., 1937.


Nguồn: Rút từ Bến đò Rừng. Truyện ngắn Ngọc Giao. Nguyễn Tuấn Khanh tuyển chọn. NXB.  Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 


 

trieuxuan.info