09.08.2011
Hà Minh Đức
Nguyễn Đình Thi-Chim phượng bay từ núi (1)

LỜI MỞ


Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi là một chuyên luận nghiên cứu về văn thơ, kịch Nguyễn Đình Thi. Một phần quan trọng khác của cuốn sách là tư liệu văn học: Ghi chép những cuộc trò chuyện của Hà Minh Đức với Nguyễn Đình Thi và những bài nói của Nguyễn Đình Thi mà bạn đọc còn ít được biết đến.


Nguyễn Đình Thi là nhà văn tài hoa, có sức sáng tạo lớn. Những bản nhạc mùa đầu cách mạng Diệt phát xít, Người Hà Nội còn đi mãi với thời gian. Thơ Nguyễn Đình Thi với những đổi mới khác với cảm hứng, thi pháp quen thuộc của Thơ Mới. Nguyễn Đình Thi không chấp nhận những nẻo đường cũ. Tác giả là nhà lý luận luôn có mặt ở biên giới của sự sáng tạo với tư cách của người tìm đường. Ông cũng là người tạo được sự đồng hành giữa lý thuyết và thực tiễn ngay ở những tác phẩm văn học đầu. Nguyễn Đình Thi nhận thức được sâu sắc bản chất và những biểu hiện phong phú của cuộc đời mới và văn học phải có sứ mệnh thể hiện. Do đó, ngay từ những trang văn xuôi đầu tiên trong Xung kích và những truyện ngắn Bên bờ sông Lô đã nói lên được một phần cái náo nức của cuộc đời mới qua một bút pháp mới. Ông xem tiểu thuyết là “máy cái” của một nền văn học; bộ tiểu thuyết Vỡ bờ là một đóng góp vào sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Những vở kịch của Nguyễn Đình Thi thể hiện sự tìm tòi trong khu vực nghệ thuật tưởng như đã ổn định. Sẽ còn lại với thời gian những tác phẩm mang tâm huyết và tài năng của nhà văn lớn hàng đầu của văn học cách mạng.


Tháng 5-2010


 


Phần I. CHUYÊN LUẬN


CHƯƠNG MỘT


SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI


Nguyễn Đình Thi là nhà văn mà sự nghiệp văn học chủ yếu được hình thành và phát triển từ sau Cách mạng tháng Tám. Trước khi đến với văn chương, ông viết sách triết học, văn chính luận và tham gia tích cực trong phong trào học sinh sinh viên yêu nước và Hội Văn hóa cứu quốc. Tuổi trẻ đấu tranh và hòa nhập trong không khí cách mạng, Nguyễn Đình Thi đã khẳng định sâu sắc tư cách công dân của người trí thức cách mạng và hơn thế nữa là nhà hoạt động chính trị xuất sắc trước khi đến với sáng tác văn nghệ, Nguyễn Đình Thi đã sớm gây được ấn tượng và nổi lên trong những năm đầu cách mạng và kháng chiến chống thực dân Pháp. Chất nghệ sỹ tài hoa phát triển, tuy chưa quy tụ vào một thể loại nào, nhưng những tác phẩm đầu tay về văn xuôi, thơ, chính luận, nhạc đã bộc lộ một tài năng đa dạng của nhà văn tuổi trẻ này. Các bài ca Diệt phát xít và nhất là Người Hà Nội đã nói lên tâm hồn nghệ sỹ đằm thắm thiết tha trước cuộc đời và cũng là những tác phẩm để đời, sống mãi với thời gian. Bài viết Nhận đường mang ý nghĩa như lời tuyên ngôn về nghệ thuật phản ánh nhiệt tâm và ý chí của đội ngũ văn nghệ sỹ một lòng đi với cách mạng và kháng chiến. “Văn nghệ phụng sự chiến đấu, nhưng chính kháng chiến đem đến cho văn nghệ một sức sống mới. Sắt lửa mặt trận đang đúc nên văn nghệ mới của chúng ta… Sống được cuộc sống kháng chiến của dân tộc, hiểu được hướng đi của dân tộc ta hiện thời, cảm xúc được những cảm xúc mới của kháng chiến, tất cả vấn đề sáng tác quyết định ở điểm ấy”. Nguyễn Đình Thi là người viết sớm tham gia lãnh đạo phong trào văn nghệ như một thành viên cốt cán, mới mẻ, trẻ trung và có tinh thần tiên phong. Tuy có viết một số cách triết học ở thời kỳ trước nhưng ông không thuộc lớp nhà văn “tiền chiến” đi theo kháng chiến như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nam Cao. Ông không có cùng tố chất với các nhà văn lớp trước. Sau lưng ông chưa có một điểm tựa và tác phẩm văn chương nào để khẳng định sự nghiệp. Tất cả còn ở phía trước. Vốn sống của Nguyễn Đình Thi ở thời kỳ trước Cách mạng không biểu hiện trực tiếp và gắn với vùng đất, vùng quê nào. Làng quê kháng chiến, đời sống chiến trường và những nỗ lực của người trí thức đi theo Cách mạng sẽ là đối tượng khai thác và miêu tả của Nguyễn Đình Thi trong các tác phẩm sau này. Lúc này, cũng như nhiều nhà văn kháng chiến tham gia các chiến dịch Việt Bắc, Sông Lô, Biên giới, Trung du, Nguyễn Đình Thi cũng hăm hở đến với chiến trường. Những truyện ngắn được in trong Bên bờ sông Lô là những trang văn xuôi nói lên những nỗ lực đầu tiên của Nguyễn Đình Thi đến với hiện thực chiến đấu của dân tộc. Nắm bắt được những nét đẹp và cảm động của đời sống kháng chiến, Nguyễn Đình Thi đã miêu tả với ngòi bút chân thực. Nguyễn Khải đã nhận xét đúng: “Mặc dù có một vài truyện đọc có thể không thích lắm nhưng nói chung Bên bờ sông Lô là một tập truyện tốt vì đọc xong cái không hay ta quên đi còn cái hay đọng lại, thấm sâu và nhớ mãi. Những chuyện đó tuy chỉ mới phản ánh được những mảnh rất nhỏ rời rạc của dòng thác kháng chiến, nhưng nó có tác dụng gợi cho ta nhớ lại những ngày sống vĩ đại đã qua, càng thấy rõ giá trị một ngày sống hiện đại trong không khí kiến thiết, cần phải trân trọng quý mến lấy nó” . Văn xuôi Nguyễn Đình Thi lấy cuộc sống làm điểm xuất phát. Chất khỏe khoắn mạnh mẽ của hiện thực đời sống trong những năm kháng chiến sẽ quy định và đòi hỏi cách viết khác trước: Không thể xuất phát từ ý tưởng cá nhân xa lạ mà phải dựa vào cuộc sống tuy còn có chỗ thô sơ nhưng tươi thắm và bền vững.


Tác phẩm Xung kích được viết sau chiến dịch Trung du là cái mốc đáng kể trong sự phát triển của văn xuôi Nguyễn Đình Thi. Sau những chuyến đi chiến dịch Trung du, Nguyễn Đình Thi viết Xung kích, một cuốn tiểu thuyết gọn, khỏe, phản ánh một giai đoạn mới của chiến tranh. Những trang viết về chiến tranh ở thời kỳ đầu cầm cự, về những trận công đồn còn mang nhiều tính chất du kích đã khép lại một chặng đường. Xung kích đã về trung du, với những chiến dịch kéo dài nhiều ngày đêm. Hình ảnh lính xung kích chụp mũ sắt, dáng người vạm vỡ, trang bị đầy đủ đã tạo được niềm tin cho mọi người. Những cuộc chiến đấu cũng được miêu tả quyết liệt, đánh mạnh, đánh giáp mặt kẻ thù. Xung kích báo hiệu cục diện chiến trường sẽ mở ra những trận đánh lớn của một thời kỳ mới. Nguyễn Đình Thi lúc này tuy chưa tạo cho mình được một phong cách trong văn xuôi nhưng rõ ràng lối viết của ông không mô phỏng theo văn chương thời kỳ trước. Văn mạnh khỏe, gần với đời sống, hợp với không khí chiến trường. Những trang viết của Nguyễn Đình Thi về người lính trong chiến tranh là kết quả của những chuyến đi cần mẫn, gắn bó và gan dạ với các chiến dịch từ các chiến dịch Trung du (1951), Hòa Bình (1952), Thượng Lào (1953) và Điện Biên Phủ (1954). Ông vẫn ước mong một ngày nào đó miêu tả được chân thực chiến dịch lịch sử giàu chất anh hùng ca và sử thi Điện Biên Phủ vào trang sách. Hòa bình lập lại, văn xuôi mở rộng đề tài. Một số nhà văn ngoài những trang viết trực tiếp về cuộc đời mới lại hướng về miêu tả xã hội cũ, một xã hội định hình và quá quen thuộc với những chất liệu đã có nhiều nhà văn khai thác. Nguyên Hồng với Sóng ngầm lại trở về với đề tài thợ thuyền Hải Phòng, Nam Định, để khai phá và tạo dựng công trình đồ sộ: bộ Cửa biển, Nguyễn Công Hoan với Tranh tối tranh sáng, Hỗn canh hỗn cư tiếp tục khai thác vốn sống cũ và tổ chức những cốt truyện và cách đánh giá mới về cuộc sống, con người. Tô Hoài viết Mười năm, cuốn tiểu thuyết nằm trong bộ ba tiểu thuyết Quê người – Mười năm – Quê nhà. Trong không khí chung đó Nguyễn Đình Thi viết Vỡ bờ, bộ tiểu thuyết với gần một ngàn trang phản ánh khá sâu sắc, chân thực bức tranh xã hội của thành thị và làng quê trong phong trào xã hội và đấu tranh cách mạng ở thời kỳ 1936-1945.


Nguyễn Đình Thi đã dựa trên trục không gian giữa ba địa điểm, hai thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng, và vùng quê Hải Dương làm cơ sở cho các nhân vật hoạt động. Hà Nội, môi trường chính trị - xã hội và văn hóa lớn; Hải Phòng, thành phố của thợ thuyền lao khổ và tinh thần kiên cường, vùng quê Hải Dương nơi nuôi dưỡng phong trào cách mạng. Các nhân vật đi về hoạt động giữa thành thị và nông thôn một cách tự nhiên, hợp lý. Nguyễn Đình Thi lấy tuyến nhân vật tham gia cách mạng như Khắc, Quyên, Lê, An, Hội làm dòng chảy chính, tuyến nhân vật ở thành thị như Tư, Toàn, Phượng, Thanh Tùng, để miêu tả môi trường văn hóa và sinh hoạt của người trí thức Hà Nội. Các nhân vật ở làng quê như Xoan, Mầm, Côi, nhất là Xoan, cũng được ghi nhận là nhân vật có bản sắc và gợi nhiều cảm mến. Bộ tiểu thuyết Vỡ bờ gồm hai tập và được xuất bản cách nhau tám năm (1961 và 1970) nên dư luận đánh giá tập sách cũng tập trung vào hai thời điểm trên. Tập I Vỡ bờ bộc lộ nhiều ưu điểm và được dư luận chào đón nhiệt tình. Tịnh Sơn với “Vỡ bờ”, một bước tiến mới của nền tiểu thuyết Việt Nam, Nguyễn Phan Ngọc với “Vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi, Chu Nga với Hình tượng người phụ nữ trong “Vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi. Thành công của Nguyễn Đình Thi trước hết là ở quan điểm đánh giá, nhận thức đúng đắn, sâu sắc một thời kỳ lịch sử. Nguyễn Đình Thi đã tổ chức một cốt truyện có tính hiện đại không theo cốt truyện truyền thống, một kết cấu chặt chẽ tạo điều kiện cho các nhân vật phát triển. Nhân vật nữ trong tác phẩm Vỡ bờ được xem là thành công hơn cả. Lại có ý kiến xem các nhân vật tiểu tư sản như Tư, Toàn, Hội… được Nguyễn Đình Thi miêu tả hấp dẫn và trội lên so với các nhân vật thuộc thành phần khác. Về mặt nhược điểm, các bài phê bình đều chỉ ra sự không đồng đều của những trang viết, những mặt phản ánh hiện thực và những loại nhân vật. Dường như dễ nhận thấy là phần viết về thành thị hay hơn nông thôn, sinh hoạt văn hóa gia đình, yêu đương hay hơn đấu tranh xã hội, nhân vật trí thức tiểu tư sản hay hơn nhân vật nông dân, công nhân. Sau này khi tập II được xuất bản lại thêm một vấn đề để so sánh: tập I hay hơn tập II, Nguyễn Đình Thi đầu tư nhiều công sức để chuẩn bị cho Vỡ bờ tập II, nhưng rồi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nổ ra với những yêu cầu xã hội bức thiết đã thôi thúc tác giả Vỡ bờ hướng về những vấn đề thời sự nóng bỏng hơn. Nguyễn Đình Thi viết hai tiểu thuyết tầm trung Vào lửa và Mặt trận trên cao phục vụ kịp thời cuộc chiến đấu. Đến năm 1970 khi tập II Vỡ bờ được hoàn thành, nhiều nhà phê bình có dịp đánh giá Vỡ bờ một cách toàn diện và đầy đủ hơn. Một số nhận xét chung xem “Vỡ bờ vẫn là cuốn tiểu thuyết quy mô tương đối lớn và có giá trị về nhiều mặt”  (Phan Cự Đệ), “Vỡ bờ có những thành công không nên phủ nhận và có những chỗ yếu không thể bỏ qua”  (Phong Lê). “Tiếng nói nghệ thuật của anh là tiếng nói thông minh mà hồn hậu làm cho chúng ta thêm thiết tha với lý tưởng cộng sản, thêm yêu quý tâm hồn núi sông, cây cỏ Việt Nam, biết sống thủy chung trong sạch và tế nhị hơn”  (Nguyễn Văn Hạnh). Vỡ bờ là tiểu thuyết có giá trị nhưng vẫn tồn tại những điểm chưa thống nhất xoay quanh các vấn đề về vốn sống, về đánh giá nhân vật. Vốn sống được các nhà phê bình lưu tâm qua cách cảm nhận về khả năng phản ánh hiện thực của tác phẩm Vỡ bờ. Cũng dễ thấy là khi Cách mạng tháng Tám thành công Nguyễn Đình Thi mới ở vào tuổi hai mươi. Xã hội cũ với biết bao cảnh đời khác nhau nơi làng quê hay chốn thị thành, niềm vui hay nỗi đau khổ bất hạnh liệu đã kịp trở thành vốn sống cho tác giả. Ông lại mở quá rộng phạm vi khai thác, có nông thôn và thành thị, có kẻ giàu có quyền hành như Nghị Khanh, huyện Môn, có những nông dân nghèo khổ như Xoan, Mầm, Côi, Quế, những người trí thức thành thị như Tư, Toàn, Thanh Tùng, Hội và thành viên tích cực của phong trào cách mạng như Khắc, Quyên. Các nhân vật trên đều thành công ở mức độ khác nhau và cũng khó so sánh với các nhân vật cùng loại rất thành công của văn học giai đoạn trước Cách mạng. Có người cho rằng nhân vật Hội không thể bằng Thứ trong Sống mòn của Nam Cao, Nghị Khanh không bằng Nghị Hách trong Giông tố của Vũ Trọng Phụng, các nhân vật tư sản và tiểu tư sản thua kém nhân vật của Tự lực văn đoàn; rồi làng quê trong Vỡ bờ mờ nhạt hơn làng quê của Chí Phèo, Tắt đèn. Cách suy nghĩ và đánh giá ấy là có căn cứ vì Nguyễn Đình Thi dù có tài năng đến mấy cũng không thể vượt qua được thành tựu cộng lại của những thành tựu trong quá khứ. Điều ấy ông không thể nghĩ tới, không dám nghĩ tới. Có lẽ ông đi theo một hướng khác, không đóng lại mà mở ra, không dồn nhân vật vào chỗ đau khổ tuyệt vọng để tố cáo xã hội cũ. Nguyễn Đình Thi muốn miêu tả các nhân vật trên dòng chảy tiếp cận với dòng chảy của cách mạng trong một phong trào và sau đó trong một cao trào. Hội không ở trong trạng thái quẩn quanh tù đọng như Thứ mà tìm đến tham gia phong trào cách mạng trong gia đình cụ Tú, Khắc là nhân vật cốt cán đã nhiệt tình tham gia cách mạng, đã có ảnh hưởng và lôi cuốn các nhân vật khác như Quyên, An… Chính vì thế mà bức tranh tổng hợp của Nguyễn Đình Thi trong Vỡ bờ không tránh khỏi có những mảng đậm nhạt khác nhau và nhân vật với đặc thù riêng đã phải bù đắp cho nhau. Nếu đứng tách riêng và dễ thấy phần hạn chế, nhưng chung đúc lại dễ tạo nên những quan hệ hợp lý. Tuy nhiên, có một nhân vật tạo nên nhiều ý kiến khác biệt đó là Phượng. Phượng là một cô gái đẹp, con một gia đình tư sản ở Hàng Đào, Hà Nội. Thời đi học, Phượng yêu Tư, một họa sỹ nghèo với tình yêu ban đầu trong sáng. Nhưng rồi Phượng không lấy Tư mà lấy huyện Môn theo sắp xếp của gia đình. Người con gái đẹp, thông minh này đã không thể tìm thấy hạnh phúc ở một người chồng tầm thường, tàn ác và bắt đầu bị cuốn vào vòng xô đẩy của đời sống thành thị của chuyện yêu đương phức tạp. Đời tình duyên của Phượng ngày càng nặng nề không tìm được lối ra và dẫn đến hành động tuyệt vọng. Phượng được cứu thoát và dần tìm lại niềm vui của cuộc sống từ chuyện nhàn rỗi ngồi may cờ cho đoàn thể do người em gái nhờ cậy đến niềm vui trong ngày Cách mạng tháng Tám thành công. Nhìn chung tính cách của Phượng phát triển hợp lý tuy tác giả Nguyễn Đình Thi tỏ ra nhiều lúc còn chiều chuộng và thiếu nghiêm khắc với nhân vật. Tuy nhiên, cũng không nên quá nặng nề khi cho Phượng là cô gái lãng mạn dần thành hư hỏng hoặc cho rằng Phượng không đủ tư cách để may cờ Việt Minh. Vỡ bờ là một bộ tiểu thuyết phản ánh nhiều mặt của xã hội Việt Nam thời trước Cách mạng đặc biệt là trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong sự bề bộn phức tạp của tình hình chính trị vẫn có một dòng chảy mạnh mẽ cuốn cả xã hội theo chiều hướng Cách mạng. Nguyễn Đình Thi đã thực hiện được chủ định của mình một cách thuyết phục trong tác phẩm.


Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là sự kiện lịch sử vẻ vang nhất trong đời sống chính trị của dân tộc đã lôi cuốn hàng triệu người hăng hái thực hiện lời dạy của Bác “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Chiến trường chống Mỹ gian nan, vất vả mà hấp dẫn, lôi cuốn. Quân đội ta vào cuộc với nhiều binh chủng mới được phát triển nhằm chống lại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của giặc Mỹ. Nguyễn Đình Thi đã đến với cao xạ pháo và không quân. Lúc này đã có nhiều tác phẩm ký, phản ánh kịp thời những trận đánh và tấm gương anh hùng trong chiến đấu. Nguyễn Đình Thi muốn kết hợp giữa sự thực của cuộc sống và khả năng hư cấu sáng tạo. Vào lửa và Mặt trận trên cao là hai cuốn tiểu thuyết viết kịp thời về đề tài chống Mỹ cứu nước. Vào lửa phản ánh một đơn vị cao xạ pháo với thế hệ những người lính trẻ có học, giàu nhiệt tình cách mạng, dũng cảm kiên cường trong chiến đấu. Nguyễn Đình Thi qua nhân vật chỉ huy Xuân cũng gửi gắm được nhiều suy nghĩ của tác giả với cuộc chiến đấu lớn lao của dân tộc. Vào lửa là một phác thảo khoẻ gần với cuộc sống. Chất ký in đậm nét trên trang viết. Nguyễn Đình Thi đã sáng tạo nên một cốt truyện như một đường dây linh hoạt bắt đầu và quy tụ các nhân vật vào một đường mối. Tuy nhiên cốt truyện còn đơn sơ, lỏng lẻo, chưa phải là những quan hệ vững bền và tiêu biểu của hiện thực. Mặt trận trên cao cũng là một tiểu thuyết thời sự. Binh chủng không quân còn non trẻ của ta mới xuất trận đã đạt được những thành tích đáng khích lệ. Những chiếc Mig 17 thường được gọi là én bạc đã dám đương đầu với những Thần Sấm, Con ma1 và giành thắng lợi. Cái khó với Nguyễn Đình Thi là vấn đề cốt truyện. Phải tạo được một cốt truyện thích hợp có quan hệ giữa trời và đất, giữa hậu phương và tiền phương. Các nhân vật Lương, Đào, Tuyển gây được cảm tình với người đọc. Tuy còn thấp thoáng, chưa phải là nhân vật có bề dày, có chiều sâu, nhưng họ mang theo bóng dáng của người thanh niên mới của thời đại. Hai cuốn tiểu thuyết Vào lửa và Mặt trận trên cao ghi nhận những nỗ lực rất đáng khích lệ của Nguyễn Đình Thi. Từ chân dung của người lính xung kích năm xưa trên chiến trường chống thực dân Pháp đến người lính cao xạ và không quân trong những năm chống đế quốc Mỹ đã khác đi rất nhiều về tình thế chiến tranh, vũ khí chiến đấu. Tuy nhiên, người lính vẫn mang phẩm chất của người lính năm xưa của chiến trường Đông Bắc, của Điện Biên Phủ. Nếu có khác là ở chỗ người lính thời chống Mỹ cứu nước được học tập đầy đủ dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, được trang bị những kiến thức khoa học tiên tiến trong những binh chủng hiện đại. Hình thái của cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ đánh miền Bắc diễn ra trong những thời gian và không gian nhất định và liên tục ở một địa điểm nào mà thường gắn nhiều hơn với những trục giao thông cầu đường, bến bãi, kho tàng. Do đó tạo một cốt truyện truyền thống vững chắc là khó khăn. Đa phần các tiểu thuyết ở thời kỳ này đều mang nhiều tính chất ký. Dựa trên một chuyến đi, một cuộc hành quân, một trận đánh chớp nhoáng của một binh chủng rồi mở rộng, thêm thắt chuyện của đời sống, của tình yêu để tạo thành cốt truyện. Nguyễn Đình Thi có thể cũng viết Vào lửa và Mặt trận trên cao theo tinh thần đó. Nhưng điều mà tác giả Công việc của người viết tiểu thuyết nhấn mạnh và xem là đặc trưng chính của tiểu thuyết là tính chất hư cấu của tác phẩm. Các nhân vật trong Vào lửa, Mặt trận trên cao được hư cấu thích hợp với những công việc mà họ tham gia, những sự kiện mà họ chứng kiến. Và điều quan trọng là tác giả Nguyễn Đình Thi đã có mặt, đã phản ánh kịp thời những sự kiện lớn của đất nước trên dòng chảy của thời cuộc và qua trang viết của mình.


 


Đất nước, cách mạng, chiến tranh và người lính, những chủ đề, hình ảnh lớn ấy luôn ám ảnh và đặt cho tác giả những suy nghĩ, trách nhiệm sáng tạo. Từ những nhân vật như Khắc trong Vỡ bờ đến Khá, Sản trong Xung kích rồi Xuân, Đức, Lương trong Vào lửa và Mặt trận trên cao, họ là những thế hệ kế tiếp nhau đến với cách mạng và kháng chiến, gánh vác những trách nhiệm lớn với non sông đất nước. Nguyễn Đình Thi muốn được nói, đối thoại, tâm tình qua những trang sách với tư cách người cùng thế hệ và nhiều lúc là đồng đội, đồng chí. Nguyễn Đình Thi xem tiểu thuyết là máy cái trong văn học và ông đã đầu tư nhiều cho tiểu thuyết trong suốt thời gian dài cầm bút. Tuy nhiên, Nguyễn Đình Thi rất xem trọng vị trí của thơ trong văn học và riêng với bản thân thì ông xem đây là thể loại bộc lộ được mình nhiều nhất và thơ Nguyễn Đình Thi cũng gây ấn tượng nhiều nhất với người đọc. Ngay từ lời bài hát Người Hà Nội đã có thể xem là một bài thơ hay hòa hợp được nhiều chất anh hùng ca, tình ca, vừa sôi nổi hùng tráng vừa thiết tha trữ tình. Đến với thơ Nguyễn Đình Thi đi theo một lối riêng, ông rất ít chịu ảnh hưởng của Thơ mới, và thơ ông cũng không mô phỏng tiếp nối thơ cách mạng thời kỳ trước 1945. Thơ Nguyễn Đình Thi là mạch tình cảm và giọng điệu của một thế hệ mới đến với cách mạng rất hồn nhiên, trong sáng và giàu ý thức trách nhiệm. Ông muốn nói cái mới với cách nói mới, không lệ thuộc và ràng buộc nhiều những yếu tố bên ngoài. Về thơ, Nguyễn Đình Thi có những quan niệm sâu sắc: “Tâm hồn chúng ta có một rung động thơ khi nó ra khỏi tình trạng bình thường, khi nó không còn chiều theo thói quen như một dây da trong bộ máy, khi nó thức tỉnh tự soi vào nó để tự nhận thấy đang ở một độ rung chuyển khác thường, do một sự va chạm nào với thời gian bên ngoài, với thiên nhiên, với những người khác, rồi do sự tự soi sáng ấy mà cảm xúc thành hình được hẳn” .


Với quan điểm nhất quán về thơ từ các tập Người chiến sỹ, Bài thơ Hắc Hải, Dòng sông trong xanh đến Tia nắng rồi Trong cát bụi, Sóng reo cảm hứng lớn trong thơ Nguyễn Đình Thi tập trung vào cảm hứng về cách mạng, đất nước, trong chiến tranh và dựng xây trên cái nền đó là số phận, là niềm vui và hạnh phúc của cá nhân theo năm tháng của cuộc đời.


Cảm hứng về đất nước xúc động và tươi mới trong tập thơ Người chiến sỹ đặc biệt ý thơ quy tụ trong bài Đất nước. Tình yêu đất nước thể hiện sâu sắc trong ý thức làm chủ cuộc đời từ bầu trời xanh cho đến những cánh rừng và ngả đường bát ngát. Lòng tự hào dân tộc từ truyền thống hàng ngàn năm kiên cường bất khuất cho đến những tháng năm hiện đại của quê hương chiến đấu.


Ôi những cánh đồng quê chảy máu


Dây thép gai đâm nát trời chiều.


Xen lẫn với những hình ảnh có phần ảm đạm là cảm hứng tin cậy vào tương lai của quê hương đất nước qua những hình ảnh đẹp và khỏe về đất nước.


Nước Việt Nam từ máu lửa


Rũ bùn đứng dậy sáng lòa


Nhưng rồi chiến tranh lại nối tiếp chiến tranh. Khó khăn lại chồng chất khó khăn, Nguyễn Đình Thi đã chứng kiến tột cùng những cảnh chết chóc mà kẻ thù gieo rắc khắp nơi. Này đây là Buổi chiều Vàm Cỏ đau thương:


Pháo địch đang gào hú


Phía chân trời


Bầy nòng nọc đen mang chết chóc


Sà xuống nhào lên cuồng điên


Buổi chiều ứa máu


Ngổn ngang những vũng bùn


Đất nước trong thơ Nguyễn Đình Thi được miêu tả chân thực, thắm tươi nhưng còn nhiều xót xa đau khổ và được cảm nhận với tình cảm trân trọng thiêng liêng.


Khi nhận định về những trang viết của Nguyễn Đình Thi, Hoài Thanh cho rằng Nguyễn Đình Thi nhìn nhận cuộc sống từ nhiều bình diện. Trong chiến đấu, nhất là trước yêu cầu cấp bách của chiến trường, thời cuộc sẽ dễ thiên lệch, một chiều: “Có những nhà thơ chỉ nói cái vui chiến đấu và chiến thắng. Nguyễn Đình Thi thì còn nói thêm những xót xa, mất mát và có lúc hình như anh nhấn quá nhiều. Nhưng trái lại cần nói anh hiểu rõ cái giá chúng ta phải trả, hiểu rõ phẩm chất cao quý của đồng bào, đồng chí chúng ta, hiểu rõ hạnh phúc to lớn chúng ta đã giành được” . Hoài Thanh đã nhận xét đúng về tình cảm trân trọng, tiếc thương của Nguyễn Đình Thi với những chiến sỹ đã khuất:


Để anh trên sườn núi vắng


Không biết có bao giờ trở lại


Một ngày về tìm anh ở đâu?


Giữa rừng nghìn lối cỏ lau


(Người tử sĩ)


Giữa hai thế giới cách biệt, kẻ mất người còn nhưng nhà thơ vẫn giữ trong lòng tình cảm yêu thương, gần gũi:


“Nắm súng chào anh lần cuối


Chúng tôi lại đi mê mải”


“Qua bến sông quen tôi về đây


Tìm mộ anh bên rừng mai cũ”


và khi chiến thắng, tác giả vẫn tưởng nhớ người đã khuất với lòng biết ơn:


Nằm lại những chân rừng đầu núi


Hôm nay bao đồng chí đâu rồi


Nguyễn Đình Thi có ý thức giữ cho tình cảm có chừng mực không gây cảm xúc quá đau thương. Những vần thơ trên thật đáng quý tạo cho tình cảm thơ trong chiến tranh chân thực, có chiều sâu.


Có một chủ đề trong thơ được tác giả quan tâm, ấy là hạnh phúc cá nhân trong cuộc đổi thay lớn lao của cách mạng. Không thể khác được trong hoàn cảnh đất nước chìm đắm trong khói lửa chiến tranh, gia đình không dễ được đoàn tụ trong bình yên. Bài thơ Không nói đã nói lên bao điều: yêu thương thắm thiết và xót xa trong cảnh chia ly. Sự xa cách và nỗi nhớ trong bài thơ mùa thu năm ấy sẽ không mờ phai mà ngày càng là tâm tư, là cảnh ngộ thực của nhiều người chiến sỹ trong cuộc trường kỳ kháng chiến:


Dừng chân trong mưa bay


Ướt đầm mái tóc


Em, em nhìn đi đâu


Môi em đôi mắt


Còn ôm đáy


Nhìn em nữa


Phút giây


Chiều mờ gió hút


Em


Bóng nhỏ


Đường lầy


(1948)


Buồn nhưng không quên trách nhiệm còn ở phía trước. Nguyễn Đình Thi cũng đã diễn tả sâu sắc nỗi nhớ của người chiến binh trong xa cách, nỗi nhớ thăm thẳm ngày đêm âm ỉ đốt cháy trong lòng khi nghĩ đến hậu phương:


Những đêm dài hành quân nung nấu


Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu


(Đất nước)


Có buồn nhưng không bi lụy, rất riêng tư nhưng luôn có ý thức gắn với cuộc đời chung. Một thế hệ chiến đấu để bảo vệ và xây dựng hạnh phúc, cái hạnh phúc của những người không nô lệ. Ông hiểu rõ mối quan hệ riêng chung gắn bó đến mức độ nào trong cuộc đấu tranh của cách mạng, nhất là trong chiến tranh. Phải chăng họ là những hạt thóc trong nắm tay cách mạng tung lên giữa mùa gió lớn và số phận gắn với chiều gió của thời đại? Nguyễn Đình Thi vẫn hằng khao khát viết về một tình yêu đẹp, trong sáng, có ánh sáng của lý tưởng và những tiếng nói gần gũi của trái tim yêu thương. Những giây phút như thế không nhiều nhưng thật đáng quý xiết bao:


Anh yêu em – vậy thôi – anh có em trong đời


Em niềm thương của anh, lo lắng của anh


Dòng sông không bao giờ yên của anh


(Trên con đường nhỏ)


Em yêu ơi, anh nhìn không mỏi về em


Em mát trong tỏa đầy nắng ấm


Anh yêu tiếng gọi thầm không nguôi nơi em


(Núi và biển)


Nguyễn Đình Thi có nhiều cách nói gợi cảm về tình yêu, thẳm sâu, không ồn ào và có những niềm vui lặng lẽ:


Tìm thấy nhau rồi không lạc nữa


Anh dắt tay em chạy giữa mưa


Cùng vui quá và cùng run quá


Đến nơi chưa từng biết bao giờ


(Buổi chiều ấy)


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi. Chuyên luận, trò chuyện và ghi chép của Hà Minh Đức. NXB Văn học sắp ấn hành.


www.trieuxuan.info


 


 

trieuxuan.info