Những bài báo
11.07.2011
Bùi Ngọc Minh
Bàn về câu Nghênh diện thu phong (Tảo giải) của Hồ Chí Minh

1.Tảo giải trích trong Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới đọc qua người ta thường lầm tưởng là hai bài tứ tuyệt thất ngôn có chung một nhan đề, đọc cho tinh vi kĩ  lưỡng lại thấy thi phẩm là một chỉnh thể nghệ thuật. Ở thủ tứ tuyệt thứ nhất, câu thơ kết cho đến nay vẫn có những cách hiểu khác nhau.


Phiên âm Hán - Việt:


                                 Nghênh diện thu phong trận trận hàn.


Dịch nghĩa:


                                 Gió thu táp mặt từng cơn từng cơn lạnh lẽo.


Dịch thơ:


                                 Rát mặt, đêm thu, trận gió hàn.


                                        (Nam Trân dịch, Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù, Nxb Giáo dục, Hà Nội,  năm 1993, trang 387, 388)


   Bài viết này chúng tôi muốn trình bày cách hiểu của mình về câu thơ trên ngõ hầu trao đổi cùng bạn đọc để tiếp cận chân lí.


2. Khi còn là học sinh cấp III (nay là THPT) vào giữa thập kỉ 70 của thế kỉ trước,và ngay cả khi đã là giáo viên trung học phổ thông tôi vẫn thấy trong Hướng dẫn giảng dạy (sách dùng cho giáo viên hệ 10 năm) và những đồng nghiệp cao niên (dĩ nhiên) vẫn hiểu câu thơ như sau: Nghênh diên thu phong trận trận hàn là: Ngẩng mặt lên, đón từng trận gió thu lạnh. Hai chữ nghênh diện trong nguyên tác được hiểu như sau: Bác chủ động, hiên ngang đón nhận gió rét, thách thức với khó khăn gian khổ. Đó chính là tinh thần thép, là phong thái ung dung, khí phách hào hùng của người tù - thi sĩ vĩ đại.


    Theo chúng tôi, cách hiểu trên đây xa lạ với phong cách, triết lí sống của nhân cách văn hóa lớn Hồ Chí Minh, xa lạ với phong cách nghệ thuật của Nhật ký trong tù, phong cách nghệ thuật của thi sĩ Hồ Chí Minh; nếu không muốn nói là người ta đã làm một việc mà tưởng là đề cao không ngờ lạo là sự hạ thấp, kính chẳng bõ phiền vậy. Thơ Hồ Chí Minh, một bộ phận cấu thành nhân cách văn hóa, triết lí, tư tưởng của Người, không bao giờ phô trương, lên gân mà thường vĩ đại trong những điều giản dị, bình thường, mà thâm thúy sâu xa. Đó là  phong cách  mong manh áo vải hồn muôn trượng (Tố Hữu). Cách hiểu trên có nghĩa: Hồ Chí Minh thách thức với giá lạnh, bất chấp qui luật thiên nhiên, thi gan với trời… Thiết nghĩ, một người bình thường khi gặp gió rét, theo phản xạ tự nhiên cũng biết cúi xuống tránh rét, huống hồ là Bác, người am hiểu quy luật. làm chủ, hành động theo quy luật. Cổ nhân có câu: Thắng trời là giả dối, thua trời thì tai họa, âu chỉ còn cách hòa hợp với trời, (có lẽ, ngày nay ta nên  hiểu trời trong câu nói của cổ nhân chính là quy luật). Một người như Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất thân trong một gia đình mà, ông ngoại là một cụ đồ Nho, ông thân sinh từng đỗ Phó bảng, một người từng tiếp xúc với nhiều nền văn hóa văn minh Đông Tây kim cổ, từng kết bạn với nhiều trí thức lớn ở phương Tây, không lẽ nào lại làm trái quy luật ?


   Có lẽ để tránh cách hiểu quá khiên cưỡng trên, trong bài viết về Tảo giải trong Một số bài giảng về thơ văn Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, năm 1984 lí giải về câu thơ này như sau:


    Về câu thơ “Nghênh diện thu phong trận trân hàn” cần được hiểu chính xác hai từ “nghênh diện” và cần đặt “trận trận hàn” trong mạch thơ và trong văn cảnh bài thơ. Điều này hoàn toàn  không thể bác bỏ trên phương diện lí thuyết tiếp nhận thơ. Nhưng đi vào thẩm bình hai chữ nghênh diện thì lại có một khoảng cách rất lớn, thậm chí đối lập gay gắt với chính những gì vừa  trích dẫn, khi tác giả bài viết nhận định rằng:


       “Nghênh diện” là hướng mặt về trước, đối mặt. “Nghênh diện” ở đây là một kết cấu trạng từ chỉ phương hướng (thu phong trận trận hàn nghênh diện xuy lai): từng trận gió thu lạnh trước mặt (thổi tới), (Sđd trang162). Tác giả những lời này đã tự mâu thuẫn với chính mình bởi lí do sau đây:


 Tác giả bài viết đã tự tách hai chữ nghênh diện và cả câu thơ trên thành một hệ thống cô lập khỏi mạch thơ, khỏi chỉnh thể toàn bài. Nguyên văn Tảo giải ( I, II ) như sau:


                                            Nhất thứ kê đề dạ vị lan,


                                            Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san;


                                           Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,


                                           Nghênh diện thu phong trận trận hàn.


Dịch nghĩa:


                                            Gà gáy một lần, đêm chưa tan,


                                            Chòm sao nâng vầng trăng lên đỉnh núi mùa thu;


                                            Người đi xa đã cất bước trên đường xa,


                                            Gió thu táp mặt từng cơn từng cơn lạnh lẽo.


Dich thơ:


                                             Gà gáy một lần đêm chửa tan,


                                             Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn;


                                             Người đi cất bước trên đường thẳm,


                                             Rát mặt, đêm thu, trận gió hàn.


  Đây chẳng qua là một sự phân tích cú pháp thơ một cách khiên cưỡng. Cú pháp thơ là cú pháp đặc biệt, có khi không tuân theo cú pháp thông thường của ngôn ngữ giao tiếp, bởi nó còn là cú pháp của cảm xúc thơ. Cách lí giải này chỉ thấy ý nghĩa bề mặt của câu chữ mà không thấy được những gì tiềm ẩn đằng sau câu chữ, chỉ thấy được phần nổi của tảng băng trôi. Người xưa từng nhắc nhở, đại ý rằng: thơ nằm giữa sự giải thích được và sự không giải thích được. Thơ mà giải thích được hết thì sẽ rơi vào tình trạng ngô nghê, không giải thích được tí gì thì rơi vào tắc tị bí hiểm hũ nút. Đã đành Hồ Chí Minh viết Nhật ký trong tù bằng một phong cách rất tự do phóng túng, Người dùng cả văn ngôn, văn bạch thoại, thậm chí cả phiên âm la tinh (Oa…! Oa…! Oa…!, Cháu bé trong nhà lao Tân Dương), Người dùng cả các hư từ của văn ngôn lẫn tư từ của văn bạch thoại, nhưng trường hợp nghênh  trong câu thơ trên là một thực từ chứ không phải là một hư từ đứng đầu một kết cấu trạng từ. Nếu cứ phân tích cú pháp thơ như vậy thì sẽ phân tích câu thơ Xuân Diệu: Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá trong Thơ duyên thế nào ? Chẳng lẽ lại đổi thành Trời xanh đổ ngọc qua muôn lá ? Câu thơ sẽ sáng rõ về ngữ nghĩa, ngữ pháp nhưng chất thơ lập tức tan biến. Điều Xuân Diệu muốn diễn tả là trạng thái đắm say, ngây ngất  qua cái nhìn chập chờn cơn tỉnh cơn mê của một chàng trai tuổi hoa niên lần đầu rung động nỗi yêu thương trước một cô gái, chứ đâu phải là sự sáng tỏ vô duyên vô nghĩa kia. Đây là một trong những câu thơ mà nói như Hoài Thanh là cảm xúc đã làm lung lay cả cú pháp thơ.Vậy nên hiểu câu thơ đang bàn thế nào? Nam Trân dường như đã chuyển tải được ít nhiều thần thái của câu thơ nguyên tác sang bản dịch: Rát mặt đêm thu trận gió hàn.


3. Ta hãy đặt câu thơ trong chỉnh thể toàn bài và trong phong cách thơ Hồ Chí Minh để hiểu cho đúng cho trúng. Hãy chú ý  ba câu thơ đầu của Tảo giải ( I ). Câu thứ nhất nói đến thời gian bị giải đi sớm, bị giải đi từ rất sớm (gà gáy một, đêm chưa tàn), rất lạ là câu thơ âm vang một điển tích diễn tả sự hoang lạnh trong những cuộc ra đi của người xưa (Kê thanh mao điếm nguyệt – Nhân tích bản kiều sương, Nguyễn Du dịch trong Truyện Kiều khi tả cảnh Thúy Kiều trốn khỏi nhà Hoạn Thư: Mịt mù dặm cát đồi cây - Canh gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương), nhưng trong câu thơ của Bác lại không có cái hoang lạnh đến ghê người của thơ xưa, bởi dường như khi người tù thi sĩ lên đường thì trăng sao, đỉnh núi mùa thu cùng khởi hành, cùng làm bạn với người. Tính hiện đại của thi phẩm có lẽ là ở chỗ trong cổ thi con người dường như bị khuất lấp vào thiên nhiên; còn trong thơ Hồ Chí Minh con người thường hiện lên ở trung tâm của bức tranh thơ. Người ta nói thơ Bác cổ điển mà không phải cổ thi, chứ không phải như một học giả Trung Quốc từng cho rằng: có những thi phẩm trong Nhật kí trong tù đặt vào Đường thi, Tống thi thì khó lòng nhận ra. Chớ lầm tưởng rằng họ khen thơ Bác. Câu thơ thứ ba hai chữ chinh nhân xuất hiện (Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng). Đó là hình ảnh người đi xa vì nghĩa lớn trên con đường đại nghĩa còn lắm gian lao. Cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn từ thơ phải chăng cho phép ta hiểu hai chữ chinh trong nguyên tác theo tinh thần ấy. Con đường chuyển lao trong gió thu lục địa của vùng núi cao lạnh buốt, con đường gian nan đầy thử thách nên  tù nhân – thi nhân phải dùng ý chí nghị lực để tự vượt lên mình, vượt lên gió rét và hạ hai chữ chinh (chinh nhân, chinh đồ) thật đích đáng. Điều quan trong nhất là ở những câu thơ trên thi ảnh và không gian đều ở trên cao vì vậy chinh nhân phải nghênh diện mới có thể ngắm nhìn, chiêm ngưỡng, thả hồn mình vào vẻ đẹp của vầng trăng thu, chòm sao và đỉnh núi mùa thu. Như vậy nghênh đích thị là một động từ đứng trước một tân ngữ (nghênh diện) chứ không phải là một hư từ đứng trước một kết cấu trạng từ. Nếu có đáng bàn thì chính là câu thơ dường như là sự cấu trúc lại không gian. Thông thường cao nhất là sao trăng, tiếp đó mới là đỉnh núi mùa thu. Nhưng trong câu thơ đỉnh núi mùa thu mới là cao nhất (Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san – Chòm sao đưa nguyệt vượt lên ngàn. Rất tiếc bản dịch đã không dịch được chữ thu trong nguyên tác và đặc biệt là chữ ủng (ôm, cầm, giữ), trong câu thơ buộc phải hiểu là ôm ấp nâng đỡ. Trong cái nhìn của thi nhân thiên nhiên thân ái chan hòa trong tình bầu bạn. Sau này Người còn viết: Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân, hay Vạn trùng sơn ủng vạn trùng vân. Cũng có người hiểu ủng là quần chúng công kênh lãnh tụ, hay chòm sao là bọn lính giải người tù còn vầng trăng là người tù vĩ đại (!). Thật là một sự suy diễn thoát li văn bản, tưởng là đề cao lãnh tụ hóa ra ngược lại, lực bất tòng tâm, quả là lòng yêu vô ý gây nên tội.). Nhà thơ không thách thức thiên nhiên khắc nghiệt mà chấp nhận gió rét để được ngắm nhìn, chiêm ngưỡng, thả hồn mình theo chòm sao, vầng trăng, đỉnh núi mùa thu. Người chấp nhận giá rét về thể xác để được làm bạn với thiên nhiên diễm lệ để tâm hồn được sưởi ấm. Bài tứ tuyệt thú nhất kết thúc bằng chữ hàn mà cả bài thơ không lạnh giá, bởi có sự nồng ấm của tình yêu thiên nhiên của thi hứng. Chữ hàn này khác hẳn chữ nồng kết thúc bài thơ. Nó là thi nhãn làn ấm cả thi phẩm bởi có sự nồng ấm của cảm xúc cộng hưởng với sự nồng ấm của đất trời. (Ta hiểu vì sao sang bài tứ tuyệt thứ hai khi không gian và  thời gian có sự vận động từ đêm tối ra ánh sáng, từ giá rét sang ấm áp, Bác lại viết Hành nhân thi hứng hốt gia nồng (Người đi thi hừng bỗng thêm nồng). Từ chinh nhân trong câu thơ đang bàn đến hành nhân ở cuối bài thơ, con đường chuyển lao đã ngắn lại, bình minh của đất trời đã trở về: Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng, – U ám tàn dư tảo nhất không; – Noãn khí bao la toàn vũ trụ, dịch nghĩa:  Phương đông màu trắng chuyển thành hồng,- Bóng tối còn rơi rớt sớm đã hết sạch; - Hơi ấm bao la khắp vũ trụ, dịch thơ: Phương đông màu trắng chuyển sang hồng, -  Bóng tối đêm tàn sớm sạch không; - Hơi ấm bao la toàn vũ trụ,). Đây là cách vượt ngục bằng tinh thần của Bác. Khi bị trói treo ngược lên giàn thuyền như tội hình treo cổ, Người vẫn ngắm cảnh đẹp ven sông:                    


                                    Đáp thuyền thẳng xuống huyện Ung Ninh,


                                    Lủng lẳng chân treo tựa giảo hình;


                                    Làng xóm ven sông đông đúc thế,


                                    Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh.


                                          (Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh, Nam Trân dịch)


Hay như bài Trên đường (Lộ thượng):


 


                                     Dẫu trói chân tay đến ngặt nghèo,


                                     Khắp rừng hương ngát với chim kêu;


                                     Tự do thưởng ngoạn, ai ngăn được,


                                     Cô quạnh đường xa, vợi ít nhiều.


                                                         (Huệ Chi dịch)


Quả đúng như Hoàng Trung Thông viết khi đọc Nhật kí trong tù:


                                      Ngục tối trái tim càng tỏa sáng


                                      Xích xiềng không khóa nổi lời ca


                                      Trăm sông nghìn núi chân không nghỉ


                                      Yêu nước yêu người yêu cỏ hoa.


3.   Tôi muốn mượn lời nhà thơ Liên Xô cũ  Ra-un Gam-za-tôp viết trong Đaghextan của tôi để kết thúc bài viết nhỏ này:


        Thơ không phải là hoa trong chậu cảnh, Ở đó tất cả đều hiện ra trước mắt anh, anh không cần phải tìm đâu thêm, thơ giống như hoa trên đồng nội, trên rặng núi An-pơ. Nơi mỗi bước đi lại hứa hẹn thêm một bông hoa mới, kì diệu hơn.


Bắc Sơn, 5/1991 – Vân Giang, 7/2011


  Bùi Ngọc Minh


tác giả gửi www.trieuxuan.info


 


 


   


   

trieuxuan.info