01.02.2010
Lương Văn Hồng
Nobel văn học (43)

NOBEL VĂN HỌC 1972: HEINRICH BÕLL (1917-1985)


    Heinrich Bõll là con trai một thợ cả nghề mộc theo Công giáo, ông sinh ngày 21.12.1917 ở thành phố Kõln, và mất ngày 16.7.1985 ở Bornheim ngoại ô thành phố Kõln, Đức. 1937 ông học nghề buôn sách. 1939-1945 ông là lính bộ binh, rồi bị Mỹ bắt làm tù binh. Cuối năm 1945, ông trở về thành phố quê hương Kõln và học Ngữ văn Đức. Từ 1951 ông là nhà văn chuyên nghiệp. Ông từng đi du lịch, sống ở Scốtlen, Rom,  Nga, Prag, Israel. 1964, ông là giáo sư thỉnh giảng về thơ ở Trường đại học tổng hợp Frakfurt am Main. 1971-1974 ông là Chủ tịch văn bút PEN, ngoài viết văn ông còn dịch các tác phẩm của Shaw, Horgan, Behan, Salinger,  Sygne,  Malamud.v.v.


    Heinrich Bõll là đại diện tiêu biểu cho văn học nhân đạo tư sản sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Các tác phẩm trong những năm 50 của Heinrich Bõll  đề cập tới đại chiến thế giới lần thứ hai, nó cho ta thấy sự vô nghĩa của chiến tranh (den Widersinn des Krieges). Adam, anh ở nơi đâu? (Wo warst du, Adam?,1951) là tiểu thuyết kể về cuộc rút quân khỏi Hungary năm 1944 của quân đội Đức, sự ê chề cắn rứt lương tâm của của những người lính Đức khi bại trận. Câu hỏi: “Adam, anh ở đâu?“ (Wo warst du Adam?) với câu trả lời: “Tôi ở trong chiến tranh thế giới“. (Ich war im Weltkrieg)  cho ta thấy hoạt động của bộ máy chiến tranh. Nhà không người canh giữ (Haus ohne Hũter,1954) là tiểu thuyết hiện thực phê phán kể về cảnh sống ngay sau chiến tranh: không nhà cửa, goá chồng, chồng của họ không trở về, chồng của họ đã nằm lại vĩnh viễn ở chiến trường. Tác phẩm nổi tiếng nhất của Heinrich Bõll là tiểu thuyết Chơi bi da lúc chín rưỡi“ (Billard um halbzehn,1959). Những tác phẩm khác như Anh bạn lữ hành, anh có đến Spa...“ (Wanderer, kommst du nach Spa..1950), Và chẳng nói lấy một lời“ (Und sagte kein einziges Wort, 1953), Bánh mì của những năm trước“ (Das Brot der frũhen Jahre, 1955).


    Heinrich Bõll có vị trí đặc biệt trong văn học chống chiến tranh, chống phát xít và chủ nghĩa quân phiệt, ông được giải thưởng Bũchner (Bũchner-Preis) năm 1967, giải thưởng Nobel văn học năm 1972, vì những tác phẩm  kết hợp tầm bao quát hiện thực rộng lớn với nghệ thuật xây dựng tính cách điển hình đã trở thành đóng góp to lớn vào sự phục hồi nền văn học Đức (thời Quốc xã-1933-1945, ngôn ngữ Đức bị hủy họai nghiêm trọng bởi lối khoa trương trống rỗng của phát xít). Heinrich Bõll thể hiện khát vọng xây dựng một xã hội mang tính nhân văn. Heinrich Bõll đã nói tới sức mạnh của ngôn từ trong bài diễn từ khi nhận giải Nobel:


-    Các quốc gia chỉ tiến gần đến cái mục tiêu họ trông đòi, và chẳng có nhà nước nào lại không chừa ra một khoảng cách giữa biểu đạt ngôn từ trong hiến pháp và việc thực thi hiến pháp, một không gian bớt lại để thơ ca và sự đối kháng nảy nở – và nở rộ trong chứa chan hy vọng. Và chẳng có dạng văn chương nào lại thành tựu nếu không có cái khoảng cách đó.


     Từ những năm 60 trở đi, Heinrich Bõll chú ý tới những vấn đề của cuộc sống hiện tại với những tác phẩm   Diện mạo của một anh hề (Ansicht eines Clowns, 1963), Rời xa đồng đội (Entfernung von der Truppe, 1964),  Kết thúc chuyến đi công tác (Ende einer Dienstfahrt, 1966), Ảnh chụp tập thể với phụ nữ (Gruppenbild mit Dame,1972), Danh dự đã mất của Katharina Blum (Die verlorene Ehre der Katharina Blum, 1974).


                                  Chơi bi da lúc chín rưỡi


     Đây là tác phẩm gây xôn sao dư luận lúc bấy giờ. Tiểu thuyết này kể về cuộc sống tinh thần và nghề nghiệp của ba thế hệ một gia đình kiến trúc sư từ 1907 tới năm 1958: từ thời vua Wilhelm qua thời kỳ Cộng hoà Weimar, tiếp đến là thời kỳ chủ nghĩa phát xít tới những năm Adenauer cầm quyền sau đại chiến thế giới lần thứ hai.


   Câu chuyện xoay quanh hai tuyến nhân vật, đồng thời là hai mặt trận, nhưng xung đột tư tưởng lại xảy ra trong gia đình kiến trúc sư thành đạt Heinrich Fãhmel. Con cả của kiến trúc sư là Otto Fãhmel lại hăng hái theo phát xít, trong khi con trai thứ hai là Robert Fãhmel lại đi theo lực lượng chống phát xít.


   1907, kiến trúc sư Heinrich Fãhmel  được giao việc xây dựng Abtei Sankt Anton. Đó là một vinh dự, đồng thời nó khẳng định vị trí nghề nghiệp và xã hội của kiến trúc sư. Trong đại chiến thế giới thứ hai, Abtei Sankt Anton bị lực lượng chống phát xít đặt mìn phá. Sau chiến tranh  thì chính cháu nội của kiến trúc sư Heinrich Fãhmel là Joseph Fãhmel lại được giao nhiệm vụ xây dựng lại Abtei Sankt Anton. Trong lúc đào bới đống đổ nát thì Joseph Fãhmel phát hiện chính cha mình – Robert Fãhmel đã vạch phấn đánh dấu chỗ đặt mìn.


     Heinrich Fãhmel và vợ ông Johanna Fãhmel gặp lại các con vào ngày 6 tháng 9 năm 1958. Hai vợ chồng giờ đây đã 80 tuổi và sống bằng kỷ niệm khi xưa. Xung đột bùng nổ khi hai con trai lại từng ở hai chiến tuyến (phát xít  > <  chống phát xít), trong gia đình thì cha xây, con phá, cháu lại xây. Heinrich Bõll mượn hình tượng  con cừu và con trâu trong Thiên chúa giáo để biểu trưng cho nhân vật ở hai chiến tuyến. Hình tượng chơi bida (tính toán đường đi nước bước trong khi chơi) lúc chín rưỡi – thói quen của kiến trúc sư Heinrich Fãhmel -  trở thành biểu tượng cho sự tính toán và suy tư trong cuộc đời kiến trúc sư  Heinrich Fãhmel, đồng thời nó cho ta thấy cảnh đời “khó nói” của nhiều gia đình Đức – nước Đức sau  thảm bại của phát xít và sự toàn thắng của lực lượng chống phát xít.   


Nguồn: Tác giả đoạt giải Nobel Văn học (từ 1901 đến 2007), tiểu sử và giai thoại. Lương Văn Hồng biên soạn. Nhà xuất bản Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

trieuxuan.info