Lý luận phê bình văn học
14.10.2008
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (21)

Xung đột.


Tất cả những tình huống chúng ta đã khảo sát từ trước đến giờ, như chúng tôi đã đề cập tóm tắt, đều không phải là những hành động thực sự, cũng không phải là những kích thích hành động theo nghĩa đen của từ này. Đặc tính của chúng vẫn phần nào là một tình trạng thuần túy ngẫu nhiên hay một việc làm tự bản thân nó là vô nghĩa, trong đó cái nội dung có tính bản chất được biểu hiện như sau: thuộc tính chỉ tỏ ra là một trò chơi vô hại và người ta không xem nó thực sự nghiêm túc và quan trọng của tình huống ở trong các nhân tố đặc thù của nó chỉ xẩy ra ở nơi nào đặc tính tự bộc lộ dưới hình thức một sự khác nhau chủ yếu và do chỗ đối lập với một cái gì khác nào đấy, mà tạo ra xung đột.


Cơ sở  của xung đột là sự phá hoại, nhưng một sự phá hoại không thể duy trì với tính cách sự phá hoại mà phải bị gạt bỏ. Xung đột là một sự thay đổi tình trạng hài hòa và cái này đến lượt nó cũng phải bị thay đổi. Song xung đột cũng vẫn chưa là một hành động mà chỉ chứa đựng những mầm mống và những tiền đề của hành động. Nó giữ tính chất của tình huống xem như một khả năng đơn thuần dẫn tới hành động, mặc dầu tính chất đối lập trong đó xung đột diễn ra có thể là kết quả của một hành động trước đây. Chẳng hạn trong các bi kịch ba tập Hy Lạp cổ, sự kết thúc của một tác phẩm kịch vẫn được tiếp tục theo cái nghĩa nó làm thành điểm xuất phát cho một xung đột diễn ra ở tập thứ hai, và xung đột này, đến lượt nó, lại được giải quyết ở bi kịch thứ ba. Bởi vì xung đột nói chung cần một cách giải quyết kế tiếp theo sau cuộc đấu tranh của những mặt đối lập, cho nên một tình huống có nhiều xung đột là một đối tượng có ưu thế của tác phẩm nghệ thuật, có được khả năng nêu lên cái đẹp trong sự phát triển sâu sắc nhất và đầy đủ nhất. Điêu khắc chẳng hạn không thể thể hiện hoàn toàn một hành động ở đấy các sức mạnh tinh thần to lớn xuất hiện trong tình trạng chia rẽ và hòa giải. Ngay cả hội họa mặc dầu có những khả năng rộng lớn hơn, song bao giờ cũng chỉ giới thiệu cho ta biết một giây phút của hành động mà thôi.


Nhưng tình huống nghiêm túc này đã chứa đựng ở trong khái niệm của mình một khó khăn đặc biệt. Chúng bắt nguồn từ sự vi phạm tình trạng hài hòa và sự nảy sinh những quan hệ không thể tồn tại lâu dài mà cần có sự chuyển hóa. Nhưng cái đẹp của lí tưởng là ở trong tính thống nhất hoàn toàn với bản thân, ở trong cái vẻ bình thản và hoàn mĩ ở bản thân nó. Xung đột phá hoại sự hài hòa này và bắt lí tưởng vốn thống nhất ở bản thân chuyển sang tình trạng chia rẽ và đối lập. Do chỗ miêu tả một sự vi phạm như vậy, bản thân lí tưởng bị xuyên tạc và nhiệm vụ của nghệ thuật có thể chỉ thâu tóm lại ở chỗ một mặt nó không cho phép cái đẹp tự do chết trong tình trạng đối lập này và, mặt khác, không dừng lại ở chỗ miêu tả tình trạng phân đôi và cuộc đấu tranh gắn liền với tình trạng ấy. Thành ra việc giải quyết những xung đột của cuộc đấu tranh này dẫn tới một kết quả là phục hồi sự hài hòa và như vậy sự hài hòa xuất hiện ở trong tình trạng hoàn mĩ trọn vẹn của nó(20).


Không thể xác lập những qui tắc chung khiến cho chúng ta thấy sự chia rẽ có thể đi đến những giới hạn nào bởi vì mỗi nghệ thuật riêng về mặt này đều đi theo tính độc đáo cố hữu nằm ở trong tính cách của nó. Sự biểu hiện bên trong chẳng hạn có thể chịu đựng một trình độ phân li lớn hơn việc chiêm ngưỡng trực tiếp rất nhiều. Chính vì vậy thơ khi miêu tả các trạng thái bên trong, có thể đi đến những đau khổ cùng cực của sự thất vọng, và khi miêu tả những hiện tượng bên ngoài, lại có thể đi đến cái xấu cùng cực. Còn trong các nghệ thuật tạo hình, trong hội họa, nhất là trong điêu khắc, thì hình tượng bên ngoài vẫn ở trong một tình trạng cố định không thể thay đổi và không thể bị “vượt bỏ” hay, giống các âm của nhạc, chỉ xuất hiện thoáng qua rồi biến mất. Ở đây, nếu cố định hóa cái xấu ở bản thân nó, mà không giải quyết được cái xấu thì sẽ phạm một sai lầm. Các nghệ thuật tạo hình không được phép làm tất cả những điều mà thơ của kịch hoàn toàn được phép làm, bởi vì ở trong kịch mọi cái chỉ xuất hiện trong giây lát rồi lại biến mất.


Còn về các hình thức riêng của xung đột thì ở đây chỉ nêu lên những nét chung nhất. Về mặt này, chúng ta phải khảo sát ba cạnh khía chính.


Thú nhất, những xung đột có cơ sở là những tình huống có tính chất tự nhiên, vật lí, trong chừng mực chúng chứa đựng khả năng bị chia rẽ và mâu thuẫn.


Thứ hai, trong những xung đột có tính chất tinh thần dựa trên những cơ sở tự nhiên, những cái này mặc dầu tích cực nhưng đối với tinh thần vẫn chứa đựng khả năng có những sự chia rẽ và đối kháng.


Thứ ba, những chia rẽ mà cơ sở là những sự khác nhau có tính chất tinh thần có thể xem là những sự đối lập thực sự thú vị bởi vì chúng bắt nguồn từ hành động đặc thù của con người.


Về các xung đột thuộc loại thứ nhất, ta có thể xem chúng là những nguyên nhân thuần túy bên ngoài. Ở đây, tự nhiên bên ngoài với các bệnh tật, các tai họa và các nhược điểm của nó dẫn tới sự vi pạhm tình trạng hài hòa quen thuộc của đời sống và làm nảy sinh những mâu thuẫn. Xét ở bản thân nó, các xung đột này là không thú vị gì hết, và sở dĩ được đưa vào nghệ thuật chẳng qua là những chia rẽ có thể phát triển do một bất hạnh tự nhiên với tính cách là hậu quả của xung đột, chẳng hạn trong “Anxextơ”(21) của Oripit là như vậy: Tác phẩm này đã cấp tài liệu cho cả vở Anxetơ của Gơluych(22), tất cả các biến cố đều bị qui định bởi bệnh của Atmet. Bản thân bệnh tật không phải là một hiện tượng của nghệ thuật thực sự, nhưng Oripit sử dụng nó chẳng qua là vì sự xung đột đã nảy sinh giữa các cá nhân, do bất hạnh này. Vị tiên tri báo rằng Atmet phải chết, trừ phi có một người khác hi sinh mình để thay thế ở dưới địa ngục. Anxextơ chấp nhận việc hi sinh và quyết định chết để cứu người chồng, người cha của các con nàng, nhà vua, khỏi chết.


Ở trong Philoctet của Xôphôklơ, sự bất hạnh về thân thể gây nên một sự xung đột. Trên đường tới Troa, những người Hy Lạp đã đặt Philoctet trên đảo Lemnốt và Philoctet đã bị một con rắn ở Khơrida cắn bị thương vào chân. Ở đây, sự bất hạnh về thân thể chỉ là một khâu nối liền có tính chất bên ngoài và là một duyên cớ dẫn tới những xung đột sau này sẽ phát triển. Bởi vì theo lời tiên đoán của vị tiên tri thì thành Troa chỉ sụp đổ khi nào các mũi tên của Heraklét nằm trong tay những người tấn công thành này. Philoctet từ chối không trao những mũi tên này bởi vì chàng đã phải chịu đựng đau đớn cảnh khổ cực do chỗ bị bỏ lại một cách vô lí và bất công trong suốt chín năm ròng. Tính chất bất công này và sự từ chối bắt nguồn từ đó có thể do nhiều phương thức khác gây nên. Hứng thú chân thực không phải ở bệnh tật cũng như những đau khổ thể xác do bệnh tật gây nên, mà ở thế đối lập nảy sinh do chỗ Philoctet quyết định không trao các mũi tên. Tình hình xảy ra khi bệnh dịch bắt đầu xuất hiện trong doanh trại Hy Lạp, cũng hệt như vậy. Bản thân bệnh dịch được miêu tả là do một sự trừng phạt những việc làm trước đây. Nói chung, sử thi còn làm nhiều hơn kịch khi lấy những bất hạnh tự nhiên làm thành nguyên nhân của những rắc rối và của những cản trở được miêu tả ở trong kịch: bão táp, đắm tàu, hạn hán… Song nói chung, nghệ thuật miêu tả bất hạnh này không phải đóng vai một cản trở và một bất hạnh tất yếu phải mang hình thức này trong trường hợp này chứ không phải một hình thức khác.


Thứ hai, bởi vì sức mạnh tự nhiên bên ngoài với tính cách sức mạnh không phải chủ yếu nằm trong các hứng thú tinh thần và trong những sự đối lập, cho nên ngay cả khi nó gắn liền với những quan hệ tinh thần, sức mạnh tự nhiên cũng chỉ đóng vai một nền tảng trên đó sự xung đột theo nghĩa đen sẽ dẫn tới tình trạng đoạn tuyệt và chia rẽ. Thuộc loại này là tất cả những xung đột mà cơ sở là nguồn gốc xuất thân tự nhiên. Nói chung, ta có thể phân biệt ở đây ba trường hợp.


(aa) Thứ nhất, một quyền lợi gắn liền với tự nhiên(23) (chẳng hạn quan hệ họ hàng, quyền thừa kế…) chính vì quyền lợi gắn liền với những đặc tính tự nhiên cho nên nó chấp nhận nhiều đặc tính tự nhiên, trong lúc đó quyền lợi (tức là cái làm thành thực chất chân chính) vẫn là duy nhất.


Thí dụ quan trọng nhất về mặt này là quyền thừa kế ngai vàng. Quyền này đóng vai một lí do gây nên những xung đột khi nó vẫn chưa được xác lập vững chắc dựa vào bản thân nó. Bởi vì nếu được xác lập vững chắc, thì tính chất của xung đột sẽ thay đổi. Khi việc thừa kế ngai vàng còn chưa được qui định bởi những pháp luật tích cực và bởi vì cái trật tự được mọi người thừa nhận(24), thì ta không thể xem trường hợp không phải là người con cả mà là người con trai út của nhà vua hay một người họ hàng khác thuộc gia đình nhà vua làm vua là một điều bất công. Bởi vì việc làm vua là một cái mang tính chất lượng chứ không phải số lượng như tiền bạc hay tài sản và không thuộc những cái có thể phân chia hết sức công bình, cho nên trong việc thừa kế ngai vàng lập tức nảy sinh xung đột và tranh giành. Khi ơđíp, chẳng hạn, để lại ngai vàng thành Thebơ không có nhà vua, cả hai đứa con trai của chàng đều đưa ra những quyền lợi và những đòi hỏi như nhau để chống lại nhau. Kể ra, hai anh em đã đi đến thỏa thuận là mỗi người trị vì trong một năm và cứ kế tiếp nhau như vậy, song Etêoklơ đã vi phạm điều giao ước và Pôlinich thực hiện cuộc viễn chinh đánh lấy thành Thebơ để  bảo vệ quyền lợi của mình. Tình trạng thù địch giữa anh em là loại xung đột đã từng làm thành đối tượng miêu tả nghệ thuật một thời. Xung đột này đã bắt đầu bằng câu chuyện Canh đã giết em là Aben. Trong “Sắcnamét”, tác phẩm sử thi anh hùng đầu tiên của Ba Tư, cuộc tranh giành để thừa kế ngai vàng trở thành điểm xuất phát của những xung đột hết sức đa dạng. Phêriđu chia đất cuar mình cho ba anh em: Xêlim nhận được Rum và Khabe; Turan và Sin nhận được Thua, và Yiarétxơ được cai trị đất Iran. Nhưng mỗi người lại đòi đất của người kia và, do đó, nảy sinh những cuộc xung đột, những cuộc tranh cãi trong gia đình.


Những cuộc tranh giành trong gia đình và trong các vương triều ở trong thế giới Thiên Chúa giáo trung cổ cũng vô số. Tự thân cái sự bất công này là ngẫu nhiên bởi vì không có điều gì tất yếu khiến cho các anh em đối xử với nhau một cách thù địch. Thêm vào đấy, còn có những hoàn cảnh đặc biệt và những lí do cao nhất, chẳng hạn sự thù địch đã tồn tại giữa các con trai của Ơđíp từ khi họ ra đời, hay như trong “Những người chưa cưới ở Métxin” chẳng hạn, cuộc tranh cãi giữa các anh em cần phải là vấn đề thuộc một số phận cao cả.


Người ta cũng tìm thấy một sự xung đột tương tự ở trong Mácbet của Sếchxpia. Đơncan là vua, Mácbet là người họ hàng lớn tuổi nhất và, do đó, phải được thừa kế ngai vàng trước các con Đơncan. Như vậy, trong khi chỉ định con mình làm người thừa kế, Đơncan đã phạm một điều bất công đầu tiên có thể làm thành lí do của tội ác của Mácbét. Đó là cái quyền lợi của Mácbét mà các biên niên sử đã nêu rõ. Sếchxpia hoàn toàn bỏ qua điều đó, bởi vì ông chỉ cố gắng nhấn mạnh cái khủng khiếp trong dục vọng của Mácbét nhằm mục đích làm vua Giắc hài lòng bởi vì vua Giắc rất thích Mácbét được miêu tả thành một tên tội phạm(25). Trong cách lí giải của Sếchxpia vì vậy bỏ qua không giải thích lí do tạo sao Mácbét không giết các con trai của Đơncan, mà cho phép họ chạy trốn và không một quí tộc nào nhắc đến họ. Song toàn bộ cuộc xung đột nói đến ở trong Mácbét đã vượt ra khỏi những giới hạn của cái tình huống ở đây chúng ta nêu lên tóm  tắt các đường nét của nó.


(bb) Thứ hai, xung đột ngược lại trong phạm vi cũng của trường hợp này là ở những sự khác nhau về nguồn gốc xuất thân. Nguồn gốc xuất thân chứa đựng ở nó tính bất công. Do sức mạnh của thói quen hay của pháp luật, nó đã trở thành một cản trở không thể khắc phục được và đóng vai một bất công, một hậu quả tự nhiên dẫn tới những xung đột. Chế độ nô lệ, chế độ nông nô, sự phân biệt đẳng cấp, địa vị pháp luật của người Do Thái ở nhiều nước và theo một ý nghĩa nào đó, ngay cả sự đối lập giữa nguồn gốc quí tộc và nguồn gốc tư sản cũng thuộc về loại xung đột này. Trong những trường hợp này xung đột tóm lại là con người có những quyền lợi, những quan hệ, những mục đích và những đòi hỏi thuộc về y với tính cách thuộc về con người phù hợp với khái niệm con người. Trái lại những sự khác nhau gắn liền với nguồn gốc ra đời mà chúng ta vừa nói, làm thành một sức mạnh tự nhiên, cản trở những đòi hỏi này hoặc làm cho chúng không thể thực hiện được. Về loại xung đột này ta cần phải nói như sau.


Sự khác nhau về giai cấp, giữa những người thống trị và những người bị trị… rõ ràng là chủ yếu và hợp lí bởi vì nó xuất phát từ một sự phân chia tất yếu của toàn bộ đời sống quốc gia và biểu hiện một cách toàn bộ trong các công việc, các xu hướng, các hình tượng của tư tưởng và trong tất cả đời sống tinh thần. Nhưng tình hình sẽ khác hẳn khi người ta muốn qui định những sự khác nhau này giữa các cá nhân bằng nguồn gốc xuất thân ở trong một giai cấp nào đấy, làm cho mỗi người ngay từ khi ra đời đã bị vứt vào một giai cấp, một đẳng cấp… không phải do mình lựa chọn, trái lại do tình trạng ngẫu nhiên của tự nhiên của tự nhiên không có gì hợp lí cả. Lúc bấy giờ, những sự khác nhau này tỏ ra chỉ là tự nhiên và đồng thời chúng được cấp một quyền lực tối cao qui định số phận các cá nhân. Nhưng ở đây chúng ta không xét nguồn gốc xuất hiện tính chất cố định này của các nét có tính chất giai cấp và của quyền lực của chúng đối với từng người. Bời vì dân tộc lúc đầu có thể là thống nhất và những sự khác nhau tự nhiên giữa người tự do và nông nô chẳng hạn có thể chỉ sau này mới phát triển, hoặc những sự khác nhau về đẳng cấp, về giai cấp, về đặc quyền… là xuất phát từ những sự khác nhau có tính dân tộc và nhân chủng ngay từ đầu, như người ta khẳng định điều đó chẳng hạn đối với những sự khác nhau về đẳng cấp ở người Ấn Độ. Đối với chúng ta, điều này không quan trọng gì hết. Điều chủ yếu đối với chúng ta là: các điều kiện của cuộc sống qui định toàn bộ sự tồn tại của con người xuất phát từ một sự kiện tự nhiên: cần phải xem những sự khác nhau về đẳng cấp là có lí do biện hộ cho nó. Song chúng ta không nên cướp mất của cá nhân cái quyền tự do nhập vào một đẳng cấp nào đấy chỉ tuân theo việc lựa chọn tự do của mình. Các thiên tư, các tài năng, năng lực, tài nghệ và học vấn chuyên môn có nhiệm vụ đáp ứng quyết định này, chúng có tiếng nói cuối cùng. Nhưng nếu như cái quyền tự chọn đã bị hủy bỏ từ trước bởi nguồn gốc xuất thân theo những điều ngẫu nhiên của tự nhiên thì lúc đó, trong khuôn khổ của tình trạng không tự do này có thể nảy sinh sự xung đột giữa địa vị dành cho chủ thể do nguồn gốc xuất thân và văn hóa tinh thần của anh ta với những đòi hỏi hợp lí mà nguồn gốc xuất thân nêu lên. Đây là một sự xung đột đau buồn và bất hạnh, bởi vì nó dựa trên tình trạng bất công mà cái nghệ thuật thực sự tự do không nên tôn trọng. Trong các điều kiện hiện nay của chúng ta, những sự khác nhau về giai cấp, trừ một số người rất nhỏ, là không gắn liền với nguồn gốc xuất thân. Chỉ có triều đại đang thống trị và lớp quí tộc là được phép làm thành một ngoại lệ. Còn trong tất cả các trường hợp khác, nguồn gốc xuất thân không kéo theo nó một sự khác nhau chủ yếu nào về cái giai cấp trong đó cá nhân có thể bước vào hay muốn bước vào. Vì vậy, thêm vào yêu cầu đòi hỏi hoàn toàn tự do, còn có một yêu cầu khác nữa: đó là mỗi người phải tỏ ra xứng với cái giai cấp mà anh ta tự mình lựa chọn theo trình độ văn hóa, hiểu biết, sự khéo léo và cách suy nghĩ của mình. Nhưng khi nguồn gốc xuất thân làm thành một cản trở không thể khắc phục được đối với những mong muốn và những tham vọng mà con người có thể thực hiện bằng khả năng tinh thần và hoạt động của mình nếu không có sự cản trở, thì chúng ta thấy đó không phải đơn thuần là một bất hạnh, mà là một bất công mà con người phải chịu đựng. Bởi vì ở đây chỉ có một bức tượng tự nhiên, chẳng có một cơ sở pháp lí nào cả. Đây là một bức tường mà trí thông minh, tài năng, tình cảm, văn hóa và giáo dục của anh ta không thể giúp anh ta vượt qua được. Những yếu tố tự nhiên này sau khi đã trở thành một đặc trưng bất biến có tính pháp luật do sự võ đoán, cả gan đưa ra những sự ngăn cản không thể vượt qua được đối với quyền tự do của tinh thần là cái chính đáng bản thân nó.


(Còn tiếp).


Nguồn: Mỹ học. Phan Ngọc dịch. NXB Văn học, 1999.


 


 

trieuxuan.info