Tản văn
09.10.2008
Lê Thánh Tông
Thơ Lê Thánh Tông

TỰ THUẬT


Lòng vì thiên hạ những sơ âu,


Thay mệnh trời dám trễ đâu.


Trống dời canh còn đọc sách,


Chiêng xế bóng chửa thôi chầu.


Nhân khi cơ biến xem người biết,


Chứa thuở kinh quyền xét lẽ mầu.


Mựa yều áo vàng chăng có việc,


Đã muôn sự nhiệm trước vào tâu.


MIẾU BÀ TRƯƠNG (ĐIẾU VŨ NƯƠNG)


Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương,


Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.


Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ,


Cung nước chi cho lụy đến nàng.


Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt,


Giải oan chăng lọ mấy đàn tràng.


Qua đây mới biết nguồn cơn ấy,


Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng.


BẠCH ĐẰNG GIANG


Lẻo lẻo doành xanh nước tựa dầu,


Trăm ngòi ngàn lạch chảy về chầu.


Rửa không thay thảy thằng Ngô dại,


Giũ mọi lâng lâng khách Việt hầu.


Nọ đỉnh Thái Sơn rành rạnh đò,


Nào hồn Ô Mã lạc loài đâu.


Bốn phương phẳng lặng kình bằng thóc,


Thong thả dầu ta bủa lưới câu.


VỊNH CANH MỘT


Chập tối trời vừa mọc đẩu tinh,


Ban hôm trống một mới sơ canh.


Đầu nhà khói tỏa lồng sương bạc,


Sườn núi chim về ẩn lá xanh.


Tuần điếm kìa ai khua mõ cá,


Dâng hương nọ kẻ nện chày kình.


Nhà nam nhà bắc đều no mặt,


Lừng lẫy cùng ca khúc thái bình.


NÚI THẦN PHÙ


Phân cõi Nam Châu đất Ai Châu,


Bút Vương khôn mạc cảnh Thần Phù.


Muối pha bãi bạc sông sâu hoáy,


Chàm nhuộm cây xanh núi tuyệt mù.


Khói quán mây ngàn tuôn ngụt ngụt,


Chợ quê sóng bể dức ù ù.


Kìa ai rửa sạch trong niềm tục,


Một chiếc thuyền câu chở nguyệt thu.


 


 


 

trieuxuan.info