Những bài báo
22.07.2009
Triệu Xuân
Bộ sách Gương mặt nhà văn Việt Nam hiện đại của Hoài Anh

Viết về bạn hữu văn chương với những kỷ niệm riêng tư, nhận thức chủ quan, bình phẩm cá nhân, không bị bối cảnh chính trị xã hội chi phối thì phải kể đến Nguyễn Vỹ trong Văn Thi sỹ tiền chiến (NXb Văn học, 2007). Còn viết về các tác giả văn chương thi phú, giai đoạn khởi đầu của tiểu thuyết ở Bắc kỳ cho đến năm 1945, ai cũng phải nói đến Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan và Thi nhân Việt Nam của hai anh em Hoài Thanh, Hoài Chân. Từ sau năm 1954, ở miền Bắc, có nhiều tác phẩm cùng thể loại này, trong đó nổi lên hai tập Nhà văn Việt Nam của Phan Cự Đệ và Hà Minh Đức. Ở Sài Gòn, phải nhắc đến tác phẩm độc đáo Mười khuôn mặt văn nghệ của Tạ Tỵ (1970), viết rất tài hoa về Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính, Đinh Hùng, Văn Cao, Sơn Nam, Mai Thảo, Nguyên Sa. Ngoài ra còn hàng chục đầu sách khác cùng thể loại, song ít được chú ý.


Bộ sách Gương mặt nhà văn hiện đại (4 tập, khoảng 2000 trang), Nhà xuất bản Văn học chuẩn bị xuất bản, nối tiếp cuốn Chân dung văn học (Nxb Hội Nhà văn, 2001) và cuốn Tác gia kịch nói và kịch thơ (Nxb Sân khấu, 2003) của nhà văn Hoài Anh viết về những nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, nhà phê bình chưa có mặt trong hai cuốn sách trên. Nếu trong hai cuốn sách trên chủ yếu viết về các nhà văn xuất hiện trước năm 1945, thì Gương mặt nhà văn hiện đại chủ yếu đề cập các nhà văn từ sau 1945 vẫn còn viết hay bắt đầu viết. Trong điều kiện lịch sử cụ thể: Chủ nghĩa Mác là hệ tư tưởng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, nên tác giả đã lấy chủ nghĩa Mác làm hệ quy chiếu các triết học, mỹ học và lý luận văn nghệ trên thế giới. Trong Bản thảo triết học kinh tế học năm 1844, Mác đã trình bày quan điểm triết học mới: “Lịch sử của con người” và “Con người của lịch sử” chỉ ra chủ thể sở dĩ là chủ thể bởi anh ta là chủ thể mang tính đối tượng, lại chỉ trong hoạt động mang tính đối tượng của con người, mới biểu hiện được là chủ thể, đồng thời chỉ có tồn tại khách thể được đối tượng hóa, mới có thể xác nhận sự tồn tại của chủ thể và ý nghĩa của nó. Do vậy, chủ nghĩa Mác vừa chỉ ra tính chủ thể của con người là tính năng động, tính sáng tạo và tính tự chủ của nó, vừa nhấn mạnh tính chủ thể cũng bị chế ước, bị động, và mang tính nhận thức. Bởi thế chủ thể tính của con người là sự dung hợp ở độ sâu của tính năng động, tính tự chủ và tính bị chế ước, tính thực tiễn và tính tinh thần của con người.


Trong Chống Duyrinh, Ăngghen viết: “Mỗi một ánh tượng tư tưởng của thể hệ thế giới vẫn là cái mà về khách quan chịu sự hạn chế của tình trạng lịch sử, về chủ quan chịu sự hạn chế của tình trạng xác thịt và tình trạng tinh thần của con người có được ánh tượng tư tưởng này”. Do đó, Hoài Anh không đi theo con đường của một số nhà mỹ học và lý luận văn nghệ phương Tây hiện đại, chỉ tập trung khảo sát văn bản mà không quan tâm đến điều kiện tâm lý, nguồn cội của nhà văn, đó là điều kiện tiên quyết và quyết định đối với lao động sáng tạo. Chính điều kiện ấy có vai trò của nó, đó là vai trò tạo ra những giá trị, vượt lên trên những giá trị đạo đức quen thuộc (thăng hoa). Giá trị và phạm trù quan hệ giữa nhu cầu của chủ thể và khách thể đều hình thành trên cơ sở của thực tiễn loài người. Do vận dụng chủ nghĩa Mác vào nghiên cứu phê bình văn học, nên khác với Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại, tác giả luôn gắn liền tác phẩm với điều kiện lịch sử và xã hội lịch sử mà nhà văn sống và chỉ ra chỗ nào nhà văn đáp ứng được yêu cầu của thời đại (không phải chỉ đáp ứng yêu cầu phục vụ kịp thời chủ trương chính sách của từng giai đoạn lịch sử nhất định về mặt nội dung, mà phải đáp ứng yêu cầu về nghệ thuật có sáng tạo độc đáo, bởi một trung giới của sự thống nhất giữa bản thể luận (tồn tại luận) và nhận thức luận, là giá trị luận.


Mặt khác, do vận dụng chủ nghĩa Mác trong hoàn cảnh hội nhập văn hóa toàn cầu, tác giả đi theo hướng mở: không phê phán mà kế thừa, không bác bỏ mà bổ sung vào những giá trị nghệ thuật đã là tồn tại khách thể: Ngay từ thời Schopenhauer cũng đã nói: “Không phê phán mà lý giải”. Tác giả đã cố gắng lý giải cả mặt mạnh, mặt yếu của nhà văn mà tránh kiểu phê bình xã hội học dung tục, đồng thời chú ý đến quá trình tiếp nhận của độc giả, khán giả đối với tác phẩm qua các thời đại.


Nhà văn Hoài Anh từ rất nhỏ đã đi bộ đội, biết rằng sau một trận đánh việc đầu tiên là cứu chữa thương binh và chôn cất tử sĩ (kể cả người bên phía địch vì chủ nghĩa nhân đạo). Viết bộ sách này, tác giả cũng muốn nhặt di cốt mai táng và dựng lên một tấm bia cho những nhà văn xấu số hay ngã xuống trên chiến trường để người đời biết đến tên tuổi và sự nghiệp của họ, không để họ trở thành “những kẻ chết không một nấm mồ” (Sartre), để thế hệ sau khi “thăm mả cũ bên đường” (Tản Đà) phải ngậm ngùi than thở “Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm” (Nguyễn Du).


Tác giả còn muốn viết thêm nhưng do điều kiện sức khỏe, không tiếp tục được nữa! Sau khi Hoài Anh hoàn thành bản thảo, chúng tôi đã sưu tầm thêm được một số bài tựa, bài bạt, bài phê bình, điểm sách mà nhà văn Hoài Anh đã viết rải rác trên các sách, báo trong nửa thế kỷ nay để in vào cuối sách, ngõ hầu có được một bức tranh tương đối toàn cảnh về các tác gia của nền văn học Việt Nam hiện đại.


 


Thành phố Hồ Chí Minh, tháng Năm 2008


Nhà văn Triệu Xuân


www.trieuxuan.info

trieuxuan.info