Những bài báo
23.08.2019
Gabriela Mistral
Tôi làm thơ như thế nào


Tôi thử kể với các bạn về việc tôi làm thơ như thế nào, mặc dù không chắc là tôi có những ý nghĩ rõ ràng và có ích gì về việc tôi làm thơ ra sao. Khi mọi người đề nghị tôi nói về đề tài: “Tôi làm thơ như thế nào?” thì tôi lại nhớ đến đường parabol thú vị của Pedro Prado, một người đồng hương của tôi. Pedro Prado viết rằng một hôm có một quí bà ghé vào vườn hoa và đề nghị người làm vườn xin một bông hồng với vẻ vô tình, không hề suy nghĩ, vốn là thuộc tính của phái nữ chúng tôi. Nhưng người làm vườn này là một con người không hề đơn giản, hiểu biết rất nhiều điều, tóm lại là một người từng trải, đã nói với quí bà: “Tôi sẵn lòng cho chị bông hoa hồng như chị muốn, chỉ có điều chị hãy cắt bông hoa từ cái nơi mà nó bắt đầu”. Người phụ nữ không suy nghĩ gì, định cắt vào chỗ giữa thân cây. Người làm vườn nói: “Ồ không phải, hoa hồng không phải bắt đầu từ đó. Chẳng lẽ chị cho rằng bông hoa được bắt đầu từ giữa thân cây sao?” “A-ha!” – quí bà kêu lên. Rồi hạ thấp chiếc kéo xuống một chút. “Không phải – người làm vườn lại kêu lên – chị nhầm rồi. Chị nghĩ là bông hoa nở phía trên được bắt đầu từ đây sao? Thế bông hoa lấy dinh dưỡng từ đâu để tươi tốt?” “A-ha!” – quí bà kêu lên rồi định cắt sát gốc. “Ồ không, chẳng lẽ bông hoa bắt đầu từ đây? Thế còn rễ?” “A-ha! – nghĩa là phải nhổ cả gốc”. Người làm vườn nói với quí bà: “Chị cho rằng bông hoa bắt đầu từ bộ rễ à? Thế tất cả những gì mà bông hoa có được bắt đầu từ đâu?” Quí bà cảm thấy thất vọng và không dám cắt bông hoa hồng. Chúng ta cũng biết nơi bắt đầu của một bài thơ theo cách như vậy. Liệu có phải bài thơ được bắt đầu từ cái giây phút khi ta ta viết ra nó? Ồ không phải! Liệu có phải nó được bắt đầu từ cái phút giây mà cảm xúc của ta được kích thích, khi có một cái gì đó đập vào ta? Bởi vì thân xác của ta cần thời gian để trở nên mềm mại, để cảm nhận được cú đập này. Chắc là cần hướng ánh mắt vào tất cả những ai làm chủ trái tim ta để chuẩn bị cho cơ thể có khả năng tiếp nhận những cú đập tương tự. Do đó, điểm khởi đầu từ thời thơ ấu – nơi bắt đầu tất cả mọi thứ. Nhưng chúng ta sinh ra, mang theo mình vốn sống có từ lâu, và những nghĩa vụ to lớn. Một công việc không hề dễ dàng chút nào! Bạn hãy thử tính xem, những bài thơ được làm ra từ đâu! Còn đàn ông các anh, những kẻ tò mò để ý chúng tôi, có biết rằng phụ nữ chúng tôi không viết những gì đồ sộ to lớn như Buffon, người trong lúc chờ đợi cảm hứng đến đã mặc áo khoác dải đăng ten và ngồi bên chiếc bàn màu đen với vẻ trang trọng của cả hoàn vũ. Xem ra đàn ông cũng hiếu danh, thậm chí còn hơn cả phụ nữ chúng tôi.


 


Khi viết, tôi đặt lên đầu gối của mình một tấm bẳng nhỏ mà cả những lúc đi xa tôi không bao giờ từ bỏ nó, còn bàn làm việc không hề phù hợp với tôi – không ở Chilê, không ở Paris hoặc Lisbon. Tôi viết vào buổi sáng hoặc vào đêm khuya, còn buổi tối không bao giờ mang lại cho tôi cảm hứng, và tôi không biết lý do tại vì sao buổi tối không có kết quả như vậy. Hình như tôi viết một dòng nào trong căn phòng đóng kín hoặc trong căn phòng có cửa sổ hướng ra những bức tường buồn tẻ của những ngôi nhà thành phố. Tôi luôn luôn hướng ánh mắt vào bầu trời, mà ở Chilê thì có một màu xanh tinh khiết, còn ở Châu Âu – có màu trắng. Tâm trạng của tôi được nâng cao khi đôi con mắt già nua của tôi nhìn vào màu xanh dịu dàng của cây lá. Một khi tôi còn là một người dân, một khi tôi còn sống trên đất quê hương, giữa những đồng bào mình thì tôi viết về những cái gần gũi bên cạnh mình. Tôi đã viết, như người ta thường nói, về những đề tài thân thuộc. Kể từ khi tôi tự nguyện lựa chọn số phận của kẻ lưu đày, kể từ ngày tôi cất bước tha hương thì tôi ngỡ là tôi đang viết giữa những bóng ma bao phủ bởi sương mù. Kể từ đó cả thế giới – không khí, bầu trời, mặt đất – mang lại cho tôi chỉ một cảm giác tuyệt vọng, saudade (nỗi buồn vô hạn – tiếng Bồ Đào Nha). Đất châu Mỹ, những người thân của tôi – những người còn sống hay đã chết – đã quay trở về trong nỗi buồn của tôi, cả một đoàn hộ tống chung thủy không chỉ giữ gìn tôi mà còn vây hãm, đè nén và chỉ rất ít khi cho phép đôi mắt nhìn phong cảnh và những người ở nơi xứ lạ. Như một quy luật, tôi viết chậm, và đôi khi – với một vận tốc thẳng đứng của đá trượt xuống từ dãy núi Cordilleras. Nhưng trong mọi trường hợp, nếu một cái gì đó đột nhiên bị buộc phải dừng lại thì tôi không thể giữ được sự bực bội. Tôi luôn luôn có trong tay bốn, năm cây bút chì gọt sẵn, bởi vì tôi vốn lười biếng và đã quen nghĩ rằng tôi được ban tặng tất cả, trừ những bài thơ của tôi. Ngày mà tôi còn vật lộn với từ ngữ, đòi hỏi chúng phải có một cường độ vô hạn, tôi luôn nghe tiếng nghiến răng giận dữ hoặc tiếng cót két của giấy nhám mài trên cột sống của tiếng mẹ đẻ. Còn bây giờ tôi đã không sợ với từ ngữ mà với những thứ hoàn toàn khác. Và với sự thờ ơ, thậm chí thù địch, là thái độ của tôi đối với những bài thơ của mình có giọng điệu xa lạ vì có quá nhiều xúc cảm. Tôi không tự bào chữa cho mình, không, bây giờ tôi chỉ quí những bài thơ mà tôi nghe thấy ngôn ngữ tôi tự nói, những gì mà Don Miguel, một người vĩ đại của xứ Basque gọi là lời sống động. Tôi sửa chữa nhiều hơn bạn đọc nghĩ. Dù sao thì sau khi gọt giũa những bài thơ vẫn còn gai góc và thiếu trau chuốt. Tôi thoát ra từ cái mê cung, từ cái đầu mối khó khăn chưa gỡ xong và tôi vẫn làm với cả thơ cũng như với văn xuôi. Đối với tôi viết là một niềm vui. Tôi cảm thấy ấm áp hơn trong lòng vì điều này và mỗi ngày trở nên dịu dàng và ngây thơ như với trẻ con. Tôi sống trong mỗi ngày như vậy với cảm giác như được sống mấy giờ ở quê hương mình. Tôi cảm thấy thoải mái, hoàn toàn tự do mỗi khi tôi làm thơ, dù thơ hay hoặc không, và tôi có một trạng thái tinh thần giống như tôi được gắn bó với những sinh linh sống động, gắn bó với cả thế giới. Tôi thích viết trong căn phòng được dọn sạch sẽ bởi vì tôi, về bản chất, là một người không có tổ chức. Trật tự này dường như mang lại cho tôi sự khoáng đãng và sự khát khao khoáng đãng là đặc trưng của đôi mắt và tâm hồn tôi. Đôi khi tôi làm thơ theo nhịp điệu của chiếc xe ngựa đi trên đường phố. Hoặc theo những âm thanh của thiên nhiên mà khi nhiều, khi ít hòa nhập trong nhận thức của tôi về một điều gì đó rất gần gũi với những bài hát ru. Tiếng reo của cây thông và tiếng rì rào của sóng biển, tiếng xào xạc của những cây dương, tất cả những gì mà tai tôi nghe ra sẽ trở thành một bài hát ru, tất cả đến với tôi trong nhịp điệu của bài hát ru. Tuy nhiên, tôi cũng có những bài thơ tường thuật, mà hôm nay được các nhà thơ trẻ ưu ái. Thơ ca – luôn luôn là liều thuốc tốt cho cảm xúc của tôi và những gì mà chúng ta gọi là linh hồn, nhưng thơ của người khác hơn là thơ của chính mình. Và cả thơ người lẫn thơ mình bắt chạy nhanh hơn vào máu, vào từng đường gân thớ thịt, giữ cho tôi tính trẻ con, cho phép tôi cảm thấy mình như một đứa trẻ. Thơ ca đối với tôi – đơn giản là một vật trầm tích, một dấu vết của tuổi thơ, của người đã mất. Mặc dù thơ có khi khắc nghiệt, có khi buồn, nhưng những bài thơ mà tôi viết ra đã rửa sạch cho tôi tất cả những bụi bặm của trần gian, và thậm chí tôi không biết còn sự ghê tởm siêu nghiệm nào khác gần với những gì mà chúng ta gọi là nguyên tội, tôi mang sự ghê tởm này trong mình và với một nỗi buồn vĩnh cửu. Tôi không biết, có thể, đây không phải là nguyên tội, mà là sự rơi chung vào cái vực thẳm của sự biểu cảm hợp lý cũng như trái với nhịp điệu, nơi mà cả nhân loại chịu sự trừng phạt, và điều này làm chúng tôi, những người phụ nữ, chịu đau đớn hơn, bởi vì chúng tôi đã đánh mất niềm vui đích thực của ngôn ngữ mà trong đó có âm nhạc và khí thế, và ngôn ngữ này đã phải thuộc về toàn thể nhân loại.


 


Nói về tuổi thơ, tôi nghĩ rằng có thể định nghĩa về tuổi thơ cũng như về thơ ca vậy, tôi nghĩ về điều này: tôi đã viết một bài thơ, trong đó một đứa bé nói rằng có nhiều thứ nó không thể nhìn ra vì có một hạt bụi trong mắt. Tôi cho rằng chúng ta sinh ra trên đời này, để làm thơ, trong đôi mắt đã có một thanh chắn nằm ngang. Cái xà ngang này bóp méo những gì mà ta nhìn thấy, biến chúng thành các hình dạng khác nhau và làm cho chúng ta thành những vật tương tự và phản hiện thực cho đến cuối đời ta. Vì vậy, cái xà ngang này đôi khi khiến chúng ta nhìn thấy màu vàng, những gì trên thực tế có màu đen, bắt nhìn thấy hình tròn những gì trên thực tế có hình vuông. Và theo ý muốn của nó, chúng ta đi giữa mọi điều kỳ diệu của sự hình dung vô lý. Đôi khi trên gương mặt của người đang hấp hối trong giây phút cuối cùng có một giọt nước mắt lạ lùng chầm chậm trào ra. Dường như đấy là cái thanh chắn từ đôi mắt của nhà thơ ra đi cùng với giọt nước mắt cuối cùng trước khi chết. Và thế là chúng ta đi vào thiên đường, hay là vào nơi nào đấy nữa – với cái nhìn trong trẻo, bởi vì ở nơi đó đã không cần đến cái thanh chắn vốn làm cho biến dạng tất cả những gì mà mắt nhìn thấy.


Gabriela Mistral


Nguyễn Viết Thắng dịch.


trieuxuan.info