05.08.2019
Vũ Bằng
Đông Tây cổ học tinh hoa (2)


Người thợ khắc bia


 Thái Kinh là một gian thần(1) đời vua Thần Tôn nhà Tống, trên thì dối vua, dưới thì hại dân. Cả nước đều ghét. Riêng có Tư Mã Quang dám công nhiên(2) kể tội Thái và nhiều phen làm nhục Thái. Thái Kinh uất ức vô cùng, tìm mọi cách để hại Tư Mã Quang. Đến khi Tư Mã Quang chết rồi, Thái Kinh chưa hết giận, lại còn tìm một anh thợ đục đá tên là An Dân đến bảo khắc bia nói xấu Tư Mã Quang nữa.


An Dân khước từ(3) mà rằng:


- Tôi không thể khắc bia vu khống(4) cho một bậc trung thần được. Ai cũng biết Tư Mã Quang là một người ngay thẳng, yêu dân, yêu nước, không khắc bia kỷ công(5) Quang thì thôi, tôi không thể khắc bia nói xấu được.


Thái Kinh tức giận ép buộc An Dân phải khắc theo ý hắn. Không làm thế nào chống lại được kẻ bạo tàn, An Dân khóc mà nói:


- Các ông bắt tôi khắc thì tôi khắc, nhưng xin đừng bắt tôi khắc tên tôi vào đó.


 


LỜI BÀN: Vu khống là một lối trả thù ti tiện nhất. Thái Kinh vu khống Tư Mã Quang, cho người khắc bia để nói xấu Quang: hành động đó không khác hành động của những người trước đây đã bức bách người ta viết Việt Sử phải gọi Đề Thám, Nguyễn Huệ… là kẻ cướp, là phiến loạn và Gia Long là “khai quốc công thần” v.v…


Vậy mà cũng có những nhà chép sử hạ bút kêu những bậc anh hùng dân tộc của ta là cướp, giặc và quân bán nước là cứu quốc công thần… So ra thì những sử gia đó còn kém anh thợ đá nói ở trên kia nhiều lắm.


Những người vì công danh, vì đồng tiền, phải gục mặt xuống đẻ rủa xả những người trung nghĩa tưởng cũng nên suy nghĩ. Khắc vào bia, chép vào sử mà vu khống, không thể nào che mắt được người dân. Kết cục, cái đức của người hiền tài, bao giờ cũng sáng ngời, nay không tỏ thì mai tỏ, chứ kẻ vu khống thì chắc chắn ngay từ đương thời đã bị khinh khi, phỉ nhổ rồi: “Hàm huyết phú nhân…”.


X.K.


ĐỀ NGHỊ HÒA BÌNH CỦA ĐARIUÝT


Giữa hai trận Yduýt và Aben, vua Đariuýt(1) nhiều lần đề nghị hòa bình với A Lịch Sơn Đại đế.


Thoạt tiên, vua Đariuýt viết hai thư; một thư, lời lẽ rất hùng hồn, một thư, lời lẽ hòa dịu hơn. Nhưng A Lịch Sơn Đại đế cũng không chấp thuận đề nghị của hai thư đó.


Lần thứ ba, Đariuýt cử mười viên sứ thần chọn lựa trong họ hàng thân cận đến hội đàm với A Lịch Sơn và hứa sẽ nộp nhiều tiền tiến cống, gả con gái cho vua A Lịch Sơn và lại đem nửa giang sơn ra làm của hồi môn cho con gái.


A Lịch Sơn Đại đế hội họp quần thần lại nói cho họ rõ đề nghị của vị vua Ba Tư và hỏi ý kiến nên xử sự thế nào cho hợp lý. Có một viên quan là Bắc Mỹ Long cho như thế là lợi lắm:


- Thần sẽ chấp nhận đề nghị của vua Đariuýt, nếu thần là A Lịch Sơn.


A Lịch Sơn cũng nói:


- Và ta cũng vậy, nếu ta là Bắc Mỹ Long.


Và A Lịch Sơn từ chối(1).


 


LỜI BÀN: Một người hiểu biết ngày nay tất nhiên phải chê vua Đariuýt là háo chiến, không phục vụ hòa bình; nhưng đọc truyện này, ta nên hiểu về một phương diện khác.


Khi người ta có một sứ mệnh phải làm tròn, ta không bao giờ nên để cho nhan sắc và của cải quyến rũ được ta. Nhiệm vụ lên trên hết.


Lời của vua A Lịch Sơn “Và ta cũng vậy… Bắc Mỹ Long” có ý chê Bắc Mỹ Long là một người cầu yên, bị vàng bạc và sắc đẹp làm cho sa đọa tinh thần.


B.


A LỊCH SƠN TỪ CHỐI TẶNG PHẨM CỦA HOÀNG HẬU A ĐA


A Đa, hoàng hậu xứ Cari(1) bị một viên quan nọ tiếm ngôi và đuổi đi khỏi xứ. A Lịch Sơn Đại đế đánh kẻ xâm lăng, cướp lại ngôi và phục hồi(2) lại chức vị cũ cho A Đa, lại mở mang thêm bờ cõi nữa.


Không biết làm cách nào để tri ân người đã cứu giúp mình, Hoàng hậu A Đa, ngày nào cũng đem dâng A Lịch Sơn Đại đế các cao lương mỹ vị nấu nướng thực công phu. Bà ta lại cử cả những đầu bếp khéo nhất đến để hầu hạ cơm nước A Lịch Sơn Đại đế.


A Lịch Sơn cảm tạ Hoàng hậu A Đa về những hảo ý của bà, nhưng xin bà đừng có bận tâm lo nghĩ trả ơn làm gì. Đại đế lại đuổi các đầu bếp ấy:


- Lúc trẫm còn ít tuổi, một viên tỉnh trưởng của trẫm là Lêôniđát(3) đã đem cho trẫm nhiều người đầu bếp khéo hơn thế nữa: một đầu bếp dùng vào bữa trưa: ấy là buổi đi dạo mát lúc sáng ngày; một đầu bếp dùng vào bữa chiều: ấy là bữa trưa ăn thanh đạm(4), không no quá.


 


LỜI BÀN: Miếng ăn, đối với một số người, là một vấn đề quá ư quan trọng. Vì thế cho nên ta mới thấy có những người bán linh hồn vì miếng ăn, ăn nhục, ăn nhã, ăn như thú vật.


Họ có biết đâu rằng cái vấn đề ăn chỉ là để sống người mà thôi. Hơn thế, khoa học mới còn chứng minh rằng người ăn ít thì khỏe mạnh và sống lâu, ăn nhiều thì chóng chết.


Dù ăn nhiều hay ăn ít, việc ăn ngon không vụ vào cao lương mỹ vị. Người lười biếng, không hoạt động, ăn không thể ngon được. Chuyện mầm đá của Trạng Quỳnh còn kia để chứng tỏ rằng người ta chỉ ăn lúc cần ăn, nghĩa là lúc đói, thì mới ngon miệng; nếu không đói, không vui vẻ thì không thể ăn ngon được.


Vượt quá phạm vi ăn, ta còn thấy rằng bất cứ về vấn đề gì, cũng cần phải có tiết độ. Không phải chỉ tiền nhiều mới có thể tạo được hạnh phúc cho người đời. B.Kh.


MỘT NHÀ ÁI QUỐC NỒNG NHIỆT


Aríttôsitông, tên điểm chỉ vả lậu(1), lúc nào cũng khoe mình can đảm và ái quốc. Bất cứ ở nơi đông đúc nào, y cũng tỏ ra là mình nồng nhiệt và hăng hái, cứ động thở ra là nói chuyện trận giặc này, thắng lợi kia. Y kêu gọi dân chúng phải nuôi óc chiến tranh, chuẩn bị đánh nước này, dẹp nước nọ. Bao nhiêu nước láng giềng đều bị y đe dọa xâm chiếm và bảo hộ. Y muốn đánh cả trời và thu hết cả thiên hạ vào trong tay.


Nhưng một khi trong nước có lệnh động viên, để kiểm tra những công dân nào ra trận được, người ta lại thấy y chống gậy đi lụ khụ đến tòa án, lê một cái chân què quấn chằng chịt không biết bao nhiêu vải.


Phôxiôn, ngồi ở bàn giấy, vừa trông thấy y từ đàng xa đã bảo viên lục sự:


- Thầy viết đi: Aríttôsitông què và hèn nhát.


LỜI BÀN: Những hạng người như Aríttôsitông, vào bất cứ thời đại nào, cũng đầy rẫy. Những kẻ nói nhiều là những kẻ không hành động, cũng như kẻ nói thánh nói tướng nhiều lại chính là những kẻ nhút nhát khi lâm sự.


Có lẽ vì thế, trong khoa giáo dục của người Anh, ngay từ lúc dạy dỗ trẻ nhỏ đã hết sức huấn luyện cho người ta biết tiết chế cử chỉ và lời nói để dành sức lại mà hoạt động. Tri và hành (biết và hành động) còn quý hơn là ngôn nhiều mà không đi tới kết quả gì.


X.K.


NHÀ CHIẾN SĨ MẬP


Một hôm trời nóng bức, một diễn giả kia đứng ở giữa nơi công chúng, kêu gọi nhân dân nổi dậy đánh vua Philíp.


Diễn giả hơi mập, vừa nói vừa thở hổn ha hổn hển; những anh béo ú, mà làm ra dáng hùng hồn, thường vẫn thế. Mồ hôi anh ta chảy ra như tắm. Anh ta thở không được, thỉnh thoảng lại đòi nước để uống.


Dân chúng thành Aten nghe anh mập háo chiến(1) diễn thuyết mà phải nín cười. Sau, Phôxiôn không nhịn được, phải kêu gọi dân chúng mà bảo:


- Diễn giả đây chính là người sinh ra để phục vụ(2) chiến tranh. Các bạn có thể tin ông ta được. Các bạn có thể tưởng tượng thấy ông mặc giáp đeo gươm ra trận, tả xông hữu đột ở trước quân thù - ấy thế mà chỉ mới nói về chiến tranh thôi, ông ta đã mệt lử và tắc cổ gần như không thở được.


 


LỜI BÀN: Cũng như câu chuyện trên, người nói nhiều phần nhiều là không hành động.


Vì vậy, muốn hiểu người, chớ nên nghe lời họ nói mà cần xét việc họ làm.


Tiếc thay, ở thời đại nào cũng vậy, những anh “béo nói” vẫn được người ta trọng dụng, còn đa số người “tự trọng”, không nói, chỉ làm, vẫn bị bỏ quên.


H.T.T.


KHUẤT NGUYÊN VỚI ÔNG LÃO ĐÁNH CÁ


Khuất Nguyên(1) làm quan đại phu dưới triều vua Hoài Vương nước Sở, vì dùng lời ngay thẳng can vua mà bị ghét bỏ, đem đày đi một nơi hẻo lánh ở trên sông Mịch La(2).


Hàng ngày, Khuất Nguyên đi trên bờ sông, ca hát một mình như một người cuồng(1). Có một ông lão đánh cá, trông thấy, hỏi rằng:


- Ông có phải là Khuất Nguyên đấy không? Sao lại đến nỗi tiều tụy như vậy?(2)


Khuất Nguyên đáp:


- Cả đời say cả, một mình ta tỉnh, cả đời đục cả, một mình ta trong; vì thế ta phải biếm chích như vậy(3).


Ông lão đánh cá nói:


- Người xưa không nệ, lại biết tùy thời. Nếu quả là đời đục cả, sao ông không khuấy bùn cho đục thêm? Nếu quả là loài người say cả, sao ông không ăn cả men rượu, húp cả bã rượu để cho say hơn nữa? Việc gì phải nghĩ sâu, xét xa, khổ thân khổ đời, để đến nỗi phải biếm chích thế này?


Khuất Nguyên nói:


- Ta nghe nói: gội đầu rồi, phải chải mũ rồi hãy nên đội; tắm xong rồi, phải lấy áo mới mà mặc mới không dơ. Khi nào ta lại chịu đem cái thân trong sạch để cho vật nhơ nhớp dính được vào mình? Chẳng thà nhảy xuống sông mà chết, gửi xác nơi bụng cá, chớ sao lại chịu để cho tấm thân nhơ bẩn?


Ông lão đánh cá, nghe thấy vậy, chèo thuyền mà đi khơi. Và hát:


Sông Thương nước chảy trong veo,


Thì ta đem giặt cái lèo mũ ta;


Sông Thương nước đục phù sa


Thì ta lội xuống để mà rửa chân.(4)


Rồi đi thẳng, không buồn quay đầu trở lại.


 


LỜI BÀN: Nhiều người đọc truyện này, bị huyễn diệu vì lời nói khẳng khái của Khuất Nguyên, cho hành động của Khuất Nguyên là phải. Sự thực, cao tiết của Khuất Nguyên sẽ mãi mãi được người ta tôn trọng, nhưng lý luận của ông không khỏi quá chủ quan. Biết thế nào là loài người đục cả? Biết thế nào là chỉ có một mình ông tỉnh? Tin tưởng như vậy, không thể không lầm lẫn trong nếp suy nghĩ và trong hành động được.


Ông lão đánh cá chủ trương tùy thời. Phương pháp của ông có tính cách phá hoại chứ không xây dựng, nhất định không thể tới một kết quả gì đẹp đẽ.


Tùy thời quá thì dễ hèn, câu nệ quá thì hỏng việc. Vì thế, người thực hiểu đời phải tùy theo hoàn cảnh mà đối xử, có khi bẩn riêng cái thân mình mà làm lợi được cho đại đa số thì cũng cứ phải chịu bẩn đi, mà giữ tiết tháo để đến nỗi thiệt thân, lại không làm lợi ích được cho ai thì có khi cũng chẳng cần cương quyết để đi tới chỗ rạn vỡ, sứt mẻ làm gì.


Cái thân của người ta, thực ra, không phải của ta, vì thế, sự sống chết cần phải cân nhắc kỹ. Sống giúp ích cho xã hội, đã đành là đúng, nhưng chết mà cũng giúp ích được nữa, mới lại càng đáng trọng.


H.V.


GỬI CON MẮT BÊN TAY MẶT CỦA VUA PHILÍP


Vua Philíp xứ Maxêđoan, thân phụ A Lịch Sơn Đại đế vây thành Mêtôn. Có một nhà thiện xạ(1) tên là Átte, đến trình diện và xin đức vua thu dụng. Y tự khoe mình bắn giỏi và dám cam đoan rằng chim dù bay nhanh đến thế nào ở trên trời, y bắn cũng phải trúng, trăm phát không sai một.


Vua Philíp bèn phán:


- Được. Trẫm sẽ dùng nhà ngươi nếu trẫm đánh nhau với loài chim se sẻ.


Lời đùa cợt đó làm cho Átte tức bực lắm. Y căm thù nhà vua hết sức. Y bèn sung vào quân đội trong cái thành bị vây hãm và kiên quyết chờ ngày để trả thù.


Một hôm, đứng rình ở trên ngọn thành, y trông thấy vua Philíp đương duyệt quân ở đàng xa, bèn lắp một mũi tên vào cung mà bắn. Trên mũi tên, y đề mấy chữ này: “Gửi con mắt bên tay mặt của Philíp”.


Mũi tên đó trúng vào mắt tay mặt của vua Philíp thực.


Vua Philíp rút mũi tên đó ra, biên vào đó mấy chữ “Nếu Philíp hạ được thành thì sẽ treo đầu Átte” và bắn vào trong thành bị vây.


Quả sau, vua Philíp chiếm được thành trì đó.


Vua Philíp nói một câu chơi mà thành ra phải trả bằng một cái giá đắt quá; tên thiện xạ Átte trả được thù riêng, lại phải trả bằng một cái giá đắt hơn. Ở đời, xưa nay, vẫn thế. Sự thù hằn làm cho ta mờ ám tâm hồn và đưa ta đến thất bại. Tinh nghịch cũng nguy hiểm lắm. Cười cợt người khác chỉ làm cho người ta căm giận, chớ không làm cho ai sợ. Chế nhạo người ta gây cho người ta những vết thương đau khó thể mà quên.


Thường thường, người ta có thể tha thứ được một hành vi xấu dễ hơn là tha thứ một lời nói độc.


 


LỜI BÀN: Trong truyện này, hai người có lỗi. Vua Philíp có cái lỗi là giễu một người có thiện ý muốn giúp mình, mà Átte có cái lỗi là thù hằn nhỏ nhen, không kể đến đại nghĩa.


Là một nhà lãnh đạo, một người như vua Philíp có bổn phận là lấy người về với mình càng nhiều càng hay; chạm tới lòng tự ái của người ta tức là mặc nhiên đẩy người ta về với địch quân. Còn Átte thì kém về cái điểm thù hằn. Đã xin về với Philíp, tức là nhận Philíp có chính nghĩa, mà chỉ vì không được trọng dụng, quay sang với địch để trả thù riêng, cái lâm thuật của Átte không đáng để cho người ta khâm phục.


Tính hay chế nhạo của vua Philíp là một nhược điểm, nhưng hành động của Átte cũng chẳng “anh hùng” gì, tuy y đã trả được thù riêng.


B.


HẠNH PHÚC CỦA CÁC BẠO CHÚA


Aríttít lấy bạo động mà chiếm được tỉnh Agốt(1) là quê hương bản quán của ông. Ông là đồng minh với các vị vua chúa oai hùng; vì an ninh của mình, ông nuôi quân rất nhiều và phàm kẻ nào ở trong tỉnh mà chống đối, ông đều giết hết, không tha một mống(2).


Tuy vậy, ông vẫn lo sợ: ông làm cho người khác sợ mình bao nhiêu thì chính ông cũng lại lo sợ bấy nhiêu. Ông không dám để cho các quân hầu được bước vào trong dinh ông, ông bắt hết cả mọi người phải ở bên ngoài.


Tối tối, sau khi dùng cơm chiều xong rồi, ông lại đuổi hết kẻ hầu người hạ ra ngoài. Ông đi khắp lượt ở trong cung để xem chắc có phải không còn người nào nữa không. Chính ông đích thân đi đóng các cửa ngõ. Đoạn, ông kêu một vị cung tần lại, cùng người cung tần đó vào một hầm kín, bắc thang, trèo lên một tầng lầu thực cao để ngủ. Mẹ người cung tần đó phải đứng chờ cất thang đi, đem giấu vào một phòng kín khác rồi khóa cửa các phòng đó lại. Sáng hôm sau, bà già lại phải đích thân đến mở khóa lấy thang, bắc lên để cho tên bạo chúa xuống.


Vào buồng ngủ rồi, tên bạo chúa kéo giường ra để chặn cửa ra vào, xem xét rất cẩn thận một lần nữa. Thực chắc chắn đâu vào đó rồi, mới lên đi ngủ. Thử hỏi giấc ngủ của một người như thế, một người mà đến tận lúc trèo lên giường để nghỉ ngơi vẫn còn thắc mắc, lo âu, nghi kỵ, như một con vật bị người ta rình bắn, giấc ngủ đó sẽ ra sao? Ấy vậy mà người ta gọi thế là quyền tối cao, là hạnh phúc. Chẳng biết cái quyền trị dân có thú vị những gì mà người ta khổ tâm, khổ trí mua lấy được?


 


LỜI BÀN: Những tên bạo chúa, độc tài không thể có một lương tâm yên ổn. Truyện này nhắc ta nhớ đến việc Tào Tháo, lúc chết, cho xây một trăm cái mả, vì lo sợ người ta trả thù. Thì ra kẻ làm ác không những chỉ lo sợ trả thù trong lúc sống mà thôi, mà còn lo sợ trả thù cả khi chết nữa. Thành thử ra cả một cuộc đời của chúng lúc nào cũng nơm nớp e sợ người ta giết. Hơn thế, ví cho người ta không giết nữa thì chúng cũng không thể sống yên ổn với lương tâm. Câu chuyện chàng Cain giết anh, rồi chạy trốn, mà bị lương tâm theo đuổi mãi, còn đó để chứng tỏ rằng: làm điều ác thì dù chạy trốn đến sơn cùng thủy tận, tâm hồn cũng chẳng được yên nào.


Chỉ những người sống hợp với lẽ trời, đạo người, chỉ những người làm đầy đủ nhiệm vụ của con người mới có thể tìm thấy sự yên ổn cho linh hồn mà thôi.


T.S.


NGƯỜI NGU ĐẤT TỀ


Một hôm, vua Hoàn Công(1) nước Tề(2) đi săn. Đuổi theo một con hươu, vua lạc vào rừng rậm, tới một cái hang. Thấy một ông lão đứng trước hang, nhà vua hỏi:


- Hang này tên là hang gì?


Ông lão thưa:


- Tên là hang Ngu Công.


- Tại sao lại có tên như thế?


- Tại vì hạ thần(3), nên mới có cái tên đó.


- Ta trông nhà ngươi không ngu dại, sao lại tự nhận là ngu? Sao lại đặt hang của mình là hang người ngu dại?


Ông lão xin nói:


- Hạ thần có một con bò cái, con bò cái đẻ ra một con bò con. Con bò con lớn lên, hạ thần đem ra chợ bán, mua một con ngựa con đem về nuôi, nuôi với con bò mẹ. Một hôm, có một tên thiếu niên nọ, viện lý rằng(4) “bò cái không đẻ ra ngựa được”, bắt hạ thần phải cho hắn con ngựa con. Hạ thần phải chịu, không cãi được. Thế là mất con ngựa. Ai thấy thế cũng bảo hạ thần là ngu. Bèn đặt hang này là hang Ngu Công(5).


Hoàn Công nghe chuyện, kết luận:


- Thế thì lão cũng ngu thật.


Về triều, vua Hoàn Công đem chuyện thuật lại cho các quan nghe, và hỏi ý kiến. Quản Trọng(1) là quan đại phu của Hoàn Công, đứng lên:


- Như vậy, chính là kẻ hạ thần ngu.


Mọi người hỏi tại sao, Quản Trọng bèn tiếp:


- Phàm một nước có vua giỏi như vua Nghiêu(2), bề tôi tài như Cao Dao(3) thì đời nào lại có kẻ ức hiếp người khác mà lấy ngựa như vậy. Ngu Công đành để mất ngựa, không cãi, chính là một người khôn, vì biết là hình pháp(4) nước ta không ra gì, sinh sự chỉ chết mà thôi. Lời nói của Ngu Công là một lời cảnh cáo bệ hạ nên kịp thời sửa đổi lại việc nước, không thế sẽ hối hận.


Đức Khổng nghe thấy chuyện này, bảo học trò rằng:


- Các đệ tử(5) ta ghi ngay việc này lại. Hoàn Công là vị vua giỏi, Quản Trọng là người hiền, rất mực khôn ngoan(6), mà vẫn tự cho mình là ngu dại.


 


LỜI BÀN: Người thực giỏi, học bao nhiêu cũng thấy mình còn ngu dốt. Quản Di Ngô vốn là một người tài đức ít ai sánh kịp, nghe thấy lời của Ngu Công do Tề Hoàn Công nhắc lại, mà nhận mình là ngu, nói với Hoàn Công cố sửa sang lại triều chính, thì quả là một người thông minh tài giỏi.


Tề Hoàn Công biết nghe lời người hiền, sửa đổi ngay chính sự, lại cũng không phải là người ngu. Mà ông Ngu Công, nhận mình là ngu, gọi hang của mình là hang Ngu Công, lại càng không ngu nữa.


Thấy tên thiếu niên ngỗ ngược, viện lý sự bất thông ra để chiếm đoạt ngựa, Ngu Công chịu nhịn đi, chính là Ngu Công biết suy xét và nhẫn nại. Là bởi vì dưới một chính thể bất công, pháp luật không được tôn trọng, nhà chức trách hiếp đáp dân lành, cãi cho ra lẽ với kẻ cường quyền chỉ thiệt thân, mà nếu đem ra pháp đình để tìm cho ra lẽ phải thì lẽ phải chưa thấy đâu đã thấy mất thêm tiền, mất thì giờ, có khi lại mất nốt cả bò và cả nhà nữa.


Những nỗi uất ức như uất ức của Ngu Công, góp lại nhiều, gây ra một mầm hờn oán trong dân gian mỗi ngày mỗi lớn lên, có thể đưa tới chỗ đánh đổ chính quyền. Quản Di Ngô là một nhà chính trị tài, tiên đoán được như vậy, khuyên Tề Hoàn Công sửa đổi lại nền cai trị, chính là một người tài giỏi. Vậy mà chính ông lại nhận là ông ngu.


Thì ra ở đời này, chỉ những người tài giỏi mới thực hiểu mình và luôn luôn muốn tự tu sửa để tiến hơn lên. Những kẻ chưa có một nhúm kiến thức ở trong đầu mà tự cao tự đại, lúc nào cũng cho là mình khôn ngoan toàn mỹ, đọc truyện này, há có tự vấn lương tâm?


B.


CON VUA KÊDUÝT LẠI NÓI ĐƯỢC


Kêduýt, vua xứ Lyđi(1) có một người con trai câm. Hoàng tử đó lớn rồi mà vẫn không nói được một tiếng nào, mặc dầu đã chữa chạy đủ mọi mặt. Ai cũng cho là hoàng tử sẽ chịu cái tật đó cho đến chết.


Đến khi tỉnh Sác bị dân Ba Tư chiếm được, vị hoàng tử đó đứng ở cạnh nhà vua, lúc quân xâm lăng tiến vào thành. Bỗng đâu có một tên lính, không được tường mặt vua Kêduýt, tuốt gươm ra định chém ngài. Hoàng tử thấy nhà vua sắp bị hại, hết sức cố gắng để bảo cho tên lính kia biết chớ nên làm như vậy. Và hoàng tử đã bật nói ra được câu sau: “Hỡi tên lính! Chớ có hạ sát vua Kêduýt”.


Tên lính tra gươm vào vỏ rồi bỏ đi.


Thì ra hoàng tử đã nói được chỉ vì muốn cứu cha khỏi chết. Từ đó, hoàng tử lại nói được như mọi người.


 


LỜI BÀN: Truyện này không có chi là hoang đường. Khoa học bây giờ thường vẫn đem lại cho ta những thí dụ người câm bật lên nói được, người mù vì tin tưởng mãnh liệt vào một sức mạnh nào đó lại có thể trông thấy lại như người thường.


Đức tin và lòng hy vọng là hai liều thuốc nhiều khi chữa khỏi được những chứng bệnh nan y. Chỉ những kẻ không hy vọng, không tin tưởng mới thất bại ở đời.


H.H.


(còn tiếp)


Nguồn: Đông Tây cổ học tinh hoa (Túi khôn muôn đời). In trong Vũ Bằng Toàn Tập, tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info







(3) Khước từ: từ chối, không chịu làm.




(4) Vu khống: đặt điều nói xấu, vu ra những hành động bỉ ổi mà người bị nói xấu không từng làm.




(5) Kỷ công: ghi ơn.




(1) Đariuýt (Darius): Có ba vị vua Ba Tư mang tên Darius. Đây là vua Darius đệ tam, tục gọi là Darius Codoman. Vua Darius bị vua A Lịch Sơn đánh bại ở Granique, Issus và ở Arbèles. Sau, bị một võ quan của ông, tên là Bessos, mưu sát.


Darius Alexandre le Grand là tượng trưng mối thù truyền kiếp giữa người Hy Lạp và người Ba Tư.


Darius đệ nhất đã chinh phục Ấn Độ; ở Âu châu, chinh phục xứ MacédoineThrace. Sau, bị bại ở trận Marathon.


Con vua Darius đệ nhất là Xérès tiếp tục sự nghiệp của vua cha, chinh phục Hy Lạp với hai triệu người, tàn phá Hy Lạp, chiếm lấy thành Athènes. Sau, Xérès cũng thua trận Salamine và trốn tránh sang Á châu, để lại ở Hy Lạp người anh họ là Mardonios và 300.000 quân lính. Viên tướng này thiêu hủy Athènes lần thứ hai và bị đại bại ở Platée.


A Lịch Sơn Đại đế đánh Ba Tư để trả thù các trận giặc xâm lăng của vua Darius: ông đã tiêu diệt dải giang sơn gấm vóc của vua Darius.




(1) Ở dưới, có bài nói rõ về cuộc điều đình này, viết theo tài liệu của sử gia Latinh Quinte Curce.




(1) Cari (Carie) ở về Tiểu Á Tế Á, trên bờ biển. Những tỉnh chính là: Milet, Halicarnasse Cnide.




(2) Phục hồi: đem trả lại.




(3) Vua Philíp (Philippe) hết sức chăm lo giáo dục cho con trai là A Lịch Sơn. Ông mời nhiều thầy về dạy con trai, mà các ông thầy này đều là những triết gia nổi tiếng. Trong số các thầy này, có ông Lêôniđát (Léonidas), có họ hàng với thân mẫu A Lịch Sơn. Ông Léonidas có tiếng là nghiêm trang, khắc khổ. Ông Léonidas lại còn kiêm chức tỉnh trưởng nữa.


Đến khi vua A Lịch Sơn được 13 tuổi, vua Philippe lại mời ông Aristote về dạy con. Aristote là một nhà đại hiền triết thời bấy giờ. Về sau muốn đền đáp công ơn của Aristote, vua Philippe kiến thiết lại Stagire là quê hương của Aristote mà trước đó ông đã tàn phá.




(4) Thanh đạm: xoàng xĩnh, đơn giản.




(1) Điểm chỉ vả lậu (sycophante): Có một thời, người thành Athènes cấm xuất cảng quả vả (trái sung). Ai mà tố cáo những người xuất cảng trái sung lậu thuế được kêu là sycophante, tức là những người điểm chỉ sung lậu thuế. Về sau này, chữ sycophante được dùng ở khắp các nước châu Âu với một ý nghĩa rộng hơn để chỉ những mật thám, điểm chỉ, những người tầm thường, hạ tiện.




(1) Háo chiến: thích chiến tranh.




(2) Phục vụ: phụng sự, làm việc.




(1) Khuất Nguyên, họ Điếu, người đời Sở Hoài Vương, là quan đại phu ở đất Tam Lư, lòng thật trung thực, nhưng không được vua tin dùng vì vua chỉ nghe lời xiểm nịnh của hai tên Trịnh Thần và Trương Nghị.


Khuất Nguyên nhân đó làm ra “Ly Tao Kinh” dâng cho vua xem, nhưng vua lại lấy thế làm giận, đày ra xứ Trường Sa ở Giang Nam, làm thái thú nơi xứ đó. Tại đấy, ngày ngày rầu rĩ, ông đi thơ thẩn ở mé sông Tương mà ngâm thơ mình làm ra. Nhằm một ngày mồng năm tháng Năm, ông đâm đầu xuống sông Tương mà chết.


Người nước Sở thảy đều thương mến, rủ nhau lấy thuyền đi vớt thây ông. Tục truyền về sau ông hiển linh, báo cho dân vùng đó biết rằng cứ ngày mồng năm tháng Năm làm giỏ đựng đồ ăn vứt xuống sông cho ông thì ông được hưởng. Người ta nhân đó làm thuyền có hình rồng, chèo nơi sông Tương, gọi là “vớt hồn Tương”, nhưng đồ ăn vứt xuống sông, tôm cá ăn hết cả.


Đời Võ Đế, có vị thần hiện lên ở đất Tam Lư, xưng là Âu Hồi, bảo dân chúng rằng: “Những đồ cúng vứt xuống sông, tôm cá nó ăn hết. Muốn cho Khuất Nguyên được hưởng, từ giờ nên gói thứ bánh có góc khóe, như hình trái ấu, rồi lấy chỉ ngũ sắc mà buộc, tôm cá thấy rằng rực, góc khóe thì không dám lại gần”. Làm đúng như vậy, quả nhiên Khuất Nguyên được hưởng.


Về sau, tục đó lưu truyền, cứ đến ngày mồng năm tháng Năm, người ta lại làm bánh có góc khóe để tưởng nhớ đến Khuất Nguyên, một thi tài, nạn nhân của chế độ phong kiến thối nát. Bánh ấy bây giờ là bánh ú. Chỉ ngũ sắc, bây giờ người ta làm khác đi, buộc vào tay con nít, gọi là “mang phù” hay là đeo vào cổ chúng, gọi là “bùa tua bùa túi”, ý để trừ tà ma (vì tôm cá là tà ma).


Cũng ngày mồng năm tháng Năm, ta còn tục đi bẻ các thứ lá, hoặc dùng để tắm gội, hoặc đem về phơi khô để uống: lá để uống bây giờ gọi là “Ngọ thời trà” nghĩa là thứ lá trà lấy vào giờ Ngọ. Ở những vùng quê Bắc Việt, trưa mồng năm tháng Năm, có khi người ta lại lấy từng chùm lá, treo ở cửa, không ngoài ý xua đuổi tà ma.




(2) Mịch La: một nhánh của sông Tương, chỗ Khuất Nguyên trẫm mình.




(1) Cuồng: điên rồ. Ở nước Sở, có một người điên, lấy tên là Sở Cuồng.




(2) Tiều tụy: tồi bại, ốm yếu, thảm hại.




(3) Biếm chích: bị lưu đày.




(4) Bốn câu thơ này, thuật giả không nhớ rõ là của ông Phan Kế Bính hay Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc.




(1) Thiện xạ: bắn giỏi.




(1) Agốt (Argos) là một tỉnh cũ của Hy Lạp gần bờ biển, ở sâu trong vịnh Nauplie. Đó là thủ đô xứ Argolide, bây giờ là Planitza.




(2) Một mống: một người nào.




(1) Hoàn Công: vua nước Tề, đứng đầu Ngũ Bá đời Xuân Thu.




(2) Tề: một nước vào thời Xuân Thu, hiện nay là tỉnh Sơn Đông - Trung Quốc.




(3) Hạ thần: tôi (lối xưng hô của bề tôi đối với vua).




(4) Viện lý: trưng lý lẽ ra.




(5) Ngu Công: ông ngu dại.




(1) Xem ở một bài khác nói rõ về tài đức Quản Trọng (tức là Quản Di Ngô).




(2) Vua Nghiêu cùng với vua Thuấn nổi tiếng là bực vua hiền. Bây giờ, nói “Sống đời Nghiêu, Thuấn” tức là nói tới một thời đạo đức, sung sướng, toàn dân no ấm, vui vẻ, không có ai làm càn, làm bậy.




(3) Cao Dao: một vị quan giỏi về hình án đời Đường, nổi tiếng công minh.




(4) Hình pháp: pháp luật, hình án.




(5) Đệ tử: học trò.




(6) Rất mực khôn ngoan: khôn ngoan tuyệt vời.




(1) Lyđi (Lydie) là một nước của Tiểu Á Tế Á, thủ đô là một tỉnh rất phồn thịnh, mỹ lệ, tên là Sardes, ở trên sông Pactole chảy ở trên mỏ vàng.


Crésus, một vị vua giàu có nhất thế giới, là vua của xứ này. Ông đã chinh phục một phần lớn vùng Tiểu Á Tế Á. Về sau, vua Cyrus, vua Ba Tư, hủy diệt giang sơn của Crésus (Xem ở dưới bài “Cuộc hội kiến của Sô Lông và vua Cờrêduýt”).


Hiện nay, trong văn chương Pháp, danh từ CrésusPactole dùng theo nghĩa bóng. Crésus dùng để chỉ một người sang trọng, giàu có, và sông Pactole để chỉ những kho tàng châu báu.




trieuxuan.info