30.07.2019
Huỳnh Quang
Người con của mẹ Năm Bê (5)


Chúng tôi phải học dự bị một năm. Giáo viên Nga văn của chúng tôi là bà Margarita Mitrofavovna Cazonova. Với chúng tôi bà vừa là nhà giáo vừa là người chị, bà vừa dạy Nga văn, vừa dạy cho chúng tôi hiểu biết về phong tục tập quán của người Ucraina, người Nga, những điều nên tránh và những điều nên làm khi giao tiếp ngoài xã hội. Ví dụ, đi trên phương tiện giao thông công cộng không nên nói chuyện ồn ào, cần phải nhường chỗ ngồi cho trẻ em, người già, người tàn tật; không nên khạc nhổ, ngoáy mũi trước mặt người đối diện... Bà dạy chúng tôi khiêu vũ; đưa chúng tôi đi siêu thị dạy cách mua sắm; dạy chúng tôi cách sử dụng các phương tiện giao thông công cộng từ việc mua vé ở đâu, giá vé chỉ có 5 xu một tờ, sau khi lên xe mình phải tự hủy vé bằng cách xé một tờ vé từ tập vé mình đã mua sẵn rồi cho tờ vé vào thiết bị đục lỗ để xác nhận mình đã đi hợp pháp trên chuyến xe ấy. Bà dặn đi dặn lại việc này đừng quên, nếu quên mà thanh tra giao thông phát hiện được, họ khép tội mình đi lậu. Người đi lậu không bị phạt tiền mà bị xử lý theo cách chụp hình, ghi tên, địa chỉ nơi ở và nơi làm việc, phóng to hình và dán lên bảng “quảng cáo” to dựng ngay tại quảng trường Dzerjenskovo với dòng chữ từ xa vẫn nhìn rõ “Những con rệp của xã hội”. Bà nói không chỉ riêng ở thành phố Kharcov mà hầu hết ở các thành phố trong Liên bang, thành phố nào cũng có những qui định riêng về nếp sống văn hóa, hành vi ứng xử trong xã hội được Xô Viết thành phố thông qua bằng nghị quyết nhằm xây dựng nếp sống văn minh trong xã hội, loại bỏ dần những tập quán xấu, những yếu kém về nhân cách của người dân sống trong thành phố. Ví dụ, ở thành phố Leningrat nếu ai đó chen hàng trong dòng người đang xếp hàng ở nơi công cộng thì bị đưa lên bảng với dòng chữ “Những hạt cát nằm trong giày”.


Bắt đầu từ năm thứ nhất, mỗi học viên có một quyển sổ điểm riêng, mỗi năm học có chừng 5 - 6 môn học cần kiểm tra ghi điểm, điểm kiểm tra các môn học hàng năm của học viên được giảng viên tự tay ghi vào sổ điểm của học viên. Tất cả các lần kiểm tra của tất cả các môn học đều được kiểm tra theo hình thức hỏi đáp trực tiếp từng học viên, chỉ trừ môn Kinh tế chính trị học phải thi viết. Học viên vào phòng thi, bốc phiếu kiểm tra, mỗi phiếu có ba câu hỏi, học viên có một giờ chuẩn bị, sau đó lên bục giảng trả lời bằng cách vừa nói vừa viết lên bảng đen. Giảng viên của trường đều là những người rất uyên bác và trí nhớ tuyệt vời. Tôi không thấy có giảng viên nào lên bục giảng mà phải mang theo giáo án. Những môn học có liên quan đến bảo mật Quân sự học viên phải học trong thư viện mật, tài liệu mật tham khảo xong phải trả lại thư viện ngay.


Hè năm 1962, chúng tôi được về Việt Nam nghỉ phép. Trong thời gian chờ chuyến tàu Mascova - Bắc Kinh - Hà Nội, nghe Đại sứ quán thông báo: Tại hội trường Đại học Lomonoxov có buổi họp mặt sinh viên Việt Nam đang học tập ở Mascova, nghe ông Hiếu, bà Bình nói chuyện về tình hình Cách mạng miền Nam Việt Nam. Phòng Tùy viên Quân sự khuyên chúng tôi nên đi dự họp mặt. Khi vào hội trường tôi bảo Đinh Văn Thung: “Tao có con bạn thời học phổ thông rất thân đang học ở Mascova, hôm nay thế nào nó cũng đến, mình phải tìm chỗ ngồi sao cho có thể nhìn bao quát hội trường để may ra tìm được nó”. Thung hăng hái chỉ cho tôi ngắm hết cô này đến cô khác, tôi đều lắc đầu... không phải! Trong tôi luôn lưu giữ hình ảnh Phạm Thị Minh Hà thời kỳ chúng tôi cùng học ở trường cấp ba An Nhơn là cô gái trắng trẻo, xinh xắn, thân hình đẫy đà, mái tóc đen dài nên không thấy cô nào giống Hà. Một lúc sau, tôi nghe tiếng một giọng Huế, đúng là giọng nói của Hà vọng đến từ phía sau, tôi đứng dậy quay về phía sau và nhận ra đúng là Hà, khi hai ánh mắt gặp nhau thì Hà gọi Quang ơi rất khẽ. Tôi đổi chỗ ngồi cho một bạn sinh viên ngồi cạnh Hà để hai đứa có thể nói chuyện với nhau. Tôi hỏi:


- Hà ơi, sao Hà ốm thế? Nếu không nghe Hà nói thì thú thật mình không nhận ra Hà!


- Bây giờ đã đỡ nhiều, khi con còn bú Hà còn ốm yếu hơn, bởi hoàn cảnh éo le mà Hà đang phải chịu, khổ cả tinh thần và vật chất, Quang ơi.


- Sự tình thế nào kể cho Quang nghe được không?


- Được chứ, có gì phải giấu Quang.


Rồi Hà bắt đầu kể: “Sau khi chia tay Quang ở trường An Nhơn, rồi mãi đến lễ kỉ niệm ngày 2 tháng 9 năm 1954 ở sân bay Phù Cát mới nhìn thấy Quang đi trong hàng quân, sau đó không có dịp nào chúng mình gặp nhau. Tập kết ra Bắc, Hà học hết phổ thông thì năm 1959 Bộ Đại học cho sang Liên Xô, Hà học ở trường này, ngành Hóa Nhuộm. Năm 1960, Hà với anh Đồng yêu nhau, anh ấy cũng học ở trường này, trên Hà hai năm và khác ngành. Chúng mình yêu nhau quá giới hạn, thế là Hà mang bầu. Anh Đồng muốn Hà phá thai, nhưng mình không chịu. Nhờ cái áo khoác, Hà giấu nhẹm chuyện mang thai cho đến khi sinh con mọi người mới biết. Như Quang biết đấy, Bộ Đại học qui định sinh viên đi học nước ngoài không được yêu nhau! Hà không chỉ yêu mà còn sinh con trong khi đang học thì tránh sao khỏi kỷ luật. Bộ Đại học quyết định kỷ luật cả hai vợ chồng Hà, cắt học bổng và rút về nước. Cũng may là anh Đồng đã học xong. Anh ấy học rất giỏi, nhà trường muốn giữ lại làm nghiên cứu sinh luôn, nhưng anh ấy bị kỷ luật nên không được ở lại. Hà suy nghĩ rất nhiều và quyết định chỉ về nước sau khi đã tốt nghiệp, có cái bằng Đại học trong tay để cho ba Hà không giận Hà.


Với học bổng 50 rúp mỗi tháng làm sao đủ vừa nuôi mình vừa nuôi con nhỏ, nhất là khi nó còn bú, bao nhiêu thứ cần phải sắm cho con nhỏ, bao nhiêu sữa cần phải có cho nó, Hà rất ít sữa. May mà có bà giáo rất thương Hà, bà mua cho Hà tất cả những thứ cần thiết để đón đứa con chào đời. Sinh viên Việt Nam ở Mascova phản đối việc rút về nước và cắt học bổng đối với Hà. Họ đặt vấn đề tại sao có con cán bộ cao cấp lấy người Nga mà không bị kỷ luật? Qui định của Bộ Đại học dành cho ai? Các bạn đã ngầm vận động nhau quyên góp tiền giúp đỡ Hà nuôi con và ở lại tiếp tục học. Mỗi lần cầm tiền của các bạn cho, Hà chỉ biết khóc. Những ngày mới sinh con, Hà thì lóng ngóng chẳng biết gì, mẹ Hà không sang giúp được vì đang ốm, ba Hà không cho đi. Anh Đồng thì đang bận hoàn thành luận văn chuẩn bị bảo vệ tốt nghiệp, đề tài luận văn tốt nghiệp Đại học của anh ấy có thể phát triển thành đề tài nghiên cứu cho luận văn phó tiến sĩ. Vì vậy, anh Đồng rất cố gắng với hi vọng nhà trường sẽ giữ anh ấy ở lại chuyển tiếp làm nghiên cứu sinh, nhưng không được vì anh ấy bị kỷ luật, phải về nước. Hà phải thuê một phòng nhỏ dành cho nghiên cứu sinh trong kí túc xá của nhà trường để tiện nuôi con. May mà có bà giáo thương Hà như con, nên ngày nào chiều tối bà cũng đến thăm, làm giúp mọi việc, chỉ bảo mọi điều cần biết cho người mẹ trẻ trong tháng ở cữ, như bà ngoại giúp con gái nuôi cháu... Quang ơi, ở đời không hiếm người tốt, Hà luôn cảm ơn cuộc đời đã cho Hà những người bạn tốt. Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Những ngày qua Hà sống trong thiếu thốn vật chất nhưng đầy ắp yêu thương.


Bây giờ mọi việc đã tương đối ổn, con Hà đã hơn một tuổi, ngoan, nó lo mẹ không có tiền nuôi nên ít ốm đau. Anh Đồng đã về nước và để lại cho Hà một hy vọng là anh ấy sẽ được Viện Khoa học Việt Nam cho sang làm nghiên cứu sinh. Anh ấy mà được sang thì mọi việc sẽ hoàn toàn ổn, Hà sẽ không phải sống dựa vào cứu trợ nữa. Bây giờ, Quang phải kể cho Hà nghe những gì đã diễn ra với Quang trong gần mười năm qua.”


- Ba mẹ Hà bây giờ ở đâu? Hai bác có khỏe không?- Tôi hỏi.


- Ba mẹ Hà từ khi tập kết ra Bắc vẫn làm việc ở bệnh viện Hải Dương, ba Hà khỏe hơn mẹ Hà, bà ra Bắc trời lạnh thường bị đau khớp.


- Thế còn chị Vân?


- Chị Vân theo nghề của ba, đang học Đại học Y Hà Nội.


- Thế còn Mạnh Trí, Hà Hải, Hà có biết tin không?


- Mạnh Trí học Đại học Bách khoa Hà Nội, còn đang học. Hà Hải học Đại học Giao thông vận tải, Hà không hiểu sao Hải lại chọn cái nghề tàu xe.


- Bây giờ Quang kể cho Hà nghe chuyện của mình nhé!


Tôi đã kể tỉ mỉ cho Hà nghe chuyện của tôi theo trình tự thời gian từ ngày xa Hà cho đến ngày hai đứa gặp lại nhau trong hội trường Lomonoxov. Từ chuyện theo ba Hà về bệnh viện chữa bệnh, đến việc đi bộ đội khi chưa đủ tuổi, chuyện các trận chiến đấu mà tôi đã tham gia, chuyện đi tập kết... chuyện học hành... và năm 1960 được sang Liên Xô học ở Học viện Quân sự tại thành phố Kharcov.


Cuối cùng, tôi giao ước với Hà hai điều và yêu cầu không được cãi lại: Một là, Quang sẽ coi trong túi có bao nhiêu tiền, chắc chắn là không nhiều nhưng Hà phải cầm lấy. Hai là, Quang nghỉ phép đến cuối tháng Tám sẽ trở sang và sẽ lên kế hoạch tiết kiệm mỗi tháng một nửa học bổng của mình, học bổng của sinh viên Quân sự là 75 rúp một tháng, dồn nửa học bổng một năm được khoảng 500 rup, cũng gần bằng một năm học bổng của Hà, mượn trước của đồng đội rồi trả cho họ sau; cộng với số tiền phụ cấp của mình trong hai năm vừa qua được giữ ở đoàn quản lý học viên Quân sự; có lẽ cũng không được bao nhiêu, vì Quang chỉ là hạ sĩ quan nên chỉ có phụ cấp tiêu vặt, chưa có lương. Quang sẽ nhờ bà chị đổi sang tiền rup mang sang đây và gửi cho Hà ngay qua bưu điện, phải gửi bưu điện vì bộ đội đi học cũng có qui định rất khắt khe, khắt khe hơn sinh viên bên ngoài, Quang không được đi chơi ngoài phố một mình.


- Không, không... Quang đừng phải lo bóp bụng như vậy. Hà tin anh Đồng sẽ sang, mọi viêc sẽ ổn.


- Ừ, thì khi nào Đồng sang, Hà báo cho Quang biết, mình sẽ ngưng kế hoạch bóp bụng những năm sau. Hồi chúng mình còn đi học phổ thông, Hà cho Quang cái gì có bao giờ Quang từ chối đâu? Cả đến cái việc Hà đưa tiền mua kẹo kéo hai đứa cùng ăn.


Cô nàng đã bắt đầu sụt sùi, nước mắt lã chã. Tôi kéo đầu Hà nghiêng về phía mình và nói khẽ: “Thôi, nín đi Mít Ướt ơi, sắp xong buổi nói chuyện rồi”. Tôi gọi Mít Ướt để cho Hà vui khi nhớ lại biệt danh tôi đặt cho Hà khi chúng tôi còn học cấp hai Lương Văn Chánh. Hai tay Hà ôm chặt cánh tay tôi và thổn thức trong nước mắt:


- Cảm ơn Quang rất nhiều. Tối nay, Hà sẽ viết thư kể cho ba nghe chuyện chúng mình gặp nhau hôm nay.


- Ừ hay đấy, cho Quang gửi lời thăm hai bác, ước gì có dịp về Hải Dương thăm hai bác.


- Chúng mình ra trước nhé, Hà phải về kẻo bé nó mong.


Chúng tôi ôm nhau rất lâu trong lời chia tay lặng yên...


***


 


Kết thúc năm thứ hai tôi được Giám đốc Học viện, Thượng tướng Bajanov tặng bằng khen kèm theo một chiếc đồng hồ đeo tay có khắc chữ phía sau “Giám đốc Học viện ARTA tặng học viên Huỳnh Quang” về thành tích học tập xuất sắc hai năm khoa học cơ bản. Hè năm 1963, chúng tôi không có tiêu chuẩn về Việt Nam nghỉ phép nên được Học viện ARTA cho đi nghỉ ở thành phố nghỉ mát Yanta ở miền Nam Liên Xô, đi tham quan thành phố cảng Anh hùng Xevastopol ở phía Nam và thành phố Anh hùng Leningrad ở phía Bắc Liên Xô trong kỳ nghỉ đông.


Những năm 60 của thế kỉ trước, ở Liên Xô có nhiều sự kiện lớn đã diễn ra: Ngày 12 tháng 4 năm 1961, Iuri Gagarin người đầu tiên bay vào vũ trụ, niềm tự hào lớn của nhân dân Liên Xô trước nhân loại.


Ngày 30 tháng 10 năm 1961, Liên Xô đã đưa thi hài Stalin ra khỏi lăng Lenin, sau những phê phán về chủ nghĩa sùng bái cá nhân Stalin và những sai lầm của Stalin trong Đảng Cộng sản Liên Xô.


Xung đột biên giới Trung Quốc - Liên Xô kéo dài nhiều tháng trong năm 1962 với nhiều tổn thất mỗi bên. Xung đột còn kéo dài đến cuối năm 69 suýt nổ ra chiến tranh lớn giữa hai nước.


Nền nông nghiệp Liên Xô suy thoái, nước Cộng hòa Ucraina phì nhiêu lại thiếu bánh mì và thực phẩm từ nông nghiệp.


Đường lối chính trị của các Đảng lãnh đạo ở các nước Xã hội Chủ nghĩa có nhiều phân hóa. Quan hệ Việt Nam - Liên Xô cũng không nằm ngoài xu thế trên. Ta coi ở Liên Xô đang hiện hữu Chủ nghĩa xét lại và hệ quả là hai nhà nước xử lý chính trị theo cách của mình, ảnh hưởng đến việc học tập của chúng tôi.


Cuối tháng 8 năm 1963, Liên Xô quyết định chuyển tất cả học viên Quân sự nước ngoài ra khỏi Học viện Quân sự ARTA đến các trường Quân sự khác trong Liên Xô, tùy theo ngành học. Đoàn chúng tôi và Đoàn sang sau một năm do Lê Đức Minh dẫn đầu, cùng với nhiều Đoàn các nước Xã hội Chủ nghĩa khác cùng học ngành rada như Trung Quốc, Triều Tiên, Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungari, Rumani, Albani, Nam Tư, Bungari được chuyển đến Học viện rada Kiev từ năm học 1963-1964. Sau đó, có Đoàn học viên Việt Nam do anh Nguyễn Quốc Thịnh làm trưởng đoàn cũng sang đây học Nga văn.


Tại thành phố Kiev có ba trường Quân sự có học viên Việt Nam: Học viện Rada, Học viện Phòng không và Học viện Tăng thiết giáp. Bên Phòng không tôi hay chơi với anh Lê Cổ, tiểu đội trưởng của tôi hồi ở trường Văn hóa Lạng Sơn, anh Trần Quang Bỉ và anh Nguyễn Chánh, anh Bỉ với tôi là đồng hương hai xã kề nhau; bên Tăng thiết giáp có Nguyễn Trung, đồng đội cũ từ khi chúng tôi cùng ở Sư đoàn 675 Pháo binh. Những năm 60, Ucraina thiếu lương thực thực phẩm, nhất là thịt heo không thường xuyên có trong các cửa hàng, cho nên mỗi khi cửa hàng thực phẩm bên ký túc xá Phòng không có bán thịt heo, anh Bỉ mua mang sang bên này cho tôi và ngược lại khi bên tôi có bán thì tôi mua mang sang cho anh Bỉ. Chúng tôi thích ăn thịt heo hơn thịt cừu có bán thường xuyên. Ký túc xá của các Học viện Quân sự ở Kiev, mỗi tầng đều có gian bếp cho học viên Quân sự nước ngoài tự nấu ăn nếu muốn.


Cuối năm học 1963-1964, tôi được Học viện tặng bằng khen về thành tích tham gia nghiên cứu khoa học của học viên với đề tài: “Ứng dụng lý thuyết ma trận trong nghiên cứu lý thuyết máy phiên dịch”. Cũng năm này, tôi được Bộ Quốc phòng trao quyết định quân hàm Chuẩn úy có số. Thế là từ đó tôi có lương, mười một năm trước tôi chỉ được hưởng phụ cấp hạ sĩ quan, chiến sĩ ; hệ quả của chính sách: Đi học không được xét đề bạt.


*


Thành phố Kiev là Thủ đô của nước Cộng hòa Ucraina. Thành phố rất đẹp và thơ mộng bên dòng sông Dnhepr hiền hòa. Sông Dnhepr dài 2290km với 525km cho phép giao thông bằng tàu thủy. Kiev có hệ thống đường tàu điện ngầm mà mỗi nhà ga là một công trình kiến trúc nghệ thuật, đường tàu điện ngầm đi dưới lòng sông Dnhepr, nhiều đoạn đường tàu nằm sâu dưới mặt đất hàng trăm mét. Cây đường phố được lựa chọn chủng loại, màu hoa, màu lá và trồng theo qui hoạch được nghiên cứu kỹ nên thành phố trông rất đẹp. Trong thành phố có nhiều loại bảo tàng, khách du lịch xem hàng tháng không hết. Trong triền núi bên bờ sông Dnhepr có khu nghĩa trang trong lòng đất, nơi lưu giữ nhiều thi hài các cha cố từ mấy trăm năm về trước, vẫn còn nguyên vẹn trong các quan tài kính. Vào nghĩa trang chỉ có một đường hầm hẹp vừa một người đi, hai bên đường hầm rải rác có những ngách chừng năm mét vuông đặt quan tài người quá cố. Trong đường hầm có ánh đèn lù mù, người đi xem chỉ đi theo một hướng từ cửa vào cho đến cửa ra, không thể quay ngược trở lại.


Sông Dnhep chảy qua Kiev là một dòng sông vui quanh năm. Mùa hè các tàu du lịch chạy dọc theo sông từ Kiev đến các thành phố khác bên bờ sông ở thượng nguồn hoặc hạ lưu, sáng đi, chiều về. Tôi và anh Trì, anh Sang thường đi chơi theo tàu dọc sông để ngắm cảnh rất thú vị về mùa hè. Về mùa đông nước sông đóng băng, đêm đêm nhạc nổi lên và người dân Kiev đổ ra sông, chơi khúc côn cầu, trượt băng. Tôi và anh Trì cùng mấy bạn Triều Tiên cùng học cũng thường ra sông học trượt băng vào mùa đông.


Hè năm 1964, chúng tôi được thông báo về Việt Nam nghỉ phép theo thông lệ hai năm một lần. Nhưng khi về đến Việt Nam, tất cả các đoàn từ Liên Xô về chưa được nghỉ phép mà phải tập trung chỉnh huấn chính trị, chống chủ nghĩa xét lại, tại doanh trại Quân đội gần thị trấn Bần, Yên Nhân, Hưng Yên. Học chính trị xong được nghỉ phép một tháng, sau đó tập trung tại Trạm 66 nghe phổ biến chủ trương thay đổi kế hoạch đào tạo của Bộ Quốc phòng. Hầu hết các đoàn từ Liên Xô về sẽ chuyển lên trường Văn hóa Quân đội ở Lạng Sơn học Trung văn.


Khi về đến trường Văn hóa Quân đội, tôi rất ngạc nhiên tất cả các đoàn từ Kiev về đều có mặt đông đủ, duy chỉ có đoàn Rada do Đặng Đình Vinh là trưởng đoàn thì chỉ có một mình tôi! Tôi hơi hoang mang nghĩ rằng có lẽ Cục Cán bộ đánh giá mình là thành phần xét lại, vì điểm thi môn kinh tế chính trị học của mình vẫn đạt điểm cao nhất. Nhưng thực ra không phải như vậy. Sau này, khi tôi công tác ở Cục Cán bộ, có dịp hỏi anh Nguyễn Công Trạch trước kia làm công tác quản lý học viên đi học nước ngoài, anh ấy bảo tại ông hay chơi với một con bé Nga, đoàn trưởng Đặng Đình Vinh phản ảnh như vậy. Cục lo ông học xong ở lại luôn với con bé, thế là mất toi một kỹ sư giỏi mà ở nhà khi ấy Quân đội chưa có một kỹ sư rada nào, cho nên chuyển ông sang Trung Quốc cho chắc ăn.


Cháu Tanhia mà tôi hay chơi ấy khi đó mới chín tuổi, con bà già quét dọn trong kí túc xá chúng tôi ở. Cháu như cô giáo dạy thực hành nghe nói tiếng Nga của tôi, nhờ cháu mà trình độ tiếng Nga của tôi hơn hẳn các anh trong đoàn. Chính yếu tố ngôn ngữ đã giúp tôi đạt kết quả học tập tốt.


Học Trung văn ở trường Văn hóa Lạng Sơn, tôi được giao làm tiểu đội trưởng, Phùng Trung Thạch làm tiểu đội phó. Chỉ học Trung văn có ba tháng mà tiểu đội tôi đã nổi tiếng là tiểu đội học tốt, tăng gia giỏi và có nhiều kiện tướng ăn khỏe. Mỗi bữa ăn, sau khi người ta ăn xong về hết cả rồi, nhìn quanh trong nhà ăn còn lại toàn là quân của tiểu đội tôi, lúc ấy mới tập trung về một mâm, đi vét cơm thừa của các mâm đem về làm bữa liên hoan riêng của tiểu đội với nước mắm hoặc nước canh.


Tháng 1 năm 1965, Cục Cán bộ lại chuẩn bị cho chúng tôi sang Trung Quốc. Cục Quân nhu lại phải cấp quân trang mới vì quân tư trang của chúng tôi đã để lại Liên Xô trước khi về phép. Đoàn đi Trung Quốc đợt này khá đông vì tất cả các đoàn học chuyên ngành đều phải tập trung về Học viện Nam Kinh để học Trung văn. Chương trình học Trung văn một năm tôi đã hoàn thành trong năm tháng, xin kiểm tra và được đánh giá đạt yêu cầu chuyển sang học chuyên môn. Cùng học Trung văn ở Nam Kinh tôi có những đồng đội thân thiết như anh Nguyễn Văn Bay, anh Vũ Văn Vận, Lê Đỗ Thái, Phùng Trung Thạch, Trần Đình Ngân...


Tháng 6 năm 1965, tôi được chuyển về Học viện Rada Trùng Khánh. Đi từ Nam Kinh đến Trùng Khánh bằng tàu thủy chạy ngược dòng sông Trường Giang.


Phong cảnh hai bên dòng sông rất hùng vĩ, nhất là đoạn thượng nguồn khi tàu đi vào tỉnh Tứ Xuyên. Về trường sau tôi có thêm đoàn học rada của Lê Đức Minh trong đó có Đặng Hữu Tuệ, Ngô Song Bỗng...  đoàn rada Hải quân trong đó có Lê Đỗ Thái, Phùng Trung Thạch...  Quân số học viên Quân sự ở đây giờ đông vui hơn nhiều. Bên cạnh niềm vui với đông đảo đồng đội, tôi có thêm niềm vui riêng mà không cho ai biết. Tôi nhận được thư của Oanh, cô gái miền Nam, sinh viên Đại học Y Thái Bình, cha Oanh làm lái xe ở Đoàn xe 12, đoàn xe cơ quan Chính phủ, anh Lê chồng chị Hương là Đoàn trưởng. Hai cha con Oanh sống cùng khu tập thể với chị Hương ở 192 Quan Thánh, Ba Đình, Hà Nội.


Thư Oanh viết cho tôi khi đang ở chiến trường Khu 5, Oanh viết: “Anh Quang thương... Sau khi nhận quyết định đi B, em có sang nhà cô Hương chơi mấy lần để tìm cơ hội lấy trộm một tấm hình của anh trên khung kính có nhiều hình treo trên tường. Tấm hình của anh sẽ là “báu vật” giúp em vượt mọi khó khăn trong công tác và mọi hiểm nguy trên chiến trường. Em sẽ thường kể chuyện với anh qua tấm hình, như là anh luôn cùng em trên mọi nẻo đường chiến đấu. Em hy vọng sau hai năm công tác chiến trường, em sẽ được trở ra Bắc để kết thúc chương trình Đại học Y và nhận bằng bác sĩ. Mặc dù trong quyết định đi B Bộ Y tế đã ghi Bác sĩ Trần Thị Oanh. Trước khi đến nơi tập trung, em và ba em có sang chào bác Lê, cô Hương và xin địa chỉ của anh, nhưng em không dám thú tội trộm hình của anh, vào đến Khu 4 em mới viết thư xin lỗi cô Hương về cái tội “ăn cắp” và mong cô tha thứ.


 Anh thương! Trên đầu thư em muốn viết thêm chữ YÊU nhưng không dám viết. Chúng mình quen nhau chưa lâu, chưa bao giờ có những cử chỉ ngọt ngào khi bên nhau, em lại là cô gái nhan sắc quá bình thường nên em sợ anh chê, không dám thổ lộ lời yêu thương. Nhưng giờ đây em không còn có cơ hội được gần anh trên những chiếc ghế đá ở đường Thanh Niên để chúng mình hiểu nhau hơn. Em xin anh được nói với anh lời chân thành và sâu thẳm từ trái tim em rằng EM YÊU ANH. Nếu anh không chê em, xin anh chờ em 2 năm chúng mình gặp lại nhau và sẽ quyết định cuộc đời tương lai của mình. Những dòng thư này em viết trước mặt anh qua tấm hình, coi như anh đang ngồi trước mặt em. Bây giờ xin anh cho em ôm anh - ôm tấm hình và thì thầm... em thương anh lắm lắm. Em của anh”.


Đọc thư Oanh tôi rất xúc động, xúc động đến chảy nước mắt, đọc lại hai lần như để tìm thêm những điều Oanh chưa nói trong thư. Tôi viết thư trả lời cho Oanh ngay: “Oanh thương yêu! Đọc thư em anh rất xúc động, nước mắt lưng tròng và thấy phải viết thư ngay cho em kẻo em đi mất không kịp nhận thư của anh. Bởi vì anh thấy trên phong bì địa chỉ của em vẫn ghi Trường Đại học Y Thái Bình, anh đoán có lẽ em viết thư này trước khi rời trường. Thư này anh không viết dài để kịp gửi đi thật nhanh, anh chỉ viết một ý chính: ANH CŨNG YÊU EM qua lá thư của em anh hiểu em hơn và càng yêu em nhiều. Anh hứa với em rằng anh sẽ chờ em không phải 2 năm mà cho đến khi nào em trở ra Bắc mới thôi. Thương em nhiều. Anh của em”. Tôi đã rất vội để gửi đi nhưng lá thư đã không đến tay Oanh. Thư đã được gửi trả lại cho tôi, với dòng chữ: “không có người nhận”. Lá thư trả lại này tôi đã giữ mãi nhiều năm sau như là lời nhắc về những gì mình đã hứa với Oanh. Tôi đã đợi Oanh cho đến năm 1970, khi cha Oanh nói với chị Hương rằng Oanh đã hy sinh, bảo thằng Quang nó lấy vợ đi kẻo muộn lắm rồi.


*


Thành phố Trùng Khánh là thành phố miền núi rất lớn, tương xứng với 90 triệu dân của tỉnh Trùng Khánh. Đường phố của thành phố khi lên đèo lúc xuống dốc. Tôi học ở Trùng Khánh không lâu với dày đặc nội dung học tập, nên ít có điều kiện tìm hiểu thành phố. Có lẽ chỉ có một lần đi chơi phố và đã xảy ra một chuyện cười nhớ đời.


Có một chủ nhật, tôi rủ một lũ bạn đàn em như Lê Đỗ Thái, Phùng Trung Thạch, Đặng Hữu Tuệ, Ngô Song Bỗng... đi chơi phố. Trời Trùng Khánh se lạnh nhưng đi chưa được bao nhiêu thì đã mỏi chân vì phải lên đèo xuống dốc quá nhiều. Có đứa kêu đói đòi phải ăn tí gì đó thì mới đi tiếp được. Cả lũ tạt vào một nhà hàng, thấy người ta đang ăn một món “vừa nấu vừa ăn” rất ấm cúng và lạ lẫm, anh nào cũng chưa được ăn bao giờ. Thế là chúng tôi kêu món “vừa nấu vừa ăn”. Sau này khi vào Sài Gòn mới biết món “vừa nấu vừa ăn” có tên là “lẩu”. Bữa ăn rất vui và phải được nhà hàng hướng dẫn nấu thế nào, ăn thế nào, bởi lẽ trên bàn họ bày quá nhiều thứ.


Bữa tiệc một món kéo dài đến quá trưa mới xong. Khi trả tiền tôi tuyên bố:                     


“Tao lớn nhất hội có quyền ưu tiên cho mình quyền ra lệnh: “Tụi bay ngồi yên, để tao trả tiền”. Thế nhưng khi móc túi lấy tiền trả thi không đủ! Phải kêu gọi anh nào có mang tiền thì bỏ thêm, mọi người móc sạch túi vẫn không đủ vì không ai tính chuyện đi ăn đặc sản ngoài phố. Tôi đành phải nhờ máy điện thoại của nhà hàng gọi về nhà thầy giáo Chu Trạch Thông mượn của thầy một ít tiền và nhờ thầy xin xe của trường ra nhà hàng đón chúng tôi về. Chuyện này với nhà trường thì không có vấn đề gì, nhưng nội bộ Việt Nam thì không ít xì xào bàn tán, mà tôi là thằng đầu têu lớn tuổi nhất đi ăn lẻ ngoài phố mà không có tiền trả phải mượn của thầy giáo Trung Quốc để trả, thật xấu hổ!


Trong Học viện từ ngày tôi đến cho đến ngày tôi rời đi, không khí trong trường rất nặng nề. Phòng làm việc của Đội Cách mạng Văn hóa đóng cửa im ỉm suốt ngày. Người Trung Quốc trong trường không có nét mặt vui mà trầm ngâm, u ám. Nhất là những người lớn tuổi, hình như họ linh cảm có điều gì đó chẳng lành sẽ ập đến.


Ở Học viện Trùng Khánh tôi học một mình một lớp, cô giáo Lưu Tiếu Liên phụ trách chính và một số giảng viên khác dạy phần nguyên lý, thầy Chu Trạch Thông dạy phần thực hành trên các đài rada và thực tập thực tế tại các trạm rada của Quân đội Trung Quốc. Chương trình hai năm cuối của Học viện tôi đã hoàn thành trong 14 tháng, bao gồm cả phần đi thực tập tại các đơn vị Quân đội và báo cáo tốt nghiệp. Thầy giáo Chu Trạch Thông đưa tôi đi thực tập tại hai trạm rada trên địa bàn tỉnh Vũ Hán. Khó khăn nhất với tôi khi cùng làm việc với trắc thủ trên đài lại cũng là ngôn ngữ, nhiều trắc thủ nói tiếng Quảng Đông và tiếng Phúc Kiến tôi không thể nào hiểu được. Thầy giáo Chu Trạch Thông lúc nào cũng phải kèm bên cạnh để làm phiên dịch, nhưng cũng có lúc họ phải viết chữ Hán ra giấy thầy mới hiểu được. Tôi phải thực tập làm nhiệm vụ trắc thủ từ bước triển khai đài rada sang trạng thái chiến đấu, dựng hạ anten, khởi động máy, mở máy phát, quan sát bầu trời trên màn hình, bắt mục tiêu... Cô giáo Lưu Tiếu Liên là giảng viên giúp tôi làm báo cáo tốt nghiệp. Khó khăn nhất với tôi là phần viết hoàn chỉnh báo cáo tốt nghiệp, do vốn Trung văn còn thiếu nhiều trong ngôn ngữ khoa học kỹ thuật. Tuy vậy, báo cáo tốt nghiệp của tôi được đánh giá xuất sắc. Các điểm kiểm tra các môn nguyên lý cũng đều đạt điểm cao nhất.


Con đường đi từ bằng Phổ thông Trung học đến bằng Đại học của tôi phải qua hai Học viện Quân sự Liên Xô và hai Học viện Quân sự Trung Quốc trong thời gian 6 năm. Trong khi tình hình thế giới đầy biến động chính trị: Liên Xô xét lại, Trung Quốc cách mạng văn hóa! Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam từ ngày 5 tháng 8 năm 1964.


Ngày 7 tháng 10 năm 1966, tôi rời Học viện Rada Trùng Khánh trở về Việt Nam. Tôi là người đầu tiên và duy nhất trong số học viên Quân sự đã chuyển từ Liên Xô sang Trung Quốc, có tấm bằng ruột Liên Xô vỏ Trung Quốc. Khi đi Trung Quốc đoàn rất đông vui với hàng trăm đồng đội, khi về chỉ có một mình nhưng cũng không kém phần vui vẻ, bởi tôi đang háo hức trở về Tổ quốc tham gia cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại của Mỹ đánh phá miền Bắc Việt Nam, cuộc chiến ấy rất cần kỹ sư rada. Như vậy, tôi về đến Việt Nam gần như cùng thời gian với đoàn học rada của tôi trước đây do Đặng Đình Vinh làm trưởng đoàn sang Liên Xô 6 năm trước.


Sau khi có bằng tốt nghiệp Học viện Quân sự tôi được trao quân hàm Thiếu úy.


Tấm bằng kỹ sư Quân sự trong chiến tranh chống Mỹ


Ngày 7 tháng 11 năm 1966, tôi nhận quyết định của Bộ Quốc phòng điều về Cục Quân giới, Tổng cục Hậu cần. Cục Quân giới có Cục trưởng, Đại tá Nguyễn Duy Thái, Cục phó, Thượng tá Phạm Như Vưu, Cục phó, Trung tá Hoàng Văn Lãn. Cục Quân giới xếp tôi về Phòng Sửa chữa, Trưởng phòng là anh Trần Chí Đạo.


Cục Quân giới lúc đó sơ tán ở khu nhà lá của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, gần Cầu Giấy. Về Cục, tôi được nghỉ một ngày để làm quen công việc ở Phòng. Ngày hôm sau, anh Đạo đưa tôi lên phòng Cục trưởng Nguyễn Duy Thái nhận nhiệm vụ: Tôi phụ trách một tổ cán bộ kỹ thuật đi kiểm tra và hiệu chỉnh thông số kỹ thuật của tất cả các trạm rada trong hệ thống rada cảnh giới quốc gia trên toàn miền Bắc từ biên giới Việt-Trung, Việt-Lào đến các miền trung du, đồng bằng, hải đảo... cho đến vĩ tuyến 17. Tổ gồm có ba người, tôi là kỹ sư phụ trách và Trần Văn Chức, Trần Hòa trung cấp kỹ thuật được Cục rút lên từ Z119.  Mỗi người được cấp một chiếc xe đạp Vĩnh Cửu, Trung Quốc mới nguyên để làm phương tiện đi lại trong suốt đợt công tác, bất luận trạm rada đặt trên núi cao sát biên giới Việt-Trung hay tận giới tuyến Vĩnh Linh. Lộ trình hành quân trên mỗi quân khu theo hướng bắc -nam, đông -tây. Mỗi người được cấp một súng ngắn, bi đông nước, tem phiếu, một cơ số thuốc và lương khô phòng khi gặp bất trắc trên đường đi. Tại mỗi trận địa rada tổ lưu lại 2-3 ngày để kiểm tra và hiệu chỉnh tất cả các thông số kỹ thuật của đài rada theo qui định về chỉ tiêu kỹ thuật của mỗi loại rada trong toàn bộ mạng lưới rada cảnh giới- dẫn đường, rada đo cao, rada khí tượng, thiết bị nhận biết máy bay địch máy bay ta... Tôi nghĩ bụng đây có lẽ là bài kiểm tra của Cục Quân giới đánh giá khả năng làm việc của mình, một kỹ sư mới tốt nghiệp. Sau mỗi tháng làm việc ở các trận địa rada, tổ công tác quay về Cục Quân giới nghỉ vài ngày để báo cáo và nhận lương, tem phiếu rồi tiếp tục xuống đơn vị rada theo kế hoạch. Những năm 60, rada của Việt Nam chủ yếu do Liên Xô viện trợ và một số ít nhập từ Trung Quốc. Trong chuyến công tác này tôi may mắn biết cả tiếng Nga và tiếng Trung Quốc, nên công việc có nhiều thuận lợi khi cần xem tài liệu kỹ thuật của đài rada. Cả tổ làm việc miệt mài, đến giờ ăn thì đi ăn, ăn xong lại tiếp tục làm việc cho đến khi mệt nhoài thì lăn ra ngủ. Gặp trường hợp rada đang có trục trặc kỹ thuật phải gấp rút sửa chữa để đảm bảo trực chiến, phải làm việc thâu đêm, ai mệt quá thì lăn ra sàn rada chợp mắt.


Trên hành trình hàng nghìn cây số bằng xe đạp trong chuyến công tác, chúng tôi đã có những kỷ niệm đáng nhớ:


+ Trong thời gian đi các trạm thuộc Quân khu Tả Ngạn tôi bị bệnh kiết lỵ kéo dài nhiều ngày thật quá cực khổ, đạp xe chưa được bao nhiêu cây số mà chân tay đã mỏi rã rời. Cực nhất là chuyện đi đại tiện, khi trong đầu xuất hiện tín hiệu muốn đi cầu, mình còn loay hoay tìm chỗ, nhất là lúc đang đi trên đê trống trải chưa tìm được bãi đáp, thì ở hậu môn không hãm được! Nhiều lúc Trần Văn Chức và Trần Hòa phải dùng tấm ni lông che mưa quây thành hình chữ U che phía mặt đê để cho tôi nhanh chóng giải quyết nỗi buồn.        


+ Ở những trạm rada trên núi cao đời sống của bộ đội thật gian khổ. Rada đặt càng cao thì tầm nhìn càng xa. Ví dụ rada đặt ở vùng Tây bắc phải quan sát được bầu trời tận Thái Lan, nhưng rada đặt càng cao thì việc đảm bảo đời sống càng khó khăn, xa nguồn cung cấp thực phẩm, bộ đội phải tự đi gùi gạo, gùi nước lên trạm, nhiều trạm phải đặt ra tiêu chuẩn mỗi ngày mỗi người được dùng bao nhiêu lít nước. Nuôi một con heo lấy thịt ăn Tết cũng khó, tìm đâu rau, củ cho nó ăn, thức ăn thừa sau mỗi bữa ăn của bộ đội chẳng được bao nhiêu, vì quân số ở mỗi trạm chỉ khoảng 15 người. Con heo ở trạm cũng rất đặc biệt, bộ đội lên trạm trực chiến nó chạy theo lên trạm, bộ đội xuống bếp ăn nó theo xuống bếp ăn, bộ đội về phòng ngủ nó theo về phòng ngủ. Con heo sạch như con chó, nó không bao giờ ị ngay nơi nó ngủ.


Sau mỗi ca trực trắc thủ rada cảm thấy rất mệt mỏi bởi tiếng ồn của hệ thống làm mát thiết bị và nhiệt độ cao hơn bình thường trong ca bin đài, bởi trắc thủ phải dán mắt nhiều giờ lên màn hình rada với sự tập trung cao độ để truy soát và xác định tọa độ các mục tiêu di động trên bầu trời bao la ngay trên màn hình rada có đường kính chỉ chừng 40cm. Từ hàng đống mục tiêu di động trên bầu trời, người trắc thủ còn phải nhận biết đâu là máy bay ta, đâu là máy bay địch. Thời gian “tự do cá nhân” của bộ đội rada trong một ngày còn lại quá ít, sau khi dành cho nhiệm vụ trực chiến và đảm bảo đời sống. Viết đến đây tôi nhớ đến một câu “tổng kết” tám chữ “Ù tai, chai đít, công ít, tội nhiều” đã xuất hiện từ “dân rada” trong chiến tranh chống Mỹ. Ù tai vì trắc thủ rada phải chịu nghe tiếng ồn của máy móc trong cabin rada suốt ca trực, ù tai vì bị chỉ huy quát mắng khi để mất mục tiêu. Chai đít vì phải dán đít vào ghế suốt ca trực trong cabin nóng bức. Công ít vì mỗi khi máy bay địch bị bắn rơi, phi công sẽ là người được xem xét khen thưởng đầu tiên, ít ai nghĩ đến công của trắc thủ rada đã đóng góp vào chiến công ấy như thế nào. Đành rằng nếu phi công không có tinh thần dũng cảm, ý chí quyết thắng thì không thể giành chiến thắng. Nhưng nhìn từ phía rada, nếu kíp trắc thủ rada dẫn đường không tốt cho phi đội bay đến vùng trời không chiến, khi phi công nhìn thấy máy bay địch và họ đang ở vị thế tấn công tức là phi đội ta đang ở phía sau địch và có độ cao lớn hơn độ cao của máy bay địch thì yếu tố thắng lợi coi như được năm mươi phần trăm. Nếu kíp trắc thủ rada dẫn đường không tốt, đưa phi đội đến vùng trời không chiến rơi vào thế bị tấn công, tức là ở cao độ thấp hơn địch và ở phía trước máy bay địch thì khả năng thua sẽ là năm mươi phần trăm. Tội nhiều là để Tổ quốc bị bất ngờ, không phát hiện được địch từ xa, không đủ thời gian cho bộ đội Phòng không chuẩn bị chiến đấu. Yếu tố thời gian đối với các đơn vị hỏa lực phòng không được tính bằng giây, bằng phút. Mục tiêu đầu tiên của kẻ địch muốn làm tê liệt lực lượng phòng không là đánh vào rada trước tiên. Chiến công của bộ đội rada rất thầm lặng. Cuộc chiến đối với họ đầy gian khổ, hy sinh.


+ Lần đầu tiên tìm đến một trạm rada thường là không dễ dàng vì nhân dân quán triệt rất tốt nhiệm vụ phòng gian bảo mật với khẩu hiệu ba không: không nghe, không thấy, không biết. Hôm chúng tôi đến làm nhiệm vụ ở trạm rada cảnh giới - dẫn đường gần sân bay Nội Bài là một ví dụ. Trước khi đến một trạm rada, bao giờ cũng phải đánh dấu trên bản đồ, ghi địa chỉ xã, huyện. Chúng tôi đạp xe đến Nội Bài, đi loanh quanh suốt buổi mà vẫn không tìm được, vừa mệt vừa đói nên tạt vào một nhà dân hỏi xem có khoai sắn bán cho một ít ăn tạm cho đỡ đói và nghỉ một lúc cho đỡ mệt rồi đi tiếp. Gia đình bảo chỉ có sắn mì thôi nhưng chưa luộc, nếu đợi được thì gia đình luộc ngay. Ăn xong nghỉ chưa được mười phút, cả ba đứa đều cảm thấy đau đầu khó chịu, càng ngồi lâu thấy đầu càng đau. Chúng tôi hỏi chị chủ nhà mượn chiếc chiếu trải ra nhà nằm tạm cho đỡ mệt rồi đi. Chị ấy bảo cứ nằm trên giường chứ việc gì phải nằm dưới đất và hỏi chúng có bị buồn nôn không. Có lẽ các anh bị say sắn đất mới, sắn tôi mới mua ở chợ sáng nay, có thể là sắn mới trồng vụ đầu tiên trên đất mới, người ăn không quen dễ bị say. Chị ấy đi hái rau lang giã nhỏ hòa với nước cho chúng tôi uống và bảo chúng tôi cứ nằm nghỉ, cơn say rồi sẽ qua đi. Chúng tôi nằm và đánh luôn một giấc đến tối mới thức giấc, vội vàng cảm ơn và xin lỗi gia đình vì đã làm phiền. Anh chồng không cho chúng tôi đi, bảo cứ ngủ lại đây sáng mai anh ấy sẽ chỉ đường đi đến trạm, gần đây thôi...  Trên đường đạp xe đến trạm rada tôi tự hỏi: nhân dân ta tốt như vậy, thằng địch nào thắng được chúng ta?


(còn tiếp)


Nguồn: Người con của mẹ Năm Bê. Truyện ký của Huỳnh Quang. NXB Hội Nhà văn, 2019.


www.trieuxuan.info


 


 


trieuxuan.info