25.07.2019
Huỳnh Quang
Người con của mẹ Năm Bê (1)


QUÊ HƯƠNG THÂN YÊU CỦA TÔI


Tôi chào đời tại thôn Đồng Me, làng Định Trung, xã An Định, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Thôn Đồng Me ba mặt là núi, mặt trước hướng đông, nam là cánh đồng. Họ Huỳnh sinh sống ở thôn Đồng Me đến thế hệ tôi là đời thứ 7. Tên khai sinh của tôi là Huỳnh Quang nhưng ở nhà thì gọi “thằng Bê”. Cha, má tôi thì dân làng gọi ông “Hai Quảng”, bà “Hai Quảng”, gọi theo tên của anh Quảng- con của bà trước. Khi má con tôi về bên ngoại thì dân làng Phong Niên gọi má tôi là “bà Năm Bê” vì má tôi là con thứ Năm của bà ngoại và thằng Bê là tôi, con của má tôi. Cái tên bà Năm Bê ở làng Phong Niên vẫn theo má tôi cho đến già. Hồi còn nhỏ, tôi ít khi về bên ngoại, cho nên mỗi lần về thường hay bị lũ trẻ ở làng Phong Niên trêu chọc. Chúng nó muốn rủ tôi chơi, thì thằng Sang thường hay đọc câu thơ nó tự sáng tác:


   Thằng Bê là thằng Bê bò,


   Nếu chui dô lò thì thành bê thui,


   Thằng Bê là thằng Bê tui,


   Chẳng cười, chẳng nói, chẳng dui tí nào,


   Thằng Bê là thằng Bê phào,


   Muốn chơi với mỗ thì... nhào...  dô... chơi!


Thế là chúng tôi nhào dô chơi bi đá, trò chơi mà lũ trẻ ưa thích nhất thời ấy. Bi đá là bi do mỗi đứa tự làm cho mình bằng cách tìm một hòn đá xanh, dùng búa gõ dần cho hòn đá có hình tròn như viên bi, to hay nhỏ tùy thích.


*


Ông tổ họ Huỳnh ở Đồng Me tên là Huỳnh Văn Ân và bà Trịnh Thị Đẩu, Châu Thị Thừa; đời thứ hai là Ông Huỳnh Văn Búa và Bà Bùi Thị Kiểu; đời thứ ba là ông Huỳnh Văn Sắc và bà Phạm Thị Chiếc, Võ Thị Hiệu; đời thứ tư là ông Huỳnh Văn Hóa và bà Nguyễn Thị Chuỗi, Nguyễn Thị Huy; đời thứ năm là ông Huỳnh Văn Phát và bà Nguyễn Thị Tư, Bùi Thị Tám, ông bà nội của tôi; đời thứ sáu là ông Huỳnh Khuê và bà Mai Thị Đường, Trần Thị Tán - cha, má của tôi.


Tương truyền rằng: Ông Tổ di cư từ Quảng Nam vào, đến giữa đồng trước thôn Đồng Me thì nhặt được một tượng Phật đứng nhỏ bằng ngón tay. Ông tâm niệm với Phật rằng ông tung Phật lên cao rồi ngửa hai bàn tay đỡ Phật rơi xuống, tượng ngả đầu về hướng nào thì ông sẽ định cư ở làng theo hướng Phật chỉ. Đồng Me là hướng đầu Phật ngả về.


Thôn Đồng Me là một trong ba thôn của làng Định Trung, về sau Đồng Me đổi thành Định Trung 1, hai thôn kia là Định Trung 2, Định Trung 3. Xã An Định gồm làng Định Trung, làng Phong Niên, làng Phong Hậu và hai thôn Phong Hanh và Phong Thăng. Xã An Định có đường sắt cặp với tỉnh lộ 641 chạy theo hướng bắc - nam và tỉnh lộ 650 giao nhau với tỉnh lộ 641 tại cầu Cây Cam, chạy theo hướng đông - tây, đi xuyên qua xã. Giữa xã An Định có hai hòn núi nhỏ là Hòn Đình và Hòn Đồn dính liền nhau giống như một quả bầu cổ cắt đôi úp giữa biển lúa. Hòn Đồn nằm gối đầu lên đường sắt cặp đôi với tỉnh lộ 641, tách khỏi quốc lộ 1 từ Chí Thạnh của Phú Yên đến Diêu Trì của Bình Định. Trên Hòn Đồn còn dấu vết của một đồn lính từ thời vua Gia Long, nằm án ngữ con đường độc đạo từ Chí Thạnh đi Diêu Trì. Thời tôi còn nhỏ trên đỉnh Hòn Đồn còn nằm đó một khẩu thần công đại bác và một số đạn sắt tròn như viên bi to bằng cái bát ăn cơm.


Sau này, trong chiến tranh chống Mỹ, lính Hàn Quốc cũng dùng Hòn Đồn làm cứ điểm đồn trú để bình định các vùng dân cư xung quanh. Vì vậy, xã An Định là địa bàn cọ xát dữ dội giữa ta và địch trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ. Xã An Định chỉ có gần 2000 lao động mà có đến 285 liệt sĩ, 35 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Xã An Định đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang. Huyện Tuy An và tỉnh Phú Yên cũng được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang.


Trong lịch sử hình thành và phát triển đất nước, Phú Yên là địa giới giằng co bắc - nam giữa nước An Nam và nước Chiêm Thành. Vua Lê Thánh Tôn cho khắc Văn bia lên hòn đá cao 80 mét như cột mốc chủ quyền của nước An Nam trên đỉnh núi Đá Bia, mà từ Tuy Hòa nhìn vô, từ Khánh Hòa nhìn ra đều thấy rất rõ.


Sau Cách mạng tháng Tám khi quân Nhật đầu hàng Đồng minh, quân Pháp quay trở lại đánh chiếm nước ta, Phú Yên cũng là nơi quân Pháp bị quân dân Phú Yên và Giải phóng quân Nam Tiến, dưới sự chỉ huy của Tướng Nguyễn Sơn chặn đứng. Núi Đá Bia lại một lần nữa là ranh giới giữa vùng tự do Liên khu 5 với vùng tạm chiếm Khánh Hòa.


Chín năm kháng chiến chống Pháp, Phú Yên là vùng tự do dưới chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.


Núi Đá Bia huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên


 


 


TUỔI THƠ BUỒN VUI LẪN LỘN


 


Đám tang của cha...                                                                                                                                                 


Cha tôi mất ngày 16 tháng 7 âm lịch năm 1940. Cha tôi mất khi mới 37 tuổi vì bệnh thương hàn. Ông là trưởng họ của họ Huỳnh, giữ nhà từ đường. Đám tang của ông rất đông người đến dự, hầu như cả thôn, gia đình nào cũng có người đến dự. Mất ngày hôm trước, ngày hôm sau là ngày làm lễ tang đưa quan tài đi chôn. Đám tang cho dù nhà giàu hay nhà nghèo đều không làm mâm cỗ, chỉ có nước trà và đội nhạc đám tang. Đó là phong tục của quê tôi. Trước giờ làm lễ chừng một tiếng đồng hồ, trống sẽ gióng lên ba hồi dài liên tiếp, báo cho dân làng biết sắp đến giờ làm lễ tang và họ rục rịch kéo đến. Người đến dự đám tang, nếu không phải là người cùng huyết thống ba đời thì không làm lễ trước quan tài của người quá cố. Lễ tang do một thầy tu từ chùa Bảo Sơn ngay trong làng đến chủ trì. Lễ tang tiến hành rất ngắn gọn, không có điếu văn, chỉ có lễ bái lạy của những người ruột thịt, tức là má, anh Ba, cô Sáu Khiết và tôi, nhưng tôi còn quá nhỏ nên chưa biết lạy. Tuy nhiên tôi cũng được chị Năm Phùng cõng trên vai, đứng chung với những người trong họ Huỳnh và dân làng. Lễ tang được tiến hành ở gian giữa nhà từ đường. Sau lễ tang là phần động quan đưa quan tài đi chôn, phần này do một người được gọi là “Ông Lệnh”chủ trì. Ông Lệnh ăn mặc rất khác lạ, áo màu đỏ với hoa văn thêu rồng phượng màu vàng, quần màu vàng ống chật phía dưới với sọc đỏ hai bên. Ông Lệnh làm những động tác nghi lễ trước quan tài Cha và dãy bàn thờ tổ tiên ông bà ở phía sau. Có tám người khiêng quan tài, tất cả đều là tá điền của Cha. Mọi hiệu lệnh của Ông Lệnh đều phát ra từ tiếng gõ hai thanh gỗ ngắn bóng loáng cầm trên hai tay của Ông Lệnh, lúc nhanh, lúc chậm, lúc giơ lên cao lúc hạ xuống thấp để điều khiển những người khiêng quan tài giữ cho quan tài luôn thăng bằng cho dù con đường có lên đèo hay xuống dốc. Đi đầu đoàn người đưa tang là anh Ba, kế đến là Ông Lệnh đi giật lùi mắt luôn quan sát quan tài, kề sau quan tài là Má, cô Sáu Khiết và tôi được chị Năm Phùng cõng trên vai, tiếp sau là bà con trong họ Huỳnh, các gia đình tá điền và bà con chòm xóm trong thôn. Mả của cha được chọn ngay bên cạnh mả của bà nội kế ở đám đất Cây Bàng. Sau khi quan tài đặt yên dưới huyệt, má, anh Ba, cô Sáu vốc đất bỏ xuống huyệt, chị Năm Phùng đặt tôi xuống đất và bảo tôi nhặt một viên đá bỏ xuống huyệt.


Trên đường cõng tôi về nhà, tôi hỏi chị Năm Phùng: “Chị Năm ơi, em ném đá xuống chỗ cha nằm để làm gì?”. Không nghe chị trả lời, tôi vỗ vỗ tay lên trán chị và hỏi tiếp: “Chị Năm ơi, cha em chết đến bao giờ?”. Chị Năm bật khóc nức nở và nói trong nước mắt: “Bê ơi, cha em không về nữa… Thương em lắm, em mồ côi cha sớm quá!”. Rồi chị chuyển tôi từ vai xuống ôm chặt tôi trước ngực và khóc nấc lên từng cơn. Tôi vuốt hai má chị, lau nước mắt cho chị nhưng chị càng khóc to hơn cho đến khi về đến nhà.


Mặc dù năm cha mất tôi mới ba tuổi nhưng cho đến bây giờ, khi viết những dòng này tôi vẫn nhớ như in quang cảnh đám tang và hình ảnh của má. Má rất buồn, đầu đội khăn tang, má đứng suốt ngày đêm bên quan tài của cha, lặng lẽ, cô đơn… nhưng má không khóc, không khóc than thảm thiết như những người khác. Về chuyện này, sau này khi lớn lên không ít lần tôi đã nghe những lời xì xào trong họ Huỳnh rằng má tôi không yêu cha tôi. Nhưng tôi không nghĩ như vậy. Lớn lên một chút, tôi cảm nhận má tôi chấp nhận cuộc sống cô đơn góa bụa, thay chồng quản lý nhà từ đường, thờ cúng ông bà tổ tiên của họ Huỳnh. Khi cha tôi mất, trong tôi không lưu giữ được một tí gì về hình ảnh người cha, nhưng về sau má tôi thường hay kể cho tôi nghe về cha mình. Ông rất hiền, sống nhân hậu và giàu lòng thương người. Mỗi khi có người ăn mày đến nhà xin ăn, nếu gặp ông, ông bê cả hũ gạo của nhà đổ vào túi cho người ăn mày, khiến họ phải quỳ rạp xuống đất lạy tạ ông. Năm nào mất mùa thì tỷ lệ chia lúa giữa chủ ruộng với tá điền không theo tỷ lệ sáu bốn như mọi người mà là năm năm. Tất cả tá điền của cha đều rất thương kính cha. Bà con trong họ Huỳnh và nhân dân trong vùng kể cả những người có chức sắc đều kính trọng ông. Má chỉ không ưng ông một điều, ông có cái tính hay hờn, mà khi hờn thì trở nên lặng câm, không nói một lời, nhiều khi cơm bày ra mâm rồi mà cũng không ăn, bỏ đi nơi khác. Những lúc như vậy má rất buồn và lo lắng, không biết má có đối xử với anh Ba con điều gì khiến ổng không bằng lòng. Bởi vì ở đời vẫn có câu: “Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng”. Ở đời người ta nói vậy nhưng má rất thương anh Ba con, vì khi má lấy cha con, anh Ba con là đứa trẻ mới 5 tuổi đã mồ côi mẹ. Khi cha con mất thì anh Ba con mồ côi cả cha lẫn mẹ khi mới 11 tuổi. Về sau, má chữa cái bệnh hờn không nói không ăn của ổng bằng cách, trưa ổng đi làm về, má dọn cơm cho ổng với má ăn, nếu ổng ăn thì má ăn, nếu ổng không ăn thì má cũng không ăn. Chiều ổng đi làm về má để nguyên mâm cơm buổi trưa ở bàn, dọn mâm cơm chiều cho ổng với má cùng ăn, nếu ổng ăn thì má ăn, nếu ổng không ăn thì má cũng không ăn. Ổng đi đâu đó một lúc rồi quay lại nhìn thấy mâm cơm vẫn còn nguyên, biết má đã nhịn ăn cả ngày, lo má bệnh nên cha con giục má đi ăn, thế là má chữa dứt cơn hờn của cha con. Vừa ăn má vừa hỏi chuyện để biết ổng hờn vì cái gì. Thật khổ cho ổng, nhiều lần đi làm về thấy anh con buồn, biết là bị má mắng thế là ổng hờn, không cần biết má mắng anh con về chuyện gì. Má thì chỉ mắng anh con về cái tội trốn học, vào ruộng mía ngủ hoặc theo xe lu làm đường đi chơi. Về sau má giao kèo với cha con rằng má chỉ lo việc nuôi anh con, việc dạy anh con thì cha con phải lo. Từ đó không còn có cơn hờn nào nữa.


Ổng giữ nhiều ruộng đất của nhà từ đường họ Huỳnh, nhưng ổng không muốn  sống dựa vào tài sản ấy mà muốn mình có một cái nghề và ổng chọn nghề làm thầy thuốc. Ổng theo ông Giáo Năm, một thầy thuốc bắc nổi tiếng trong vùng, cùng trong dòng họ Huỳnh để học chữ Hán và học chữa bệnh. Ông Năm chữa bệnh chỉ bằng cách khám, bắt mạch rồi kê toa, người bệnh tự ra hiệu bốc thuốc về sắc uống, hết đợt đến khám lại. Bệnh nhân nặng không đi được đến nhà ông, thì đem võng cáng đón ông về nhà khám. Ông chữa bệnh không bao giờ lấy tiền, bất kể bệnh nhân giàu hay nghèo. Người ta trả ơn ông vào ngày rằm, ngày Tết bằng con gà, trái mít, buồng chuối mà người ta có từ vườn nhà. Cha con cũng làm như ông Năm.


*


Mỗi lần kể chuyện về cha, má tôi đều khích lệ tôi lớn lên cũng nên theo nghề thầy thuốc và tôi cũng nghĩ vậy. Nhưng chiến tranh đã không cho tôi làm theo ước nguyện của má tôi.                                                                                                


Tôi đi học... 


Cuối năm học 1942-1943, trường Trung Lương tổ chức trọng thể lễ trao bằng tốt nghiệp tiểu học (bằng Primer) cho học sinh của trường đã thi đỗ trong kỳ thi tập trung toàn tỉnh trước đó. Má dắt tôi đi theo đến trường để mừng anh Ba nhận bằng. Anh Ba đến trường rất sớm, trong bộ đồ “Tây” màu trắng quần dài áo ngắn tay, chân đi đôi giày vải màu trắng, trông rất oai. Bộ quần áo trắng và đôi giày trắng má phải đưa anh Ba đi xe ngựa ra tận Sông Cầu để mua.


Buổi lễ diễn ra ngắn gọn nhưng rất trang nghiêm, có quan chức cấp trên, có toàn thể giáo viên, học sinh của trường và gia đình các học sinh nhận bằng đến dự. Năm ấy, trường Trung Lương chỉ có 14 học sinh thi đỗ. Những học sinh thi đỗ được thầy Hiệu trưởng tuyên dương khen ngợi, được tôn vinh như là những tinh hoa của làng quê. Thầy Hiệu trưởng đọc tên từng học sinh, tên cha mẹ học sinh, quê quán và mời phụ huynh cùng con lên khán đài. Gọi là khán đài nhưng thực ra đó là đoạn hiên chính giữa của ngôi trường, có tám bậc tam cấp bước lên hiên từ sân trường. Trên cao, phía dưới mái hiên có treo một băng vải trắng với dòng chữ màu đen “Lễ trao bằng Primer”. Học sinh nhận bằng khi nghe thầy Hiệu trưởng đọc tên theo thứ tự abc thì bước lên từ hàng đầu tiên của lớp Nhất. Hồi ấy, tiểu học gồm 5 lớp từ thấp đến cao là lớp Năm, lớp Tư, lớp Ba, lớp Nhì và lớp Nhất. Học sinh chưa tốt nghiệp năm đó, được phép học lại cho đến khi nào thi đỗ mới thôi. Ở các lớp dưới cũng vậy, học sinh chưa được thầy giáo cho lên lớp thì được quyền học lại.


Trên khán đài, học sinh nhận bằng đứng thành một hàng ngang, bên trái là dãy ghế ngồi của mấy quan chức cấp trên và các thầy giáo của trường, bên phải là dãy ghế ngồi của phụ huynh. Sau khi 14 học sinh nhận bằng lên đủ trên khán đài, thầy Hiệu trưởng đọc tên một học sinh tốt nghiệp, đó là học sinh có điểm tốt nghiệp cao nhất trong 14 người của trường, học sinh bước lên một bước và thầy hiệu trưởng trao tấm bằng đã được lồng sẵn trong khung kính. Tiếp theo, thầy hiệu trưởng lại đọc tên và trao bằng cho từng người trong 13 người còn lại theo thứ tự điểm thi tốt nghiệp từ cao xuống thấp, anh Ba là học sinh được gọi tên cuối cùng. Chờ cho 14 học sinh tốt nghiệp đứng chỉnh tề hai tay ôm tấm bằng trước ngực, thầy Hiệu trưởng hô “vỗ tay”, lập tức tiếng vỗ tay và tiếng trống trường vang lên dồn dập ba tiếng một. Một hồi lâu khi nghe tiếng trống dừng thì tiếng vỗ tay cũng dừng. Sân trường trở lại yên tĩnh và thầy Hiệu trưởng bắt giọng bài hát “Tạm biệt” bằng tiếng Pháp, toàn trường đồng thanh hát theo. Chờ cho 14 học sinh bước xuống sân trường đi ra phía cổng trường, dòng học sinh trong sân trường chuyển động theo về phía cổng trường, vừa đi vừa hát. Trên khán đài các thầy, các quan chức và phụ huynh cũng chào nhau ra về. Buổi lễ trao bằng để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc khó quên, mặc dù không có lời dặn dò của đại diện cấp trên, không có lời cảm ơn của phụ huynh, không có lời chúc mừng của đại diện học sinh. Buổi lễ đã khiến tôi háo hức đến trường để được như anh Ba. Về đến nhà tôi xin má cho tôi đi học ngay, má nói hết năm học rồi, năm học mới chưa khai giảng. Đến năm học sau khai giảng tôi lại nhắc má cho tôi đi học thì má nói con còn nhỏ chưa đủ tuổi đi học, nhà trường không nhận đâu!


Một hôm, tôi đang chơi trước nhà chú Mười Cúc, thấy chú từ trong nhà đi ra, chú là người trong họ Huỳnh coi là người thông thái nhất, giỏi tiếng Pháp, thông thạo quốc ngữ và mở lớp dạy chữ tại nhà. Tôi chào chú và hỏi chú đi đâu, chú nói chú đến trường Trung Lương coi con Huệ của chú học hành thế nào, tôi liền xin đi theo chú đến trường, chú bảo ừ đi thì đi nhưng không được phá phách. Tôi trả lời “Dạ không, cháu chỉ coi học trò học thôi”.


Trường Trung Lương chỉ có năm phòng học cho năm lớp: Năm, Tư, Ba, Nhì, Nhất. Tôi chạy đến lớp Năm, đứng thập thò ngoài hiên phía sau lớp. Thấy tôi đứng chăm chú nhìn lớp học rất lâu, thầy giáo đi về phía cửa sổ ở cuối lớp hỏi:


 - Con làm gì ở đây?


- Dạ con coi học trò học.


- Con đi với ai?


- Dạ… con đi với chú Mười Cúc, cha trò Huệ học lớp đằng kia.


- Có muốn đi học không?


- Dạ, muốn.


- Con còn nhỏ quá, đợi lớn chút nữa rồi đi.                                                                


- Nhưng mà con đi học chỉ mặc quần đùi thôi có được không thầy?


- Nhà nghèo lắm hay sao mà không có áo?


- Dạ không, chỉ tại con không thích mặc áo.


- Không được, đi học phải ăn mặc chỉnh tề, quần đùi áo ngắn tay cũng được, nhưng không được mặc đồ rách. Chỉ có ăn mày mới phải mặc đồ rách thôi!


- Dạ.


Về đến nhà tôi liền khoe với má việc tôi được gặp thầy giáo lớp Năm của trường Trung Lương, thầy nói lớn chút nữa thì đi học được.


Khoảng đầu năm 1944, sau nhiều lần nhắc má cho tôi đi học, má đưa tôi đến trường xin cho tôi học. Chờ trống trường tan học buổi sáng, má dắt tôi vào gặp thầy giáo lớp Năm. Hóa ra thầy giáo và má có quen biết từ trước, nhà thầy gần nhà bà ngoại. Thầy nói trông nó nhỏ quá, có lẽ chưa đến tuổi, nhưng nó muốn đi học thì cho nó đi, trẻ con muốn đi học là điều tốt, ở quê mình đâu có nhiều trẻ con ham học. Thầy lấy sổ ghi chép và bắt đầu hỏi má tôi:


- Nó tên gì?


- Dạ, nó là thằng Bê.


- Bê là tên ở nhà hay tên khai sinh?


- Bê là tên ở nhà, tên khai sinh là Quang, Huỳnh Quang.


- Năm sinh?


- Năm Tí, khoảng cuối tháng chạp,                                                             


- Tên cha?


- Cha nó tên Khuê, Huỳnh Khuê ở Đồng Me.


- Ừ, tôi nhớ rồi, nó có thằng anh Huỳnh Quảng đậu Primer năm ngoái. Ngày mai nó có thể đi học được rồi. Chị cho nó ăn mặc sạch sẽ, không mặc đồ rách. Ngày đầu đi học, chị nên đưa nó đi và đến trường sớm một chút để tôi dạy nó đứng xếp hàng vô lớp.        


Việc xin học cho tôi như thế là xong. So với bây giờ việc xin học hồi ấy sao mà dễ dàng thế! Nhà trường giang tay đón học sinh, phụ huynh không phải lo đóng góp gì cả.


Ngay ngày hôm sau, tôi đến trường trong bộ quần áo mới sạch sẽ, quần đùi áo ngắn tay. Thầy đón má con tôi ngay cổng trường, bảo má tôi cứ về đi và đưa tôi vào sân trường xếp hàng. Khi trống trường vang lên một hồi dài, học sinh các lớp rục rịch xếp hàng và đi vào lớp, tôi đi đến cửa lớp thì thầy bảo con đứng đây chờ lớp vô xong thầy sẽ chỉ chỗ con ngồi. Lớp học có hai dãy bàn, mỗi dãy năm bàn, mỗi bàn có một ghế băng dài đủ ngồi năm trò, nhưng hai dãy cuối cùng phía sau còn để trống. Hai bàn phía trước dành cho học sinh gái, phía sau toàn con trai. Khi mọi người đã đứng nghiêm chỉnh thì thầy bảo ngồi xuống, thầy dắt tôi đến bàn đầu tiên của dãy bên trái nơi chỉ có bốn trò gái, thầy chỉ tôi ngồi ở đầu bàn bên phải, sau đó giới thiệu tôi là học sinh mới của lớp từ hôm nay. Thầy bảo tôi hôm nay con chưa phải học, con ngồi coi mọi người học thôi. Tôi nhìn quanh lớp và giật mình khi nhìn thấy ở góc phòng học phía sau chỗ thầy ngồi có dựng một cái roi và trên bàn của thầy có một cái thước, dưới đất sát chân bàn thầy để một cái cặp da căng phồng. Hồi ấy, thầy giáo đứng lớp bắt buộc phải ăn mặc nghiêm chỉnh, hoặc là áo dài đen quần dài trắng, đầu đội khăn xếp, hoặc là quần tây dài, áo sơmi dài tay hoặc quần shooc áo ngắn tay, cho nên trong cặp của thầy lúc nào cũng có bộ đồ bà ba và khăn chít đầu để mặc lúc đi đường. Thầy bắt đầu buổi học bằng việc đi đến từng trò kiểm tra vở tập viết của từng người, sau đó thầy lững thững trở về bàn của thầy, vẻ mặt nghiêm trang thầy gọi tên trò Hương và trò Nghĩa lên bục giảng đứng quay mặt về phía lớp và ngửa hai bàn tay. Hương là trò gái ngồi cạnh tôi, nhát đòn nên đứng run cầm cập trông rất tội nghiệp. Cả hai đều biết mình bị gọi lên bục, ngửa hai bàn tay tức là chờ hình phạt bị đánh thước kẻ lên lòng bàn tay. Thầy bắt đầu tra hỏi:    


- Hương, giờ tập viết ở lớp chiều hôm kia con làm gì mà không viết đủ ba hàng?


- Dạ, con tập viết nhưng nó cứ hư và lem luốc, phải xé bỏ hai tờ viết lại nên con viết không kịp.


- Ừ, ra thế, đây là lần đầu tiên con không làm đủ bài tập, thầy sẽ không phạt, nhưng lần sau nếu tái phạm sẽ bị phạt đánh một thước, nhớ chưa?


- Dạ.


- Còn trò Nghĩa thì sao, giờ tập viết chiều hôm kia con làm gì mà chỉ viết chưa được nửa hàng?


- Dạ... Dạ...


Có lẽ trò Nghĩa quá sợ thầy nên cứng miệng không nói được lời nào, đành chịu phạt, thầy đánh ba thước lên lòng bàn tay đau khủng khiếp đến phát khóc! Xong phần xử phạt thầy cho lớp ra chơi, chỉ có trò Nghĩa phải nán lại bên thầy vài phút để thầy dạy bảo thêm gì đó rồi ra chơi sau. Lớp học tiếp tục cho đến tiết cuối của buổi sáng với sự yên lặng tuyệt đối của học sinh. Đến khoảng giữa tiết cuối buổi sáng, trong lớp lại xảy ra một việc tày đình. Lớp đang yên lặng bỗng có nhiều tiếng xì xào của học sinh ở phía dưới. Thầy hỏi: “Có chuyện gì đó các con?”.


  Một trò đã lấy hết can đảm đứng dậy nói: “Thưa thầy, thúi lắm!”. Thầy bảo cả  lớp đứng dậy và thầy đi về phía có vật gì đó mềm rơi xuống đất. Cả lớp dồn mắt về phía trò Hào mặt đang tái xanh tái mét, ai cũng nghĩ rằng chắc chắn trò Hào sẽ bị phạt rất nặng. Thầy ân cần hỏi:


- Con có đau bụng không?


- Dạ, không!


- Không hả?


- Dạ.


 - Con đi ra giếng chờ thầy ngoài đó...


 Hào vội vàng đi ra khỏi lớp, tay túm lấy hai ống quần, mặt bẽn lẽn xấu hổ với cả lớp. Thầy cho cả lớp ra ngoài đứng ở hiên phía sau lớp và thầy đi về bàn mở cặp lấy tờ giấy và chiếc khăn đầu thầy thường mang theo để trong cặp khi đến trường. Thầy dùng tờ giấy hót cục phân rồi đi ra giếng. Thầy tắm rửa cho Hào xong, lấy khăn đầu của mình lau cho nó rồi quấn khăn quanh bụng Hào thay cho cái quần đùi của nó. Giặt xong cái quần đùi đầy phân của Hào, phơi trên cây lựu ở gần giếng rồi thầy dắt Hào vô lớp với nét mặt vui vẻ, không còn tái xanh tái mét như lúc mới xảy ra sự cố. Cả lớp dồn mắt vào cái quần đùi không có đáy của Hào, kiểu quần đùi chưa thấy có ai mặc bao giờ ở vùng quê này. Thầy nhìn Hào mỉm cười và học sinh cũng không nhịn được cười nên đồng thanh cười vang, thầy trò được một bữa cười vui chưa từng có. Thầy ra hiệu đừng làm ồn vì còn đang giờ học và vẫy học sinh trở vô lớp. Tiết học cuối đã trở lại bình thường như không có chuyện gì vừa xảy ra. Cả lớp ngạc nhiên và xúc động về tình thương yêu của thầy với học trò hơn cả cha thương con. Ai cũng nghĩ rằng ở nhà mà đi bậy như vậy thì chắc chắn bị cha cho ăn đòn cháy đít. Trước khi tan học thầy giữ lớp nán lại mấy phút và vui vẻ căn dặn: “Từ nay trở đi, trong giờ học, nếu có trò nào cần đi cầu hoặc đi tiểu thì cứ mạnh dạn đứng dậy xin phép ra ngoài để giải quyết, đừng để xảy ra sự cố như hôm nay nhé! Ở quê mình người ta vẫn hay nói câu này: “Quan huyện đòi không gấp bằng đít đòi”, nghĩa là nếu buồn đi cầu thì phải lo đi cầu trước rồi mới tính chuyện đi gặp quan huyện sau”. Thầy kết thúc lời dặn dò bằng một nụ cười rất hiền. Tan học buổi sáng, tôi nóng lòng muốn chạy về nhà kể cho má nghe chuyện xảy ra ở lớp buổi sáng, nhưng thời đó học sinh phải học hai buổi, sáng đi học phải mang theo mo cơm để ăn trưa. Giờ nghỉ trưa rất dài nhưng không thể chạy về nhà kịp. Thời đó nhà giàu đi xa thì ngồi ngựa hoặc nằm võng cáng, kiểu võng treo trên một cây đòn dài có hai người khiêng, cả tổng chỉ có một vài nhà sắm được xe đạp, còn lại dù đi xa hay gần đều phải cuốc bộ.


Chiều tối về đến nhà, tôi liền kể cho má nghe chuyện xảy ra ở lớp buổi sáng kèm theo nhận xét: “Con cứ tưởng thầy ghét học trò nên hay đánh, nhưng hôm nay lại hiểu thầy rất thương học trò, như cha thương con vậy. Con không thể tưởng tượng nổi, thằng Hào nó ỉa trong lớp, thầy tự đi dọn phân, tắm rửa, giặt quần dơ cho nó rồi lại dùng khăn đầu của mình làm cái quần đùi không đáy cho nó, thế mà thầy vẫn vui, không giận dữ và không phạt nó một roi nào... ”. Má bảo: “Ừ, thầy nào mà không thương trò, thầy chỉ phạt biếng học và hỗn láo với người lớn thôi. Không phạt tụi bay có chịu học đâu, như anh Ba mày học bảy năm mới có được cái bằng tiểu học!”.


Lớn lên từ trường tiểu học Trung Lương nhỏ bé, trong hai cuộc kháng chiến đã có những cái tên nổi tiếng như nhà thơ Nguyễn Mỹ với bài thơ “Cuộc chia ly màu đỏ”, như nhạc sĩ Nhật Lai với những ca khúc về Tây nguyên rộn ràng, trong sáng và hàng chục giáo sư, tiến sĩ với nhiều đóng góp cho nền khoa học nước nhà, cùng nhiều sĩ quan cao cấp trong Quân đội nhân dân Việt Nam.


        Cách mạng Tháng Tám


Đầu năm 1945, tôi đang học ở lớp Tư, còn chừng vài tháng thì đến nghỉ hè. Một hôm, chúng tôi đến trường thì không thấy lá cờ Pháp treo trên cột cờ giữa sân trường, cũng không thấy có lá cờ nào khác. Sáng hôm đó, trường cũng không tổ chức chào cờ như thường lệ. Tan học buổi chiều, thằng Nghĩa nhà ở gần ga Phong Niên rỉ tai tôi bảo: “Mày có muốn đi coi lính Nhật thì tan học buổi chiều theo tao, tao dẫn ra ga Phong Niên coi lính Nhật, đông lắm, súng gươm ngợp trời.”. Tôi muốn đi coi lính Nhật lắm, nhưng tính nếu đi ngay với nó sau khi tan học buổi chiều, tối mới trở về nhà đi một mình sợ ma khi đi qua miếu Bà nên định rủ thêm thằng Tiếp cùng thôn Đồng Me đi chơi nhưng thằng Nghĩa không cho. Nó bảo đi đông lộ hết chuyện, cha nó không cho đi đâu! Nó bảo: “Chỉ tao với mày thôi, mình đi ra cổng nhà tao để cha tao ổng thấy mình đi chơi phía mấy cái quán bên đường quốc lộ rồi mình bí mật quay trở về nhà bên cạnh nhà tao, đi ra phía sau rồi chui rào qua vườn nhà tao ở phía sau, từ vườn nhà tao mình lại chui rào qua bên đường tàu, ở đó đã có sẵn rất đông lính Nhật, coi thỏa thích”. Tôi thấy kế hoạch “trốn cha” của nó rất hay và có vẻ ly kỳ nên tôi hẹn với nó sáng hôm sau, chủ nhật tôi sẽ đi Phong Niên đến nhà nó. Sáng hôm sau, tôi đến nhà Nghĩa rất sớm, hai đứa chơi loanh quanh trong sân nhà Nghĩa một lúc rồi bắt đầu thực hiện kế hoạch đi coi lính Nhật mà nó đã đề ra. Khi chúng tôi đang bò sát đất, vừa mới chui đầu qua hàng rào cây dâm bụt của nhà nó ở phía đường tàu thì nghe cha nó gọi: “Nghĩa, con đi đâu mà chui rào như vậy, lính Nhật nẫu thấy, nẫu lia cho mấy phát đạn thì bể đầu, đi dô nhà ngay!”. Hai đứa vội vàng quay trở vào nhà, đứng trước mặt ổng mặt đứa nào cũng tái xanh tái mét vì đang sợ cha cho ăn đòn vì cái tội trốn nhà đi chơi không xin phép. Cha Nghĩa bảo: “Chúng bay có nghe người ta kể chuyện hôm kia đoàn tàu chở lính Nhật từ Bình Định vô, tới ga Phước Lãnh nẫu bắt được hai đứa nhỏ vô ga làm gì đó, có thể là ăn cắp đồ của lính Nhật. Nẫu bịt mắt, trói chân tay vứt nằm ở đầu toa. Đến ga La Hai, lính Nhật nẫu xẻ thịt hai đứa nhỏ, đập sọ lấy não, mổ bụng lấy tim gan cho mấy ông chỉ huy nhắm rượu, thịt thì đưa lên mâm thay thịt bò theo các món ăn của Nhật cho lính Nhật dùng, xương thì quẳng cho mấy con chó canh đồn gặm cho nó hăng máu người”. Nghe cha Nghĩa kể, không biết đó là chuyện thật hay chuyện ổng bịa để hù chúng tôi, nhưng đứa nào cũng sợ khiếp vía, ý định đi coi lính Nhật tan biến hết. Tôi định đi về nhà thì cha Nghĩa lại bảo: “Muốn coi lính Nhật thì hai đứa lấy cái thang trèo lên cây xoài sau nhà phía gần đường tàu, tìm chỗ ngồi chắc chắn và kín đáo, coi thoải mái, không được chui rào ra ga lính Nhật nẫu bắt đấy, nghe chưa?”.


Chúng tôi làm theo lời ông và được coi thoải mái. Trời ơi, sao mà đông lính Nhật thế, người nào cũng súng dài, lưỡi lê tuốt trần, quanh bụng có cái nịt to đeo đủ thứ quanh người. Trên sân ga người thì ngồi, người thì đứng, người thì đi đi lại lại...  Mấy ông chỉ huy thì lưng đeo kiếm dài, tay cầm súng ngắn, đi lại dọc theo đường tàu trong sân ga. Một hồi lâu, khi chúng tôi cảm thấy ngồi trên cây đã mỏi, muốn leo xuống đất thì bỗng nghe một tiếng súng nổ, khói bay ra từ tay một ông chỉ huy. Lập tức tất cả lính Nhật đều đứng dậy, ông chỉ huy hô mấy tiếng gì đó rồi nổ luôn hai phát súng nữa, từng tốp lính Nhật xếp thành hàng ngay ngắn dọc theo các toa tàu. Ông chỉ huy nổ tiếp ba phát súng chỉ thiên, cả sân ga chuyển động, lính Nhật leo lên tàu. Khi tất cả lính Nhật đã lên tàu, sân ga trở nên vắng vẻ chỉ còn lại một ông chỉ huy quân Nhật và ông Trưởng ga Phong Niên, ông chỉ huy giơ khẩu súng ngắn chỉ thiên quay mấy vòng ra hiệu rồi nổ một phát, người trưởng ga cũng vội vàng giơ cờ hiệu đường sắt lên cao ra hiệu cho lái tàu cho tàu khởi hành. Chiếc tàu hỏa cũ kỹ nặng nề chuyển bánh cùng với tiếng rên ọc ạch... ọc ạch... thở khói đen phì phào mệt nhọc như là nó không muốn chở hành khách là quân Nhật.


Ngày 22 tháng 8 năm 1945, sáng sớm khi tôi còn đang ngủ, bỗng nghe trong làng dội lên tiếng trống, tiếng mõ, tiếng phèn la rộ lên khắp nơi, càng lâu những âm thanh ấy càng lan đi xa hơn. Tôi vội vàng choàng dậy chạy ra Nhà Phán cách nhà tôi không xa, đến nơi đã thấy có rất đông người, ai cũng cầm theo gậy gộc, giáo mác như là chuẩn bị đi đánh nhau với ai đó. Lũ trẻ chúng tôi cũng kéo đến Nhà Phán rất đông và cảm nhận thấy người lớn đang làm việc gì đó rất hệ trọng, cho nên khi đoàn người kéo đi xuống cầu Cây Cam chúng tôi cũng đi theo. Thỉnh thoảng, có người lớn quay lại đuổi chúng tôi quay trở về, nhưng có người đuổi quay về thì chúng tôi dừng lại, họ quay đi theo đoàn biểu tình thì chúng lại đi tiếp theo đoàn. Chúng tôi muốn đi theo người lớn để coi họ làm gì. Đến cầu Cây Cam đã thấy tập trung rất đông người từ làng Định Trung, làng Phong Niên và lũ trẻ chúng tôi tản ra trong đám đông nên không ai đuổi chúng tôi nữa. Một lúc sau thì đoàn biểu tình của xã An Nghiệp, An Xuân cũng đến.


Cuộc biểu tình của nhân dân xã An Định và các xã lân cận do ông Nguyễn Hữu Nhọn* chỉ huy bắt đầu đi từ cầu Cây Cam hướng Chí Thạnh, nơi có phủ Tuy An. Người biểu tình đi từng tốp theo làng xã, vừa đi vừa đánh trống, gõ mõ, đánh phèn la và hô khẩu hiệu: Đả đảo phát xít Nhật. Đả đảo Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim. Việt Nam Độc Lập. Mặt trận Việt Minh muôn năm. Trong từng tốp có một người hô trước “Đả đảo phát xít Nhật” rồi tất cả đồng thanh hô theo “Đả đảo, đả đảo”... “Đả đảo Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim”. “Đả đảo, đả đảo”...    (* Năm ấy tôi còn nhỏ không biết các ông chỉ huy các đoàn biểu tình giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám ở Tuy An là ai, sau lớn lên đọc sách mới biết)....“Việt Nam Độc lập”... “Việt Nam độc lập”... “Mặt trận Việt Minh muôn năm”...  “Muôn năm, muôn năm”...  Đoàn biểu tình đi đến chân đèo Thị thì gặp đoàn biểu tình của làng Phong Hậu và thôn Phong Hanh, Phong Thăng đã chờ sẵn để nhập vào đoàn biểu tình của xã An Định. Qua đèo Thị, đoàn biểu tình của các xã An Định, An Nghiệp, An Xuân đã kéo đến phủ Tuy An, cùng với các đoàn biểu tình của các xã An Dân, An Ninh, An Thạch do ông Huỳnh Ngọc Châu* chỉ huy và đoàn biểu tình của các xã phía Nam do ông Nguyễn Hạnh* chỉ huy cũng kéo đến phủ Tuy An. Người biểu tình đông lắm, có đến vài ba ngàn người, vây kín phủ Tuy An, hừng hực khí thế cách mạng. Nhân dân thị uy bằng tiếng trống, tiếng mõ và tiếng hô đả đảo đồng thanh vang dội như long trời, lở đất. Tri phủ và lính gác đã chạy trốn. Đoàn biểu tình gắn niêm kho lương thực, kho lưu giữ giấy tờ sổ sách, phá kho vũ khí lấy súng đạn mang đi. Lực lượng cách mạng đã nhanh chóng giành chính quyền ở cấp phủ Tuy An. Sau buổi mít tinh mừng thắng lợi của người biểu tình vây phủ Tuy An giành chính quyền, đoàn biểu tình của xã An Định và các xã khác quay trở về xã tổ chức thành lập chính quyền ở xã, ở thôn. Khi đoàn biểu tình của xã An Định về đến nhà ông xã Thế ở làng Định Trung. Ông Thế đã ngồi chờ sẵn trước sân để giao nộp triện đồng, sổ sách... cho chính quyền cách mạng lâm thời.


Tối hôm đó, trong các thôn làng của xã An Định lại vang lên tiếng trống, tiếng mõ, tiếng phèn la như là để ăn mừng thắng lợi của cuộc cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân và răn đe những kẻ muốn chống lại cách mạng.


Voi chiến về làng...


Năm 1946, lần đầu tiên một đàn voi và các chú bộ đội của trung đoàn 84 từ Tây nguyên về đóng quân ở làng Trung Lương và thôn Đồng Me để dưỡng quân và luyện tập. Có đến sáu con voi, năm con lớn và một con con theo mẹ, con lớn thì rất lớn, con nhỏ rất dễ thương. Nhân dân các làng háo hức tìm cơ hội để được nhìn thấy voi, nhìn thấy voi lớn quá nên họ gọi là ông tượng, bất kể con đực hay con cái. Nhiều bà mẹ có con nhỏ tìm cơ hội xin quản tượng cho phép ẵm con đi qua đi lại dưới bụng voi để cầu may cho con mạnh khỏe như voi.


Hồi ấy, đời sống của bộ đội còn rất nhiều khó khăn, thiếu thốn cho nên mỗi lần bộ đội về đồng bằng dưỡng quân, nhân dân các xã quanh vùng đóng quân sôi nổi trong phong trào góp gạo nuôi quân cho bữa ăn của bộ đội có thêm thịt cá. Lũ trẻ chúng tôi thì vui mừng khôn xiết, lại đúng vào dịp nghỉ hè nên suốt ngày quanh quẩn bên voi để tìm hiểu xem nó ăn uống thế nào, nó ăn gì, ngủ nằm hay ngủ đứng...  Các chú bộ đội để con voi có con nhỏ ở thôn Đồng Me, ngay chỗ khúc suối cạn gần nhà ông Luận, còn bốn con kia thì hai con để ở thôn Hóc Lá, hai con để ở thôn Trung Lương cũng ở dưới suối gần cầu Trung Lương. Họ cho voi ở suối vì hai bên bờ suối có nhiều cây to, máy bay Pháp không phát hiện thấy voi và có thể xích voi vào gốc các cây to. Thấy các chú giữ voi cho voi ăn đủ loại lá cây, tôi hỏi: “Sao chú không đưa voi vô núi thả cho nó ăn, Đồng Me ba mặt là núi voi ăn đến bao giờ cho hết lá”. Chú bảo không được, mình nuôi nó phải cho nó ăn, thả nó vô rừng kiếm ăn nó sẽ nghĩ mình không muốn nuôi nó nữa, nó sẽ bỏ đi luôn về rừng. Thấy một mình chú giữ voi đi tìm lá cây cho hai mẹ con voi ăn rất vất vả, tôi hỏi nó có ăn chuối, mít, rau muống, rau lang...  hay không, chú nói có nhưng rau phải sạch. Thế là lũ trẻ chúng tôi hò nhau đi tìm đồ ăn cho voi. Đầu tiên, xin ngay những buồng chuối, quả mít sắp chín của nhà, sau đó thì xin của hàng xóm và cũng không loại trừ khả năng có đứa ra đồng chặt trộm mía của nhà mình đem cho voi ăn. Mỗi ngày, đứa nào cũng có một món gì đó cho voi và mỗi lần cho nó quà, nó vẫy tai, gật đầu như là nó cảm ơn, trông rất dễ thương. Các chú bộ đội nói voi nó khôn lắm, nghe có tiếng máy bay, nó biết tự tìm chỗ ẩn nấp, nó có lỗi nó biết chịu lỗi, nó được khen nó biết bày tỏ vui mừng. Con voi có con nhỏ được thưởng huân chương đấy, nó đã cứu được ba người thoát chết: quản tượng của nó bị thương nặng khi đang ngồi trên lưng nó, không còn có thể điều khiển nó đi về chỗ ở, nó tự chạy một mạch về trạm xá của đơn vị ở trong rừng cho bác sĩ cấp cứu. Hai người nữa bị nước cuốn trôi theo dòng sông khi trời mưa to, nó chạy theo dòng nước và tóm được người bị trôi đưa lên bờ. Hôm nào đơn vị làm lễ trao thưởng, đơn vị sẽ báo để đồng bào ra coi.


Một buổi chiều, gần tối, để tránh máy bay, đơn vị làm lễ trao huân chương cho voi. Sáu con voi đứng xếp thành hàng ngang trên đám ruộng khô sát rìa làng, quay mặt về phía có cắm một cây cờ Tổ quốc cao chừng 3 mét và một cái bàn nhỏ, trên bàn có đặt sẵn bằng Huân chương có gắn sẵn tấm Huân chương. Bộ đội đứng thành hàng ngang phía sau lá cờ, dân làng đứng hai bên từ chỗ bộ đội đứng đến chỗ voi đứng. Khi ông chỉ huy đọc lệnh khen, quản tượng của con voi có con nhỏ đưa voi bước lên phía trước rồi voi quì xuống để ông chỉ huy đeo cái bằng huân chương có gắn sẵn tấm Huân chương lên trước trán của nó, nó đứng dậy và gật đầu, vẫy tai, nâng vòi lên cao rồi hạ vòi xuống liên tục nhiều lần, trong khi đó những con voi khác cũng đồng loạt làm động tác như vậy trong tiếng vỗ tay và reo hò vang dội của dân làng và bộ đội cùng với tiếng trống dồn dập ba tiếng một và tiếng kèn thúc quân tò tí te tò tí te... tò tò tò te... tò tí te tò tí te... tò tò tò te...  


(còn tiếp)


Nguồn: Người con của mẹ Năm Bê. Truyện ký của Huỳnh Quang. NXB Hội Nhà văn, 2019.


www.trieuxuan.info       


trieuxuan.info