29.11.2018
Vũ Hạnh
Người Việt Kỳ diệu (trích)


… Ngay từ buổi đầu, khi còn sống trong tình trạng bộ lạc, người Việt đã từng đánh tan quân đội hùng mạnh của đời bạo Tần bằng những chiến thuật du kích tinh diệu. Và suốt thời kỳ lập quốc gian nan khổ nhọc đầu tiên, mặc dầu chưa thành hẳn một quốc gia thống nhất, người Việt đã từng bị các triều đại phong kiến Trung Hoa đô hộ cả suốt ngàn năm. Vậy mà cuối cùng vẫn chỗi dậy được, đánh tan cả bọn thống trị và tự củng cố thành một lực lượng độc lập hơn bao giờ hết. Nếu người ta biết dân tộc Hán có khả năng đồng hóa mãnh liệt chừng nào thì sẽ ý niệm rõ hơn về cái khả năng miễn nhiễm siêu đẳng của người Việt Nam. Bởi lẽ, suốt cả ngàn năm chinh phục, dân tộc to lớn và có trình độ cao hơn vẫn không thể làm phai mờ cá tính của dân tộc Việt, tuy rằng bé hơn không biết bao lần. Người Việt thấy trước con đường của mình, và đọc lịch sử của họ chúng ta không ngăn được mối xúc động và sự thán phục. Nếu người ta nghĩ đến giặc Mông Cổ và cái đế quốc Thát Đát mêng mông chừng nào, có lẽ người ta mới thấy được sức chiến đấu lạ lùng của người Việt Nam. Người ta có thể nhận định một cách rõ ràng và dứt khoát rằng chỉ mình dân tộc Việt Nam - duy nhất trên địa cầu này - đã đánh bại quân Mông Cổ xâm lăng. Đó là đoàn quân xâm lược vô cùng dũng mãnh, đã thôn tính biết bao nhiêu dân tộc lớn lao, đã đặt Trung Hoa dưới ách nô lệ tàn bạo, đã chiếm Tây-Hạ, Tây-Bá-Lợi-Á, xâm lăng Trung Âu; uy hiếp Áo, Đức… Vậy mà đoàn quân bách thắng của họ, khi vào bờ cõi Việt Nam đã bị đánh cho thảm bại liên tiếp ba lần.


Ba lần chiến thắng vinh quang của dân tộc Việt để chống cự lại kẻ thù số một của loài người lúc ấy, đã đặt Việt Nam vào những dân tộc oanh liệt hàng đầu.


Và về sau này, gần một trăm năm bị đô hộ dưới ách thống trị của thực dân Pháp được xem như là đế quốc hoàn chỉnh và bậc nhất nhì ở trên thế giới, người Việt vẫn lại bền gan chiến đấu, và họ đã từng đánh cho kẻ thù tan tác nhiều phen khiến cho những viên đại tướng có uy danh nhất của thực dân Pháp vẫn còn giữ những kỷ niệm hãi hùng của sự chiến bại.


 Người ta có thể kết luận được rằng dân Việt là một dân tộc tự cường, bất khuất đến một mức đô khá cao, và tinh thần ấy giúp họ trở thành một kẻ nhỏ nhất mà lại mạnh nhất, bị chèn ép nhiều bậc nhất nhưng lại quật khởi oai hùng bậc nhất.


Người ta sẽ không bao giờ hiểu hết được sức mạnh ấy, và sự cao lớn của tinh thần ấy, nếu không đi vào bề sâu lịch sử của dân tộc Việt, nếu chỉ quan sát hời hợt sinh hoạt bình thường của họ. Với một nhận định theo lối hình thức Tây Phương, người ta không sao hiểu được giá trị đích thực của họ.


Nếu quay trở về khởi điểm để thấy người Việt từ lúc vùng dậy ban đầu với những vũ khí thô sơ, những gậy tầm vông và những dáo mác, thì ta sẽ hiểu rõ hơn sức nặng tiềm tàng nơi họ phi thường đến như thế nào. Những kẻ thù vốn tự hào là hùng mạnh nhất của dân tộc Việt không thể thấy điều ấy. Làm sao mà nhìn thấy được từ khi cái ý chí bất khuất của dân tộc này bắt nguồn từ trong lịch sử ngàn xưa, thấm sâu trong xương tủy họ, bàng bạc trong niềm kiêu hãnh vô biên của một dân tộc không chịu sống trong tủi nhục, luôn luôn gắn bó mãnh liệt vào mảnh đất quê hương, vào di sản của dân tộc, di sản đau thương mà rất kêu hùng! Kẻ thù của dân tộc Việt chỉ bắt đầu thấy được sức mạnh ấy khi họ thất bại, và thật là quá muộn màng. Còn dân tộc Việt đã biết rõ sự chiến thắng của mình từ khi chiến đấu, trước khi chiến đấu, dù phải đối phó với kẻ thù nào. Bởi vì người Việt hiểu rằng ở sau lưng họ không chỉ là một khoảng trống, không chỉ là những kỷ niệm nhạt mờ, hỗn độn, mà ở sau đấy có một lịch sử lâu dài của những nỗ lực vinh quang.


Do đó, ông Lê Lai thay áo cho ông Lê Lợi để tìm cái chết hy sinh, không phải là một hành động của kẻ tuyệt vọng, cũng như khi Trần Thủ Độ lấy cái đầu mình đảm bảo với vua để khỏi đầu hàng kẻ thù, hoặc Trần Hưng Đạo chỉ vào dòng sông Bạch Đằng cương quyết không quay trở về nếu không chiến thắng, đều không phải là những sự bảo đảm liều lĩnh của một tâm lý phiêu lưu. Những thái độ lịch sử ấy đều chung trong niềm tin tưởng nhất trí ở lẽ quyết thắng của dân tộc họ, nếu ta nhớ lại câu thơ từ xưa của Lý Thường Kiệt:


Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?


Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!


Được một người Việt dịch là:


Cớ sao giặc dám hoành hành?


Rồi đây bay sẽ tan tành cho coi!


thì ta càng rõ sâu xa niềm tin tưởng ấy ở cái khả năng vô lượng của giống nòi họ. Trong nhũng thời đại lớn lao, dân tộc ấy lại đúc kết nên những anh hùng tuyệt đẹp, những người không chỉ giỏi về thao lược ở chốn chiến trường mà còn là những văn tài lỗi lạc. Tôi thấy bốn câu thơ ngắn của Lý Thường Kiệt - mà ông mạo xưng là của thần linh báo mộng - đã phản chiếu rõ ý thức đầy đủ của một dân tộc nhận thức được giá trị mình cùng cái khả năng độc lập của mình, đồng thời đó cũng là một đường lối sơ khai về sự tuyên truyền chiến tranh nằm trong ý thức tự vệ, hay gọi đó là phương thuật tác động tâm lý quân đội đầu tiên ở trong loài người. Chính những nhà tướng Việt Nam thời xưa dung hòa cả văn lẫn võ, và dưới áo giáp họ còn là những nhà thơ dồi dào bản lĩnh. Hịch Tướng-sĩ văn của Trần Hưng Đạo. Bình-Ngô-Đại-Cáo của Nguyễn Trải, thơ Phạm Ngũ Lão, thơ Trần Quang Khải, khả năng ưu tú của họ thật là toàn diện. Chỉ những thời đại suy đồi trong xã hội Việt mới có cách biệt rõ rệt giữa văn và võ để chỉ có những văn nhân hèn yếu và những võ tướng vũ phu.


Qua lịch sử oai hùng của người Việt, chúng ta nhận thấy họ có khả năng chiến thắng những quân xâm lược khủng khiếp nhất của loài người là nhờ nơi cái ý sống huyền diệu của họ, ý sống ấy vốn âm thầm nhưng lại bát ngát mênh mông như biển Nam-Hải, trùng trùng điệp điệp như dãy Trường Sơn. Ý sống ấy làm cho người dân Việt chấp nhận được sự hy sinh một cách dễ dàng, dễ dàng như là hơi thở, một khi họ nhìn thấy được thực sự chính nghĩa của việc mình làm. Chính ý chí vô biên, vô tận về một đời sống độc lập đã khiến cho dân tộc ấy, dù bị bao nhiêu cơn lốc phũ phàng ở trong lịch sử, vẫn cứ tồn tại, điềm nhiên, kiêu hãnh trong sự khiêm tốn cố hữu của mình. Nhờ sức sống ấy cộng với tinh thần thông minh đặc biệt của dân tộc họ mà người Việt Nam có những sáng kiến rất cao về mặt chiến lược, chiến thuật, về sự kiến trúc, về điệu thi ca, về các kỹ thuật canh tác hàng ngày. Nếu ta biết rằng nhà Tống ngày xưa bắt chước tổ chức quân đội theo kiểu nhà Lý, nếu ta nghiên cứu nghệ thuật xây thành Cổ Loa, kỹ thuật đắp đê từ thời thượng cổ, khí cụ bắn lửa phát hiện từ thời Phù Đổng Thiên Vương đến các chiến lược tinh diệu của Trần Hưng Đạo, hay khẩu súng trường chế tạo bằng tay của ông Cao Thắng rồi đem liên hệ với điệu lục bát đơn giản mà rất phong phú, với các truyện dài, tiểu thuyết toàn bằng văn vần của họ, ta sẽ ý hội được văn minh ấy có những sắc thái đặc biệt ra sao, độc đáo thế nào.


Đồng thời ta sẽ hiểu thêm sức mạnh của nền văn minh tinh thần Việt Nam, nếu ta biết được quá trình xây dựng lãnh thổ của họ lâu dài, nhiêu khê và hoàn thiện đến mức nào.


Xét trên lịch sử, dân tộc Việt Nam không thể chịu đứng y nguyên trên mảnh đất mình mà phải di động không ngừng, như một đoàn quân tiến bước, và từ miền Bắc chuyển mãi về Nam, đem cái khối lượng dân tộc của mình va chạm đắc thắng với các dân tộc đối kháng, mãi cho đến khi biển cả dừng chân họ lại ở mũi Cà Mau. Có lẽ vì thế mà động từ đi có một vị trí đặc biệt trong ngôn ngữ Việt. Nó được biến thành trạng từ mệnh lệnh cho mọi sai khiến và mọi thúc đẩy - chẳng hạn: đi đi, cười đi, ngủ đi, nín đi, v.v… - hiện diện thường trực ở trong ngôn ngữ để làm các nhiệm vụ đó, hầu như xê dịch, chuyển động, và phát triển là nhu cầu lớn của dân tộc này.


Trong sự di động thường xuyên ở trong quá trình phát triển lịch sử, người Việt đã xây dựng được dân tộc và hoàn thành được lãnh thổ.


Lãnh thổ Việt Nam là một thành tích vĩ đại của sự chiến đấu trường kỳ, là một kiến trúc công phu phải hàng vạn triệu con người xây dựng hàng bao thế kỷ, đó là tác phẩm tuyệt vời đã được cấu tạo bằng biết bao nhiêu dồn ép cũng như hy sinh.


Có lẽ một số người Việt khi nhìn thấy Kim Tự Tháp, thấy đền Ang-ko hay là Vạn Lý Trường Thành bỗng sinh tấc lòng phiền muộn hay mối mặc cảm tự ti, vì thấy dân tộc của mình thiếu những công trình xây dựng qui mô. Họ quên hẳn rằng dân tộc của họ có thừa nghị lực, thông minh, cũng như tài năng tuyệt xảo để làm những công trình ấy, nhưng phải dồn hết tâm lực vào đầu mũi dáo, lưỡi cày trong cuộc chiến đấu tự tồn quá sức gian nan. Dân tộc của họ chưa có những phút rỗi rãi dư thừa, chưa có tháng năm yên ổn kéo dài trong cảnh thái bình thịnh trị để mà đúc chữ, gò câu, xây đền, tạc tượng. Đó là dân tộc chỉ biết có đi chứ không đứng lại bao giờ, dân tộc chỉ quen làm lụng chứ không hề thích nghỉ ngơi, d6n tộc chiến đấu để mà xây dựng không ngừng.


Nhờ vậy, người Việt có một giang sơn tuy chẳng so bì được cái bề rộng, bề dài với biết bao nhiêu là dân tộc khác, nhưng lại có đủ khả năng sinh sản, dồi dào sức chứa tài nguyên. Nếu so với nhiều lãnh thổ của nhiều dân tộc trên địa cầu này, ta thất đất nước Việt Nam đã khéo tự hoàn thành lấy, và tự khắc phục được nhiều nhược điểm: họ có trên ba ngàn cây số biển dồi dào sức cá, có cả núi rừng trùng điệp phong phú quặng mỏ, gỗ cây, có cả đồng ruộng mênh mông chất đất phì nhiêu, và những dòng sông, thác nước tràn trề sinh lực. Quan sát lãnh thổ của họ, chúng ta còn hiểu vì sao người Việt không ngừng tiến bước về Nam, bởi vì mảnh đất miền Nam có đủ khả năng bổ túc cho sự thiếu sót của đất đai miền Bắc, và sở trường nơi mảnh đất miền Bắc bồi dưỡng cho sở đoản mảnh đất miền Nam. Sự gắn bó của hai miền đất phong phú ấy về mặt kỹ nghệ, canh nông, tạo nên cái thế quân bình quan trọng ở trong năng lực lãnh thổ, bởi vì thiếu một trong hai miền ấy, đất nước Việt Nam không thể phồn thịnh lâu dài. Do đó người Việt vẫn quen nhìn hai miền ấy như hai bó lúa, mà dãi đất dài miền Trung là chiếc đòn gánh lịch sử, một thứ xương sống mãnh liệt làm bằng một dãi Trường Sơn lâm sản dồi dào. Đi sâu vào lãnh thổ ấy, người ta còn nhận thấy được điều này: lãnh thổ người Việt đã hợp nhất được hai nền văn minh vào loại lớn nhất của Đông Nam Á cũng như của cả nhân loại, là nền văn minh Ấn Độ cộng với văn minh Trung Hoa, dựa vào sinh hoạt căn bản của người Anh-đô-nê-diên để làm nền tảng. Trên lãnh thổ ấy đã không tránh khỏi lịch sử tiêu trầm của những dân tộc và sự va chạm giữa các văn minh, để đưa đến sự chiến thắng quyết định của dân tộc Việt.


Khi ai hỏi đến tác phẩm lớn nhất của dân tộc mình, công trình kiến trúc vững nhất của dân tộc mình, người Việt có thể kiêu hãnh đáp rằng: “Đó là lãnh thổ mà bao nhiêu đời cộng đồng các dân tộc sống trên mảnh đất này đã góp công sức tạo thành và không ngừng nghỉ điểm tô”. Đó là chứng chỉ cụ thể và hùng hồn nhất của cái tinh thần bất khuất, là cái văn bằng xứng đáng hơn hết của óc sáng tạo thiên tài.


(còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn. Bản thảo biên tập hoàn chỉnh từ năm 2006. Từ năm 2006 đến 2010, NXB Văn học đã ba lần cấp Giấy phép xuất bản, cả ba lần, những đối tác nhận đầu tư in ấn đến phút chót đều “chạy làng”! Năm 2015, bản thảo này đã được xuất bản bởi NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh đầu tư in ấn.


www.trieuxuan.info


trieuxuan.info