Truyện ngắn
16.09.2008
Dư Hoa
Hai truyện ngắn của Dư Hoa trong tác phẩm Tình yêu cổ điển

THẮNG LỢI CỦA ĐÀN BÀ


(Truyện này được giải văn học Lỗ Tấn và giải thưởng Trăm hoa của “Nguyệt báo Tiểu thuyết")


 


Một người đàn bà tên là Lâm Hồng, khi dọn dẹp chiếc ngăn kéo của chồng tên là Lý Hán Lâm đã phát hiện một bì thư đã cũ gấp hết sức ngay ngắn. Chị liền mở phong bì, lấy ra một bì thư nữa cũng gấp ngay ngắn như vậy, chị lại mở phong bì, lại nhìn thấy một phong bì gấp tử tế, sau đó chị đã nhìn thấy một chiếc chìa khóa.


Chiếc chìa khóa bằng nhôm này không có gì đặc biệt, tại sao phải dùng ba chiếc phong bì gói lại? Lâm Hồng đặt chìa khóa trên tay, chị nhìn thấy chiếc chìa khóa hơi ố đen, chứng tỏ chiếc chìa khóa đã dùng rất lâu. Từ mặt thể tích của chiếc chìa khóa, chị phán đoán chiếc chìa khóa này không phải để mở cửa, nó chỉ có thể mở khóa trên ngăn kéo hoặc khóa va li da. Chị đứng dậy, đi đến trước bàn viết, đút chìa khóa vào lỗ khóa ngăn kéo, nhưng không mở được. Chị lại cắm chìa khóa vào lỗ khóa va li da, song không cắm vào được. Tiếp theo chị tìm mọi thứ khóa trong nhà, nhưng chiếc chìa khóa này đều không mở được, hay nói cách khác là chiếc chìa khóa này không  liên quan gì đến gia đình này, cho nên... chị coi chiếc chìa khóa này là vị khách không mời mà đến.


Chiều nay, người đàn bà ba mươi nhăm tuổi này luôn trong tình trạng nghi ngờ không yên, sợ hãi và phỏng đoán. Chị ngồi trên ban công, người nhuộm đấy ánh nắng trong khi tay vẫn cầm chiếc chìa khóa. Chị ngồi như vậy rất lâu, mặc cho ánh nắng xê dịch trên người chị, đầu óc mụ đi không biết làm thế nào. Sau đó, nghe chuông điện thoại réo vang, chị mới đứng lên, bước đi nhận điện thoại. Chồng chị gọi điện về, chồng chị lúc này đang ở nơi xa ngàn dặm trong một khách sạn. Trong điện thoại chồng chị nói:


- Lâm Hồng, anh Lý Hán Lâm đây! Anh đã đến nơi, đã có chỗ ở, mọi điều về anh đều rất tốt. Em thế nào, có khỏe không?


Anh vẫn tốt ư? Chị không biết. Chị đứng tại chỗ, tay cầm điện thoại, đầu dây đằng kia của điện thoại đang gọi chị:


- Alô! Alô! Em có nghe thấy không?


Lúc này chị mới nói:


- Em có nghe rõ.


Đầu dây bên kia điện thoại nói:


- Vậy thì anh bỏ máy.


Điện thoại đã ngắt, tiếng tút tút vọng lại kéo dài, chị cũng bỏ ống nghe xuống, sau đó quay trở lại ban công, tiếp tục nhìn chiếc chìa khóa. Cú điện thoại của chồng vừa rồi là công việc thường lệ, chỉ là để báo với chị, anh ấy vẫn đang tồn tại.


Quả thật anh ấy đang tồn tại. Quần áo anh ấy còn phơi trên ban công, nụ cười của anh ấy còn gắn trong khung gương trên tường, thuốc lá anh ấy dập tắt còn nằm trong cái gạt tàn, mấy người bạn của anh ấy vẫn gọi điện đến. Bạn của anh ấy không biết anh ấy lúc này đang ở xa ngàn dặm, họ nói trong điện thoại:


- Cái gì, cậu ấy đi công tác ư?


Chị nhìn chiếc chìa khóa trong tay. Hiện giờ sự tồn tại của chồng chị ở cả chiếc chìa khóa này, chiếc chìa khóa ố đen này ám chỉ cái gì với chị? Một người chị hết sức quen thuộc, giữ kín với chị một chuyện riêng gì đây, giống như dùng ba cái phong bì gói một cái chìa khóa. Chuyện kín đáo ấy bị thời gian che giấu, được chị coi là thời gian của hạnh phúc bị che giấu. Bây giờ chị nhận ra chuyện riêng tư thầm kín này đang đến, đồng thời dự cảm thấy nó có thể gây tổn thương đối với bản thân. Chị nghe tiếng bước chân của ai đó đang bước lên cầu thang, từng bậc, từng bậc đến gần chị, khi đến trước cửa nhà chị thì dừng lại một lát, rồi đi tiếp.


Sáng hôm sau, Lâm Hồng đến đơn vị Lý Hán Lâm công tác. Chị bảo với đồng sự của Lý Hán Lâm, chị muốn lấy một số thứ trong ngăn kéo đang khóa của Lý Hán Lâm. Người đồng sự của Lý Hán Lâm quen biết chị. Một người vợ đến lấy một vài thứ trong ngăn kéo của chồng, rõ ràng là việc đương nhiên. Anh liền chỉ vào một cái bàn kê sát tường.


Chị đút chiếc chìa khóa kia vào lỗ khóa ở bàn làm việc của Lý Hán Lâm, khóa được mở ra. Thế là chị đã tìm được chuyện riêng giấu kín của chồng, bỏ ở trong một phong bì rất to, có hai bức ảnh của cùng một người đàn bà, một tấm mặc áo tắm đứng trên  bờ biển, còn tấm kia là ảnh nửa người đen trắng. Người đàn bà ấy trông trẻ hơn chị, song không đẹp bằng chị. Ngoài ra còn có năm bức thư, cuối bức thư nào cũng ký hai chữ Thanh Thanh. Cái tên này làm nhức mắt chị. Thanh Thanh, đây rõ ràng là tên đặt khi mới đẻ, một người đàn bà chị hoàn toàn xa lạ đã đem tên cúng cơm của mình cho chồng chị, tay chị nắm chặt thư run run. Trong thư đầy rẫy những lời ngọt ngào. Người đàn bà này thường xuyên gặp mặt Lý Hán Lâm, thường xuyên tỏ tình vụng trộm qua điện thoại. Thế đó, những lời dịu ngọt của họ tuôn ra vẫn không hết, lại còn phải bốc hơi qua thư từ. Trong đó có một lá thư người đàn bà kia cho Lý Hán Lâm biết số điện thoại liên hệ sau này đã sửa thành 4014548.


 


Lâm Hồng cầm ống nghe lên, bấm bảy con số 4014548. Điện thoại tút tút một lát, một người đàn bà cầm ống nói lên:


- Alô...


Lâm Hồng nói:


- Tôi cần gặp Thanh Thanh.


Ở đầu bên kia điện thoại đáp:


- Tôi đây ạ, chị là ai...?


Lâm Hồng nghe thấy giọng chị ta hơi khàn khàn. Cầm ống nghe, tay Lâm Hồng run run, chị nói:


- Tôi là vợ của Lý Hán Lâm...


Ở đầu dây bên kia im lặng lâu lắm, nhưng Lâm Hồng nghe thấy tiếng thở của chị ta, tiếng thở của chị ta dài ngắn không đều, Lâm Hồng nói:


- Cô vô liêm sỉ, cô bỉ ổi, cô hèn hạ, cô...


Tiếp theo Lâm Hồng không biết nói gì nữa, chị chỉ cảm thấy toàn thân run rẩy. Lúc này phía bên kia đã nói chuyện, cô ta nói:


- Những lời vừa rồi chị nên nói với Lý Hán Lâm.


- Đồ vô liêm sỉ. - Lâm Hồng quát vào điện thoại - Cô đã phá hoại gia đình chúng tôi, cô thật vô liêm sỉ...


- Tôi không phá hoại gia đình của chị. - Bên kia nói - Chị có thể yên tâm, tôi sẽ không phá hoại gia đình của chị. Tôi và Lý Hán Lâm không tiếp tục thêm đâu, chúng tôi chỉ dừng lại ở đấy. Tôi đâu có định lấy anh ấy, đâu phải mọi đàn bà đều như chị...


Sau đó, bên kia cúp điện thoại. Lâm Hồng đứng tại chỗ toàn thân run lẩy bẩy, nước mắt chị trào ra khoang mắt bởi tức giận, tiếng tút tút của điện thoại vẫn kêu bên tai chị. Lâu lắm, Lâm Hồng mới bỏ ống nghe xuống, nhưng chị vẫn đứng tại chỗ. Sau khi đứng một lúc, chị lại nhấc ống nghe, bấm bảy con số khác: 5867346.


Đầu dây bên kia vọng lại giọng đàn ông:


- Alô! Alô! Ai đó? sao không nói đi...


Chị đáp:


- Tôi là Lâm Hồng...


- Ồ, Lâm Hồng... - Bên kia nói - Lý Hán Lâm đã về chưa?


- Chưa về! - Chị đáp.


Bên kia nói:


- Tại sao anh ấy còn chưa về? Anh ấy đi khá lâu rồi nhỉ? Đúng, không lâu thế đâu, trước đây ba hôm tôi còn gặp anh ấy kia mà. Lần này anh ấy đi làm gì? Có phải đi khuyến cáo bán máy lọc nước của đơn vị? Thật ra máy lọc nước của bọn họ hoàn toàn là đồ dỏm, anh ấy có tặng tôi một cái, tôi đã dùng thử, tôi cho nước chảy từ máy lọc ra vào trong cốc thủy tinh, cho nước chảy trực tiếp từ ống nước vào trong một cốc thủy tinh khác, tôi nhìn không thấy nước ở cốc nước lọc trong hơn, tôi lại uống một hớp, cũng không thấy cốc nước lọc sạch hơn...


Lâm Hồng ngắt lời anh ta, hỏi:


- Anh có biết Thanh Thanh không?


- Thanh Thanh ư? - Bên kia hỏi. Sau đó không nói nữa, Lâm Hồng cầm điện thoại chờ một lúc, bên kia mới đáp:


- Không biết.


Lâm Hồng nói, chị cố gắng giữ giọng mình bình tĩnh:


- Lý Hán Lâm có bồ bịch ở ngoài. Anh ta giấu tôi tìm một người đàn bà ở bên ngoài, con bé ấy là Thanh Thanh, hôm nay tôi mới biết. Hai người thường xuyên hò hẹn gặp nhau, gọi điện thoại, còn viết thư nữa, tôi đã bắt được thư con bé kia gửi cho Lý Hán Lâm, quan hệ của họ đã hơn một năm nay...


Lúc này bên kia đầu dây ngắt lời chị:


- Chuyện của Lý Hán Lâm tôi biết hết, riêng con bé Thanh Thanh này tôi không biết, có lẽ chị hiểu lầm họ chăng? Có thể họ chỉ là bạn thông thường... Xin lỗi, có người đang gõ cửa, chị chờ một lát...


Người bên kia bỏ ống nghe xuống, một lát sau, chị nghe thấy hai người đàn ông nói chuyện đi đến chỗ điện thoại, ống nghe được cầm lên nói tiếp:


- Alô...


Sau đó im lặng, chị biết anh ấy đang chờ mình nói tiếp. Nhưng chị không muốn nói nữa. Chị bảo:


- Anh đang có khách, tôi không nói nữa.


Bên kia nói:


- Vậy thì chúng ta chờ dịp khác nhé!


Điện thoại đã ngắt, Lâm Hồng vẫn cầm ống nghe. Từ sổ điện thoại, chị đã nhìn thấy số điện thoại của một người bạn khác của Lý Hán Lâm: 8801946. Chị bấm số điện thoại này, chị nghe thấy bên kia nhấc ống nghe lên: “Alô”.


- Tôi là Lâm Hồng.


Bên kia đáp:


- Lâm Hồng đấy à, có khỏe không? Lý Hán Lâm thế nào? Cậu ấy đang làm gì vậy?


Im lặng một lát, chị hỏi:


- Anh có quen biết Thanh Thanh không?


Ở bên kia im lặng lâu lắm, chị đành phải nói tiếp:


- Lý Hán Lâm giấu tôi tìm một vợ nữa ở ngoài...


- Không phải đâu. - Bên kia bây giờ mới nói chuyện - Lý Hán Lâm không làm chuyện ấy đâu, tôi hiểu cậu ấy, hay là chị... có thể chị đa nghi đấy...


- Tôi có chứng cứ hẳn hoi. - Lâm Hồng nói - Tôi bắt được thư con bé kia gửi cho anh ta, có cả ảnh tặng anh ta, vừa tôi đã gọi điện cho con bé ấy...


Bên kia nói:


- Những chuyện ấy thì tôi không biết.


Giọng ở bên kia rất lạnh nhạt. Lâm Hồng biết anh ta không muốn nói những chuyện này nữa, chị liền bỏ điện thoại, sau đó ra ngồi ở ban công. Sau khi ngồi xuống chị đã khóc. Lý Hán Lâm vẫn còn mấy người bạn, nhưng chị không muốn gọi điện thoại cho họ. Bọn họ sẽ không đồng tình với chị, bọn họ chỉ biết bênh vực Lý Hán Lâm, bởi vì bọn họ là bạn của anh ta. Trước đây rất lâu, chị cũng có bạn, tên của bọn họ là Triệu Bình, Trương Lệ Nê, Thẩm Ninh. Sau khi chị lấy Lý Hán Lâm, chị đã xa dần bạn bè, chị coi bạn của Lý Hán Lâm là bạn của mình, chị nói cười vui vẻ với bọn họ, cùng ra phố mua đồ với vợ của bọn họ. Sau khi hai người cưới nhau, vợ của bạn chồng đã thay thế Triệu Bình, Trương Lệ Nê, Thẩm Ninh. Bây giờ chị mới phát hiện mình không có người bạn nào.


Chị không biết một chút tin tức gì của Triệu Bình và Trương Lệ Nê, chị chỉ có điện thoại của Thẩm Ninh. Hơn một năm trước, Thẩm Ninh cho chị biết số điện thoại, chị ghi điện thoại của Thẩm Ninh vào quyển số khi hai người gặp nhau trên phố, sau đó liền quên luôn điện thoại của Thẩm Ninh, bây giờ chị đã nghĩ đến, lần đầu tiên chị dùng số điện thoại này.


Nhận điện thoại của chị là chồng Thẩm Ninh, anh ấy bảo chị chờ một lát, sau đó Thẩm Ninh cầm ống nghe. Thẩm Ninh nói:


- Alô, chị là ai?


Lâm Hồng đáp:


- Mình đây, Lâm Hồng đây.


Bên kia vọng đến tiếng reo vui vẻ, Thẩm Ninh cứ thao thao bất tuyệt nói trong điện thoại:


- Nghe thấy giọng cậu mình vui quá. Hình đã từng gọi điện cho cậu, nhưng chẳng ai bắt máy cả. Cậu vẫn khỏe chứ? Bọn mình lâu lắm không gặp nhau, hơn một năm rồi nhỉ? Thế mà mình cứ cảm thấy đã bao nhiêu năm rồi không gặp mặt. Cậu có tin tức gì của Triệu Bình và Trương Lệ Nê không hả? Mình cũng bao năm nay không gặp bọn nó. Cậu có khỏe không?


- Mình xúi lắm! - Lâm Hồng đáp. Thẩm Ninh im lặng, một lát sau mới hỏi:


- Vừa rồi cậu bảo sao?


Lâm Hồng lúc này rưng rưng nước mắt, chị nói với Thẩm Ninh:


- Chồng mình phản bội mình, anh ta có vợ ở ngoài...


Lâm Hồng nức nở không nói tiếp được. Thẩm Ninh hỏi trong điện thoại:


- Chuyện gì vậy?


- Hôm qua. - Lâm Hồng nói - Hôm qua khi mình thu xếp ngăn kéo của anh ta, phát hiện một phong bì gấp lại, mình giở ra xem thì ở trong còn có hai phong bì. Anh ta dùng ba cái phong bì gói một cái chìa khóa. Mình nghi ngờ, đi mở tất cả khóa trong nhà đều không mở được, mình nghĩ có thể là chìa khóa mở ngăn kéo phòng làm việc của anh ta. Sáng nay mình đến phòng làm việc của anh ta, mình đã tìm được ở đấy thư của con bé kia, cả hai bức ảnh nữa...


- Bỉ ổi! - Thẩm Ninh mắng trong điện thoại.


Lâm Hồng cảm thấy cuối cùng mình đã có chỗ dựa, chị có thể bộc bạch hết nỗi oan ức, đau buồn và phẫn uất chứa chất trong lòng. Chị nói:


- Mình đã dành cho anh ta tất cả, xưa nay chưa bao giờ nghĩ đến bản thân nên như thế nào. Lúc nào mình cũng nghĩ cho anh ta, muốn làm món gì cho anh ta ăn, muốn anh ta nên mặc kiểu quần áo nào. Sau khi cưới, mình đã quên mất bản thân, chỉ có anh ta, trong tim mình chỉ có anh ta, nhưng đi ra ngoài, anh ta đã làm chuyện đó...


Lâm Hồng nói đến đây, thì tiếng khóc đã thay cho lời nói. Lúc này Thẩm Ninh hỏi chị:


- Cậu định làm gì?


Lâm Hồng vừa sụt sịt vừa nói:


- Mình không biết nữa.


- Mình bảo cậu nhé. - Thẩm Ninh nói - Lúc này cậu không được yếu đuối, cũng không thể lương thiện. Cậu phải phạt anh ta. Ngay từ bây giờ cậu không được khóc nữa, đặc biệt không được khóc trước mặt anh ta. Cậu phải sa sầm nét mặt vào, không thèm để ý đến anh ta, cũng đừng nấu cơm cho anh ta, đừng giặt quần áo cho anh ta, không làm cho anh ta cái gì cả, cậu đừng cho anh ta ngủ trên giường, bắt anh ta ngủ ở ghế xô pha, ít nhất cũng để anh ta ngủ trên ghế một năm. Anh ta sẽ cầu xin cậu, thậm chí còn quỳ dưới chân cậu, anh ta còn có thể tát vào tai anh ta nữa, mọi thứ cậu không được mềm lòng. Anh ta sẽ leo lẻo thề thốt hết lần này đến lần khác, đàn ông thích thề thốt vào loại nhất, lời thề của họ chẳng khác gì chó sủa, cậu đừng có tin. Tóm lại cậu phải làm cho anh ta sáng tỏ cái giá phải trả do chơi bời vớ vẩn ở ngoài, phải làm cho anh ta ngày nào cũng phải sống trong lửa bỏng nước sôi, phải làm cho anh ta cảm thấy không muốn sống nữa, cảm thấy sống chẳng bằng chết...


 


Mấy ngày sau Lý Hán Lâm trở về nhà, nhìn thấy vợ ngồi trên ban công, cứ phớt bơ anh. Anh đặt túi xách lên ghế xô pha, bước đến trước mặt vợ, nhìn chị một lúc, thấy Lâm Hồng ngồi trơ như phỗng, anh cất tiếng:


- Có chuyện gì vậy em?


Cặp mắt Lâm Hồng cứ nhìn xuống thảm, Lý Hán Lâm chờ một lúc bên cạnh vợ, chị vẫn luôn luôn im lặng. Lý Hán Lâm quay vào ngồi trên ghế xô pha, mở túi xách, lấy quần áo bẩn ở bên trong vứt ra ghế, sau đó quay mặt ra nhìn Lâm Hồng. Thấy Lâm Hồng vẫn cúi đầu, anh có phần nào không vui, anh nói:


- Em đang làm cái trò gì vậy?


Lâm Hồng động đậy, quay mặt ra ngoài ban công. Lý Hán Lâm tiếp tục lục trong túi xách, anh lấy hết đồ ra để lên ghế xô pha, sau đó anh điên tiết lên đi về chỗ Lâm Hồng nói to:


- Mẹ kiếp, cô làm cái trò gì vậy? Tôi vừa về đến nhà cô đã xị mặt ra thế, tôi có chỗ nào làm mất lòng cô? Hả…


Lý Hán Lâm đột nhiên im bặt. Anh đã nhìn thấy chiếc chìa khóa trong tay vợ, đầu anh bỗng rối mù, kêu ong ong. Anh đứng lặng một lúc, sau đó đi vào buồng mình, kéo ngăn bàn ra, trong đó có một tệp tạp chí. Anh thò tay sờ dưới đống tạp chí, khi sờ đến góc bên phải, không thấy cái phong bì gấp hết sức gọn gàng kia đâu. Thế là, anh cảm thấy mình hít thở trở lên khó khăn.


Lý Hán Lâm đứng trước cửa sổ buồng ước chừng nửa tiếng đồng hồ, sau đó anh bước ra khỏi buồng, rón rén đi đến cạnh Lâm Hồng, cúi đầu xuống, người cũng khom khom. Anh nói với vợ:


- Em đã đến phòng làm việc của anh phải không?


Lâm Hồng ngồi không nhúc nhích. Lý Hán Lâm nhìn vợ một lúc rồi nói:


- Em đã xem thư  Thanh Thanh viết cho anh phải không?


Đôi vai của Lâm Hồng bắt đầu rung rung, Lý Hán Lâm ngần ngừ một lúc rồi đặt tay trái lên vai Lâm Hồng. Lâm Hồng rung mạnh người một cái, lấy vai hất tay chồng đi khiến tay anh buông thõng xuống. Lý Hán Lâm đút tay đó vào túi quần. Anh nói:


- Thế này em ạ, hai năm trước anh và Thanh Thanh quen nhau trong gia đình một người bạn. Thanh Thanh là em họ người bạn ấy, anh thường xuyên gặp cô ấy trong nhà bạn, sau đó có một hôm anh gặp cô ấy ở ngoài phố, sau đó nữa, anh và cô ấy thường hay gặp nhau. Cô ấy sống chung với bố mẹ, anh chung sống với em, cho nên nói chúng ta không có điều kiện, ý anh nói là anh và cô ấy không có điều kiện quan hệ về mặt thể xác. Nơi anh và cô ấy gặp nhau đều là rạp chiếu bóng và vườn hoa công cộng, anh còn đi bộ với cô ấy trên phố. Anh và cô ấy chỉ là, chỉ là hôn nhau thôi…


Anh đã nhìn thấy vợ khóc. Anh rút tay khỏi túi quần định đặt lên vai vợ, nhưng nhìn thấy Lâm Hồng rụt vai vào, anh đành rút tay về, anh sờ lên trán mình, nói tiếp:


- Toàn bộ quan hệ của anh và cô ấy chỉ có thế, cho dù em không phát hiện ra, thì anh và cô ấy cũng không làm những chuyện gì thêm. Trong lòng anh hết sức quý trọng các gia đình này, anh sẽ không phá hoại hạnh phúc gia đình của chúng ta…


Nghe đến đây Lâm Hồng đứng bật dậy đi vào trong buồng, sau đó đóng sầm cửa lại. Lý Hán Lâm đứng lặng tại chỗ, khoảng năm phút sau, anh đến trước cửa buồng ngủ, giơ tay khẽ gõ hai tiếng, sau đó anh nói vọng vào:


- Từ hôm nay trở đi, anh không gặp Thanh Thanh nữa em ạ!


Lâm Hồng thầm nghĩ: anh không cầu xin mình, không quỳ xuống, không tát vào tai anh, không thề thốt nọ kia, ngay đến một lời xin lỗi cũng không nói.


Nhưng anh ngủ trên ghế xô pha, Thẩm Ninh chỉ nói đúng có điểm này. Trước khi nằm trên ghế xô pha, anh đứng rất lâu trước giường chị, y như một nhà buôn kỳ nèo giá cả, cứ đứng ở đó so sánh thiệt hơn, cuối cùng anh chọn xô pha.


Anh chọn xô pha, hay nói cách khác là chọn im lặng không nói, cũng có nghĩa là chọn sống riêng với chị. Anh đã tách đời sống của mình với đời sống của chị, cũng không bao giờ còn nói với chị những chuyện có liên quan đến Thanh Thanh. Đương nhiên anh cũng không còn cậy là chồng nữa. Anh tỏ ra cẩn thận giữ ý ở trong ngôi nhà này, khi đi lại cố gắng không để phát ra tiếng kêu, cũng không mở cả ti vi. Anh khống chế không gian hoạt động của mình ở trên ghế xô pha, không ngồi thì nằm. Anh bắt đầu đọc sách. Con người xưa nay không đọc sách đã bắt đầu tay không rời quyển sách.


Khi chị xuất hiện trước mắt anh, anh lập tức đặt quyển sách trong tay xuống, mắt nhìn chị, vừa quan sát sắc mặt chị, vừa để bộc bạch bản thân. Anh không say sưa trong niềm vui do đọc sách đem đến, anh vẫn tỏ ra thấp thỏm không yên.


Sự im lặng của anh làm chị phẫn nộ. Anh đã làm cho căn nhà không có một tiếng động. Có phải anh định lấy đó để ngậm miệng ăn tiền, lập lờ đánh lận con đen cho qua chăng? Vấn đề là chị không thể chịu nổi, chị không thể để anh sống yên ổn. Anh đã phản bội chị, sau đó còn làm ra vẻ rụt rụt rè rè được sao?


Chị bắt đầu khiêu khích anh. Mỗi khi nhìn thấy anh ngồi trên ghế xô pha, hai chân duỗi xuống đất, chị liền đi ra ban công, khi đi qua trước mặt anh, chị nhằm thẳng vào chân anh đá một phát rõ mạnh, cứ làm như anh dạng chân ra cản đường đi của chị. Chị đi ra ban công, chờ xem anh phản ứng ra sao, nhưng anh chẳng có phản ứng gì, đau đớn đều không làm anh phát ra tiếng. Chị đứng một lát, đành quay về buồng ngủ của mình. Lần này chị nhìn thấy hai chân anh co lên ghế xô pha.


Chị tiếp tục khiêu khích, lúc xâm xẩm tối, chị đi đến trước ghế xô pha, vứt ráo chăn, quần áo và sách của anh xuống đất, sau đó ngồi xuống ghế, mở ti vi ra xem.


Khi mọi việc đang xảy ra, anh cứ ngồi trên ghế xô pha, chỉ đến khi chị mở ti vi, anh mới đứng dậy ra ban công ngồi đọc sách tiếp. Anh làm thế để tỏ ra khiêm tốn đối với chị. Anh cho rằng mình không xứng đáng ngồi cùng với chị, không xứng đáng cùng xem ti vi với chị. Anh cứ ngồi trên nền cứng quèo của ban công, thỉnh thoảng đứng lên vặn vẹo cho đỡ mỏi rồi lại ngồi xuống tiếp tục đọc. Mãi đến lúc chị đứng lên khỏi ghế, đi vào buồng mình, anh mới trở lại ghế xô pha, nhặt các thứ bị chị quăng xuống đất lên, sau đó mới đặt mình nằm ngủ.


Sự im lặng của anh vô bờ bến, ngược lại đã khiến chị không biết làm thế nào thì hơn. Mọi sự khiêu khích của chị đều như hòn đá ném xuống biển, không có hồi âm. Về sau chị bỏ giường ngủ ra nằm trên ghế xô pha xem ti vi, xem xong ti vi rồi chị ngủ luôn ở ghế, mà ngủ một mạch đến sáng. Tuy trong việc này có âm mưu của chị, nhưng cũng suôn sẻ như thường.


Chị đã chiếm mất chỗ ngủ của anh, đồng thời nhường chiếc giường êm xốp của mình để nhử anh ta, để anh ta vào ngủ một cách vụng về, sau đó chị được dịp đấu tranh với anh ta. Nhưng khi trời sáng, khi chị thức dậy trên ghế xô pha, đã nhìn thấy anh đang ngồi trên ghế, đầu gối lên bàn ăn mà ngủ.


Trong gia đình anh cụp đuôi lại làm người, nhìn vào hình như anh đã trừng phạt bản thân, vấn đề là trừng phạt như vậy sẽ liên lụy đến chị. Chị có nước mắt mà không khóc được, có lời mà không nói ra được, chị tức lộn ruột, nhưng đành giữ kín trong lòng. Chị đã không còn cầu mong anh xin xỏ chị, quỳ lạy chị. Tất cả những gì Thẩm Ninh bạn chị đã nói, chị đều không thể trông mong xảy ra. Khát vọng bây giờ của chị là làm ầm ĩ lên, cho dù là ẩu đả thượng cẳng chân hạ cẳng tay cũng hay hơn thế này.


Nhưng anh đã không cho chị cơ hội như thế, hay nói cách khác, anh đã cự tuyệt sự trừng phạt mà chị lựa chọn. Anh đã tự phán quyết chính anh, hơn nữa còn phục tùng tuyệt đối sự phán quyết ấy, rút cuộc đã làm cho chị cảm thấy anh đã quen với cảnh sinh hoạt tồi tệ này, hình như anh đã trở nên yên phận; sáng sớm nào anh cũng đi ra khỏi nhà trước chị, lúc chiều tối lại về nhà sau chị. Cũng không thể trách việc này, chỗ anh làm việc xa hơn chị rất nhiều, trước kia cũng như vậy, bao giờ anh cũng đi sớm về muộn. Anh ăn cơm trưa ở đơn vị, cơm tối ăn ở đâu chị không biết. Chị không nấu cơm tối cho anh nữa. Lúc anh về không đi vào bếp, thậm chí không hề ngó vào bếp một cái, chị biết ngay anh đã ăn no rồi. Anh ngồi trên ghế xô pha cầm quyển sách lên, trong tay anh thay hết quyển này đến quyển khác, chị biết ngay anh đã đọc xong những sách ấy, anh đã làm đảo lộn nếp sinh hoạt của chị, khiến tâm lý chị cũng thất thường theo, nhưng anh điều tiết rất giỏi mọi thứ của mình. Thế là lửa giận trong chị đùng đùng, chị nghiến răng nghiến lợi, nhưng không biết trút giận vào đâu.


Lúc chạng vạng tối hôm nay, chị đứng trên ban công, đột nhiên nhìn thấy anh từ trong quán cơm tầng trệt đi ra, chị bắt đầu biết anh ăn cơm tối ở đâu. Chị tức lộn ruột, tức đến run rẩy cả người. Trong lúc chị sống kham khổ một ngày tày một năm, thì anh ra ra vào vào nhà hàng, sống đời sống xa xỉ. Chị xồng xộc xuống gác dưới, tuy chị đã ăn cơm tối, chị vẫn định đi ăn một bữa rõ no nữa. Gặp anh trên cầu thang, đi qua sát vai anh, chị không thèm liếc một cái, chị đi phăng phăng xuống gác, bước vào quán ăn anh vừa đi ra. Chị gọi mấy món thức ăn, có cả rượu nhưng ăn được hai miếng, chị không sao nuốt nổi.


Sau khi ăn ba bữa ở quán, chị xót tiền quá, chị đã động đến số tiền anh chị gửi ở ngân hàng, số vốn của họ chẳng có bao nhiêu, họ còn trăm thứ cần có chưa sắm được. Nghĩ vậy đã kéo chân chị lại, chân chị không thể bước vào cửa lớn quán ăn nữa. Chị quay về đứng trước bếp lò của gian bếp nhà mình, nấu bữa tối hết sức đơn giản cho bản thân.


Nhưng, khi chị đứng trên ban công nhà mình tiếp tục nhìn thấy anh đi ra khỏi quán ăn kia, thì cơn phẫn nộ đã tiếp tục khiến chị xuống gác đi vào quán ăn đó, mãi cho đến một lần hai anh chị gặp nhau trong quán mới thôi. Lần ấy chị vào thấy anh đang ngồi ăn một bát mì sợi. Chị ngồi xuống một cái bàn cách xa xa, nhìn những người chung quanh anh đều ăn những món xa xỉ, còn anh thì chỉ ăn một bát mì sợi khốn khổ, trái tim chị bỗng dưng đau nhói.


Như vậy là từ đó trở đi, khi làm cơm tối cho mình, chị cũng nấu cho anh một suất. Chị để một cái bát không ở chỗ nổi bật nhất trên bàn, lại đặt lên bát một đôi đũa, đặt cơm và thức ăn ở bên cạnh, chị hy vọng để anh bước chân vào là chú ý ngay đến những thứ ấy. Về điểm này anh đã không để chị thất vọng. Khi nhìn thấy cơm canh chị nấu cho mình, cặp mắt anh bỗng sáng lên rồi nhìn chị một cách thăm dò. Sau khi xác nhận đây là cơm chị nấu cho anh, mặc dù đã ăn một tô mì sợi rồi song anh vẫn ngồi xuống ăn cho bằng sạch suất cơm tối chị nấu.


Khi anh ăn xong, thì chị đã vào buồng ngủ và khép cửa lại. Chị nằm trên giường, nghe thấy anh mở cửa, đi đến trước giường. Sau khi đứng trước giường một lúc, anh ngồi xuống mép giường, nói với chị:


- Chúng ta có thể nói chuyện với nhau được không em?


Chị chẳng nói chẳng rằng. Một lát sau, anh nói tiếp:


- Chúng ta có thể nói chuyện với nhau được không em?


Chị vẫn nín lặng, nhưng thầm hy vọng anh nói thao thao bất tuyệt, chị cho rằng anh ấy nên chỉ trích bản thân, cho dù anh không khóc rưng rức thì cũng phải đấm ngực thình thịch. Anh ấy phải quỳ xuống, phải thề thốt này nọ như Thẩm Ninh đã nói. Anh phải nói ra hết tất cả những gì cần nói, tuy chị vẫn phớt bơ anh, nhưng anh phải làm được những điều ấy. Vậy mà anh chỉ nói cụt ngủn mỗi một câu: Chúng ta có thể nói chuyện với nhau được không em?


Anh ngồi trước giường chị lâu lắm, thấy chị vẫn trước sau im lặng, anh liền đứng lên đi ra. Nghe thấy tiếng khe khẽ khép cửa của anh, nước mắt chị lập tức trào ra, anh bỏ đi một cách vô trách nhiệm thế ư! Anh trở về với ghế xô pha, sau khi anh nằm xuống, bước tiến triển vừa xuất hiện đã tắt ngấm, mọi thứ lại trở về lúc ban đầu.


 


Những ngày như vậy kéo dài hai mươi sáu hôm, cuối cùng Lý Hán Lâm đã không nhịn được nữa. Anh nói với Lâm Hồng:


- Tất cả khớp xương trên người anh đều nhức nhối, cổ anh không sao ngoái đi ngoái lại tự nhiên được nữa, cả dạ dày của cũng thế, bởi sinh hoạt không theo quy luật cũng đau từng cơn từng cơn, cho nên... nên kết thúc cuộc sống như thế này.


Lúc này giọng anh tỏ ra quyết liệt, không còn rụt rụt rè rè cũng không còn rón rón rén rén nữa, đứng trước mặt Lâm Hồng anh khoa chân múa tay, tỏ ra thẳng thừng mạnh mẽ. Anh nói:


- Tôi đã từng trừng phạt bản thân, nhưng cô vẫn không chịu tha thứ cho tôi, nếu chúng ta cứ tiếp tục thế này, không chỉ một mình tôi, mà ngay đến cô cũng không chịu nổi. Những ngày như thế này quả thật quá đủ rồi, chúng ta không thể sống tiếp nữa, chúng ta đành phải...


Anh đột nhiên dừng lại một lát:


- Chúng ta đành phải ly hôn.


Khi anh nói, Lâm Hồng luôn luôn quay mặt đi, lúc chị nghe thấy câu cuối cùng anh nói ra, chị quay ngoắt lại. Chị nói:


- Anh đừng hòng cắt đứt tôi! Anh đã làm tổn thương đến tôi, anh còn phải trả giá. Anh muốn chạy trốn hả? Anh định chạy đến chỗ Thanh Thanh hả? Tôi không đồng ý, tôi phải lôi anh lại, tôi phải níu anh đến già, kéo anh đến chết...


Chị nhìn thấy anh tủm tỉm cười. Chị đột nhiên hiểu ra, trên thực tế anh không phản đối mình bị níu kéo, cho dù níu kéo anh đến bạc đầu, đến lúc chết, anh cũng không hề nêu lên ý kiến khác. Thế là chị không nói nữa, đứng trơ tại chỗ không biết nên làm thế nào. Chị cảm thấy nước mắt mình ứa ra. Đi đôi với nước mắt tuôn rơi, chị cảm thấy tủi nhục. Sau bao nhiêu ngày khốn khổ như thế qua đi, đánh đổi lại chỉ là nụ cười mỉm của anh ấy. Chị luôn luôn chờ đợi sự sám hối của anh, sự chỉ trích đối với bản thân của anh, ít nhất thì anh cũng nên đau đớn khóc lóc một lần, có một lần để chị cảm thấy anh thể hiện hành vi hối hận thực sự. Nhưng anh chẳng làm gì cả, ngược lại còn tỏ ra thẳng thắn mạnh mẽ trước mặt chị:


- Chúng ta đành phải ly hôn.


Chị đưa tay gạt nước mắt, sau đó chị nói:


- Thôi được, chúng ta sẽ ly hôn.


Nói xong câu này, chị thấy nụ cười bỗng tắt ngay trên mặt anh. Chị quay người đi vào buồng ngủ, khóa cửa, rồi nằm trên giường, cứ để cả quần áo mà ngủ.


 


Hai người đi trên phố, nơi họ cần đến là văn phòng ủy ban đường phố. Cuộc hôn nhân của họ được xây dựng ở đấy, bây giờ đến đấy lần thứ hai để loại bỏ cuộc hôn nhân. Họ đi theo tường vây bên đường lên phía trước. Lý Hán Lâm đi trước, Lâm Hồng đi sau. Đi một lúc Lý Hán Lâm dừng lại, sau khi chờ Lâm Hồng đuổi kịp, lại tiếp tục đi về phía trước. Hai người đều im lặng. Lý Hán Lâm trước sau vẫn cúi đầu, chau mày, luôn tỏ vẻ tâm sự nặng nề. Còn Lâm Hồng thì ngửa mặt lên, để mặc gió thu thổi hất tung mái tóc của mình, trên khuôn mặt bình thản của chị thỉnh thoảng hiện lên nụ cười mỉm. Nụ cười mỉm của chị giống như chiếc lá rụng bay bay, mang sự  thê lương lúc lụi tàn.


Họ đi qua rất nhiều cửa hàng quen thuộc, những cửa hàng mà họ từng cùng nhau vào mấy lần, họ lại đi qua rất nhiều bến ô tô công cộng, nơi họ từng đứng đợi dưới những tấm biển của bến xe... Cứ thế họ đi qua trên con đường cùng với những hồi ức, rồi chẳng biết vòng vèo thế nào, họ đã đến quán cà phê có tên là Hoàng Hôn. Đến đây Lý Hán Lâm liền đứng lại. Sau khi đợi Lâm Hồng đuổi kịp, anh không tiếp tục cất bước bởi anh nhớ lại cách nay mấy năm khi họ cưới nhau, hay nói một cách khác, sau khi hai người vừa đăng ký kết hôn ở văn phòng ủy ban đường phố, đã từng đến nơi này ngồi trước cửa sổ trông ra phố. Anh gọi một cốc cà phê, chị uống một cốc nước ngọt, cho nên anh đã gọi chị lại, nói với chị:


- Hay là chúng ta vào đây uống cốc nước đã em?


Lúc này Lâm Hồng đã đi quá, liền quay người lại, ngẩng đầu nhìn, thấy đèn nêông lắp trên hiên nhà, ống đèn ghép nối thành năm chữ “Quán cà phê Hoàng Hôn”, vậy là chị chấp nhận đề nghị của anh, hai người bước cùng vào quán cà phê. Bấy giờ là buổi chiều, trong quán có vài người thưa thớt. Họ chọn chỗ ngồi trước cửa sổ trông ra phố, anh vẫn gọi một cốc cà phê, chị vẫn gọi một cốc nước ngọt, sau đó họ đều hồi tưởng lại, mấy năm trước mỗi người đã uống gì ở đây để chúc mừng cuộc kết hôn của họ.


Lý Hán Lâm mỉm cười đầu tiên, Lâm Hồng cũng mỉm cười, nhưng cả hai dập tắt ngay nụ cười, quay mặt đi chỗ khác. Lý Hán Lâm nhìn ra ngoài cửa sổ, Lâm Hồng nhìn vào chỗ mấy người ngồi trong quán. Chị chú ý đến một cô gái mặc màu đỏ rực rỡ, ngồi một mình ở bên phải họ, đang nhìn họ. Lâm Hồng cảm thấy trên mặt cô ta có thần sắc khác lạ, sau đó Lâm Hồng biết cô ta là ai, một cái tên chợt hiện ra trong đầu chị, cái tên đó là Thanh Thanh.


Lâm Hồng lập tức nhìn Lý Hán Lâm. Lý Hán Lâm cũng đã nhìn thấy Thanh Thanh. Rõ ràng anh không ngờ lại gặp cô ấy ở đây, cho nên trên mặt anh đầy vẻ ngạc nhiên. Khi anh quay mặt lại, qua ánh mắt Lâm Hồng nhìn mình, anh biết chị đã rõ. Anh nhăn nhó với Lâm Hồng một cái. Lâm Hồng nói:


- Anh đã báo cho cô ta ư!


Lý Hán Lâm nói:


- Em nói gì vậy?


Lâm Hồng đáp:


- Anh đã bảo với cô ta chúng ta sắp sửa ly hôn, cho nên cô ta đã đến.


Lý Hán Lâm nói:


- Không!


Trong lòng Lâm Hồng dâng lên một nỗi buồn, chị nói:


- Thật ra anh không cần nóng vội như thế...


- Không! - Lý Hán Lâm lại nói - Cô ta không biết gì hết.


Lâm Hồng nhìn thẳng vào Lý Hán Lâm, thấy thần sắc trên mặt Lý Hán Lâm vô cùng kiên quyết, chị bắt đầu tin tin lời anh. Chị lại nhìn người đàn bà trẻ kia, con người có tên Thanh Thanh này đang nhìn họ. Khi Lâm Hồng bắt gặp ánh mắt cô ta, cô ta lập tức nhìn sang chỗ khác. Lâm Hồng nói với Lý Hán Lâm:


- Cô ta luôn luôn nhìn anh, anh nên đến đấy nói với cô ta vài câu.


- Không! Lý Hán Lâm đáp.


Lâm Hồng nói tiếp:


- Chúng ta sắp chia tay rồi, anh còn e ngại gì nữa?


- Không! - Lý Hán Lâm vẫn nói như thế.


Lâm Hồng nhìn Lý Hán Lâm, thái độ kiên định của anh khiến chị đột nhiên cảm thấy ấm áp. Chị lại nhìn sang Thanh Thanh, lần này Thanh Thanh không nhìn họ. Cô ta đang cầm ly nước giải khát, chân gác chữ ngũ, trông không được tự nhiên cho lắm. Lâm Hồng lại nhìn Lý Hán Lâm, thấy anh đang nhìn ra đường phố ở bên ngoài cửa sổ, cặp lông mày anh nhíu lại, tỏ ra nặng nề. Sau khi nhìn anh một lúc, chị giục:


- Anh hôn em một cái đi nào!


Lý Hán Lâm quay mặt lại, ngạc nhiên nhìn Lâm Hồng. Lâm Hồng nói tiếp:


- Anh hôn em một cái, từ nay trở đi anh không bao giờ còn hôn em nữa, cho nên em xin anh hôn em một cái.


Lý Hán Lâm gật gật đầu, xê người đến. Lâm Hồng nói:


- Em cần anh ngồi xuống bên em hôn em cơ!


Vậy là Lý Hán Lâm ngồi luôn xuống cạnh Lâm Hồng, anh áp đôi môi lên má Lâm Hồng, lúc này Lâm Hồng lại bảo:


- Anh ôm em đi!


Lý Hán Lâm liền ôm chặt Lâm Hồng, sau đó anh cảm thấy môi của chị cọ trên mặt anh rồi hôn lên môi anh, lưỡi của chị lùa trong mồm anh, tay chị cũng ghì chặt anh. Lúc này Lý Hán Lâm cảm thấy chiếc hôn kéo dài như trong đêm, chị đã khống chế thân thể anh bằng tay, đã khống chế mồm anh bằng lưỡi. Thông qua mồm anh, chị đã đưa độ nồng nàn cháy bỏng vào cơ thể anh, sau đó tỏa ra một cách vô bờ bến.


Cặp mắt Lâm Hồng luôn luôn bám riết người đàn bà có cái tên Thanh Thanh kia, xem cô ta thỉnh thoảng nhìn về phía họ như thế nào, tay liên tục xê dịch chiếc cốc như thế nào, cuối cùng nhìn thấy cô ta đứng lên như thế nào, bước chân cô ta hấp tấp đi ra khỏi quán cà phê mang tên Hoàng Hôn này ra sao. Sau khi cái bóng dáng màu đỏ của cô ta lướt qua bên cạnh họ, đồng thời không bao giờ xuất hiện nữa, thì một niềm sung sướng trào dâng trong trái tim Lâm Hồng. Chị đột nhiên cảm thấy mình đã thắng lợi. Sau hai mươi sáu ngày nếm trải buồn đau và phẫn nộ, mất ngủ và trống trải, chị đã không đánh mà thắng.


Chị buông Lý Hán Lâm ra, mồm chị cũng rời khỏi mồm Lý Hán Lâm, sau đó chị tủm tỉm cười giục Lý Hán Lâm:


- Chúng mình về nhà đi anh!


(Theo tập truyện ngắn “Cậu bé trong Hoàng Hôn”, Nhà xuất bản Thế giới mới, tháng 7 năm 1999)


 


 


TÌNH YÊU CỔ ĐIỂN


 


Liễu Sinh lên kinh đô thi cử, đi trên con đường lớn màu vàng. Anh mặc chiếc áo vải màu xanh, phía dưới có nhiều nếp gấp, đầu đội chiếc mũ nhỏ phai màu, lưng thắt dải lụa xanh, trông chẳng khác một cái cây màu xanh thẫm. Bấy giờ đang là mùa xuân ngước mắt xa trông, chỗ thì đào liễu đua sắc, nơi thì dâu đay bạt ngàn, những mái nhà tranh dậu tre rải rác khắp chốn đan xen vào nhau. Mặt trời chói lọi treo lơ lửng giữa bầu trời cao lồng lộng, muôn vàn tia nắng vàng rực rỡ, ào ào cùng trút xuống, như tơ óng trên khung cửi.


Liễu Sinh đi trên đường được nửa ngày, suốt thời gian đó chỉ gặp hai viên quan lại nghênh ngang đi qua, mấy người có dáng dấp con nhà võ vung roi thúc ngựa vun vút lao qua. Bụi đất vó ngựa tung lên che lấp cảnh đẹp trước mặt, tạo nên quang cảnh hỗn loạn rối mù trước mắt Liễu Sinh. Từ đó trở đi, không bao giờ còn gặp ai qua lại trên đường nữa.


Mấy hôm trước, lần đầu tiên Liễu Sinh xa nhà bước trên con đường cái màu vàng này, trong lòng anh liền trỗi dậy biết bao nỗi thê lương. Sau khi ra khỏi mái nhà tranh, tiếng thình thịch trên khung cửi của mẹ cứ bám đuổi theo anh, trên lưng anh cứ từng cơn từng cơn đau đớn như thiêu đốt, rồi ánh mắt của bố lúc sắp sửa tắt thở cứ trừng trừng nhìn anh như hiện ra trước mắt. Để làm rạng rỡ tổ tông, anh phải ra đi trên con đường cái màu vàng này. Cảnh sắc mùa xuân muôn tía ngàn hồng khoe sắc bày ra trước mặt như một cuộn tranh vẽ trải dài, song Liễu Sinh nhìn không thấy. Trước mặt anh hình như chỉ có lá rụng cuối thu rơi lả tả, con đường cái màu vàng dưới chân cũng tỏ ra hư vô bé nhỏ.


Liễu Sinh không phải công tử con nhà giàu, khi còn sống bố anh chỉ là một nhà nho nghèo thi trượt. Tuy có hoa tay, vẽ được mấy cây hoa cảnh đẹp, nhưng vai không thể gánh, tay không thể xách, nuôi sao nổi cả nhà? Một nhà ba miệng ăn hoàn toàn trông mong vào chiếc khung cửi của mẹ làm việc quần quật suốt ngày đêm, nhờ thế Liễu Sinh mới coi như sống đến bây giờ. Nhưng sau khi lưng mẹ còng xuống đã không bao giờ còn đứng thẳng lên được. Ngay từ lúc còn bé, được bố dạy bảo, Liễu Sinh đã thông thạo văn thơ. Lâu dần anh đã kế thừa bẩm tính của bố, thích đọc sách cấm, cũng có hoa tay, vẽ được mấy bức tranh phong cảnh, song gượng gạo, sáo mòn. Do đó, khi Liễu Sinh bước lên đường tới kinh đô dự thi, thì cảnh khốn quẫn nhiều lần thi trượt của bố lúc đang sống, cứ bám chặt lấy anh.


Khi liễu sinh bước ra khỏi mái tranh nghèo, chỉ có mỗi cái túi màu xám xịt khoác trên vai, bên trong không hề có một xu, chỉ có bộ quần áo để thay giặt và giấy mực bút viết. Dọc đường anh gối đất nằm sương, bạ đâu ăn đó, chỉ biết dựa vào bán những tranh chữ, kiếm vài ba đồng nuôi thân. Anh từng gặp hai thiếu niên cũng lên kinh đô thi cử, đều là con nhà giàu quần lụa áo gấm xênh xang, đều có một con ngựa cao to lộc ngộc hung hăng, còn có cả thằng hầu thông minh nhanh nhẩu. Chỉ nhìn quần áo của thằng hầu cắp tráp, anh cũng thấy mình vô cùng tủi hổ. Anh không có thằng hầu cắp tráp, chỉ có cái bóng của mình trên đường cái màu vàng lủi thủi bám theo. Cái túi trên vai khe khẽ đung đưa theo nhịp bước, anh đã nghe thấy tiếng cô đơn nghiên bút chạm vào nhau. Đi được nửa ngày đường, Liễu Sinh vô tình gặp một ngã ba. Lúc này anh vừa đói vừa khát, may mà cạnh đó có con sông. Hai bên bờ sông cỏ thơm xanh xanh, liễu rủ thướt tha. Liễu Sinh đi ra bờ sông, nước sông cũng màu vàng rực bởi ánh nắng chiếu vào, chỉ có màu xanh biếc ở những chỗ liễu rủ che khuất. Anh ngồi xổm, thò hai tay xuống nước, bỗng thấy sảng khoái vô cùng. Thế là vốc nước lên tay, cẩn thận rửa bụi trên mặt, sau đó mới uống ừng ực mấy ngụm ngon lành. Uống xong ngồi lên thảm cỏ. Cỏ thơm lay động, xiên vào ống quần, có cảm giác thân thiết ngưa ngứa buồn buồn. Một con cá màu trắng lượn đi lượn lại một mình trong nước. Cơ thể nó vặn vọ hết sức uyển chuyển mau lẹ. Nhìn con cá lượn, không biết bởi cá cô đơn, hay vì cá xinh đẹp, mà Liễu Sinh chợt thấy buồn buồn.


Lâu lắm Liễu Sinh mới đứng lên, trở lại con đường cái màu vàng, đi ra khỏi bóng râm của liễu, Liễu Sinh hơi choáng đầu hoa mắt. Lúc này anh nhìn thấy phía xa xa có một ngôi nhà và bóng cây thấp thoáng, còn có cả bức tường thành lờ mờ. Liễu Sinh rảo bước đến đó.


Đi đến gần, anh nghe thấy tiếng người ồn ào, ở chỗ cổng thành có vô số người vai gánh tay xách. Bước vào thành chợt nhìn thấy, cứ năm bước một nhà gác, mười bước một khuê phòng. Nhà cửa san sát, người đi tấp nập. Liễu Sinh bước vào phố chợ, đàn ông đàn bà đi lại nhộn nhịp, hai bên đường phố nhan nhản quán rượu quán trà. Mấy quán ăn treo thịt dê mỡ màng lủng lẳng, trên quầy từng dãy bát đĩa xếp ngay ngắn, trong đĩa đựng nào là móng giò, nào là vịt ướp rượu, nào là cá tươi. Còn trên quầy ở quán trà thì bày rất nhiều đĩa đựng toàn là bánh nướng, bánh quít, bánh chưng, sắn lát.


Liễu Sinh cứ lần lượt đi qua, chẳng mấy chốc đã đến trước một ngôi chùa. Chùa này gần đây mới tu sửa, xanh vàng rực rỡ. Đứng trên bậc đá dưới cổng, Liễu Sinh ngó vào bên trong. Một cây bách xanh trăm tuổi đứng hiên ngang, nền lát gạch không một hạt bụi, cột và xà nhà bóng loáng, chỉ không thấy sư sãi. Ngôi chùa cao rộng bề thế trống không. Liễu Sinh nghĩ bụng đêm nay sẽ ngủ ở đây. Nghĩ thế, anh đặt túi khoác ở vai xuống, dở ra lấy giấy bút mực ngồi trên thềm đá, viết mấy câu từ Tống hay hay như kiểu: “Bờ dương liễu gió nổi trăng tàn”, lại vẽ mấy bức tranh cây cảnh thân bò, bày bán cho người qua lại. Bỗng chốc trước chùa người chen như nêm, dường như ai ai cũng có tiền, ai ai cũng thích phong nhã. Mới có nửa buổi, Liễu Sinh đã kiếm được vài xâu tiền. Thấy người tan dần, liền thu tiền cất đi cẩn thận, rồi lại nhặt túi thong thả quay về.


Những người phục vụ trong quán rượu quán trà hai bên đường tươi cười hớn hở, cũng không chê cười Liễu Sinh áo vải quần thâm, sốt sắng mời chào. Liễu Sinh liền rẽ vào một quán trà gần đó ngồi, gọi một bát nước trà, uống xong thấy bụng cồn cào khó chịu, đang đắn đo suy nghĩ, thì vừa may có một người nhà quê bưng bán nhiều bánh trái. Liễu Sinh liền mua mấy cái, lại gọi một bát nước trà, thư thả vừa ăn vừa uống.


Có hai người cưỡi ngựa đi qua cạnh quán trà, một người mặc áo chùng đũi màu xanh ngọc có thêu nhiều bướm nhiều dơi, một người mặc áo chùng đũi xanh ngọc hai lá có thêu vô số chim bay. Sau khi hai người đi qua, lại có ba phụ nữ đi đến. Một người khoác áo choàng Thủy điền, một người mặc quần áo Bát đoàn thêu màu ngọc, một người mặc áo thêu vàng hai màu đũi thiên thanh. Ngọc trai trên đầu óng a óng ánh, vòng đeo trên váy kêu leng keng. Trước mỗi bà đều có một con hầu, tay cầm quạt thơm lụa đen, che ánh nắng cho họ.


Liễu Sinh ăn hết bánh đa, đứng lên bước khỏi quán trà, đi dạo trong phố chợ. Xa nhà đã mấy hôm, anh không nói chuyện tử tế với ai. Bây giờ cơn đói trong bụng đã hết, song nỗi cô đơn lại trỗi dậy trong lòng. Nhìn dòng người nhộn nhịp trên phố, song chẳng ai thân quen. Tiếng khung cửi của mẹ lại đuổi theo sau lưng.


            Trong lúc dạo bước, bất giác đi đến một nơi to rộng, chăm chú nhìn lại mới biết mình đang đứng trước cổng chính của một gia đình lớn. Tòa nhà sâu hun hút trước mặt cao to bề thế, hai con sư tử đá ở trước cửa nhe nanh giơ vuốt. Cánh cổng lớn màu đỏ tươi đóng im ỉm, hết sức uy ghiêm. Nhìn vào bên trong, cây cối um tùm, hiên bay trùng điệp, chim đậu chim bay. Liễu Sinh cứ ngẩn người ngắm nghía mãi rồi mới đi. Anh dạo bước trên lối đi dài ven theo bờ tường vôi. Lối đi này cũng lát gạch xanh loại tốt, không bám một hạt bụi. Cành cây ở trong tường vươn cả ra ngoài. Đi một đoạn ngắn, nhìn thấy cổng bên. Cổng bên tuy kém hơn cổng chính, song cũng toát lên sự uy nghiêm và cánh cổng màu đỏ tươi cũng đóng im ỉm. Liễu Sinh loáng thoáng nghe thấy tiếng vui đùa ở bên trong. Anh dừng lại chốc lát rồi đi tiếp. Đi hết chỗ tường vôi, anh trông thấy một cổng nhỏ ở góc tường. Cổng nhỏ không đóng, một người có dáng dấp người trong nhà hấp tấp đi ra. Liễu Sinh đi đến trước cổng ngó vào, có một vườn hoa nhỏ nhắn xinh xinh. Anh thầm nghĩ đây là vườn hoa sau nhà mà trước kia chỉ nghe nói chứ chưa bao giờ nhìn thấy. Lưỡng lự một lát, Liễu Sinh liền đi vào. Ở trong sơn, thủy, cây, hoa thứ gì cũng có. Những núi đá, tường đá tuy người đắp, song giống y hệt. Ao ở giữa bị lá sen che kín không nhìn thấy nước, một cây cầu đá cong chín khúc áp sát trên lá sen, một các đình nho nhỏ đứng ở cạnh ao, có hai cây phong cực lớn ở hai bên, lá phong rủ xuống nóc đình. Trong đình có thể chứa ba bốn người, trước tường chắn xây bằng đá đặt hai cái đôn bằng sứ, sau bức tường chắn có hàng mấy chục cây trúc xanh, đằng sau trúc xanh có lan can màu đỏ đứt nối từng đoạn, đằng sau lan can làhàng loạt cây hoa. Hoa đào, hoa mận, hoa lê đang nở rộ, hoa hải đường, hoa cúc, hoa lan đang là nụ. Đào mận tươi xanh tranh nhau đua sắc, hoa lê ở giữa lặng lẽ ngắm nhìn.


            Liễu Sinh vô tình bước đến trước lầu thêu. Lối đi dưới chân đột nhiên kịch đường. Liễu Sinh ngẩng lên nhìn, cửa sổ chấn song lầu thêu mở ra bốn phía, gió từ bên kia lầu thổi hắt sang, Liễu Sinh ngửi thấy mùi thơm sực nức. Lúc này màn đêm từ từ buông xuống, tiếng ngâm nga thư thả bay qua cửa sổ lầu thêu vọng tới. Âm thanh như tiếng đàn xa xa cứ tí tách như từng viên từng viên ngọc trai rơi xuống đĩa, cứ róc ra róc rách như dòng suối êm trôi tít tắp. Cùng với gió vù vù thổi đến, màn đêm từ từ trải rộng. Liễu Sinh chỉ thấy bâng khuâng, say đắm trong âm thanh, cũng không để tâm phân biệt tiếng ngân nga. Màn đêm mỗi lúc một dày, bóng tối trùm kín không gian nhưng Liễu Sinh phớt lờ tất cả, anh cứ ngẩng mặt nhìn như dán mắt vào cửa sổ lầu thêu. Trong tầm nhìn xa xa hình như đã hiện ra một dòng sông như dải ngọc, hai cảnh đẹp xuất hiện ở hai bên cặp mắt, một cảnh là cô gái duyên dáng đi bên dòng sông, một cảnh là liễu rủ thướt tha đung đưa trong gió đêm. Hai cảnh hòa quyện với nhau, khiến Liễu Sinh hoa mắt bối rối.


            Tiếng hát mê hồn bắt đầu đến gần Liễu Sinh. Chỉ trong giây lát, một người đàn bà như hoa như ngọc hiện ra trong khung cửa sổ. Cô gái hồn nhiên tự tin, cái miệng chúm chím nụ hoa anh đào, tươi cười hớn hở, tiếng hát ngân nga bay ra từ đó. Cặp mắt long lanh, trìu mến nhìn ra vườn hoa dốc bầu tâm sự. Sau đó, trông thấy Liễu Sinh, bất giác giật mình kêu lên một tiếng “a”! Cô gái mặt bỗng đỏ ửng, quay ngoắt người chạy đi. Cái nhìn âu yếm của cô gái vừa vặn chạm vào Liễu Sinh. Duyên nợ ba sinh chưa ai hay biết, song hôm nay Liễu Sinh được nhìn thấy cô gái giấu mình trong lầu thêu kín đáo, có lẽ nào anh không chìm đắm như rơi trong cõi mộng. Tiếng “a” ngạc nhiên vừa rồi, chẳng khác gì dây đàn bị đứt, lời hát ngân nga bỗng tắt ngấm.


            Tiếp theo là im ắng. Hầu như mọi thứ chung quanh đều tan biến. Lâu lắm, Liễu Sinh mới hoàn hồn. Nhớ lại khung cảnh vừa rồi, đúng là có phần hư vô, như có như không, song hết sức chân thật. Anh lại nhìn lên cửa sổ, cửa sổ trống không, nhưng gió vẫn thổi xuống, mùi thơm vẫn sực nức. Liễu Sinh cảm thấy có hơi ấm, hơi ấm có lẽ đến từ thân hình cô gái vừa rồi, khiến anh có cảm giác cô gái vẫn ở trong lầu thêu. Vậy là hình như anh đã nhìn thấy tận mắt gió thổi vào người cô, thổi tan mùi thơm sực nức và hơi ấm trên người cô, thổi xuống dưới gác. Liễu Sinh giơ tay phải, khẽ khẽ vuốt ve hơi ấm trong gió. Lúc này, một cô gái có dáng dấp con hầu hiện ra trước cửa sổ. Cô nói với Liễu Sinh:


            - Mau mau rời khỏi đây!


            Tuy trợn mắt chau mày, song thần sắc cô không có vẻ gì là dữ tợn. Liễu Sinh cảm thấy cô chỉ giả vờ tức giận. Đương nhiên anh không bỏ đi, vẫn nhìn thẳng lên cửa sổ. Cô hầu có vẻ lúng túng khó xử, ánh mắt như thế của một người đàn ông quả thật khiến cô bối rối khó chịu. Cô liền rời khỏi cửa sổ. Cửa sổ lại trống không, lúc này trời càng tối, lầu thêu bắt đầu mờ ảo. Liễu Sinh loáng thoáng nghe thấy trên gác có tiếng nói chuyện, hình như có một bà đi vào, tiếng bà nói lanh lảnh, sau đó là tiếng gay gắt của cô hầu, cuối cùng mới là cô chủ. Tiếng cô chủ nhỏ nhẹ như nước nhỏ giọt, song Liễu Sinh vẫn nghe thấy. Bỗng dưng anh mỉm cười, nụ cười gợn lên như sóng nước, bản thân anh không hề nhận biết. Cô hầu lại một lần nữa ra cửa sổ, thúc giục:


            - Sao không đi đi hả?


            Lúc này màn đêm đã làm mờ nhòa khuôn mặt cô hầu, chỉ còn thấy hai con mắt đen lay láy sáng loáng đang nổi cơn tam bành. Hình như  Liễu Sinh không nghe thấy, anh cứ đứng trơ trơ như khúc gỗ. Làm sao có thể bỏ đi được?


            Lầu thêu cứ tối dần, lúc này từ cửa sổ đang mở hắt ra tia sáng của ngọn bạch lạp. Ánh sáng tuy hắt ra ngoài cửa sổ, song không rọi xuống đất, chỉ chiếu ngang qua trên đầu Liễu Sinh một gang tay. Nhưng ánh sáng nến lại chiếu bóng cô chủ trong lầu lên cột xà vừa vặn để Liễu Sinh nhìn thấy. Dáng cô chủ cúi đầu im lặng, tuy không được rõ nét, song vô cùng sinh động.


            Có vài giọt nước mưa rơi vào mặt Liễu Sinh đang ngẩng lên. Nước mưa rơi đột nhiên, Liễu Sinh hoàn toàn không nhận ra. Một lát sau nước mưa cứ xối xả hắt vào người, anh mới bắt đầu nhận ra, song vẫn không đi.


            Cô hầu lại xuất hiện ở cửa sổ. Cô nhìn Liễu Sinh một lát, không nói gì, đóng cánh cửa sổ vào. Bóng cô chủ mất hẳn. Ánh sáng nến cũng bị thu lại, bởi cánh cửa che khuất.


            Nước mưa rơi xiên, song không hắt hẳn vào người Liễu Sinh, chỉ rơi trên chiếc mũ nhỏ đội trên đầu và làm ướt nửa mái tóc của anh. Nước mưa hắt lên người Liễu Sinh rơi xuống theo đường cong. Lúc sau, anh dần dần nghe thấy tiếng tí tách trên người mình. Nhưng anh vẫn ngẩng mặt nhìn ánh sáng nến trên lầu, không có thì lại để ý đến tiếng mưa. Trên giấy dán cửa sổ, ánh nến cứ run rẩy nhảy nhót, tuy không trông thấy bóng cô chủ, song dường như cô chủ càng sống động.


            Không biết thế nào cánh cửa sổ lại mở ra. Lúc này ở ngoài trời mưa càng nặng hạt. Cô hầu hiện ra trước, sau đó cả cô chủ và đầy tớ ra cửa sổ nhìn Liễu Sinh. Liễu Sinh còn đang mừng quýnh thì hai người trên gác bỏ đi, song không đóng cửa vào. Liễu Sinh nhìn thấy bóng hai người lồng vào nhau trên xà cột trong nhà, rồi tách ra ngay. Chỉ một thoáng, hai người lại đến trước cửa sổ, sau đó một sợi dây thừng từ từ thả xuống, đung đưa trong mưa gió. Liễu Sinh không chú ý gì cả, cứ si mê ngây ngất nhìn cô chủ. Vậy là cô hầu không chịu nín lặng, cất tiếng giục:


- Sao không trèo lên đi!


Liễu Sinh vẫn chưa hiểu ra, thấy vậy cô chủ cũng mở miệng thỏ thẻ:


            - Mời công tử lên tránh mưa gió.


Tiếng cô chủ tuy hết sức nhỏ nhẹ, song đã làm tiếng mưa gió ào ào bỗng chốc bị át đi. Liễu Sinh bắt đầu chợt hiểu, nhấc chân đến chỗ dây thừng, nào ngờ chân tay tê cứng, cứ đứng tại chỗ, không sao động đậy được. May mà sau đó ít phút chúng đã trở lại bình thường nên anh có thể bám chặt dây từ từ leo lên. Lên đến cửa sổ, thấy cô chủ đã lui vào, nhờ cô hầu giúp sức, anh đã lật người nhảy vào trong nhà.


            Trong lúc cô hầu thu dây đóng cửa sổ, Liễu Sinh ngắm nghía kỹ cô chủ. Cô chủ đang đứng uy nghi cách anh năm thước, thân thể ngọc ngà, váy áo quý phái, môi son mím chặt. Liễu Sinh ngửi thấy mùi thơm phấn son. Cô chủ ngượng ngùng quay người về phía anh. Lúc này, cô hầu đi đến đứng ở cạnh cô chủ. Liễu Sinh vội vàng chào cô chủ:


            - Tiểu sinh họ Liễu tên Sinh.


            Cô chủ cũng đáp lại:


            - Tiểu nữ tên Huệ.


            Liễu Sinh lại chào cô hầu, cô hầu cũng thưa lại.


            Chào hỏi xong, Liễu Sinh thấy cả cô chủ lẫn cô hầu cùng che miệng cười. Anh không biết vóc dáng mình nhếch nhác cũng cười theo. Cô hầu nói:


            - Anh nghỉ ở đây chốc lát, sau khi tạnh mưa, mau mau đi khỏi đây.


            Liễu Sinh không đáp lời, hai mắt nhìn cô chủ. Cô chủ cũng nói:


            - Mời công tử mau mau đi thay áo đi nghỉ, kẻo bị cảm lạnh.


            Nói xong, hai người đi ra ngoài. Ống tay áo thon nhỏ của cô chủ vung vẩy, cổ tay ngọc ngà buông thõng đi ra. Dáng cô bước đi khiến Liễu Sinh chợt nhớ đến vẻ đẹp của con cá lượn trong nước đã nhìn lúc ban ngày. Cô hầu vén rèm cửa đi ra trước. Cô chủ đi đến trước cửa hơi lưỡng lự một lát, khi vén rèm cửa đi ra vô tình quay nhìn lại một cái. Cô chủ nhìn lại có thể nói hết sức ý vị, Liễu Sinh không khỏi mê mẩn thần hồn.


            Khá lâu, Liễu Sinh mới biết cô chủ đã đi khỏi, bỗng nhiên trong lòng trống trải không biết thế nào mới phải. Nhìn bốn chung quanh, lầu thêu này đúng như một thư phòng, từng chồng sách xếp ngay ngắn trên giá, một chiếc đàn có nệm ngọc đặt trên cái bàn thấp. Sau đó, Liễu Sinh mới nhìn thấy khung thêu chạm bằng gỗ gụ, khung thêu bị một tấm màn hoa mai che lấp già một nửa. Tự dưng Liễu Sinh thấy lòng xốn xang, toàn thân rạo rực. Anh đi đến trước màn hoa mai, ngửi thấy mùi thơm gỗ bách, cái chăn màu xanh cánh trả y như người đang nằm ngửa, vân hoa lấp loáng, lúc sáng lúc tối trong ánh nến. Cô chủ đã đi, nhưng hơi thở vẫn còn. Trong mùi thơm của bách, Liễu Sinh còn ngửi thấy một thứ hơi thoang thoảng, lúc ẩn lúc hiện, như thật như giả.


            Liễu Sinh đứng trước giường một lát rồi buông màn hoa mai, trong tay anh vải màn trơn mịn như làn da cô chủ. Cái màn hoa nhẹ nhàng rơi xuống tận đất rồi cong lên. Liễu Sinh lui lại, ngồi lên chiếc đôn sứ, dưới ngọn nến trước bàn, ngắm chiếc giường đã buông màn hoa mai, cái chăn màu xanh cánh trả ở bên trong chỉ lờ mờ, trông như cô chủ đang nằm ngủ. Lúc này, Liễu Sinh đã nghiễm nhiên trở thành anh chồng của cô chủ. Cô chủ đang ngủ ngon lành, còn anh thì chong đèn đọc sách.


            Liễu Sinh nhìn thấy trên bàn một quyển từ đang mở, liền đọc tiếp từ trang cô chủ vừa đọc. Từng chữ cứ nhảy nhót như tiếng mưa tí tách ngoài cửa sổ. Liễu Sinh ngây ngất trong cảnh tượng hư ảo, lắng nghe tiếng mưa nhỏ giọt ngoài hiên, từ từ nhắm mắt lại trong cảnh đẹp tốt lành lúc đó.


            Trong mông lung mờ ảo, Liễu Sinh nghe có tiếng ai gọi, giọng nhỏ nhẹ bay bay, từ xa đến gần. Anh mở choàng mắt, đã thấy cô chủ đứng bên cạnh. Lúc này mái tóc đen óng mượt của cô chủ hơi rối, son phấn trên mặt đã phai đi nhiều, tuy vậy dáng dấp càng sống động mê hồn hơn lúc nãy. Lúc đầu Liễu Sinh cứ ngỡ cảnh trong mơ, khi nghe thấy tiếng cô chủ nói, anh mới biết là cảnh thật. Cô chủ bảo:


            - Mưa đã tạnh, công tử có thể lên đường.


            Quả nhiên không còn tiếng mưa ở ngoài cửa sổ, chỉ có tiếng gió thổi lá cây xào xạc. Trông thấy dáng hoảng hốt của Liễu Sinh, cô chủ lại bảo:


            - Đó là tiếng lá cây.


            Cô chủ đứng ở chỗ tối, ánh nến bị Liễu Sinh che. Trông cô chủ hấp dẫn vô cùng. Liễu Sinh đăm đắm nhìn một lát, bỗng thở dài, đứng dậy, nói:  


            - Chia tay hôm nay, chẳng biết bao giờ gặp lại.


            Nói xong bước đến cửa sổ. Nhưng cô chủ cứ đứng im. Liễu Sinh quay người lại, thấy mắt cô chủ rơm rớm lệ, dáng vẻ hết sức buồn. Liễu Sinh vô tình bước đến, nắm chặt cổ tay ngọc ngà cô chủ đang buông thõng để lên ngực. Cô chủ cúi đầu im lặng, để mặc Liễu Sinh âu yếm vuốt ve. Mãi sau, cô chủ mới hỏi:


            - Công tử từ đâu đến? Sẽ đi về đâu?


            Liễu Sinh kể hết sự tình, lại nắm chặt tay kia của cô chủ. Lúc này cô chủ mới ngẩng lên ngắm nghía Liễu Sinh. Hai người cầm tay nhìn nhau, thổ lộ tấm lòng sâu kín.


            Lúc này ngọn nến vụt tắt, Liễu Sinh tiện tay ôm cô chủ ngọc ngà mềm nhũn, thơm ngát, ấm hôi hổi vào lòng. Cô chủ khẽ thốt lên một tiếng “a”, rồi cứ im lặng, song lại run rẩy trong lòng Liễu Sinh. Bấy giờ Liễu Sinh cũng đang mê mẩn hồn vía. Phảng phất như vạn vật đều biến mất, chỉ có hai người hòa quyện vào nhau. Liễu Sinh mặc sức vuốt ve cô chủ, nghe rõ tiếng thở hồi hộp ngắt quãng, cũng chẳng biết tiếng nào của mình, tiếng nào của cô chủ. Một người đàn bà khao khát đàn ông, một người đàn ông khao khát đàn bà, lúc này đang ôm ghì xoắn xuýt làm một, làm sao có thể phân biệt nổi ta mình.


            Bên ngoài vọng vào tiếng trống sang canh mới làm cho cô chủ chợt tỉnh. Cô gỡ tay ôm của Liễu Sinh, im lặng một lát, rồi giục:


            - Đã sang canh tư, xin công tử mau mau rời khỏi đây.


            Liễu Sinh ngồi im trong bóng tối, lâu lắm mới trả lời một tiếng sau đó sờ tìm cái túi của mình, rồi lại đứng rất lâu.


            Cô chủ lại giục:


            - Công tử đi đi!


            Tiếng cô chủ vô cùng buồn bã, Liễu Sinh nghe thấy cả tiếng khóc sụt sịt, bỗng dưng anh cũng rơi lệ. Anh lại sờ tìm cô chủ, hai người ôm chặt lấy nhau hồi lâu. Sau đó Liễu Sinh đi đến cửa sổ. Lúc đến trước cửa sổ, anh nghe thấy tiếng cô chủ nhắc:


            - Công tử dừng lại đã.


            Liễu Sinh quay người lại, thấy cái bóng lờ mờ của cô chủ di động trong buồng, sau đó lại nghe tiếng kéo cắt sần sật. Lát sau, cô chủ đi đến chỗ anh, đặt vào tay anh một gói đồ, Liễu Sinh cảm thấy vật trong tay nằng nặng, cũng không dở ra xem vật gì, cứ thế bỏ vào túi vải. Sau đó anh leo ra ngoài cửa sổ, bám dây thừng tụt xuống.


            Khi xuống đến đất, anh ngẩng lên nhìn, thì chỉ còn thấy cái bóng của cô chủ đứng trước cửa sổ. Cô chủ nói:


            - Công tử nhớ kỹ, dù đỗ dù không, cũng nhanh nhanh mà về.


            Nói xong, cô chủ đóng cửa sổ, Liễu Sinh ngẩng mặt nhìn một lát rồi đi. Cửa sau vẫn mở, Liễu Sinh ra khỏi nhà. Vài giọt mưa còn rớt lại hắt lên mặt anh, lạnh ngăn ngắt. Sau đó nghe thấy tiếng ngựa hí, trong màn đêm tĩnh mịch, tiếng ngựa hí rõ mồn một. Liễu Sinh đi trên đường phố vắng ngắt, không thấy bóng dáng của một ai, chỉ thấy xa xa có người gác đêm đánh trống canh xách đèn lồng đi lại. Chẳng bao lâu Liễu Sinh đã bước lên đường cái lớn màu vàng. Lâu lắm, mới tờ mờ sáng. Liễu Sinh không dừng bước, nhìn cây cối và nhà tranh gần xa bắt đầu rõ dần, yên tâm bước trên đường cái. Khi mặt trời mọc, anh đã đi xa lầu thêu của cô chủ. Bây giờ anh mới giở túi ra, lấy gói quà cô chủ tặng. Mở gói, anh nhìn thấy một dúm tóc đen nhánh và hai thỏi bạc mịn màng, chúng được gói trong một chiếc khăn mùi soa thêu đôi chim uyên ương. Trong tim anh bỗng trỗi lên tình cảm dạt dào khoan khoái. Vậy là anh gói lại cho vào túi xách, tiếng cô chủ dặn dò lúc chia tay cứ văng vẳng bên tai:


            - Đi nhanh nhanh mà về.


            Liễu Sinh rảo bước đi lên phía trước.


 


            Mấy tháng sau, Liễu Sinh thi trượt trở về, anh ngần ngừ bước trên con đường cái màu vàng. Tuy lúc nào cũng muốn gặp lại cô chủ, song không thể tránh khỏi nỗi nhục thi trượt. Anh cứ đi lại dừng, lúc nhanh lúc chậm. Khi lên kinh đô không khí mùa xuân nhộn nhịp tưng bừng, bây giờ trở về sắc thu se lạnh. Ngước mắt nhìn xa, trời xanh nhàn nhạt, mây nhởn nhơ bay, mênh mông bát ngát, thành phố dần dần hiện ra trước mặt, Liễu Sinh càng thêm bối rối, ngổn ngang trăm mối tơ vò. Bên đường có một dòng sông, anh liền bước ra mép nước, bóng anh trong nước không phải áo gấm quần thêu, mà là áo vải quần thâm lụt cụt. Nghĩ bụng lúc lên kinh đô ăn mặc thế này, khi trở về vẫn giữ nguyên như thế. Thời vụ có thể thay đổi, song anh không thể áo gấm về làng, còn mặt mũi nào gặp lại cô chủ.


            Liễu Sinh vừa đi vừa đắn đo suy nghĩ, vô tình đã đến cổng thành. Tiếng ồn ào huyên náo ùa ra cổng thành, cảnh tượng phồn vinh trong thành hiện ra rõ mồn một. Liễu Sinh đi đến phố chợ đông đúc, bỗng đứng sững lại. Tuy đi xa vài tháng, song bộ mặt phố chợ vẫn y nguyên, hoàn toàn không chịu ảnh hưởng thay đổi của mùa vụ. Đứng ở giữa phố, Liễu Sinh nhớ lại một lần nữa khung cảnh gặp cô chủ ở lầu thêu mấy tháng trước, dường như là chuyện chơi bời ít ai biết đến trong hư ảo. Nhưng lời tiễn biệt của cô chủ thì hoàn toàn có thật. Giọng cô chủ thủ thỉ bên tai:


            - Cho dù đậu dù trượt, vẫn mong công tử đi nhanh nhanh mà về.


Lúc này lòng anh chộn rộn, không đắn đo lưỡng lự nữa, anh rảo bước đi lên. Cảnh tượng cô chủ đứng trước cửa sổ ngóng trông ra xa, cứ hiện lên sống động trong từng bước đi gấp gáp. Bởi vì ánh mắt chờ đợi quá lâu mà trở nên hờn giận, trong tưởng tượng của Liễu Sinh đang chứa chan nước mắt. Cảnh tượng gặp lại là ủ ê, chán chường, im lặng, và cũng có thể là tươi cười hớn hở. Chắc chắn một lần nữa anh lại được bám thừng leo lên lầu thêu ấy.


Nhưng Liễu Sinh đi đến trước tòa nhà to rộng sâu hun hút sang trọng, thì một cảnh tượng đổ nát tan hoang bày ra trước mắt. Lầu thêu của cô chủ không còn, làm sao cô chủ còn có thể đứng ở trước cửa sổ? Đứng trước cảnh hoang vắng, Liễu Sinh bỗng choáng váng. Tất cả những gì ở trước mặt diễn ra quá bất ngờ, không thể nào lường trước. Nhớ lại cảnh vinh hoa phú quý nhìn tận mắt ở đây lần đầu vài tháng trước, nay chỉ còn là một đống đổ nát, gỗ mục đá vỡ, cỏ mọc xanh um, cảnh tượng hoang tàn, con sư tử đá hung dữ ngày nào cũng không biết biến đi đâu, Liễu Sinh cứ ngỡ mình đang ngủ mê.


Liễu Sinh đứng tần ngần hồi lâu ở cổng chính ngày nào, rồi mới đi men theo đống đổ nát. Đi được một đoạn anh dừng lại, thầm nghĩ đây là chỗ cửa bên, chỗ cửa bên đương nhiên cũng hoang vắng. Anh lại tiếp tục đi, đến chỗ vườn hoa đằng sau ngày trước, một nửa bức tường đổ đứng một mình trơ trọi, một nửa cánh cổng xiêu vẹo, cái cổng sau vẫn còn loáng thoáng nhận ra được. Liễu Sinh bước lên đống đổ nát gập gềnh đi vào trong, nhìn thật kỹ chỗ nào là cầu đá chín khúc, đâu là ao sen hoa che kín mặt nước, đâu là đình hóng mát có lan can đỏ, đâu là bãi trúc xanh, đâu là đào mận đua sắc. Mọi vật ngày trước đã tan biến, chỉ còn hai cây phong to, nhưng thân cây cũng bị băm chém lỗ chỗ. Lá phong ngày nào còn vàng ruộm, bước sang mùa thu, lại bị nhiễm sương muối, bây giờ đã đỏ ối như máu chói mắt vô cùng. Mấy chiếc lá rụng rơi lả tả, lúc đang sum sê chỉ riêng cây phong này cũng tạo nên cảnh mê hồn.


Cuối cùng, Liễu Sinh đã đến trước lầu thêu ngày nào, chỉ thấy mấy đống ngói vỡ, vài cây gỗ mục, có những cỏ tạp và hoa dại ở giữa. Cây đào cây hạnh tươi tốt ngày nào bây giờ ở đâu? Chỉ có mấy bông hoa dại màu trắng mọc cẩu thả trong khe ngói vụn. Liễu Sinh ngẩng lên nhìn, không gian trống rỗng, nhưng khung cảnh leo thừng lên lầu thêu ngày trước lại thấp thoáng hiện ra giữa khoảng trời trống trải. Rõ ràng là ôn lại, song cũng rõ mồn một, phảng phất như đang trong cuộc. Song Liễu Sinh ôn lại chẳng kéo dài được đến cùng, mà đến câu anh nói: “Chia tay hôm nay chẳng biết bao giờ gặp lại”, bỗng dưng chấm dứt. Lầu thêu biến mất trong nháy mắt, trở lại khoảng không gian trống vắng. Liễu Sinh hiểu ra, nghiền ngẫm câu nói đó, không ngờ lời mình nói đã linh nghiệm. Lúc này trời sắp tối, Liễu Sinh còn đứng thêm một lát, mới quay người đi. Anh quay lại lối cũ, đi ra cửa sau như mấy tháng trước. Sau đó đi sang một bên đống đổ nát, ôn lại lần cuối cùng cảnh phồn vinh một thời.


Khi Liễu Sinh đến phố chợ đã là lúc lên đèn. Đèn lồng treo kín các quán rượu quán trà hai bên đường phố, sáng như ban ngày. Dòng người vẫn nhộn nhịp đi lại trên phố, không ai xách đèn lồng. Liễu Sinh hỏi thăm những người bán rượu, bán trà, bán mì phở, hủ tiếu xem cô chủ đi đâu, nhưng không ai biết. Trong lúc tần ngần ngơ ngác, thì một thằng nhỏ đi ở chỉ vào một người bảo Liễu Sinh:


- Chắc nguời đó biết.


Liễu Sinh nhìn theo, thấy một người ngồi bệt ở ngoài quầy rượu, đầu bù tóc rối, quần áo nhem nhuốc. Thằng nhỏ bảo Liễu Sinh, ông ấy là quản gia của tòa nhà cao sang đó. Liễu Sinh vội vàng bước đến. Người quản gia hai mắt vẫn mở, song đờ đẫn, thấy Liễu Sinh đi qua, liền giơ bàn tay dính đầy cáu bẩn ra xin. Liễu Sinh móc trong túi vải mấy xu đặt vào lòng bàn tay ông. Quản gia nhận tiền hớn hở đứng lên đập đồng xu lên quầy, mua một bát rượu, uống một hơi cạn. Sau đó lại ẻo lả ngồi chênh chếch tựa vào quầy. Liễu Sinh hỏi thăm ông cô chủ đi đâu. Nghe xong ông nhắm hai mắt:


- Ôi, vinh hoa phú quý ngày nào!


Ông cứ lặp đi lặp lại câu nói đó. Liễu Sinh hỏi thêm lần nữa, người quản gia mở mắt, lại xòe hai tay cáu bẩn. Liễu Sinh lại cho mấy xu, ông vẫn mua rượu uống như cũ, trả lời Liễu Sinh vẫn là câu: “Ôi, vinh hoa phú quý ngày nào”. Liễu Sinh thở dài. Anh biết có hỏi cũng không được gì, liền quay người đi. Anh đi vài chục bước trên phố, sau đó vô tình rẽ vào một ngõ vắng, trong ngõ có chỗ treo đèn lồng bán nước trà. Bây giờ anh mới thấy mình vừa đói vừa khát, liền bước vào ngồi trên một chiếc ghế dài, gọi bát nước trà, uống từ từ từng hớp. Trong nồi bên cạnh đang đun nước sôi. Trên bàn trà đang cắm mấy bông hoa tươi. Liễu Sinh nhận ra ba loại hoa cúc, hoa hải đường và hoa lan. Tự dưng anh nhớ tới cảnh bước vào vườn hoa sau nhà mấy tháng trước. Lúc ấy ba thứ hoa đào, hạnh, lê đua nở, còn hoa cúc, hải đường và lan đang ngậm nụ. Ai ngờ bây giờ chúng nở rộ ở đây.


 


Ba năm sau, Liễu Sinh lại lên kinh đô dự thi. Anh vẫn đi trên con đường cái màu vàng. Tuy vẫn là mùa xuân nắng ấm, nhưng cảnh vật chung quanh khác hẳn lần trước, đã không thấy đào mận khoe sắc, cũng không thấy dâu đay bạt ngàn. Ngước mắt trông lên, cây cối khô héo, đất vàng thẳng cánh cò bay, dậu tre xiêu vẹo, nhà tranh rùng rùng chực đổ trong gió chẳng khác gì phong cảnh hoang lạnh tháng chạp rét buốt. Dọc đường đi, Liễu Sinh gặp toàn những người ăn xin quần áo rách rưới.


Trong năm mất mùa đói kém, Liễu Sinh vẫn lên kinh ứng thí. Khi anh rời khỏi nhà tranh, tiếng nặng nề trên khung cửi của mẹ không còn đuổi theo sau nữa. Mẹ anh đã yên ngủ dưới chín suối. Những ngày sau khi mẹ chết, anh đã sống nhờ hai thỏi bạc trắng cô chủ tặng ba năm trước. Nếu lần này lại thi trượt, anh không bao giờ còn cơ hội làm rạng rỡ tổ tiên dòng họ. Khi bước lên con đường cái màu vàng, anh bỗng quay đầu nhìn lại, cỏ tranh trên mái nhà tốc bay lả tả trong gió. Vậy là số phận mái nhà tranh khi anh đi thi về, đã được dự báo từ giờ phút này, nó sẽ mất tăm mất tích như tiếng kêu thình thịch nặng nề trên khung cửi của mẹ.


Mấy ngày đi trên đường, Liễu Sinh đã không gặp những quan lớn kẻ sang cưỡi ngựa, cũng chẳng thấy công tử nhà giàu lên kinh thi cử. Con đường màu vàng dưới chân gập gà gập gềnh, lỗ chỗ ổ gà, mệt mỏi vươn dài trong năm đói. Anh từng nhìn thấy một người ngồi trên đất, gặm gốc cây vừa đào lên, mồm dính đầy bùn. Từ trên chiếc áo không còn che kín thân thể của người này, Liễu Sinh đã loáng thoáng nhận ra là thứ lụa thêu cực tốt. Kẻ giàu sang ai cũng rơi vào cảnh này, người nghèo khổ cũng không thể hình dung nổi, Liễu Sinh xúc động vô cùng.


Cây cối suốt dọc đường đều bị răng người cắn đầy vết, có những cây còn găm mấy cái răng, chắc là gặm mạnh quá để lại răng trên cây. Còn xác và xương người ngổn ngang hai bên đường, cứ đi độ một dặm lại nhìn thấy hai ba xác chết không còn nguyên vẹn. Những xác chết đều trần truồng, có cả già trẻ trai gái, quần áo rách rưới trên người đều bị lột mất.


Dọc đường đi, đâu đâu cũng là màu vàng, chỉ có một lần nhìn thấy một vạt cỏ non màu xanh nho nhỏ, nhưng có đến chục người đang chổng mông vội vã gặm cỏ sần sật sần sật, trông xa rất giống một bầy dê, đàn bò. Liễu Sinh không dám nhìn tiếp, vội vàng quay đầu đi. Nhưng sau khi quay đầu, lại nhìn thấy một cảnh khác, một người sắp chết đang nuốt một dúm bùn, bùn chưa nuốt trôi, người đã lăn kềnh ra chết. Liễu Sinh đi qua cạnh người chết, cảm giác hai chân nhẹ tênh tênh, thật không biết mình đang đi trên đường cái giữa trần gian hay lối mòn cõi âm phủ?


Hôm nay, Liễu Sinh đi đến chỗ ngã ba, dừng chân ngắm nghía, dần dần đã nhận ra nơi này. Nhìn lại một lượt, nơi đây đã thay đổi hoàn toàn. Cỏ thơm mượt mà và liễu rủ ba năm về trước, bây giờ không hề còn dấu vết. Cỏ đã bị nhổ cả gốc, cảnh tượng chục người chổng mông gặm cỏ nhìn thấy hôm qua, cũng đã từng xảy ra ở đây. Còn cây liễu thị trọc lốc, tuy sống mà như chết. Con sông vẫn còn đấy. Liễu Sinh bước ra bờ sông, thấy dòng nước cũng khô cạn dần, chỗ nào nước còn đọng lại thì đục ngầu ngầu. Liễu Sinh đứng ở bờ sông, mọi cảnh vật nhìn thấy ở đây ba năm trước dần dần hiện ra. Nơi đây từng có con cá màu trắng bơi đi bơi lại trong nước, thân cá uốn lượn đẹp vô cùng. Vậy là cảnh tượng nhìn thấy cô chủ từ lầu thêu đi ra nhà ngoài cũng hiện ra rõ mồn một. Tuy đã cách xa ba năm, nhưng quang cảnh ngày nào phảng phất như đang ở trước mặt nhưng lại biến mất trong nháy mắt, trước mặt chỉ là một dòng sông sắp khô cạn. Trong vũng nước đục ngầu, làm sao trông thấy dáng nét uốn lượn của con cá màu trắng? Mà cô chủ lúc này ở đâu? Còn sống hay đã chết? Liễu Sinh ngẩng mặt nhìn, mù mịt tận chân mây.


Khi Liễu Sinh lại bước chân trên con đường cái màu vàng, đã có thể nhìn thấy thành phố, càng đi càng gần, chuyện cũ cứ hiện dần trong trí nhớ. Bóng dáng cô chủ cứ lởn vởn như gần như xa, dường như bám theo từng bước. Còn tòa nhà cao to chiều sâu hun hút và cảnh đổ nát hoang tàn thì cứ đan xen xuất hiện, có lúc lại chồng lên nhau.


Chỉ mới đến bên thành, Liễu Sinh đã ngửi thấy không khí lụn bại trong thành, cổng thành vắng tanh vắng ngắt, hoàn toàn không thấy cảnh những người nhà quê quảy thúng, xách làn đi ra đi vào, cũng không thấy bóng dáng công tử nhà giàu nhởn nhơ rong chơi. Trong thành cũng không có tiếng người ồn ào, chỉ có những người gầy guộc mặt xanh da vàng đi lẻ tẻ một mình. Cho dù có nghe thấy một số tiếng nói, cũng thều thào hết hơi. Tuy vẫn năm bước một nhà gác, mười bước một khuê phòng, song tường nhà gác và khuê phòng đã bong sơn tróc bột vàng lỗ chỗ từ bao giở bao giờ, để lộ từng mảng nham nhở ở bên trong. Liễu Sinh đi trên phố chợ không còn thấy những quý cậu quý cô đi du lịch, mà chỉ có những nhà nho nghèo áo vải, nét mặt ủ ê như mất vía, quán rượu quán trà ngày xưa  san sát kín phố đầy đường, nay chỉ còn lèo tèo vài chỗ, phần lớn đều đã đóng cửa, người đi nhà trống. Bụi đất bám đầy khung cửa và chấn song cửa sổ. Mấy cửa hàng may mắn còn lại cũng không có thịt cừu thịt dê mỡ màng mà treo, cũng chẳng có bánh quất bánh chưng mà bán. Thằng hầu và người bán rượu nom ai cũng có khuôn mặt đờ đẫn, ngây ngô, không tươi tỉnh lên nổi. Trên quầy rượu vẫn là những đĩa bát để như xưa, nhưng không bày thành hàng, mà úp vào nhau. Trong bát đĩa trống không chẳng có thứ gì. Càng không thấy người nhà quê bê bánh đa bánh đúc đến bán.


Liễu Sinh vừa đi vừa nhớ lại cảnh sầm uất ngày trước, cứ tưởng đang trong cõi mộng. Sự đời như khói, chớp mắt một cái đã không còn. Bất giác bước đến trước ngôi chùa. Nhìn lại ngôi chùa vàng son rực rỡ ngày nào, bây giờ dáng dấp xiêu vẹo như kẻ mất hồn, bậc đá trước cửa chỗ còn chỗ mất, ngập ngụa như lối lên núi. Cây bách trăm năm trong chùa thì cành bẻ thân băm, cột nhà xà nhà tróc lở lốm đốm trông thấy rỗ mọt bên trong, nền chùa lát gạch cỏ mọc um tùm. Liễu Sinh đứng một lát, bỏ túi vải, lấy ra mấy tờ tranh chữ đã viết sẵn dán lên tường chùa. Tuy có vài người qua lại, song ai cũng ủ rũ mặt mày, còn hơi đâu đến học đòi phong nhã? Liễu Sinh đứng chờ lâu lâu, nhìn phong cảnh vắng tanh vắng ngắt, thầm nghĩ sẽ không có ai đến mua, bèn thu cuộn tranh chữ cho vào túi vải. Dọc đường đi lần này, không bán được tờ tranh chữ nào, thường phải chịu đói nhịn khát. Số bạc cô chủ tặng ngày nào chẳng còn bao nhiêu, Liễu Sinh đâu dám tiêu bừa. Liễu Sinh rời ngôi chùa, lại đi trên phố chợ, lại nhớ cảnh phồn hoa ngày trước, lại thấy cám cảnh vô hạn. Nỗi cám cảnh này bắt nguồn từ lầu thêu của cô chủ và tòa nhà to rộng có chiều sâu hun hút lồng lộng kia. Nhìn cảnh sa sút như vậy của thành phố, lại nghĩ đến cảnh đổ nát của lầu thêu, Liễu Sinh không chỉ một mực thương nhớ cô chủ, mà bắt đầu than thở cho sự biến đổi to lớn chỉ trong phút chốc của sự đời.


Cứ miên man suy nghĩ như vậy, Liễu Sinh đã đến trước một bãi đổ nát hoang tàn. Ba năm qua, chỗ này bây giờ chỉ là một bãi hoang vu, ngay đến một giếng vỡ tường đổ cũng không còn. Không sao nhận ra nổi lầu thêu của cô chủ, cả một bãi hoang chỉ còn lưa thưa vài khóm cỏ tạp, khó tìm được một cây gỗ mục, một viên ngói vỡ. Nếu không có hai cây phong dáng như bộ xương phơi ra đó, có lẽ Liễu Sinh khó lòng nhận ra nơi này. Phảng phất như nơi này đã bỏ hoang cả trăm năm nay, chưa từng bao giờ có tòa nhà bề thế sang trọng, chưa từng có cây xanh mượt mà và hoa tươi cỏ lạ, chưa từng có lầu thêu và vườn hoa sau nhà, cũng như chưa từng có cô chủ tên Huệ. Mã Liễu Sinh cũng như chưa từng đặt chân đến nơi này, cho dù ba năm trước đã từng đi qua.


Liễu Sinh đứng hồi lâu mới quay người đi. Khi rời khỏi nơi đây cảm thấy người hơi nhẹ nhõm, nỗi nhớ nhung da diết cô chủ cũng bất giác vơi đi khá nhiều. Khi đi đã rất xa, nỗi nhớ ấy dường như đã tan biến, dường như anh chưa bao giờ sống trong cảnh tượng mê hồn ấy.


Liễu Sinh không trở lại phố chợ mà rẽ vào một ngõ vắng. Đi giữa ngõ, hai bên nhà căng đầy mạng nhện, vắng tanh vắng ngắt không một bóng người. Lúc này Liễu Sinh không muốn đi vào phố chợ cùng nhiều người khác mà anh chỉ muốn đi một mình, cho nên ngõ vắng này rất hợp ý anh.


Đi hết ngõ vắng, Liễu Sinh đến một bãi trống, chỉ có mấy chục nấm mồ, chỉ lùm lùm cao hơn mặt đất tí chút, có lẽ bao năm nay không ai ngó tới. Lại trông thấy gần đó một túp lều tranh, trong lều có hai người mang dáng dấp thợ lò mổ, ở ngoài lều cũng có vài người. Liễu Sinh còn chưa biết chỗ này là chợ bán thịt người, liền ghé vào. Bởi mất mùa không có thóc gạo hoa màu, vỏ cây rễ cỏ hết dần, liền lấy thịt người làm đồ ăn, cho nên đã mọc ra một vài chợ mua bán thịt người.


Hai người trong lều đang mài lưỡi rìu trên hòn đá mài, vài người đứng ngoài xách làn quảy thúng hình như đợi đã lâu, làn và thúng trống không, Liễu Sinh bước đến cạnh, nhìn thấy gần đó có ba người đang đi đến, một người đàn ông ăn mặc rách rưới đi trước, theo sau là một phụ nữ và đứa con ăn vận rách rưới. Gã đàn ông đi vào lều, trong hai người ở lều có một người dáng dấp chủ quán liền đứng lên. Gã đàn ông cũng im lặng, chỉ giơ ngón tay chỉ chỉ chỏ chỏ vào người đàn bà và em bé ở ngoài lều. Chủ quán liếc mắt nhìn, rồi giơ ba ngón tay với gã đàn ông. Gã đàn ông cũng không mặc cả, cầm ba xâu tiền ra khỏi lều đi thẳng. Liễu Sinh nghe thấy đứa con gái gọi một tiếng “bố”, song gã kia không quay đầu, cứ lao đi vun vút, chỉ trong nháy mắt đã mất hút.


Lại trông thấy chủ quán và thợ giúp việc cùng đi ra khỏi lều, xé toạc hết quần áo vốn rách bươm của người phụ nữ, thân chị ta trần truồng, bụng chị ta hơi sưng, còn những chỗ khác thì gầy như que củi. Bị rứt hết quần áo, chị ta cũng mặc kệ, chỉ xiêu người đi một cái, sau đó quay đầu nhìn đứa con gái đứng bên cạnh. Hai người kia lại dứt bỏ quần áo của em bé, em bé giãy giụa một cái, song ngẩng mặt nhìn mẹ rồi đứng im. Trông em trạc mười tuổi, tuy gầy guộc, nhưng còn béo hơn mẹ.


Mấy người ở lều lúc này liền xúm lại ngã giá với chủ quán. Nghe họ nói hình như đều vừa mắt cô bé. Bọn họ chê thịt người mẹ bạc nhạc. Chủ quán tỏ ra hơi khó chịu, liền hỏi:


- Nhà ăn hay bán cho người khác?


Có hai người đáp để nhà ăn, số còn lại đều nói để bán cho người khác. Chủ quán lại nói:


- Nếu bán cho người khác, thì miếng thịt to một chút vẫn hơn – chủ quán vừa nói vừa chỉ vào người đàn bà. Lại giao thiệp một lúc mới coi như quyết định.


Lúc này người phụ nữ cất tiếng:


- Con tôi trước – tiếng chị ta lạc hẳn đi nghe không rõ.


Chủ quán trả lời một tiếng, liền túm cánh tay em bé lôi vào trong lều. Người phụ nữ lại bảo:


- Xin rủ lòng thương, đâm một nhát cho nó chết đã.


Chủ quán đáp:


- Không được, như thế thịt không tươi.


Em bé bị lôi xềnh xệch vào trong lều, sau đó gã phụ việc nắm chặt người em, đặt cánh tay em lên cái cọc. Hai mắt em liếc ra ngoài nhìn mẹ cho nên không trông thấy chủ quán đã giơ cao chiếc rìu sắc. Người mẹ không nhìn con. Liễu Sinh thấy chủ quán bổ mạnh lưỡi rìu sắc xuống, nghe “phập” một tiếng, xương bị chặt đứt, một dòng máu bắn tung tóe ra chung quanh, bắn cả vào mặt chủ quán nhoe nhoét.


Trong tiếng “phập”, em bé rùng mình oằn người đi, sau đó em mới quay lại xem chuyện gì đã xảy ra, Khi nhìn thấy cánh tay mình nằm trên cọc gỗ, em bé bỗng há hốc mồm đờ đẫn. Một lúc sau mới gào lên mấy tiếng, ngã gục người ra đất. Ngã ra đất rồi mới khóc thét lên nức nở, tiếng khóc hết sức chói tai.


Lúc này chủ quán cầm một mảnh vải rách lau mặt, gã giúp việc đưa cánh tay cho người xách làn ở ngoài lều. Người đó bỏ cánh tay vào trong làn, trả tiền rồi đi. Giữa lúc này, người mẹ lao vào trong lều, cầm một con dao sắc nhọn để trên đất, đâm mạnh vào ngực con gái, cô bé kêu hự một tiếng ngột ngạt rồi tắt thở, khi chủ quán phát hiện ra, thì đã muộn. Chủ quán tống cho người đàn bà một quả đấm ngã dúi vào góc lều, lại nhặt cô bé ở đất lên, cùng với gã giúp việc mổ xẻ cô bé ra từng miếng trông đến là tối tăm mặt mũi và đưa cho từng người ở ngoài lều.


Liễu Sinh nhìn vào mà hồn xiêu phách lạc, mãi sau mới hoàn hồn. Lúc này cô bé đã bị phanh thây xong, chủ quán vào góc lều lôi xềnh xệch người đàn bà ra. Liễu Sinh không dám tiếp tục nhìn, vội vàng quay người đi, nấp vào ngõ vắng. Nhưng tiếng rìu bổ xuống nặng nề của chủ quán, cùng với tiếng gào dài như xé của người đàn bà cứ đuổi theo, khiến anh run bắn, cho đến lúc anh rảo bước đi ra khỏi ngõ vắng, những tiếng ấy mới coi như mất hẳn. Nhưng anh không sao gạt được cảnh tượng vừa xảy ra, nó cứ chập chờn ở trước mặt một cách thê thảm lạnh lùng. Dù Liễu Sinh đi đến đâu, thảm cảnh ấy cứ bám dai dẳng. Thấy trời sắp tối, anh không dám ngủ đêm ở ngoài trời trong thành, liền hấp ta hấp tấp đi ra ngoài thành. Khi đặt chân trên con đường cái màu vàng, anh mới coi như đã hơi hơi bình tĩnh. Chẳng mấy chốc vầng trăng lạnh lẽo đã treo lơ lửng trên trời, Liễu Sinh cảm thấy hơi se se lạnh.


Quá trưa hôm sau, Liễu Sinh đi đến một thôn nhỏ, không quá mười gia đình, đều là mái tranh vách đất nghèo đói. Nhà tranh tuy có ống khói vươn thẳng, nhưng đứng chơ vơ, không hề có sợi khói bếp lan tỏa. Bởi ánh mặt trời chiếu xuống, trên đường cái phủ một lớp bụi, nên Liễu Sinh đi bước nào, bụi đất lại tung lên như khói bước ấy. Trên đường có mấy dấu chân người đi qua để lại, song không có dấu vó ngựa, cũng không có vết chân chó, lợn, cừu và gia súc khác. Có một lối tắt ở cạnh đường cái, dưới chỗ rẽ là một con suối cạn, mọc lưa thưa vài cây cỏ vàng. Một chiếc cầu gỗ tấm nho nhỏ vắt qua suối. Liễu Sinh không đi qua cầu, nên cũng không đi theo con đường mòn kia, anh rẽ vào ngôi nhà tranh ở bên đường.


Nhà tranh này là một quán rượu. Trên tủ bày mấy cái đĩa, trong đĩa toàn là miếng thịt lớn, luộc rất trắng. Trong quán có ba người. Chủ quán người gầy nhỏ, hai gã giúp việc lại to khỏe. Tuy đều mặc áo vải, song sạch sẽ gọn gàng, không có mụn vá. Giữa năm mất mùa đói kém, quán rượu này lại sống được như cây mọc ở khe đá, có thể coi là một kỳ tích. Lại trông ba người trong quán, tuy không coi là đỏ da thắm thịt, song không đến nỗi mặt bủng da vàng. Dọc đường đến đây, Liễu Sinh rất ít gặp người nào còn ra dáng vẻ người.


Lúc hoàng hôn hôm qua, Liễu Sinh ra khỏi thành, nhờ có ánh trăng, đi miết đến canh ba mới nghỉ chân trong một cái đình xiêu vẹo. Anh cuộn cái túi vải thành một búi, nằm ngủ ở góc đình. Tờ mờ sáng hôm sau lại dậy đi tiếp, bây giờ đang đứng ở ngoài quán rượu này, chỉ thấy người chao đảo, hai mắt quay chong chóng. Hơn một ngày nay không ăn một miếng cơm, không uống một ngụm nước, lại đi ròng rã không dừng, đương nhiên khó mà đi tiếp. Chủ quán lúc này bước ra tươi cười hỏi:


- Quan khách cần gì ạ?


Liễu Sinh bước vào trong quán, ngồi xuống trước bàn, chỉ gọi một bán nước trà và mấy cái bánh tráng. Chủ quán vâng dạ, lát sau bưng ra. Liễu Sinh uống một hơi hết bát nước, sau đó mới từ từ ăn bánh tráng.


Giữa lúc này, một người có dáng nhà buôn đang đi tới, ông ta mặc áo gấm quần thêu, trông oách lắm, theo sau có hai người nhà đều gánh đồ. Nhà buôn vừa ngồi xuống ghế, chủ quán đã bưng ra rượu ngon tốt nhất, rót đầy một chén đẩy đến trước mặt ông ta. Nhà buôn uống một hơi cạn chén, sau đó móc ra khỏi ống tay áo một nắm bạc lẻ để lên bàn, nói:


- Đem thịt ra đây.


Hai gã giúp việc vội vàng bưng ra hai đĩa thịt trăng trắng. Nhà buôn chỉ liếc mắt nhìn, rồi đẩy cho người nhà, lại bảo:


- Ta cần thịt tươi.


Chủ quán vội đáp:


- Thưa vâng, có đấy ạ!


Nói xong cùng hai gã giúp việc đi sang một nhà tranh khác. Liễu Sinh tuy đã ăn xong bánh tráng, song vẫn ngồi yên tại chỗ. Lúc này người đã khỏe, tỉnh táo ra nhiều, nên định tâm ngắm nghía ba người ngồi gần đó. Hai người nhà tuy cũng ngồi, nhưng món thịt tươi ông chủ gọi chưa bưng ra, nên cũng không dám động đến món ăn ở trước mặt. Nhà buôn cứ uống tì tì hết chén nọ đến chén kia, vừa được chốc lát, đã sốt ruột, gọi:


- Sao lâu thế?


Ở nhà bên, chủ quán nghe gọi đã lên tiếng:


- Có đây! Có đây!


Liễu Sinh vừa đứng lên, khoác túi vải đang định đi, chợt nghe thấy tiếng kêu xé gan xé ruột ở nhà bên vọng sang. Tiếng kêu đau đớn kéo dài cứ như kiếm sắc chọc thẳng vào ngực Liễu Sinh. Tiếng kêu đột ngột, khiến anh giật nẩy người. Tiếng kêu kéo rất dài, hình như tập trung giọng của cả một đời người cùng phát ra ở mồm, từ trong ngôi nhà tranh hét vọng sang. Liễu Sinh dường như nhìn thấy cả tốc độ mạnh mẽ và nhanh chóng của tiếng hét ấy xuyên qua tường.


Sau đó tiếng hét bỗng im bặt, trong giây lát gấp gáp này, Liễu Sinh đã nghe thấy tiếng rìu phập vào xương chan chát. Do đó, mọi thứ nhìn thấy ở chợ bán thịt người trong thành tối hôm qua, lúc này lại hiện ra rõ mồn một.


Tiếng kêu lại nổi lên, lúc này tiếng kêu cứ ngắt quãng giống như bị chặt từng đoạn. Liễu Sinh cảm thấy tiếng kêu ngắn như những ngón tay, cứ từng đốt từng đốt bị chặt gọn, văng vun vút bên người anh. Trong tiếng kêu bị ngắt quãng này, Liễu Sinh nghe rõ tiếng rìu chặt xuống. Tiếng rìu và tiếng kêu đan xen lấp vào chỗ trống của nhau, cứ dồn dập hết đợt này đến đợt khác.


Liễu Sinh chợt rùng mình nổi gai ốc. Nhưng nhìn ba người ngồi bên cạnh vẫn thản nhiên như không nghe thấy gì, vẫn uống rượu như chẳng có chuyện gì xảy ra. Nhà buôn thỉnh thoảng liếc nhìn sang cánh cửa bên kia, vẫn tỏ vẻ hết sức sốt ruột.


Tiếng kêu ở tường bên bắt đầu nhỏ đi, Liễu Sinh đã nhận ra tiếng rên của một người đàn bà. Tiếng rên đã không dữ dội như vừa nãy, nghe ra dường như đã lắng xuống, không giống tiếng rên, mà y như tiếng đàn nạm ngọc đang văng vẳng, lại y như tiếng ngân nga bay tới. Thanh âm ấy giống như nước nhỏ giọt. Ba năm trước, Liễu Sinh đứng lặng dưới cửa sổ lầu thêu lắng nghe cô chủ ngâm nga thơ từ, bây giờ cảnh tượng ấy đã hiện trở lại một cách nhạt nhòa. Liễu Sinh chìm đắm trong cảnh tĩnh lặng. Nhưng chỉ trong nháy mắt cảnh ấy đã biến mất, tiếng kêu ở bên kia tường đúng là tiếng rên. Liễu Sinh không hiểu sao bất chợt cảm thấy đấy là tiếng của cô chủ, anh bỗng run run.


Liễu Sinh không biết mình đang bước đến chỗ cánh cửa đó. Lúc đến cửa vừa vặn gặp chủ quán và hai gã giúp việc đang đi ra. một gã xách cái rìu bám đầy máu, một gã khác lại cầm một chân người, chân người còn đang nhỏ máu. Liễu Sinh nghe rõ tiếng giọt máu nhỏ xuống đất trơ lì. Anh nhìn xuống đất, thấy những vết máu lỗ chỗ, mùi tanh xộc vào mũi, chứng tỏ ở đây số người bị giết làm thức ăn đã nhiều lắm.


Liễu Sinh đi vào trong nhà, thấy một người đàn bà nằm ngửa ra đất, mái tóc rối bung. Chân còn lại hơi co, một chân khác đã mất, chỗ gãy thịt máu bê bết. Liễu Sinh đến cạnh người đàn bà, ngồi xổm, cẩn thận gạt những sợi tóc che mặt. Người đàn bà có cặp mắt lá răm đang trợn tròn trắng dã, song không hề có chút ánh sáng. Liễu Sinh nhìn kỹ đã nhận ra chính là cô chủ Huệ. Tự dưng anh choáng váng quay cuồng. Nào ngờ ba năm xa cách lại gặp nhau ở đây, mà cô chủ lại bị bán để giết làm thức ăn. Liễu Sinh khóc nức nở, nước mắt tuôn ra như suối. Cô chủ vẫn chưa tắt thở, vẫn đang rên, nhìn rõ sự đau đớn khó chịu nổi trên khuôn mặt méo mó. Chỉ vì tiếng kêu sắp sửa tắt hẳn, nên tiếng cô chủ cuối cùng biến thành tiếng rên rỉ khe khẽ kéo dài như nước chảy lì rì. Tuy cô chủ mở to cặp mắt lá răm, nhưng không nhận ra Liễu Sinh. Hiện ra trong cặp mắt cô chủ chỉ là một người đàn ông xa lạ. Bằng giọng nói yếu ớt còn sót lại, cô đã van xin anh đâm cho cô một nhát dao cho chết hẳn. Mặc cho Liễu Sinh gọi rối rít, cô chủ vẫn không thể nhận ra anh. Giữa lúc không biết làm gì hơn và tim gan như bị dao cắt, Liễu Sinh chợt nhớ đến dúm tóc cô chủ tặng lúc chia tay, liền móc túi vải lấy ra, đưa đến trước mắt cô chủ. Cô chủ chớp mắt một cái, tiếng rên bỗng im bặt. Liễu Sinh đã nhìn thấy mắt cô chủ có giọt lệ rưng rưng, song không trông thấy tay cô đang sờ tìm anh.


Cô chủ cất tiếng nói cuối cùng cầu xin Liễu Sinh chuộc lại cái chân bị chặt, để cô được chết đi một cách nguyên vẹn. Cô lại cầu xin anh cho một nhát dao kết liễu cuộc đời cô. Nói xong cô chủ vô cùng thản nhiên nhìn Liễu Sinh, phảng phất như cô đã vừa lòng thỏa mãn. Giữa lúc sắp tắt thở được gặp lại Liễu Sinh, cô cũng không có đòi hỏi gì khác. Liễu Sinh đứng lên, đi ra cửa, sang bếp quán rượu. Lúc này một người đang xẻo thịt trên chân cụt của cô chủ. Chân cô đã bị cắt xẻo nát vụn. Liễu Sinh đẩy người đó ra, móc hết số bạc ở trong túi vứt lên sàn bếp. Đây là số bạc cô chủ tặng ở lầu thêu ba năm về trước còn lại. Khi Liễu Sinh cầm cái chân gẫy, đồng thời cũng nhìn thấy con dao sắc để trên bàn. Cảnh tượng người mẹ đâm một nhát dao giết chết con gái ở chợ bán thịt người trong thành hôm qua lại hiện ra. Liễu Sinh do dự một lát, đã cầm luôn con dao sắc.


Liễu Sinh lại đến bên cô chủ, cô chủ không rên nữa, cô lặng lẽ nhìn Liễu Sinh. Đây chính là ánh mắt cô chủ đứng trước cửa sổ trong tưởng tượng của Liễu Sinh. Thấy Liễu Sinh bưng chân về, cô chủ đã há mồm, song không thành tiếng, tiếng cô chủ đã tự chết trước.


Liễu Sinh đặt chân vào chỗ gãy của cô chủ, thấy cô chủ hơi mỉm cười. Cô chủ hết nhìn con dao sắc trong tay anh, lại nhìn anh. Liễu Sinh tự nhiên hiểu cô chủ đang chờ đợi cái gì. Cô chủ tuy không rên, song bởi cơn đau đớn khó chịu đã làm cho khuôn mặt cô mỗi lúc một méo mó, Liễu Sinh không thể tiếp tục nhìn tận mắt thảm cảnh này, anh bỗng nhắm mắt lại. Một lúc sau anh mới giơ tay sờ soạng lên ngực cô chủ, sờ vào chỗ trái tim thoi thóp, hình như anh cảm thấy ngón tay đang khẽ động. Lát sau anh nhấc tay ra, tay kia giơ con dao sắc đâm mạnh một nhát, thân thể dưới co dúm lên. Liễu Sinh sững sờ, cảm thấy thân thể cô chủ từ từ thuỗn ra. Khi cơ thể cô chủ thõng hẳn xuống, Liễu Sinh bắt đầu run lẩy bẩy. Lâu lắm, Liễu Sinh mới mở to hai mắt. Cặp mắt cô chủ đã nhắm lại, khuôn mặt cũng hết méo mó, thần sắc cô vô cùng thanh thản ung dung.


Liễu Sinh ngồi xổm cạnh cô chủ, thần sắc hoảng hốt, bao nhiêu chuyện đã qua lần lượt kéo đến mù mịt như khói rồi lại tan đi ngay, lúc thì cảnh đẹp của vườn hoa sau nhà rối mắt, khi thì lầu thêu cột xanh ráng mây, cuối cùng là khoảng không mù mịt trống rỗng.


Sau đó Liễu Sinh bế cô chủ lên, cái chân gãy rũ trên cánh tay đung đưa. Anh hoàn toàn không cảm thấy gì. Bước khỏi nhà mổ, đi đến quán rượu, cũng không nhìn nhà buôn nọ đang hăm hở ăn thịt chân cô chủ như thế nào. Anh đi ra khỏi quán rượu, bước chân lên con đường cái màu vàng. Ngước mắt trông xa, bốn phía đều là màu vàng bao phủ. Giữa mùa xuân nắng đẹp, lại không nhìn thấy một chút màu xanh thì lấy đâu ra cảnh tươi rói của lầu son gác tía?


Liễu Sinh thong thả bước đi, cúi đầu nhìn cô chủ. Cô chủ đúng là có dáng dấp của con người bình thản toại nguyện. Còn Liễu Sinh thì như kẻ mất hồn, không bao giờ còn ôm theo mơ ước. Đi được một đoạn không xa, Liễu Sinh đến cạnh một con sông. Hai bên bờ sông hoang vắng, mấy cây liễu khô héo trông như bộ xương. Lòng sông vẫn còn một ít nước, tuy đục song vẫn đang chảy. Nghe tiếng nước chảy róc rách, Liễu Sinh đặt cô chủ xuống cạnh dòng nước. Anh cũng ngồi xuống, lặng ngắm cô chủ. Trên thân cô chủ có nhiều vết máu và vết bùn. Liễu Sinh liền cởi chiếc áo rách trên người cô, nghe thấy tiếng áo rách soàn soạt. Lát sau thân cô chủ lộ ra trắng nõn. Liễu Sinh lấy nước sông gột rửa sạch vết máu, vết bùn trên người cô. Rửa đến chỗ chân gãy, chân gãy lỗ chỗ mụn và lỗ thủng, trông thảm vô cùng, Liễu Sinh bỗng nhắm mắt lại, cảnh tượng nhìn thấy ở chợ bán thịt người trong thành hôm qua lại hiện ra, anh dịch chân gãy đi.


Lại mở mắt ra, chỗ chân gãy lại lọt vào tròng mắt, vết rìu chặt nhoe nhoét vẫn còn ở đó, giống như đoạn gốc cây chặt nham nhở, da thịt ở chỗ gãy chân cứ lủng lẳng bám cuốn vào nhau chạm đất, rữa ra. Lấy ngón tay sờ vào, chỗ thịt da nham nhở mềm nhũn, song xương gãy thì nhọn hoắt đâm vào ngón tay nhoi nhói ghê rợn. Liễu Sinh chăm chắm nhìn hồi lâu, cảnh nhà đổ tường xiêu lại lần lượt hiện ra.


Lâu lâu, vết máu ở ngực lại tứa ra. Liễu Sinh rửa kỹ vết máu, chỗ vết dao sắc thọc qua, thịt da bị lật lên phơi ra chung quanh, ở trong vẫn còn đỏ hon hỏn, chẳng khác gì một bông hoa đào đang nở. Nghĩ đến vết thương mình đâm, Liễu Sinh tự dưng run bắn. Nỗi mong nhớ chồng chất suốt ba năm, rút cuộc hóa thành một nhát đâm, Liễu Sinh không dám tin một sự thật như thế. Sau khi lau sạch thân thể cô chủ, Liễu Sinh lại ngắm nghía kỹ một lần nữa. Cô chủ nằm ngửa trên đất, da cô sạch như băng, trơn như ngọc. Cô chủ tuy đã chết mà như đang sống. Còn Liễu Sinh ngồi bên cạnh lại mù mịt vô tri vô giác, tuy đang sống mà như đã chết.


Sau đó Liễu Sinh giở túi vải lấy quần áo thay giặt của mình mặc cho cô chủ. Mặc trên người chiếc áo to rộng thùng thình, trông cô chủ bé cỏn con. Liễu Sinh khóc lóc, nước mắt như mưa. Liễu Sinh đào một cái hố ở bên cạnh, lại bẻ nhiều cành cây khô thả xuống đáy hố và hai bên, sau đó đặt cô chủ vào, rồi phủ kín cành cây lên người cô chủ. Cô chủ được lấp kín, song vẫn thấp thoáng nhìn thấy. Liễu Sinh lấp đất, đắp thành một nấm mộ, rồi tưới một ít nước dưới sông lên mộ. Sau đó anh ngồi xếp bằng ngay ngắn trước mộ, trong đầu trống rỗng. Mãi một lúc vầng trăng lạnh lẽo mọc lên, Liễu Sinh mới bừng tỉnh. Nhìn sáng trăng chiếu lên mộ, hắt lại những tia sáng lốm đốm như đom đóm, Liễu Sinh nghe tiếng nước sông chảy róc rách, thầm nghĩ có lẽ cô chủ cũng nghe thấy, nếu cô chủ cũng nghe thấy sẽ không lẻ loi khó chịu.


Nghĩ thế, Liễu Sinh đứng dậy, bước trên con đường cái tràn ngập ánh trăng, đi trong màn đêm vắng lặng. Khi đã xa dần cô chủ, Liễu Sinh cảm thấy bâng khuâng trống trải trong lòng. Anh chỉ nghe thấy tiếng quản bút va vào cái nghiên mài mực kêu lạch cạch cô đơn.


 


Vài năm sau, Liễu Sinh bước trên con đường cái màu vàng lần thứ ba. Tuy anh vẫn khoác cái túi vải, song không phải lên kinh đô dự thi. Từ khi chôn cô chủ mấy năm trước, mặc dù Liễu Sinh vẫn lên kinh đô, song công danh trong lòng anh đã phai nhạt dần và tan biến. Cho nên khi lại không thấy tên mình trên bảng, anh cũng hoàn toàn không tỏ ra hổ thẹn, hết sức bình tĩnh quay về.


Mấy năm trước, Liễu Sinh thi trượt trở về, khi lại đến bên sông nơi chôn cất cô chủ, đã không thể nhận ra mộ cô chủ. Bờ sông tự dưng xuất hiện hơn mười ngôi mộ, đều hoang lạnh như nhau. Liễu Sinh đứng mãi ở bờ sông, mới bắt đầu cảm thấy trên đời những người đau lòng đứt ruột đâu chỉ một mình anh. Nghĩ như vậy cũng ít nhiều bớt được nỗi đau trong lòng. Liễu Sinh đã cúi xuống nhổ cỏ đắp đất mới cho từng ngôi mộ bỏ hoang. Lại ngắm nhìn lâu lắm, anh vẫn không xác định rõ đâu là chỗ cô chủ đang yên nghỉ, liền thở dài não ruột bỏ đi.


Khi Liễu Sinh đi ăn xin, dọc đường về đến nhà, thì ngôi nhà tranh đã mất biến từ bao giờ rồi. Trước mặt anh chỉ còn một bãi trống. Khung cửi của mẹ cũng không còn. Trước khi ra đi anh đã dự đoán được cảnh này, cho nên anh không hề hoang mang sợ hãi. Anh chỉ nghĩ làm thế nào để sống tiếp. Trong thời gian rất dài từ đó trở đi, Liễu Sinh đã phải đi ăn xin. Khi cảnh đời đã có chuyển đổi, anh mới nhận coi nghĩa địa cho một gia đình giàu có. Sống trong nhà tranh, Liễu Sinh chỉ làm những việc nhẹ nhàng như nhổ cỏ đắp đất cho các ngôi mộ, thời gian còn lại anh ngâm thơ, vẽ tranh. Tuy nghèo túng, song cũng thảnh thơi. Thi thoảng cũng ôn lại một vài chuyện cũ. Giọng nói điệu cười của cô chủ đã trở về sống động. Lần nào như thế, Liễu Sinh cũng hoảng hốt thần hồn, cuối cùng kết thúc bằng tiếng thở dài. Cuộc sống như thế, nhoáng một cái đã vài năm trôi qua.


Tiết thanh minh năm nay đã đến, nhà chủ tổ chức một đoàn người ngựa có đến hơn mười nam nữ gồm nhà chủ, con hầu ăn diện sặc sỡ nô nức kéo ra nghĩa địa tảo mộ đốt hương. Đồ cúng tươi rói bày ra tại chỗ. Bỗng chốc trước mộ hương khói nghi ngút, tiếng khóc nỉ non. Là người sống trong cuộc, Liễu Sinh bỗng chốc cũng nước mắt rưng rưng. Không phải Liễu Sinh khóc vì người trong mộ, mà là do xúc cảnh sinh tình. Thầm nghĩ tuy tiết thanh minh, nhưng không thể đi tảo mộ cho bố mẹ để tỏ lòng hiếu thảo. Tiếp theo lại nghĩ đến ngôi mộ đơn côi của cô chủ, càng thấy cay đắng xót xa. Nghĩ bụng, bố mẹ còn được bên nhau yên nghỉ dưới suối vàng, còn cô chủ thì lầm lũi một thân một phận lẻ loi, há chẳng càng thê thảm hay sao?


Sáng sớm hôm sau, Liễu Sinh lẳng lặng bỏ đi. Anh đi tảo mộ cho bố mẹ trước, sau đó bước lên con đường cái màu vàng, đi đến bờ sông nơi cô chủ yên nghỉ. Liễu Sinh đã đi bộ vài ngày, dọc đường toàn là cảnh xuân tươi đẹp. Lầu son gác tía lại tưng bừng nhộn nhịp nhà nọ tiếp nối nhà kia. Ngước lên nhìn chỗ này đào liễu khoe sắc, chỗ kia dâu đay bạt ngàn. Những mái nhà tranh dậu tre thấp thoáng giữa cây xanh trúc biếc, còn có cả dòng nước nhỏ chảy dài dưới khe suối. Cảnh tượng hoang tàn ngày xưa đã biến mất, Liễu Sinh đi giữa cảnh này phảng phất như trở lại thời gian tốt đẹp lần đầu tiên đi trên con đường cái màu vàng. Cảnh hoang tàn thuở xưa đã lùi xa, cảnh phồn vinh ngày nào đã trở lại, hiện rõ mồn một trước tầm nhìn của Liễu Sinh. Nhưng cảnh hoang tàn và phồn vinh cứ thay nhau xuất hiện trong trái tim Liễu Sinh, khiến anh cảm thấy con đường cái màu vàng dưới chân lúc hư ảo, lúc không thực. Ngước mắt trông xa, tuy cảnh đẹp tươi rói, tưng bừng hớn hở, nhưng cảnh hoang tàn ngày nào vẫn chưa mất hẳn, cứ rập rình ở bên đường và trên cánh đồng như một bóng đen dưới nắng mặt trời. Liễu Sinh thầm nghĩ, cảnh phồn vinh này liệu có thể kéo dài được bao lâu?


Dọc đường đi Liễu Sinh gặp mấy cậu ấm nhà giàu lên kinh đô dự thi, mới chợt nhớ đến lại gặp mùa thi cử hàng năm. Nhẩm tính mình lần đầu lên kinh đô thi tuyển đã là việc trôi qua thấp thoáng hơn mười năm trước. Lại nghĩ đến vô số chuyện quanh co khúc khuỷu trong những năm qua, bất giác thốt lên sự đời đột biến quả là vô tình vô nghĩa. Mấy cậu ấm nhà giàu kia đứa nào cũng tỏ ra hết sức ngông nghênh đắc ý. Liễu Sinh bỗng dưng thở dài, nghĩ bụng chuyện đời biến hóa vô cùng như thế, công danh coi là cái gì? Cây khô hai bên đường đã từng băm chém chi chít bây giờ cành lá lại sum sê. Mấy người nhà quê nằm giả vờ ngủ dưới bóng râm. Cảnh nhàn rỗi này chứng tỏ lẽ đời hưng thịnh. Trên bãi cỏ non xanh, gió thổi dập dờn, những con bò con dê nằm, hoặc đi lại một cách biếng nhác. Liễu Sinh cứ đi như thế, bất giác đến chỗ ngã ba, dòng sông bên cạnh lại một lần nữa hiện ra trước mắt.


Đây chính là con sông đã từng để lại dấu vết trong lần đầu tiên lên kinh đô. Cỏ xanh ở bờ sông trải qua tai họa diệt chủng, bây giờ lại mọc xanh rờn. Còn cây liễu rủ dài thướt tha đã từng giống bộ xương người, thì bây giờ đang đung đưa trong gió. Liễu Sinh đi vào trong, cỏ xanh mượt mà dài dài đâm vào ống quần, như cuốn níu bước chân. Đến bờ sông nhìn dòng nước trong xanh tận đáy, có mấy chiếc lá xanh trôi trên mặt nước. Một con cá màu trắng đang bơi đi bơi lại gần chỗ Liễu Sinh tư thế uốn lượn của con cá đẹp đẽ vô cùng. Phong cảnh ở đây chẳng khác nào hơn mười năm trước khiến Liễu Sinh sung sướng cảm động. Nhìn vẻ đẹp tung tăng uốn lượn của con cá, làm sao lại không nhớ đến vẻ đẹp uyển chuyển của cô chủ đi lại trong lầu thêu? Nhớ tới cảnh hoang vu lạnh lẽo ở đây mấy năm trước, Liễu Sinh càng xúc động muôn phần. Cây cối cỏ xanh, dòng sông con cá, đều có sự thịnh vượng sau nạn cướp giật, song chỉ có cô chủ vẫn nằm trong ngôi mộ lẻ loi, không bao giờ sống lại, không bao giờ được hưởng lại đời sống giàu sang phú quý ngày nào.


Liễu Sinh đứng rất lâu bên bờ sông, sau đó mới buồn rầu ra đi. Ra đến đường cái đã thấp thoáng nhìn thấy thành phố, liền rảo bước đi lên. Đến trước cổng thành, Liễu Sinh đã nghe thấy người ngựa đi lại tấp nập nhộn nhịp, xem ra thành phố đã trở lại cảnh phồn hoa sầm uất trước kia. Liễu Sinh đi vào trong thành, dạo bước trên phố chợ, vẫn là năm bước một nhà gác, mười bước một khuê phòng, được trang trí lại rực rỡ, trông bề thế lộng lẫy vô cùng, hoàn toàn không còn cảnh tượng nhem nhuốc tường lở, sơn tróc, mạng nhện chăng kín. Hai bên đường phố quán rượu quán trà mọc lên san sát. Rèm xanh quán rượu treo cao, lò than quán trà đỏ lửa, còn có cả hàng quán bán mì bán phở, bán bánh trôi, đoán chữ xem bói. Những xâu thịt bò thịt dê mỡ màng lại treo trên quầy rượu, trên tủ trà cũng bày mấy loại bánh điểm tâm. Lại nhìn người đi lại trên phố, phần đông da dẻ hồng hào, tươi cười hớn hở. Mấy bà lớn vàng đeo rủng rỉnh, đều có cô hầu xinh xắn bám sát, dạo chơi trên phố chợ. Một số cậu ấm nhà giàu cưỡi ngựa ngộc nghệch cũng chen trong đám đông. Dọc đường đi, người bán rượu, trẻ con chào hàng ở hai bên đường, sốt sắng mời chào rối rít. Cảnh tượng này hoàn toàn là cảnh trí của hơn mười năm trước. Liễu Sinh lơ mơ cảm thấy hình như trở về quang cảnh ngày xưa, chưa từng trải qua hơn mười năm gian truân khổ ải vừa rồi.


Trong chốc lát, Liễu Sinh đã đến trước ngôi chùa. Lại nhìn thấy ngôi chùa vàng son lộng lẫy. Cửa chùa đang mở, Liễu Sinh nhìn cây bách xanh trăm năm ở bên trong uy nghi rợp bóng, nền lát gạch sạch bóng không một hạt bụi, cột xà nhẵn thín bóng nhoáng, cũng y hệt hơn mười năm trước, không còn nhận ra cảnh đổ nát xiêu vẹo của những năm mất mùa đói kém lan tràn. Cảnh cỏ tạp um tùm, mạng nhện chăng đầy chỉ còn là hình ảnh láng máng đâu đó trong trí nhớ Liễu Sinh. Liễu Sinh giở túi vải, lấy giấy mực, diễn lại trò cũ, vẽ mấy tranh chữ, vài bức tranh hoa, sau đó dán lên tường, bán cho người qua lại. Chỉ một lúc nhiều người xúm lại. Tuy xem nhiều mua ít, nhưng chẳng bao lâu đã bán hết số tranh đó thu được vài xâu tiền. Liễu Sinh vui vẻ thỏa mãn, cho vào túi vải, thong thả bước đi.


Vô tình bước đến tòa nhà cao rộng sâu hun hút về sau trở thành đống gạch vụn, bước lại gần, Liễu Sinh chợt giật mình ngạc nhiên. Không còn thấy một đống đổ nát vách đổ tường xiêu, bãi trống cũng không còn. Một tòa nhà cao rộng hết sức bề thế bày ra trước mắt. Liễu Sinh cứ ngẩn tò te ra mà nhìn, nghi nghi cảnh này chẳng qua chỉ là hư ảo. Nhưng ngắm nghía kỹ, ngôi nhà cao rộng đang sờ sờ trước mặt, hơn nữa càng thực tế hơn, chiếc cổng lớn sơn đỏ đóng kín, bên trong hiên bay lồng vào nhau trùng điệp, chim đậu chim bay, cây xanh tuy chưa rợp trời, song cũng to khỏe. Lại thấy hai con sư tử đá trước cửa đều có dáng hung dữ. Liễu Sinh bước tới sờ tay vào một con sư tử đá, cảm thấy lạnh giá mà chắc bền. Bây giờ anh mới xác nhận cảnh vật trước mặt là thực. Anh đi dọc theo lối dài ngoài tường vây, đi được một đoạn, thì nhìn thấy một cổng bên, cánh cổng đóng kín, song nghe rõ tiếng người vui đùa ở bên trong. Liễu Sinh đứng nhìn một lúc, lại đi.


Một lát nữa, anh đến ngoài cửa sau, cửa đang mở, vẫn mở như hơn mười năm trước, chỉ không có người nhà đi ra. Từ cửa sau, Liễu Sinh đi vào vườn hoa sau nhà, chỉ thấy toàn lâu đài thủy tạ, đình nghỉ mát, nhà trên mặt nước, núi giả tường chắn đá, cái nào cũng xinh xắn đẹp đẽ. Hai ao ở giữa đều bị lá sen che một nửa. Chỗ nối hai ao có một chiếc cầu cong cong. Trên cầu là một đình nghỉ mát, cạnh ao cũng có một cái đình hóng mát, hai bên là hai cây phong rất to. Bố trí vườn hoa sau nhà hơi khác hơn mười năm trước. Nhưng cây phong chính là cây phong đã nhìn thấy hơn mười năm trước. Qua mấy lần tai nạn, dáng vóc cây phong vẫn như xưa. Lại nhìn đình nghỉ mát, trong đình có bốn đôn sứ, có một tấm đá xây ở đằng sau, phía sau tấm đá chắn có hàng trăm cây trúc biếc, sau vườn trúc biếc là lan can màu đỏ tươi, sau lan can là vô số cây hoa, hoa đào, hoa mận, hoa lê đang nở rộ, còn hoa hải đường, hoa lan, hoa cúc thì đang có nụ.


Liễu Sinh dừng chân, ngẩng đầu nhìn, lại vẫn là lầu thêu, lại ngó chung quanh hai bên trái phải, vẫn y hệt lầu thêu anh trông thấy lần đầu lên kinh đô thi tuyển. Lầu thêu có cửa sổ mở ra bốn phía, gió từ đằng kia thổi sang đi qua nhà gác thổi vào mặt Liễu Sinh. Liễu Sinh ngửi thấy mùi thơm sực nức, bỗng thấy bâng khuâng như bay lên, chìm đắm trong cảnh đẹp lúc gặp cô chủ ở lầu thêu. Hoàn toàn không cảm thấy đây là chuyện đã qua, phảng phất như đang trong hiện tại. Liễu Sinh cảm thấy tiếng ngân nga của cô chủ đang vọng tới. Nghĩ như vậy quả nhiên nghe thấy âm thanh kỳ diệu bay khỏi cửa sổ, lan ra bốn phía, sau đó rơi xuống lay phay như mưa bụi. Âm thanh ấy nhỏ giọt tí tách như viên ngọc trai rơi xuống đĩa, như dòng sông róc rách mỏng manh chảy dài. Nghe thật kỹ mới nhận ra không phải tiếng ngân nga, mà là tiếng đàn nạm ngọc. Nhưng tiếng đàn nạm ngọc này lại giống y hệt tiếng ngân nga của cô chủ. Liễu Sinh lắng nghe thật kỹ, đã hòa nhập vào một cách vô tri vô giác. Nỗi cay đắng truân chuyên hơn mười năm trước đã hóa thành khói bụi bay mất, Liễu Sinh lại một lần nữa đứng lặng dưới lầu thêu, có cảm giác như lần đầu trải qua cảnh đẹp nên thơ này. Tuy anh đã loáng thoáng đoán ra trình tự sẽ xuất hiện tiếp đó, nhưng điều ấy không đánh thức anh dậy, anh đã hòa quyện hai chặng đường ngày xưa và bây giờ làm một.


Khi Liễu Sinh ước đoán cô hầu sẽ xuất hiện ở cửa sổ, thì quả nhiên một cô gái có dáng dấp người hầu xuất hiện ở cửa sổ. Cô ta trợn mắt chau mày, nói:


- Mau mau đi khỏi đây!


Liễu Sinh bỗng dưng tủm tỉm cười. Cảnh tượng trước mắt y như đã dự kiến. Cô hầu nói xong cũng quay vào. Liễu Sinh biết lát nữa cô ta lại trợn mắt chau mày xuất hiện trước cửa sổ.


Tiếng đàn nạm ngọc chưa dứt, nên tiếng ngân nga của cô chủ vẫn tiếp tục, âm thanh ấy lúc du dương khi chậm rãi. Phải chăng cô chủ đang bị nỗi tương tư dằn vặt?


Cô hầu lại đến trước cửa sổ:


- Sao không đi đi hả?


Liễu Sinh vẫn tủm tỉm cười. Nụ cười của Liễu Sinh khiến cô hầu không dám đứng lâu ở cửa sổ. Sau khi cô hầu vào, tiếng đàn nạm ngọc bỗng tắt ngấm. Sau đó Liễu Sinh nghe thấy tiếng đi lại trên lầu thêu. Tiếng nặng hơn có lẽ là của cô hầu, còn tiếng nhẹ hơn chắc là của cô chủ đang đi lại.


Liễu Sinh cảm thấy sắc trời đã bắt đầu tối dần, có lẽ chỉ trong chốc lát màn đêm sẽ buông xuống, mưa cũng sẽ đến. Mưa một khi đã rào rào lộp độp, thì cửa sổ trên lầu sẽ đóng vào. Ánh sáng nến xuyên qua giấy cửa sổ hắt xuống lờ mờ. Trong cơn mưa gió, cửa sổ kia lại mở, cả cô chủ lẫn cô hầu xuất hiện ở cửa sổ. Sau đó một sợi dây thừng vằn mình thả xuống, thế là Liễu Sinh leo lên, gặp cô chủ trong lầu thêu. Khi cô chủ đi ra nhà ngoài trông xinh đẹp như một con cá màu trắng, không bao lâu, cô chủ lại đến cạnh anh, hai người cầm tay nhìn nhau muốn ngàn lời lại hóa thành im lặng. Sau đó Liễu Sinh lại bám dây leo xuống, đi khỏi lầu thêu, bước trên đường cái. Vài tháng sau, Liễu Sinh thi trượt trở về, lại đến chỗ này, song đã là một đống đổ nát hoang tàn.


Đống đổ nát hoang tàn đột nhiên xuất hiện, khiến Liễu Sinh kinh hoàng. Giữa lúc ấy một xô nước lạnh từ trên lầu thêu hất túi bụi lên người Liễu Sinh, anh chợt bừng tỉnh. Nhìn bốn chung quanh, ánh sáng rực rỡ mới biết cảnh tượng vừa rồi chỉ là giấc mơ ban ngày. Còn xô nước lạnh thì hoàn toàn có thật. Toàn thân Liễu Sinh nước chảy ròng ròng, lại nhìn lên cửa sổ lầu thêu, không thấy có bóng người, song nghe được tiếng cười khe khẽ và tiếng nói thì thầm ở bên trong. Lát sau cô hầu đến chỗ cửa sổ, quát nạt:


- Không xéo đi, sẽ gọi người đến cho mà xem.


Cảnh đẹp lúc nãy đã biến thành làn khói trắng bay đi, tự dưng Liễu Sinh thấy buồn, lầu thêu như cũ, song cô chủ đã thay, anh thở dài một tiếng quay người đi. Đi ra ngoài tòa nhà, quay đầu nhìn lại, mới biết nơi đây không phải tòa nhà to rộng sâu hun hút ngày xưa. Trong lúc đi đường, Liễu Sinh lấy nhúm tóc cô chủ tặng lúc chia tay đang để trong túi vải ra ngắm nghía kỹ, nhiều kỷ niệm tốt đẹp của cô chủ khi còn sống cứ lần lượt hiện ra trước mặt. Liễu Sinh bất giác nước mắt ròng ròng.


 


Sau khi Liễu Sinh ra khỏi thành, lại đi một vài ngày. Hôm nay đến bờ sông an táng cô chủ. Nhìn cảnh vật bên sông xanh tươi mơn mởn, có những hoa nhỏ năm màu lắc lư ở giữa. Trên mặt sông soi bóng những hàng liễu rủ xanh biếc đang gợn sóng. Thấm thoắt đã mấy năm trôi qua, cảnh hoang vắng ngày nào cũng tan biến trong phút chốc. Liễu Sinh đứng lặng ở bờ sông, một khuôn mặt già nua hiện lên trong nước. Cảnh tượng phồn vinh một khi sa sút, còn có thể phục hồi trở lại, nhưng tuổi xuân đã đi là đi mãi không bao giờ trở lại. Cảnh đẹp và thời gian quý báu đã từng rực rỡ ngày nào cũng đi mãi không bao giờ trở lại. Bây giờ hồi tưởng lại như bông hoa đàn vừa nở đã tàn. Liễu Sinh nhìn bốn chung quanh, thấy hơn chục ngôi mộ, đều mới được đắp đất gần đây, tro than giấy tiền vẫn còn trước mộ, còn để lại vết tích thắp hương tảo mộ tiết thanh minh. Nhưng ngôi nào mới là mộ cô chủ? Liễu Sinh thong thả bước, quan sát kỹ càng, song không thể nhận ra. Nhưng đi thêm vài bước trông thấy một ngôi mộ hoang. Ngôi mộ ấy chỉ sè sè một nắm đất, sắp sửa bị san phẳng, còn coi như chưa bị cỏ tạp hoa dại phủ kín. Trước mộ không có tro giấy tiền. Vừa nhìn thấy nấm mộ ấy, Liễu Sinh đã chột dạ, một tình cảm khó nói chợt trỗi dậy trong lồng ngực. Ngôi mộ hoang không ai tảo mộ thắp hương này chắc là nơi yên nghỉ của cô chủ.


Một khi nhận ra ngôi mộ của cô chủ, thì giọng nói nụ cười của cô chủ cũng thoát khỏi ký ức xa xăm, trở về bên cạnh Liễu Sinh, từ từ lên khỏi mặt nước vô cùng rõ nét. Khi Liễu Sinh nhìn kỹ, lại thấy một con cá màu trắng, con cá lặn xuống chỗ sâu, rồi mất hút.


Liễu Sinh ngồi xuống nhổ từng cây cỏ tạp và hoa dại trên mộ cô chủ. Sau đó lấy tay bới đất ở cạnh đường đắp lên mộ. Liễu Sinh cứ hì hục làm cho tới lúc màn đêm buông xuống mới dừng tay. Nhìn lại nấm mộ đã cao hẳn lên, Liễu Sinh lại lấy nước sông vẩy từng giọt, từng giọt lên mộ, mỗi giọt nước nhỏ xuống lại hắt lên những hạt bụi li ti. Thấy trời đã tối, Liễu Sinh tỏ ra lưỡng lự không biết nên ngủ đêm lại đây, hay là lên đường. Đắn đo hồi lâu, anh quyết định ngủ ở đây một đêm, chờ sáng sớm hôm sau sẽ đi, nghĩ đến cuộc đời này chỉ được gặp cô chủ có hai lần vội vội vàng vàng, bây giờ lại hấp ta hấp tấp ra đi, Liễu Sinh có phần không đành lòng. Cho nên ở lại đây nghỉ với cô chủ một đêm cũng là để trọn tình vẹn nghĩa với nhau.


Đêm vô cùng yên tĩnh, chỉ nghe tiếng gió thổi lá cây nhè nhẹ, giống như tiếng mưa mau hạt, lại nghe thấy nước chảy, thoang thoảng như tiếng đàn nạm ngọc, lại như tiếng ngân nga. Hai thứ âm thanh cứ thế đan xen khiến Liễu Sinh sống lại những giờ phút đẹp đẽ cùng cô chủ ở lầu thêu năm nào. Liễu Sinh ngồi cạnh mộ cô chủ, lơ mơ nghe thấy có tiếng động khẽ trong mộ, tiếng ấy dường như là tiếng cô chủ đi lại trong lầu thêu. Suốt đêm Liễu Sinh không chợp mắt, cứ mơ mơ màng màng, chìm đắm trong những cuộc mơ tưởng gặp lại cô chủ. Cho đến khi tang tảng sáng. Liễu Sinh mới hoàn hồn. Tuy chỉ là một đêm mơ tưởng hư vô, song Liễu Sinh hết sức lưu luyến. Mơ tưởng không có thật này nếu đi theo anh suốt cuộc đời cũng là chuyện hay, vô cùng tốt đẹp.


Lát sau, trời sáng hẳn. Liễu Sinh cảm thấy nên ra đi. Anh nhìn bốn chung quanh, cỏ lên mơn mởn, liễu rủ thướt tha, lại nhìn mộ cô chủ thấy ánh nắng mặt trời chiếu vào óng a óng ánh. Cô chủ ở dưới đó chắc cũng dễ chịu, chỉ có phần hiu quạnh. Nghĩ rồi, Liễu Sinh bước lên con đường cái màu vàng.


Đi trên đường, Liễu Sinh hoàn toàn không nhìn thấy cảnh tưng bừng oanh hót yến lượn đua vui trên đồng ruộng, chỉ thấy con đường kéo dài xa tít tắp. Đi được một đoạn, bỗng tự hỏi: Bây giờ đi về đâu?


Nếu trở lại nghề cũ, trông coi nghĩa địa, thì đúng là Liễu Sinh không muốn, vì toàn là những ngôi mộ của người khác, còn mộ của bố mẹ và cô chủ thì ghẻ lạnh. Mà tìm việc khác, cũng không có ý nghĩa. Nghĩ vậy, Liễu Sinh bỗng dưng đứng lại. Đắn đo một lúc lâu, cuối cùng anh đi đến quyết định quay trở về bên cạnh cô chủ. Anh nghĩ, bố mẹ được yên nghỉ bên nhau, chỉ có cô chủ trơ trọi một thân một mình, chẳng thà trông coi mộ cô chủ những năm tháng còn lại của cuộc đời vẫn hay hơn nhiều so với việc coi mồ của người khác.


Liễu Sinh trở lại bên mộ cô chủ. Quyết định như thế, Liễu Sinh hết sức yên tâm. Thế là anh bẻ cành cây dựng một gian nhà nhỏ bên đường. Nhìn xa xa có vài gia đình, Liễu Sinh tới đó mua một cái nồi, định đun một ít nước trà bán cho người đi đường, cũng là để kiếm sống. Khi mọi việc sắp xếp đâu vào đấy thì màn đêm bắt đầu buông xuống, Liễu Sinh cũng mệt bã người, anh uống mấy ngụm nước sông và ăn mấy cái bánh tráng, sau đó ngồi trong lùm cây bên sông nhìn dòng nước chảy.


Vầng trăng lạnh từ từ mọc lên treo lơ lửng trên trời. Ánh trăng soi trên dòng sông lấp loáng. Ngay đến cỏ xanh và liễu rủ bên bờ cũng óng ánh, khiến Liễu Sinh hết sức ngạc nhiên. Dưới ánh trăng cũng có cảnh lạ lùng như vậy sao!


Lúc này Liễu Sinh chợt ngửi thấy mùi thơm khang khác, có lẽ gió đã đem theo mùi thơm khác lạ này đến, mà đến từ đằng sau lưng anh. Liễu Sinh quay lại nhìn, thì vô cùng ngạc nhiên. Trong gian nhà nhỏ bên đường có ánh nến đang cháy lập lòe. Liễu Sinh bất chợt đứng dậy đi về phía gian nhà nhỏ. Đi đến trước cửa nhìn thấy bên trong có một người đàn bà đang ngồi trên chiếu đọc sách dưới đèn. Bên cạnh người đàn bà là cái túi vải của Liễu Sinh, đã bị mở ra, có lẽ quyển sách được lấy từ trong túi vải. Người đàn bà ngẩng lên, trông thấy Liễu Sinh đứng ở trước cửa, vội vã đứng lên chào:


- Công tử đã về đấy ư!


Liễu Sinh nhìn kỹ, bỗng sững sờ. Người đàn bà trong nhà không phải là ai khác, mà chính là cô chủ Huệ. Cô chủ đứng đó, dáng người mảnh dẻ, chiếc váy áo thêu màu trắng muốt quét đất, màu trắng của bộ váy áo lại không phải thứ màu trắng thông thường, hình như giống màu của ánh trăng.


Thấy Liễu Sinh sững sờ, cô chủ mỉm cười, nụ cười như làn sóng gợn lăn tăn. Cô chủ giục:


- Sao công tử không bước vào nhà đi?


Bấy giờ Liễu Sinh mới bước vào, nhưng vẫn ngẩn người ngạc nhiên. Cô chủ liền nói:


- Tiểu nữ đến bất ngờ quá, xin công tử đừng trách.


Liễu Sinh lại nhìn cô chủ. Cô chủ búi tóc dựng ngược, nét mặt tươi như hoa đào, mắt đen lay láy, cái miệng nho nhỏ anh đào chúm chím, khiến Liễu Sinh mê mẩn tâm thần, song vẫn đầy lòng nghi ngờ, liền hỏi:


- Đây là người hay là ma?


Vừa nghe hỏi thế, cặp mắt cô chủ đã rưng rưng. Cô đáp:


- Cứ tưởng công tử đã vứt bỏ em từ đời nảo đời nào, không ngờ công tử vẫn luôn luôn quý mến giữ gìn. - Nói xong cô chủ nước mắt như mưa.


Vô cùng xúc động, nao nao trong lòng, Liễu Sinh vội vàng bước tới, nắm chặt bàn tay nhỏ nhắn của cô chủ. Bàn tay ấy vô cùng giá lạnh. Hai người cầm tay nhau nước mắt mờ nhòa.


Cô chủ vung ống tay áo dài một cái, ngọn nến vụt tắt. Đang đà, cô chủ ngả luôn vào lòng Liễu Sinh. Anh cảm thấy toàn thân cô chủ lạnh giá, cứ run bần bật. Anh nghe rõ tiếng khóc nức nở của cô chủ. Giọng cô ngắt quãng, cô kể lể những chuyện đã qua, sau khi Liễu Sinh ra đi, ngày nào cô cũng đứng trước cửa sổ ngóng trông. Liễu Sinh lúc này như đắm say, như ngây ngất, trở về với quá khứ tốt đẹp hơn mười năm trước, tiếp theo cả hai cùng ngã ra đất.


Sau đó Liễu Sinh ngủ say li bì, khi anh tỉnh dậy, trời đã sáng hẳn. Lại nhìn bên cạnh, không thấy cô chủ đâu, nhưng trên ổ rơm, cô chủ đã để lại một chỗ nằm lõm xuống, chỗ lõm ấy đang tỏa ra mùi thơm khác lạ. Liễu Sinh nhặt mấy sợi tóc còn vương lên, sợi tóc mềm mại hơi xoăn xoăn, sau đó lại lấy dúm tóc cô chủ tặng ngày xưa ra, để chung vào nhau hầu như y hệt, chỉ có điều mấy sợi tóc cô chủ để vương trên chiếu loáng thoáng có màu xanh óng ả.


Liễu Sinh đi ra ngoài nhà, nhìn dòng sông nhuốm đỏ dưới nắng ban mai, cây cối và cỏ non hai bên bờ sông cũng lốm đốm đỏ. Liễu Sinh đi đến bên mộ cô chủ, đất mới trên mộ hơi ẩm ướt, sương đêm còn đọng chưa tan hết. Nhìn kỹ ngôi mộ, không hề có chút gì khác lạ. Liễu Sinh cảm thấy rất lạ, nhớ lại cảnh tượng đêm qua, hoàn toàn là chuyện có thật, không hề có chút nào giả tạo. Huống hồ vừa rồi thức giấc cũng đã nhìn thấy dấu cô chủ để lại trong đêm. Liễu Sinh ngồi xuống cạnh mộ, thò tay nắm một vốc đất, cảm thấy ấm áp vô cùng. Cô chủ đang nằm yên dưới này ư? Anh có phần ngờ vực. Phải chăng cô chủ đã bỏ mộ mà đi, trở lại sống trên đời. Nghĩ thế, Liễu Sinh ngờ rằng trước mắt chỉ là một ngôi mộ rỗng không. Anh ngồi bên nấm mộ lâu lắm, càng nhớ lại cảnh đêm qua, càng cảm thấy trước mặt là một ngôi mộ trống rỗng. Cuối cùng không sao nhịn nổi, anh muốn bới tung lên xem rút cuộc là thế nào. Vậy là hai tay anh cào đất. Từng lớp, từng lớp đất được cào bới lên. Gần tới cô chủ, Liễu Sinh thấy cành cây phủ kín, người cô chủ đã mục nát từ bao dở bao giờ, nằm trong vụn như bùn đất. Cả cái áo vải mặc trên người cô chủ cũng hóa thành đất bùn. Liễu Sinh khe khẽ gạt chúng đi, cô chủ lộ ra trần như nhộng. Hai mắt cô chủ nhắm lại, khuôn mặt mới xinh đẹp hấp dẫn làm sao. Cô chủ đã mọc lớp thịt da mới, cho nên toàn thân có màu cánh sen nhàn nhạt. Cho dù một chân đã bị gãy, cũng đã lành lại nguyên vẹn, còn vết dao đâm ở ngực, thì không thấy đâu. Tuy cô chủ nằm trong mộ, nhưng mái tóc hết sức gọn gàng, y như vừa mới được chải tử tế. Mái tóc ấy loáng thoáng ánh lên chút màu xanh, Liễu Sinh ngửi thấy mùi thơm khác lạ sực nức.


Cảnh tượng trước mặt khiến trong lòng Liễu Sinh vang lên rộn ràng tiếng suối trong đang chảy. Anh biết chẳng bao lâu nữa cô chủ sẽ sống lại trên đời, do đó khi anh ngắm nghía kỹ cô chủ lần nữa, phảng phất như cô đang ngủ ngon, phảng phất như chưa từng có chuyện cô bị bán cho cửa hàng giết thịt người làm thức ăn. Chẳng qua cô chủ đang ngủ yên, chốc nữa sẽ thức giấc. Liễu Sinh ngắm nghía lâu lắm, rồi mới phủ đất lên. Sau đó Liễu Sinh vẫn cứ ngồi cạnh mộ, dường như e sợ cô chủ rời mộ đi xa, anh không dám rời một bước. Anh lại nhớ tới cảnh tượng tốt đẹp lần đầu tiên gặp cô chủ ở lầu thêu, lại tưởng tượng ra nhiều viễn cảnh tốt đẹp sau khi gặp lại cô chủ. Liễu Sinh chìm đắm trong hư vô mỏng manh không nghe tiếng nước chảy róc rách bên cạnh, không nhìn người qua lại trên đường. Mọi thứ trên đời tiêu tan hết, chỉ có cô chủ đang nhẹ nhàng lướt tới.


Liễu Sinh cứ ngồi đờ đẫn, hoàn toàn không có cảm giác thời gian đang trôi đi, ngay đến màn đêm lại buông xuống, anh cũng không hề biết. Trăng lạnh đã lên cao, ánh trăng lặng lẽ rót xuống. Bốn bề vắng lặng lấp loáng. Gió đêm vù vù thổi đến, vừa ướt vừa lạnh. Liễu Sinh vẫn không nhận ra trời đã tối, cứ mải mê cầm tay cô chủ nhìn nhau trong cảnh hư vô tưởng tượng.


Bỗng dưng Liễu Sinh ngửi thấy mùi thơm khác lạ sực nức, mùi thơm khác lạ đã khiến anh bừng tỉnh. Nhìn bốn chung quanh mới biết trời đã tối đen. Lại nhìn gian nhà nhỏ cạnh đường, trong nhà đang lập lòe nến. Trong đêm trăng, ánh sáng nến mờ nhòa leo lét. Liễu Sinh vừa mừng vừa ngạc nhiên, vội vàng đứng lên chạy về nhà. Nhưng bước vào trong nhà lại không thấy cô chủ khêu đèn đọc sách. Đang nghi nghi hoặc hoặc, Liễu Sinh nghe thấy có tiếng ở đằng sau, quay người lại, đã nhìn thấy cô chủ đang đứng ở trước cửa. Cô chủ vẫn dáng dấp như tối hôm qua, người mặc sáng trăng, toàn thân lấp lóa liên tục, chỉ có thần sắc cô chủ không giống đêm qua, tỏ ra vô cùng buồn thương. Thấy Liễu Sinh quay lại, cô chủ liền nói:


- Tiểu nữ vốn sắp sửa sống trở lại, chỉ tại bị công tử phát hiện, nên việc không thành.


Nói xong, cô chủ nước mắt ròng ròng ra đi./.


Nguồn: Tình yêu cổ điển. Dư Hoa. Vũ Công Hoan dịch. NXB Văn học, 2005.

trieuxuan.info