Văn học & hội họa
01.10.2018
Antoine Galland
Nghìn lẻ một đêm (17)


Tàu nhổ neo. Sau một chuyến đi dài ngày thuận buồm xuôi gió, chúng tôi cập bến Banxôra. Từ đấy tôi trở về Bátđa. Việc đầu tiên của tôi sau khi trở về tới nơi là làm tròn nhiệm vụ được giao phó.


Tôi mang bức thư của quốc vương Xêrenđíp đến trước cung Đấng thống lĩnh các tín đồ, theo sau là người nữ nô lệ xinh đẹp và những người trong gia đình tôi mang các tặng phẩm mà tôi được ký thác. Tôi trình bày lý do đưa tôi đến và lập tức được dẫn vào ngai hoàng đế. Tôi quỳ lạy, chúc tụng Người và dâng bức thư của quốc vương Xêrenđíp.


Hoàng đế hỏi tôi có đúng là nhà vua ấy hùng mạnh và giàu có như mô tả trong bức thư không. Tôi lại quỳ xuống lạy rồi đứng lên: "Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, tôi có thể quả quyết rằng nhà vua đã không nói quá đi về của cải và oai danh của Người, tôi đã từng được chứng kiến. Không có gì có thể gợi lên lòng khâm phục sâu sắc hơn là vẻ tráng lệ của cung điện nhà vua ấy. Mỗi lần nhà vua muốn xuất hiện trước công chúng, người ta sắp sẵn một cái ngai lên lưng voi. Nhà vua ngự trên đó, và đi giữa hai hàng người gồm các quan thượng thư, các cận thần và các quan chức khác trong triều đình. Trước nhà vua, cũng cưỡi trên lưng voi, một võ quan cầm ở tay một chiếc giáo bằng vàng. Phía sau ngài là một võ quan khác đứng, cầm một chiếc trượng bằng vàng, bên trên có một viên bích ngọc dài chừng độ nửa bộ và dày một lóng tay. Trước mặt nhà vua là cả đội vệ binh một nghìn người, trang phục bằng dạ vàng và lụa, cưỡi trên những con voi bành rất sang trọng.


Trong khi nhà vua đi tuần du, viên sĩ quan ngồi trên lưng voi đằng trước thỉnh thoảng lớn tiếng xướng lên: "Đây là Đấng thiên tử vĩ đại, là hoàng đế nước ấn Độ hùng cường và đáng kính phục sống trong cung điện lợp bằng trăm nghìn viên hồng ngọc, và có hai vạn vòng hoa bằng kim cương. Đây là Đấng thiên tử vĩ đại hơn cả vua Xêrima[1],vĩ đại hơn cả vua Miragiơ[2].


Lời tung hô vừa dứt, viên võ quan đứng sau ngai nhà vua lại hô tiếp: "Đấng thiên tử hết sức hùng cường và hết sức vĩ đại ấy rồi phải qua đời, phải qua đời, phải qua đời". Viên võ quan đằng trước tiếp lời, và hô luôn: "Ngợi ca Đấng hằng sống, Đấng không bao giờ chết".


Ngài quốc vương Xêrenđíp rất công minh, đến nỗi ở thủ đô cũng như trong cả nước không cần có pháp quan. Dân chúng ở đây không cần quan tòa. Họ hiểu biết pháp luật và tự mình tôn trọng đúng đắn pháp luật, và không bao giờ lơ là nghĩa vụ của mình. Bởi vậy, ở nước họ các toà án và các pháp quan đều vô ích".


Hoàng đế rất bằng lòng về những điều tôi vừa trình bày. Người phán: "Sự anh minh của quốc vương Xêrenđíp biểu lộ trong bức thư của ông. Và theo như những lời ngươi vừa nói, thì phải nhận rằng sự anh minh của nhà vua kia xứng đáng với thần dân nước ấy, và thần dân nước ấy thật xứng đáng với sự anh minh của nhà vua kia". Nói xong, hoàng đế cho tôi lui chầu và ban thưởng cho tôi rất hậu.


Đến đây Xinbát ngửng lời, những người nghe ra về. Nhưng trước đó, Hinbát được ông biếu một trăm đồng xơcanh. Ngày hôm sau, họ lại đến Xinbát. Ông thuật cho họ nghe về chuyến đi thứ bảy và là chuyến đi cuối cùng của ông qua những lời sau đây:


 


CHUYẾN ĐI THỨ BẢY, CUỐI CÙNG, CỦA XINBÁT NGƯỜI ĐI BIỂN


Sau chuyến đi thứ sáu trở về, tôi bỏ hẳn ý định đi bất cứ một chuyến nào nữa. Ngoài việc mình đã đến cái tuổi chỉ muốn được nghỉ ngơi, tôi còn tự hứa với mình là sẽ không bao giờ dấn thân vào những nỗi hiểm nguy như đã bao lần từng trải. Bởi vậy, tôi chỉ nghĩ đến việc sống an nhàn những ngày còn lại của đời mình.


Một hôm, tôi đang đãi tiệc một số bạn bè, thì một tên người nhà vào báo cho biết có một vị quan của hoàng đế muốn gặp tôi. Tôi vội vàng đứng lên khỏi bàn tiệc, ra đón. Viên quan nói: "Hoàng đế sai tôi đến báo cho ngài biết Người muốn nói chuyện với ngài". Tôi theo viên quan vào hoàng cung trình diện hoàng đế. Tôi quỳ lạy dưới chân Người. Nhà vua phán: "Xinbát à, ta cần đến ông; ông phải giúp ta một việc. Ông hãy mang thư phúc đáp và các tặng phẩm của ta đến cho quốc vương Xêrenđíp. Ta muốn đáp lại thái độ lịch sự của quốc vương đối với ta".


Mệnh lệnh của hoàng đế là tiếng sét đối với tôi. Tôi đáp: "Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, tôi sẵn sàng thực hiện mọi mệnh lệnh của Người. Nhưng tôi cúi xin bệ hạ xét cho. Tôi đã chán chường vì biết bao nỗi gian lao phải chịu đựng. Hơn nữa, tôi đã có lời nguyền là sẽ không bao giờ rời khỏi Bátđa nữa". Tôi thừa dịp thuật lại cho nhà vua nghe đầy đủ chi tiết về các chuyến phiêu lưu của tôi. Hoàng đế kiên nhẫn nghe cho kỳ hết.


Tôi vừa dứt lời, vua liền phán: "Ta nhận rằng những điều ông vừa kể quả là những hiện tượng hết sức lạ kỳ. Mặc dù vậy, không nên bởi những việc đó mà ông không vì ta thực hiện chuyến đi ta yêu cầu. Chỉ cần đến đảo Xêrenđíp làm tròn sứ mệnh ta giao phó thôi. Sau đây, ông có thể tùy tiện trở về. Nhưng phải đi tới nơi, bởi chắc ông cũng thấy rằng chừng nào ta chưa đáp lễ quốc vương đảo ấy, thì vẫn còn là chưa đúng phép lịch sự và không xứng với tư thế của ta".


Thấy hoàng đế nhất quyết đòi tôi phải làm việc đó, tôi đành tỏ ra sẵn sàng tuân lệnh. Hoàng đế rất vui, sai ban cho tôi một nghìn đồng xơcanh để làm chi phí đi đường.


Tôi chuẩn bị mất ít ngày. Sau khi nhận được các tặng phẩm của hoàng đế và một bức thư tự tay Người viết, tôi khởi hành ngay, đi về Banxôra. Từ đấy tôi xuống tàu biển. Chuyến đi của tôi rất thuận buồm xuôi gió. Đến đảo Xêrenđíp, tôi trình bày với các quan sứ mệnh tôi được giao, và yêu cầu họ cho phép tôi được vào triều yết kiến quốc vương ngay. Họ không chút chậm trễ. Người ta dẫn tôi vào hoàng cung rất trọng thể. Tôi quỳ xuống vái chào nhà vua đúng như tục lệ.


Nhà vua nhận ra tôi ngay, và tỏ vẻ đặc biệt vui mừng được gặp lại: "A, ông Xinbát, xin chào mừng ông. Ta cam đoan với ông là từ ngày ông ra đi, ta luôn luôn nghĩ tới ông. Tạ ơn ngày hôm nay, ngày chúng ta được gặp lại nhau lần nữa".


Tôi chúc tụng nhà vua. Sau khi cảm ơn lòng nhân hậu của Người, tôi dâng trình bức thư và tặng phẩm của hoàng đế. Nhà vua tỏ ý rất hài lòng tiếp nhận.


Hoàng đế gửi tặng nhà vua một bộ giường ngủ hoàn chỉnh phủ dạ vàng, ước giá một nghìn xơcanh; năm mươi chiếc áo bằng một loại vải rất đắt tiền; một trăm chiếc khác may bằng vải trắng loại tốt nhất của Cairô, Xuyê, Cufa và Alếchzanđri[3]; một chiếc giường khác màu tía, cùng một chiếc nữa theo một kiểu dáng khác; một chiếc bình bằng mã não rộng miệng, dày một ngón tay và rộng nửa bộ, đáy bình chạm nổi một người đàn ông một chân quỳ xuống đất, tay giương chiếc cung đã lắp tên, sẵn sàng bắn vào một con sư tử; và cuối cùng là một chiếc bàn sang trọng tương truyền lưu lại từ đời vua Xalômông vĩ đại


Bức thư của hoàng đế Harun An -Rasít lời lẽ như sau:


"Nhân danh Đấng dẫn đường cao cả, xin gửi đến hoàng đế hùng cường và hạnh phúc lời chào của Harun An-Rasít, người được Thượng đế cho phép nối ngôi các đấng tổ tiên vinh hiển của chúng tôi.


"Chúng tôi rất vui mừng nhận được thư bệ hạ. Xin gửi đến bệ hạ bức thư này từ triều đình chúng tôi, vườn thượng uyển của các trí tuệ cao siêu. Chúng tôi hy vọng nó được bệ hạ ngự 1ãm, và qua đó mà hiểu rõ và tán thành ý nguyện tốt lành của chúng tôi. Kính chào".


Quốc vương đảo Xêrenđíp rất vui lòng thấy hoàng đế đáp lại mối tình hữu nghị của mình. Ít lâu sau buổi triều kiến ấy, tôi lại xin vào chầu vua để cáo biệt. Nhưng xin nhiều lần mà vẫn chưa được nhà vua chấp thuận. Cuối cùng tôi cũng được phép. Nhà vua trước khi cho lui, còn ban cho tặng phẩm có giá trị. Tôi xuống tàu ngay với ý định đi thẳng về Bátđa.


Nhưng tôi không được may mắn đi đến nơi về đến chốn như mình mong ước. Thượng đế lại định đoạt theo cách khác hẳn.


Ba hoặc bốn ngày sau khi khởi hành, chúng tôi bị bọn cướp biển tiến công. Chúng chẳng khó khăn gì mà không chiếm được tàu chúng tôi, bởi trên tàu hoàn toàn không chuẩn bị đối phó. Mấy người trên tàu muốn kháng cự, họ bị giết chết. Còn về phần tôi và tất cả những người thận trọng không chống lại ý bọn cướp biển, chúng tôi bị bắt làm nô lệ.


Sau khi bọn cướp đoạt hết và lột áo quần chúng tôi, rồi cho mặc những bộ đồ xấu xí, chúng đưa chúng tôi đến bán ở một hòn đảo rất xa.


Tôi sa vào tay một người buôn giàu. Ông ta mua xong liền dẫn tôi về nhà, cho ăn ngon mặc đúng như nô lệ. Mấy hôm sau, vì chưa thật rõ tôi là ai ông ta hỏi tôi có biết nghề nghiệp gì không. Không để lộ rõ tung tích tôi đáp tôi không phải là dân thợ, mà là một người buôn bán chuyên nghiệp, bọn cướp biển đã tước đoạt mất tất cả những gì tôi có. "Nhưng - Ông ta lại hỏi - anh hãy cho ta biết, anh có biết bắn cung chứ?". Tôi đáp đấy là một trong những môn tôi đã luyện tập thời còn trai trẻ, và từ bấy tôi vẫn chưa quên.


Thế là ông ta đưa cho tôi một bộ cung tên, rồi cho tôi cưỡi lên voi ngồi sau lưng ông, dẫn vào một khu rừng rất rộng cách xa thành phố chừng mấy giờ đường. Chúng tôi đi thật sâu vào rừng. Đến lúc dừng lại, ông ta bảo tôi xuống voi. Tiếp đó, trỏ một cây cao, ông ta bảo: "Chú hãy lên ngọn cây này, hễ thấy voi đi thì bắn. Trong rừng này voi nhiều vô số. Nếu bắn ngã được một con nào, về báo tin cho ta biết". Nói xong, ông ta để thức ăn lại cho tôi lên đường trở về thành phố. Còn tôi ở lại ngồi rình suốt cả đêm trên ngọn cây.


Suốt đêm không thấy có con voi nào. Nhưng ngày hôm sau, mặt trời vừa mọc, thấy xuất hiện một đàn voi khá lớn. Tôi bắn nhiều mũi, và cuối cùng một con trúng tên ngã xuống. Các con khác bỏ đi ngay, nhờ vậy tôi được thoải mái về báo ông chủ biết kết quả vừa đạt. Hay tin, ông khao tôi một bữa ngon lành, khen ngợi tài thiện xạ và vỗ về tôi. Xong, chúng tôi cùng đi vào rừng đào một cái hố chôn con voi vừa bị bắn chết. Ông chủ có ý định sẽ trở lại đây sau khi xác con vật đã thối rữa, để lấy ngà đưa đi bán.


Tôi tiếp tục cuộc săn bắn như vậy trong hai tháng. Không ngày nào không giết chết một con voi. Không phải ngày nào cũng phục trên cùng một cây ấy, khi thì ở cây này khi chuyển sang cây khác. Một buổi sáng, tôi đang chờ đàn voi đến thì hết sức ngạc nhiên thấy chúng không đi băng qua rừng ngang trước mặt tôi như thường lệ, mà đứng dừng lại và xông thẳng đến phía tôi với một tiếng ào ào kinh khủng. Đàn voi đông đến nỗi mặt đất kín đặc những voi và rung lên dưới bước chân chúng. Trước cảnh tượng kỳ lạ ấy, tôi sửng sốt và khiếp đảm đến nỗi cung tên tuột khỏi tay rơi xuống đất. Tôi lo sợ không phải không có lý do. Đàn voi sau khi nhìn tôi một lát, một con lớn nhất giơ vòi ôm quàng lấy gốc cây, lắc mạnh, nhổ bật rễ và quật ngã ra đất. Tôi lăn xuống cùng với cây, nhưng con voi đưa vòi ra đỡ, nhấc bổng tôi đặt lên lưng nó. Tôi ngồi trên đó táng đởm kinh hồn, vai vẫn còn mang túi tên. Con voi ấy dẫn đàn đưa tôi đến một nơi, bỏ tôi xuống đất rồi tất cả bỏ đi.


Các vị thử hình dung tình cảnh của tôi lúc đó. Tôi tưởng như mình ngủ mê chứ không phải thức. Cuối cùng, sau khi nằm dài ra một lúc tại chỗ, không thấy còn có voi nữa, tôi đứng lên và nhận ra đây là một quả đồi khá dài và khá rộng, phủ đầy xương voi và ngà voi. Tôi xin thú thật những điều trông thấy làm cho tôi suy nghĩ rất nhiều. Tôi khâm phục bản năng của những con vật ấy. Không nghi ngờ gì nữa, đây chính là nghĩa địa của voi. Chúng đưa tôi đến nhằm chỉ cho tôi biết để tôi thôi không giết hại chúng nữa, bởi vì tôi giết chúng chẳng qua cũng chỉ để lấy ngà mà thôi. Tôi không nán lại trên quả đồi, mà quay trở lại ngay thành phố. Sau khi đi bộ suốt một ngày một đêm, tôi về đến nhà chủ tôi. Dọc đường đi không gặp một con voi nào. Điều đó làm tôi nghĩ rằng chúng đã vào sâu hơn nữa trong rừng, tránh để cho con đường dẫn tôi đến quả đồi có trở ngại.


Ông chủ vừa trông thấy tôi liền kêu lên: "Ôi! Xinbát tội nghiệp ơi, ta rất đau khổ khi biết việc gì đã xảy ra với chú. Ta đã đi vào rừng, trông thấy một cây to vừa bị nhổ bật rễ, dưới đất có cung tên. Sau khi tìm chú mãi không thấy, ta đã tưởng không bao giờ còn được gặp lại chú nữa. Nào, chú hãy thuật lại cho ta nghe điều gì đã xảy ra. Nhờ đâu chú may mắn còn sống sót?".


Tôi thỏa mãn sự hiếu kỳ của ông. Ngày hôm sau cả hai chúng tôi đi đến quả đồi. Ông cực kỳ vui mừng nhận thấy những điều tôi nói là đúng sự thật. Chúng tôi chất cật lực rất nhiều ngà lên lưng con voi chở chúng tôi đến đây. Trên đường về, ông chủ bảo tôi: "Người anh em ạ - ta gọi là người anh em bởi vì ta không muốn đối xử với chú như nô lệ nữa - ta cầu mong sau sự phát hiện của chú nó sẽ làm cho ta giàu có, Thượng đế ban cho chú đủ mọi thứ của cải và phồn vinh. Ta tuyên bố trước Thượng đế rằng ta trả lại tự do cho chú. Ta đã giấu chú không cho chú biết điều chú sắp nghe đây.


Các con voi trong rừng hằng năm vẫn làm cho chúng ta thiệt mất cơ man là nô lệ được sai đi lấy ngà. Dù chúng ta dặn dò chúng thế nào đi nữa, sớm hay muộn rồi chúng cũng bị những con vật tinh khôn ấy làm thiệt mạng. Thượng đế đã giải thoát chú khỏi sự hung tợn của voi và Người chỉ ban phúc ấy cho chú mà thôi. Điều đó chứng tỏ Thượng đế đã thương chú, và còn cần có chú trên trần thế này để chú làm những việc tốt lành. Chú mang lại cho ta một mối lợi không thể tưởng tượng. Từ trước tới nay chúng ta chỉ có thể lấy được ngà voi bằng cách hy sinh tính mạng nô lệ. Bây giờ thế là cả thành phố sẽ giàu lên nhờ chú. Chú chớ tưởng là ta cho rằng trả tự do cho chú như vậy đã đủ thưởng công chú rồi. Ta có thể biếu chú thêm nhiều của cải đáng kể nữa. Ta có thể mời cả thành phố gây dựng cơ đồ cho chú, nhưng ta muốn chỉ riêng mình ta được vinh dự ấy mà thôi".


Nghe những lời nói chí tình ấy, tôi đáp: "Thưa chủ nhân, cầu Thượng đế giữ gìn ngài! Riêng việc trả lại tự do cho tôi đủ đền công tôi rồi.


Để thưởng cho tôi chút công lao mà tôi được vinh hạnh đưa lại cho ngài và cho thành phố ngài, tôi xin phép ngài cho tôi được trở về xứ sở".


- Được lắm! - Ông ta đáp - Gió mùa sắp đưa tàu bè tới đây ăn ngà voi. Lúc ấy, ta sẽ gửi chú về và sẽ cho chú các thứ để đưa về nhà.


Tôi lại cảm ơn ông lần nữa về việc trả lại tự do và những dự định tốt lành đối với tôi. Tôi ở lại nhà ông đợi gió mùa. Trong thời gian ấy chúng tôi tiếp tục đi lấy ngà voi ở quả đồi, nhiều chuyến đến nỗi các kho của ông ta đầy ắp. Tất cả các nhà buôn bán ngà voi đều làm như vậy bởi không thể giấu lâu không cho họ biết sự phát hiện của tôi.


Cuối cùng các tàu buôn đến. Ông chủ của tôi tự mình chọn chiếc tàu sẽ đi, rồi cho xếp lên đến một nửa tàu số ngà voi dành cho tôi. Ông cũng không quên cho đưa xuống tàu nhiều thức ăn, nước uống cần cho chuyến đi. Hơn nữa, ông còn buộc tôi dự những buổi chiêu đãi đắt tiền và nhận những sản vật lạ của địa phương. Tôi hết lời cám ơn lòng tốt của ông, rồi xuống tàu.


Chúng tôi nhổ neo, và bởi những trường hợp khiến cho tôi được trả tự do kỳ lạ quá, đầu óc tôi lúc nào cũng không hết bàng hoàng.


Chúng tôi dừng lại ở một vài hòn đảo để lấy thức ăn tươi. Chiếc tàu trước đây xuất phát từ một cảng thuộc đất liền nước ân Độ, chúng tôi lại về cập bến ấy. Ở đây để tránh những nỗi nguy hiểm trên đường cho đến Banxôra, tôi cho bốc hết số ngà voi của mình, quyết tâm tiếp tục chuyến trở về bằng đường bộ. Tôi bán ngà voi được một số tiền rất lớn, mua nhiều vật hiếm để làm tặng phẩm. Khi đoàn của tôi chuẩn bị xong xuôi, tôi nhập vào một đoàn rất đông các nhà buôn. Đường đi rất lâu dài, trải qua nhiều gian khổ nhưng tôi kiên nhẫn chịu đựng khi nghĩ rằng thế là không còn sợ những cơn bão táp cướp biển, rắn độc và tất cả những cơn hiểm nghèo tôi đã từng trải qua trên biển cả.


Mọi nỗi gian lao ấy rồi cũng qua. Tôi về Bátđa êm đẹp. Trước hết, tôi đến chầu hoàng đế để tường trình về chuyến đi sứ của tôi. Nhà vua nói chuyến đi của tôi quá lâu làm cho Người lo lắng. Tuy vậy Người bao giờ cũng vẫn hy vọng Thượng đế sẽ không bỏ tôi. Khi tôi thuật lại câu chuyện về các con voi, Người tỏ ra hết sức kinh ngạc. Có lẽ Người đã không tin là chuyện có thật nếu không biết rõ sự trung thực của tôi từ trước. Người thấy chuyện ấy và các câu chuyện khác của tôi thuật lại khá kỳ lạ, liền giao cho một viên quan ghi chép lại bằng chữ vàng vào biên niên sử để gìn giữ trong kho tàng của Người.


Tôi ra về, rất hài lòng về vinh dự và những tặng phẩm Người ban cho. Sau đó tôi hoàn toàn dành cuộc sống của mình cho gia đình, bà con và bè bạn.


Xinbát kết thúc câu chuyện kể về chuyến đi thứ bảy và là chuyến đi cuối cùng của ông như vậy đấy. Hướng về Hinbát, ông nói thêm: "Thế nào ông bạn, bạn có bao giờ nghe ai đã từng trải qua nhiều khổ ải bằng tôi không, hoặc có ai đã từng sống trong những tình huống gian nan dường ấy? Sau bấy nhiêu việc làm, tôi hưởng thụ một cuộc sống dễ chịu và bình yên, chẳng phải là điều công bằng sao?".


Ông nói xong, Hinbát tiến đến gần, hôn tay ông và đáp: "Thưa ngài, phải nhận ra rằng ngài đã trải qua nhiều nỗi gian truân khủng khiếp. Nỗi vất vả của tôi không thể so sánh với nỗi vất vả của ngài. Nếu nó có làm cho tôi mệt nhọc trong chốc lát thì tôi cũng còn được an ủi bằng món lợi nhỏ thu được sau đấy. Không những ngài đáng hưởng thụ một cuộc sống an nhàn, mà ngài còn xứng đáng với tất cả những của cải ngài có, bởi vì ngài biết cách sử dụng tiền của hào phóng xiết bao. Xin ngài cứ tiếp tục sống trong niềm vui cho đến trọn đời".


Xinbát lại sai biếu lão một trăm đồng xơcanh. Ông nhận lão vào số bạn bè của mình, bảo lão hãy thôi nghề khuân vác, và từ nay tiếp tục đến ăn cơm tại nhà ông để cho lão có lý do mà trọn đời nhớ tới Xinbát người đi biển.


CHUYỆN BA QUẢ TÁO


Nàng Sêhêrazát nói tiếp:


- Tâu bệ hạ, thiếp từng có dịp hầu bệ hạ chuyện về một chuyến vi hành của hoàng đế Harun An-Rasít. Hôm nay xin được kể về một chuyến vi hành khác của vị hoàng đế ấy:


Một hôm hoàng đế báo cho tể tướng Giafa biết đêm sau ông cần có mặt ở hoàng cung. "Tể tướng à - vua nói - ta muốn đi một vòng quanh kinh thành để thị sát về những điều người ta vẫn tâu với ta, đặc biệt là để xem trăm dân có hài lòng về công việc của các quan tư pháp của ta hay không. Nếu có điều gì dân phàn nàn thì ta sẽ cách chức họ và cử những nhân viên khác có thể làm tốt hơn bổn phận của mình. Ngược lại, nếu dân khen ngợi, thì ta sẽ ban thưởng đích đáng cho họ".


Đến giờ hẹn, tể tướng có mặt tại hoàng cung. Nhà vua, tể tướng và Mêrua, viên chỉ huy các quan hoạn cùng cải trang để chẳng ai có thể nhận ra họ, và cùng ra khỏi cấm thành.


Họ đi qua nhiều quảng trường, chợ búa rồi vào một phố hẹp. Dưới ánh trăng, họ trông thấy một cụ già cao lớn, râu tóc bạc trắng, đầu đội một mớ lưới đánh cá. Một tay cụ mang một cái sọt đan bằng lá cọ, tay kia cầm cái gậy. "Trông cụ già kia thấy rõ không phải là một người giàu có. Chúng ta hãy đến gần và hỏi thử xem gia sản lão ta ra sao?".


- Cụ già ơi, - tể tướng hỏi - cụ là ai?


- Bẩm quan lớn, tôi làm nghề đánh cá, nhưng là người đói khổ nhất, cùng cực nhất trong số những người làm nghề này. Tôi ra khỏi nhà từ giữa trưa để đi đánh cá nhưng cho đến lúc này đây, tôi vẫn không hề đánh được một con mú nào. Ấy thế mà tôi còn có vợ và cả một đàn con, biết lấy gì nuôi chúng nó.


Cảm động, hoàng đế bảo cụ:


- Lão có dám quay trở lại, và tung lưới một lần nữa không? Bất cứ lão đánh được cái gì, ta cũng trả cho lão một trăm xơcanh.


Nghe nói vậy, lão đánh cá quên hết nỗi nhọc nhằn suốt ngày, nhận lời ngay. Cùng với hoàng đế, tể tướng và Mêrua, lão quay lại bên bờ sông Tigơrơ, vừa đi vừa tự nhủ: Trông các vị quan lớn này cũng có vẻ phúc hậu đây. Chắc họ sẽ trả công cho nỗi vất vả của ta. Cho dù họ chỉ trả một phần trăm số tiền họ hứa thôi, ta cũng đủ sung sướng lắm rồi.


Bốn người đến bên bờ sông Tigơrơ. Lão ngư phủ tung lưới, và lát sau kéo lên được một cái hòm đóng kín và khá nặng. Hoàng đế sai tể tướng trả ngay cho lão đánh cá một trăm xơcanh. Theo lệnh vua, Mêrua vác cái hòm lên vai, và bốn người vội vã trở về cung. Hoàng đế nóng lòng muốn biết có gì ở trong hòm.


Đến cung chiếc hòm được cạy nắp, bên trong hòm là một cái sọt lớn đan bằng lá cọ. Nắp sọt được buộc bằng một sợi len màu đỏ. Để thoả mãn sự nôn nóng của hoàng đế, người ta không kịp tháo sợi dây mà dùng dao cắt đứt, rồi lấy ra một vật bọc trong một tấm thảm xấu xí có chằng thừng bên ngoài.


Sau khi tháo sợi thừng và mở gói thảm, mọi người kinh hoàng nhìn thấy thi thể một người phụ nữ da trắng như tuyết đã bị chặt ra thành nhiều khúc.


Hoàng đế vô cùng kinh ngạc trước cảnh tượng khủng khiếp ấy. Nhưng nỗi ngạc nhiên chuyển ngay thành cơn thịnh nộ. Hoàng đế quắc mắt nhìn tể tướng:


- A, tên khốn nạn, ngươi chăm sóc trăm dân của ta như vậy hay sao? Ngươi cai trị thế nào mà để có người dám giết hại con dân của ta ném xuống sông Tigơrơ để đến ngày phán xét cuối cùng những hồn ma ấy sẽ đến đòi ta trả hận? Nếu ngươi không mau chóng tìm cho ra thủ phạm đã giết hại người phụ nữ này và mang nó ra xử tội chết, thì ta thề có Thượng đế chứng giám, ta sẽ treo cổ ngươi cùng với bốn mươi người trong dòng họ ngươi.


- Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ - tể tướng kêu - Xin tâu bệ hạ cho tôi có đủ thời gian để mở cuộc khám xét.


- Ta cho ngươi ba ngày để làm chuyện đó. Ngươi muốn làm thế nào thì làm - hoàng đế đáp.


Tể tướng trở về nhà, lòng rối như tơ vò. "Than ôi! - Ông tự nhủ - Làm sao trong một kinh thành rộng lớn và đông dân như Bátđa này, ta có thể moi từ dưới đất lên một tên sát nhân đã phạm tội ác chắc không có người chứng kiến, và giờ đây chắc đã trốn chạy khỏi kinh thành? Một người nào khác chứ không phải ta có thể đã cho lôi ra khỏi ngục tối một tên khốn nạn nào đấy và trừng trị để làm hài lòng hoàng đế. Nhưng ta không muốn để lương tâm ta cắn rứt về việc sai trái đó. Ta thà chịu chết còn hơn là thoát nạn bằng cách ấy".


Ông ra lệnh cho các quan cảnh sát truy nã thủ phạm. Các viên này cũng lo lắng không kém gì tể tướng, vội cho lính tráng bổ về các nơi tìm kiếm. Nhưng mọi cố gắng của họ đều không mang lại kết quả. Như đáy bể mò kim, tìm đâu ra kẻ sát nhân bây giờ? Thế là tể tướng biết chắc rằng nếu không có trời phù hộ, thì mạng sống của ông đến đây là chấm dứt.


Quả nhiên vậy, đến ngày thứ ba, một viên quan thư lại theo lệnh vua đến nhà vị tể tướng khốn khổ ấy và lệnh cho ông ta phải đi theo. Tể tướng tuân lệnh, đáp lời hỏi của hoàng đế: "Tên sát nhân đâu" tể tướng đành phải tâu, nước mắt đầm đìa: "Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, tôi chưa tìm ra ai có thể cung cấp cho mảy may tin tức".


Hoàng đế lại nổi trận lôi đình, mắng mỏ ông một trận nên thân, rồi ra lệnh treo cổ tể tướng cùng bốn mươi người trong dòng họ ông ngay trước cổng hoàng thành.


Trong khi người ta dựng các cột treo và đi lùng bắt bốn mươi người thuộc dòng họ tể tướng tại các nhà riêng của họ, theo lệnh hoàng đế, một người mang loa đi rao khắp các phố phường:


- Ai muốn xem xử giảo tể tướng Giafa cùng bốn mươi người thuộc dòng họ ông, xin mời tề tựu trước cổng hoàng thành.


Khi mọi việc sửa soạn xong xuôi, một số đông lính cấm vệ dẫn tể tướng cùng bốn mươi người trong dòng họ ông đến dưới chân các cọc dành cho mỗi người. Các sợi dây thòng lọng được quàng vào cổ họ. Dân chúng đến xem đầy quảng trường. Không ai nhìn quang cảnh ấy mà không rơi nước mắt. Bởi tể tướng Giafa cũng như những người trong dòng họ ông xưa nay vốn được dân chúng ái mộ và trọng vọng vì sự công bằng, lượng hào phóng và tính liêm khiết. Không riêng ở kinh thành Bátđa mà khắp cả nước đều yêu kính họ.


Nhưng chẳng có gì ngăn chặn được việc thi hành mệnh lệnh. Không ai dám trái ý của vị quân vương quá ư nghiêm khắc. Người ta sắp kết liễu cuộc đời của bấy nhiêu người trung hậu, thì chợt một chàng trai trẻ khôi ngô ăn mặc chỉnh tề rẽ đám lính canh, chạy đến gần tể tướng, hôn tay ông và nói: "Thưa ngài tể tướng, vị đứng đầu các thượng thư của triều đình, người bênh vực những kẻ nghèo hèn, ngài không đáng phải chịu trọng tội này. Xin ngài hãy lui về và hãy để cho tôi được chịu tội chết về vụ án mạng người đàn bà ấy. Chính tôi là kẻ giết người ấy và tôi đáng bị trừng trị".


Mặc dù những lời nói ấy mang lại nhiều vui thích cho tể tướng, nhưng ông không khỏi thương hại cho chàng trai trẻ. Chàng không có vẻ gì là bộ dạng sát nhân, hơn nữa vẻ mặt còn có dáng hấp dẫn là khác. Ông định há miệng trả lời thì một cụ già khá cao tuổi rẽ đám lính canh, chạy vào và nói.


- Thưa ngài, xin ngài chớ có nghe những lời chàng trai trẻ này nói. Không phải ai khác ngoài tôi là kẻ sát nhân đã giết người đàn bà tìm thấy xác trong chiếc hòm. Chỉ có tôi mới đáng phải đền tội. Nhân danh Thượng đế, tôi van ngài chớ trừng trị kẻ vô tội thay cho hung thủ.


- Thưa ngài - chàng trai trẻ lại nói với tể tướng - tôi xin thề chính tôi là kẻ đã phạm hành động dã man ấy, và tịnh không hề có ai là tòng phạm.


- Con ơi - cụ già ngắt lời chàng - chính sự tuyệt vọng đã đưa con đến đây, con muốn kết liễu sớm cuộc đời. Nhưng ta sống đã quá lâu rồi, ta đáng từ giã cuộc đời này hơn con. Vậy hãy để cho ta chết thay con. Thưa ngài - cụ già quay lại nói với tể tướng - tôi nhắc lại rằng chính tôi là kẻ sát nhân, xin ngài hãy xử tử tôi, đừng chần chừ nữa.


Sự phản bác nhau giữa chàng trai trẻ và cụ già buộc tể tướng phải xin phép viên quan chịu trách nhiệm trông nom việc hành quyết, hãy cho ông ta được dẫn cả hai người đến trước hoàng đế. Viên quan này rất vui lòng chấp thuận.


Đến trước mặt nhà vua, tể tướng phủ phục hôn mặt đất bảy lần và tâu như sau: "Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, thần xin đưa đến bệ hạ cụ già và chàng trai trẻ này, người nào cũng khăng nhận mình là thủ phạm duy nhất và giết hại dã man người đàn bà rồi ném xác xuống dòng sông Tigơrơ. Chàng trai trẻ nói là chính anh ta, song cụ già thì bảo ngược lại".


Hoàng đế truyền cho tể tướng:


- Đã vậy thì cho treo cổ cả hai tên.


- Nhưng tâu bệ hạ - tể tướng đáp - chỉ có một kẻ sát nhân mà xử cả hai thì bất công.


Nghe vậy, chàng trai trẻ nói: "Tôi xin thề, nhân danh Thượng đế tối thiêng liêng, rằng chính tôi đã giết người phụ nữ, chặt ra làm nhiều khúc và ném xuống sông Tigơrơ cách đây bốn ngày. Tôi không muốn bị xử phạt vì đã nói sai sự thật trong ngày phán xét cuối cùng, bởi vậy chính tôi là kẻ đáng bị trừng trị".


Ngạc nhiên về lời thề, hoàng đế tin anh chàng nói thật, nhất là khi không thấy cụ già đáp lại điều gì. Bởi vậy, quay về phía chàng trai, hoàng đế hỏi:


- Tên khốn nạn kia, căn cớ gì mày phạm tội ác ghê tởm ấy, và vì lý do gì mày đến đây xin chịu tội chết?


- Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ - chàng trai đáp - câu chuyện giữa tôi và người phụ nữ ấy nếu được chép ra hẳn sẽ rất bổ ích cho người đời.


- Vậy ngươi hãy kể ta nghe, ta ra lệnh cho ngươi đó - hoàng đế phán.


Tuân lệnh vua, chàng trai trẻ bắt đầu câu chuyện như sau:


(còn tiếp)


Nguồn: Nghìn lẻ một đêm. Phan Quang dịch từ bản tiếng Pháp của Antoine Galland: LES MILLE ET UNE NUITS. NXB Văn học in lần thứ 29, phát hành tháng 01-2012.  


www.trieuxuan.info





[1] Tức là Xalômông.




[2] Một nhà vua trên hòn đảo cùng tên, ở biển ấn Độ, rất nổi tiếng trong người A Rập về sự hùng mạnh và tài trí.




[3] Cairô, Xuyê, Alếchzanđri: các thành phố lớn thuộc Ai Cập, Cufa là thành phố thuộc Irắc, trên nhánh phía tây của sông Ơphơrat, cách Bátđa năm mươi dặm về tây nam. Đấy là những trung tâm buôn bán lớn thời trung cổ (ND).




trieuxuan.info