Những bài báo
02.07.2017
Nguyễn Thái Thanh
Tây Tạng du ký

Chiếc khăn lụa trắng


Trước chuyến đi, tôi đã có những thời khắc phập phồng lo âu, e ngại rằng mình không thể đặt chân đến Tây Tạng. Nhà tổ chức- Cty du lịch Hương Băng- chắc không biết rằng tôi là một người ủng hộ phong trào “Free Tibet”, từng ký tên vào các thỉnh nguyện thư phản đối Trung Quốc trong những sự kiện như Larung Gar..., từng bấm rất nhiều icon khóc cũng như ‘like’trên FB cho các phong trào này... Tôi tự hỏi: “Có khi nào hải quan cửa khẩu TQ giữ mình lại và tống về nước không ta...?”


Điều đó đã không xảy ra. Trên đất TQ người ta không xài Google, Yahoo, Youtube, Facebook... nên cũng chẳng quan tâm các mạng xã hội ấy nói gì! Từ Hà Nội, chúng tôi bay đến Thành Đô (Chengdu), nghỉ một đêm rồi sáng hôm sau bay đi L’Hasa. Các nhân viên cửa khẩu nhẹ nhõm, tươi cười, không khí thoải mái như bất kỳ một sân bay quốc tế nào khác ở châu Âu chứ không có vẻ đe dọa và “hình sự” như ấn tượng tôi còn lưu giữ khi đến Bắc Kinh hơn 10 năm trước.


Máy bay Vietnam Airlines từ Nội Bài đến Chengdu ngày 21/6 rất vắng khách. Đoàn chúng tôi gồm 11 người, ai nấy đều có thể nằm dài thoải mái trên 3 cái ghế. Từ Chengdu đến L’Hasa đông hơn một chút, nhưng cũng còn nhiều ghế trống. Buổi tối hôm ấy, khi nghỉ ở Holiday Inn Express Chengdu, chúng tôi đã được yêu cầu uống mỗi ngày 2 chai Hồng Cảnh Thiên, mỗi chai 10ml để chống shock độ cao khi tới L’Hasa. Có thể nói ai nấy đều “trang bị tận răng” trước khi đến Tây Tạng, nhưng vẫn không khỏi bất ngờ.


Sân bay L’Hasa được bao vây bởi trùng điệp những dãy núi đá màu nâu xám chứ không xanh màu cây rừng như Dalat hoặc Sapa. Cả đoàn được đón tiếp với nghi thức đặc biệt của người Tây Tạng, anh hướng dẫn Dan Zeng lần lượt choàng lên cổ mỗi người một chiếc khăn lụa trắng ngay tại sân bay, kèm theo những lời chúc tụng. Thực ra thì chỉ đoán vậy thôi chứ Dan Zeng nói nhanh và nhiều đến nỗi lắm khi tôi chẳng biết có phải là anh ấy nói tiếng Anh hay không nữa!


Đường từ sân bay vào trung tâm L’Hasa phải đi qua nhiều hầm xuyên núi. Đường xá khá tốt. Giòng sông Yarlung Tsangpo chảy bên cạnh, theo lời giới thiệu thì đây là con sông cao nhất thế giới so với mặt nước biển, và là giòng sông thánh của Tây Tạng. Chảy từ Himalaya xuống, suốt 40 triệu năm qua sông đã gìn giữ những mầm sống hiếm hoi trên mảnh đất khắc nghiệt này. Gần tới thành phố, sông cũng được gọi tên là L’Hasa, chan hòa trên những cánh đồng hoa cải vàng xen lẫn với lavender tím, và thỉnh thoảng có một chú bò lông dài đang gặm cỏ.


Thế nhưng ngay lúc ấy, dầu mỗi người đã được phát 1 bình oxy để thở, tôi đã rơi vào một cơn váng vất vì chưa quen với độ cao, chỉ muốn dựa vào một cái gì đó, nhắm mắt lại và thở...


Mới chỉ là buổi trưa ở L’Hasa. HDV Steven Hong của Sài Gòn và Dan Zeng dẫn chúng tôi đi ăn rồi đề nghị đoàn nghỉ ngơi vài giờ trước khi đi thăm chùa Jokhang tức Đại Chiêu và dạo phố cổ vào buổi chiều.


Chương trình có vẻ rất hấp dẫn, nhưng tôi đã lẳng lặng vào phòng, nhảy lên giường và làm một giấc dài, cho đến khi mọi người đi chơi về và gọi đi ăn tối.


Kết quả là đêm hôm ấy đoàn ta có một màn nhức đầu dữ dội và chóng mặt tập thể, thậm chí có người chỉ muốn nôn ói. Riêng tôi thì đêm ấy khá ổn! Số là khi quyết định đi Tây Tạng, tôi có theo dõi một số kinh nghiệm của các phượt thủ trên FB. Các bạn ấy khuyên là ngày đầu tiên đến L’Hasa đừng di chuyển nhiều, cứ nằm yên một chỗ. Đoàn ta vì ham vui, bỏ qua các lời khuyên, đành phải “trả giá” vậy thôi!


Nhưng "gian khổ " còn dài lắm, nhất là sáng hôm sau, khi chúng tôi đi thăm Cung điện Potala....


CÂU CHUYỆN Ở POTALA


Anh Dan Zeng, hướng dẫn viên người Tây Tạng nói về Cung điện Potala với vẻ tự hào chất ngất: "Đây là cung điện nằm ở nơi cao nhất thế giới, và cũng chứa đựng những bảo vật, châu báu quý giá nhất. Chỉ riêng một viên bạch ngọc, lấy từ óc một con khổng tượng, được gắn trên linh tháp của đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 5 Lobsang Gyatso cũng có giá trị ngang với ½ thành phố Thượng Hải!”


Tất nhiên là sự so sánh này có vẻ không thực tế lắm, nhưng Cung điện Potala thực sự là một kỳ quan kiến trúc của thế giới. Nằm ở độ cao trung bình 3.700m so với mặt nước biển, cung điện cao 117m, bề ngang từ đông sang tây là 360m, chiều rộng theo trục bắc - nam là 270m. Tổng thể gồm 13 tầng, chia thành 1000 căn phòng nhỏ. Potala nằm trên ngọn đồi Marpori cao 91m so với mặt bằng thành phố. Ngọn đồi này tượng trưng cho Quán Thế Âm Bồ Tát, vị thần bảo hộ đất Tây Tạng, và là 1 trong 3 ngọn đồi thiêng của thủ đô L’hasa. Riêng cái tên Potala thì bắt nguồn từ Phổ Đà Lạc Ca sơn, một cung điện ở Nam Ấn Độ. Ông vua lừng lẫy của Tây Tạng, Songtsen Gampo (tức Tùng Tán Cán Bố) bắt đầu xây dựng cung điện Potala khoảng năm 581, với quy mô nhỏ hơn so với hiện nay. Thế mạnh của nhà vua và đất nước Tây Tạng lúc bấy giờ, mang tên là Thổ Phồn - cũng đồng thời cho phép ông cưới cả công chúa Văn Thành của nhà Đường lẫn công chúa Xích Tôn của Nepal. Hai nàng công chúa này đều sinh trưởng ở các vùng đất văn hóa phát triển, thịnh hành Phật giáo. Đến đất Tạng, họ đã mang theo tượng Phật, kinh sách và tạo nên ảnh hưởng không nhỏ đến nhà vua và người dân của ông.


Buổi sáng ngày thứ hai ở L’Hasa, chúng tôi có mặt lúc 9g tại cổng Potala với áo ấm, khăn choàng...và hết sức ngạc nhiên khi thấy quanh mình, rất đông người Tạng đang lũ lượt, mải miết đi thành hàng dài quanh cung điện. Họ xoay những ống kinh bên lối đi, hoặc mỗi người cầm một ống kinh nhỏ, vừa xoay vừa cầu nguyện. HDV Steven Hong giải thích: thời điểm này đang là lúc người Tạng làm lễ cúng Bồ tát Quán Thế Âm, họ thường đi kinh hành quanh cung điện hoặc đi một vòng lớn hơn, quanh thành phố L’Hasa.


Tôi đứng nhìn rất lâu những người Tạng “tam bộ nhất bái” nằm sát xuống mặt đất, hoặc những người đàn ông, đàn bà tóc đã hoa râm, đứng sát hàng rào, quay mặt về phía cung điện thầm thì cầu nguyện! Không khỏi tự hỏi trong lòng họ đang dâng lên những ước vọng gì? Vị lãnh tụ tinh thần của họ, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 Tenzin Gyatso sau cuộc khởi nghĩa thất bại vào năm 1959 đã phải lưu vong sang Dharamsala , Ấn Độ. Ngài vốn nổi tiếng với những bài pháp thoại sâu xa, giờ này có lẽ đang trò chuyện đâu đó với Phật tử ở châu Âu, châu Mỹ ... Trên mảnh đất Tibet này, có còn lại chăng là các vị Ban Thiền Lạt Ma đang cùng chia với họ nỗi hận mất nước.


Cung điện Potala, vốn được xem là biểu tượng quyền lực gắn liền với các đời Tạng Vương và Đạt Lai Lạt Ma, giờ đây đã trở thành một nơi lũ lượt khách tham quan. Chúng tôi phải chờ đợi rất lâu mới đặt được chân lên những bậc đá dẫn vào cung điện. Cung Potala gồm 3 phần: Khu cung thành phía trước núi, khu cung thất trên đỉnh núi và khu hồ phía sau núi. Cung thành phía trước có 3 cửa đông, nam, tây và 2 gác lầu, có thể nhìn thấy trong hình chụp.


Chống chọi với cơn shock độ cao, tôi vừa thở hào hển vừa leo lên nhũng bực thang trên con đường bằng đá rộng dẫn tới khu cung thất. Đây là một quần thể kiến trúc lớn gồm Bạch Cung và Xích Cung. Bạch Cung- sơn màu trắng, phục vụ các sinh hoạt chính trị và tôn giáo của Đạt-lai Lạt-ma. Còn Xích Cung- sơn màu đỏ, bao gồm các điện thờ đặt các Phật tháp và linh tháp, đựng hài cốt các Đạt-lai Lạt-ma đã viên tịch cùng một số sảnh điện khác.


Quy mô lớn lao như hiện nay là công trình của vị Đạt-lai Lạt-ma thứ 5 Lobsang Gyatso (1642-1682), được xem là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát. Potala được khởi công xây dựng lại vào năm 1645 sau một trận hỏa hoạn và phải mất hơn 50 năm mới hoàn tất. Vật liệu xây dựng cung điện là đá, gỗ, và bùn. Tường cung điện rất dày, trung bình khoảng 2,5m, được khảm bằng những khối đá. HDV Dan Zeng giới thiệu với chúng tôi lớp mái rất dày, được lợp bằng cỏ Bạch Mã, nhẹ và bền chắc với thời gian. Bước vào trong cung điện, chúng tôi không được phép chụp hình, chỉ lặng lẽ chiêm ngưỡng các bảo vật trong kho tàng quý giá của người Tạng trong ánh sáng mờ nhạt của những ngọn đèn thắp bằng mỡ bò. Trong đoàn người nối đuôi nhau bước qua những căn phòng nhỏ có bậc thang gỗ dẫn lên cao, hoặc xuống thấp trong cung điện, tôi nhìn thấy một vài người đàn bà ôm theo các bình mỡ bò màu vàng nghệ để châm thêm vào những cây đèn đang cháy, tỏa mùi ngộp thở. Rất nhiều châu báu được khảm trên các linh tháp đã bị bụi phủ mờ, các pho tượng bằng vàng, bạc cũng đã nhuốm màu thời gian bạc thếch. Trên lối đi, thỉnh thoảng tôi giật mình vì nhận ra trong hốc tối mình vừa đi qua có một vị lạt ma đang ngồi thiền định!


Kể ra thì được hít thở không khí bên ngoài những căn phòng cũ kỹ cả trăm năm ấy, dễ chịu hơn nhiều. Đứng trong những luồng gió thốc vào cổ áo lạnh tê, tôi ngắm nhìn màu son đỏ, màu tường của Xích cung ở Potala cũng như màu áo các vị lạt ma, mà theo văn hóa người Tạng, là biểu trưng cho quyền lực. Còn Bạch cung với những bức tường đá trát đất sét trắng, được xem là biểu tượng của hòa bình. Dan Zeng nói, mỗi năm trước ngày lễ Quán Thế Âm 23/9 theo lịch Tạng, người ta lại xối lên những bức tường một hỗn hợp màu trắng gồm vôi, sữa, mật ong... để giữ cho tường luôn mới mẻ, bền chắc.


Một vòng thăm cung điện Potala mất khoảng 2 tiếng rưỡi, và tất nhiên cũng chỉ là cưỡi ngựa xem hoa, bởi lối đi hẹp, tối và những người đi sau luôn ùn tới sau lưng bạn. Trên đường về, từ trên cao nhìn xuống chân cung điện Potala, tôi chợt có một cảm giác gần như là thất vọng. Potala trong giấc mơ rất nhiều năm của tôi là một hình ảnh lạ lùng, tinh khiết và xa cách trần thế. Còn bây giờ, ngay dưới chân cung điện là con đường mang tên Beijing đông nghẹt xe cộ, tràn ngập những bảng hiệu tiếng Hoa, pano của những thương hiệu nổi tiếng thế giới. Thậm chí ngay trước Potala có khi còn kẹt xe một đoạn dài.


Hỏi làm sao mà người Tạng không buồn, cứ đứng cầu nguyện mãi bên bờ rào...


(Còn tiếp)


 


Thai Thanh Nguyen facebook

trieuxuan.info