17.08.2015
Vũ Đình Phòng
Viết kịch về Bác Hồ


Nhà văn Triệu Xuân: Bài này tôi chưa biên tập. Còn lỗi chính tả!


Một hôm, hình như vào năm 2010, Đài Truyền hình VTV1 gọi điện cho tôi, báo chuẩn bị để Thứ Ba tuần sau, Đài sẽ cử phóng viên đến phỏng vấn tôi về những suy nghĩ khi viết "Người Công Dân Số Một", vở kịch đầu tiên về Bác. Thoạt đầu tôi từ chối vì tôi rất ngại trả lời các cuộc phỏng vấn. Tôi rất lúng túng mỗi khi phải ứng khẩu. Nhưng anh cán bộ Đài Truyền hình tỏ ra hết sức kiên quyết, tôi không tìm ra được lý do để từ chối, đành phải đồng ý.



            Sáng hôm hẹn, tôi lại hoảng hồn khi thấy không phải chỉ phóng viên với chiếc máy ghi âm cầm tay mà cả một "đoàn" lỉnh kỉnh máy móc : mấy chiếc đèn rọi, mấy chiếc micro... Không khí "trịnh trọng" quá làm tôi bối rối. Đến khi phóng viên hỏi : "Nhà văn suy nghĩ thế nào khi viết về Bác Hồ ?" tôi vẫn chưa hết cơn ngỡ ngàng. Bao nhiêu điều đã chuẩn bị trong óc biến đâu mất sạch. Do mất bình tĩnh, đầu óc rối tung, tôi trả lời ấp úng, lộn xộn, rối rắm, câu được câu chăng khiến cô phóng viên giầu kinh nghiệm hẳn cũng không ngờ một nhà văn, một đạo diễn mà nói năng câu cú lủng củng như thế.



            Nhưng cũng từ hôm ấy tôi mới nhớ lại. Ý nghĩ viết về Bác nảy sinh từ khi tôi được đọc bản thảo tác phẩm "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch". ..



            Bấy giờ là năm 1955, ra khỏi quân đội, tôi may mắn được chuyển ngành về Bộ Văn hóa[1] và nhận công tác tại Phòng Quản lý Xuất bản của Nhà In Quốc Gia[2]. Vào thời điểm ấy, các nhà xuất bản chỉ làm công việc biên tập, rồi gửi bản thảo đến chỗ chúng tôi làm tiếp các khâu cho đến khi ấn phẩm đến tay người đọc : từ rà soát bản thảo lần cuối cùng, cho đánh máy lại, thuê họa sĩ vẽ bìa, đếm số trang để định giá bán, tạm xếp loại để định số lượng in, chuyển đến nhà in, xem lại bản mo-rat cuối cùng, ký giấy cho in, rồi báo cho cơ quan phát hành biết để phân phối cho các hiệu sách trong toàn quốc...



            Mỗi ngày, Phòng Quản lý Xuất bản chúng tôi nhận được hàng chục bản thảo từ các nhà xuất bản, các cơ quan nhà nước... Công việc này hoàn toàn hợp với sở thích của tôi : được tiếp cận với hoạt động văn học nghệ thuật để học hỏi, và nó còn nhen nhúm cho tôi niềm hy vọng đã le lói từ nhỏ là một ngày nào sẽ có tên in trên bìa một cuốn sách. Tôi đã sung sướng biết bao khi được gặp gỡ nhiều nhà văn, nhà thơ qua công việc biên tập, xuất bản những tác phẩm của họ. Đã qua tay tôi vô số tác phẩm giá trị : "Truyện Tây-Bắc" của Tô Hoài, "Người người lớp lớp" của Trần Dần, "Vượt Côn Đảo" của Phùng Quán, vân vân và vân vân... Tôi còn được gặp gỡ và làm việc với nhiều họa sĩ tầm cỡ để đặt họ vẽ bìa cho sách : Văn Cao, Trần Văn Cẩn, Lương Xuân Nhị, Linh Chi ...



            Nhưng đến một hôm, trong chồng bản thảo được gửi đến có một bản thảo thu hút sự chú ý đặc biệt của tất cả anh em trong Phòng. Chính là bản thảo cuốn "Những mẩu chuyện..." đã nói đến ở trên, do Nhà xuất bản Sự thật gửi đến. Người đầu tiên cầm bản thảo ấy lên, vừa liếc nhìn đã reo to : "Sách về Bác Hồ, các cậu ơi !" Thế là tất cả bỏ công việc đang làm, lao đến, tranh nhau xem. Điều ấy rất dễ hiểu : anh em chúng tôi ngưỡng mộ Bác từ lâu nhưng đều khao khát được biết thêm về Người. Những điều chúng tôi biết phần lớn chỉ qua những lời kể lẻ tẻ và chưa được kiểm chứng. Bây giờ đã có người viết khá chi tiết, mà bản thảo lại của Nhà Xuất bản Sự thật, có nghĩa tư liệu tuyệt đối chính xác.



            Duy có một điều khiến chúng tôi băn khoăn, bàn tán mãi :  tên tác giả bản thảo nghe rất lạ tai : "Trần Dân Tiên". Lúc đầu chúng tôi tưởng đánh máy thiếu dấu sắc, phải là "Trần Dân Tiến", sau mới biết đúng là Trần Dân Tiên. Rõ ràng không phải tên thật. Của ai được nhỉ ? Một cán bộ Ban tuyên giáo chăng ? Rất có thể là nhà thơ Tố Hữu. Nhưng không phải. Chắc phải là một người đã từng hoạt động với Bác nhiều thập kỷ trước. Cái tên "Tiên" nghe rất lạ tai. Trần Dân Tiên chắc phải là nam giới, nhưng nam giới Việt Nam hiếm ai tên là "Tiên". Đoán già đoán non, mỗi người một ý. Có người bảo tên "Dân Tiên" nghe gần với "Dật Tiên". Hay tác giả là người Hoa hoặc người Việt nhưng hoạt động lâu năm ở Trung Hoa ? Phải rất lâu sau này, khi sách đã ra và đến tay người đọc nhiều năm, tôi mới nghe nói tác giả chính là Bác. Nhưng cũng phải đến lúc gặp ông Hà Huy Giáp, khi tôi đến đọc kịch bản để ông nghe và góp ý kiến, tôi mới dám tin tác giả cuốn sách ấy chính là Bác Hồ. Có thế chứ ! Ngoài Bác ra ai mà biết được đầy đủ quá trình hoạt động cách mạng của Người như thế.



            Được ông Trưởng Phòng Quản Lý Xuất bản giao cho "làm" cuốn sách, tôi lập tức bắt tay vào việc. Bản thảo đánh máy rất cẩn thận, nhìn qua đã thấy Nhà Xuất bản Sự Thật trân trọng bản thảo này đến mức nào. Càng đọc tôi càng bị cuốn hút. Tôi đọc đi đọc lại đến mức gần như thuộc lòng... Chính nó đã gợi cho tôi ý tưởng viết về Bác. Thoạt đầu tôi thử viết một truyện ngắn có nhân vật Bác, dựa theo một số tình tiết trong đoạn kể về Bác ở Pắc Bó, rồi mở rộng ra... Một cậu bé dân tộc Tày chăn trâu ở Pắc Bó tình cờ gặp và trò chuyện với ông Ké và sau đấy cậu đã hiểu ra mình phải đối xử với cha mẹ, anh chị em như thế nào...



            Đang loay hoay dập xóa, thêm bớt với cái truyện ngắn đầu tay ấy thì công việc phải dừng lại. Nhà In Quốc Gia bị giải thể. Nhân viên trong cơ quan lần lượt được chuyển đi nơi khác, một số đi học. Tôi được cho theo học một khóa tiếng Nga ở Trường Trung cấp Ngoại ngữ bên Gia Lâm. Truyện ngắn về cậu bé và ông Ké ở Pắc Bó đành bỏ dở.



            Học đã vất vả, sau đấy về nhận công tác tại Vụ Nghệ thuật, công việc cũng không nhàn nhã hơn. Ít lâu sau, tôi lại được Bộ cho đi đào tạo nghề đạo diễn sân khấu tại trường Đại học Nghệ thuật Sân khấu ở Moskva. Phải đến khi mọi thứ đã tạm ổn, ý định viết về Bác Hồ mới trở lại, nhưng lần này không phải truyện ngắn mà là kịch. Tại sao ?



            Chẳng là trong khi tìm hiểu nghệ thuật biên kịch, tôi thấy một thể loại kịch rất hợp cho việc khai thác chất liệu trong cuốn "Những mẩu chuyện...". Đấy là thể loại "kịch biên niên". Thể loại này gần với truyện ở chỗ không đòi hỏi hành động kịch phải tập trung, xoay quanh một xung đột, mà có thể trải rộng trong một quãng thời gian dài, có khi hàng chục năm, và diễn ra tại nhiều địa điểm cách xa nhau... Do đấy, ngòi bút được phép thoải mái hơn, không phải gò ép vào cái khung cứng nhắc "tam duy nhât" nữa. Thể loại kịch biên niên này hoàn toàn thích hợp để chuyển dịch "Những mẩu chuyện..." sang dạng kịch bản.



            Hình mẫu cho thể loại kịch này, tôi thấy trong những vở kịch biên niên của Shakespeare, và trong rất nhiều kịch bản của các tác giả xô-viết. Trong số này, kịch bản "Những Năm Tháng Trôi qua" của A. Arbuzov khiến tôi chú ý nhất. Kịch bản này viết về quá trình "lưu lạc" của một nhóm bè bạn trong thời gian Chiến tranh Vệ quốc của Liên Xô[3]. Đề tài chiến tranh rất gần với những kỷ niệm của tôi khi còn trong quân ngũ. Tôi đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần. Chính vở kịch này đã gợi ý cho tôi viết một vở kịch về một tốp thanh niên Hà Nội, cũng "lưu lạc" trên những nẻo đường của cuộc Kháng chiến chống Pháp 1946-1954. Cốt truyện kịch tôi đã có sẵn trong đầu từ khi đơn vị tôi về tiếp quản Thủ đô, nay tôi đem thực hiện, mục đích chính là để thí nghiệm và tập dượt các kỹ xảo viết thể loại "kịch biên niên". Do cốt truyện gần như đã hình thành sẵn trong đầu, ngòi bút của tôi khá thoải mái lướt trên trang giấy. Và khi đọc lại, tôi thấy khá ổn. Tất nhiên đây mới là phác thảo, còn cần sửa chữa, thêm bớt nhiều. Dù sao tôi cũng vui mừng nhận ra rằng thể loại biên niên này rất hợp với tôi[4]. Và tôi nẩy ý định : từ kinh nghiệm này viết một vở kịch biên niên dựa theo chất liệu trong cuốn "Những Mẩu chuyện..."



            Năm cuối ở Trường Sân khấu Liên Xô quá vất vả, tôi mới chỉ phác qua bố cục và phác qua vài lớp thì phải ngưng lại, tính khi về nước sẽ tiếp tục. Khốn nỗi về nước, tôi cũng chưa rảnh rỗi được. Nghề chuyên môn tôi được đào tạo chính quy đâu phải nghề biên kịch mà là nghề đạo diễn. Công việc dồn dập, luôn phải làm việc ở các địa phương, hết dựng tiết mục cho đoàn Kịch tỉnh này lại dựng tiết mục cho đoàn Chèo tỉnh kia, đoàn Cải lương tỉnh nọ. Tôi chỉ có thể dành rất ít thời gian giữa hai đợt dàn dựng cho việc viết. Đúng lúc ấy, một đề tài khác lại cuốn hút tôi hơn, vì tính thời sự của nó và vì vốn sống khá phong phú của tôi về cuộc sống nông dân. Đấy là đề tài về tiến hành cách mạng khoa học kỹ thuật ở nông thôn. Tôi bắt tay vào viết về đề tài này, cũng sử dụng thủ pháp của kịch biên niên. Vở được viết khá nhanh và hoàn thành vào đầu năm 1975, tôi lấy tên là "Sao Thần Nông". Vậy là vẫn chưa có thời giờ thực hiện ý đồ viết vở kịch về Bác Hồ mà tôi cảm thấy quá khó.



            Giữa lúc ấy, tình hình chiến sự diễn biến nhanh chóng. Quân đội ta tốc chiến tốc thắng tiến thẳng về phía Nam, giải phóng hết tỉnh này đến tỉnh khác. Cuối cùng là Sài Gòn. Xe tăng quân đội ta tiến vào Dinh Độc Lập. Cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc tòa nhà kiên cố ấy. Chế độ miền Nam sụp đổ. Tổ quốc hoàn toàn độc lập, thống nhất. Lịch sử dân tộc mở ra một trang mới đầy triển vọng huy hoàng...



            Trong niềm hân hoan chung ấy, giới nghệ sĩ sân khấu hào hứng xây dựng những tiết mục ca ngợi Tổ Quốc Anh hùng. Riêng tôi thấy đã có đà để làm tiếp vở kịch về Bác Hồ. Tôi lấy bản bố cục đã phác qua từ hồi học ở Liên Xô, cân nhắc. Rồi đọc lại cuốn "Những Mẩu chuyện...".



            Cảm thấy vốn sống còn ít ỏi khó phóng bút, tôi tính sẽ bám sát từng sự việc trong cuốn sách, chỉ thêm lời đối thoại cho các nhân vật. Cảnh mở đầu là khi Bác lần đầu đặt chân lên đất Nga. Hành động kịch diễn ra trên bến cảng Leningrad. Trong cảnh này tôi tạo vài lớp "gây không khí" chuẩn bị cho sự kiện chính : Bác xuất hiện. Lớp đầu : một tốp thủy thủ chờ đón con tầu biển nước ngoài sắp cập bến. Vừa làm họ vừa bình luận, tranh cãi sôi nổi về những sự kiện chính trị đang diễn ra trên đất nước xô-viết, rồi về bệnh tình trầm trọng của Lênin... Lớp hai : mấy nhân viên Ủy ban Đặc biệt Toàn Nga giải một tên sĩ quan Bạch vệ đi ngang qua, hắn bị mọi người la ó, chưởi rủa... Cuối cùng là Bác của chúng ta xuất hiện, lúc ấy còn là một chàng trai khôi ngô, tuổi mới ngoài 30, khuôn mặt gầy, dáng nhanh nhẹn, mặc bộ âu phục dản dị,  đội mũ "phớt", tay xách chiếc va-li nhỏ...



            Thấy cảnh đầu xem chừng đã tạm ổn, tôi viết sang cảnh tiếp theo... Phác ra xong vài cảnh, đọc lại thấy chưa ổn, tôi tạm gác lại để suy nghĩ thêm. Tôi hiểu viết về Bác là một trách nhiệm quá lớn, có lúc đã định bỏ. Nhưng tôi nghĩ, mình viết trước hết là "cho mình", để tự khẳng định với bản thân và để thỏa mãn ý thích, còn sau này có được dàn dựng và biểu diễn hay không, thành công hay thất bại là chuyện không quan trọng. Nhất là thành công về tài chính lại càng không. Bởi tôi nghĩ, để sống thì đã có lương nhà nước, lại thêm thù lao đạo diễn, cũng tạm đủ. Nếu thiếu thì có thể dịch để kiếm thêm. Còn viết là công việc hoàn toàn tự nguyện và tự ý, không cần quan tâm đến có ai sử dụng không và kết quả thế nào. Cách suy nghĩ ấy cho phép tôi được hoàn toàn tự do viết theo ý mình, không bị bất cứ một sức ép nào. Tuy nhiên nó cũng có mặt trái là tôi dễ dàng gác lại mỗi khi có một công việc khác hữu dụng hơn.



            Đầu năm 1976 đột nhiên Sở Văn hóa Quảng Ninh quyết định xây dựng tiết mục cho Đoàn Kịch của Tỉnh bằng cách sử dụng kịch bản "Sao Thần Nông" của tôi và mời tôi làm đạo diễn luôn. Công việc lại bận rộn, nhưng may thay, khi nghe có tiết mục mới vừa hoàn thành, lãnh đạo Bộ[5] yêu cầu diễn thử cho xem. Xem xong, các vị khen ngợi hết lời và hứa sẽ giới thiệu với Ban Trù bị Đại Hội Đảng sắp tới để làm tiết mục chào mừng Đại hội. Không ngờ buổi diễn cho Ban Trù bị đạt thành công tốt đẹp ngoài dự đoán của tôi khiến tôi rất vui và cũng cho tôi được rảnh rang để tiếp tục làm công việc sáng tác.



            Niềm vui đang bao trùm khắp đất nước. Các đoàn sân khấu hồ hởi đua nhau xây dựng tiết mục mới ca ngợi Tổ Quốc. Đề tài lịch sử đang thu hút sự chú ý đặc biệt. Tôi thấy phải gác lại mọi công việc, dành toàn bộ công sức cho kịch bản về Bác Hồ.



            Lấy bản nháp đã viết ra đọc lại, tôi thấy không thể mở đầu bằng cảnh Bác đặt chân lên đất nước của Lenin... Cần có một hoặc hai cảnh kịch xảy ra trước đấy, thể hiện hoạt động của Người ở Tây Âu. Thậm chí cảnh mở đầu có thể xảy ra tại Sai-gòn, khi Bác quyết định rời Tổ Quốc để "xem các nước".



            Tôi bèn bố cục lại : cảnh mở đầu (Cảnh Một) xảy ra tại Sài-gòn, trong một ngôi nhà nhỏ ở xóm nghèo, nơi Nguyễn đến tạm trú với một người bạn. Anh quyết định xin làm chân phụ bếp trên con tầu biển sắp rời Đông Dương. Thân sinh người bạn của anh là một nhà nho già yêu nước nhưng đã mất hết hy vọng cứu nước. Đến đây tôi sực nhớ đến ông nội tôi. Thuở nhỏ tôi đã nhìn thấy ông nội tôi dán một tờ giấy hồng điều rất to, trên viết một chữ Hán đại tự bằng mực Tàu. Tôi hỏi chữ gì thì ông nội tôi chỉ cười, không nói. Cha tôi bảo đấy là chữ "NHẪN" ! Cảnh mở đầu này tôi cũng đặt hành động trên cái nền trang trí có một chữ Hán : "NHẪN" rất to bằng mực đen viết trên tờ giấy đỏ dán trên vách... Trong Cảnh là cuộc trao đổi giữa nhà nho già bi quan về thời cuộc với Nguyễn và giữa anh với người bạn thân, con trai cụ, nhằm thể hiện sự "chuyển giao thế hệ" giữa lớp người yêu nước "Văn thân" với lớp trẻ. Vở kịch có được sự mở đầu tốt nên phát triển rất thuận lợi.



            Đúng vào thời điểm ấy, báo chí đăng thông báo sẽ triệu tập Đại hội Đại biểu Đảng Khóa IV. Giới sân khấu càng hăng hái, sôi nổi viết và dàn dựng để ca ngợi chiến thắng và thống nhất đất nước, chào mừng Đại hội. Bộ Văn hóa và Cục Biểu diễn Nghệ thuật của Bộ cùng với Hội Nghệ sĩ Sân khấu chủ trương phải có một món quà dâng lên Đại Hội. Mấy cuộc họp gồm lãnh đạo các đoàn sân khấu ở Trung Ương cùng với một số nhà biên kịch và đạo diễn có uy tín đã được triệu tập, nhưng qua mấy cuộc họp, câu hỏi "chọn tiết mục nào" vẫn chưa có lời giải.



            Đến cuộc họp cuối cùng. Thứ trưởng Bộ Văn hóa Cù Huy Cận chủ trì, tuyên bố, việc chọn tiết mục nào để dâng lên Đại Hội phải giải quyết dứt điểm trong cuộc họp này, bởi từ nay đến Đại Hội thời gian không còn nhiều, mà việc xây dựng tiết mục không đơn giản, nào chỉnh đốn kịch bản, dàn tập, nào đóng trang trí, may trang phục v.v... Nếu trong ngày hôm nay không quyết định được thì đành bỏ ý định "dâng quà" lên Đại hội vậy.



            Trước tiên là điểm lại tất cả những tiết mục sân khấu về đề tài lịch sử vẻ vang của dân tộc hiện có, xem tiết mục nào xứng đáng "đại diện" cho giới sân khấu để dâng lên Đại Hội ? Mỗi đại biểu mỗi ý, cuối cùng không tiết mục nào được đa số ủng hộ. Có người đưa ra ý kiến, hay lấy ở mỗi tiết mục đề tài lịch sử dân tộc một trích đoạn rồi ghép lại thành một chương trình biểu diễn. Ý kiến này bị bác ngay vì nếu thế sẽ thành một đêm trình diễn hổ lốn, bởi sẽ có trích đoạn Kịch, trích đoạn Tuồng, Chèo, Cải lương, Dân ca...



            Cuộc tranh cãi diễn ra sôi nổi nhưng không ý kiến nào được đa số tán thành. Sau cuộc cãi vã gay gắt đến một sự im lặng nặng nề, mỗi người đuổi theo một ý nghĩ về cách chọn "quà của giới nghệ sĩ sân khấu" dâng lên Đại Hội Đảng.



            Tôi ngồi phía sau, mạnh dạn giơ tay. "Hay ta xây dựng một tiết mục về Bác Hồ ?" Mọi người nhao nhao : "Nếu thế thì nhất rồi. Nhưng kiếm đâu ra kịch bản ?" Tôi ân hận đã chót đưa ra ý kiến ấy. Nhưng đâm lao phải theo lao. Tôi đành nói : "Tôi đang viết một vở lấy tên là "Kể chuyện Bác Hồ", đến nay đã xong 5 cảnh, chỉ còn cảnh cuối cùng tuy chưa viết nhưng đã có dàn ý tỷ mỷ, chi tiết, thậm chí đã viết một vài lớp tạm hoàn chỉnh.



            Thứ trưởng Cù Huy Cận nói, để quyết định vấn đề này, tốt nhất là ngay bây giờ Vũ Đình Phòng đem đọc thử cho mọi người nghe những cảnh đã viết xong rồi trình bầy ý đồ viết cho cảnh cuối cùng. Tôi nói để bản nháp ở nhà. Ông Huy Cận hỏi, xa đây không, nếu về lấy thì cần bao nhiêu thời gian ? Tôi trả lời là ở Khu Tập thể Trung Tự, đạp xe về đấy và đến đây mất không quá 40 phút. Ông Cận bảo : "Cho cậu một tiếng !" Rồi ông hướng về phía các đại biểu, nói đại ý : "Ta nghỉ giải lao một tiếng. Cuộc họp kéo dài, chắc không ai kịp về ăn trưa, ta ra phố ăn tạm thứ gì rồi quay vào tiếp tục làm việc. Cần khẩn trương bởi không thể nấn ná thêm được nữa. Nếu hôm nay vẫn không quyết định được tiết mục nào, thì đành chân tay không... nhìn Đại hội Đảng vậy."



             Sau khi nghe tôi đọc xong năm cảnh và trình bầy ý đồ chi tiết cảnh cuối cùng, mọi người đều nhất trí chọn kịch bản của tôi. Thứ trưởng Cù Huy Cận hỏi tôi cần bao nhiêu thời gian để hoàn tất kịch bản. Tôi đáp, mười ngày. Ông Thứ trưởng cười : "Cho cậu hai tuần lễ." Rồi quay sang chị Hà Nhân, quyền Cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn, và cũng là thủ trưởng của tôi, nói  : "Chị thu xếp để ông Phòng được tập trung hoàn toàn vào việc này."



            Tiếp theo, cuộc họp bàn về đơn vị nào sẽ đảm nhiệm việc dựng vở. Bà Ái Liên, Giám đốc Nhà hát Cải lương Trung ương xin nhận. Đến khâu chọn đạo diễn. Mọi người đề nghị Dương Ngọc Đức và anh nhận...



             Tôi về nhà viết ngày đêm. Thứ trưởng Hà Huy Giáp cho người nhắn tôi đến đọc cho ông nghe để ông biết, còn "có ý kiến" trong Đảng Đoàn Bộ[6].  Tôi cố hoàn thành và đem đến đọc cho ông nghe. Nghe xong, ông nói đại ý. Nội dung được. Nhưng có vài chỗ nên bổ sung. Thứ nhất, Bác đến Liên Xô lần đầu không phải bằng tầu biển mà bằng xe lửa, qua đất Ba Lan.



            Tôi đáp : "Tôi viết theo cuốn "Những Mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch..."



            Ông H.H. Giáp nói : "Nhiều lúc Bác quên. Nhưng theo tư liệu chính xác thì không phải Bác đến bằng tầu biển, và lại trước khi Lenin mất khá lâu. Nhưng thôi được, nhà văn có thể hư cấu thêm đôi chút, trường hợp này không hại gì. Còn điểm thứ hai, tôi muốn cậu thêm một lớp Bác đọc "Luận cương Tháng tư" của Lenin. Cậu thêm vào trong cái chỗ miêu tả Bác ở Paris ấy. Cái này thì cậu phải làm vì chính do đọc tác phẩm ấy mà Bác quyết định gia nhập Quốc Tế III.



            Về nhà, tôi viết thêm một lớp Bác đọc tác phẩm ấy của Lenin trong một nhà trọ tại Paris.



            Một tuần sau tôi đem đến đưa chị Hà Nhân, Quyền Cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn. Chị hứa sẽ đọc ngay. Hôm sau, chị gặp tôi và cuộc trao đổi diễn ra như sau :



            - Kịch bản nội dung tốt, rất tốt là đằng khác. Chỉ có điều ông viết khô quá.



            - Tôi nghĩ đây là viết về lãnh tụ, làm sao đùa giỡn được. Nghiêm một chút cũng là cần thiết...



            - Nhưng người xem cũng phải thấy hứng thú chứ ? Các đại biểu cũng thế mà công chúng bình thường càng cần tươi mát hơn. Tôi đề nghị thế này. Kéo Hà Văn Cầu cùng tham gia vào công việc này. Ông ấy sẽ thêm chất tươi mát cho kịch bản. Nổi tiếng là chuyên gia về "hề Chèo" kia mà.



            Tôi choáng váng và nói :



            - Tôi sợ văn phong của tôi và của anh Cầu không ăn nhập với nhau. Sẽ thành một kịch bản không nhất quán. Tôi đề nghị thế này : chị thấy chỗ nào khô quá thì bảo tôi, tôi sẽ sửa sang, thêm mắm muối vào cho mát mẻ hơn...



            - Ôi, ông Phòng ! Ông nên nghĩ rộng ra. Đây không còn là kịch bản của ông nữa mà là của chung giới sân khấu dâng lên Đại hội Đảng. Của chung toàn giới ! Ông mở đầu thế rất tốt, nhưng không nên hẹp hòi thế. Nên để cả người khác cùng tham gia vào.



            Nghe chị nói xong tôi nghẹn lời. Chị ấy bảo đây không còn là của một mình tôi nữa, mà là của cả giới sân khấu ! Thế thì cãi sao được ? Tôi  thầm nghĩ "Vậy là công cốc. Kịch bản không còn của riêng mình ! Cái lý chị ấy đưa ra làm sao phản bác được ? Đành chịu thua thôi !"



            Cái câu : "Bây giờ kịch bản không còn là của cá nhân ông nữa mà đã là chung của cả giới sân khấu !" sau này sẽ ám ảnh tôi suốt đời. Đã nhiều lúc tôi thử nghĩ xem, trong trường hợp ấy, người khôn ngoan sẽ đáp lại ra sao ? Sẽ viện cớ gì để từ chối ? Nghĩ suốt bốn chục năm nay mà chưa nghĩ ra.



            Mươi hôm sau chị Hà Nhân đưa tôi bản đã sửa chữa bổ xung của ông Hà Văn Cầu, được đánh máy cẩn thận, để tôi "xem và có ý kiến". Từ lúc cẩm về tôi để một chỗ, định lúc nào thật bình tĩnh cũng thử đọc một cái. Nhưng rồi không đủ can đảm để đọc, tôi cất đi. Vậy là cho đến ngày hôm nay tôi vẫn chưa đọc cái kịch bản "chung" của hai người ấy.



            Vài hôm sau, tôi tình cờ gặp bác sĩ Lê Hải Chi, Phó Chủ nhiệm khoa Tinh Thần Kinh của Bệnh viện Quân đội 103. Anh Hải Chi hỏi tôi về bệnh đau dây thần kinh hông hiện ra sao. Khi tôi bảo vẫn còn đau, bác sĩ Chi khuyên tôi vào chỗ anh ấy nằm ít lâu, vừa để chiếu chụp kiểm tra vừa tiếp tục điều trị.  Bệnh viện 103 vẫn còn ở nơi sơ tán, rất thoáng mát, chỉ cách Thị xã Hà đông mươi cây số. Tôi ngẫm nghĩ rồi nhận lời.



            Hai tháng sau, sát Tết âm lịch, tôi ra viện mới biết kịch bản đã có tên mới, không do tôi đặt, là "Người Công Dân số Một". Và tiết mục chỉ diễn mấy ngày trong thời gian Đại hội Đảng, nay đã thôi không diễn nữa. Vậy là cho đến ngày hôm nay, kịch bản tôi chưa đọc và tiết mục tôi cũng chưa xem, không biết mặt mũi nó ra sao ! Tôi có tính gạt phăng mọi thứ làm mình không vui, nên quyết định quên cái kịch bản và tiết mục ấy đi.



            Nói thêm, là nghe tin tôi ra viện, ông Phạm Chính, Trưởng Ty Văn hóa Quảng Ninh đến gặp, cho biết "Sao Thần Nông" được diễn trong Đại hội Đảng IV và được Ban Tổ chức Đại hội tặng bằng khen. Tết năm ấy, ông Cù Huy Cận, Thứ trưởng Bộ Văn hóa đến chúc Tết một số cán bộ của Bộ sống tại Nhà A1, khu Tập thể Trung Tự. Khi ghé vào nhà tôi, ông vui vẻ bắt tay tôi nói : "Chào tác giả Sao Thần Nông !"



            Sau Tết chừng một tháng, Thứ trưởng Hà Huy Giáp cho người gọi tôi đến gặp "để truyền đạt ý kiến của ông Trường Chinh" sau buổi xem vở kịch về Bác Hồ. Tôi rất muốn từ chối nhưng không nghĩ ra được lý do gì, đành đến gặp vậy. Ông cho biết, trong số lãnh đạo cao cấp của Đảng ngồi xem, chỉ có ông Trần Quốc Hoàn cho rằng tiết mục chưa hay nhưng vẫn có thể dùng. Các vị khác thì yêu cầu phải sửa chữa, nâng cao rồi mới diễn được. Tóm tắt mấy nhận xét của các vị ấy chủ yếu xoay quanh hai điểm như sau :



            1 - Những lớp gây cười, thí dụ hai tên lính khố xanh pha trò, vô duyên và hạ thấp tiết mục, cần giảm bớt.



            (Mấy lớp gây cười này không phải của tôi.)



            2 - Diễn viên đóng vai Bác chẳng giống Bác chút nào, già quá, lại gù lưng. Diễn cùng chưa được. Phải thay diễn viên khác, - ông Giáp cười nói : - Trong lúc xem, mấy lần anh Trường Chinh quay sang mình, nói nhỏ "Bảo cậu diễn viên đóng vai Bác đứng vào chỗ tôi tối cho đỡ lộ cái lưng gù và cái mặt chẳng giống Bác chút nào ấy đi!"



            Rồi ông Thứ trưởng kiêm Bí thư Đảng đoàn Bộ Văn hóa đưa ý kiến,  liệu tôi có thể thu xếp để đi tìm diễn viên đóng vai Bác được không ? Đến tất cả các địa phương từ Bắc chí Nam, lựa những thanh niên có thể đóng vai Bác, rồi đưa tất cả về Hà Nội huấn luyện. Sau đấy chọn 2-3 người đóng đạt nhất. Bây giờ đất nước mình bao la, thiếu gì người để ta có thể cân nhắc, chọn lựa. Bộ sẽ cho xe đưa cậu đi và cấp kinh phí đầy đủ suốt thời gian công tác .



            Tôi hứa sẽ suy nghĩ và trả lời ông sau, nhưng trong đáy lòng tôi đã quyết định không quan tâm, suy nghĩ đến cái kịch bản cũng như cái tiết mục biểu diễn ấy nữa. May thay sau đấy ông Hà Huy Giáp không còn ở Bộ Văn hóa nữa. Thế là tôi đỡ phải tìm lý do từ chối.



            Chuyện không vui nhưng biết làm sao được ? Sống ở đời, mỗi người đều gặp cả những chuyện vui và không vui. Đấy là lẽ bình thường.



*Bài viết này đã đăng trên Tạp chí Sân khấu cách đây vài năm, tôi không nhớ số bao nhiêu và ra ngày nào.



VĐP.



Nguồn: vudinhphongblog



____



[1] Bấy giờ các Hội văn học nghệ thuật còn nằm trong Bộ Văn Hóa



[2] Tiền thân của Cục Xuất bản bây giờ



[3] Sau này tôi đã dịch và Vụ Nghệ thuật Sân khấu đã xuất bản, tôi lấy tên người dịch là Nguyễn Nam



[4] Vở đầu tay này về sau tôi đặt tên là "Từ Căn gác ấy". Cảnh đầu xảy ra ở Hà Nội năm 1946, khi họ "ra đi" và cảnh cuối cũng lại ở Hà Nội, khi họ trở về năm 1954. Những cảnh giữa xảy ra tại nhiều địa điểm ở Việt Bắc vào các năm 1949, 1951... Có cả một cảnh ở Điện  Biên Phủ xảy ra năm 1954. Vở được NHÀ HÁT KỊCH dàn dựng, nhưng chưa xong thì vướng tình hình Thống nhất Đất nước nên đã bị gác lại, và cũng đã được đưa vào trong cuốn "KỊCH VŨ ĐÌNH PHÒNG" do Nhà Xuất bản Sân khấu in năm 2010.



[5] Lúc ấy là Tướng Trần Độ, về Bộ Văn hóa làm Bí thư Đảng đoàn.



[6] Lúc ấy ông là Bí thư Đảng đoàn Bộ Văn hóa.


trieuxuan.info