Lý luận phê bình văn học
28.07.2013
Bùi Việt Thắng
Mặt trời Pác Bó chiếu sáng con đường Giải phóng

Đọc tiểu thuyết Giải phóng, Hoàng Quảng Uyên, Nxb Hội Nhà văn, 2013.           


1. Giải phóng (Nxb Hội Nhà văn 2013) là tập thứ hai (tiếp sau Mặt trời Pác Bó, Nxb Hội Nhà văn, 2010) trong bộ tiểu thuyết năm tập của nhà văn Hoàng Quảng Uyên viết về cuộc đời lãnh tụ Hồ Chí Minh từ những ngày bôn ba hải ngoại, tìm đường cứu nước đến lúc lên đường theo tổ tiên “Mác - Lênin thế giới người hiền”. Cả hai tác phẩm đều được nhận Giải thưởng cuộc vận động sáng tác và quảng bá các tác phẩm Văn học - Nghệ thuật và báo chí về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tiểu thuyết Giải phóng ban đầu có tên là Ba ngàn ngày chiến thắng, viết về cuộc trường kì kháng chiến chín năm (1945 -1954) chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, kết thúc bằng chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ “nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng”. Tiểu thuyết Giải phóng (với 600 trang trong 25 chương) như là bức tranh hoành tráng về cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, trường kì của một dân tộc với ý chí “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”. Những trang viết cuối cùng của tiểu thuyết Giải phóng được Hoàng Quảng Uyên hoàn thành ở Trại sáng tác tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Tam Đảo, tháng 4 năm 2013. Để lấy cảm hứng sáng tác bộ tiểu thuyết quy mô này, nhà văn Hoàng Quảng Uyên đã tự mình tổ chức những chuyến đi thực tế sang đất Quảng Tây (Trung Quốc) nhiều lần hay tìm về quê hương Lãnh tụ ở Nam Đàn, Nghệ An. Được chia sẻ với tác giả ngay từ những ngày đầu viết Mặt trời Pác Bó, chúng tôi biết bộ tiểu thuyết này sẽ chiếm gọn một khoảng thời gian mười năm trong nghiệp văn của Hoàng Quảng Uyên, nhưng chắc chắn sẽ là tác phẩm tâm huyết, để đời của một người cầm bút trước một nhân vật mà một nhà văn nước ngoài đã kính cẩn viết “Hồ Chí Minh, tên Người là cả một niềm thơ”. Cũng như nhiều độc giả khác, chúng tôi chia sẻ về những khó khăn, thử thách mà tác giả phải trải qua khi viết về một nhân vật lịch sử với tầm kích  là một “đại nhân, đại trí, đại dũng” như Lãnh tụ Hồ Chí Minh. Nói cách khác là có một “khoảng cách sử thi” giữa tác giả và nhân vật. Nhưng chúng tôi nhận thấy Hoàng Quảng Uyên đã nỗ lực hết mình, tận tâm viết và “đứa con tinh thần” của nhà văn quả thực đáng để chúng ta quan tâm vì nó được sáng tạo theo quy luật “từ trái tim đến trái tim”.


            2. Giải phóng là một cuốn tiểu thuyết lịch sử, tất nhiên, nhưng chúng tôi muốn nhấn mạnh thêm: nó đồng thời cũng là một cuốn tiểu thuyết chính trị sắc bén dựa trên nền tảng một nguồn tư liệu phong phú về thời đại cách mạng và kháng chiến ngày càng được giải mật một cách rộng rãi. Nói Giải phóng là một cuốn tiểu thuyết chính trị còn bởi lẽ ý nghĩa của nó vượt qua cái không gian và thời gian cụ thể được tái hiện (cuộc kháng chiến chống Pháp thực tế bắt đầu từ ngày 23 - 9- 1945, khi quân Pháp nấp sau lưng quân Anh nổ súng khêu ngòi một cuộc chiến mới ở Việt Nam, đến ngày kết thúc bằng chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ) để hướng tới ý nghĩa thời sự nóng bỏng hôm nay khi vẫn còn những phần đất của Tổ quốc thân yêu bị xâm chiếm khẩn thiết đòi được giải phóng. Nói Giải phóng là một cuốn tiểu thuyết chính trị còn là vì nó đã đúc rút kinh nghiệm lịch sử, bằng hình tượng văn học, cái thế ứng xử của người lãnh đạo luôn luôn phải tựa vào cái hào khí và đại khí dân tộc được hun đúc qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước để có những quyết sách đúng đắn, kịp thời nhằm mưu cầu lợi ích dân tộc lên trên hết (chẳng hạn khi 20 vạn quân Tàu Tưởng tràn vào miền Bắc, kẻ thù có âm mưu thâm độc “Cầm Hồ - Diệt Cộng”. Bác Hồ đã bàn bạc với các đồng chí của mình “Nhưng tình thế bắt buộc ta có thể phải tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương (… ). Ta tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản nhưng thực chất là Đảng rút vào hoạt động bí mật, để cho những kẻ chống cộng không có lí lẽ gì để tấn công ta. Đó là một việc vô cùng hệ trọng”- GP, tr 207). Cái nhãn quan chính trị nhạy bén đã giúp cho nhà văn trong quá trình sáng tác chú ý tới mối quan hệ giữa cái gọi là toàn cảnhcận cảnh của một tác phẩm có âm hưởng sử thi, một tác phẩm về lịch sử hiện đại chưa ráo màu mực trong pho sử dân tộc. Giải phóng đồng thời là cuốn tiểu thuyết viết về lãnh tụ Hồ Chí Minh, với tư cách một nhân vật trung tâm, vì thế nhất thiết phải có những cận cảnh miêu tả đời tư theo cảm hứng thế sự. Nhưng phải nói ngay rằng tỉ lệ giữa toàn cảnh và cận cảnh trong tiểu thuyết Giải phóng vẫn tuân thủ nguyên tắc nghệ thuật mà nhà văn xác tín từ đầu: hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh không làm mờ hình tượng nhân dân anh hùng, trái lại tôn tạo, tôn vinh nhau như hai màu sắc rực rỡ (đỏ và vàng) của quốc kỳ Việt Nam. Toàn cảnh tiểu thuyết được mở rộng trong 25 chương (chương một “Đường tới Tân Trào” và chương kết “Trận chiến cuối cùng” - về chiến dịch và chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ). Nhà văn, theo chúng tôi, tuy viết theo tinh thần “chia đều” cho tất cả các sự kiện của cuộc kháng chiến trường kì chín năm, nhưng đã chú ý tới những điểm nhấn lịch sử - nghệ thuật. Độc giả đã cảm nhận được một cách khá rõ ràng “chất tiểu thuyết” của Giải phóng cô đọng nhất ở trong các biến cố khúc ngoặt như: chương bốn “Mệnh người vận nước”, chương mười ba “Đường tới Pa ri”, chương hai mươi mốt “Chiến trận Thu - Đông”, chương hai mươi hai “Trăng rừng Việt Bắc”. Ở những biến cố bước ngoặt hoàn cảnh sẽ trở nên điển hình hơn, tính cách nhân vật sẽ được khắc họa rõ nét hơn, và cuối cùng là sự sinh sắc của hiện thực cũng theo đó mà hiện hình hơn. Chẳng hạn chương bốn “Mệnh người vận nước” viết về thời điểm nước sôi lửa bỏng của cách mạng những ngày trước Tổng khởi nghĩa, đúng lúc đó Bác Hồ lâm bệnh nặng. Chương này chứa nhiều tính kịch và là một tình huống lịch sử điển hình, có thể nói là nghẹt thở “Trước mắt Đêphuốcnô là một Ông Già nằm trong góc tối căn phòng dưới hình hài một bộ xương được bao bọc bởi làn da vàng khô, nhìn chằm chằm người trước mặt bằng đôi mắt đờ đẫn. Ông Già có bộ râu dài lởm chởm, lơ phơ dưới cái cằm nhọn. Hoagơlăng nhìn lướt nhanh người bệnh, kéo Đêphuôcnô lùi ra đằng sau một chút nói nhỏ:


            - Người này chẳng sống được bao lâu nữa” (GP, tr.79)


            Cái đêm mà tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” ấy Bác Hồ đã nói với đồng chí Văn (tức Võ Nguyên Giáp) “Chú Văn, đêm nay chú ở với Bác, Bác có nhiều điều cần nói với chú, Bác sợ không còn dịp (…). Chú Văn, Bác nhắc chú câu này “Thời hồ, thời hồ, bất tái lai”- thời gian và cơ hội không trở lại lần thứ hai - lúc này điều kiện trong nước và ngoài nước đều rất thuận lợi…Vì vậy Đảng ta nhất định phải lãnh đạo nhân dân giành được độc lập… Dù có phải hi sinh đến đâu, dù có phải chiến đấu đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho được độc lập”. Còn đồng chí Võ Nguyên Giáp thì “Lòng rối bời bời. Bác thì ốm nằm đây, các đồng chí đại biểu ba miền Bắc - Trung - Nam, nhất là các đồng chí trung ương gặp nhiều trắc trở trên đường đi chưa đến đủ. Các văn bản Bác đang thảo thì dở dang. Võ Nguyên Giáp miên man suy nghĩ, lúc sực tỉnh thì Bác đã thiếp đi” (GP, tr. 82 - 83 - 84). Đúng là văn chương đã cắp cánh cho lịch sử (“có những phút làm nên lịch sử”), soi sáng lịch sử. Độc giả được sống lại với lịch sử không phải bằng các sự kiện, con số mà với những con người làm ra lịch sử trong số phận, nỗi niềm, cảnh ngộ của nó. Nếu coi Giải phóng là một cuốn tiểu thuyết chính trị thì, theo chúng tôi, chương mười ba “Đường tới Pari” thể hiện rất rõ cuộc đấu tranh chính trị bằng ngoại giao của Đảng và Lãnh tụ Hồ Chí Minh, là những trang viết ngoạn mục - ngoạn mục trong đấu trí, và cuộc đấu trí đã khẳng định cái dũng khí của người cách mạng chân chính dám xả thân vì nghĩa lớn, vì quyền lợi của dân tộc, đất nước. Trước âm mưu của Pháp muốn tách Nam Kỳ ra khỏi Việt Nam, Hồ chí Minh và các đồng chí trung kiên của mình đã bền bỉ đấu tranh trên đất kẻ thù ròng rã nhiều tháng trời để đạt mục đích. Nhưng nhiệm vụ khó khăn nhất chính là phải làm để nhân dân Việt Nam hiểu rõ một sự thật “Hồ Chí Minh không phải là người bán nước (…). Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí đó không bao giờ thay đổi” (Thư Hồ Chí Minh gửi đồng bào Nam Bộ - GP, tr 295). Người đọc giàu trí tưởng tượng sẽ hình dung ra những giây phút đáng nhớ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh cầm bút viết lá thư tâm huyết gửi đồng bào Nam Bộ. Những điểm nhấn lịch sử - nghệ thuật ấy làm cho Giải phóng có được cái chất tiểu thuyết, tránh bị rơi vào tư liệu thuần túy. Những điểm nhấn ấy như là sợi chỉ đỏ xuyên suốt một tác phẩm dài hơi (600 trang), tạo hứng thú cho độc giả tiếp cận lịch sử từ văn chương, một cách tiếp cận có hiệu quả nhất vì “Không phải là nhà chép sử mà là nhà văn mới là người chép lại lịch sử cuộc đời”.


            3. Viết tiểu thuyết Giải phóng nhà văn phải giải quyết một vấn đề khá hóc búa về mối quan hệ giữa sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật nhân vật Lãnh tụ Hồ Chí Minh, một con người đạt tới tầm vóc “đại nhân - đại trí - đại dũng”. Tiểu thuyết Giải phóng của Hoàng Quảng Uyên đã khắc họa thành công nhân vật trung tâm trên cả ba phương diện lớn này. Với tư cách là nhân vật chính, trung tâm của tiểu thuyết, Hồ Chí Minh phải đối mặt với một kẻ thù vừa giàu mạnh, vừa thâm độc, tàn bạo và dã tâm “quyết cướp nước ta một lần nữa”. Hai mươi lăm chương tiểu thuyết Giải phóng cho độc giả tri nhận một cuộc quyết đấu của hai lực lượng yêu nước, kháng chiến và thực dân xâm lược. Người đứng mũi chịu sào của con thuyền cách mạng lướt tới trong dòng thác cách mạng không ai khác là Hồ Chí Minh - một con người hành động, vì đấu tranh cách mạng là hành động. Nhưng Hồ Chí Minh cũng là con người của sự trầm tư suy nghĩ ở tầm chiến lược và suy nghĩ sâu sắc về nhân tình thế thái. Khắc họa nhân vật lãnh tụ Hồ Chí Minh, chúng tôi nghĩ, nhà văn Hoàng Quảng Uyên đã vận dụng thủ pháp của nghệ thuật điện ảnh: kết hợp các trường đoạn và cận cảnh, ngoại cảnh và nội tâm, tập trung đẩy các hình ảnh và lời thoại lên lớp cô đúc nhất. Hồ Chí Minh với tư cách một nhân vật văn học đã được tác giả miêu tả như một con người vĩ đại mà bình thường. Như chúng ta biết Bác Hồ có khả năng hài hước trí tuệ, cái hài hước của một người đã đắc đạo: tự tại, tự tin và tự chủ (chẳng hạn ở chương hai có cận cảnh Hồ Chí Minh nhờ Tam - một người Mỹ gốc Hoa - chuyển cho Tổng hành dinh ở Côn Minh, Trung Quốc một “bức thư tình”. Nhưng thực ra đó là một bức thư Người viết bằng tiếng Anh gửi cho ông Fenn, và nhờ gửi hộ một gói quà trong đó có một lá cờ của Đồng Minh- GP, tr 39- 40). Một cận cảnh khác rất đắt: khi ông Vũ Đình Huỳnh (Bí thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh) sau chuyến công cán đặc biệt ở vùng công giáo Bùi Chu - Phát Diệm trở về đã lên chiến khu Việt Bắc ngay gặp Lãnh tụ. Bác Hồ đã “phê” người cộng sự thân tín của mình là “chưa công bằng” trong hành xử “Bác nói không công bằng giữa việc công và việc riêng. Chú đi thẳng hai trăm cây số đến chỗ Bác luôn mà không đến chỗ vợ con ở nơi tản cư. Phải tìm đến thím và các cháu trước (…). Không ai có thể quen sống nghèo khổ, quen sống cô đơn, chia li, tan đàn, xẻ nghé…Chẳng qua thời vận bắt buộc phải thế…Là người đàn ông, là người chủ trong gia đình không bao giờ quên điều đó và lấy điều đó để quên bổn phận của mình” (GP,  tr. 456 -457).


            Có một cận cảnh (chương hai mươi hai “Trăng rừng Việt Bắc”) vừa trữ tình vừa tâm lí nhưng không hề không hạn chế tầm vóc của nhân vật chính Hồ Chí Minh. Kháng chiến tuy gian khổ, hi sinh lớn lao nhưng không hề làm suy giảm nguồn thi hứng của một con người đầy phẩm tính nghệ sĩ. Bác Hồ đã làm thơ ngay cả trong những ngày tháng, giờ phút gian lao vất vả nhất của cuộc đời cách mạng. Dường như ngoại cảnh sục sôi, nóng bóng khói lửa bao nhiêu thì trong tâm hồn thi sĩ lại lắng đọng, phong phú và sâu sắc bấy nhiêu. Khung cảnh chiến khu, căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc giống như một nốt trầm của dàn đại hợp xướng nhiều bè. Trong tĩnh lặng tâm hồn, thơ cất cánh bay lên “Chiếc thuyền chở Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Văn phòng Chính phủ - Thủ tướng phủ ở thác Dẫng khi trăng lên. Ánh trăng bàng bạc, trải ánh vàng lên lau lách, cây cối hai bên bờ. Nước chảy êm đềm, hắt ánh trăng lên thuyền. Xa xa hơi nước bảng lảng…Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi ở đầu thuyền thư thái, mê mải ngắm trăng trên trời rồi lại nhìn trăng sóng sánh dưới sông, cảnh sắc làm thức dậy hồn thơ, Người khe khẽ ngâm: Kim dạ nguyên tiêu, nguyệt chính viên/Xuân giang, xuân thủy, tiếp xuân thiên/Yên ba thâm xứ đàm quân sự/Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền (…). Thuyền vẫn trôi trong đêm trăng trên sông thật lãng mạn, yên bình, dường như tiếng súng, tiếng bom đạn ở đâu xa lắm. Những tiếng nổ đã tắt từ lâu để nhường cho những tiếng thơ hào sảng, âm vang cất lên giữa khói sương mịt mùng của một đêm trăng rằm, đêm trăng đẹp nhất trong năm” (GP, tr. 508 -5010).


            Có thể ai đó trong độc giả chờ đón ở tiểu thuyết Giải phóng của Hoàng Quảng Uyên một cách viết khác lạ về nhân vật Lãnh tụ Hồ Chí Minh so với những tác phẩm trước đó. Nhưng không! Nhà văn đã viết một cách thành thực nhất bằng con tim, tỉnh táo nhất bằng lí trí về một Con Người vĩ đại nhưng bình dị vì “Bác sống như trời đất của ta/Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa/ Tự do cho mỗi đời nô lệ/ Sữa để em thơ, lụa tặng già” (Tố Hữu).


 


Hà Nội, tháng 5- 2013


B.V.T

trieuxuan.info