Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,516,640

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Truyện ngắn

Nhộng đầu Xuân/ Chuyến tàu cuối năm

Vũ Hạnh

  • Thứ hai, 09:17 Ngày 05/10/2020
  • NHỘNG ĐẦU XUÂN

    Cặp mắt hiền lành của bác Sáu Kỷ bỗng hóa tinh quái khi cố nhíu lại soi tìm vào trong quá khứ, rồi với một vẻ ngượng ngùng nào đó bác bắt đầu kể:

    - Tôi lái xe đò gần bốn mươi năm, đi nhiều tuyến đường, gặp đủ loại người, chứng kiến bao nhiêu vụ việc nói ra không xiết. Nhưng có một việc không chắc mấy ai đã gặp ở trong đời mình, và cũng không thể nào ngờ tới được.

    Hồi đó, dưới thời Pháp thuộc, đi qua hai nước Miên, Lào có vẻ dễ dàng vì thuộc trong khối Đông Dương do nó thống trị. Tôi lái chiếc Đờ-la-hay, loại xe ấy đã xưa rồi giờ không còn ai nhắc tới, chở khách đi từ Nam vang về ngả Châu Đốc để lên Sài Gòn. Chuyến đi hôm đó là chuyến khởi hành đầu năm, ngày mồng bốn Tết. Không nhớ năm Chó hay là năm Heo gì đó... Giữa Tuất với Hợi, tôi cứ lộn hoài. Mà suy theo cái chuyện này, thì chó hay heo cũng đều hợp cả.

    Xe tôi “đề-ba” rất sớm, hành khách trên ba mươi người. Còn là ngày Tết - hồi đó mình ăn Tết suốt tháng giêng - nên ai ăn mặc cũng bảnh bao lắm. Phần tôi, ngoài cái quần đen bằng lãnh Mỹ-A, áo bà ba lụa Tân Châu trắng, còn khoác một cái áo “vét” nỉ xanh nước biển, đội mũ “phờ-lê-sê” màu xám lợt, mang đôi bốt-tin đen bóng, phì phèo xì-gà. Ngày thường thì tôi mang guốc lái xe cho đỡ nóng chân. Đa số hành khách là thương gia ở Nam Vang, rảnh rỗi ngày xuân trở về thăm quê, một ông nghe nói là công chức bự, mập mạp, ôm cái cặp da phồng cứng, và một ông đeo kiếng trắng gọng vàng, côm-lê chững chạc, hút cái ống vố to kềnh, có vẻ là đại trí thức. Khoảng mười hai người đàn ông và trên hai mươi người đàn bà sang trọng với ba đứa nhỏ ở tuổi bồng ẵm, nói cười vui vẻ, giống hệt như xe đám cưới đầu xuân.

    Còn cách biên giới khoảng năm cây số thì trời rạng sáng. Tôi vừa cho xe chạy vào một vùng rậm rạp, hai bên là rừng, thì thấy mấy người lố nhố giữa đường. Tôi liền bóp còi, cái còi hồi đó như quả bóng cao su to hơn một trái cam sành cỡ lớn trong có lưỡi gà, gắn gần tay lái, bóp đầy cả tay nghe kêu từng tiếng ồm ộp khá to như tiếng của ểnh ương mẹ gặp trời mưa lớn.

    Nghe còi, đám người không muốn dãn ra nên tôi phải lo rà thắng cho xe chậm lại. Đến gần, nhìn thấy bọn họ tôi bỗng đâm hoảng, muốn vọt lẹ luôn nhưng lại không dám, đành phải thắng gấp. Chết mẹ mình rồi, gặp phải bọn cướp! Gần đây nghe có bọn cướp cùng băng với Đơn Hùng Tín từng ngang dọc vùng Biển Hồ tách xuống ở mạn biên giới dựa chỗ lằn ranh hai nước để chạy qua lại cho dễ ẩn náu. Người ta nói rằng tên đầu nậu này trước kia là một công tử nhà giàu, học hành đàng hoàng, nhưng sau ăn chơi luông tuồng, cờ bạc, hút xách, đĩ bợm, nên bị gia đình từ bỏ, rồi đi ăn cướp. Trên con đường đời mà không vững vàng tay lái, không biết rà thắng kịp thời thì lao xuống hố, đó là cái chắc.

    Một tiếng quát to:

    - Tất cả xuống xe mau lên! Không thì tao bắn bể sọ!

    Mọi người thất sắc, riu ríu bước xuống. Tên đầu nậu với bộ ria mép, đầu tóc bờm xờm xõa xuống bờ vai, vận đồ màu sẫm, tay cầm súng ngắn đứng trước đầu xe ra lệnh cho đám thủ hạ chừng năm sáu đứa. Bọn này có thằng cầm dao, có thằng cầm súng - chắc là súng giả - nhưng ở trong tay của kẻ quyền lực thì thật với giả nhiều khi là một.

    Trong lúc vài tên lên xe hối hả gom các hành lý vào những bao bố thì bọn ở dưới sục sạo trong túi quần áo từng người, móc hết bạc tiền. Tên đầu nậu nói, gằn giọng:

    - Tết này bọn tao thì đói thắt ruột còn bọn tụi bây thì no nứt niềng lại còn dong chơi sướng thấy mồ tổ. Đừng có kêu ca gì nghen. Lo về làm ăn, bốc hốt kiếm bạc, nay mai có dịp gặp lại tao sẽ mượn thêm để xài.

    Rồi gã quát hỏi đồng bọn:

    - Xong chưa?

    - Thưa đại ca, xong!

    Tên trả lời có lẽ thuộc về cấp phó, mặt mũi dữ dằn, cũng cầm súng ngắn. Y toan quay đi bỗng nhìn cái ông có vẻ là đại trí thức, gật gù:

    - Thằng này có bộ côm-lê ngon ta, tao mặc chắc vừa. Cởi lẹ lên mày!

    Ông này bỗng nổi giận lên:

    - Các người đã lột sạch tiền, còn muốn gì nữa?

    Tên cướp đáp lại, lạnh lùng:

    - Tao muốn bộ đồ, hoặc cái mạng mày.

    Rồi y chĩa súng lăm lăm tiến tới, lặng lẽ giật cái áo vét và ra dấu cho ông này cởi quần. Dĩ nhiên ông này ngoan ngoãn làm theo vì sợ khẩu súng, cho dù đó là súng giả. Ông công chức bự đứng bên bỗng dưng cất giọng run rẩy thúc giục người bạn đồng hành:

    - Lẹ lẹ lên anh, kẻo mấy ổng giận.

    Ông kia vừa cởi quần xong nghe nói, lại nổi sùng lên:

    - Cái gì mà anh bảo lẹ? Chẳng lẽ còn muốn lột truồng tôi sao?

    Cơn giận của ông có vẻ chính đáng nhưng không hợp thời. Bởi nghe nói thế, tên đầu nậu trợn mắt lên, quát to:

    - Lại còn thách thức nữa à? Thì lột truồng đi! Lột truồng tất cả cho bọn mày biết. Đứa nào chậm trễ thì ăn kẹo đồng!

    Gã vung cây súng, tiến tới. Cả bọn thủ hạ hùng hổ xông vào bắt từng người một cởi hết áo quần. Phụ nữ sụp xuống van xin nhưng chúng không tha. Ông công chức bự và mấy thương gia cũng quì xuống lạy nhưng thật vô ích, vì những kẻ xấu không đủ khả năng rút lại ý kiến của mình. Giữa cảnh bàng hoàng như thế, bỗng có tiếng trẻ khóc thét. Tên đầu nậu lại ra lệnh:

    - Tha cho lũ trẻ, khỏi lột đồ chúng!

    Rồi gã quay đi, nhìn về phía bên kia rừng như vọng về một hình ảnh ở trong quá khứ. Một phút, gã ra lệnh tiếp:

    - Mụ nào có con, cho giữ lại cái quần lót!

    Hồi đó, thiên hạ chưa biết xài món xì-líp. Xì-líp được kể vào loại trang bị hiện đại. Một tên thủ hạ tiến lại gần gã:

    Thưa đại ca, một mụ không có quần lót!

    Vẫn không quay lại, gã nói một cách giận dữ khác thường:

    - Thì hãy cho nó cái quần!

    Mới biết, không mặc đồ lót có lúc cũng thuận lợi thực. Tôi mong cho sớm kết thúc cái màn thoát y bất đắc dĩ này để quay về lại Nam Vang, bỗng nghe đầu nậu quát bảo:

    - Lên xe!

    Chúng tôi riu ríu leo lên, bấy giờ không ai còn mặt mũi nào để nhìn nhau nữa. Dầu không được sự sắp xếp nhưng theo phản ứng của những con người văn minh, trong trường hợp này tất cả đàn ông đều đã tự động lên các ghế trước, dành các băng sau cho phụ nữ ngồi. Tôi vừa nổ máy đã nghe đầu nậu ra lệnh:

    - Cấm xe trở đầu! Đi tới!

    Hẳn gã còn muốn đón xe từ Nam-vang xuống. Tôi rồ mạnh ga, rồi cho vọt đi, đầu óc hoang mang cùng cực trước tình thế này. Ông công chức bự và ông trí thức cùng lên ngồi ghế với tôi, và tôi không thể không nhìn thấy họ. Làm cho tai nạn hóa ra bi thảm một cách quái gở thế này là do lỗi ở hai ông. Nhưng phiền trách họ, ích gì? Họ cũng y hệt chúng tôi, là cũng trần truồng! Có lẽ họ chỉ hơn tôi chút ít về mặt tư thế, vì còn ngồi tréo mảy được - đó là khả năng tự che kín bớt phần nào về con người mình - nên còn cố giữ một vẻ đạo mạo hết sức buồn cười. Một ông trí thức mất kiếng và ông công chức mất cặp coi cũng buồn thảm như là con dê bị mất râu cằm.

    Còn tôi, với chức năng phải một chân đạp ga, một chân giữ số, tôi đành phơi bày hơi quá lộ liễu về cơ thể mình. Nghề nghiệp luôn luôn quyết định cho cách giới thiệu con người chúng ta ra ngoài xã hội. Quả thực tôi chưa bao giờ dự liệu có lúc lại phải trình làng trong tư thế này. Riêng tôi, với nền giáo dục đã được hưởng thụ từ cha ông mình, tôi không bao giờ quay nhìn lại sau, dầu chỉ một lần, và lúc nổ máy để cho xe chạy tôi đã bẻ kiếng chiếu hậu sụp xuống cho khỏi vô tình nhìn thấy phía sau. Con người ít nhiều vẫn có khuynh hướng về sự tò mò một cách bất lương, và tốt hơn hết là nên dẹp bỏ mọi thứ điều kiện giúp khuynh hướng ấy tồn tại. Nhưng dầu không được quan sát rộng khắp, chỉ cần xuyên qua hai ông cùng ngồi băng trước tôi cũng đoán hiểu được tình trạng chung. Thật không có một tiếng nào chính xác để mà đặt tên cho tình huống này. Thiếu vắng quần áo, ông trí thức lớn chỉ là bộ xương lép kẹp, bên cạnh ông công chức bự là một khối mỡ nhão nhề. Văn minh con người, trước hết, hẳn là văn minh bao bì. Nhiều món sản phẩm được nghe quảng cáo rầm rộ, đến khi cởi bỏ bao bì chỉ là thực tại hết sức nản lòng.

    Bây giờ tôi không biết mình phải nên chạy chậm hay là chạy mau. Quần áo cũng có quan hệ đến cả tốc độ. Thà là ăn mặc bảnh bao, phóng xe vi vút, coi nó ra trò. Còn như thế này... thật có khác gì một bọn sinh vật nào đó từ nơi hành tinh xa lạ lạc xuống địa cầu, tò mò chiếm đoạt một chiếc xe đò để thử du xuân trong một đoạn đường. Nhưng rồi sau đó họ có thể biến mất đi trong cõi không gian vô tận, còn lũ chúng tôi sẽ phải lưu diễn sự trần truồng này giữa người thiên hạ như thế nào đây?

    Tôi cũng tự hỏi những người trong xe đang có tâm trạng ra sao, họ đang tự cười hay đang khóc thầm? Có lẽ họ đều nhận thấy cuộc đời không phải luôn luôn diễn tiến một cách khôn ngoan, nghiêm túc, mà vẫn có thể dẫn dắt chúng ta đến những tình huống lạ thường, thậm chí là quái dị nữa. Như thế, kẻ biết điều nhất là phải an ủi lấy mình vì đã chấp nhận làm những hành khách trong một chuyến xe... định mệnh. Riêng tôi là người lao động xưa nay sống đời hiền lành, tôi chỉ tìm riêng cho mình được mỗi kết luận, là không nên chạm tự ái những người quyền lực. Đó là ông quan, ông tòa, ông thầy, ông cảnh sát, ông chủ báo, ông chủ nợ, kể luôn các loại thủ trưởng và cả ông tướng cướp nữa. Chạm vào tự ái của họ có thể ta bị lột truồng như chơi, nghĩa là bị trả ngược về lại điểm khởi đầu. Và như vậy đó, tất cả những người hiền lương có chút suy nghĩ trên thế gian này thảy đều có thể đồng ý rằng cái quyền lực chân chính - thực sự chân chính - phải là quyền lực không có tự ái.

    Khi xe chậm lại, tới gần ngã chợ Châu Đốc, tôi nghe tiếng nói vang từ băng sau:

    - Anh Sáu! Coi có chỗ tiệm nào bán đồ cũ thì dừng lại nghen!

    Giọng nói của chị tư lành, chỗ bạn hàng quen. Chị là chủ vựa trái cây ở chợ Nam Vang.

    - Chị định mua chịu được sao?

    Giọng chị rành rọt:

    - Khỏi lo. Lúc thấy bọn cướp tôi đã nhét liền dưới ghế được một xấp bạc, bọn nó lên xe lo quơ gấp đồ hành lý, dễ gì mà thấy. Mua ít đồ cũ cho bà con dùng đi anh Sáu ơi!

    Không phải trong đời chúng ta đều được nhiều lần nghe những câu nói quí giá vào loại như thế. Câu nói giải tỏa nỗi lo âu chính đè nặng lòng mình, câu nói thiết thực bổ cứu cho một thực trạng ê chề, đủ đầy ý nghĩa đùm bọc của kẻ sớm biết lo xa, giúp cho mỗi người như tìm thấy lại giá trị của mình.

    Hồi đó, chợ Châu Đốc còn vắng vẻ nên sự thu gom đồ cũ bắt phải đợi chờ. Tôi phải cho xe di động để tránh bớt sự tò mò của những đám người chỉ chực vây quanh. Cảnh tượng chiếc xe lạ lùng như vậy ngàn năm dễ có một lần. Chính cũng nhờ như thế người ta nhìn thấy đâm ra sửng sốt, đỡ gây nên những ồn ào. Hình như do các chùa chiền Núi Sam ảnh hưởng, đa số bà con ở tại vùng này đều có tấm lòng mến đạo, và bọn chúng tôi dễ gợi cho họ ý niệm về một giáo phái tân kỳ vừa kịp hạ sơn hơn là một lũ chúng sinh vô phúc mới bị bọn cướp trấn lột.

    Nhận được mớ đồ cũ xong, chị Tư trao hết số tiền giữ được, và tôi vội phóng xe đi. Cuộc phân phối y trang diễn ra một cách thật sự kỷ luật vì không có chuyện chen lấn, tranh giành. Cuối cùng, kết qủa như cuộc xổ số mà chị Tư Lành là thần định mệnh. Mọi người đón nhận phần mình theo cái phúc phận mà chị dành cho, qua mỗi gói vải từ sau ném tới. Tôi được một áo thun trắng với ba lỗ rách, một quần đùi xanh không có dây lưng. Hồi ấy, dây thun không phải là chuyện dễ tìm. Nhưng một tài xế đâu thiếu các sợi dây kẽm, dây đồng ở chỗ mình ngồi. Tôi vừa lái xe, vừa tròng quần vào rồi làm một cái móc thép thâu hẹp lưng quần cho nó khỏi tụt những lúc xuống lên. Bởi vì, kể từ lúc ấy con người có thể xoay trở nhiều chiều. Bao bì vẫn có khả năng định hướng cho các cử động.

    Hai ông hàng xóm của tôi thì trời hại thật. Về phần bên dưới, mỗi ông nhận được một quần phụ nữ đen ố, điểm các mảnh vá và lại khá chật. Còn về phần bên trên thì ông công chức được một áo vét ca-rô có lẽ sản xuất từ thời Âu-lạc, tròng vào cũn cỡn chưa đến nữa người – bởi lẽ sự mập của ông ra ngoài khá xa ni tấc quen thuộc ở trong đời sống. Phần ông trí thức, được chiếc áo xẩm, vào loại giẻ lau đã quá hạn kỳ.

    Sau tai nạn ấy, tôi có ấn tượng không mấy tốt đẹp đối với tuyến đường nên bèn tìm cách chuyển về miền Tây, chạy ngả Cần Thơ - Sóc Trăng. Chừng ba tháng sau, tôi nghe tên tướng cướp bị bắn chết. Một cuộc phục kích phối hợp giữa cảnh sát Việt Nam và Miên ở vùng biên giới đã xóa bỏ hẳn được băng nhóm ấy. Thực tình, tôi cảm thấy thương cho tên đã trấn lột mình. Có lẽ vì tôi nhớ lại y không lột đồ mấy đứa trẻ thơ, và y cũng biết tôn trọng - ở cái mức độ cướp bóc - những người làm mẹ. Con người có chút hiểu biết ở trong xử sự với người, dầu là kẻ cướp, vẫn làm cho ta động lòng.

    Dầu sao đó cũng là một kỷ niệm khó quên. Tôi bảo nó thuộc năm Chó hay năm Heo là vậy đó, vì mình đã bị bọn cướp quát nạt như đối với chó và còn bị lột trần truồng như heo.

    Một người trong số bạn hữu ngồi nghe, góp lời:

    - Người ta vẫn nói “trần truồng như nhộng!”

    - Ừ, thì như nhộng. Mà nhộng đầu xuân!

    Bác bật cười lên ha hả, tiếng cười thay thế cho lời kết luận về câu chuyện cũ, của một thời xưa.

    1. 1988

    CHUYẾN TÀU CUỐI NĂM

    Tôi phải mất gần bốn tháng trời mới dẹp xong bọn bất lương nhiều năm sống bám vào nhà ga này. Trạm tôi gồm có ba người, tự lo liệu lấy trong những đối phó thường được kéo dài từ sáng đến tối, nhiều khi thâu đêm, với những tình huống vô cùng phức tạp.

    Trong mấy năm đầu, sau ngày giải phóng, rất nhiều những đám lưu manh có dính dáng đến phe nhóm phản động, bởi chúng cần dựa vào nhau để mong tồn tại, và bởi chúng cũng bất lương một dọc như nhau. Ban đầu tôi hơi bất ngờ khi thấy thằng Tam Đầu Bò hay thằng Hải Cụt có chân trong một phong trào “chống cộng” lèng phèng nào đó, nhưng rồi chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Tám Xì Thọt, chỉ còn một chân, lại có một chân trong đảng “Phục Quốc”, hay Bảy Bi-Đông lại là ủy viên kinh tài của một tổ chức “hưng quốc”, “hưng bang”. Dầu vậy, tôi cũng luôn nhắc nhở mình phải nên đề phòng, vì các tổ chức tạp nhạp như thế có thể là những hoạt động vòng ngoài, dễ khiến chúng ta coi thường đến mất cảnh giác, để che đậy cho những loại hoạt động sâu kín và tinh vi hơn.

    Gần bảy chục tên lưu manh loại đó bị bắt tại trận, chỉ non mười tên là bị giữ lại. Nhiều người trong số được thả về ngay vẫn cứ tái phạm, tôi lại kiên trì giáo dục, rồi lại cảnh cáo, rồi lại cho về. Theo tinh thần của ông bà mình dạy - sự bất quá tam - kẻ nào phạm lỗi đến lần thứ tư tôi mới kiên quyết giam giữ.

    Kiểm điểm sau đợt công tác vừa qua, tôi nhận thấy mình còn yếu kém nhiều về mặt khả năng, cụ thể là phần võ thuật, mặc dầu tôi đã theo học môn này tròm trèm mười năm, dưới chế độ cũ. Thật ra, trong đợt vừa rồi tôi có đánh gục ngay từ phút đầu ba bốn chục tên vô lại loại đó khi chúng sử dụng vũ khí đánh trả để mong thoát thân, nhưng phần lớn nhờ tôi chủ động trước, tôi có ưu thế của người đại diện công lý, tôi lại có súng và đặc biệt là có nhiều quần chúng ủng hộ. Phải nói là những năm đầu, kẻ thù tuy gồm nhiều loại nhưng có điều thuận lợi lớn là mối nhiệt tình nóng hổi của quần chúng đã giúp khai thông nhanh chóng cho các khó khăn. Những năm về sau, dẫu rằng quần chúng đối với cách mạng vẫn là trước sau như một, song quần chúng đã khó tính hơn nhiều, bởi lẽ quần chúng đã biết phê phán và biết đòi hỏi - điều đó cũng nằm ở trong qui luật phát triển - bắt buộc chúng ta phải từ bỏ những kiểu cách làm việc giản đơn tùy tiện, mà phải thận trọng, chính xác, và nghĩ nhiều nhất đến sự hiệu quả trước khi thực hiện bất cứ một công tác nào.

    Như vậy, sau khi tôi đã dẹp yên được trạm ga này, cấp trên có thể giao phó cho tôi những công tác khác gây cấn hơn nhiều. Muốn được chủ động nhiều hơn để lo hoàn thành mọi việc, tôi cần chuẩn bị tối đa, tôi phải học thêm võ thuật. Bất cứ trong trường hợp nào tôi cũng cần phải mạnh hơn bọn xấu, tôi phải áp đảo được chúng, không cho chúng ngóc đầu dậy.

    Qua câu chuyện của nhiều người, tôi biết là ông Trần Sơn mở trường dạy võ tại thành phố này. Tôi có nghe tiếng ông ta từ trước giải phóng, một người tinh thông nhiều môn võ thuật, hai lần đoạt chức vô địch nhưng đã mấy phen từ chối lời mời của chế độ cũ làm huấn luyện viên cho trường cảnh sát đặc biệt. Vào một buổi tối, tôi vận thường phục, tìm đến nhà trường của ông, đứng xen trong đám khán giả nhàn rỗi ở ngoài hàng hiên, nhìn vào lớp học. Ông Trần Sơn là con người tầm thước, vóc dáng rắn rỏi, cử chỉ nhanh gọn, trong mọi biểu lộ đều chứng tỏ là thầy võ rành nghề.

    Tôi đến gặp ông vào một buổi chiều. Ông nhận ra tôi, tỏ vẻ ân cần:

    - Chào ông công an. Hân hạnh được ông đến chơi.

    Tôi đáp:

    - Xin thầy đừng gọi như vậy. Tôi đến là để nhờ thầy một việc: tôi muốn được thầy thu nạp làm một đệ tử.

    Ông Trần Sơn suy nghĩ rồi thong thả nói:

    - Lâu nay tôi nghe nhiều người nói chuyện về ông, tôi rất cảm phục. Tôi đã là thầy dạy võ, cũng đã mấy lần giật giải vô địch, thế mà không trừ được bọn bất lương nhiễu loạn đồng bào ở chung quanh mình. Không chừng, một mức nào đó, tôi đã vô tình tiếp tay cho chúng cũng nên. Nay ông đã được chính phủ cho về làm cái nhiệm vụ trừ gian diệt bạo, kết quả như vậy, thật đáng cảm kích. Ông lại muốn thụ giáo tôi, lẽ nào tôi lại chối từ.

    Khi ông dừng lời, tôi nhìn thấy có chút gì đắn đo trong vẻ mặt ông. Rồi ông nói tiếp:

    - Tôi sẵn sàng để truyền nghề mà không nhận tiền học phí. Ông học bao lâu cũng được, ông đến lúc nào cũng tùy, miễn tôi còn đủ ngón nghề truyền lại. Nhưng tôi chỉ yêu cầu ông một điều… là mỗi buổi tối, lớp tôi dạy võ kết thúc vào lúc mười giờ, thì một giờ sau, ông sẽ đến học. Ông có thể học đến sáng, nếu ông đủ sức. Học thời khoảng đó, chỉ có tôi và ông thôi. Chắc ông đã hiểu, như thế là để an toàn cho tôi và cả cho ông.

    Tôi đã học môn quyền Anh, học võ Thiếu Lâm, học Karatê và Hiệp khí đạo, nhưng không rõ nền võ thuật dân tộc của mình có đặc điểm gì. Đôi khi thầy võ pha trộn đủ thứ và gọi là Võ Việt Nam, nhưng chỉ tạo được món tả-pí-lù không chút hương vị. Một dân tộc có sức sống và sức chiến đấu phi thường như dân tộc ta, hẳn nhiên đã tạo cho mình một môn tự vệ cũng như tấn công rất là độc đáo. Hồi sống dưới chế độ cũ, tôi đã được nghe nhiều lần các tay võ sư khét tiếng từ Nam Triều Tiên sang đây làm huấn luyện viên trong quân đội chúng đã bị những chàng thanh niên Bình Định, chưa phải vào loại bậc thầy, đánh văng xuống đài một cách dễ dàng. Thú thật, tôi đã nge những điều ấy với lòng hoài nghi. Có thể đó là những lời khoa đại cho thỏa tấm lòng tự ái dân tộc đang bị tổn thương vì quân xâm lược. Nhưng chỉ tiếp xúc với ông Trần Sơn chưa đến mười ngày tôi đã nhìn thấy được sự sắc sảo, lợi hại của võ Bình Định. Ở môn này, tính cách ngắn đòn thật là tuyệt vời. Thế công và thủ được rút gọn lại trong hai cùi chõ - gọi là cặp kiềng - mang trọng lực của toàn thân, theo hướng xoay vòng, kết hợp với hai đầu gối - là tiêu độc cước - di chuyển từ dưới lên trên, lấy sự va chạm đối phương làm cái sức mạnh nhân lên gấp bội của mình. Với vài chiêu thức xoay chuyển linh hoạt, có thể chớp nhoáng áp vào đối phương, phía trên đánh bật quai hàm hay gãy cần cổ, phía dưới thúc dập lồng ngực hay vỡ mạn sườn.

    Ông Trần Sơn đã chỉ dạy cho tôi hết lòng và tôi cũng đã tận lực học hỏi. Tôi chưa gặp được người thầy dạy nào tài giỏi, chí tình như thế, và theo lời ông, chưa bao giờ ông gặp một học trò siêng năng, tiếp thu mau chóng như tôi. Mỗi đêm, tôi học từ mười một giờ đến hai giờ sáng, trong căn phòng gài kín cửa, và tôi thường tập buổi trưa ngoài giờ, cũng cái thời điểm từ mười một giờ cho đến hai giờ, trong nắng chói chang, để quen với sự nhọc mệt. Giữa thầy trò tôi, lần hồi có mối cảm thông hết sức sâu xa, và ông Trần Sơn đã không ngần ngại dạy tôi những đòn ác hiểm, những thế gỡ nguy vào lúc khẩn cấp, vốn là những món bí truyền ít đem phổ biến cho ai.

    Tôi học được gần một năm thì có lệnh đổi công tác vào đầu 1979. Bấy giờ trên tuyến đường sắt từ Thủ đô đến thành phố Hồ Chí Minh, hành khách đi tàu thường bị bọn cướp hoành hành, nhiều nhất là đoạn từ Qui Nhơn đến Long Khánh. Sự trấn lột nhiều khi diễn ra công khai, dưới nhiều hình thức. Có lối giật đồ chớp nhoáng rồi phóng xuống đường, khi tàu đang chạy, gọi là “ăn bay”, có lối chậm chạp chĩa dao vào gáy một người hành khách vào loại “cổ tại”(1) cho tên đồng bọn lột đồ rồi lặn qua một toa khác. Qui mô hơn hết là loại “dậm gon” thường có mỗi nhóm từ năm cho đến mười tên chuyên dùng bạo lực để mà cướp đoạt: sau khi điều tra toa tàu nào có nhiều hàng, chúng cho hai tên mang súng ngắn chặn hai đầu, đoạn kéo vào trong đánh một vài người thị uy để gây khiếp sợ rồi lột tất cả đồng hồ, nhẫn vàng, tiền bạc cho vào một chiếc bao tải. Những ai kêu la hoặc muốn kháng cự lập tức bị ăn ngay một cú đấm trời giáng, hay nhẹ nhàng hơn, được một bàn tay vuốt nhẹ lên má hay lên mang tai, trong bàn tay ấy có kẹp một lưỡi dao lam thật sắc. Thu gom xong rồi, bọc chúng leo lên nóc tàu chuyển sang toa khác, đợi những khoảng tàu chạy chậm là nhảy xuống đường, thường là khoảng rừng cao su ở mạn Dầu Dây, rồi đón ô tô đi về thành phố.

    Con tàu là nơi tập trung nguồn hàng đủ loại, lại ở trong thế di động khó bề theo dõi cũng như săn đuổi nên hấp dẫn bọn cướp giật, và chúng kéo về mỗi ngày mỗi đông. Một số các tên bợm bãi từ sau Giải Phóng vẫn nằm im lặng ngóng đợi tình hình, nay cũng choàng dậy nhập cuộc với những đồng bọn đang hồi thịnh phát. Thật khó hình dung được hết tên gọi của đám giặc này. Dựa theo đặc điểm hình thù, đặc điểm sinh hoạt, chúng mang những thứ biệt danh đầy vẻ giang hồ. Những tên Xì Đen, Công Thẹo, Cu Lùn, Hòa Lai, Long đầu máy, Hải sứt, Bi Bò, Long Ngưu Ma Vương, Dũng xì-ca-hoa v.v… làm sao mà kể hết được, đó là bao nhiêu nhãn hiệu về một tệ nạn xã hội, những thứ danh xưng của những tội lỗi sống trên đau khổ của những cuộc đời lương thiện, cần cù.

    Đội công tác chúng tôi được lệnh bám tàu, theo dõi các đối tượng ấy, chận bắt tại trận, và nếu cần thì truy lùng đến tận hang ổ, sớm đem lại sự ổn định cho các toa xe và sự bình yên cho khách đi tàu. Đó là thời gian của những đêm dài thức trắng, những ngày tập dượt nhảy tàu trên nhiều tốc độ và nhiều địa hình, đó là những buổi rượt bắt ở trên nóc toa, những pha cận chiến vô cùng ác liệt, những màn đổi dạng thay hình chớp nhoáng trà trộn vào các khối người chen chúc để kịp đánh ngón phủ đầu bọn ác khi chúng ra tay.

    Phải mất trên hai năm trời chúng tôi mới giẫy sạch được một lũ bất lương có hạng, tính đến trên vài trăm người. Trong suốt thời gian đối phó với đám giặc này tôi thấy mình chịu ơn ông thầy võ rất nhiều. Trên những toa tàu đông ứ những người, áp đảo nhanh chóng bọn xấu đòi hỏi phải có ngón nghề thích hợp. Bọn cướp bóc này có nhiều tay võ cao cường và chúng thường coi sinh mạng nhẹ hơn lông… chân, do đó nếu không hết sức nhanh tay và không thừa sức áp đảo một cách quyết liệt thì sẽ bị chúng triệt hạ lập tức, để mà thoát thân. Ngoài một số ít đưa đi cải tạo, phần lớn được dự khóa học ngắn ngày, sau đó được chỉ hướng về tìm cách làm ăn, còn lại một số tổ chức thành những mạng lưới cho từng toa tàu, sống bằng buôn bán đôi thứ lặt vặt, như là kẹo bánh, nước uống, thuốc lá, cả sách báo và cù là, để tiện theo dõi những bọn bất lương xâm nhập.

    Tôi còn nhớ rõ, vào buổi sáng ngày hai mươi tám tháng chạp âm lịch, đầu năm 80, trong khi chờ đợi giờ tàu khởi hành, tôi ghé quán cơm sau ga để uống một ly cà phê.

    Bước vào, tôi thấy ở một chiếc bàn nơi góc bên trái năm tên đang ngồi trò chuyện rì rầm, và thoạt thấy tôi chúng bỗng lặng im. Nhìn vẻ mặt hắc ám của bọn này, tôi đã sinh nghi. Một ổ buôn lậu hay một băng cướp vừa mới xuất hiện? Tôi chọn một chiếc bàn trống ở góc đối diện, ngồi xây mặt về phía chúng. Chưa kịp gọi cà phê uống, tôi thấy thằng Tư Đầu Bò và thằng Sơn Khỉ từ ngoài bước vào, mỗi đứa mang theo một chai dán nhãn Cognac. Chúng chào tôi rất kính cẩn, kéo ghế ngồi xuống cạnh tôi rồi gọi năm tên ở góc bên kia:

    - Qua đây uống với anh Hai, tụi bây!

    Cả bọn kéo sang, và tôi đứng dậy làm như nhường chỗ để lùi vào trong chọn một thế ngồi nơi góc. Như vậy tôi dễ kiểm soát hành động của chúng, và nếu có sự đụng độ thì đỡ phải lo đề phòng ở phía sau mình. Thằng Tư Đầu Bò rót rượu ra ly, cung kính đặt trước mặt tôi:

    - Xin mời anh Hai.

    Tôi cười:

    - Mấy cậu thông cảm, mình không uống được.

    Sơn khỉ nhăn cái mặt khỉ, kêu lên:

    - Trời ơi! Anh Hai chê rượu của bọn em sao?

    Một tên trong đám lạ mặt chêm vào:

    - Hay là anh Hai sợ bọn em bỏ thuốc độc?

    Tôi nghiêm nghị đáp:

    - Thuốc độc, các cậu không dám đem mời tôi đâu. Nhưng tôi không quen uống rượu. Các cậu thích uống thì cứ tự do.

    Tư Đầu Bò bèn giả lả:

    - Vậy anh Hai uống cà phê sữa nghen? Để đàn em gọi.

    Tôi liền khoát tay:

    - Các chú để tôi tự nhiên.

    Rồi tôi đứng dậy. Tư Đầu Bò nói khẩn khoản:

    - Anh Hai… Hôm nay là cận Tết rồi, bọn em xin mời anh Hai dự bữa tất niên. Nếu được anh Hai nhận lời, bọn em sẽ làm tiệc lớn.

    Tôi đáp:

    - Đời sống các cậu còn nhiều khó khăn, thôi xin gác lại chuyện tiệc tùng đó. Thành thật, tôi rất cảm ơn, nhưng không thể nhận lời được.

    Nói xong, tôi bước ra ngoài. Sơn Khỉ và Tư Đầu Bò là những tên cướp lì lợm, đã từng tái phạm đến lần thứ ba, sau đó mới tỏ ra vẻ nhu thuận nhưng tôi hiểu chúng chưa phải thật lòng. Hẳn chúng đang cấu kết với năm tên lạ mặt, bọn này chưa được nếm đòn nên còn lộ vẻ ngông nghênh. Những ngày gần đây một số nằm trong mạng lưới các toa có cho tôi biết về các dự định của bọn trùm sỏ bị tôi trừng trị trong mấy năm qua. Chúng đã quyết định chấm dứt sinh mạng của tôi, và đã cò kè trong sự trả giá, kể cả giá tiền trong từng mức độ làm tôi tàn phế, nếu không có được khả năng - nói theo văn chương của chúng - giũ sạch tên tôi khỏi sổ bộ đời.

    Chuyến tàu cuối năm đông nghẹt hành khách và khởi hành trễ. Mỗi khi tàu chạy tôi vẫn quen ngồi ở trên nóc toa để được thoải mái, và trong những ngày còn đối phó nhiều với bọn lưu manh, ở vị trí ấy tôi dễ ứng chiến kịp thời với những biến cố trên tàu. Chỉ cần đồng đội của tôi hiện lên nóc toa nào đó vẫy tay ra hiệu là tôi có thể chạy băng đến nơi, chỉ trong vài phút. Ngồi trong những toa chật chội không được thông báo nhanh chóng, và muốn xê dịch cũng không phải dễ. Có những trường hợp bọn cướp ra tay rất nhanh rồi phóng xuống đường, vụt biến mất hút trong vùng hoang rậm ở các chân núi. Bấy giờ chỉ có ngồi trên nóc toa mới phát hiện được kịp thời và định rõ hướng để phóng đuổi theo.

    Gần nửa năm rồi tình hình kể như đã được ổn định, các băng nhóm đều rã tan. Thỉnh thoảng cũng có vài vụ cướp giật loại nhỏ và các thủ phạm đều bị phát hiện, chỉ còn những trò lấy trộm vặt vãnh dựa vào sơ hở của hành khách, là chưa có thể triệt tiêu.

    Trong những chuyến đi bảo vệ, tôi vẫn ngồi trên nóc toa, ngày cũng như đêm, không cho phép mình chợp mắt, hưởng cái nhịp điệu lắc lư của dãy toa dài rùng rùng chuyển mình trên con đường sắt ngốn từng mảnh lớn không gian, nghe những luồn gió mát rượi phần phật thổi qua mái tóc như trút bỏ hết mọi nỗi buồn phiền ám ảnh tâm hồn ném trả về phía sau xa.

    Những ngày trật tự đã có phần nào ổn định, trên các con tàu xao xuyến không ngừng tôi vẫn ngồi im như thế, cảm thấy lòng mình thư thái trong một nỗi vui nhè nhẹ, lâng lâng. Tôi nhìn rõ hơn sông biển, núi đồi vây bọc quanh tôi, nhìn rõ hơn bao giờ hết đồng ruộng, cửa nhà, vườn tược, phố phường trải giăng trước mắt, cả màu sóng xanh ở tận chân trời ôm ấp trong lòng những áng mây cao.

    Con tàu giúp tôi yêu mến quê hương, đất nước mình hơn, và những chuyến đi qua lại trên tuyến đường này không làm cho những vẻ đẹp trở nên nhàm chán của sự quen thân đã quá lâu ngày, trái lại, vẻ đẹp ấy càng thắm thiết, càng mới lạ hơn qua những khám phá không ngừng của sự thâm nhập càng ngày càng lắng sâu hơn. Hẳn là như thế nên một tình yêu chân thật không bao giờ thích có sự đổi thay đối tượng của mình, bởi những vẻ đẹp của tâm hồn người, như của thiên nhiên, phải có thời gian tìm hiểu, thời gian hòa nhập, lắng sâu.

    Chuyến này tôi được nghỉ phép về quê ăn Tết, tôi lại ngồi trên nóc toa, ở cái vị trí quen thuộc, lan man nghĩ về Củ Chi, miền đất quê tôi, đã gần một năm trời rồi chưa về thăm được. Cha mẹ tôi đã già rồi, các người đã từng bám trụ kiên cường trong biết bao năm, góp phần bảo vệ mảnh đất là vách sắt thành đồng suốt thời chống Mỹ, từ một vùng trắng thê lương mang đầy dấu vết của sức hủy diệt bạo tàn, ngày nay màu xanh đang từng bước lớn mang sức sống mới giăng tỏa khắp nơi, điểm những mái ngói đỏ tươi của những công trình tân tạo… Những cái bộ mặt hắc ám tôi bắt gặp trong hàng quán sau ga, vào buổi ban mai, thỉnh thoảng hiện lên như một ám ảnh mơ hồ rồi bị xua tan, và theo con tàu lắc lư những mối suy tưởng của tôi lại được bập bền trôi về nhiều ngả.

    Chưa bao giờ tôi thấy yêu con tàu, yêu mảnh đất mình đang sống như hiện nay, yêu đến nghẹn ngào, với sức vươn lên trên mỗi nhọc nhằn, trên những cản lực của những trì kéo lỗi thời đọng lại từ bao giờ chế độ dằn vật con người. Chỉ có phấn đấu hết lòng cho một tình yêu, con người mới hiểu giá trị của tình yêu ấy. Tôi sẵn sàng để hy sinh, bảo vệ con tàu, sẵn sàng để chết cho quê hương mình yên vui, không có mảy may luyến tiếc, vì thế tôi không bao giờ phung phí sức khỏe và không phung phí thời gian, tôi phải tổ chức cuộc sống mỗi ngày của mình sao cho phong phú và được hoàn toàn hữu ích. Cho đến những loài cây cối vô tri chen chúc bên đường cũng đem cho cuộc sống này những thước củi chụm hoặc những bóng mát, con người càng không thể quên vai trò, quên tính hữu dụng của mình đối với xã hội.

    Tàu dừng ở ga Suối Kiết rồi lại tiếp tục lăn bánh lúc ba giờ chiều. Nắng còn gay gắt nhưng nhờ ngọn gió ngoài khơi quạt vào pha loãng sức nóng, đẩy nó về phía những dãy non xa.

    Khi con tàu đã lấy nhịp điệu đều đặn, ồn ào một cách vội vả thì tôi lại chìm đắm trong những mối suy tưởng lan man. Bỗng từ ở mé nóc toa trước mặt hai cái đầu người ló lên, rồi hai gã khá lực lưỡng xuất hiện đi rất nhanh về phía tôi. Rõ ràng đó là hai tên trong số những người lạ mặt ban sáng. Theo một linh tính quen thuộc của sự chiến đấu, tôi quay ngoắt người rất nhanh nhìn lại phía sau, kịp thấy một tên lao tới, định tấn công tôi trong lúc bất ngờ. Tôi nằm ngay xuống, lăn qua bên trái, quày người quất một đòn mạnh bằng bàn chân phải vào hai ống chân tên này. Y ngã sấp xuống trần tàu. Hai tên phía trước xông đến, nhưng tôi kịp ngồi dậy được, đỡ các ngòn đòn của chúng, đấm ngã một tên và đá một tên gục xuống. Nếu tôi đánh mạnh một chút thì cả hai tên đã văng xuống đường, bể óc mà chết.

    Bấy giờ ở phía trước mặt ba tên đã vội trườn lên và ở phía sau là ba tên khác. Bọn này đã bị tôi hạ tại trận trong những năm qua, nhiều tên đã từng tỏ ra hối hận, đã khóc một cách chân thành. Sau một thời gian thấy chúng lặn mất, tưởng chúng tìm được nghề tốt hoàn lương, nào ngờ lại ngoi đầu dậy với cái lốt cũ hung hãn hơn bao giờ hết. Trong thoáng chốc đó tôi tự hiểu rằng không nên thành kiến với con người, nhưng cũng không thể quên rằng cái cũ chưa chịu nằm yên dễ dàng trong các quan tài.

    Thật may là tôi có nóc tàu này, vì diện tích nó không chứa được nhiều và sự di động hạn chế được sức tấn công của các đối thủ. Thoáng chốc tôi đã ở trong một thế gọng kềm, không đợi bọn chúng ập vào, tôi xông tới trước đánh hạ ngay tên đứng giữa khi nó chưa kịp ra tay và tôi phóng tới, để lại năm thằng phía sau, đoạn quay lại tấn công chúng. Nóc tàu không cho phép chúng di chuyển dễ dàng và chúng bị ép vào nhau, do đó tôi thoải mái giáng những đòn khá nặng. Tôi quyết cho chúng sụm ngay trên tàu để khỏi ngã nhào xuống đường vì không nỡ nào giết chúng. Khi ba tên nữa ngã quỵ thì hai tên còn sót lại chống cự rất là quyết liệt. Một trong hai tên là Hòa Mắt Mèo với đôi tròng mắt đỏ tía long lên sòng sọc có vẻ là đôi mắt cọp, mang loại giày vải hành quân, mũi giày hơi bị cộm lên một cách bất thường, có thể giấu một mũi nhọn hay một lưỡi dao.

    Khi nó hoa cánh tay mặt và nhứ cú đấm tay trái, tôi hiểu động tác giả này chuẩn bị cho một cái đá chết người nên khi mũi giày đáng ngờ vực kia định quất ngang vào hông tôi thì tôi đã áp sát vào người nó. Chiếc cùi chõ tôi đánh bật hàm nó như dội nó lên và ném cả con người nó xuống một đồng bọn đang nằm ôm bụng rên la quằn quại. Bấy giờ con tàu vượt qua một chiếc cầu sắt và tôi định bồi cú đá cho Hòa Mắt Mèo bơi giữa dòng sông, nhưng tôi kịp dằn lòng được. Để đôi giày vải mang đồ ám khí khỏi gây tác hại, tôi đạp mạnh xuống một cổ chân y đủ làm cho y lọi cẳng, ít nhất cũng phải đôi tuần mới đi lại được. Thằng đồng bọn của tên Hòa thì khỏi cần phải dài dòng. Nó đã liều mạng xông tới, nhưng đầu gối tôi đã đẩy y nằm bất động lên cái thân xác tên Hòa bây giờ đã nhắm hẳn đôi mắt cọp.

    Tôi chưa kịp dừng lại thở thì ở nóc toa bên cạnh bọn tiếp viện đã kéo lên. Phải đón ngay chúng, trước khi chúng kịp xông tới. Tôi bèn nhảy sang và không ngờ chúng ùn lên đông đảo như vậy. Trong số bảy tên quyết áp đảo tôi từ cả hai phía, tôi nhận ra thằng Hải sứt, Tư Ke và Ba Bình Dầu. Chúng được đưa đi lao động cải tạo khoảng một năm trời và đã trở về vài tháng trước đây, bây giờ trâu lại tìm trâu, ngựa đi tìm ngựa, chúng đã kết hợp thành bầy đặng tấn công tôi. Tất cả nỗ lực của chúng giờ đây là nếu không đánh gục tôi thì cũng đẩy tôi nhào xuống đường tàu ở vào một đoạn nào hiểm nghèo nhất. Nhưng muốn hay không thì tôi cũng ở giữa một vòng vây, và cả cái khả năng rớt xuống mặt đường được dành tối đa cho bè lũ chúng. Vì vậy càng đông chúng càng khó đánh và tôi đã khai thác sự do dự của kẻ đối phương để giáng những đòn quyết định. Thật ra tôi cũng ăn đòn không ít nhưng liều lượng chưa đáng kể. Bảy tên lần lượt bò trên nóc tàu như là một đám bại liệt. Nhưng bọn ở toa này vừa bị hạ thì bọn khác lại trồi lên ở toa kế cận, buộc tôi nhảy sang ứng chiến, và cứ mỗi lúc chúng lại ào tới đông hơn. Rõ ràng đây là thế trận đã được sắp đặt lâu ngày, đưa tôi vào xa luân chiến để bị tiêu diệt. Phải có một lũ cầm đầu thâm độc ẩn núp đâu đó trên con tàu này chỉ huy các đợt tấn công. Kế hoạch mời rượu, vào lúc ban sáng, rõ ràng nhằm vô hiệu hóa phần nào khả năng đề kháng của tôi. Và bữa tất niên mà Tư Đầu Bò khẩn khoản mời tôi lại chính là đây.

    Như thế, tôi phải liên tục đón đỡ và giáng trả đòn, từ toa này sang toa khác, đánh gục đến tên thứ tám mươi ba thì tôi đã mệt đuối người. Bấy giờ chừng như khắp cả con tàu đã được báo động. Tôi nghe tiếng còi thét lên và người trưởng xe xuất hiện, trườn lên trên một nóc toa. Tôi phải khoát tay ra hiệu và kêu rất to để đồng chí ấy nghe thấy: “Cứ để tàu chạy, không được dừng lại”.

    Lực lượng kẻ thù vẫn còn và tôi chỉ chống trả được trên các địa thế nhỏ hẹp đang di động này. Tàu đã chạy qua các ga Gia-Huynh, Trảng Táo, Gia Ray mà may mắn thay đây là những trạm không phải dừng lại. Bây giờ bọn chúng không dám ồ ạt như trước nhưng lại quyết liệt hơn nhiều. Cái xấu đang đòi quyền sống, đang giành đất sống, và chúng thừa hiểu cần phải một mất, một còn. Phần tôi tuy muốn lả đi nhưng đã cố gắng tột cùng để giành giật thế chủ động. Tôi phải tính toán nhiều hơn trong từng cú đánh, và mỗi miếng đòn phải có sức tập trung lớn triệt hạ từng tên. Mồ hôi đầm đìa như tắm, mắt tôi nhiều lúc hoa lên và hai thế chân xoay trở có phần loạng choạng. Tôi phải tự nhủ không cho phép mình được ngã khụy xuống, tôi phải cố gắng đứng vững trên chiếc tàu này như một mảnh đất của quê hương mình. Khi tàu vượt ga Bảo Chánh, khỏi phải dừng lại, tôi đã đánh gục đến tên thứ chín mươi bảy và rất âu lo biết rằng đến ga Long Khánh thì tàu đã tới trạm dừng. Tôi sẽ vét nốt sức lực cuối cùng của mình còn lại để mà thủ thắng cho đến phút chót, khi một đám khác lại thấy trồi lên ở trước mặt mình. Bốn tên lại bị tôi tới đón đầu đánh gục ngay xuống nóc tàu và năm tên khác lại hiện kế tiếp ở một toa khác. Mấy lần tôi định đem những miếng đòn ác hiểm mà ông Trần Sơn đã dạy cho tôi để tự cứu nguy vào lúc khốn cùng, nhưng tôi tự kềm lại được. Gây ra tật nguyền mãn kiếp cho lớp người đáng thương kia, lớp người mù quáng, dại dột coi lầm tôi là kẻ thù, làm sao tôi nỡ nhẫn tâm? Dù chúng quyết tâm để diệt trừ tôi nhưng tôi không thể nhìn chúng như nhìn kẻ địch. Dầu sao tôi cũng cám ơn thầy võ của tôi nhiều lắm, vì nếu không có thời gian học tập vừa qua tôi không đứng vững cho đến phút này. Thế đánh của võ Bình Định, trong lúc cận chiến, chính xác như là quyền Anh và quyết liệt hơn cả võ Triều Tiên, đồng thời tính hiệu quả cao của nó vượt hẳn thế đánh biến hóa của võ Trung Hoa và sự khôn ngoan của võ Nhật Bản.

    Như thế, trên con tàu mười sáu toa, tôi đã đánh từ nóc toa cung ứng, ở thứ mười bốn, và đánh xuyên suốt đến toa số một. Một trăm lẻ chín tên cướp đã bị đánh gục, la liệt, lăn lộn, lổn ngổn trên nóc của chuyến tàu dài. Và đến tên thứ một trăm lẻ chín thì tàu dừng lại, ở ga Long Khánh.

    Nỗi lo của tôi đã đến. Tôi phải nhảy vội xuống tàu để nhờ tiếp cứu. Nhưng một số tên còn lại và những tên ngoi dậy được sau trận vừa rồi đã lại ào đến, vây tôi vào giữa. Tôi phải đánh đấm một cách tuyệt vọng, ban phát những đòn quyết liệt vào đám lưu manh vẫn còn hăm hở. Một tảng đá ở đâu đó ném ngay vào sọ tôi, khiến tôi lảo đảo. Máu chảy xuống mờ đôi mắt, tôi phải đón đỡ liên tục, giáng trả liên tiếp và một tảng đá khác nữa như bắn vào cạnh sườn tôi, khiến tôi ngã chúi rồi lại vùng dậy, quyết không để cho bọn xấu được quyền thủ thắng trong keo vật này. Giữa lúc tôi đang ở trong trạng thái mê loạn như thế, tôi nghe có tiếng súng nổ, anh em công nhân cầu đường đã kéo ùa ra tiếp trợ cho tôi. Những tên lưu manh kéo nhau chạy trốn, một số đã bị tóm bắt tại chỗ hoặc bị lùng sục và được lôi ra từ các bụi rậm, từ các ngõ hẻm.

    Tôi dựa vào thân toa tàu để thở và lau máu chảy xuống mờ hai mắt. Khi chân cất đi tôi chực té sấp, nhờ hai công nhân đường sắt dìu tôi lên toa gần nhất và gọi y tá băng bó cấp cứu cho tôi. Sau đó, tôi nằm mê man không biết gì nữa.

    Tôi đã nằm vùi như thế suốt mấy ngày Tết, chỉ uống nước cháo và sữa. Đến chiều mồng hai thì tôi dậy được, mình còn ê ẩm như giần và đôi chân chưa bước vững. Nhìn vào tấm lịch, tôi bỗng sửng sốt. Thế là tôi đã nằm liệt suốt bốn ngày rồi. Ngày mai, đã là mồng ba… Tôi nhớ lời xưa đã dạy trong một câu hát: “Mồng một nhà cha, mồng hai nhà vợ, mồng ba nhà thầy”… Tôi đã bỏ qua mồng một không về Củ Chi thăm cha mẹ được, và ngày mồng hai này đã qua đi cũng không kịp đến thăm cha mẹ vợ. Nhưng ngày mồng ba còn đó, tôi còn có thể thăm thầy, người thầy võ đã góp phần cứu nạn cho tôi.

    Sáng ngày hôm sau, tôi đã chống nạng, kêu chiếc xích lô, đưa tôi ra ga. Cơ quan cho tôi nghỉ phép dài ngày để dưỡng bệnh. Tôi lại lên tàu, nằm ở cút-sết suốt ngày hôm đó, và bảy giờ tối đến trạm ga cũ, nơi tôi “quét dọn” ngày nào.

    Tôi lê vào quán, ăn một bát cháo rồi gọi xe ôm đi đến thăm thầy. Tôi bước vào cổng nhà ông Trần Sơn, khoảng tám giờ tối. Gió biển thổi vào buốt lạnh và cả ngôi nhà chìm đắm trong một bóng tối đen dày do bóng cây vườn tỏa rậm càng tăng thêm vẻ thâm u. Tôi đi chậm chạp đến chỗ cửa chính, và nhìn vào trong tôi rất ngạc nhiên thấy ông Trần Sơn đang ngồi lặng yên với vành băng tang trên áo, bên chiếc đèn dầu lờ mờ soi sáng mấy chục đệ tử ngồi ở trước mặt. Tôi phải nín thở, nép mình vào cửa, lắng nghe động tĩnh bên trong.

    Một lát, thầy tôi cất tiếng:

    - Các con thấy đó, cũng là con dân đất nước mà có những người hết lòng lo cho công ích không quản thân mình, lại có những người chỉ nghĩ đến điều tư lợi, thật là bất công và xấu hổ nữa. Các con học võ là để giúp đời, và để cứu người. Ngày nay đã khác xưa rồi, mình phải biết nghĩ đến những người khác, không ai có thể bo bo với điều tư lợi. Bởi vậy, diệt trừ kẻ ác, kẻ xấu, đó là bổn phận chúng ta. Lê Toàn là học trò của ta, là đồng môn của các con, nay vì trừ gian diệt bạo mà phải hy sinh, các con đều phải báo thù…

    Tôi bỗng giật mình. Thế ra, thầy tôi tưởng rằng tôi chết rồi sao? Sáng nay, trên tàu, nhiều người gặp tôi cũng đã ngỡ ngàng như thế. Phần đông đều đã nghe tin tôi chết, qua những miệng người vốn thương yêu tôi nên quá lo âu và qua miệng lưỡi kẻ xấu muốn cầu chúc điều tệ hại. Và ngày mồng ba hôm nay, những người học trò đến thăm Tết thầy đã được tham dự một lễ truy điệu cho người đồng môn đang đứng ngoài hiên.

    Trong cách xử sự cũng như ngôn từ của ông Trần Sơn có đượm vẻ gì cổ kính, một chút dã sử, ít nhiều truyện Tàu, pha cái không khí tuồng tích võ hiệp xa xưa. Mỗi người vẫn mang cái lốt văn hóa nào đó, đậm nhạt nơi mình, làm sao tránh khỏi? Nhưng ở bên trong cái vỏ cũ xưa của người thầy võ, là những tình cảm đôn hậu, chí thành. Thiết tưởng, giao tiếp ở đời, cũng như ăn bắp, ăn khoai, phải biết lột cái vỏ ngoài.

    Thầy tôi lại tiếp:

    - Trong những tháng năm theo đuổi nghề võ, các con ít nhiều cũng đã biết được những tay đầu sỏ côn đồ. Để chúng lộng hành như thế, là điều tội lỗi. Vậy các con nên nghỉ ngơi, sắp xếp trong hai ngày tới, và sáng mồng sáu, tất cả chúng ta đều phải lên đường, chia nhau truy tầm các tên thủ phạm đã hại Lê Toàn.

    Không thể nán nửa, tôi đẩy cánh cửa quen thuộc, lê bước nhờ cây gậy chống đi vào trong phòng. Thấy tôi xuất hiện, mọi người sửng sốt. Ông Trần Sơn mở to mắt kinh ngạc, hẳn ông tưởng là hồn ma hiện về. Tôi xúc động, chỉ kêu:

    - Thầy!

    Ông Trần Sơn hỏi giữa sự bàng hoàng:

    - Lê Toàn, hả con?

    - Con đây…

    Ông chạy nhào đến, ôm chặt lấy tôi và khóc to lên, tôi cũng ôm ông, nức nở. Ông nói giữa những nước mắt:

    - Con vẫn sống được sao con…?

    Giây lâu tôi mới có thể trả lời:

    - Con không đến nỗi nào đâu. Hôm nay con đến thăm thầy.

    Thầy tôi lại khóc và tôi lại khóc cùng ông. Rồi ông kéo tôi đến chiếc bàn ở giữa phòng:

    - Con hãy ngồi đây… ngồi đây… Ta thực không ngờ là con còn sống.

    Nén sự xúc động, tôi vội đứng lên, hướng về phía ông và phía những người bạn võ:

    - Tôi rất cảm kích, rất biết ơn thầy và các bạn đây đã có lòng thương đến tôi, muốn vì tôi mà trả thù. Nhưng xin thầy và các bạn đỡ phải bận lòng: bọn gây rối đó đã có pháp luật của chế độ ta xử trị. Thật ra, chúng đã lãnh đủ cái phần mình rồi. Trước hết, là nhờ công ơn dạy bảo của thầy.

    Khi những bạn võ của tôi đã ra về rồi, ông Trần Sơn mới hỏi tôi:

    - Làm sao con có thể đương đầu nổi với cả hàng trăm những tên côn đồ hung hãn như vậy?

    Tôi đáp:

    - Thưa thầy, con nghĩ là nhờ các ngón võ thuật dân tộc mà thầy truyền dạy và nhờ vị trí đặc biệt của những nóc tàu di động.

    Ông ngồi trầm ngâm, rồi nói:

    - Hẳn có một điều khác nữa mà con không muốn nói ra. Theo thầy, đó là khí thế của lẽ phải. Con người khi vì điều phải mà làm, và hiểu sâu xa điều đó thì gặp những lúc hiểm nguy thường có sức mạnh tăng lên bội phần. Ta nghĩ cách mạng vừa qua mà thắng lợi được, phần lớn cũng là nhờ vậy. Phải có cái gì lớn hơn sự sống của ta, cao hơn cuộc đời của ta, hòa nhập vào ta, thì mới giúp ta vượt qua được những trở lực tưởng không thể nào vượt nổi.

    Rồi ông lại hỏi:

    - Bao nhiêu kẻ bị đánh chết ở trong trận này?

    Tôi đáp:

    - Thưa không có một người nào.

    Ông hơi ngạc nhiên:

    - Những ngón bí truyền ta dạy cho con, con chẳng dùng sao?

    - Thưa thầy, có những phút quá nguy nan con đã toan dùng đến nó, nhưng rồi con tự chủ được. Nghĩ cho đến cùng, những con người đó vẫn chỉ là nạn nhân thôi, không phải là những kẻ thù. Cách mạng phải có nhiệm vụ giúp họ thay đổi cuộc đời theo chiều hướng tốt, đâu dám nghĩ chuyện giản đơn, thô bạo là tiêu diệt họ.

    Ông Trần Sơn ngồi im lặng như chìm đắm trong suy tưởng, rồi nói nhẹ nhàng:

    - Con đã giúp ta hiểu thêm Cách mạng, ta cám ơn con.

    Tôi nói:

    - Thưa thầy, con chỉ là một công an bình thường cố gắng làm tròn nhiệm vụ và chỉ có thế thôi. Những bậc cha chú, đàn anh đi trước trên con đường này đã có cuộc sống lớn lao gấp ngàn vạn lần. Những sự đau khổ, hy sinh, những điều làm được của từng người một, không sao kể xiết.

    Bỗng ông thầy võ thở dài:

    - Nghĩ buồn cho ta… đã sớm già rồi.

    Một lát, ông lại hỏi tiếp với giọng thân mật:

    - Vậy con có thể ở đây với ta được vài tuần không?

    - Thưa, con đã được cho nghĩ phép dài ngày.

    - Thế thì tốt lắm. Tôi muốn sau khi con khỏe, truyền dạy cho con tất cả bí truyền mà ta còn giữ phòng thân. Nhiều khi ta tưởng phải đem xuống mồ các bí truyền đó. Vì rằng thà chịu làm người ích kỷ hơn là tiếp tay cho lũ ác nhân. Nhưng nay, gặp con, ta có thể tin cậy được. Nói thật, ta tin cậy con như ta tin cậy ta đó. Ta sẽ trao lại tất cả cho con mà không sợ mất, mà không sợ thiệt. Những người kế thừa xứng đáng không chỉ là kẻ giữ của theo lối tôi đòi mà là những người có thể tăng trưởng cái vốn tiếp thu lên đến bội lần.

    Tôi đưa hai tay nắm chặt bàn tay của người thầy võ và cúi xuống hôn lên đó rất là trân trọng. Bàn tay đã khô gầy ấy rung nhẹ trong bàn tay tôi, và tôi nghe như từ đó có luồng hơi ấm lan truyền sang cơ thể mình. Tôi hiểu mình đã đem lại ít nhiều tin tưởng về cuộc sống mới cho ông thầy võ, và qua nỗ lực của bản thân tôi, ông thấy mình hữu ích hơn, mình cần thiết hơn cho cuộc sống này.

    Ghi lại câu chuyện của anh Mai Tài.

    VH.

    Rút từ Tuyển tập Vũ Hạnh, tập 1. Triệu Xuân tuyển chọn. Bản thảo do nhà văn Triệu Xuân biên tập hoàn chỉnh từ năm 2006. Từ năm 2006 đến 2010, NXB Văn học đã ba lần cấp Giấy phép xuất bản, cả ba lần, những đối tác nhận đầu tư in ấn đến phút chót đều “chạy làng”! Năm 2015, bản thảo này đã được xuất bản bởi NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh đầu tư in ấn.

    www.trieuxuan.info

     

    (1) Cổ tại: tiếng lóng của giới du đãng, bụi đời, nghĩa là “có tiền”.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,516,642

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/