Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,817,354

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Nguyễn Văn Trỗi ở Triều Tiên/ Tiếc nuối hoa hồng/ Từ một xứ lưu đầy

Phan Quang

  • Thứ ba, 14:17 Ngày 30/06/2020
  • NGUYỄN VĂN TRỖI Ở TRIỀU TIÊN

    Lòng mỗi người Việt Nam chúng ta xúc động biết bao khi, cách đây một năm, lần đầu tiên chúng ta nhìn thấy trên báo tấm ảnh chụp cuối cùng của Nguyễn Văn Trỗi, nó cũng là trận chiến đấu và chiến thắng cuối cùng của Anh chống bọn xâm lược Mỹ.

    Từ đấy hình ảnh người công nhân hai mươi bốn tuổi hiên ngang trước mũi súng quân thù, hai cánh tay bị trói nhưng bàn tay vẫn xòe ra làm tăng thêm sức mạnh cho lời nhắn nhủ. “Hãy nhớ lấy lời tôi!…” ngày càng in sâu vào tim và óc chúng ta, cũng như nó xuất hiện ngày càng nhiều bên các cỗ máy, trên đồng ruộng, cạnh các khẩu pháo. Nguyễn Văn Trỗi tiếp tục cùng chúng ta chiến đấu diệt quân xâm lược Mỹ, bảo vệ và xây dựng miền Bắc thân yêu.

    Đoàn nhà báo chúng tôi không ai khỏi bồi hồi xúc động khi gặp lại hình ảnh thân thuộc và thiêng liêng ấy của Nguyễn Văn Trỗi rất nhiều trên đất nước Triều Tiên anh em, từ những bức tranh lớn choán cả một bức tường cho tới những tấm ảnh nhỏ cắt từ một trang báo dán lên cỗ máy. Cũng như ở trên đất nước ta, ở đây Nguyễn Văn Trỗi đang cùng công nhân và nhân dân lao động Triều Tiên sản xuất, công tác và đấu tranh.

    Trong nhà máy cơ khí Ri On Xơng, một nhà máy lớn trên bảy nghìn công nhân thuộc trung tâm công nghiệp Hàm Hưng, dưới chân dung Nguyễn Văn Trỗi, chúng tôi nắm chặt không muốn rời bàn tay đầy mồ hôi và dầu máy của anh thợ tiện Chư Xưng In, Anh hùng lao động, đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên. Tổ sản xuất của anh hai mươi người, đã kết nạp Nguyễn Văn Trỗi và mười chín chiến sĩ nữa đang hoạt động ở miền Nam Triều Tiên từ cuối năm 1964. Họ đã thi đua làm việc bằng hai và đã hoàn thành vượt mức 7% kế hoạch sản xuất năm 1965 của mình vào ngày 30 tháng bảy này.

    Mỗi cỗ mày tiện mang tên một liệt sĩ. Máy Nguyễn Văn Trỗi do anh thanh niên Kim Bo Hac điều khiển, dẫn đầu toàn tổ. Kim Bo Hac đã cùng Nguyễn Văn Trỗi đạt 200% mức kế hoạch cả năm trong chín tháng. Kim Bo Hac nói với chúng tôi: “Như vậy tôi coi như đã giết được hai trăm tên xâm lược Mỹ, tiến nhanh thêm một bước trên con đường giải phóng miền Nam Triều Tiên và miền Nam Việt Nam”. Cũng như các bạn khác trong tổ, Kim Bo Hac có “sổ tay trả thù cho Nguyễn Văn Trỗi”. Tối tối, sau giờ làm việc và học tập, anh ghi lại những việc mình đã làm được trong ngày, coi mỗi thành tích là một hành động trả thù cho người liệt sĩ cùng giai cấp ở miền Nam Việt Nam. Chư Xưng In dẫn chúng tôi đến đầu giàn máy nơi đặt chiếc bàn con theo dõi tình hình sản xuất của tổ. Ở đây treo chiếc bản đồ vẽ nước Triều Tiên bị chia cắt. Hai mươi mũi tên mang hình hai mươi liệt sĩ đang vươn xuống miền Nam. Nguyễn Văn Trỗi, vẫn Nguyễn Văn Trỗi với hình ảnh hai cánh tay bị trói, dẫn đầu cả tổ. Tưởng như người thợ điện đã hy sinh ấy đang cùng các bạn Triều Tiên hăm hở ruổi rong trên con đường hòa bình thống nhất đất nước bằng cách tăng cường tiềm lực kinh tế và quốc phòng của miền Bắc.

    Chắc chắn hồi còn bán sức lao động của mình để kiếm sống, khi mắc sợi dây điện vào một ngôi nhà lụp xụp ở ngoại ô Sài Gòn, hay là khi giấu cuộn dây trong người lặn lội dưới gầm cầu Công Lý đợi xe Mac Namara đi qua, Nguyễn Văn Trỗi đã có lúc nghĩ đến những người bạn cùng giai cấp, ở một nơi nào đó, đổ mồ hôi kéo nên những sợi dây điện. Và nếu có vong hồn, giờ đây chắc chắn Anh đang mỉm cười sung sướng khi thấy mình thật sự trở thành một người công nhân kéo dây điện ở nhà máy sản xuất dây điện Bình Nhưỡng.

    Nguyễn Văn Trỗi được kết nạp vào tổ sản xuất Kim Ha Bong ngày 10 tháng một năm nay. Tổ sản xuất Kim Ha Bong gồm toàn nam nữ thanh niên lứa tuổi Nguyễn Văn Trỗi. Khi được tin người chiến sĩ miền Nam Việt Nam đã hy sinh một cách anh hùng, toàn tổ sản xuất hai mươi người sau giờ làm việc đã họp lại sôi nổi thảo luận: “Chúng ta phải làm gì để trả thù cho Nguyễn Văn Trỗi, ủng hộ nhân dân Việt Nam anh em?”. Họ nhất trí đề nghị lên cấp trên xin ghi thêm phần việc của Nguyễn Văn Trỗi vào nhiệm vụ sản xuất năm 1965 của tổ mình. Từ bấy đến nay, hằng ngày họ vẫn hoàn thành từ 128 đến 130% mức kế hoạch sản xuất, kể cả phần của Nguyễn Văn Trỗi. Vì Nguyễn Văn Trỗi, trong năm nay họ sản xuất ngoài kế hoạch ba nghìn tấn dây điện các loại.

    Chúng tôi đã gặp và nói chuyện lâu với người tổ trưởng tổ sản xuất ấy.

    Kim Ha Bong, hai mươi bốn tuổi, mới rời quân đội về tham gia sản xuất ở nhà máy từ hơn một năm nay. Anh đã là một người thợ giỏi. Anh nói: “Hai nước chúng ta chung một hoàn cảnh, chung một kẻ thù. Thủ tướng Kim Nhật Thành đã trực tiếp đến nhà máy chỉ thị cho chúng tôi: Nhân dân Việt Nam đang đổ máu vì đế quốc Mỹ. Chúng ta coi mỗi người Việt Nam hy sinh như một người Triều Tiên hy sinh, coi mỗi quả bom Mỹ ném xuống miền Bắc Việt Nam như một quả bom rơi xuống miền Bắc Triều Tiên của chúng ta. Chúng ta phải làm hết sức mình để giúp nhân dân Việt Nam anh em chiến thắng. Chúng tôi thực hiện lời Thủ tướng. Toàn tổ chúng tôi đã ghi tên tình nguyện sang chiến đấu ở Việt Nam và vẫn thường xuyên tập luyện quân sự. Trong khi chờ đợi lời yêu cầu của chúng tôi được các đồng chí Việt Nam chấp nhận, chúng tôi coi sản xuất vượt mức kế hoạch là hành động thiết thực để trả thù cho Nguyễn Văn Trỗi”.

    Ở Triều Tiên, Nguyễn Văn Trỗi đã trở thành một người công nhân đa năng: anh luyện thép, anh kéo dây điện, anh chế tạo cơ khí, anh dệt vải, anh sản xuất phân hóa học, anh xây dựng nhà máy mới… Nguyễn Văn Trỗi trở thành người bạn sản xuất thân thiết hàng ngày tựa hồ bằng xương bằng thịt bên cạnh những công nhân Triều Tiên, đặc biệt là những công nhân trẻ tuổi. Trước cổng lớn của phân xưởng cán thép nhà máy luyện thép Cang Sơn, chúng tôi thấy một tấm băng rất lớn chắc đã được căng lên từ lâu vì bụi than và đã làm sẫm lại màu vải đỏ tươi. Băng ghi dòng chữ: “Chiến dịch sản xuất 100 ngày thiết thực ủng hộ nhân dân Việt Nam”. Từ trên cao, Nguyễn Văn Trỗi - vẫn tấm chân dung đầu tiên của Anh mà chúng ta nhận được dạo này năm ngoái, với đôi mắt suy nghĩ và mái tóc hơi bù - nhìn xuống những con rắn lửa thép đang tự động chạy đi chạy lại từ chiếc máy cán này đến chiếc máy cán kia, cũng chăm chú như người công nhân điều khiển máy ngồi trước chiếc tủ đặt các loại đồng hồ điện. Đồng chí giám đốc nhà máy giới thiệu với chúng tôi, đấy là đường sắt và thép làm cầu sản xuất cho Việt Nam. Ở nhà máy dệt Bình Nhưỡng, nhà máy kết nghĩa với nhà máy liên hợp dệt Nam Định, có bốn chiếc máy mang số hiệu từ 313 đến 316. Đó là bốn máy của Nguyễn Văn Trỗi. “Tuy không có anh Trỗi ở đây, - chị thợ dệt nói - nhưng từ gần một năm nay, hàng ngày chúng tôi vẫn hoàn thành trên 110% phần việc của Anh. Nhà máy chúng tôi đang có phong trào thi đua đẩy mạnh sản xuất hơn nữa để trả thù cho nhà máy dệt Nam Định bị đế quốc Mỹ ném bom”.

    Hình ảnh Nguyễn Văn Trỗi thật thắm thiết trong tình cảm người dân Triều Tiên. Tấm gương chiến đấu và hy sinh của Anh, như nhiều đồng chí Triều Tiên nói, góp phần nhất định vào việc giáo dục thế hệ thanh niên Triều Tiên ngày nay. Nhân dân Triều Tiên muốn biết nhiều hơn nữa về Anh. Mặc dù đang giữa những ngày Quốc khánh bận rộn, ngay khi vừa nhận được cuốn Sống như Anh, báo Rôđông Xinmun, cơ quan Trung ương của Đảng Lao động Triều Tiên, đã dành trên hai trang báo trong hai ngày liền đăng bản dịch những phần chính của tác phẩm đó. Báo phát hành, Đài phát thanh Bình Nhưỡng đọc lại, thì ngay ngày hôm sau tòa soạn nhận được nhiều thư của bạn đọc gần xa nói lên suy nghĩ của mình đối với gương hy sinh của Nguyễn Văn Trỗi, đối với cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chúng ta. Nhiều người hứa sẽ biến căm thù và mến yêu thành hành động thiết thực góp phần vào cuộc chiến đấu chính nghĩa của chúng ta. Một bạn Triều Tiên kể lại: Ngay hôm báo Rôđông Xinmun trích đăng cuốn Sống như Anh, một em bé học sinh cấp một mang tờ báo về, đêm đọc cho mẹ là một người nội trợ nghe. Lúc đầu bà chỉ định nghe một đoạn, nhưng em bé cứ đọc mãi; người mẹ cứ lặng yên nghe, càng nghe nước mắt càng đầm đìa, và khi nghe hết thì đêm đã khuya. Bà đứng bật dậy, nói lớn một mình: “Không thể như thế được! Phải làm gì. Phải làm gì. Không thể như thế được!”.

    Gương chiến đấu và hy sinh của Nguyễn Văn Trỗi, cuộc đời ngắn ngủi của Anh là một dải lụa hồng vô tận thắt chặt thêm mối tình anh em chiến đấu đậm đà của nhân dân hai nước Việt Nam và Triều Tiên. Cùng chung một hoàn cảnh, cùng chung một kẻ thù, chúng ta hiểu rõ, như Nguyễn Văn Trỗi, phải làm gì để giành độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình, mang lại hạnh phúc cho nhân dân.

    1965

    TIẾC NUỐI HOA HỒNG

    Mải dừng chân nghiêng ngó cảnh đẹp dọc đường, tôi từ thủ đô Sofia đến thị trấn Kazanlak thủ phủ của Thung lũng Hoa Hồng khá muộn. Thành phố về đêm yên tĩnh. Chỉ thấy rực sáng dòng chữ ở mặt tiền khách sạn nơi tạm nghỉ qua đêm: Rosa (hoa hồng). Quả không có tên gọi nào thích hợp hơn.

    Theo hẹn, sáng hôm sau chúng tôi dậy sớm để kịp đi dự Ngày hội Hoa hồng. Sáng mùa hè mát như một ngày chớm thu. Làn gió nhẹ mang theo bàng bạc trong không khí hương thơm nhẹ nhàng tinh khiết của hoa. Vừa ra khỏi phố xá, ai nấy đều sững sờ trước một cảnh quan kỳ thú. Cả một cánh đồng mênh mông, một thung lũng nở rộ hoa hồng rộng hơn hai trăm hécta, đâu đâu cũng màu hồng phơn phớt chân chất của giống hồng thuần chủng. Hoa hồng ở đây chuộng hương hơn sắc, cho nên dáng hoa không sỗ sàng, sắc hoa không lộng lẫy như các loại hồng thời thượng được con người lai tạo gần đây. Thân cây thấp, cành nhiều gai – thì hồng nào hồng chẳng có gai, nếu không muốn hổ thẹn với danh xưng ấy! Lá hồng nhỏ và dày, đều cùng khép nép bên dưới như nhường chỗ cho hoa vươn lên; thành thử nhìn từ xa, toàn cánh đồng bát ngát dịu dàng một màu hoa trinh nguyên.

    Các thiếu nữ Bungari mặc y phục truyền thống, mỗi người mang một cái giỏ nhẹ sau lưng, mải miết hái hoa hồng cho vào giỏ, động tác nhanh nhẹn như các cô gái hái chè ở nước ta trình diễn ngày hội thi tay nghề. Xiêm áo các cô từa tựa như nhau: áo cánh trắng, ống tay rộng viền những đường hoa văn thêu bằng chỉ đỏ, bên ngoài khoác chiếc gilê chẽn làm tôn lên dáng đẹp thiếu nữ. Càng vui mắt vì không mẫu thêu nào giống mẫu thêu nào, khiến cho không người đẹp nào lẫn với người đẹp nào. Váy sẫm màu hơi ngắn, chắc hẳn để khỏi vướng víu khi di chuyển giữa đồng. Các cô đội mũ lụa nhẹ hoặc trùm khăn đỏ thắm cài nhiều đóa hoa hồng tươi; có người cắm hoa sin sít vòng quanh vầng trán tạo nên một chiếc vương miện toàn hoa. Về sau, trở lại nước Bungari nhiều lần, tôi hiểu thêm: các mẫu hoa trang trí trên trang phục dân tộc, đặc biệt màu sắc áo gilê của các cô thay đổi, tùy thuộc ở tuổi tác và vị trí mỗi người trong bậc thang xã hội. Như vậy, các cô gái hái hoa hôm nay – ít nhất trên nguyên tắc – đều là gái chưa chồng, bởi những cô đã thành gia thất sẽ mặc những áo chẽn bên ngoài màu trắng.

    Hoa hồng nở rộ vào mùa hè. Theo tập quán từ xa xưa, Hội hái Hoa hồng hằng năm diễn ra vào sáng chủ nhật đầu tiên của tháng sáu dương lịch. Hoa hồng thu hoạch tốt hơn cả vào lúc sáng tinh mơ, khi cánh hoa còn đẫm sương mai, có thế mới chưng cất được nhiều tinh dầu thơm. Cũng vì lý do ấy, hội hái hoa thường ngắn gọn; khi mặt trời mùa hè bắt đầu lên cao, tỏa ánh sáng chói chang, thì lễ hái hoa nhường chỗ cho các cuộc vui chơi nhảy múa đàn hát của thanh niên nam nữ.

    Cuối cùng lễ kết thúc bằng một đám rước truyền thống. Đoàn thanh niên hòa vào đám rước, vừa đi vừa hát theo sau một nhân vật dân gian vui nhộn. Tên nhân vật này là Bai Ganiu, người ta bảo tượng trưng một thương nhân tháo vát, vui tính và ít nhiều suồng sã xưa kia từng bôn ba khắp bốn phương trời chào bán đặc sản tinh dầu hồng nguyên khôi của đất nước hoa hồng. Đi sau cùng, khép lại đoàn rước là Nhà vua và Hoàng hậu Hoa Hồng trịnh trọng trên cỗ xe hoa.

    Hoa hồng khởi thủy từ đâu đến đất nước này? Các nhà nghiên cứu khẳng định hoa nguồn gốc châu Á, có thể từ vùng Cận Đông di thực vào. Song truyền thuyết dân gian không muốn hiểu theo cách ấy. Từ thuở xa xưa, các vị già lão ở Thung lũng Hoa Hồng, và bây giờ các thế hệ tiếp theo vẫn nhắc lại y nguyên câu chuyện. Rằng Hoa Hồng là quà Thượng đế ban cho đất nước Bungari. Ngày xưa có một nhà vua trị vì ở Istanbul kinh đô nước Thổ Nhĩ Kỳ, thời ấy xa xôi lắm, xa đến nỗi không ai còn nhớ tên nhà vua cũng như niên hiệu triều đại, nghe đồn ở Bungari có một chàng trai cực kỳ khéo tay. Vua cho vời chàng đến kinh đô, truyền xây cho nàng công chúa quý của mình một tòa cung điện. Chàng trai xây dựng và trang hoàng cung điện ấy tài hoa đến mức nhà vua hết sức hài lòng. Công việc hoàn tất, nhà vua Thổ Nhĩ Kỳ hỏi, nếu chàng trai muốn có ý nguyện cầu xin bất cứ việc gì ở triều đình, vua đều đồng ý ban cho. Chàng trai không màng của cải, vàng bạc, châu báu mà chỉ xin vua cho mình cưới nàng công chúa về làm vợ. Nhà vua nổi giận lôi đình, đuổi chàng ra khỏi kinh thành. Tuy nhiên, trước khi rời chốn kinh kỳ đất khách trở về quê cũ, chàng trai đã kịp nhận từ tay nàng công chúa tặng cho một cành hồng. Chàng mang cành hồng ấy về trồng trước cửa sổ, rồi ngày ngày chăm chút cần mẫn và thành tâm đến nỗi từ một cành hoa nở ra cả một thung lũng đầy hoa ngát hương thơm – nguồn lợi Thượng đế ban cho dân làm giàu xứ sở.

    Về diện tích tự nhiên, Bungari là một nước nhỏ: chưa tới mười hai ngàn kilômét vuông. Bù lại, trời ban cho đất nước này nhiều ưu ái: cảnh quan đa dạng và lắm sắc màu, đất canh tác chiếm tới bốn mươi mốt phần trăm diện tích đất nước; thêm vào đó bề dày lịch sử đầy biến động lưu lại cho xứ sở này rất nhiều di tích văn hóa đặc sắc. Tôi có dịp đi nhiều nơi bằng đường bộ, từ thủ đô Sofia ở mạn đông sang thành phố cảng Bourgas ở mạn tây theo con đường phía nam rặng núi Balkan, rồi men bờ Biển Đen ngược lên điểm nghỉ mát Varna, và từ đây trở lại thủ đô theo con đường dọc sườn bắc rặng núi ấy. Tôi đã thăm đồng bằng thuộc lưu vực sông Danube ở đông bắc, tiếp giáp nước Rumani, cũng như đến vùng tây nam núi đồi trắc trở liền kề nước Nam Tư. Thỉnh thoảng lại thấy cái biển chỉ đường dẫn đến tu viện, nhà thờ, mộ cổ… Tôi đã đặt chân đến đồng bằng Thrace ở đông nam, giáp giới Thổ Nhĩ Kỳ; đồng bằng này từ thời cổ đại đã nổi tiếng phì nhiêu, từng được thi hào Hôme ngợi ca trong thiên sử thi bất hủ Iliat. Nếu Tarnovo tự hào mình là cố đô của vương quốc Bungari vào thế kỷ XII và XIII, thì Jambul khoe mình có gốc gác lâu đời. Thành phố xinh xắn bên bờ sông Tundza ấy được biết hình thành từ thời đế chế La Mã. Giữ tập tục xưa, cho đến nay Jambul vẫn coi nữ thần săn bắn Diana(*) là thần hộ mệnh của mình. Biểu tượng của thành phố mang hình nữ thần Diana và dòng chữ: “Đến từ thượng cổ, ta vươn tới tương lai”.

    Sau chiến tranh thế giới thứ hai, công nghiệp Bungari có bước phát triển ngoạn mục. Tuy nhiên nông nghiệp và du lịch vẫn là hai nguồn mang nhiều ngoại tệ về cho đất nước. Trên các đồng bằng, trải rộng những cánh đồng lúa mì, sườn đồi thoai thoải trồng hướng dương hoặc ngô luân canh với cỏ luydec(*). Càng gần đến bờ biển, càng gặp nhiều cánh đồng nho, vườn cây ăn quả trồng đại trà táo, anh đào, lê… thỉnh thoảng xen vào khoảnh vườn trồng rau và trồng hoa trong nhà kính để xuất khẩu.

    Bungari là một trong những nước Đông Âu sớm nhận ra tiềm năng du lịch của mình, đã mạnh dạn đầu tư vào ngành ấy và trở thành một trong những điểm đến nổi tiếng nhất ở châu Âu từ đầu thập niên 70 thế kỷ trước. Thật ra, với bờ biển dài chưa tới bốn trăm kilômét, trừ yếu tố khí hậu và hệ thống giao thông tương đối tiện lợi, địa hình vùng biển nước này đâu phải phù hợp lắm cho du lịch. Bàn tay con người mạnh dạn cải tạo cảnh quan. Chẳng hạn vùng biển nằm giữa hai thành phố cảng Varna và Bourgas xưa kia chỉ lèo tèo một số ngôi nhà nghỉ vì bãi tắm không đẹp. Dãy rừng đồi chạy dọc theo biển lại đầy rắn rết. Nghe nói người ta đã mang con nhím về thả vào mạn rừng này, nhờ nó diệt hộ lũ rắn độc. Rồi xây cất lên nhiều khách sạn hiện đại đủ tiện nghi, cho chở cát vàng từ nơi khác về đổ xuống cải tạo bờ biển, từ đó tạo nên bãi tắm mang tên “Cát Vàng” lừng danh. Sau bãi Cát Vàng, đến “Bờ biển Mặt Trời” cũng ra đời theo cung cách ấy…

    Sau khi mô hình xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu tiếp theo Liên Xô lần lượt sụp đổ, Bungari lâm vào một thời kỳ suy thoái kinh tế nghiêm trọng. Dạo cuối năm 1996, báo chí phương Tây đã viết, “nước này đang đứng trên bờ vực thẳm”. Lạm phát tháng hai năm 1997 đạt ba con số: 243%! Lúc này không ít người nghĩ lại: thể chế chính trị vừa sụp đổ mang trong mình nó nhiều nhược điểm, dù sao nó đã làm đổi đời người dân Bungari. Tôi nhớ, cách đây lâu lắm, có đọc một truyện ngắn của nhà văn Bungari tiền chiến(*). Câu chuyện đơn giản mà cảm động. Hai vợ chồng bác nông dân đánh chiếc xe cổ lỗ chở cô con gái ốm đau đi tìm chim én trắng. Chẳng hiểu ai bảo cô, hễ nhìn được chim én trắng tất khỏi hết mọi bệnh tật, trở lại xinh tươi như xưa. Cô sẽ có hạnh phúc. Chiếc xe chở cô gái đã đi không biết bao nhiêu đỗi đường, đã ghé qua bao thôn xóm, song chỉ gặp toàn chim én đen. Nhưng cô gái vẫn tin rồi mình sẽ gặp chim én trắng, con chim làm nên hạnh phúc cho cô. Cỗ xe ghé vào một làng ven đường, hỏi thăm. Bác nông dân được hỏi ngạc nhiên: “Chim bạch yến? Tôi chưa từng được thấy, và cũng chưa từng nghe nói đến nó bao giờ”. Chợt nhìn thấy cô gái, biết mình lỡ lời, bác cao giọng nói đỡ: “Có thể có lắm. Có trâu trắng, chuột trắng, quạ trắng, thế thì sao không thể có chim én trắng cơ chứ?… Rồi cháu sẽ trông thấy, cháu gái ạ. Bác đây đã nhìn thấy, tại sao cháu lại không thấy? Chính mắt bác đã nhìn thấy một con chim bạch yến, lông cánh nó hoàn toàn trắng… Cháu còn trẻ thế, Chúa ban phước lành cho cháu, rồi cháu sẽ nhìn thấy chim én trắng. Cháu sẽ khỏi bệnh, sẽ hạnh phúc, cháu chớ lo… Chắc chẳng xa nữa đâu. Bác chủ xe à, bác cứ đánh xe đi theo đường có cột dây thép…”.

    Nhờ áp dụng những biện pháp mạnh mẽ và đau đớn, từ đầu năm 1998, kinh tế ổn định và hồi phục dần dần, tuy nhiên có vẻ chưa vững chắc lắm. Bungari ngày nay là một nước phát triển trung bình. Thu nhập quốc dân tính theo đầu người đạt hơn năm ngàn năm trăm đô la Mỹ (2000), thấp hơn năm trước. Tỷ lệ người thất nghiệp khoảng mười sáu phần trăm. Dường như ở nước Bungari ngày nay, ngày càng có nhiều người hơn so với thời trước đi tìm chim én trắng. Một vấn đề nữa không thể không quan tậm là dân số tiếp tục sút giảm. Nếu dân Bun ngày nay (2001) khoảng gần tám triệu người, thì dự kiến sau một phần tư thế kỷ nữa, người Bungari sống trên lãnh thổ mình còn hơn sáu triệu. Cứ một trăm người dân, đất nước hoa hồng có hai mươi hai người cao tuổi (so với 20 ở Phần Lan, Đan Mạch, Hunggari; 21 ở Pháp, Áo, v.v…).

    Ai đặt chân đến Bungari đều có ấn tượng tốt với người dân xứ này. Nhiệt tình, hiếu khách, vui nhộn – ở thôn quê chỉ cần dăm người Bungari họp mặt, đã có thể làm nên một hội hè. Khi lần đầu tôi đặt chân tới xứ sở hoa hồng, bạn bè cảnh báo: Nếu anh nói điều gì mà nhìn thấy người nghe lắc đầu nguầy nguậy, xin chớ vội phật lòng: người ta đồng ý với anh đó. Ngược lại, nếu ai đó chen ngang vào câu chuyện một lời hài hước, cũng chớ ngạc nhiên. Xứ sở này chẳng nổi tiếng là có vùng cười Gabrovo đó sao? Thành phố Gabrovo ấy, về sau tôi có dịp ghé thăm, người ta xây dựng ở đó cả một Bảo tàng Cười!

    Một hôm, ban ngày bận mấy cuộc họp liền căng thẳng, tối ấy tôi đi nghỉ sớm. Khoảng mười giờ, đang mơ màng, chợt có điện thoại. Ở đầu kia, giọng từ tốn quen thuộc của anh Nguyễn Dy Niên. Anh cho biết:

    - Tôi vừa dự tiệc Thủ tướng ta chiêu đãi Thủ tướng Bungari và Đoàn đại biểu cấp cao nước ấy. Ngồi bên cạnh tôi là phu nhân một vị bộ trưởng quan trọng trong đoàn. Bà có đưa tôi xem tấm danh thiếp của anh, dễ cả chục năm rồi, giấy đã úa vàng, và chỉ in độc tiếng Việt. Bà hỏi tôi, ông này hiện ở đâu? Tôi đáp, anh đang ở Hà Nội. Hiện nay anh là… Bà ấy rất muốn được gặp anh.

    - Rất sẵn lòng – Tôi đáp.

    - Có điều sáng sớm mai, sau khi dùng điểm tâm, đoàn vào Lăng viếng Bác, rồi bay vào thành phố Hồ Chí Minh luôn. Để vui lòng bạn, phiền anh sáng mai bảy giờ, đến Nhà khách Chính phủ. Vợ chồng vị bộ trưởng ấy rất thiết tha nói chuyện với anh. Tên bà ấy là Marina X, không rõ anh có còn nhớ?

    Tôi nhớ. Đã lâu lắm rồi, trong một chuyến thăm, tôi đã cùng chị Marina, một cán bộ hướng dẫn và một lái xe rong ruổi suốt hai tuần trên các nẻo đường đất nước không mấy rộng ấy, để sưu tầm tài liệu viết phóng sự điều tra về nông nghiệp nước bạn, đăng nhiều kỳ trên báo Nhân dân. Marina đã giúp tôi hết sức nhiệt tình với tư cách phiên dịch. Chị nói tiếng Pháp tuyệt vời. Là con gái một vị đại sứ, lớn lên ở Thụy Sĩ, học đại học bên Pháp, chị lại năng về thăm quê cho nên khá thành thạo tình hình đất nước. Nhân kỳ nghỉ hè, chị nhận lời làm phiên dịch giúp đoàn khách nước ngoài – dạo ấy nước bạn chưa có mấy người nói thạo tiếng Việt.

    Sáng hôm sau, tôi đến nơi hẹn chậm mất vài phút, vì còn ghé Bờ hồ chọn mua mấy đóa hồng. Vừa bước vào Nhà khách, đã thấy một người đàn ông cao lớn, bệ vệ đứng chờ ở sảnh.

    - Mister Phan Quang?

    Ông bộ trưởng là người lên tiếng chào tôi trước.

    Marina chạy ra mừng rỡ. Chị nói:

    - Thê là cuối cùng tôi đã thực hiện được ước vọng sang Việt Nam. Muộn mằn quá, phải không anh? Dù sao muộn còn hơn không.

    Trong phòng khách bày sẵn mấy ly cà phê và vài món điểm tâm nhẹ. Chị Marina vẫn sôi nổi như thời trẻ. Chị nhắc lại một vài kỷ niệm: “Anh có nhớ hôm chúng ta thăm tu viện Rila, gặp mưa bất chợt ở lưng chừng núi? Anh có nhớ lần xe chết máy ở lưng đèo Chipka? (Giọng chị chùng xuống) Cuộc sống ngày nay ở nước tôi không giống như những lần anh sang thăm đâu. Nhiều đổi thay lắm…”. Ông chồng lặng lẽ nhấp cà phê và lúc lắc cái đầu, tán đồng lời vợ.

    - Còn Thung lũng Hoa Hồng? Vẫn như xưa chứ? - Tôi hỏi.

    - Tôi không rõ. Đã lâu không trở lại Kazanlak. Ngày nay người ta quan tâm nhiều hơn đến đầu tư nước ngoài, đến thương mại… Hoa hồng? Chắc vẫn còn đó. Đất nước tôi có bao giờ thiếu hoa. Song nguồn ngoại tệ hoa mang lại không lớn như chúng mình tưởng…

    Anh cán bộ lễ tân bước vào, nghiêng mình mời ông bà bộ trưởng ra xe. Đến giờ khởi hành. Hành lý đã mang trước tới sân bay. Ngài Thủ tướng đã lên xe rồi.

    Tôi tiễn hai vợ chồng. Ông bộ trưởng thân hành mở rộng cửa xe và khẩn khoản:

    - Nếu ông không quá bận, xin vui lòng cùng đi với chúng tôi một quãng đường, đến trước Lăng Chủ tịch. Để nhà tôi có thể chuyện trò tiếp với ông thêm mươi phút…

    2004

    TỪ MỘT XỨ LƯU ĐÀY

    Tôi biết mùa hè ở phía Bắc là mùa đông ở Nam bán cầu. Thế nhưng từ máy bay bước xuống sân bay thành phố Melbourne, trong người còn lưu cảm cái nắng oi nồng của Việt Nam, tôi thật sự ngỡ ngàng trước cơn lạnh và nhất là ngọn gió hun hút giống hệt gió mùa đông bắc lúc vừa mới tràn về miền Bắc nước ta. Ngày cuối tuần, cùng bạn bè lên một khu nghỉ ngơi trên sườn núi cao, ngồi trong phòng kính, nhìn ra ngoài thấy tuyết trắng phủ ngọn cây bờ cỏ lối đi, cứ ngỡ như mình vừa trở lại nước Nga vào cữ đông băng giá.

    Hai hôm sau, giã từ thành phố Melbourne, nơi ghi rõ dáng dấp kiến trúc cổ điển ở nước Anh, bay lên phía Bắc và đáp xuống thành phố cảng Sidney, tôi lại tưởng mình vừa đến một điểm du lịch nào đó bên đất nước Cuba. Gió biển lồng lộng. Nắng vàng chói chang lại hơi se lạnh. Anh bạn cùng đi cho biết, cùng lúc này đây, tại thành phố Darwin ở cực bắc đảo quốc, thời tiết lại oi nồng và ẩm ướt. “Chẳng khác mùa hè Hà Nội lắm đâu” – bạn tôi cười.

    Cũng dễ hiểu thôi. Australia là một đảo quốc, nhưng riêng hòn đảo chính đã tự mình tạo nên một lúc địa. Rộng hơn bảy triệu sáu trăm ngàn kilômét vuông, gấp hai mươi mốt lần nước Việt Nam ta. Nếu cộng thêm đảo Tasmania sáu mươi tám ngàn ba trăm kilômét vuông nữa thì rộng xấp xỉ bốn phần năm lục địa Trung Hoa, đất nước đông một tỷ rưỡi dân. Bốn mươi phần trăm lục địa nằm ở phía bắc, khí hậu nhiệt đới. Vùng sâu trong nội địa, thời tiết sa mạc khô cằn, ngày nóng đêm lạnh. Ven biển khí hậu ôn hòa. Trong khi các đảo nhỏ dọc biển và vùng cực nam lục địa đảo lớn chịu ảnh hưởng trực tiếp của Nam Cực. Đất nước mênh mông ấy, theo thống kê mới nhất (2000) dân số chỉ có hơn mười chín triệu người, gần tám mươi lần ít hơn số dân Trung Quốc và chưa bằng một phần tư dân số nước ta. Một đất nước mênh mông nằm dưới chí tuyến Nam, giữa biển khơi, bốn bề đại dương vời vợi. Phía bắc và phía đông tắm nước Thái Bình Dương. Bờ tây dầm trong Ấn Độ Dương. Bờ nam không mấy xa Nam Băng Dương. Được trời phú cho một sự biệt lập với tất cả khó khăn và thuận lợi của nó, Nhà nước Australia ý thức sâu sắc trách nhiệm bảo vệ bản sắc tự nhiên của mình. Tiếc là sự giác ngộ có phần nào muộn mằn.

    Ai là những cư dân đầu tiên trên lục địa riêng biệt này? Các nhà khảo cổ học giả thiết, cách đây chừng năm hoặc bảy vạn năm, hồi ấy đảo quốc này còn là dải đất liền với lục địa Á châu, từng có những người châu Á di cư sang lập nghiệp. Sau đó, biển tiến, nhấn chìm những vùng đất thấp xuống dưới nước. Những cư dân ở đây bị tách rời khỏi nguồn gốc thủy tổ của mình. Họ chính là những người chủ đầu tiên của đảo quốc, người aborigen ­– còn gọi là “thổ dân châu Úc”. Hơn hai thế kỷ trước, tính từ khi người châu Âu đến định cư tại đây, các tộc người aborigen hồi ấy còn đông khoảng hai triệu người. Với chính sách thực dân điển hình: tiêu diệt để phát triển, đến cuối thế kỷ hai mươi, thổ dân châu Úc đích thực chỉ còn lại khoảng hai mươi vạn người. Cùng với số thổ dân vơi hụt đi, những nền văn hóa đặc sắc lụi tàn, những ngôn ngữ chẳng còn mấy ai dùng đến. Đến lúc này, Nhà nước Australia mới nhận thấy sự cần thiết bảo tồn những gì các thế hệ tiên tổ của họ đã hủy diệt. Tôi nhớ, một lần sang thủ đô Canberra, gặp một ngày hội bảo tồn và phục hưng văn hóa thổ dân. Những làn ca, điệu vũ của người bản địa được tôn vinh. Người aborigen dáng thấp và đậm, chưng diện trang phục truyền thống, nhảy múa khắp nơi. Đến đâu cũng thấy những khẩu hiệu, những tờ gấp nổi bật hai từ Speak out! Hãy bày tỏ thái độ. Hãy nói đi, nói tiếng nói của mẹ mình, đừng chỉ dùng mỗi tiếng Anh. Tôi nhớ kỹ ngày hội ấy - hình như năm nào đến hẹn cũng diễn ra - tại nó ngẫu nhiên trùng hợp với một ngày rất có ý nghĩa của dân tộc ta: mùng Hai tháng Chín. Trên đây tôi viết “giác ngộ muộn mằn” là do ấn tượng về ngày hội ấy.

    Tương tự như vậy, cách ứng xử của người Australia đối với thiên nhiên. Trời phú cho lục địa rộng lớn này một cảnh quan tự nhiên vô cùng hùng vĩ và đa dạng, một nền động vật và một thảm thực vật phong phú không mấy nơi sánh bằng. Nước Australia, theo Hiến pháp, là một liên bang nằm trong Khối thịnh vượng chung của Anh, và cho đến nay vẫn tôn vinh Nữ hoàng Anh quốc là nguyên thủ quốc gia của mình; nữ hoàng có một vị thống đốc toàn quyền thay mặt làm người đứng đầu Nhà nước liên bang.

     Liên bang Australia mấy thập niên gần đây nổi tiếng về những thành tựu bảo vệ thiên nhiên và môi trường sinh thái (cũng như bảo vệ nhân quyền, trong đó có quyền của các thiểu số, trớ trêu vậy thay!). Người ta đã đầu tư vô vàn công của để quảng bá trong dân chúng trách nhiệm bảo tồn thiên nhiên, nhằm chuộc phần nào những lỗi lầm của tiên tổ: người châu Âu và người các châu lục khác đến, những người từng tàn phá không nương tay thiên nhiên đảo quốc này. Diện tích quy định là “Vườn quốc gia” trong toàn liên bang không ngừng tăng lên, đạt hơn hai mươi triệu hécta. Tuy nhiên, những gì đã mất đi, không còn tìm lại được. Theo lời chính một vị thủ tướng trước đây, ngài K.J.L. Hawke, trong vòng hai trăm năm, người từ châu lục khác đến lập nghiệp đã triệt hạ bốn mươi mốt triệu hécta rừng nhiệt đới, phần lớn rừng nguyên sinh. Vô vàn đất đai bị xói mòn và suy thoái không có cách gì hồi phục. Hai trăm giống loài động vật hoang dã bị dồn đến con đường tuyệt chủng, trung bình mỗi năm mất hẳn giống một loài.

    Lần đầu tiên tôi sang Australia, cách đây chừng mười lăm năm, ông chủ tịch Hãng truyền hình quốc gia ABC (Australian Broadcasting Corporation) Malcom Long có tặng hai cuộn phim video giới thiệu thiên nhiên đất nước ấy, Nature of Australia hình ảnh cức đẹp và có những cảnh không hiểu làm sao người ta quay vào phim được. Để làm hai cuộn phim video chiếu suốt năm tiếng đồng hồ, ABC đã bỏ ra một khoảng thời gian đến năm năm. Khán giả truyền hình nước ta còn nhớ, thời kênh truyền hình Discovery chưa phổ cập như bây giờ, chúng ta thú vị biết bao được xem trên VTV những chương trình giới thiệu động vật hoang dã với cảnh những con cá voi rượt đuổi nhau và giỡn sóng đại dương, cảnh hai chú kanguru đực đấm đá nhau đến gãy chân, đổ máu để giành một con chuột túi cái…, những trích đoạn ấy đều rút từ bộ phim của Hãng ABC.

    Thêm vào đấy, tặng phẩm cho khách nước ngoài còn có một bộ sách ảnh hai tập cỡ lớn giới thiệu di sản hoang dã Australia’s Wilderness Heritage, do Thủ tướng Liên bang đích thân đề tựa, mà riêng trọng lượng của nó đã chiếm đến một phần tư cân nặng hành lý tôi được phép mang lên máy bay rồi. Một tập giới thiệu kho tàng động vật, một tập giới thiệu thảm thực vật của mười bảy vùng kinh tế tự nhiên trên toàn đảo quốc. Bộ sách có sự góp sức của một nghìn nhà nhiếp ảnh trong nhiều năm. Người chủ trì tập sách ảnh ấy, nghệ sĩ Leo Meier – theo lời ghi ở tờ bìa – để thu thập đầy đủ hình ảnh, đã đi một chặng đường dài chừng năm vạn kilômét. Một mình ông tự lái một chiếc xe địa hình rong ruổi bốn mươi lăm ngàn kilômét đường bộ qua rừng rậm và sa mạc. Ngoài ra còn khoảng hai ngàn cây số đi bằng máy bay cánh quạt hoặc trực thăng. Còn vùng ven biển, ông sục sạo bằng tàu, thuyền. Những nơi không có phương tiện giao thông nào sử dụng được thì… cuốc bộ. Người ta bảo ông đã đi bộ chừng một ngàn hai trăm kilômét để chuẩn bị hai tập sách ảnh này!

    Những cố gắng của Australia đưa lại nhiều thành quả. Nước này là một trong những quốc gia đầu tham gia và phê chuẩn Công ước quốc tế Bảo tồn Di sản văn hóa và Di sản thiên nhiên do Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc UNESCO đề xướng ngay từ đầu. Trong mười năm, từ 1978 đến 1988, hai trăm mười một Di sản văn hóa và bay mươi bảy Di sản thiên nhiên ở lục địa này được UNESCO công nhận.

    Như nhiều người khác lần đầu đến nước Úc, một cái thú của tôi khi đặt chân tới thủ đô Canberra là đi xem các đàn chuột túi kanguru đùa giỡn, nhảy nhót tự do ngay ở bìa rừng không mấy xa thành phố; có khi cả đàn ùa nhau chạy băng ngang con đường dành riêng cho xe cơ giới như một lũ trẻ nhỏ chẳng mấy quan tâm luật giao thông. Kanguru xưa kia vốn là vật thiêng và nay vẫn là biểu tượng của đất nước Australia. Chủng động vật ấy được nhà nước bảo vệ. Để cho tôi được nếm thử thức ăn chế biến từ thịt con kanguru, bạn phải lái xe đi mấy tiếng đồng hồ liền, tìm một cái quán giữa rừng sâu. Lần sau, trở lại Úc, nhắc lại kỷ niệm ấy, bạn tôi cười: “Nay thì khỏi. Vì giống kanguru sinh sôi nảy nở nhanh quá, nhiều quá, có khi gây nên những sự phiền hà cho cân bằng sinh thái, chính quyền bang đã bãi bỏ lệnh hạn chế người dân ăn thịt nó rồi”. Thâm tâm tôi không rõ quyết định ấy của chính quyền sẽ có hiệu lực đến đâu, bởi thực tình mà nói, tôi không cảm thấy ngon lành khi thưởng thức món ăn chế biến bằng thịt con vật đáng yêu ấy.

    Người châu Âu đầu tiên phát hiện Australia là một nhà hàng hải người Hà Lan tên là Wlillem Janszoom, năm 1605, chấm dứt bốn triệu năm biệt lập của lục địa đảo. Năm sau, đến lượt nhà hàng hải người Tây Ban Nha Lois Vaez de Tores ghé tàu đến đảo này. Năm 1662, một nhà đi biển Hà Lan khác tên là Abel J. Tasman phát hiện một đảo nhỏ hơn ở mạn đông đảo lớn, và lấy tên mình đặt cho nó. Danh xưng Tasmania từ bấy tồn tại chính thức đến ngày nay. Tuy nhiên công cuộc thực dân hóa chỉ thực sự bắt đầu từ năm 1770 trở đi, sau khi thuyền trưởng James Cook của Hoàng gia Anh ghé vịnh Sidney và tạo dựng nên một pháo đài nơi đây.

    Thật ra đế quốc Anh thời gian đầu chưa chú ý lắm đến vùng đất xa xôi này. Họ còn bận chú mục tới Ấn Độ, Trung Hoa… Lục địa đảo chỉ được dùng làm nơi lưu đày tù phạm. Năm 1788, một hạm đội kéo cờ Hoàng gia Anh gồm mười bảy tàu buồm do thuyền trưởng Arthur Philipp chỉ huy cập vịnh Sidney và cho đổ lên bờ một ngàn năm trăm ba mươi người Âu, gần một nửa trong số ấy: bảy trăm năm mươi ba người, là tù hình sự! Nhìn đoàn tàu nhổ neo, từ từ rời khỏi vịnh rồi khuất sau chân trời, những người bị bỏ lại trên đảo cùng cất lời hát bài ca vĩnh biệt Tổ quốc, mà họ biết chắc chắn đời họ sẽ chẳng bao giờ được nhìn lại, rồi cùng thốt lên: “Cầu Chúa cứu vớt chúng ta!”. Có nghĩa binh lính, thường dân và tù phạm, mọi người từ bấy sẽ không có con đường sống nào khác là gắn bó với nhau, hợp sức với nhau khai phá vùng đất mới.

    Dần dà, người châu Âu và người Trung Hoa, Ấn Độ… đến đảo lập nghiệp. Đặc biệt từ khi phát hiện đảo này ẩn chứa nhiều quặng vàng, số người lạ xô đến Australia ngày càng đông. Tôi có dịp ghé thăm một cơ sở khai thác vàng ngày trước, nghe nói do một tài công Trung Hoa làm chủ, thuê thổ dân đào và đãi vàng chủ yếu bằng phương pháp thủ công. Nay vàng đã cạn kiệt, cơ sở ấy được bảo tồn cho khách tham quan. Tôi có mua một vật kỷ niệm, bảo do người bản địa làm ra: một lọ gốm nhỏ nung qua lò nhiệt độ thấp, mong manh và đẹp chân chất, gần giống sản phẩm gốm đặc sắc của đồng bào Chăm tỉnh Ninh Thuận ta. Nhưng người aborigen đích thực, tôi không nhìn thấy còn ai tại di tích ấy. Dường như họ đã lùi sâu vào mạn rừng, sâu hơn nữa trong nội địa.

    Mãi đến đầu thế kỷ hai mươi (1901), Australia mới tách khỏi Vương quốc Anh để lập thành một quốc gia tự trị. Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân, nó vẫn gắn bó với xứ sở sương mù, cách đảo quốc này những hai mươi giờ bay trên máy bay trở khách hiện đại, chưa tính những giờ ghé cánh dọc đường. Cho đến năm 1984, quốc ca của Australia vẫn là bài “Cầu Chúa phù hộ Nữ hoàng”, quốc thiều của Vương quốc Hợp nhất Anh.

    Sau chiến tranh thế giới thứ hai, dân số nước đảo tăng đột ngột, do những đợt di dân lớn từ nhiều nước đến. Tuy nhiên, nổi trội và chính thức trong sinh hoạt chính trị xã hội vẫn là ngôn ngữ và văn hóa Anh. Luật pháp mang rõ dấu ấn người Anh-Mỹ. Điều lạ lùng là thỉnh thoảng Australia tổ chức trưng cầu ý dân, xem có nên cải biến liên bang thành một nước cộng hòa thật sự, có quốc trưởng riêng của mình chứ không phải là ngài thống đốc toàn quyền mang danh nghĩa thay mặt Nữ hoàng Elizabeth nữa hay không. Và lần nào số người phản đối cũng nhỉnh hơn số người ủng hộ một chút. Một người bạn Úc mỉm cười nói với tôi: “Có lẽ phải chờ ba, bốn mươi năm nữa, khi thế hệ trung niên hiện nay qua đời hết, may ra nước Australia mới có quốc trưởng của chính mình”.

    Australia ngày nay có quan hệ rộng mở với nhiều nước bạn bè dù rất gắn bó với phương Tây. Trong “sự kiện Iraq” bi thảm, nội các Australia là một trong những chính phủ gần gũi với chính quyền của Tổng thống Mỹ George W. Bush hơn cả. Điều ấy không ngăn cản về kinh tế và thương mại – nhất là trong nông nghiệp – đảo quốc từng nhiều lần chịu o ép và thua thiệt bởi chính sách bảo hộ của Mỹ.

    Cùng với Nhật Bản, Australia là một quốc gia phát triển giàu có ở phương Đông. Thu nhập quốc dân tính theo đầu người năm 2000 đạt hai mươi lăm ngàn đô la Mỹ. Tuổi thọ người dân nước này ngang bằng Pháp, cao hơn Đức, Anh, Áo, Bỉ… Không có trẻ dưới năm tuổi suy dinh dưỡng. Một trăm phần dân số có điều kiện dùng nước sạch. Nền giáo dục tiên tiến. Một nét đặc sắc nữa là, với tỷ lệ tăng dân số 1,8%, Australia không đứng trước nguy cơ già cỗi như nhiều nước phát triển khác. Số dân năm 2001 đông hơn mười chín triệu, ước tính đến năm 2025 sẽ tăng lên, vượt quá mốc hai mươi lăm triệu người. Với mật độ dân số vào loại thấp nhất thế giới, lại có cấu trúc hạ tầng phát triển, tiềm năng tự nhiên phong phú và đa dạng, xem ra chân trời tiếp tục rộng mở trước người dân đảo quốc.

    Australia là một quốc gia đa dân tộc. Đến cuối thế kỷ vừa qua, hơn một phần tư công dân nước này sinh ra ở nước ngoài. Những người từ bốn phương đến đã góp sức làm cho đảo quốc phát triển. Gầy đây, sợ tình trạng nhập cư ồ ạt từ những nước châu Á, châu Phi gặp khó khăn triền miên trong đời sống, chính phủ liên bang ban hành một số quy định chặt chẽ hơn về chế độ di trú, nhằm gạn lọc bớt số người muốn đến lập nghiệp tại xứ này. Tuy nhiên, thái độ chung của nhân dân Australia là cởi mở, hiếu khách. Chính phủ có chính sách thu hút nhân tài ngoại quốc. Nhớ lại lần tôi cùng mấy người bạn vào nghe hòa nhạc, tiện thể tham quan Nhà hát lớn mang hình vỏ sò nổi tiếng bên vịnh Sidney, người chỉ huy dàn nhạc giao hưởng bề thế hôm ấy là một nhạc trưởng thành danh người Nhật, ông từng là chỉ huy các dàn nhạc lớn tại đô thành London nhiều năm. Trước ông - vẫn theo lời giới thiệu in trong tờ chương trình - là một người Mỹ cũng lừng danh không kém. Điều đó giúp dàn nhạc giao hưởng thành phố nổi tiếng thêm, được nhà nước công nhận là một dàn nhạc quốc gia.

    Khi bộ đèn treo lộng lẫy và tân kỳ thiết kế theo phong cách hiện đại, không giống bất kỳ một bộ đèn treo lớn cổ điển nào bằng pha lê xưa nay vẫn trang hoàng nhà hát chính ở các thành phố lớn, từ từ kéo lên và biến mất trên trần cao, nhường chỗ cho luồng ánh sáng dịu dàng soi tỏ dàn nhạc đã ngồi từ bao giờ trên sân khấu chờ vị nhạc trưởng bước ra, cả nhà hát im phăng phắc. Chương trình hôm ấy trình diễn một vài trích đoạn tác phẩm của các nhà soạn nhạc lớn như Liszt, Brahms…, còn lại là sáng tác của các nhạc sĩ địa phương. Hơi nhạc lạc quan, rộn rã, đôi khi tôi nhắm mắt nghe mà tưởng như có tiếng sóng đại dương vọng vào.

    Cộng đồng người Việt Nam tại Australia là một cộng đồng khá lớn, nhìn chung được nể vì. Các em học giỏi. Một số trong đó là thủ khoa ở bang. Bắt đầu xuất hiện một số nhà khoa học trẻ có danh vọng. Cũng có nhiều nhà kinh doanh thành đạt ở mức độ vừa phải. Một số người được dân tín nhiệm bầu giữ trọng trách ở địa phương… Số kiều bào rời đất nước vì những nguyên nhân riêng tư, trở về thăm đất nước ngày càng đông. Chiều hướng chung của thế hệ thứ nhất và thứ hai trong kiều bào là quan tâm gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

    Một tối ở thủ đô Canberra, các bạn Úc nói: “Chúng tôi muốn mời ông hôm nay dùng cơm Việt Nam. Chúng tôi rất thích ẩm thực của các bạn. Thành phố này có một hiệu ăn Việt có tiếng, thức ăn ở đó chế biến tuyệt vời. Có điều… (ông lưỡng lự mất mấy giây mới nói tiếp) Thái độ chính trị của chủ nhà hàng ấy hình như không thuận lắm…”.

    Tồi cười:

    - Tôi đang ở Australia. Và là khách của các bạn. Hơn nữa, hôm nay chúng ta cùng nhau đi ăn tối chứ có đi làm chính trị đâu…

    Nhà hàng ấy mang biển hiệu Việt Nam. Điều đập vào mắt khách khi mới bước vào, là một tấm bản đồ Việt Nam lớn vẽ trên bảng gỗ, cạnh cái điểm tròn đánh dấu vị trí thành phố Saigon là một lá cờ ba que to quá mức cần thiết cho một tấm bản đồ, dáng vẻ như muốn thách thức ai. Chúng tôi không gặp ông (hay bà) chủ. Các em chạy bàn, tôi hỏi chuyện, một số là sinh viên Việt Nam du học làm thêm, một số là họ hàng em cháu bà chủ móc từ quê sang, nói chưa thạo tiếng Anh. Nhưng thức ăn quả ngon miệng, nhất là đối với những người Việt cả tuần qua chỉ xài toàn món ăn nước ngoài như chúng tôi tối hôm đó.

    Đã lâu không trở lại Caberra, tôi không rõ nhà hàng ấy, cái bản đồ trêu ngươi ấy nay có còn không. Dường như chẳng mấy ai quan tâm chi tiết nhỏ nhặt. Mỗi người có niềm tin, ước vọng, tình cảm riêng của mình; dù sao rốt cuộc đều là con Lạc cháu Hồng cả.

    Nhân một chuyến đi làm việc, có lần tôi tiếp xúc với anh chị em trong ê kíp thực hiện chương trình tiếng Việt ở Đài phát thanh đối ngoại Australia đặt tại thành phố Melbourne. Tất cả đều trẻ. Có người từ thành phố Hồ Chí Minh sang chưa lâu, có người từng làm việc cho Đài BBC London, có người tốt nghiệp tại Mỹ, được chọn sang đây làm. Gây ấn tượng mạnh cho tôi lần ấy là một phụ nữ đứng tuổi duyên dáng và lịch thiệp, giọng nói thuần Hà Nội. Chị vốn là một biên tập viên tiếng Việt lâu năm và có giọng nói đầy quyến rũ của Radio Australia. Chị đã nghỉ hưu, song vẫn còn giúp ê kíp trẻ dưới dạng chuyên gia.

    Tôi mời chị về thăm Việt Nam.

    Được sự ủng hộ nhiệt tình của ông Giám đốc Đài Australia Richard Bronoiski, một người gốc Ba Lan từng làm đại sứ Australia tại nước ta, ít lâu sau chị về nước trong khuôn khổ trao đổi, hợp tác giữa hai đài: Melbourne và Hà Nội. Tiếp chị đến chào trước khi trở lại Úc, tôi trao tặng chị tập tùy bút Thương nhớ mười hai của nhà văn quá cố Vũ Bằng vừa tái bản trên giấy quý tôi vừa mua ở một hiệu sách thủ đô. Áp cuốn sách từng đọc nhiều lần vào ngực, chị xúc động nói:

    - Đi đâu thì đi, chứ một năm mười hai tháng, làm sao chúng tôi quên được Hà Nội, làm sao không nhớ đất nước mình, hở anh.

    2004

    PQ.

    Nguồn: Du ký. Tác giả: Phan Quang. NXB Văn học, 2005.

    www.trieuxuan.info

     

    (*) Artemis trong thn thoi Hy Lp.

    (*) Còn có tên c linh lăng, các nhà nông ta quen gi cđi.

    (*) Yordan Yovkov (1880-1937). PQ dch. Nxb Văn hc, H.1962.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,817,354

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/