Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,411,139

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Truyện dân gian Việt Nam và thế giới

Nghìn lẻ một đêm {tiếp theo kỳ 26 đã post, cho đến hết}

Antoine Galland

  • Thứ năm, 07:01 Ngày 12/11/2020
  • Nghìn lẻ một đêm

    Vừa trông thấy bà, anh tôi đứng lên. Bà chủ nhà duyên đáng mời anh tôi ngồi, rồi đến ngồi xuống bên cạnh. Bà chủ nhà tỏ ý vui mừng được gặp anh tôi. Sau vài ba câu tình tứ, bà bảo: "Ở đây không được tiện lắm, anh đưa tay cho tôi, chúng ta sang bên này". Vừa nói bà vừa đưa tay cho anh tôi nắm và dẫn vào gian buồng cách biệt. Nói chuyện được một lúc, bà vừa nói vừa từ giã anh tôi: "Anh cứ ở lại đây, em trở lại ngay!". Anh tôi chờ nhưng không phải người đàn bà trở lại mà là một tên nô lệ da đen cao lớn cầm một thanh gươm đi vào. Nó nhìn anh tôi một cách dữ tợn và ngạo nghễ hỏi: "Mày làm gì ở đây?". Annatsa phát khiếp đến nỗi không đủ sức trả lời.

    Tên nô lệ lột hết quần áo của anh tôi, đoạt số vàng anh mang trong người, rồi chém anh tôi nhiều nhát gươm, nhưng may chỉ phạm vào thịt. Con người khốn khổ ngã lăn ra đất và nằm im không cựa quậy mặc dầu hãy còn tỉnh. Tên nô lệ tưởng anh tôi đã chết rồi, gọi lấy nước, gọi lấy muối. Con nô tì người Hy Lạp mang đến cả chậu đầy. Chúng lấy muối xát vào vết thương của anh tôi. Mặc dù hết sức đau đớn, anh tôi nhanh trí cắn răng chịu đựng không để lộ một dấu hiệu nào tỏ ra còn sống. Tên nô lệ da đen và con nô tì Hy Lạp bỏ đi khỏi, mụ già vừa đưa anh tôi vào cạm bẫy đến và kéo chân anh tôi tới một chiếc cửa sập mở ra hất anh tôi xuống. 

    Anh tôi rơi xuống một hầm ngầm, và giữa đống xác chết của những người đã bị ám hại trước. Thoạt đầu anh tôi ngất đi, khi tỉnh lại mới nhận ra điều đó. Nhờ có muối xát vào vết thương cho nên anh tôi không chết. Sức lực hồi lại dần dần, anh tôi đứng lên được, và hai ngày sau, anh tôi mở chiếc cửa sập vào ban đêm leo lên mặt đất, và lẻn trốn đến một góc kín trong sân chờ cho đến tảng sáng. Đấy là lúc mụ già đáng ghét mở cổng ra đường, đi kiếm một cái mồi khác. Để cho mụ khỏi trông thấy, một lát sau anh tôi mới theo ra khỏi hang sói ấy rồi đến ẩn ở nhà tôi. Anh tôi kể với tôi tất cả những việc xảy ra trong một thời gian ngắn ngủi.

    Sau một tháng anh tôi khỏi hẳn vết thương nhờ những phương thuốc thần diệu mà tôi chạy chữa. Anh tôi định bụng sẽ trả thù mụ già đã lừa dối anh độc ác như vậy. Anh tôi khâu một cái túi có thể đựng năm trăm đồng tiền vàng, rồi lấy mảnh chai cho vào giả làm tiền.

    Anh tôi đeo chiếc túi quanh người, ngang thắt lưng, cải trang thành một bà cụ già, và giấu một thanh gươm dưới áo, một buổi sáng, anh tôi gặp mụ già đang đi dạo trong thành phố, tìm cơ hội để đánh bẫy một anh nào. Anh tôi đến gần giả giọng đàn bà: "Cụ có cái cân tiểu ly nào cho tôi mượn với. Tôi là một người Ba Tư mới đến. Tôi mang theo năm trăm đồng vàng, tôi muốn cân thử xem có đúng không?".

    - Cụ ơi - mụ già đáp - thật may cho cụ, gặp tôi chứ không phải ai khác. Cụ đến đây chỉ việc đi theo tôi, tôi sẽ đưa cụ đến nhà con trai tôi, nó làm nghề đổi tiền, nó sẽ vui lòng cân hộ, đỡ cho cụ khỏi phải phiền. Chúng ta chớ để mất thời giờ, phải đến ngay trước khi nó đi ra cửa hiệu.

    Anh tôi theo mụ đến ngôi nhà mụ đã đưa anh tôi đến lần trước, vẫn con nô tì người Hi Lạp ấy ra mở cổng.

    Mụ già dẫn anh tôi vào buồng. Một lát sau, người mà mụ bảo là con trai mụ ấy chính là tên nô lệ da đen hung tợn, nó bảo anh tôi: "Mụ già chết tiệt kia, hãy đứng lên và đi theo ta". Nó vừa nói vừa đi trước, dẫn anh tôi tới chỗ nó định giết hại. Anh tôi đứng dậy đi theo và rút gươm giấu dưới áo ra, chém một nhát rất ngọt vào gáy nó đến nỗi đầu nó rơi ngay xuống đất. Một tay anh tôi xách thủ cấp, một tay kéo xác nó đến tận cái hầm ngầm rồi ném cả xác lẫn đầu nó xuống đấy. Con nô tì người Hi Lạp, đã quen với thủ đoạn cũ, lát sau bưng chậu muối đi ra. Nhưng vừa trông thấy Annatsa lúc này đã cất tấm mạng che mặt và tay đang cầm thanh gươm, nó liền đánh rơi chậu muối và quay người chạy trốn. Nhưng anh tôi nhanh chân hơn, đuổi theo kịp chém bay đầu nó bằng một nhát gươm. Nghe tiếng động mụ già độc ác chạy ra. Anh tôi tóm ngay mụ và thét lên: "Mụ già gian ác, mày nhận ra tao chứ?".

    - Than ôi! Ngài là ai thưa ngài? - Mụ vừa run và đáp - Già không nhớ đã được gặp ngài bao giờ.

    - Tao là người mà hôm nào mày đã vào nhà xin nước rửa mặt để giả cầu kinh ấy, mày còn nhớ chứ?- Mụ già liền quỳ xuống xin tha tội, song vẫn bị anh tôi xả ra làm bốn khúc.

    Chỉ còn lại mụ chủ chưa hay biết tí gì về việc xảy ra trong nhà. Anh tôi đi tìm, và bắt gặp ả trong một gian buồng, ả tưởng ngất đi được khi trông thấy anh tôi. Tôi nói: "Làm sao bà có thể sống chung với những con người hung ác vừa bị tôi trừng trị đích đáng? ". "Tôi là vợ một nhà buôn lương thiện, - ả đáp, - mụ già khốn kiếp ấy, mà tôi không ngờ độc địa đến thế thỉnh thoảng có đến thăm tôi. Một hôm mụ bảo: "Hôm nay ở nhà tôi có hội vui lắm, nếu bà hạ cố đến chơi bà sẽ rất thích". Tôi tin là thật. Tôi mặc bộ quần áo đẹp nhất, mang theo một túi tiền đựng một trăm đồng vàng đi với mụ. Mụ dẫn tôi đến ngôi nhà này, tên da đen kia cũng dùng vũ lực giữ tôi lại. Đã ba năm rồi tôi phải sống đau khổ biết bao".

    - Tên da đen đáng ghét ấy đã hoành hành như vậy, chắc là nó kiếm được nhiều tiền của, - anh tôi lại nói.

    - Nhiều lắm - ả đáp - nhiều đến nỗi sẽ giàu có đời đời nếu có thể mang đi được. Hãy theo tôi, ông sẽ thấy.

    dẫn Annatsa vào một gian buồng, chỉ có anh tôi thấy tận mắt nhiều hòm chứa đầy vàng. Anh tôi ngắm nghía đến mê mẩn, ả bảo: "Ông hãy đi gọi thêm người thì mới mang được tất cả những thứ ấy đi". Anh tôi không đợi phải nhắc lại lần nữa. Ra ngoài một thời gian, anh đã tập hợp được mười người. Anh tôi dẫn họ đến ngôi nhà, nhưng đến nơi ngạc nhiên thấy cửa mở, và càng ngạc nhiên hơn nữa khi vào đến gian buồng để các hòm vàng bây giờ đã rỗng tuếch. Cô ả tinh nhanh và nhanh nhẹn hơn anh tôi, đã cho mang hết vàng đi và cũng đã biến mất rồi. Chẳng nhẽ về tay không, anh tôi sai chuyển đi tất cả các đồ đạc trong phòng và chứa trong kho về nhà để bù vào số tiền năm trăm đồng vàng mà anh tôi bị cướp đoạt. Nhưng khi ra khỏi nhà, anh tôi quên đóng cổng. Hàng xóm nhận ra anh tôi và trông thấy những người khuân vác đi về, liền chạy đi báo quan về vụ chuyển nhà đáng nghi ấy.

    Đêm hôm ấy Annatsa ngủ khá yên ổn nhưng sáng sớm hôm sau, vừa mới ra khỏi nhà, anh tôi đã gặp ngay ngoài cổng hai mươi người quan án sai đến bắt:

    - Ông hãy cùng đi với chúng tôi, quan án muốn nói chuyện với ông.

    Anh tôi xin họ hãy gượm cho một lát, và biếu họ một số tiền để họ cho anh tôi thoát thân. Nhưng họ không những không nghe mà còn trói gô anh lại, buộc anh phải đi theo. Qua một đường phố, họ gặp một người bạn của anh tôi, người này giữ họ lại và hỏi họ bắt anh tôi vì cớ gì. Người ấy còn gợi ý biếu họ một số tiền để họ thả anh tôi ra rồi về báo cáo với quan là không bắt được, nhưng họ không nghe, cứ giải Annatsa về cho quan xét.

    Bọn lính dẫn anh tôi về tới nơi, quan hỏi: "Anh cho biết đã lấy ở đâu những bàn ghế anh cho mang về nhà hôm qua?".

    - Bẩm quan lớn, - Annatsa đáp - tôi xin sẵn sàng cung khai sự thật, nhưng trước hết cho phép tôi được xin ngài khoan hồng và hứa là sẽ không bắt tội.

    - Ta hứa với anh điều đó, - quan án đáp.

    Thế là anh tôi thuật lại không chút giấu giiếm tất cả những sự việc đã xảy ra, cũng như tất cả những việc anh đã làm kể từ khi mụ già vờ đến cầu nguyện cho tới lúc anh tôi tìm được ả chủ nhà trong gian buồng sau khi giết chết tên da đen, con nô tì người Hi Lạp và mụ già. Còn về những đồ đạc anh tôi đã đưa về nhà, anh xin quan cho để lại một phần ít ra cũng đủ để bù số tiền năm trăm đồng vàng của anh bị chúng nó cướp đoạt.

    Quan án không nói gì. Ông lập tức sai một số gia nhân đến nhà anh tôi lấy tất cả đồ đạc. Và khi được báo là không còn sót chút gì, mọi thứ đều đã được xếp gọn vào kho chứa của ông rồi, quan liền truyền cho anh tôi phải ra khỏi thành phố và không bao giờ được đặt chân trở lại nữa. Quan sợ rằng nếu anh tôi còn sống ở đây, e rồi sẽ khiếu nại đến nhà vua.

    Annatsa tuân lệnh không phàn nàn một tiếng. Anh ra khỏi Bátđa đến trú ở một thành phố khác. Dọc đường anh tôi gặp một toán kẻ cướp. Chúng cướp đoạt của anh tôi và lột trần như nhộng. Tôi nhận được tin không hay ấy, liền mang một bộ quần áo đi tìm gặp anh. Sau lời an ủi, tôi bí mật đưa anh trở về thành phố và săn sóc anh cũng như các ông anh khác của tôi.

    CHUYệN NGƯờI ANH THứ SáU CủA LAO THợ CạO

    Chỉ còn chuyện ông anh thứ sáu của tôi tên là Sacabắc sứt môi. Thoạt đầu, anh tôi biết cách làm sinh lợi số tiền của trăm đồng đrasmơ bạc được chia đều với các anh em khác, thành ra sống khá sung túc. Nhưng vận hạn không may xảy đến, làm anh tôi khánh kiệt đến mức phải đi ăn xin. Anh tôi làm nghề ăn xin rất tài giỏi. Anh tìm tòi cách làm sao vào cho được các nhà quyền quý lớn thông qua gia nhân và người giúp việc, để gặp mặt chủ nhân và khêu gợi lòng trắc ẩn của họ.

    Một hôm, anh tôi đi ngang một dinh thự rất tráng lệ. Qua chiếc cổng cao, nhìn vào có thể thấy một cái sân rộng mênh mông. Nhìn vào thấy đoàn gia nhân đứng ở cổng, anh tôi đến gần một người và hỏi chủ nhân ngôi nhà này là ai. "Ông bạn ơi, - người đày tớ đáp, - ông từ đâu đến mà hỏi tôi câu ấy? Tất cả những vật ông trông thấy kia không đủ cho ông biết rằng đây là đinh cơ của một vị thuộc đòng Bácmêxit[1] ư?".

    Anh tôi đã từng nghe đồn về sự độ lượng và lòng hào hiệp của những người thuộc dòng họ Bácmêxit, liền nói với một trong số những người canh cổng xin bố thí cho ít nhiều. Họ bảo anh tôi: "Ông cứ vào đi, chẳng ai ngăn ông đâu, ông hãy tự mình nói với ông chủ rồi ông sẽ được hể hả ra về cho mà xem".

    Không ngờ gặp được những người tử tế như vậy, anh tôi cảm ơn các người canh cổng rồi xin phép họ vào trong dinh thự. Dinh này quá rộng, anh tôi phải đi khá lâu mới đến được tận ngôi nhà vị Bácmêxit ở. Cuối cùng, anh tôi vào một ngôi nhà lớn hình vuông kiến trúc rất đẹp. Qua khỏi một tiền sảnh, có thể trông thấy một khu vườn hết sức sạch sẽ, có những lối đi rải đá cuội đủ màu sắc trông rất thích mắt. Những căn buồng ở tầng dưới xây quanh khu vườn hầu như đều không có cửa. Chỉ có những tấm màn lớn che ánh sáng mặt trời và, khi tắt nắng, được che lên cho mát.

    Một nơi đẹp mắt như vậy có lẽ đã làm cho anh tôi trầm trồ ngắm nghía nếu như đầu óc anh ấy thanh thản hơn. Anh vẫn đi, rồi bước vào một gian phòng bày biện đồ đạc sang trọng và trang trí bằng những bức tranh hoa lá màu vàng hoặc màu xanh da trời.

    Một người đàn ông vẻ đáng kính ngồi ở chỗ danh dự trên một chiếc sập. Anh tôi đoán chắc đây là chủ nhân của dinh thự. Quả vậy, đấy chính là Bácmêxit đại nhân. Ông chào lịch sự và hỏi anh tôi muốn gì. "Bẩm quan lớn, người nghèo khổ đang cần sự giúp đỡ của những vị cao sang và hào hiệp như quan lớn".

    Ông quan thuộc dòng họ Bácmêxit tỏ ra ngạc nhiên khi nghe nói như vậy. Ông đưa hai tay ôm bụng như muốn xé áo quần để biểu lộ sự đau đớn, và thốt lên: "Có lẽ nào tôi ở Bátđa mà lại để một con người như ông lâm vào cảnh túng bấn như ông nói? Đó là điều tôi không thể nào chịu nổi". Trước thái độ ấy, anh tôi những tưởng sắp được người ta ban cho mọi thứ, liền sốt sắng tạ ơn và chúc tụng đủ điều. Ông Bácmêxit lại nói: "Sau này không ai có thể nói là tôi bỏ ông, và tôi cũng không muốn là ông bỏ tôi".

    - Bẩm quan lớn - anh tôi đáp, - tôi xin thề là từ sáng đến từ chưa có miếng nào vào bụng.

    - Có thật đúng là đến giờ này rồi mà ông chưa ăn gì phải không? Hỡi ôi! Con người khốn khổ, ông đến chết đói mất thôi! Nào, chúng mày đâu? - Ông cao giọng gọi - Mang chậu nước ra đây cho chúng tao rửa tay.

    Mặc dù không thấy có người đầy tớ nào ra, cũng chẳng thấy chậu và nước đâu, ông Bácmêxit vẫn xoa hai tay vào nhau như thể có ai múc nước giội cho mình rửa. Làm động tác ấy xong, ông bảo anh tôi: "Hãy xích lại gần đây và cùng rửa tay với tôi". Sacabắc cho là ông quan này thích bông đùa. Anh tôi cũng vốn là người hóm hỉnh, hiểu rõ người nghèo cần phải làm vừa lòng kẻ có của nếu muốn kiếm chác một tí gì, cho nên xích đến gần và giả bộ làm như ông.

    - Nào, có thức gì dọn ra - Ông Bácmêxit lại gọi - chớ để chúng tao phải chờ.

    Nói xong, mặc đù chẳng có ai mang đến thứ gì, ông bắt đầu làm như lấy thức ăn vào một cái đĩa rồi bốc đưa lên miệng và nhai không. Ông bảo anh tôi: "Mời ông xơi đi, ông khách của tôi, xin ông cứ tự nhiên như ở nhà. Ông xơi đi chứ, ông đói thế mà tôi thấy ông ăn uống nhỏ nhẻ quá.

    - Bẩm quan lớn, xin lỗi quan, quan thấy là tôi không bỏ mất thời gian; tôi cũng cố làm tròn công việc của mình đấy chứ, - anh tôi vừa đáp vừa bắt chước cái cử chỉ của ông quan.

    - Ông thấy bánh mì này thế nào? Dùng được chứ?

    - Bẩm quan lớn, chưa bao giờ tôi được ăn thứ bánh trắng và ngon thế này. - Anh tôi đáp, mặc dù không hề nhìn thấy bánh và cũng chẳng thấy thịt đâu.

    - Ông cứ ăn cho thật no vào, - ông Bácmêxit nói. - Ông nên biết rằng tôi đã bỏ ra những năm trăm đồng vàng để mua con nô lệ chuyên làm bánh này đấy.

    Sau khi khoe tài nghệ của tên nô lệ làm bánh mì, ca ngợi bánh nó làm ra, ông Mácmêxít lại gọi: "Bay đâu, mang đến đây một món khác. Ông khách quý của tôi ơi - ông ta lại bảo anh tôi, mặc dù chẳng thấy bóng tên hầu bàn nào xuất hiện cả - mời anh hãy nếm món mới dọn này, xem thử đã bao giờ được ăn món thịt cừu nấu với bột mì ngon như thế này chưa?".

    - Ngon tuyệt, - anh tôi đáp. - Bởi vậy tôi xin ăn thật lực.

    - Ông làm tôi vui lòng quá. Xin mời ông ăn hết đi cho đừng để lại tí gì, nếu ông thấy các món ăn này hợp với khẩu vị.

    Lát sau, ông lại gọi một con ngỗng tần nấu với dấm, mật ong, nho khô, đậu và vả khô. Món này cũng được dọn ra theo kiểu món thịt cừu vừa rồi. "Ngỗng béo lắm, - ông ta nói, - mời ông hãy xơi một cái đùi và một cái cánh. Xin ông ăn nhẩn nha cho vì còn nhiều món khác nữa đấy".

    Quả nhiên, ông ta gọi tiếp nhiều món khác nhau. Anh tôi đói thắt ruột, vẫn tiếp tục làm vờ như ăn. Món ông ta ca tụng hơn tất cả là cừu non nhồi lạc. Món này vẫn được ông thết đãi theo cách như các món trước đây. ! Cái món đặc biệt này, ngoài nhà tôi ra không có nơi nào có đâu. Tôi muốn ông ăn thật no vào". Ông vừa nói vừa làm như cầm một miếng vừa đưa tận miệng anh tôi: "Nào, nuốt đi, ông sẽ thấy rằng tôi khoe chẳng phải ngoa đâu"? Anh tôi vươn đầu há miệng, làm như cắn miếng thịt đó rồi nhai và nuốt một cách thích thú. "Tôi biết mà - ông Bácmêxit nói - Thế nào ông cũng thấy ngon".

    - Trên đời này không có món ăn nào ngon hơn - anh tôi đáp - Xin nói thật bữa ăn của quan lớn thật là tuyệt diệu.

    - Hãy dọn món thịt hầm ra đây! - Ông ta gọi. - Tôi tin rồi ông cũng sẽ hài lòng như món cừu vừa rồi. Sao, ông thấy thế nào?

    - Ngon kỳ diệu - Sacabắc đáp. - Nghe thơm lừng đủ vị: nào long diên hương, đinh hương, nhục đậu khấu, nào gừng, hồ tiêu và các loại rau quý nhất, mà các gia vị ấy cho vào khéo đến nỗi không vị nào làm át vị nào, thật là khoái trá.

    - Vậy thì xin mời ông. Nào bay đâu! - Ông ta cao giọng. - Đưa ra đây một bát thịt hầm nữa.

    - Xin quan lớn cho đủ, - anh tôi ngắt lời. - Thực tình là tôi quá no rồi, không thể nào còn ăn thêm được nữa.

    - Vậy thì hãy thu dọn đi, và mang trái cây ra đây, chúng mày. - Ông Bácmêxit truyền.

    Ông chờ một lát như thể đợi tôi tớ thu dọn xong, lại nói: "Mời ông hãy nếm những quả hạnh đào này, ngon lắm, vừa mới hái trên cây xuống đây". Hai người cùng làm ra bộ gọt vỏ và ăn hạnh đào. Sau đấy, ông Bácmêxit lại mời anh tôi ăn những thứ khác: "Đây có đủ thứ trái cây, bánh ngọt, mứt khô, mứt ướt, ông muốn dùng gì xin tùy ý". Rồi đưa tay như là mời mọc, ông nói: "Xin ông cầm lấy chiếc bánh này, nó giúp tiêu hóa rất tốt".

    Sacabắc vờ đỡ lấy và cho vào miệng ăn: "Bẩm quan lớn, mùi xạ hương thơm lắm".

    - Loại bánh này làm tại đây - Bácmêxit đáp. - Và cũng như tất cả những thứ sản xuất tại nhà tôi, bao giờ cũng có xạ hương.

    Ông lại khuyến khích anh tôi ăn thêm:

    - Với sức một người đàn ông bụng đói lúc mới bước vào đây, ông ăn như vậy là còn ít quá.

    Anh tôi đã cảm thấy mỏi cả hàm vì nhai không: "Bẩm quan lớn, quả thật tôi no quá rồi, không thể ăn thêm một miếng nào nữa".

    - Ông khách ạ, - ông quan lại nói, - sau một bữa ăn ngon như vậy, chúng ta phải uống rượu. Ông uống rượu nho nhé.

    - Bẩm quan lớn, xin phép quan, tôi không uống được rượu.

    - Ông cẩn thận quá, hãy làm như tôi đây.

    - Vậy thì nể quan, tôi xin uống vậy, Sacabắc đáp... Theo như tôi hiểu, quan không muốn thiếu thứ gì trong bữa tiệc hôm nay. Nhưng bởi vì tôi không quen uống rượu, tôi sợ phạm điều gì thất thố, thậm chí có thể khiếm lễ đối với quan lớn chăng. Bởi vậy xin quan miễn cho tôi khỏi phải uống rượu, xin cho tôi dùng nước thôi.

    - Không, không, - ông Bácmêxit nói - Ông phải uống rượu.

    Ông gọi mang rượu đến, nhưng rượu cũng chẳng thật hơn gì thịt và hoa quả. Ông làm bộ rót rượu cho mình và uống trước, sau đấy làm như rót rượu và nâng chén mời anh tôi: "Xin mời ông cạn chén mừng sức khỏe tôi! Hãy xem, ông có thấy thứ rượu này uống được không?". Anh tôi vờ đỡ lấy chén rượu, vờ đưa sát mắt nhìn xem rượu màu có đẹp không, vờ đưa lên mũi xem rượu thơm như thế nào, rồi cúi đầu thật thấp như thể xin phép ông quan uống mừng sức khỏe ông ta, rồi cuối cùng giả bộ như một người uống rượu hết sức thích thú: "Bẩm quan lớn, tôi thấy loại rượu này ngon tuyệt, nhưng hình như nó hơi nhẹ thì phải ".

    - Nếu ông thích uống loại rượu nặng hơn, - ông Bácmêxit đáp - xin cứ bảo, trong hầm rượu nhà tôi còn nhiều loại nặng, mời ông uống thử thứ này xem có được chăng.

    Vừa nói ông ta vừa dáng điệu rót một thứ rượu khác cho mình và cho anh tôi. Ông ta rót nhiều lần đến nỗi Sacabắc làm như bị hơi men bốc lên đầu, giả vờ say rượu, giơ tay đấm thật mạnh vào đầu ông quan dòng họ Bácmêxit, làm cho ông ngã lăn ra đất. Anh tôi định đấm tiếp, nhưng ông Bácmêxit đưa tay đỡ và kêu lên: "Ông điên hay sao đấy?". 

    Thế là anh tôi dừng lại và nói: "Bẩm quan lớn, quan đã có lòng tốt tiếp kẻ hèn mọn này và cho ăn một bữa tiệc linh đình. Lẽ ra quan lớn chỉ nên cho tôi ăn thôi, không cho uống rượu, vì tôi đã thưa với quan lớn e rằng có thể thất lễ với ngài. Tôi rất lấy làm tiếc, cúi xin quan lớn thứ tội cho".

    Anh tôi và nói dứt lời, không những ông Bácmêxit không nổi giận mà còn phá ra cười ha hả: "Đã lâu lắm, - ông nói, - tôi mới gặp được một con người có cá tính như ông".

    Ông còn xin lỗi Sacabắc: "Không những tôi tha thứ cho ông, mà tôi còn muốn từ nay chúng ta sẽ là bạn. Ông coi nhà tôi như nhà của ông. Ông đã có nhã ý xử sự phù hợp với tính khí của tôi, và kiên nhẫn chịu đựng trò đùa dai cho tới cùng. Bây giờ chúng ta sẽ ăn thật sự".

    Nói xong ông vỗ tay. Lập tức nhiều tên gia nhân chạy tới ông truyền đặt bàn và dọn cơm. Lệnh của ông được thi hành tức khắc. Anh tôi được thết đúng những món anh vừa ăn trong tưởng tượng. Khi tiệc tàn, người ta mang rượu ra. Cùng lúc ấy một số nữ nô lệ xinh đẹp và ăn mặc sang trọng bước vào đàn hát nhiều điệu nhạc êm tai. Tóm lại Sacabắc hoàn toàn vừa lòng về sự nhân hậu và thái độ nhã nhặn của ông quan dòng Bácmêxit. Ông ta cũng thú vị chuyện trò thân mật với anh, lại còn biếu anh một chiếc áo.  

    Ông Bácmêxit thấy anh tôi hiểu biết và thông minh về mọi mặt, thành ra chỉ ít ngày sau, đã giao cho anh việc chăm lo cai quản trong nhà và mọi công việc của ông. Suốt hai mươi năm trời, anh tôi làm nhiệm vụ ấy một cách xuất sắc. Sau đó, ông quan hào hiệp ấy qua đời vì quá cao tuổi. Và bởi vì không có người thừa kế, tài sản ông bị tịch biên nộp cho quốc vương. Người ta còn tước đoạt tất cả những gì anh tôi dành dụm được, đến nỗi anh tôi lại trở thành trắng tay như lúc đầu. Anh tôi đành nhập vào theo đoàn người đi hành hương đến La Mếchcơ với ý đồ mong được họ cưu mang cho mọi thứ lúc đi đường. Chẳng may, đoàn hành hương bị một nhóm người Bêđoanh đông hơn chặn lại và cướp bóc. Anh tôi bị một tên Bêđoanh bắt làm nô lệ. Hắn đánh đập suốt mấy ngày liền, bắt anh tôi bỏ tiền ra chuộc. Sacabắc nói cho hắn rõ là mình nghèo rớt mồng tơi không thể nào tự chuộc nổi. Mặc sức cho anh tôi trình bày cảnh nghèo khổ của mình và cố gắng dùng nước mắt khêu gợi lòng thương hại của hắn, tên Bêđoanh vẫn tàn nhẫn. Bực mình vì hụt mất một số tiền lớn mà hắn chắc mẩm là sắp có, hắn rút dao rạch đứt môi anh ta để trả thù một cách vô nhân đạo về điều mà hắn cho là tổn thất.

    Tên Bêđoanh ấy có một cô vợ khá xinh. Thường mỗi khi đi làm ăn, hắn thường để anh tôi ở nhà một mình với vợ nó. Thế là ả ta không từ một việc gì không làm để an ủi cảnh nô lệ khó nhọc của anh tôi, ả còn để cho anh tôi hiểu là ả ta yêu. Nhưng anh tôi không dám đáp lại mối tình ấy vì e rồi có lúc sẽ phải hối hận, ả càng tìm cơ hội để được ở một mình với anh tôi bao nhiêu thì anh tôi càng tìm cách tránh những dịp ấy bấy nhiêu. ả có thói quen là cứ trông thấy Sacabắc ở đâu là đùa cợt đấy, và một hôm còn giở cái trò ấy ra trước mắt chồng. Anh tôi vô tình không chú ý là hắn đang quan sát, cũng cười cợt đáp lại. Tên Bêđoanh nghi là hai người có tình ý với nhau. Hắn liền nổi khùng lên, xông đến đánh anh tôi một cách dã man đến thành tật, rồi ném lên lưng lạc đà đưa tới một ngọn núi hoang vu vứt lại đây. Quả núi ấy nằm trên con đường về Bátđa. Nhờ vậy những người qua đường trông thấy về bảo cho tôi biết chỗ. Tôi vội vàng tới nơi, thấy anh Sacabắc tội nghiệp của tôi đang trong tình trạng thảm thương. Tôi cấp cứu anh tôi rồi đưa anh về thành phố.

    Lão thợ cạo nói tiếp:

    - Đấy là câu chuyện tôi thuật lại với hoàng đế Môxtanxe Bilat. Nhà vua tán thưởng tôi bằng những trận cười mới. Người bảo tôi: "Đến bây giờ ta mới tin rằng người ta mệnh danh ngươi là con người lặng lẽ là đúng. Không ai có thể nói khác đi được. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, ta truyền cho nhà ngươi phải đi ngay khỏi thành phố này. Hãy đi đi, sao cho từ nay ta không nghe nói đến ngươi nữa".

    Tôi đành phải tuân lệnh và tôi đã đi trong nhiều năm ròng, đến những xứ xa xôi.

    Cuối cùng nghe tin hoàng đế đã qua đời, tôi trở lại Bátđa, thì không một anh nào của tôi còn sống. Chính sau khi trở về thành phố này, tôi đã giúp cho chàng trai què chân kia mà các vị vừa nghe kể. y thế mà các vị đã chứng kiến sự vô ơn và thái độ nhục mạ của cậu ấy đối với tôi. Đáng lẽ phải tỏ lòng biết ơn tôi, cậu ta lại chọn con đường tránh mặt và bỏ xứ ra đi. Khi tôi biết cậu ta không còn ở Bátđa nữa, mặc dù không ai cho tôi rõ cậu đi về hướng nào, tôi vẫn lên đường đi tìm cậu. Đã lâu lắm rồi, tôi đi từ tỉnh này sang tỉnh khác, và hôm nay giữa lúc không chờ đợi nhất thì tôi lại gặp. Tôi không ngờ cậu ta lại tỏ thái độ nóng giận như vậy đối với tôi.

    Khi lão thợ cạo nói xong, chúng tôi thấy việc chàng trẻ tuổi buộc tội lão lắm lời quả không sai. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn cứ muốn lão ở lại với chúng tôi, cũng dự buổi tiệc mà chủ nhà đã sửa soạn. Thế là chúng tôi ngồi vào bàn, và vui chơi cho đến giờ cầu kinh, khoảng từ giữa trưa đến lúc mặt trời lặn. Bây giờ mọi người chia tay, tôi đến cửa hiệu làm việc, chờ đến lúc về nhà.

    Chính vào khoảng thời gian ấy, chú gù ngà ngà say đến trước cửa hiệu tôi, hát và đệm trống xứ Bát. Tôi nghĩ rằng đưa chú cùng về nhà, chắc sẽ làm cho vợ tôi vui. Bởi vậy tôi đã đưa chú về. Vợ tôi dọn cho chúng tôi ăn một đĩa cá. Tôi mời chú gù một khúc. Chú ta ăn mà không để ý là cá có xương. Chú ngã xuống bất tỉnh nhân sự. Sau khi cố hết sức chạy chữa, và vì lo sợ quá cho nên chúng tôi không do dự đưa xác chú ra khỏi nhà, khéo léo chuyển đến nhà thầy lang người Do Thái. Ông thầy cho xác chú xuống buồng ông tiếp phẩm. Ông tiếp phẩm đưa chú ra ngoài đường, ở đây người ta lại ngờ rằng ông nhà buôn giết hại chú. Tây bệ hạ, đấy là tất cả những điều đáng được Người khoan hồng hay phải chịu cơn sấm sét, được sống hay là phải chết".

    Nét mặt nhà vua nước Caxga lộ vẻ bằng lòng. Nhờ vậy gã thợ may và mấy người bạn của gã thoát chết. Vua phán: "Ta không thể không nhận là những câu chuyện về chàng trẻ tuổi què chân, về lão thợ cạo và các ông anh của lão ấy làm ta xúc động hơn chuyện chú hề của ta. Song trước khi tha cho bốn nhà ngươi về nhà và chôn cất chú gù, ta muốn gặp lão thợ cạo ấy, nhờ có lão mà ta tha tội cho các người. Vì lão còn ở trong kinh đô của ta, chắc có thể thỏa mãn sự hiếu kỳ của ta".

    Đồng thời vua sai một tên lính cùng đi với gã thợ may là kẻ biết lão thợ cạo đang ở đâu, để tìm lão.

    Lát sau, tên lính và gã thợ may trở về, dẫn theo lão thợ cạo trình lên hoàng đế. Lão là một cụ già có thể đến chín mươi tuổi. Râu và lông mày trắng như tuyết, hai tai trễ xuống và mũi rất dài. Trông thấy lão, nhà vua không nhịn được cười: "Này con người lặng lẽ kia, ta vừa hay rằng lão biết nhiều chuyện diệu kỳ. Lão có vui lòng kể cho ta nghe vài chuyện, được không?".

    - Tâu bệ hạ - lão thợ cạo đáp - xin bệ hạ cho phép tạm thời gác lại những câu chuyện tôi có thể biết được. Cúi xin bệ hạ cho tôi được phép hỏi: người Thiên chúa giáo, người Do Thái, người Hồi giáo và chú gù chết nằm ở kia, bọn họ đã làm việc gì ở đây trước mặt bệ hạ?

    Nhà vua mỉm cười về tính tình thoải mái của lão thợ cạo, liền hỏi lại:

    - Việc đó có quan hệ gì đến lão?

    - Tâu bệ hạ, nó quan hệ ở chỗ tôi phải hỏi để bệ hạ hiểu cho rằng tôi không phải là một kẻ ba hoa, như một vài người vẫn bảo, mà là một kẻ được mệnh danh rất đúng là Người lặng lẽ.

    Hoàng đế xứ Caxga vui lòng thỏa mãn tính hiếu kỳ của lão thợ cạo. Người truyền kể cho lão nghe chuyện chú gù mà lão thiết tha muốn biết. Lão thợ cạo nghe xong lắc đầu, như thể muốn nói rằng có chuyện gì ẩn giấu bên trong mà lão chưa hiểu rõ. Lão nói: "Đúng là câu chuyện ấy kỳ lạ, nhưng tôi muốn xem xét tận mắt chú gù này". Lão đến gần ngồi xuống đất, nhấc đầu chú gù đặt lên hai đầu gối, rồi sau khi nhìn kỹ lão phá ra cười sằng sặc, cười đến bò lăn ra đất, không buồn chú ý mình đang ở trước mặt nhà vua. Rồi lão đứng lên vừa cười vừa nói to: "Tục ngữ nói đúng: chẳng ai chết mà không có lý do. Nếu có chuyện nào đáng chép lại bằng chữ vàng, thì chính là chuyện chú gù này đây".

    Nghe như vậy mọi người nhìn lão như nhìn một tên hề hay một lão già mất trí, vua hỏi:

    - Này, hỡi Con người lặng lẽ kia, hãy nói cho ta rõ, có việc gì mà lão cười dữ vậy?

    - Tâu bệ hạ, lão xin cam đoan rằng chú gù này chưa chết, chú hãy còn sống. Lão xin chịu tiếng là một người ăn nói kỳ cục nếu không làm cho bệ hạ thấy ngay điều này.

    Nói xong, lão lấy một cái hộp đựng nhiều thứ dược thảo vẫn mang theo người để dùng khi cần, cầm một lọ đầu thơm xát hồi lâu vào cổ chú gù. Tiếp đó, lão rút, trong túi ra một vật bằng sắt khá sạch sẽ cho vào cậy răng chú gù, rồi thò một cái cặp nhỏ vào họng chú lấy ra khúc cá cùng với chiếc xương, đưa cho mọi người xem. Lập tức, chú gù hắt hơi, duỗi tay, duỗi chân, mở mắt và biểu lộ nhiều dấu hiệu tỏ ra còn sống.

    Nhà vua rất vui mừng và thán phục, truyền cho chép lại chuyện chú gù cùng với chuyện lão thợ cạo, để những chuyện đáng ghi nhớ ấy khỏi bị lãng quên.

    Không chỉ có thế. Để lão thợ may, viên thầy thuốc Do Thái, tay tiếp phẩm và người buôn Thiên Chúa giáo sau này được vui thích mỗi lần nghĩ đến việc chú gù gây nên cho mình, trước khi cho họ ra về, nhà vua ban cho mỗi người một chiếc áo rất sang và cho mặc ngay trước mặt mình.

    Về phần lão thợ cạo, nhà vua còn ban cho một món tiền trợ cấp lớn và giữ lại cho ở bên cạnh mình.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Nghìn lẻ một đêm. Phan Quang dịch từ bản tiếng Pháp của Antoine Galland: LES MILLE ET UNE NUITS. Nhà văn Triệu Xuân biên tập. NXB Văn học in lần thứ 29, phát hành tháng 01-2012.  

    www.trieuxuan.info

     

    [1] Một dòng họ nổi tiếng, nối tiếp nhau làm tể tướng cho các hoàng đế ở Bátđa. Người cuối cùng là Giapha, tể tướng của hoàng đế Harun An-Rasít (xem chuyện Ba khất sĩ con vua và năm thiếu phụ thành Báđa - ND).

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32

    Bài viết liên quan

  • Nghìn lẻ một ngày
    • Nghìn lẻ một ngày

      Truyện cổ Ba Tư. Phan Quang dịch và giới thiệu. Nhà văn Triệu Xuân biên tập. NXB Văn học, in lần thứ ba năm 2005; in lần thứ chín năm 2011. Từ đó đến nay tái bản nhiều lần.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,411,139

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/